1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền tác giả đối với phần mềm máy tính một số vấn đề lý luận và thực tiễn

75 152 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 663,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua, một số tác giả đã nghiên cứu các khía cạnh khác nhau về quyền tác giả như: “Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam hiện nay” luận văn cao học luật

Trang 1

trường đại học luật hà nội

hà nội, năm 2006

Trang 2

nh÷ng tõ viÕt t¾t ®­îc sö dông trong luËn v¨n

Trang 3

Lời nói đầu 1

Chương 1 khái quát chung về phần mềm máy tính và các

văn bản pháp luật có liên quan

5

1.2 Các loại phần mềm máy tính được bảo hộ theo quy định của

pháp luật Việt Nam

7

1.2.2 Các loại phần mềm máy tính được bảo hộ theo quy định

của pháp luật Việt Nam

9

1.3 Các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam quy định về

quyền tác giả đối với phần mềm máy tính

10

1.4 Quyền tác giả đối với phần mềm máy tính theo qui định của một

số Công uớc, Hiệp ước quốc tế

17

1.4.1 Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật 17

1.4.2 Hiệp ước của WIPO về quyền tác giả (WCT- WIPO

copyright treaty)

17

1.4.3 Thoả thuận về những khía cạnh liên quan tới thương mại

của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định Trips)

Chương 2 Quyền tác giả đối với phần mềm máy tính theo

qui định của pháp luật việt nam – thực tiễn bảo hộ quyền

tác giả đối với phần mềm máy tính

23

2.1 Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về quyền tác

giả đối với phần mềm máy tính

23

Trang 4

2.1.5 Các hành vi xâm hại quyền tác giả đối với phần mềm máy tính 36

2.1.6 Một số biện pháp xử lý hành vi xâm hại quyền tác giả đối

với phần mềm máy tính

37

2.2 Cơ chế thực thi quyền tác giả đối với phần mềm máy tính 37

2.2.1 Khái niệm về thực thi quyền tácgiả đối với phần mềm máy tính 37

2.2.2 ý nghĩa của việc thực thi quyền tác giả đối với phần mềm

máy tính

38

2.2.3 Pháp luật về thực thi quyền tác giả đối với phần mềm máy tính 38

2.2.4 Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả

đối với phần mềm máy tính

39

2.2.5 Các cơ quan thực thi quyền tác giả đối với phần mềm máy tính 39

2.2.6 Các thiết chế hỗ trợ việc thực thi quyền tác giả đối với

chương 3 nguyên nhân của thực trạng xâm phạm quyền

tác giả đối với phần mềm máy tính – phương hướng và

một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền tác giả

đối với phần mềm máy tính

Trang 5

Lời nói đầu

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Bảo hộ quyền tác giả nói chung và bảo hộ quyền tác giả đối với phần mềm máy tính (PMMT) nói riêng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia ở Việt Nam, khi Bộ luật Dân sự (BLDS)

1995 và các văn bản hướng dẫn được ban hành thì việc bảo hộ quyền tác giả trong đó có bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT đã đạt được những bước tiến quan trọng Tuy nhiên bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT là vấn đề tương đối còn mới mẻ tại Việt Nam, dường như chúng ta vẫn còn thiếu cơ chế bảo hộ đối với loại đối tượng này

Theo khảo sát, đánh giá của Liên minh các doanh nghiệp phần mềm (BSA) thì Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ vi phạm sở hữu trí tuệ (SHTT) trong lĩnh vực phần mềm cao nhất thế giới (94% năm 2001, 95% năm 2002 và 92% năm 2004)1 Sự vi phạm SHTT này xảy ra từ người dùng là cá nhân đến doanh nghiệp và thậm chí cả trong các cơ quan nhà nước; xảy ra đối với phần mềm nước ngoài có bản quyền đến các sản phẩm trong nước Sự vi phạm SHTT về PMMT ở Việt Nam gây ra nhiều tác động xấu về mặt kinh tế, xã hội như: xâm phạm quyền của tác giả và các chủ thể khác; làm thiệt hại đến các nhà sản xuất phần mềm và kìm hãm sự phát triển của ngành công nghiệp phần mềm; gây ra ý thức coi thường giá trị sáng tạo; tạo thói quen không tuân thủ pháp luật Tình trạng xâm phạm bản quyền làm ảnh hưởng đến uy tín quốc gia trên trường quốc

tế, làm xấu đi hình ảnh tốt đẹp của nền văn hoá, thuần phong mỹ tục Việt Nam

Sự vi phạm SHTT quá cao thậm chí có thể phải trả giá bằng sự trừng phạt kinh

tế khi các Hiệp định thương mại song phương và đa phương có hiệu lực, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay

Việt Nam đã ký một số Hiệp định song phương như Hiệp định về Thiết lập quan hệ quyền tác giả, quan hệ thương mại với Mỹ, Hiệp định Bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ với Liên bang Thụy Sĩ Bên cạnh đó, Việt Nam đang nỗ lực đàm phán để sớm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì yêu cầu tất yếu là phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo

hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT nói

BSA: Business Software Alliance

1 Liên minh các doanh nghiệp phần mềm

Trang 6

riêng Hiện tại hệ thống pháp luật của Việt Nam còn chưa đầy đủ, thiếu cụ thể

về các vấn đề liên quan đến bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT như: Phần mềm được bảo hộ gồm những gì? Các hành vi được coi là xâm phạm quyền tác giả đối với PMMT? Chế tài áp dụng cho từng loại hành vi xâm phạm phần mềm như thế nào? Hay để giải quyết vấn đề tranh chấp, kiện tụng thì công ty sản xuất phần mềm có được đặt tên, sửa đổi nội dung phần mềm không trong khi vẫn phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho tác giả?

Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT, tìm ra những hạn chế, các nguyên nhân gây nên sự vi phạm trong việc bảo hộ đối với loại hình này, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về quyền tác giả đối với PMMT ở Việt Nam là một điều hết sức cần thiết

Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Quyền tác giả đối với phần mềm máy tính – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài

nghiên cứu luận văn tốt nghiệp cao học luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Mặc dù hệ thống pháp luật của Việt Nam về quyền tác giả nói chung còn tương đối mới mẻ nhưng cũng đã dành được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả Trong thời gian qua, một số tác giả đã nghiên cứu các khía cạnh khác

nhau về quyền tác giả như: “Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả ở

Việt Nam hiện nay” (luận văn cao học luật của tác giả Hoàng Minh Thái); “Vấn

đề đảm bảo quyền tác giả, quyền của chủ sở hữu tác phẩm trong pháp luật Việt Nam” (luận văn cao học luật của tác giả Kiều Thị Thanh); “Quyền tác giả đối với loại hình tác phẩm nghe nhìn theo pháp luật Việt Nam và Cộng hoà Pháp”

(luận văn cao học luật của tác giả Trần Lan Hương) và “Quyền tác giả đối với

tác phẩm viết trong pháp luật Dân sự Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (luận văn cao học luật của tác giả Trần Thị Thanh Bình)

Tuy nhiên việc nghiên cứu quyền tác giả đối với PMMT mới chỉ ở một góc độ hẹp, bước đầu mới dừng lại ở một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành, còn hiện tại chưa có một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống, chi tiết về quyền tác giả đối với PMMT, để từ đó có những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này

Trước tình hình đó, việc nghiên cứu đề tài “Quyền tác giả đối với phần mềm máy tính – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” có ý nghĩa hết sức quan trọng Việc nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao ý thức trong việc bảo hộ quyền

Trang 7

tác giả nói chung và quyền tác giả đối với PMMT nói riêng, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay - khi mà vấn đề tác quyền không chỉ thu hẹp trong phạm vi quốc gia mà là vấn đề mang tính toàn cầu

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Quyền tác giả là một nội dung lớn, bao gồm nhiều đối tượng là những tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được pháp luật bảo hộ Trong khuôn khổ

đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp cao học luật, chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về quyền tác giả đối với PMMT theo qui định của pháp luật dân sự Việt Nam, trong đó làm rõ các vấn đề lý luận

và khái niệm cơ bản như PMMT là gì? các loại PMMT? các yếu tố của quyền tác giả đối với PMMT? quyền tác giả đối với PMMT theo quy định của một số Hiệp ước, Công ước quốc tế về quyền tác giả và của một số nước trên thế giới; tìm hiểu các quy định về quyền tác giả đối với PMMT và cơ chế thực thi và tình

hình vi phạm liên quan đến quyền tác giả đối với PMMT tại Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Phương pháp nghiên cứu của đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Các phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp cũng

được sử dụng khi nghiên cứu đề tài

5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Trước yêu cầu về hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam về bảo hộ quyền SHTT nói chung và bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT nói riêng, qua việc nghiên cứu đề tài “Quyền tác giả đối với phần mềm máy tính – Một số vấn

đề lý luận và thực tiễn”, đề tài nhằm mục đích làm sáng tỏ các qui định hiện hành của pháp luật Việt Nam về quyền tác giả đối với PMMT Qua việc tìm hiểu những nguyên nhân về sự vi phạm quyền tác giả đối với PMMT, đề tài đi sâu phân tích, đánh giá cơ chế thực thi về quyền tác giả đối với PMMT hiện nay và xem xét việc áp dụng các quy định của pháp luật trong thực tiễn về lĩnh vực này

Để đạt được mục đích trên, đề tài sẽ giải quyết những nhiệm vụ sau đây: + Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quyền tác giả đối với PMMT ở Việt Nam; tìm hiểu quyền tác giả đối với PMMT theo quy định của một số Công ước, Hiệp ước quốc tế và của một số quốc gia trên thế giới

+ Đi sâu tìm hiểu và phân tích về bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT theo quy định của pháp luật Việt Nam; tìm ra những bất cập, hạn chế cần khắc phục trong các quy định về bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT

Trang 8

+ Đưa ra một số kiến nghị về phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền tác giả đối với PMMT, đáp ứng những đòi hỏi thực tiễn khi Việt Nam hội nhập quốc tế

6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn

Đây là công trình khoa học nghiên cứu về quyền tác giả đối với PMMT một cách có hệ thống, giúp cho người đọc có một cái nhìn tổng quan và cụ thể

về lĩnh vực bảo hộ SHTT này Ngoài ra, thông qua việc tìm hiểu, phân tích các qui định của pháp luật về quyền tác giả đối với PMMT, luận văn còn chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành cũng như cơ chế thực thi, từ đó đưa ra những phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn cao học với đề tài “Quyền tác giả đối với phần mềm máy tính – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” thuộc chuyên ngành Luật Dân sự, mã số 60.38.30 được kết cấu như sau:

Lời nói đầu

Chương 1 Khái quát chung về phần mềm máy tính và các văn bản pháp luật có liên quan

Chương 2 Quyền tác giả đối với phần mềm máy tính theo qui định của

pháp luật Việt Nam - Thực tiễn bảo hộ quyền tác giả đối với phần mềm máy tính

Chương 3 Nguyên nhân của thực trạng xâm phạm quyền tác giả đối với phần mềm máy tính – Phương hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật

về quyền tác giả đối với phần mềm máy tính

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 9

Chương I khái quát chung về phần mềm máy tính

và các văn bản pháp luật có liên quan

1.1 Khái niệm về phần mềm máy tính

Từ giữa thập kỷ 70, con người đã phát minh, sáng chế ra máy tính điện tử

để bàn có kích thước nhỏ gọn, thay thế cho những máy tính điện tử cỡ lớn Cùng với những phát minh, cải tiến về kích thước, nâng cao tốc độ xử lý của máy tính, các chương trình máy tính đã được xây dựng, hoàn thiện và phát triển không ngừng, có mặt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đây thực sự là một cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật của thế giới, mang lại cho nhân loại những tiện ích to lớn

Máy tính điện tử được hiểu là đơn vị chức năng có thể thực hiện các phép tính toán cơ bản, bao gồm các phép toán số học và phép toán lôgic mà không có

sự can thiệp của con người trong quá trình xử lý Trong xử lý thông tin, thuật ngữ máy tính thường để chỉ máy tính kỹ thuật số Máy tính có thể gồm nhiều

đơn vị độc lập hoặc nhiều đơn vị ghép nối [67] Máy vi tính cũng là máy tính

điện tử (thường dùng cho 1 người) nhưng có bộ xử lý trung tâm là một hoặc

nhiều bộ vi xử lý Tuy nhiên, để máy tính điện tử có thể hoạt động độc lập, thực hiện các phép tính toán cơ bản mà không có sự can thiệp của con người trong quá trình xử lý, thì máy tính cần có hai bộ phận cấu thành: phần cứng

(hardware) và phần mềm (software)

Phần cứng được hiểu là một hoặc tất cả thành phần vật lý của một hệ thống xử lý thông tin, hay là tên gọi chung những yếu tố vật chất của một máy tính [68] Hiểu một cách đơn giản nhất thì phần cứng là những gì mà ta có thể cầm, nắm lấy chúng được Phần mềm thì trái nghĩa với phần cứng, nó mang đặc tính vô hình, chúng ta không thể cầm, nắm chúng được Nếu một máy tính không được cài đặt phần mềm dưới bất kỳ hình thức nào, thì chúng cũng trở nên

vô tác dụng Có nhiều định nghĩa về phần mềm như: “Phần mềm là toàn bộ hay

một phần chương trình, thủ tục, quy tắc, và tài liệu liên quan của một hệ thống

xử lý dữ liệu Phần mềm là sản phẩm sáng tạo tinh thần độc lập với môi trường lưu trữ nó” [67], hay “Phần mềm là tên gọi chung các chương trình được sử dụng trên máy tính điện tử; phân biệt với phần cứng” [68], hoặc “Phần mềm là các chương trình của máy tính điện tử” [69]

Trang 10

Cho dù được định nghĩa và tiếp cận khái niệm phần mềm bằng bất cứ cách nào, chúng ta đều thấy giữa phần mềm và phần cứng có mối liên hệ mật thiết với nhau Máy tính điện tử chỉ có thể hoạt động được khi có phần mềm, và phần mềm chỉ chạy được trên những phần cứng tương thích hoặc được cài đặt trên phần cứng của máy tính điện tử

Một số văn bản của Đảng, Nhà nước ta hiện nay cũng dùng cả khái niệm

“chương trình máy tính” và “phần mềm máy tính”, hoặc dùng khái niệm

“chương trình máy tính” thay cho “phần mềm máy tính” Chỉ thị số 58 CT/TW

của BCH TW Đảng về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin

phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá sử dụng thuật ngữ phần mềm

máy tính: “Hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và đảm bảo việc

thực hiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có bảo hộ quyền

tác giả đối với phần mềm” Bộ luật Dân sự 2005 khi quy định về quyền tài sản thuộc về tác giả đã sử dụng thuật ngữ chương trình máy tính: “Cho thuê bản gốc

hoặc bản sao chương trình máy tính” (điểm đ, khoản 3, Điều 738, BLDS 2005)

Trong quy định về các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả của Luật

SHTT vừa ban hành thì “Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu” là một trong

những loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được bảo hộ (điểm m, khoản 1, Điều 14, Luật SHTT)

Trên thực tế, rất khó phân biệt khi nào là “phần mềm máy tính”, khi nào

là “chương trình máy tính” Theo chúng tôi, hai khái niệm này có thể được hiểu

đồng nhất với nhau, thay thế cho nhau bởi chúng đều đề cập đến một sản phẩm

có đặc tính vô hình, được cài đặt sử dụng trên máy tính điện tử hoặc trên những phần cứng tương thích

Như vậy, có thể hiểu “Phần mềm máy tính/Chương trình máy tính là tập

hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng các lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kỳ dạng nào khác, khi gắn vào một phương tiện mà máy tính đọc được, có khả năng làm cho máy tính thực hiện được một công việc hoặc đạt được một kết quả

cụ thể theo mong muốn”

Để thống nhất việc sử dụng thuật ngữ, trong luận văn này chúng tôi sử

dụng thuật ngữ chung là phần mềm máy tính

Trang 11

1.2 Các loại phần mềm máy tính được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam

Tùy theo những tiêu chí khác nhau mà PMMT có thể được phân chia thành các loại Nếu theo tiêu chí công dụng và mức độ chuyên sâu thì có thể phân chia PMMT thành các loại: Ngôn ngữ hệ thống và ngôn ngữ lập trình; Hệ điều hành; Phần mềm lập trình và ứng dụng; Phần mềm mã nguồn mở; Cơ sở dữ liệu và sưu tập dữ liệu

từng loại Các chương trình viết bằng ngôn ngữ này chứa toàn các số nhị phân (chỉ

gồm hai con số 0 và 1), việc học nó cần những kiến thức chuyên sâu về hoạt động

bên trong máy tính Tiêu biểu của loại ngôn ngữ này là ngôn ngữ Assembler

Ngôn ngữ lập trình được thiết kế thích hợp cho những đòi hỏi của các nhà lập trình Nó độc lập với mã máy và người ta thường gọi là ngôn ngữ bậc cao Các ngôn ngữ bậc cao thường được viết các ứng dụng trong thực tế, như ngôn ngữ BASIC được thiết kế cho người mới lần đầu học lập trình; ngôn ngữ COBOL được dùng để viết các chương trình trong kinh doanh; ngôn ngữ FORTRAN để viết các chương trình tính toán khoa học Khác với ngôn ngữ cấp thấp phản ánh mã máy, các ngôn ngữ cấp cao có dạng gần giống với ngôn ngữ tự nhiên của con người nên dễ học và dễ lập trình hơn

1.2.1.2 Hệ điều hành

Không như các ngôn ngữ lập trình chỉ là “công cụ giao tiếp giữa người và

máy tính”, hệ điều hành là sản phẩm được thiết kế từ các ngôn ngữ lập trình

giúp cho máy tính vận hành Hệ điều hành đóng vai trò tương tác giữa người sử dụng và máy tính Trên thế giới có rất nhiều hệ điều hành khác nhau Hệ điều hành thông dụng nhất hiện nay là WINDOWS của hãng Microsoft, OS/2 của hãng IBM, MACINTOSH của hãng APPLE

1.2.1.3 Phần mềm lập trình và ứng dụng

Khác với ngôn ngữ lập trình, các phần mềm lập trình và phần mềm ứng

dụng là những dạng “sản phẩm” đã được thiết kế sẵn cho người dùng Theo đó

Trang 12

người dùng sẽ dễ dàng hơn khi lập trình và khai thác dữ liệu (có thể dùng ngôn

ngữ lập trình để làm việc nhưng sẽ khó khăn hơn nhiều) Phần mềm lập trình

thường được viết từ một ngôn ngữ lập trình nào đó và vận hành trên nền của hệ

điều hành Đối với đa số mọi người, ứng dụng chương trình vào công việc là

điều quan trọng nhất Họ không cần biết hệ điều hành, ngôn ngữ lập trình là gì,

họ cũng không cần có trình độ máy tính cao siêu Đơn giản là họ muốn làm việc và công cụ để họ làm việc càng đơn giản, càng mô tả đúng quy trình làm việc của họ càng tốt Nếu xét theo khía cạnh ngành nghề thì nếu có bao nhiêu ngành nghề có thể sẽ có bấy nhiêu phần mềm ứng dụng phục vụ cho các ngành

nghề đó (soạn thảo văn bản, thống kê, kỹ xảo đồ hoạ, dịch thuật, thiết kế, trò

chơi giải trí )

1.2.1.4 Phần mềm mã nguồn mở

Một cách ngắn gọn, phần mềm mã nguồn mở là những chương trình mà quy trình cấp phép sẽ cho người dùng tự do chạy chương trình theo bất kỳ mục

đích nào, kể cả quyền nghiên cứu và sửa đổi chương trình, quyền sao chép và

tái phát hành phần mềm gốc hoặc phần mềm đã sửa đổi (mà không phải trả tiền

bản quyền cho những người lập trình trước) Phần mềm mã nguồn mở/tự do

(Free Open Source Software, gọi tắt là FOSS) đã trở thành một hiện tượng toàn

cầu, đi từ vị trí tương đối mờ nhạt lên thành một trào lưu thời thượng trong vòng vài năm trở lại đây Tuy nhiên vẫn chưa có nhiều người hiểu thấu đáo những yếu tố gì thật sự tạo nên FOSS và sự bùng nổ của khái niệm này 2

Một trong những quan niệm phổ biến về phần mềm nguồn mở tự do là các phần mềm này luôn luôn miễn phí ở một mức độ nào đó, điều này không

đúng Không ứng dụng FOSS nào, nếu thực sự là phần mềm nguồn mở lấy phí

đăng ký của người sử dụng Đa số các phiên bản FOSS có thể tải từ Internet về

mà không phải mất phí Xét trên phương diện đăng ký, các ứng dụng FOSS hầu như luôn rẻ hơn phần mềm có bản quyền

