1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOÀN THIỆN nội DUNG GIẢNG dạy môn học kỹ NĂNG xử lý vụ VIỆC CẠNH TRANH

229 148 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 229
Dung lượng 3,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 PHẦN I: TỔNG THUẬT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI “HOÀN THIỆN NỘI DUNG GIẢNG DẠY MÔN HỌC KỸ NĂNG Với nội dung và tầm quan trọng của pháp luật cạnh tranh, việc nghiên cứu và giảng dạy

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: THS, GVC HOÀNG MINH CHIẾN

THƯ KÝ ĐỀ TÀI : ThS Phạm Phương Thảo

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Chủ nhiệm đề tài: ThS, GVC HOÀNG MINH CHIẾN

Trường Đại học Luật Hà Nội

Các tác giả chuyên đề khoa học:

1 ThS, GVC Hoàng Minh Chiến &ThS Tống Đức Duy

(Trường Đại học Luật Hà Nội)

Chuyên đề 1

2 PGS, TS Nguyễn Thị Vân Anh & ThS Phạm Phương Thảo

6 ThS, GVC Hoàng Minh Chiến &ThS Trần Thị Phương Liên

(Trường Đại học Luật Hà Nội)

Chuyên đề 6

Trang 4

MỤC LỤC PHẦN I: TỔNG THUẬT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI………1 PHẦN II: CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI……… 65

Chuyên đề 1: SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN NỘI

DUNG GIẢNG DẠY MÔN HỌC “KỸ NĂNG XỬ LÝ CÁC VỤ VIỆC CẠNH TRANH” TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI………65

Chuyên đề 2: TỔNG QUAN NỘI DUNG MÔN HỌC “KỸ NĂNG XỬ LÝ VỤ

Chuyên đề 5: HOÀN THIỆN NỘI DUNG KỸ NĂNG THẨM TRA HỒ SƠ ĐỀ

NGHỊ HƯỚNG MIỄN TRỪ ĐỐI VỚI CÁC VỤ VIỆC HẠN CHẾ CẠNH TRANH BỊ CẤM……… 145

Chuyên đề 6: HOÀN THIỆN NỘI DUNG KỸ NĂNG ĐIỀU TRA, XỬ LÝ CÁC

VỤ VIỆC CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH……….163

Trang 5

1

PHẦN I:

TỔNG THUẬT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

“HOÀN THIỆN NỘI DUNG GIẢNG DẠY MÔN HỌC KỸ NĂNG

Với nội dung và tầm quan trọng của pháp luật cạnh tranh, việc nghiên cứu và giảng dạy pháp luật cạnh tranh nói chung cũng như giảng dạy về các

kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh nói riêng trong các trường đào tạo luật cần phải được quan tâm đúng mức cả về nội dung và thời lượng Tuy nhiên, thực tiễn giảng dạy tại các trường đào tạo luật hiện nay ở Việt Nam cho thấy, các môn học về kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng trong xử lý vụ việc cạnh tranh mặc

Trang 6

2

dù có được đề cập đến ở những mức độ khác nhau nhưng nội dung chương trình giảng dạy còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy ngày càng cao

Môn học "Kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh" đã được đưa vào giảng dạy

từ học kỳ 1 của năm học 2015-2016 tại Trường Đại học Luật Hà Nội với sự cố gắng đầu tư của các giảng viên và các chuyên gia của Cục QLCT – Bộ Công Thương nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy Tuy nhiên, do môn học còn quá mới mẻ, chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này nên đã làm hạn chế khả năng của cả giảng viên và sinh viên trong việc nghiên cứu, học tập và rèn luyện kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh

Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi cho rằng việc thực hiện đề tài: “Hoàn thiện nội dung giảng dạy môn học kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh” là rất cần thiết để chỉ rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, hoàn thiện nội dung, phương pháp giảng dạy cho môn học "Kỹ năng xử lý các

vụ việc cạnh tranh" trong thực trạng nghiên cứu và giảng dạy môn học này tại trường Đại học Luật Hà Nội

1.2 Tình hình nghiên cứu

Sau một thời gian tương đối dài tìm hiểu tình hình nghiên cứu các vấn đề

về pháp luật cạnh tranh và những kỹ năng giúp giải quyết các vụ việc cạnh tranh trên thực tế, chúng tôi nhận thấy trong các công trình khoa học đã được công bố hầu như chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ về vấn đề này

Có thể kể đến một số cuốn sách của Cục quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương nghiên cứu về pháp luật cạnh tranh trong đó có đề cập đến các kỹ năng

xử lý vụ việc cạnh tranh, bao gồm:

- Vụ pháp chế, Bộ thương mại, Tài liệu tham khảo khuôn khổ pháp lí đa phương điều chỉnh hoạt động cạnh tranh và luật cạnh tranh của một số nước

và vùng lãnh thổ, Hà Nội, 2003

Trang 7

- Cục quản lí cạnh tranh - Bộ công thương, Bộ phát triển quốc tế Anh,

Khuôn khổ đánh giá cạnh tranh - Hướng dẫn nghiệp vụ nhằm xác định rào cản đối với cạnh tranh ở các nước đang phát triển, Hà Nội, 2008

- Cục quản lý cạnh tranh - Bộ công thương, Báo cáo rà soát các quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam, Hà Nội, 2012

- Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam và Dự án hỗ trợ thương mại

đa biên, Hành vi hạn chế cạnh tranh - Một số vụ việc điển hình của châu Âu,

2009

Ngoài ra, một đề tài nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Luật Hà Nội

có đề cập đến việc giảng dạy môn học Luật cạnh tranh, có một số ý liên quan

đến kỹ năng giảng dạy, đó là Đề tài: “Nội dung và phương pháp giảng dạy luật cạnh tranh tại Trường Đại học Luật Hà Nội”, Đề tài nghiên cứu khoa học

cấp trường, 2004

Bên cạnh đó, còn có một số bài tạp chí có liên quan cũng giới thiệu về kỹ

năng xử lý vụ việc cạnh tranh, như:

- Nguyễn Thị Vân Anh, “Một số bất cập trong pháp luật điều chỉnh hành vi

hạn chế cạnh tranh của Việt Nam”, Tạp chí luật học, số 4/20011, tr 3 - 9

- Nguyễn Ngọc Sơn, “Hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho

khách hàng”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 59/2005

Trang 8

4

- Nguyễn Ngọc Sơn, “Hành vi định giá huỷ diệt và ứng dụng trong pháp

luật cạnh tranh của Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 19/2008, tr

25- 33

- Nguyễn Thanh Tú, “Nguyên tắc lập luận hợp lí và nguyên tắc vi phạm

mặc nhiên trong pháp luật cạnh tranh”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số

1/2007, tr 52 - 61

- Trường Đại học Luật Hà Nội, Tạp chí luật học (Chuyên đề về Luật cạnh

tranh), số 6/2006

Nhìn chung, các công trình nêu trên đều có nội dung liên quan giới thiệu về

kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh ở các mức độ và phạm vi khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu và toàn diện để tìm ra cơ sở khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện nội dung, chương trình giảng dạy về kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh tại các trường đào tạo Luật nói chung và trường Đại học Luật Hà Nội nói riêng

1.3 Mục đích nghiên cứu đề tài

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về kỹ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh nhằm xây dựng nội dung môn học

- Xây dựng và hoàn thiện hệ chuyên đề giảng dạy môn học Kỹ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh trên cơ sở thực tiễn thực thi pháp luật cạnh tranh và kinh nghiệm giảng dạy tại trường Đại học Luật Hà Nội

- Đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện nội dung chương trình môn học

Kỹ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh hiện đang giảng dạy tại trường Đại học Luật Hà Nội

1.4 Nội dung, phạm vi nghiên cứu của Đề tài

- Các quan điểm, tư tưởng luật học về kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh của các cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh;

- Những nội dung cơ bản cần thiết cho việc giảng dạy kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh tại trường đại học

Trang 9

lý cần thiết, cũng như thực tiễn thi hành, nhằm phục vụ trực tiếp cho việc hoàn thiện nội dung giảng dạy môn học "Kỹ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh" tại trường Đại học Luật Hà Nội

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu, nhóm nghiên cứu sẽ sử dụng rộng rãi các phương pháp nghiên cứu khoa học sau:

- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp luật so sánh

- Phương pháp thống kê

1.6 Lực lượng tham gia đề tài

Các cộng tác viên tham gia nghiên cứu, triển khai thực hiện đề tài là những giảng viên (cơ hữu và thỉnh giảng) thuộc Bộ môn Luật Cạnh tranh và Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Khoa Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

Ngoài ra, đề tài cũng tham vấn ý kiến của các chuyên viên Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thương, Hội đồng cạnh tranh Đó là những người có nhiều năm làm công tác giảng dạy, nghiên cứu và hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực cạnh tranh ở Việt Nam

1.7 Quá trình nghiên cứu

Sau khi ký hợp đồng nghiên cứu khoa học với Trường Đại học Luật Hà Nội, Chủ nhiệm đề tài và các cộng tác viên đã thống nhất cách thức thực hiện

Trang 10

6

đề tài và phân công nghiên cứu các chuyên đề cụ thể Đề tài được đánh giá

là khó, không nhiều tài liệu tham khảo nên các cộng tác viên cũng gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình nghiên cứu, triển khai thực hiện đề tài Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, Chủ nhiệm đề tài và các cộng tác viên thường xuyên trao đổi với nhau để cùng làm rõ những vấn đề còn khúc mắc, còn những ý kiến tranh luận, trái chiều

Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã tiến hành thu thập tài liệu và thực hiện nhiều cuộc khảo sát, như: phỏng vấn thăm dò ý kiến của một số cán bộ Cục quản lí cạnh tranh, một số chuyên gia pháp luật của Bộ Tư pháp Trên cơ sở tài liệu thu thập và kết quả khảo sát, các cộng tác viên tiến hành viết các chuyên đề của đề tài