1.2.1.5 Cơ sở dữ liệu và sưu tập dữ liệu

Từ điển máy tính Anh-Việt, NXB Đồng Nai định nghĩa cơ sở dữ liệu: “ là

một tập hợp các dữ liệu có một cấu trúc nào đó để lưu trữ, chấp nhận và cung ứng, theo yêu cầu, về các dữ liệu đối với đa số người dùng hoặc là một tập hợp dữ liệu có liên hệ nội tại được tổ chức phụ theo một sơ đồ cơ sở dữ liệu để phục

vụ cho một hay nhiều ứng dụng” Còn sưu tập dữ liệu được định nghĩa: “là tập

2 “Phần mềm nguồn mở / Tự do”, UNDP, 2004

Trang 13

hợp có tính sáng tạo thể hiện ở sự tuyển chọn, sắp xếp các tư liệu dưới dạng

điện tử hoặc dạng khác” (khoản 2, Điều 22, Luật SHTT)

Theo cách phân loại này thì cơ sở dữ liệu cũng được coi là PMMT Nó giúp cho con người trong việc quản lý và tổ chức thông tin trên các lĩnh vực của

đời sống xã hội một cách khoa học

Xét về một góc độ nào đó thì sưu tập dữ liệu có thể không được xếp vào loại PMMT, nhưng nếu được sắp xếp dưới dạng điện tử thì nó được xếp vào loại PMMT Sưu tập dữ liệu có mối liên hệ chặt chẽ với hệ quản trị cơ sở dữ liệu Một

số phần mềm ứng dụng khi truy cập vào hệ cơ sở dữ liệu, nó sẽ xử lý các dữ liệu

điện tử đã được sắp xếp thông qua sưu tập dữ liệu trong hệ cơ sở dữ liệu này, nhằm hướng tới việc thực thi một nhiệm vụ nào đó của ứng dụng

1.2.2 Phần mềm máy tính được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam

Phần mềm máy tính là một trong 12 loại hình tác phẩm được Luật SHTT quy định bảo hộ quyền tác giả (Điều 14, Luật SHTT) Theo tiêu chí phân loại

được trình bày ở trên (công dụng và mức độ chuyên sâu) thì PMMT được phân

chia thành các loại: Ngôn ngữ hệ thống và ngôn ngữ lập trình; Hệ điều hành; Phần mềm lập trình và ứng dụng; Phần mềm mã nguồn mở; Cơ sở dữ liệu và sưu tập dữ liệu Tất cả các PMMT liệt kê trên được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, trong một số trường hợp PMMT không được bảo hộ quyền tác giả Những PMMT không được bảo hộ quyền tác giả bao gồm:

- Những PMMT đã hết thời hạn bảo hộ do pháp luật quy định (trừ các

quyền nhân thân được quy định tại khoản 1,2,4 Điều 19 Luật SHTT được bảo

hộ vô thời hạn), hoặc đã hết thời hạn bảo hộ quy định tại một quốc gia nơi

PMMT được yêu cầu bảo hộ

- Những PMMT có nội dung trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh cũng không được bảo hộ quyền tác giả (khoản 1,

Điều 8, Luật SHTT)

Vì vậy mọi giao dịch về việc lưu hành, sử dụng và hưởng lợi ích vật chất

từ những PMMT này bị coi là bất hợp pháp và vô hiệu

Trang 14

1.3 Các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam quy định về quyền tác giả đối với phần mềm máy tính

Mặc dù bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta năm 1946 đã chứa đựng những ý tưởng về quyền tác giả dưới hình thức đơn giản là quyền của công dân

được tự do ngôn luận và tự do xuất bản (Điều 10), nhưng phải đến Hiến pháp

1992 thì việc bảo hộ quyền tác giả mới được ghi nhận một cách rõ nét “Công

dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền

sở hữu công nghiệp” (Điều 60) Tuy nhiên, các văn bản pháp luật trước khi Hiến

pháp 1992 ban hành cũng mới chỉ ghi nhận việc Nhà nước bảo hộ quyền tác giả nói chung, chủ yếu chỉ là các quy định pháp luật dưới dạng Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ quy định về nhuận bút của tác giả, chứ chưa có một văn bản pháp luật nào quy định cụ thể về quyền tác giả đối với PMMT

Sau khi Hiến pháp 1992 ban hành, Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả ngày 02/12/1994 được coi là văn bản quan trọng nhất, quy định đầy đủ nhất, chi tiết nhất về quyền tác giả trong giai đoạn này, đồng thời cũng là văn bản pháp luật

đầu tiên của Việt Nam quy định về quyền tác giả đối với PMMT Điều 4 của Pháp lệnh quy định những đối tượng được Nhà nước bảo hộ quyền tác giả bao gồm có PMMT

Ngày 28/10/1995, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua BLDS Đây là Bộ luật quan trọng đầu tiên quy định về quyền tác giả nói chung

và quyền tác giả đối với PMMT nói riêng Để cụ thể hoá các quy định của BLDS, Chính phủ đã ban hành một số Nghị định để hướng dẫn thi hành Ngoài

ra tại Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Bộ luật Hình sự và các luật, văn bản pháp luật khác cũng đã có các quy định về quyền tác giả và quyền tác giả đối với PMMT

Các văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành quy định về quyền tác giả đối với PMMT bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản Việc bảo hộ PMMT không được mở rộng đến tư tưởng, khái niệm, phát hiện, cách tính toán, quá trình xử lý và vận dụng được dùng khi phát triển phần mềm

Đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu các văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành quy định về quyền tác giả đối với PMMT, chúng ta xem xét các văn bản này dưới một số góc độ sau:

Trang 15

1.3.1 Pháp luật trong nuớc

+ Bộ luật Dân sự 2005

Bộ luật Dân sự 1995 sau hơn 7 năm thi hành đã bộc lộ một số tồn tại như chưa có đủ văn bản để hướng dẫn thi hành giúp cụ thể hoá, lượng hoá một số quy định chung mang tính nguyên tắc của Bộ luật Mặt khác một số quy định trong Bộ luật cần được chỉnh lý để đảm bảo sự thống nhất trong thực tiễn và phù hợp quá trình hội nhập quốc tế Ngày 14 tháng 6 năm 2005, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Bộ luật Dân sự với 7 phần, 36 chương, 777 điều

Theo quy định của BLDS 2005 về quyền tác giả và các quyền liên quan, thì Bộ luật chỉ quy định những vấn đề chung nhất đối với quyền tác giả như: Tác giả là ai? Đối tượng quyền tác giả là gì? Nội dung quyền tác giả ra sao? Thời điểm phát sinh và hiệu lực quyền tác giả từ bao giờ? Chủ sở hữu quyền tác giả thuộc về ai? Phân chia quyền tác giả thế nào ? v.v còn những nội dung cụ thể khác thì do pháp luật về sở hữu trí tuệ quy định

Điều 736, BLDS 2005 quy định tác giả là “Người sáng tạo tác phẩm văn

học, nghệ thuật, khoa học (sau đây gọi chung là tác phẩm) là tác giả của tác phẩm đó Trong trường hợp có hai người hoặc nhiều người cùng sáng tạo ra tác phẩm thì những người đó là các đồng tác giả” Còn đối tượng quyền tác giả

được quy định tại Điều 737, BLDS 2005 “Đối tượng quyền tác giả bao gồm mọi

sản phẩm sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện dưới bất kỳ hình thức và bằng bất kỳ phương tiện nào, không phân biệt nội dung, giá trị và không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục nào” Nội dung quyền tác

giả ở BLDS 2005 bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản (Điều 738, BLDS 2005) Phần mềm máy tính là tác phẩm khoa học nên là đối tượng của quyền tác giả, do đó quyền tác giả đối với PMMT cũng bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3, Đ738, BLDS 2005 thì các

quyền nhân thân bao gồm: “a) Đặt tên cho tác phẩm; b) Đứng tên thật hoặc

bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; c) Công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; d) Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm” Các quyền tài sản bao gồm: “a) Sao chép tác phẩm; b) Cho phép tạo tác phẩm phái sinh; c) Phân phối, nhập khẩu bản gốc và bản sao tác phẩm; d) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng; đ) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao chương trình máy tính”

Trang 16

Đối tượng chuyển giao công nghệ được quy định tại Đ755, BLDS 2005, trong đó tại khoản 1 có quy định một trong những đối tượng chuyển giao công nghệ là PMMT

+ Luật Sở hữu trí tuệ

Luật Sở hữu trí tuệ đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá XI,

kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 Việc ban hành Luật SHTT

là rất cần thiết, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, không những cả trong mà cả ngoài nước Với 6 phần, 18 chương và 222

điều thì Luật SHTT là một đạo luật toàn diện nhất từ trước tới nay về SHTT, đáp ứng yêu cầu bảo hộ hiệu quả quyền SHTT, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá của đất nước

Luật SHTT quy định quyền tác giả đối với PMMT là một trong 12 loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả (Điều 14), đó là:

“a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và các tác phẩm khác được thể hiển dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

m) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.”