2 PHẦN NỘI DUNG

Sau thời gian nghiên cứu, nhóm tác giả đã hoàn thành công việc và kết quả nghiên cứu được thể hiện ở những nội dung cơ bản được trình bày dưới đây:

2.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu hoàn thiện nội dung giảng dạy môn học “kỹ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh”

2.1.1 Tính cấp thiết về mặt lý luận của việc nghiên cứu hoàn thiện nội dung giảng dạy môn học “kỹ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh”

Hiện nay, trong chương trình đào tạo của trường Đại học Luật Hà Nội, các môn học liên quan đến pháp luật cạnh tranh bao gồm: môn học Luật cạnh tranh, môn học Luật cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được đưa vào giảng dậy cho người học ở tất cả loại hình đào tạo (Hệ chính quy, Hệ vừa làm vừa học, Văn bằng 2)

Vấn đề pháp luật cạnh tranh cũng được giảng dạy trong chương trình sau đại học với các chuyên đề giảng dạy thuộc môn Luật thương mại Riêng với

mã ngành luật kinh tế hệ chính quy, sinh viên đã được học môn “Kỹ năng xử

lí các vụ việc cạnh tranh” từ học kỳ II năm học 2015 -2016 Môn học này

Trang 11

7

cung cấp những kiến thức pháp lý và các kỹ năng chuyên sâu về pháp luật dưới nhiều góc độ

Thứ nhất, môn Luật cạnh tranh cung cấp cho người học các kiến thức cơ

bản về cạnh tranh, như: thị trường liên quan; các nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh, bao gồm: thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền và tập trung kinh tế; các nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh, tố tụng cạnh tranh Như vậy, môn học này mới chỉ đề cập đến những kiến thức pháp luật về cạnh tranh dưới góc độ quản lý nhà nước, những kiến thức căn bản về bảo vệ cấu trúc thị trường, cách nhận diện các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh Cách xác định thị trường liên quan, nhận diện hành vi, quy trình tố tụng chỉ được mô tả về lý thuyết thông qua một vài ví dụ thực tiễn Tuy nhiên, để người học hiểu sâu sắc về thực tiễn xác định thị trường liên quan, kĩ năng điều tra, kĩ năng lấy lời khai, kỹ năng nộp hồ sơ xin hưởng miễn trừ thì chưa đủ Hay nói cách khác, các kĩ năng chưa được phân tích, giảng dạy một cách toàn diện và đầy đủ trong môn học Luật cạnh tranh

Thứ hai, môn học “Kỹ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh” đang được

giảng dạy cho sinh viên năm ba hoặc năm cuối của mã ngành Luật kinh tế, đem tới những kiến thức về kĩ năng cho sinh viên Sinh viên được làm rõ những vấn đề, như: cách thức viết đơn khiếu nại gửi Cục Quản lý cạnh tranh; được tham gia các tình huống giả định như lấy lời khai, tìm vật chứng, chứng

cứ hoá tình tiết trong các án lệ của Việt Nam và nước ngoài; các phiên điều trần mô phỏng, các đoạn băng ghi hình phiên điều trần… Môn học này cụ thể

và đi sâu vào các kỹ năng, điều đó tạo ra sự năng động cho sinh viên trong quá trình học Hơn nữa, những kỹ năng học được trong môn học này cũng giúp ích các em sinh viên nhiều trong thực tế đi làm sau này

Thứ ba, trong điều kiện kinh tế thị trường trong hệ thống pháp luật kinh

tế, luật cạnh tranh có vai trò đặc biệt quan trọng tạo cơ sở pháp lý cho Nhà nước quản lý và định hướng hoạt động của thị trường Hệ thống các quy định pháp luật này luôn luôn được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nhằm đáp ứng

Trang 12

8

đòi hỏi của thực tiễn Để hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường, Nhà nước phải xây dựng và quản lý tốt các thị trường kinh doanh mang tính riêng biệt, bao gồm: thị trường vốn, thị trường đầu tư nước ngoài, thị trường nhập khẩu nguyên liệu thô, thị trường kinh doanh ngân hàng… Các mảng pháp luật điều chỉnh trực tiếp của từng loại thị trường này được ra đời, như: Luật các tổ chức tín dụng, Luật ngân hàng, Luật chứng khoán, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật cạnh tranh… trong đó, Luật cạnh tranh được coi là “bản hiến pháp của nền kinh tế thị trường” Khi tìm hiểu rõ về nền kinh tế thị trường, Luật cạnh tranh luôn được kết nối với các đạo luật khác, như: Luật thương mại, Luật doanh nghiệp… Môn học kỹ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh cũng tạo ra sự kết nối giữa kĩ năng sử dụng luật cạnh tranh và các đạo luật khác Ví dụ : Khi giảng dạy kĩ năng điều tra vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của 19 doanh nghiệp bảo hiểm, giảng viên phải đưa ra các cơ sở pháp lý và kết nối giữa luật cạnh tranh và luật kinh doanh bảo hiểm khi đưa ra lập luận về thị trường sản phẩm liên quan, về khả năng thay thế sản phẩm và điều kiện pháp lý đặc thù trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm1

Việc đưa môn học “Kỹ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh” để giảng dạy cho sinh viên của mã ngành luật kinh tế nhằm đáp ứng mục tiêu và nguyên lý đào tạo là “gắn lý luận với thực tiễn”, giảng dạy những nội dung khiến thức,

mà xã hội đang đòi hỏi Vì vậy, đây cũng là thời điểm chín muồi để đưa nội dung của môn học “Kỹ năng xử lí các vụ việc hạn chế cạnh tranh” vào giảng dạy ở tất cả các hệ đào tạo trong trường Đại học Luật Hà Nội

Thứ tư, pháp luật cạnh tranh là một lĩnh vực thu hút được sự quan tâm

các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh trong và ngoài nước bởi các doanh nghiệp luôn muốn có môi trường kinh doanh bình đẳng, công bằng Hiểu được các kỹ năng trong xử lí các vụ việc cạnh tranh đồng nghĩa với việc

có khả năng hiểu các cách tư vấn hoặc khi có những hành vi phản cạnh tranh

1 Xem chi tiết vụ việc thoả thuận hạn chế cạnh tranh giữa 19 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tại website của Hội đồng cạnh tranh : http://www.hoidongcanhtranh.gov.vn/default.aspx?page=news&do=detail&id=99

Trang 13

về kĩ năng xử lí các vụ việc cạnh tranh là rất cần thiết Điều này sẽ giúp các

em sau khi ra trường có điều kiện tham gia tích cực vào các hoạt động tuyên truyền, tư vấn, trợ giúp pháp lý và giải quyết các vụ việc vi phạm luật cạnh tranh

Thứ năm, giáo dục và đào tạo trong điều kiện hội nhập toàn cầu hoá về

kinh tế không thể “đóng khung” trong mối quan hệ giữa các cơ sở đào tạo luật trong phạm vi quốc gia mà phải mở rộng quan hệ hợp tác với các trường đại học luật danh tiếng hàng đầu trên thế giới Điều này lại càng là yêu cầu cần thiết đối với Việt Nam – một quốc gia đang phát triển có trình độ giáo dục đại học nói chung và giáo dục, đào tạo luật học nói riêng ở trình độ chưa phát triển; bởi lẽ, chỉ có thông qua việc mở rộng mối quan hệ hợp tác với các trường đào tạo luật hàng đầu của thế giới, trường Đại học Luật Hà Nội mới có

cơ hội để giao lưu học tập kinh nghiệm và tiếp cận với những phương thức giảng dạy, đào tạo mới về luật học Trên cơ sở đó, nhà trường mới có điều kiện đổi mới nội dung và cải tiến phương pháp giảng dạy, đào tạo nhằm cung cấp cho đất nước một đội ngũ các chuyên gia pháp lý có đủ năng lực đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng đất nước trong điều kiện hội nhập quốc tế Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình mở rộng mối quan hệ, hợp tác đào tạo luật học với các trường đại học tiên tiến trên thế giới thì nội dung, chương trình đào tạo của trường Đại học Luật Hà Nội cần phải từng bước được đổi mới bằng việc xây dựng và đưa vào chương trình giảng dạy các môn chuyên ngành, như: các môn kĩ năng trong các lĩnh thương mại, lao động, môi trường… trong đó có môn kĩ năng xử lí các vụ việc cạnh tranh

Trang 14

10

Thứ sáu, hiện nay trường Đại học Luật Hà Nội là trường trọng điểm về

đào tạo cán bộ về pháp luật theo quyết định 549/QĐ-TTg ngày 4 tháng 4 năm

20132 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Để trường Đại học Luật Hà Nội trở thành trường trọng điểm về đào tạo cán bộ pháp luật thì một trong những giải pháp cơ bản là đổi mới nội dung chương trình giảng dạy, cải tiến phương pháp giảng dạy; xây dựng thêm nhiều môn học mới, nhiều chuyên ngành mới trong đó có môn kĩ năng xử lí các vụ việc cạnh tranh Chỉ như vậy, nội dung đào tạo nhà trường mới cập nhật với thực tiễn và đáp ứng sự kì vọng của xã hội

2.1.2 Tính cấp thiết về mặt thực tiễn của việc nghiên cứu hoàn thiện nội dung giảng dạy môn học “kỹ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh”

Thứ nhất, hiện nay nước ta đã có nhiều cơ sở đào tạo luật học lớn, bao

gồm : Trường Đại học Luật Hà Nội, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật trực thuộc Đại học Huế Ngoài ra còn có các cơ sở đào tạo luật khác như Khoa Luật – Đại học Cần Thơ, khoa Luật – Đại học Đà Lạt, Khoa Luật – Viện Đại học Mở