Luật SHTT cũng quy định quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản Nội dung các quyền này cũng giống như được quy định tại BLDS

2005 Luật SHTT quy định rõ việc tổ chức, cá nhân khi công bố tác phẩm hoặc khai thác sử dụng một, một số hoặc toàn bộ quyền về tài sản thì phải xin phép

và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả đối với PMMT (khoản 3, Điều 20)

Trang 17

Luật SHTT là văn bản pháp luật chuyên biệt đầu tiên có một điều khoản quy định về quyền tác giả đối với PMMT (Điều 22) Theo quy định của Luật SHTT thì PMMT được bảo hộ như tác phẩm văn học nghệ thuật, cho dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy (khoản 1, Điều 22), việc bảo hộ quyền tác giả ở đây sẽ do Chính phủ quy định cụ thể (Điều 24)

Theo quy định của Luật SHTT, thời gian bảo hộ của quyền tác giả đối với PMMT là suốt đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết, trong trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết (điểm b, khoản 2, Điều 27) Luật cũng quy định chi tiết các hành vi xâm phạm quyền tác giả mà theo đó các hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với PMMT bị ngăn cấm là: chiếm đoạt quyền tác giả; mạo danh tác giả; công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả; sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm; sao chép tác phẩm mà không được sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả (Điều 28) Luật SHTT cũng quy định chủ sở hữu quyền tác giả, theo đó thì chủ sở hữu quyền tác giả đối với PMMT có thể là tác giả (Điều 37), là các đồng tác giả (Điều 38),

là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả (Điều 39), là người thừa kế (Điều 40), là người được chuyển giao quyền (Điều 41), là Nhà nước (Điều 42) hoặc thuộc về công chúng khi đã kết thúc thời hạn bảo hộ theo quy định (Điều 43)

Luật SHTT cho phép việc chuyển nhượng quyền tác giả đối với PMMT

Đối với quyền nhân thân thì chỉ có quyền chuyển nhượng quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố phần mềm và chuyển nhượng toàn bộ quyền tài sản Trong cả hai trường hợp đều phải được phép của chủ sở hữu PMMT mới

được chuyển giao quyền sở hữu cho tổ chức, cá nhân theo hình thức hợp đồng hoặc quy định của pháp luật có liên quan (khoản 1, Điều 45) Luật cấm chuyển nhượng quyền nhân thân trừ quyền công bố, phổ biến PMMT (khoản 2, Điều 45)

Luật SHTT cũng quy định PMMT là một trong những đối tượng không

được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế Việc quy định như vậy có nghĩa là PMMT chỉ được bảo hộ quyền tác giả chứ không được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

+ Các văn bản hướng dẫn

Có thể chỉ ra một số văn bản pháp luật cơ bản hướng dẫn thi hành, đó là Nghị định số 76/CP ngày 29/11/1996 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số

Trang 18

quy định về quyền tác giả trong Bộ luật Dân sự; Nghị định số 60/CP ngày 06/6/1997 của Chính Phủ hướng dẫn thi hành các quy định của BLDS về quan

hệ dân sự có yếu tố nước ngoài; Thông tư số 27/2001/TT-BVHTT ngày 10/05/2001 của Bộ Văn hoá - Thông tin hướng dẫn thực hiện Nghị định số 76/CP ngày 29/11/1996 của Chính phủ

Các văn bản pháp luật trên qui định về tiêu chuẩn bảo hộ, trình tự và thủ tục xác lập quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả đối với PMMT nói riêng Nhiều nội dung trong các văn bản pháp luật này đã đề cập trực tiếp đến

quyền tác giả đối với PMMT

+ Các văn bản pháp luật khác

Trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành, tuy không chỉ rõ đối tượng

điều chỉnh trực tiếp là quyền tác giả đối với PMMT, nhưng một số quy định trong các văn bản pháp luật này lại có liên quan gián tiếp tới quyền tác giả đối với PMMT và có các nội dung quy định về thực thi và xử lý các vi phạm, giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ:

- Bộ luật Hình sự 1999 quy định trong nhóm các tội xâm phạm quyền tự

do, dân chủ của công dân tội “xâm phạm quyền tác giả”, đó là việc thực hiện

các hành vi gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi quy định hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích

mà còn vi phạm, đó là “a) Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học,

nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình; b) Mạo danh tác giả trên tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình; c) Sửa đổi bất hợp pháp nội dung của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình; d) Công bố, phổ biến bất hợp pháp tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình” (Điều

131, Bộ luật Hình sự)

- Luật Hải quan cũng quy định tại mục 5, chương 3 về việc tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu, xuất khẩu khi có yêu cầu bảo vệ

quyền SHTT “Chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ theo quy định

của pháp luật Việt Nam có quyền đề nghị cơ quan hải quan tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu mà mình có căn cứ cho rằng có vi phạm quyền sở hữu trí tuệ” (khoản 1, Điều 57)

Trang 19

- Pháp lệnh Quảng cáo quy định quyền và nghĩa vụ của người quảng cáo, quyền và nghĩa vụ của người kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải đăng ký bảo

hộ quyền SHTT đối với sản phẩm quảng cáo của mình (mục c, khoản 1, Điều

23 và mục c, khoản 1, Điều 24)

- Nghị định số 31/2001/NĐ-CP ngày 26/6/2001 của Chính phủ về xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá - thông tin quy định phạt tiền từ 20

đến 40 triệu đồng nếu có hành vi sao chép PMMT mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu, phạt tiền từ 50 đến 70 triệu đồng nếu có hành vi tái phạm

- Quyết định 37/2005/QĐ-BTC của Bộ Tài chớnh về việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phớ thẩm định chương trỡnh trờn băng, đĩa, phần mềm và trờn cỏc vật liệu khỏc

Ngoài ra còn có các văn bản pháp luật khác liên quan như: Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1998; Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm ngày 01/10/2002; Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả; Thông tư liên tịch số 01/2001/TANDTC-VKSNDTC-BVHTT ngày 5/12/2001 Toà án Nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Văn hoá - Thông tin hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền tác giả tại Toà án nhân dân; Công văn số 97-KHXX ngày 21/8/1997 của Tòa án Nhân dân tối cao về việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp v.v

1.3.2 Hiệp định song phương

Hiện tại Việt Nam đã ký Hiệp định song phương với một số nước như Hiệp định về thiết lập quan hệ quyền tác giả, quan hệ thương mại với Hoa kỳ, Hiệp định Bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ với Liên bang Thụy Sỹ

Các Hiệp định này đều đã gián tiếp hoặc trực tiếp có những điều khoản

quy định đến quyền tác giả đối với PMMT như: “Mọi chương trình máy tính

đều được coi là tác phẩm viết theo quy định của Công ước Berne và mỗi bên bảo hộ các đối tượng này như tác phẩm viết”, “mỗi bên dành cho tác giả và những người kế thừa quyền lợi của họ được liệt kê tại Công ước Berne đối với các tác phẩm thuộc khoản 1, và dành cho họ quyền cho phép hoặc cấm: a/ Nhập khẩu vào lãnh thổ của bên đó bản sao của tác phẩm; b/ Phõn phối cụng khai lần

Trang 20

đầu bản gốc và mỗi bản sao tỏc phẩm dưới hỡnh thức bỏn, cho thuờ hoặc cỏc hỡnh thức khỏc; c/ Truyền đạt tỏc phẩm tới cụng chỳng; và d/ Cho thuờ bản gốc

hoặc bản sao chương trỡnh mỏy tớnh nhằm đạt lợi ớch thương mại.” [32], hay “

Với cỏc mục tiờu của Hiệp định này, việc bảo hộ sở hữu trớ tuệ được thực hiện

đối với: quyền tỏc giả; cỏc quyền kề cận bao gồm cả chương trỡnh mỏy tớnh và

cơ sở dữ liệu; nhón hiệu hàng hoỏ; chỉ dẫn địa lý bao gồm cả tờn gọi xuất xứ; kiểu dỏng cụng nghiệp; sỏng chế; giống cõy; thiết kế bố trớ mạch tớch hợp; thụng tin bớ mật và cỏc đối tượng khỏc được phỏp luật của mỗi Bờn ký kết bảo hộ” [33]

1.3.3 Bản ghi nhớ

Việt Nam cũng đã tiến hành ký các bản ghi nhớ giữa Cục Sở hữu trí tuệ vương quốc Thái Lan và Cục Bản quyền tác giả Văn học – Nghệ thuật Việt Nam về hợp tác trong lĩnh vực quyền tác giả và quyền kệ cận; Bản ghi nhớ giữa Cục Sở hữu trí tuệ vương quốc Thái lan và các cơ quan liên quan Việt Nam về hợp tác thúc đẩy và bảo hộ SHTT; Bản ghi nhớ giữa Cục Bản quyền tác giả nước CHND Trung Hoa và Cục Bản quyền tác giả Văn học - Nghệ thuật Việt Nam về hợp tác trong lĩnh vực quyền tác giả và quyền kề cận Các bản ghi nhớ này cũng là tiền đề để xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền tác giả đối với PMMT, góp phần thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế của các bên trong lĩnh vực SHTT “Nhận thấy rằng ở cả Thỏi Lan và Việt Nam cú nhiều tỏc phẩm cú tớnh sỏng tạo cần được bảo hộ, hai Bờn nhất trớ tiến hành cỏc hoạt động sau: Tổ chức cỏc diễn đàn thảo luận cỏc nội dung liờn quan đến bảo

hộ và thực thi quyền tỏc giả và quyền liờn quan tại mỗi nước, bao gồm cả phần

mềm mỏy tớnh” [28]

Qua việc tìm hiểu các văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền tác giả đối với PMMT, chúng ta thấy rằng Việt Nam đã thiết lập được hành lang pháp lý, giúp khuyến khích các hoạt động sáng tạo, đảm bảo lợi ích của các chủ thể, tương thích với hầu hết các điều ước quốc tế về quyền tác giả, đảm bảo cho việc hội nhập quốc tế, thể hiện rõ tính minh bạch, công khai và khả thi trong việc đảm bảo điều chỉnh hầu hết các quan hệ xã hội ở lĩnh vực này Các quy

định pháp luật hiện hành này cũng thể hiện tư tưởng tiến bộ về quyền con người, phát huy tác dụng tích cực trên các mặt: kinh tế, xã hội như bảo vệ các nhà sản xuất phần mềm và ngành công nghiệp phần mềm, tạo ý thức coi trọng giá trị sáng tạo, tạo thói quen tuân thủ pháp luật, nâng cao uy tín Việt Nam trên trường quốc tế, tôn vinh bản sắc nền văn hoá, thuần phong mỹ tục Việt Nam

Trang 21

1.4 Quyền tác giả đối với phần mềm máy tính theo qui định của một

số Công ước, Hiệp ước quốc tế

1.4.1 Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật

Công ước Berne là Công ước bản quyền quốc tế đầu tiên trên thế giới,

được thông qua ngày 9/9/1886 tại Berne, Thụy Sỹ với tên gọi đầy đủ là “Công

ước bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật” Mục đích chính của Công ước là bảo

hộ quyền lợi của tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật

Công ước Berne quy định rằng việc bảo hộ quyền tác giả phải bao trùm mọi sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật không phân biệt phương thức hoặc hình thức biểu hiện Công ước cũng thừa nhận các

nguyên tắc cơ bản của vấn đề bảo hộ quyền tác giả, đó là: 1/ Nguyên tắc “Đối

xử công dân”, theo đó các tác phẩm được sáng tạo lần đầu tiên ở một quốc gia

thành viên sẽ được các quốc gia thành viên khác bảo hộ giống như tác phẩm của

công dân nước mình; 2/ Nguyên tắc “bảo hộ tự động” Các tác phẩm được bảo

hộ sẽ được đối xử như công dân của các nước thành viên, không cần phải làm

bất kỳ thủ tục nào; 3/ Nguyên tắc “Tính độc lập về quyền tác giả” Tác phẩm

của tác giả nước ngoài được bảo hộ như công dân của nước thành viên, bất kể tác phẩm đó thuộc nước nào