Hà Nội … Qua khảo sát nội dung, chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo luật lớn ở nước ta chưa có môn học kỹ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh trong

cả chuyên ngành Luật Kinh tế và chuyên ngành Luật học nói chung (ngoại trừ ngành Luật Kinh tế - Trường Đại học Luật Hà Nội) Nội dung chương trình giảng dạy chuyên ngành Luật Kinh tế hiện nay ở nhiều cơ sở đào tạo luật lớn (ngoại trừ đại học Luật Hà Nội), chủ yếu vẫn là những môn học truyền thống được xây dựng, như: Luật thương mại, Luật Lao Động, Luật tài chính, Luật môi trường … Những môn học luật mới, như: Luật cạnh tranh, Luật kinh doanh bảo hiểm mới được cập nhật với nền kinh tế thị trường Những môn học

kĩ năng về luật thì thường chỉ có những môn học kỹ năng truyền thống, như:

kỹ năng hành nghề luật, kỹ năng xây dựng hợp đồng, kỹ năng tư vấn Môn học

2 quyết định 549/qđ-ttg ngày 4 tháng 4 năm 2013 phê duyệt đề án tổng thể “xây dựng trường đại học luật hà nội và trường đại học luật thành phố hồ chí minh thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật”

Trang 15

11

“kỹ năng xử lí các vụ việc cạnh tranh” mới chỉ có Trung tâm Pháp luật cạnh tranh, nay là Bộ môn Luật Cạnh tranh và Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng - Khoa Pháp Luật Kinh tế - Trường Đại học Luật Hà Nội đảm nhiệm giảng dạy Tuy nhiên, môn học “Kỹ năng xử lí các vụ việc hạn chế cạnh tranh” cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện nội dung để bổ sung nâng cao chất lượng và đồng bộ kiến thức khoa học

Thứ hai, số lượng các vụ việc hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không

lành mạnh trên thực tế ngày càng gia tăng Theo số liệu do Cục Quản lí Cạnh tranh tổng hợp, trong 10 năm qua, trung bình mỗi năm Cục Quản lí Cạnh tranh thực hiện điều tra tiền tố tụng từ 10 đến 12 vụ việc liên quan đến các hành vi hạn chế cạnh tranh Đồng thời, thông qua quá trình điều tra, xử lý 08 vụ việc hạn chế cạnh tranh, với gần 70 doanh nghiệp bị điều tra, các cơ quan cạnh tranh đã ra quyết định xử lý; tiếp nhận hơn 300 khiếu nại về cạnh tranh không lành mạnh, tiến hành điều tra tổng số 158 vụ và ra quyết định xử phạt trong

150 vụ đã điều tra3

Như vậy, số lượng vụ việc về cạnh tranh cần được tư vấn và xử lí là nhu cầu đặt ra của xã hội Việc giảng dạy môn học kỹ năng xử lí vụ việc cạnh tranh là đáp ứng đòi hỏi tư vấn về lĩnh vực cạnh tranh

Thứ ba, kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh, chống các hành vi

cạnh tranh không lành mạnh và đảm bảo thị trường cạnh tranh lành mạnh là đòi hỏi cấp bách trong việc hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế ở nước ta hiện nay Để thực hiện đòi hỏi này, một trong những giải pháp là phải đào tạo được một đội ngũ chuyên gia tư vấn pháp lý có đủ kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ

về pháp luật cạnh tranh nói chung và kĩ năng xử lí các vụ việc cạnh tranh nói riêng Hơn nữa, hiện nay nhiều doanh nghiệp đang rất thiếu những luật sư, chuyên gia pháp lý giỏi về pháp luật cạnh tranh Trong rất nhiều trường hợp khi phải đối mặt giải quyết các khó khăn trong các vụ kiện về cạnh tranh, các

vụ việc về tập trung kinh tế, các thủ tục xin hưởng miễn trừ … chủ doanh

3

Số liệu được báo cáo trong Hội thảo đánh giá tình hình thực thi Luật cạnh tranh Việt Nam tháng 11/2016

Trang 16

12

nghiệp không có được sự tư vấn, trợ giúp từ các chuyên gia pháp lý tinh thông

về vấn đề này Cụ thể, vào tháng 5/2008 nhằm tránh tình trạng các doanh nghiệp thi nhau phá giá, hiệp hội thép Việt Nam đã thống nhất với các doanh nghiệp trong cuộc họp là ngừng giảm giá, giữ giá ở mức 13,5 triệu đồng/tấn đến 14 triệu đồng/tấn Đây được xem là hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, nhưng VSA lại thực hiện thoả thuận ấn định giá này một cách công khai

do thiếu hiểu biết và thiếu sự tư vấn về kiến thức luật cạnh tranh.4

Thứ tư, qua trao đổi, tiếp xúc với những cựu sinh viên của trường Đại

học Luật Hà Nội đang công tác tại công ty luật, văn phòng luật sư, văn phòng

tư vấn pháp luật… cho thấy khá nhiều các vụ việc cần tư vấn đề về cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh Để giải quyết nhanh chóng, có hiệu quả các tranh chấp này, họ phải sử dụng chủ yếu kiến thức pháp luật về cạnh tranh Tuy nhiên, mảng kiến thức pháp luật về lĩnh vực này chưa được trang bị một cách chuyên sâu trong thời gian học tập tại trường đại học, vì vậy những luật sư này thiếu các kĩ năng tư vấn chuyên sâu trong các vụ việc cạnh tranh,

họ phải tra cứu, tự nghiên cứu, tìm hiểu rất vất vả và tốn kém nhiều thời gian

Do đó phải hoàn thiện chuyên sâu nội dung về kỹ năng xử lí các vụ việc cạnh tranh và đưa giảng dạy môn học này vào nội dung chương trình giảng dạy của trường Đại học Luật Hà Nội để trang bị những kiến thức, kĩ năng pháp luật cần thiết cho việc hành nghề luật của sinh viên trong tương lai

Thứ năm, không phải bất cứ kĩ năng về xử lí các vi phạm pháp luật

trong một đạo luật nào cũng được đưa vào giảng dạy thành một môn học trong các cơ sở đào tạo luật Việc xây dựng một môn học để giảng dạy cho sinh viên phải xuất phát từ vị trí, vai trò của lĩnh vực pháp luật đó đối với sự phát triển của xã hội, tính cấp thiết, nhu cầu của thực tiễn cũng như nguyên lý, phương châm, mục tiêu giáo dục … Tiếp cận theo khía cạnh nhận thức này thì việc nghiên cứu, hoàn thiện nội dung môn học kỹ năng xử lí các vụ việc cạnh tranh

là rất cần thiết, vì pháp luật cạnh tranh nói chung và kỹ năng xử lí các vụ việc

4

Cục quản lý cạnh tranh điều tra việc giữ giá thép – Thời báo Kinh tế Sài Gòn , 16/10/2008

Trang 17

13

cạnh tranh nói riêng là một vấn đề được xã hội quan tâm, cạnh tranh bình đẳng

sẽ tạo ra động lực để phát triển, là một cấu thành không thể thiếu của nền kinh

tế thị trường

Việc nghiên cứu, hoàn thiện môn học “Kỹ năng xử lí các vụ việc cạnh tranh” cũng góp phần cho việc nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống pháp luật về cạnh tranh Mặt khác, số lượng tranh chấp vì chỉ dẫn gây nhầm lẫn, quảng cáo

so sánh, bất hàng đa cấp bất chính ngày càng tăng lên về số lượng, giá trị tài sản, tính chất, mức độ phức tạp Do đó, nhu cầu của xã hội đang đặt ra áp lực đối với các cơ sở đào tạo luật nói chung và trường Đại học Luật Hà Nội nói riêng phải nhanh chóng nghiên cứu hoàn thiện nội dung giảng dạy môn học

“Kỹ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh” và đưa nội dung môn học này vào chương trình giảng dạy cho sinh viên ở tất cả các hệ đào tạo

Thứ sáu, trong lĩnh vực đào tạo luật học, trường Đại học Luật Hà Nội là

cơ sở đào tạo luật học lớn nhất cả nước, có bề dày kinh nghiệm gần 40 năm và đạt được những thành tích đáng tự hào Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh với các cơ sở đạo tạo luật học khác, nhà trường cần không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng đào tạo Có như vậy, trường Đại học Luật Hà Nội mới giữ vị trí tiên phong trong hệ thống đào tạo luật học ở nước ta và từng bước khẳng định uy tín, vị trí trong hệ thống các trường đại học luật trong khu vực Chính vì vậy, việc đưa các môn học kỹ năng mới vào nghiên cứu chuyên sâu (trong đó có môn học kỹ năng xử

lí các vụ việc cạnh tranh) trong chương trình giảng dạy của trường Đại học Luật Hà Nội là một trong những hướng đi đúng đắn để đạt kì vọng này

Thứ bảy, nâng cao chất lượng đào tạo là mục tiêu “tối thượng” đối với

trường Đại học Luật Hà Nội và các cơ sở đào tạo luật khác trong cả nước Chất lượng đào tạo của các trường đại học được kiểm chứng ở năng lực, trình

độ chuyên môn, phương pháp tiếp cận, các kỹ năng và khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn nảy sinh của người học khi ra trường Một cơ sở có chất lượng đào tạo tốt là một cơ sở mà người học sau khi ra trường nhanh chóng

Trang 18

Thứ tám, để thực hiện nguyên lý giáo dục “lý luận gắn với thực tiễn”,

“nhà trường gắn với xã hội”; đồng thời giữ vững vị thế của trường Đại học Luật Hà Nội đặt trong mối quan hệ với các cơ sở đào đạo luật học khác ở Việt Nam thì việc không ngừng đổi mới nội dung, chương trình đào tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Với việc nghiên cứu hoàn thiện nội dung giảng dạy và đưa vào giảng dạy nhiều môn học mới đáp ứng đòi của của kinh tế thị trường (trong đó có môn kỹ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh) không chỉ làm tăng tính cuốn hút cho sinh viên hệ chính quy mà còn nâng cao tính hấp dẫn đối với cán bộ, công chức hiện đang công tác, làm việc ở cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp… có nhu cầu được trang bị một cách có hệ thống kiến thức pháp luật để nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc Đây cũng là điều chúng ta đáng lưu tâm trong bối cảnh lĩnh vực đào tạo luật học đang có sự cạnh tranh gay gắt về thị phần giữa các cơ sở đào tạo