Phạm vi bảo hộ của Công ước bao gồm tất cả các loại tác phẩm thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học, trong đó có PMMT với thời hạn bảo hộ

là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết Khi tham gia Công ước Berne thì các tác phẩm ra đời trước khi nước đó trở thành thành viên cũng được bảo hộ Quyền tài sản quy định trong Công ước liên quan đến PMMT là những quyền lợi về tài sản mà tác giả được hưởng bao gồm: quyền dịch, quyền in sao, quyền biểu diễn Quyền nhân thân sẽ bao gồm quyền công bố, quyền đề tên mình, quyền bảo vệ sự vẹn toàn của tác phẩm và quyền thu hồi

1.4.2 Hiệp ước của WIPO về quyền tác giả (WCT-WIPO copyright treaty)

Đây là Hiệp ước quyền tác giả của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) được ký kết tại Geneva ngày 20tháng 12 năm 1996 Ngoài phần mở

đầu, Hiệp ước gồm có 25 điều và các điều khoản của Công ước Berne được bảo lưu dẫn chiếu trong Hiệp ước Về phạm vi bảo hộ, Hiệp ước bảo hộ cho các tác phẩm đã được thể hiện chứ không dành cho bản thân ý tưởng, thủ tục, phương thức hoạt động hoặc các khái niệm toán học Trong các loại hình tác phẩm được

bảo hộ quyền tác giả hiệp ước lưu ý hai vấn đề: (1) Chương trình máy tính,

Trang 22

không phân biệt cách thức và hình thức thể hiện chúng; (2) Các dữ liệu được sưu tập dưới bất kỳ hình thức nào mà tạo nên những sáng tạo trí tuệ thì được bảo hộ Hiệp ước có đề cập đến một số quyền như: Quyền phân phối; Quyền truyền đạt tới công chúng Quyền phân phối là quyền cho phép cung cấp tới công chúng bản gốc hoặc bản sao tác phẩm thông qua việc bán hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu Quyền truyền đạt tới công chúng là quyền cho phép bất kỳ việc truyền đạt nào tới công chúng bằng vô tuyến hay hữu tuyến, kể cả việc đưa tác phẩm của họ tới công chúng theo cách thức mà những thành viên trong xã hội

có thể tiếp cận các tác phẩm đó tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa chọn

1.4.3 Thoả thuận về những khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định Trips)

Kết quả của việc đàm phán Uruguay trong khuôn khổ Hiệp định chung

về Thuế quan và Thương mại (GATT) bao hàm trong Hiệp định là những khía cạnh quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (gọi tắt là Hiệp định TRIPS) Hiệp định đã được ký ngày 15/4/1994 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1996

Hiệp định TRIPS đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau, trong đó có chế

định quyền tác giả với quy định cụ thể về các khía cạnh sau đây:

+ Chương trình máy tính sẽ được bảo hộ như các tác phẩm văn học theo

Công ước Berne Việc bảo hộ này áp dụng cho cả hai dạng mã nguồn và mã máy với thời hạn bảo hộ trong vòng chuẩn mực là 50 năm

+ Các sưu tập dữ liệu sẽ được bảo hộ như là các sáng tạo trí tuệ (tác

phẩm) được quy định có cùng tiêu chuẩn như bản gốc thông qua việc lựa chọn

hoặc sắp xếp nội dung của dữ liệu Việc bảo hộ sẽ áp dụng liên quan tới bất kỳ việc sưu tập nào tồn tại ở dạng hình thức độc lập hay những hình thức khác

+ Quyền trong lĩnh vực cho thuê mang tính thương mại sẽ được áp dụng

cho bản sao chương trình máy tính (trừ khi bản thân chương trình đó không phải

là yếu tố cần thiết để cho thuê) và trong các tác phẩm điện ảnh

+ Thời hạn bảo hộ đối với các tác phẩm không được tính từ khi tác giả qua đời mà là 50 năm kể từ thời điểm cuối cùng của năm được phép công bố Nếu việc công bố đó không được thực hiện thì thời hạn này tính từ thời điểm cuối cùng của năm sáng tạo ra tác phẩm

Trang 23

1.5 Quyền tác giả đối với phần mềm máy tính theo qui định của một

số nước

1.5.1 Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc)

Điều lệ Bảo hộ PMMT được Chính phủ Trung Quốc thông qua ngày 24/5/1991, Thủ tướng Lý Bằng ký lệnh ban hành ngày 04/6/1991 Điều lệ gồm năm chương, 40 điều Chương một gồm 8 điều quy định những vấn đề chung Chương này định nghĩa và thống nhất sử dụng một số thuật ngữ như phần mềm máy tính, chương trình máy tính; tài liệu; người phát triển phần mềm; người giữ quyền tác giả phần mềm; sao in Ngoài ra chương một cũng đề cập đến vấn đề bảo hộ phần mềm, các quyền phát triển phần mềm và chỉ định cơ quan quản lý

đăng ký phần mềm

Chương hai gồm 14 điều quy định về quyền tác giả đối với PMMT Trong chương này đề cập đến các quyền tác giả đối với PMMT Tuy liệt kê gồm

5 phần nhưng Điều lệ cũng quy định các quyền nhân thân và quyền tài sản Quy

định về quyền tác giả PMMT trong trường hợp PMMT được phát triển do cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ cũng tương tự như quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, nghĩa là quyền tác giả thuộc về ai sẽ được quy định trong quyết

định giao nhiệm vụ hoặc hợp đồng, nếu ở đó không xác định rõ thì quyền tác giả thuộc về tổ chức Còn trong trường hợp phần mềm phát triển bởi cá nhân nhưng không bị ràng buộc bởi hợp đồng hoặc nhiệm vụ thì thuộc về cá nhân Thời hạn bảo hộ PMMT là 25 năm và có thể nộp đơn gia hạn nhưng không quá

50 năm Thời hạn bảo hộ quyền tinh thần của người phát triển phần mềm là vô thời hạn

Chương ba gồm 7 điều quy định về quản lý việc đăng ký PMMT Theo đó thì phần mềm được công bố sau khi ban hành Điều lệ có thể nộp đơn xin đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nếu được chấp nhận đăng ký thì phần mềm

sẽ được cấp giấy chứng nhận và thông báo rộng rãi cho xã hội biết Chương này cũng quy định các điều khoản về nộp đơn đăng ký, chuyển nhượng phần mềm Chương bốn với 8 điều quy định về trách nhiệm pháp luật Chương này quy định các trường hợp xâm hại quyền tác giả với PMMT và các biện pháp xử lý tranh chấp, vi phạm xảy ra Chương năm là điều khoản bổ sung với 3 điều

Để thực thi “Điều lệ bảo hộ phần mềm máy tính” Trung Quốc cũng ban hành “Biện pháp đăng ký quyền tác giả phần mềm máy tính” vào ngày 01/10/1991 gồm bảy chương và 50 điều

Trang 24

Để thực thi điều khoản bảo hộ quyền tác giả song phương về SHTT giữa Trung quốc và Hoa Kỳ, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện này 29/02/1992 Thông tư nêu rõ “Tác phẩm của nước Mỹ được

bảo hộ bao gồm phần mềm máy tính và sản phẩm ghi âm” và “Nội dung quyền

tác giả mà công dân Mỹ được hưởng tại trung Quốc cũng như giới hạn pháp luật, cũng giống như công dân trung Quốc”

Chính phủ Trung Quốc cũng ban hành “Quy định về thực thi Điều ước quốc tế về quyền tác giả” ngày 25/9/1992 Quy định nêu rõ Điều ước quốc tế về quyền tác giả đề cập trong Quy định này là “Công ước Berne bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật” (Điều 3); PMMT của nước ngoài được bảo hộ như tác phẩm văn học nghệ thuật, thời hạn bảo hộ là 50 năm tính từ cuối năm của năm công bố lần đầu tiên (Điều 7);

1.5.2 Cộng hoà Singapore

Đạo luật quyền tác giả tại Singapore được ban hành năm 1987 đã quy

định chi tiết đối tượng bảo hộ quyền tác giả bao gồm hai loại lớn chủ yếu là:

1.5.3 Vương quốc Thụy Điển

Luật Quyền tác giả tác phẩm văn học và nghệ thuật của Thụy Điển được ban hành ngày 30/12/1960, sửa đổi, bổ sung ngày 01/4/2000 Điều 1 của luật quy định “Bất kỳ người nào sáng tạo ra tác phẩm văn học nghệ thuật đề có quyền tác giả đối với tác phẩm đó, bất kể là: 1 Sự thể hiện mang tính hư cấu

hoặc miêu tả trong bài viết hoặc lời nói; 2 Chương trình máy tính; 3 Tác phẩm

âm nhạc hoặc tác phẩm kịch; 4 Tác phẩm điện ảnh; 5 Tác phẩm nhiếp ảnh hoặc tác phẩm mỹ thuật khác; 6 Tác phẩm kiến trúc hoặc tác phẩm mỹ thuật ứng dụng; 7 Tác phẩm được thể hiện dưới hình thức khác ”

Trang 25

Trong các quy định về giới hạn quyền tác giả thì bất kỳ một người nào cũng có quyền làm một bản sao tác phẩm đã công bố nhằm mục đích sử dụng

cá nhân không nhằm mục đích khác, nhưng loại trừ tác phẩm kiến trúc; chương

trình máy tính và các sưu tập dữ liệu Việc sao chép phục vụ các hoạt động lưu

trữ và thư viện cũng bị giới hạn quyền sao chép chỉ đối với phần mềm máy tính

Trong trường hợp sao chép dành cho người khiếm thị thì luật cho phép bất kỳ người nào đều được quyền làm bản sao các tác phẩm văn học, nghệ thuật và âm nhạc đã công bố sang chữ nổi Như vậy quyền sao chép ở đây đã không bị giới hạn bởi một loại hình nào khi sao chép phục vụ cho người khiếm thị

Luật cũng giới hạn cho phép mọi người sử dụng các tác phẩm là các phần của tài liệu nhưng cũng không áp dụng đối với PMMT Trong luật cũng dành riêng hai điều 26g và 26h quy định đặc biệt về PMMT Bất kỳ người nào có quyền sử dụng PMMT thì có quyền làm bản sao, tiến hành cải biên chuyển thể, tìm hiểu, nghiên cứu, kiểm tra chức năng của phần mềm phục vụ cho mục đích

sử dụng cá nhân của người đó

Nếu tác giả phát triển PMMT mà theo nhiệm vụ hoặc hợp đồng thì quyền tác giả được chuyển giao cho người thuê trừ trường hợp có sự thoả thuận khác (Điều 40a)

ra thuê (ngoại trừ hai bên có thoả thuận khác) Các tác phẩm được tạo ra bởi

các viên chức hoặc cán bộ của Chính phủ Mỹ thì coi như một phần trong nghĩa

vụ của người đó Luật cũng quy định và giới hạn chặt chẽ các quyền sao chép,

định đoạt, cho thuê, mướn, chuyển giao quyền tác giả đối với PMMT Luật cũng quy định những hạn chế các độc quyền đối với PMMT Sẽ không bị coi là

vi phạm khi đối với chủ sở hữu bản sao PMMT làm hoặc cho phép làm một bản sao khác, hoặc nâng cấp PMMT đó nếu bản sao mới hoặc bản nâng cấp phần mềm này được tạo ra như một bước cơ bản để sử dụng PMMT trong một chiếc máy tính và nó không được sử dụng theo bất kỳ một hình thức nào khác và chỉ

sử dụng cho mục đích lưu trữ

Trang 26

1.5.5 Một số quốc gia khác

Luật bản quyền EU không cho phép tác giả là pháp nhân, tuy nhiên có một chương về bản quyền liên quan đến phần mềm, nêu khá rõ và rộng về quyền của pháp nhân sở hữu không đồng thời là tác giả phần mềm

Luật bản quyền Australia (1968) đã xác định tác phẩm văn học gồm bảng biểu, tập hợp được diễn đạt bằng ngôn từ, con số hoặc biểu tượng dù hữu hình hay vô hình, chương trình máy tính hoặc tập hợp chương trình máy tính Nội dung pháp luật bảo hộ quyền tác giả của Australia quy định quyền tác giả hoàn toàn tách biệt với quyền sở hữu tài sản hữu hình và đó là sự phân biệt giữa quyền tài sản và quyền tác giả đối với tác phẩm [44]

Phần mềm máy tính là một trong những đối tượng được bảo hộ tại Nhật Bản Thời hạn bảo hộ quyền tác giả ở Nhật Bản là bảo hộ trong suốt thời gian

tác giả còn sống (suốt cuộc đời tác giả) và 50 năm sau khi tác giả chết Cho đến

thời điểm hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều công nhận một chương trình thuộc PMMT như một tác phẩm và người sáng tạo có quyền tác giả đối với phần mềm đó [44]

Ta thấy rằng, căn cứ vào tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội của từng nước

mà luật pháp về quyền tác giả ở mỗi nước quy định là khác nhau Tuy nhiên, việc bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học trong đó có PMMT đã mang tính toàn cầu, không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia Những Công ước, Hiệp ước ra đời đã giúp việc bảo vệ quyền tác giả trên cả thế giới một cách hữu hiệu

Trang 27

Chương 2 Quyền tác giả đối với phần mềm máy tính

theo qui định của pháp luật Việt Nam – Thực tiễn bảo hộ quyền tác giả đối với phần mềm máy tính

2.1 Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về quyền tác giả đối với phần mềm máy tính

2.1.1 Chủ thể quyền tác giả đối với phần mềm máy tính

2.1.1.1 Tác giả phần mềm máy tính

Các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học là quá trình hoạt động sáng tạo của con người Tác giả là chủ thể quan trọng có ý nghĩa quyết định trong quan hệ pháp luật về quyền tác giả Điều 736, BLDS 2005 quy định:

“1 Người sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (sau đây gọi chung là tác phẩm) là tác giả của tác phẩm đó

Trong trường hợp có hai người hoặc nhiều người cùng sáng tạo ra tác phẩm thì những người đó là các đồng tác giả

2 Người sáng tạo ra tác phẩm phái sinh từ tác phẩm của người khác, bao gồm tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn là tác giả của tác phẩm phái sinh đó.”

Pháp luật Việt Nam quy định PMMT được bảo hộ như tác phẩm văn học, nghệ thuật cho dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy Theo quy

định này thì có thể phân biệt tác giả PMMT theo các tiêu chí khác nhau:

- Dựa vào số lượng tác giả, có thể chia tác giả PMMT thành:

+ Tác giả PMMT đơn nhất - là cá nhân bằng lao động trí tuệ của mình sáng tạo trực tiếp ra toàn bộ PMMT

+ Đồng tác giả PMMT - do nhiều cá nhân hợp tác để cùng sáng tạo ra PMMT

- Dựa vào nguồn gốc tác giả, có thể phân biệt tác giả PMMT thành:

+ Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra toàn bộ hoặc một phần của PMMT

Trang 28

+ Tác giả là người dựa trên phần mềm gốc của người khác để tạo nên phần mềm mới (trên cơ sở phải được sự đồng ý của tác giả và chủ sở hữu phần mềm gốc đó)

Như vậy, về cơ bản tác giả PMMT được quy định giống như tác giả tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học khác, tuy nhiên tác giả phái sinh PMMT

chỉ bao gồm tác giả: dịch thuật; biên soạn; chú giải; tuyển chọn (xem thêm mục

2.1.2.2 phần quyền cho phép tạo PMMT phái sinh)

2.1.1.2 Chủ sở hữu phần mềm máy tính

Theo Điều 36, Luật SHTT thì chủ sở hữu tác phẩm có thể là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ quyền tài sản Theo đó, chủ sở hữu PMMT có thể là:

- Tác giả của PMMT sẽ đồng thời là chủ sở hữu của PMMT đó nếu PMMT tạo ra không phải theo nhiệm vụ được giao hoặc theo hợp đồng Trong trường hợp này thì tác giả phải sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để sáng tạo ra PMMT (Điều 37, Luật SHTT)

- Nhiều người tạo ra PMMT không phải theo nhiệm vụ được giao hoặc theo hợp đồng là chủ sở hữu chung đối với PMMT do họ cùng sáng tạo Các

đồng tác giả phải sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình

để sáng tạo ra PMMT (Điều 38, Luật SHTT)

- Tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ sáng tạo cho tác giả hoặc tổ chức giao kết hợp đồng với tác giả để tác giả tạo ra PMMT theo nhiệm vụ hoặc hợp đồng thì sẽ là chủ sở hữu đối với các PMMT Trong trường hợp tổ chức giao nhiệm

vụ cho tác giả để tác giả tạo ra PMMT thì tác giả phải là người thuộc tổ chức

đang quản lý (Điều 39, Luật SHTT)

- Người thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật của tác giả đối với PMMT được tạo ra không phải theo nhiệm vụ được giao hoặc theo hợp đồng

sẽ là chủ sở hữu đối với PMMT đó (Điều 40, Luật SHTT)

- Các cá nhân hoặc tổ chức được các chủ sở hữu PMMT nói trên chuyển giao các quyền của họ đối với PMMT theo hợp đồng là chủ sở hữu quyền được chuyển giao (Điều 41, Luật SHTT)

- Nhà nước là chủ sở hữu quyền tác giả đối với PMMT khuyết danh (hay

tác phẩm khuyết danh), PMMT còn trong thời hạn bảo hộ mà chủ sở hữu quyền

tác giả chết không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc

Trang 29

không được quyền hưởng di sản hoặc tác phẩm được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước (Điều 42, Luật SHTT)

- Công chúng là chủ sở hữu PMMT khi PMMT đã kết thúc thời hạn bảo

hộ theo quy định (Điều 43, Luật SHTT)

2.1.2 Nội dung quyền tác giả đối với phần mềm máy tính

Các quyền của tác giả và các quyền của chủ sở hữu tác phẩm luôn là nội dung trọng tâm của pháp luật quyền tác giả Quyền tác giả là một bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ, có đối tượng là một loại tài sản đặc biệt - là những sản phẩm trí tuệ Đó chính là thành quả lao động trí óc được đặc tính hoá dưới dạng vật chất

Quyền tác giả đối với PMMT có đối tượng là những sản phẩm trí tuệ, đó

là những câu lệnh, đoạn mã, thuật toán, module ở dạng mã nguồn hay mã máy để giải quyết một hoặc một nhóm vấn đề, nội dung cụ thể Cũng giống như

các loại hình bảo hộ quyền tác giả khác, quyền tác giả đối với PMMT “phát

sinh kể từ ngày tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định” (Điều 739, BLDS 2005) Như vậy thì quyền tác giả đối với

PMMT tự động phát sinh, chỉ cần PMMT được sáng tạo ra dù đã công bố hoặc chưa công bố Quyền tác giả đối với PMMT cũng được xác lập kể cả đã đăng

ký hoặc không đăng ký bảo hộ

Theo lý luận chung thì nội dung quyền tác giả là tổng hợp các quyền nhân thân và quyền về tài sản của các chủ thể nhất định đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện Quyền nhân thân trong nội dung quyền tác giả được hiểu là quyền xác lập mối liên hệ giữa bản thân tác giả với tác phẩm, gắn liền trực tiếp với tác giả, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Còn quyền tài sản được hiểu là những quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm cho phép người khác sử dụng tác phẩm và được hưởng các lợi ích vật chất

từ việc sử dụng đó Tác giả và chủ sở hữu tác phẩm luôn mong muốn được hưởng những quyền lợi vật chất và tinh thần đối với tác phẩm do mình sáng tạo hoặc sở hữu Tuỳ theo vai trò và vị trí của mình đối với tác phẩm, mỗi một chủ thể sẽ có một phạm vi quyền nhất định

Trong loại hình PMMT, chúng ta có thể xem xét các quyền của tác giả, quyền của chủ sở hữu PMMT dưới một số góc độ sau:

Trang 30

2.1.2.1 Các quyền của tác giả đối với phần mềm máy tính (trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm)

a/ Quyền nhân thân

+ Quyền đặt tên cho phần mềm máy tính

Thông thường, qua tên tác phẩm, tác giả muốn thể hiện ở mức khái quát hoá về chủ đề của tác phẩm Việc đặt tên cho tác phẩm giúp người sử dụng tác phẩm có thể nhận biết ra nội dung của tác phẩm ngay từ khi vừa đọc đến tên của tác phẩm Theo quy định của pháp luật hiện hành, quyền đặt tên cho tác phẩm là một quyền luôn luôn gắn liền với tác giả và không thể chuyển dịch cho người khác được Thông qua quyền này tác giả có thể đặt cho tác phẩm một tên

gọi bất kỳ, thậm chí “vô đề”

Tác giả của PMMT có quyền đặt tên cho phần mềm của mình, ví dụ như

tác giả Đặng Minh Tuấn đặt tên “Vietkey” cho phần mềm hỗ trợ gõ tiếng Việt

trong môi trường Windows 32-Bit của mình, hay tác giả Nguyễn Tử Quảng đặt

tên “BKAV” cho phần mềm diệt virus do mình xây dựng và phát triển Tuy

nhiên cần tránh nhầm lẫn giữa việc đặt tên cho tác phẩm mà pháp luật bảo hộ

với việc đặt tên “file” cho một phần mềm hay một tập tin Đối với tên “file” thì

người sử dụng có thể thay đổi tên dễ dàng và pháp luật thì không bảo hộ

+ Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên phần mềm máy tính, được nêu tên thật hoặc bút danh khi phần mềm máy tính được công bố, sử dụng

Thực hiện quyền này chính là việc xác định rõ tác giả đã sáng tạo ra tác phẩm Tuy nhiên, có thể vì một lý do nào đó, tác giả không muốn đứng tên thật của mình đối với tác phẩm Vì vậy, điểm b, khoản 2, Điều 738, BLDS 2005 qui

định tác giả có quyền “Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu

tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng”

Cũng như các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả khác, pháp luật cho phép tác giả PMMT được quyền lựa chọn hoặc là đứng tên thật, hoặc

là bút danh, hoặc là không đứng tên bút danh cho PMMT của mình

Phần mềm “Lịch Việt” dùng để xem ngày, tháng, năm dương lịch và

chuyển đổi sang ngày, tháng, năm âm lịch được tác giả đứng tên thật là Vũ Văn

Giang, còn phần mềm “Convert” dùng để chuyển đổi dữ liệu của tác giả

Nguyễn Mạnh Hải được đứng tên con gái ông – Nguyễn Hương Giang

Trang 31

Dù không đứng tên hoặc chỉ đứng bút danh nhưng khi PMMT được công

bố, phổ biến, sử dụng, pháp luật cho phép tác giả PMMT có quyền được nêu tên thật để hưởng các quyền lợi đối với phần mềm do mình là tác giả theo tên thật hoặc bút danh của mình

+ Quyền bảo vệ sự toàn vẹn phần mềm máy tính, không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc nội dung phần mềm máy tính

Pháp luật quốc tế và quốc gia đều ghi nhận quyền bảo vệ sự vẹn toàn tác phẩm, giúp bảo vệ kết quả lao động sáng tạo của tác giả Pháp luật hiện hành

quy định quyền “bảo vệ sự toàn vẹn PMMT, không cho phép người khác sửa

chữa, cắt xén, xuyên tạc nội dung PMMT” luôn gắn liền với tác giả mà không

thể chuyển dịch cho người khác Theo đó thì chỉ có tác giả mới có quyền sửa

đổi, bổ sung nội dung tác phẩm của mình, nên cũng chỉ có tác giả mới có quyền cho phép người khác sửa đổi, bổ sung nội dung của tác phẩm Trong bối cảnh hiện nay, người ta có thể dễ dàng sao chép phần mềm một cách bất hợp pháp nhờ ứng dụng những công nghệ tiên tiến Do đó yêu cầu về quyền bảo vệ sự vẹn toàn tác phẩm đối với PMMT càng bức thiết hơn bao giờ hết

Trong vụ việc “Trí tuệ Việt Nam 2003”, ông Stephen, tác giả của mã

nguồn bị sao chép cho biết đã biết đến chuyện “nhóm iCMS đã phát triển sản

phẩm trên mã nguồn mở của ông từ ai và bằng phương thức nào” Khi vụ việc

bị phát hiện và công luận lên tiếng, ông đã yêu cầu đại diện nhóm iCMS phải trả lại giải thưởng và chính thức đưa lời xin lỗi công khai tới cộng đồng CNTT

CP, đối tượng được hưởng nhuận bút bao gồm tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm hoặc chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả của các tác phẩm đó

Pháp luật Việt Nam quy định PMMT được bảo hộ như tác phẩm văn học cho dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy (khoản 1, Điều 22, Luật

Trang 32

SHTT) Do đó tác giả PMMT cũng được hưởng nhuận bút như tác phẩm văn

học Điều 9, Nghị định 61/2002/NĐ-CP quy định: “Nhuận bút cho tác phẩm sử

dụng dưới hình thức xuất bản phẩm căn cứ vào thể loại, chất lượng, số lượng xuất bản phẩm theo tỷ lệ phần trăm trong khung nhuận bút” Tuy nhiên, tác giả

hoặc chủ sở hữu của tác phẩm kiến trúc, của PMMT được hưởng nhuận bút theo hợp đồng thoả thuận sử dụng tác phẩm giữa tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm Như vậy, nhuận bút trả cho tác giả hoặc chủ sở hữu PMMT sẽ do các bên sử dụng phần mềm và tác giả hoặc chủ sở hữu phần mềm thoả thuận thông qua

hợp đồng, chứ không bị ràng buộc bởi quy định “theo tỷ lệ phần trăm trong

khung giá nhuận bút”

+ Quyền được hưởng thù lao khi phần mềm máy tính được sử dụng

Tương tự nhu các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả khác, tác giả PMMT có quyền được hưởng thù lao khi PMMT được sử dụng Khoản 3,

Điều 740, BLDS 2005 quy định “Trong trường hợp tác phẩm được sáng tạo trên

cơ sở thực hiện nhiệm vụ hoặc hợp đồng giao việc thì quyền tài sản thuộc về cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ hoặc bên giao việc theo hợp đồng, trừ trường hợp

có thoả thuận khác Trong trường hợp quyền tài sản không thuộc về tác giả thì tác giả có quyền nhận thù lao, nhuận bút do chủ sở hữu quyền tài sản chi trả theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ” Như vậy khi tác giả PMMT

không đồng thời là chủ sở hữu PMMT thì tác giả có quyền nhận thù lao, nhuận bút do chủ sở hữu phần mềm chi trả theo quy định của pháp luật

Tuy nhiên theo quy định tại khoản 4, Điều 5, Nghị định 61/2002/NĐ-CP

ngày 11/6/2002 của Chính phủ về chế độ nhuận bút thì “Thù lao là khoản tiền

do bên sử dụng tác phẩm trả cho những người thực hiện các công việc liên quan

đến tác phẩm theo quy định tại Nghị định này” Quy định như vậy được hiểu

rằng thù lao được trả cho những người không phải là tác giả nhưng thực hiện

những công việc liên quan đến tác phẩm (đối với PMMT, những người đó có thể

là những người thực hiện các công việc như: thiết kế vỏ đĩa, thu thập thông tin,

số liệu, đóng gói sản phẩm v.vv) Qua đây có thể thấy một số quy định của pháp

luật còn chưa rõ ràng khi quy định đối tượng được hưởng thù lao (khi tác phẩm

được sử dụng) là tác giả hay là những người liên quan đến tác phẩm hoặc cả hai

+ Quyền nhận giải thưởng đối với phần mềm máy tính mà mình là tác giả, trừ trường hợp phần mềm máy tính không được Nhà nước bảo hộ

Giải thưởng đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học nói chung và PMMT nói riêng thường được trao cho tác giả và tác phẩm đoạt giải thông qua cuộc thi nhằm mục đích khuyến khích sáng tạo, phát hiện tài năng

Trang 33

Thông qua quy định này, Nhà nước ghi nhận và bảo đảm cho tác giả được hưởng các quyền lợi nhất định khi PMMT của họ đoạt giải Việc trao giải thưởng có ý nghĩa động viên kịp thời về tinh thần, vật chất cho tác giả cũng như những người hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học Tuy nhiên Nhà nước cũng không cho phép một người nào đó được nhận giải thưởng dù PMMT của họ được tổ chức nước ngoài trao giải nếu PMMT của họ không được Nhà nước bảo hộ

Trong thời gian qua, Nhà nước đã phát động và tổ chức nhiều cuộc thi nhằm khuyến khích nghiên cứu, sáng tạo trong lĩnh vực CNTT Nhiều tổ chức

và cá nhân đã được trao giải thưởng dành cho những PMMT tiêu biểu Tại buổi

lễ trao giải thưởng “Sao Khuê 2005” của Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Việt

Nam, tác giả Phạm Chí Nghĩa - là một trong số những tác giả được nhận giải thưởng - đã thay mặt cho nhóm tác giả lên nhận giải thưởng triển vọng mang tên Softech Eden

2.1.2.2 Các quyền của chủ sở hữu phần mềm máy tính (trường hợp chủ

sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả)

a/ Quyền nhân thân

+ Quyền công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến phần mềm máy tính thuộc quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp giữa tác giả và chủ

sở hữu phần mềm máy tính có thoả thuận khác

Để tác phẩm có thể đến được với công chúng, tác giả có quyền công bố, phổ biến tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố, phổ biến tác phẩm của mình Việc công bố, phổ biến hay không công bố, phổ biến; công bố, phổ biến

ở đâu, khi nào, bằng hình thức gì do chủ sở hữu tác phẩm quyết định Các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học cũng như PMMT là kết quả của hoạt động sáng tạo, tuy duy của con người nên chủ sở hữu tác phẩm mong muốn được công bố, phổ biến tác phẩm đến với công chúng, người sử dụng cũng là điều dễ hiểu Đây là quyền nhân thân những gắn liền với lợi ích vật chất của chủ sở hữu tác phẩm Quyền công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến

PMMT thuộc quyền sở hữu của mình không được trao cho “tác giả không đồng

thời là chủ sở hữu PMMT” mà thuộc về “chủ sở hữu PMMT không đồng thời là tác giả” hoặc “chủ sở hữu PMMT đồng thời là tác giả” Trường hợp giữa tác giả

và chủ sở hữu PMMT có thoả thuận khác thì thực hiện theo thoả thuận đó

Trang 34

Ví dụ chủ sở hữu phần mềm “BKAV” có quyền công bố “BKAV” và các

phiên bản cập nhật tại các tạp chí chuyên ngành hay tại các hội nghị, hội thảo ,

đồng thời cũng có quyền phổ biến “BKAV” trên mạng Internet để cho phần mềm “đến” được với người sử dụng một cách nhanh nhất, nhằm ngăn chặn kịp

thời hoặc giảm thiểu những tác hại do virus tin học gây ra

+ Quyền cho hoặc không cho người khác sử dụng phần mềm máy tính thuộc quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp giữa tác giả và chủ sở hữu phần mềm máy tính có thoả thuận khác

Căn cứ vào quyền cho hoặc không cho người khác sử dụng PMMT thì chủ sở hữu PMMT có quyền cho hoặc không cho người khác sử dụng PMMT của mình dưới các hình thức:

+ Sao chép PMMT dưới bất kỳ hình thức nào;

+ Sử dụng làm PMMT phái sinh

Người khác chỉ được thực hiện các hành vi sử dụng nói trên nếu được chủ

sở hữu PMMT cho phép Điều này cũng có nghĩa là cho dù PMMT được cài đặt hợp pháp trên máy tính cá nhân của chủ sở hữu, nhưng nếu không được chủ sở hữu PMMT cho phép mà khai thác, sử dụng ngay tại chính máy tính cá nhân này thì cũng bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả PMMT

Một điểm đặc thù là trong khi hầu hết các loại hình tác phẩm được bảo

hộ quyền tác giả theo các trường hợp quy định sẵn trong Luật SHTT, thì khi sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút,

thù lao sẽ không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình và phần

mềm máy tính (khoản 3, Điều 25, Luật SHTT)

b/ Quyền tài sản

+ Quyền sao chép phần mềm máy tính

“Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản

ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử” (khoản 10,

Điều 4, Luật SHTT) Quyền sao chép tác phẩm là quyền rất cơ bản theo luật quyền tác giả

Quyền giám sát hoạt động sao chép, nhân bản là cơ sở pháp lý cho nhiều hình thức khác nhau đối với tác phẩm được bảo hộ Thông qua việc thực hiện

Trang 35

quyền này mà các tác phẩm được phổ biến đến công chúng từ một bản gốc Đối

với PMMT (hay các tác phẩm văn học, nghệ thuật được số hoá) thì việc thực

hiện sao chép tương đối dễ dàng do có sự hỗ trợ của các thiết bị, công nghệ hiện

đại như băng từ, đầu đọc ghi tốc độ cao, đĩa CD, Flash Disk, thẻ nhớ hoặc sao chép trên mạng Lan, Internet Cũng như các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả khác, để có thể sao chép PMMT phải căn cứ trên sự cho phép của chủ sở hữu PMMT Tuy nhiên, do đặc tính của công nghệ số, những hoạt động sao chép cứng và việc truyền dẫn tín hiệu tương tự nhất thiết phải kéo theo việc

sao chép ngẫu nhiên tạm thời Ví dụ “trình duyệt” một văn bản điện tử yêu cầu

ít nhất là văn bản đó phải được sao chép tạm thời vào trong bộ nhớ RAM của máy tính đang trình duyệt Đối với PMMT, những bản sao chép như vậy liên quan đến quyền sao chép [44]

+ Quyền cho phép tạo phần mềm máy tính phái sinh

Chủ sở hữu PMMT có quyền tạo PMMT phái sinh Phần mềm máy tính

phái sinh được hiểu là PMMT được dịch thuật từ ngôn ngữ gốc của phần mềm sang một ngôn ngữ khác (hãng Microsoft cho phép một công ty phần mềm Việt

Nam được phép dịch ngôn ngữ sử dụng trong hệ điều hành windows từ tiếng Anh sang tiếng Việt); được biên soạn theo một chủ đề, có bình luận, đánh giá

(một công ty sản xuất phần mềm cho phép một cá nhân được tuyển chọn một số

PMMT về thiết kế kỹ xảo điện ảnh của công ty mình, tạo lập thành một phần mềm mới trên cơ sở những phần mềm gốc ban đầu, nhưng có bình luận, nhận xét về tính năng, công dụng, tính ưu việt của từng phần mềm tuyển chọn); được chú giải làm rõ nghĩa của một số từ, địa danh của một, một số phần mềm sẵn có

(chủ sở hữu một PMMT cho phép người khác được quyền chú giải, giải thích,

làm rõ hơn về một số địa danh, danh lam thắng cảnh, khu du lịch từ phần mềm giới thiệu về du lịch của mình) hay được tuyển chọn từ một số PMMT của nhiều

tác giả khác theo một yêu cầu nhất định (chủ sở hữu PMMT cho phép một nhà

trường được tuyển chọn một số PMMT dạy học tiếng Anh của mình, tích hợp thành một phần mềm mới để dạy học cho đối tượng là trẻ em bị khuyết tật)

+ Quyền được hưởng lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng phần mềm máy tính dưới các hình thức xuất bản, triển lãm, biểu diễn

Theo quy định của BLDS thì quyền được hưởng lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng PMMT dưới các hình thức xuất bản, triển lãm, biểu diễn thuộc về chủ sở hữu PMMT, tác giả chỉ có quyền này trong trường hợp họ

Trang 36

đồng thời là chủ sở hữu PMMT Thông qua các hình thức này, PMMT được phổ biến rộng rãi đến công chúng, bên sử dụng PMMT phải trả chủ sở hữu PMMT một khoản lợi ích vật chất theo thoả thuận trong hợp đồng sử dụng tác phẩm

Việc cho người khác sử dụng PMMT dưới các hình thức xuất bản, triển lãm, biểu diễn liên quan đến quyền tài sản của chủ sở hữu PMMT Ví dụ, chủ

sở hữu PMMT đã bỏ vốn, công nghệ, nhân công, thời gian để xây dựng phần mềm với mục đích kinh doanh và thu lợi nhuận thông qua PMMT này, trong khi một người khác sử dụng PMMT đó để biểu diễn phục vụ cho việc quảng cáo sản phẩm kinh doanh của họ Khi đó pháp luật cho phép chủ sở hữu PMMT có quyền được hưởng lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng PMMT của mình

+ Quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao phần mềm máy tính

Pháp luật Việt Nam cũng như một số nước cho phép quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao phần mềm Quyền phân phối thường tùy vào việc xem xét tình trạng khai thác hết quyền hoặc việc chuyển giao quyền sở hữu lần đầu một bản sao cụ thể, điều đó có nghĩa là sau khi chủ sở hữu quyền tác giả đã bán, hay nói cách khác là chủ sở hữu đã chuyển giao quyền sở hữu một bản sao cụ thể của PMMT thì chủ sở hữu bản sao PMMT đó có thể tùy ý sử dụng bản sao mà không cần phải xin phép chủ sở hữu bản quyền, thậm chí có thể bán lại bản sao đó

Phần mềm máy tính là một loại hàng hóa đặc biệt, được bảo hộ theo quy

định của Công ước, Hiệp ước quốc tế và pháp luật quốc gia về quyền tác giả Pháp luật Việt Nam cho phép chủ sở hữu PMMT được quyền nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao phần mềm Để tránh được tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm và kiểm soát được hàng hoá lưu thông, các cơ quan chức năng có thẩm quyền được quyền kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền tác giả đối với PMMT nhập khẩu Chủ sở hữu PMMT đã được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam có quyền đề nghị cơ quan hải quan tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với PMMT xuất, nhập khẩu mà có căn

cứ cho rằng có vi phạm quyền sở hữu trí tuệ Cơ quan hải quan có quyền tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu khi có yêu cầu bảo

vệ quyền SHTT

+ Quyền truyền đạt phần mềm máy tính đến công chúng

Pháp luật Việt Nam cho phép chủ sở hữu tác phẩm có quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng dưới bất kỳ phương tiện và cách thức nào Theo đó thì

Trang 37

chủ sở hữu PMMT có quyền trưng bày, giới thiệu cho công chúng biết PMMT dưới những hình thức như hội thảo, toạ đàm, phòng trưng bày Để thực hiện quyền này đòi hỏi phải được sự đồng ý của chủ sở hữu PMMT Quyền kiểm soát hoạt động này không chỉ vì quyền lợi của chủ sở hữu quyền tác giả mà còn vì lợi ích của những người được tác giả cho phép, ví dụ như khi những người khác muốn tổ chức công diễn một phần mềm trước công chúng trong khi dự

định cho việc xây dựng phần mềm chỉ “hạn chế ứng dụng” trong một lĩnh vực

cụ thể

+ Quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao phần mềm máy tính

Quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao PMMT là quyền được thừa nhận rộng rãi, được quy định trong Hiệp định Trips và quy định trong BLDS 2005 và Luật SHTT Quyền cho thuê này xuất phát từ việc những tiến bộ của khoa học

kỹ thuật đã khiến cho việc sao chép PMMT khá dễ dàng Thực tế đã cho thấy khách hàng của những nơi cho thuê đã tạo ra những bản sao, vì vậy quyền giám sát hoạt động cho thuê là cần thiết để ngăn chặn việc xâm phạm đến quyền sao chép, nhân bản của chủ sở hữu PMMT

Trong giới chuyên môn CNTT, hầu như ai cũng biết hệ quản trị cơ sở dữ

liệu ORACLE là một hệ quản trị cơ sở dữ liệu “rất mạnh”, có rất nhiều tính

năng ưu việt trong việc quản trị dữ liệu Tuy nhiên không phải cơ quan, đơn vị hay cá nhân nào cũng có đủ kinh phí để mua bản quyền sử dụng hệ quản trị cơ

sở dữ liệu này Khi đó việc cho thuê bản gốc hoặc bản sao PMMT là một giải pháp được các bên chấp nhận, đã được pháp luật thừa nhận về mặt pháp lý Các bên có thể thoả thuận về thời gian thuê, địa điểm cài đặt, số lượng cài đặt và giá cho thuê, hoặc áp dụng theo các quy định của pháp luật

2.1.2.3 Các quyền khác của tác giả, chủ sở hữu phần mềm máy tính

Luật SHTT cho phép việc chuyển nhượng quyền tác giả đối với PMMT

Đối với quyền nhân thân thì chỉ có quyền chuyển nhượng quyền công bố PMMT hoặc cho phép người khác công bố PMMT và được quyền chuyển nhượng toàn bộ quyền tài sản Trong cả hai trường hợp đều phải được phép của chủ sở hữu PMMT mới được chuyển giao quyền sở hữu cho tổ chức, cá nhân theo hình thức hợp đồng hoặc quy định của pháp luật có liên quan (khoản 1,

Điều 45) Pháp luật hiện hành không cho phép chuyển nhượng quyền nhân thân trừ quyền công bố PMMT (khoản 2, Điều 45 Luật SHTT)

Ngày đăng: 20/10/2018, 17:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w