2.2 Tổng quan nội dung môn học “Kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh”

2.2.1 Khái quát về kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh

2.2.1.1 Khái niệm kĩ năng xử lý vụ việc cạnh tranh

Kỹ năng là khái niệm học thuật bắt nguồn từ các nước phát triển, từng bước du nhập vào Việt Nam sau thời kỳ đổi mới, được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực, ví dụ : kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng mềm, kỹ năng thuyết trình và sau này ngày mở rộng trong nhiều lĩnh vực

Kỹ năng là khái niệm học thuật bắt nguồn từ các nước phát triển, từng bước du nhập vào Việt Nam sau thời kỳ đổi mới, được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực, ví dụ : kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng mềm, kỹ năng thuyết trình và sau này ngày mở rộng trong nhiều lĩnh vực

Trang 19

15

Kỹ năng thường được chia làm hai dạng : Kỹ năng chung và kỹ năng cụ thể trong từng lĩnh vực Kỹ năng chung có thể bao gồm kỹ năng quản lý thời gian, làm việc nhóm, lãnh đạo, tạo động lực cho bản thân và người khác Kỹ năng cụ thể có tác dụng với chỉ một công việc nhất định 5Như vậy, hiểu một cách chung nhất, kỹ năng là khả năng vận dụng các kiến thức chuyên môn, phương pháp làm việc, nghệ thuật ứng xử của mỗi cá nhân để thực hiện một công việc nhất định Kỹ năng được hình thành từ hai “nguồn” chính từ quá trình tích luỹ kinh nghiệm làm việc của mỗi cá nhân và từ quá trình đào tạo kiến thức về kỹ năng trong các lĩnh vực khác nhau

Theo từ điển Oxford6, kỹ năng là khả năng vận dụng để làm tốt một công việc nào đó thường có được qua đào tạo hoặc kinh nghiệm (the ability to do something well, usually gained through trainning or experience)

Pháp luật kiểm soát hành vi cạnh tranh quy định việc kiểm soát các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, tập trung kinh tế và chống cạnh tranh không lành mạnh Pháp luật xử lý hành vi cạnh tranh hướng tới những hành vi cạnh tranh có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh Như đã nói ở trên, không phải hành vi cạnh tranh nào cũng trái pháp luật, cho nên chỉ những hành vi cạnh tranh có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh (hành vi bị cấm thực hiện, không được miễn trừ, gây thiệt hại nghiêm trọng tới môi trường kinh doanh, mất cân bằng cạnh tranh trên thị trường) mới là đối tượng điều chỉnh của chế định xử lý hành vi cạnh tranh Nội dung của chế định xử lý hành vi cạnh tranh bao gồm những quy định về điều tra hành vi vi phạm, ra quyết định xử lý đối với hành vi vi phạm và cả việc xem xét cho hưởng miễn trừ đối với các hành vi vi phạm Do đó, kỹ năng

xử lý vụ việc cạnh tranh là lĩnh vực chuyên môn của cơ quan cạnh tranh, thuộc

về nghiệp vụ chuyên môn của các chuyên viên cơ quan theo “nghĩa hẹp”, theo

5 Lược dịch từ http://en.wikipedia.org/wiki/skill

6 Từ điển oxford, website : http://www.oxforddictionaries.com/definition/english/skill

Trang 20

16

“nghĩa rộng” đây là môn kĩ năng dành cho nhiều đối tượng như doanh nghiệp, thẩm phán, luật sư, công chức, viên chức

2.2.1.2 Đặc điểm của kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh

- Kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh được hiểu theo “nghĩa hẹp”là kĩ năng

chuyên môn của cơ quan xử lí các vụ việc cạnh tranh Tuy nhiên, theo “nghĩa rộng”, đây là kĩ năng phù hợp với nhiều đối tượng như doanh nghiệp, luật sư, thẩm phán, người tư vấn luật

Theo quy định của pháp luật hiện hành, cơ quan cạnh tranh Viêt Nam bao gồm cơ quan quản lý cạnh tranh tức Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh Vụ việc cạnh tranh thì được phân thành hai loại đó là vụ việc liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh và vụ việc về cạnh tranh không lành mạnh Nếu như đối với xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh, chỉ cần sự tham gia của Cục quản lý cạnh tranh thì việc xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh đòi hỏi sự phối hợp của cả hai cơ quan là Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh

Xử lý vụ việc cạnh tranh bao gồm các bước cơ bản như điều tra, ra quyết định xử lý đối với các hành vi vi phạm Trong quá trình tiến hành điều tra, đòi hỏi rất nhiều các kỹ năng mềm khác như thẩm vấn, lấy lời khai, khám xét trụ

sở Ngay cả việc lập báo cáo điều tra cũng cần tuân thủ đúng những nội dung, biểu mẫu mà pháp luật quy định Việc ra quyết định đòi hỏi cơ quan cạnh tranh phải nắm vững các quy định của Luật Cạnh tranh về chế tài xử lý, các hình thức xử phạt, trình tự thủ tục để ra quyết định… Tất cả những kỹ năng đó đều thuộc về chuyên môn nghiệp vụ của chuyên viên cơ quan cạnh tranh như các điều tra viên của Cục quản lý canh tranh, thành viên Hội đồng cạnh tranh, thư ký phiên điều trần… Vì vậy khi nghiên cứu về kỹ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh là chúng ta đang nghiên cứu dưới góc độ chuyên môn thực tiễn của các chuyên viên cơ quan cạnh tranh Điều này đòi hỏi các nhà nghiên cứu vừa phải kết hợp kiến thức về mặt pháp luật cũng như kiến thức thực tiễn được đúc rút qua các vụ việc thực tế mà cơ quan cạnh tranh đã điều tra và xử lý

Trang 21

17

- Kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh gắn với các vụ việc cạnh tranh cụ thể

Mặc dù thực tiễn áp dụng pháp luật cạnh tranh Việt Nam trong hơn mười năm qua vẫn còn nhiều hạn chế, nhưng việc áp dụng pháp luật luôn đòi hỏi phải có tính thực tế Kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh cũng cần được tổng hợp

từ những kinh nghiệm xử lý các vụ việc cạnh tranh trên thực tế Những vụ việc này được đặt trong bối cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội của Việt Nam, phản ánh được những yếu tố khách quan và chủ quan tác động tới thực trạng thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam

Ngoài ra, tính cụ thể cũng là một trong những yếu tố cần được đề cao trong kỹ năng xử lý các vụ việc hạn chế cạnh tranh Bởi mỗi vụ việc cạnh tranh sẽ có những đặc điểm riêng, cách thức tiếp cận riêng từ phía cơ quan cạnh tranh Do đó khi đi phân tích và nghiên cứu các kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh, chúng ta cần gắn kỹ năng đó với các vụ việc thực tiễn cụ thể Với mỗi vụ việc cạnh tranh cụ thể sẽ đưa ra những kinh nghiệm mang tính đúc rút riêng biệt, nhằm đánh giá vụ việc cạnh tranh trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định

- Kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh có tính mềm dẻo và linh hoạt

Một trong những đặc điểm quan trọng của pháp luật cạnh tranh là tính mềm dẻo và linh hoạt Điều này thể hiện ở chỗ pháp luật cạnh tranh thường đặt ra các điều khoản mở và những quy định miễn trừ cho phép cơ quan thi hành luật cạnh tranh có thể áp dụng pháp luật một cách linh hoạt Bởi cạnh tranh chính là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên thương trường nên rất đa dạng, phong phú Có những hành vi ở thời điểm này được xác định là gây ảnh hưởng xấu tới môi trường cạnh tranh lành mạnh nhưng ở một thời điểm, hoàn cảnh khác thì hành vi đó lại không xâm hại đến lợi ích công và không đáng bị ngăn cản7

Chính vì vậy kỹ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh cũng đòi hỏi tính mềm dẻo và linh hoạt Việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn luôn đòi hỏi tính mềm

7 Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật cạnh tranh, NXB CAND năm 2011, Tr37

Trang 22

18

dẻo linh hoạt và cụ thể (tức tùy thuộc vào thực tế), tuy nhiên đối với việc áp dụng pháp luật cạnh tranh đặc điểm này lại càng được đề cao Cụ thể, cùng một dạng hành vi phản cạnh tranh, tuy nhiên cơ quan cạnh tranh có thể có cách thức tiếp cận khác nhau Việc xem xét tác động, ảnh hưởng của hành vi tới thị trường phụ thuộc rất nhiều vào đánh giá mang tính chủ quan của chuyên viên cơ quan cạnh tranh Ngay cả việc xác định sức mạnh thị trường của doanh nghiệp, cũng không thể yêu cầu một số liệu cơ học mang tính chính xác tuyệt đối Do đó cơ quan cạnh tranh nói chung cũng như chuyên viên của

cơ quan này nói riêng cần có kiến thức chuyên môn sâu rộng, am hiểu thị trường để đưa ra đánh giá mang tính mềm dẻo linh hoạt nhưng lại có độ tin cậy cao

2.2.2 Khái quát về môn học kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh

Môn học kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh nằm trong nhóm môn học kỹ năng chuyên môn Tuy nhiên, khác với các môn học kỹ năng tư vấn chuyên môn, phạm vi áp dụng của môn học này có tính chuyên biệt hơn Các môn kỹ năng tư vấn chuyên môn, thường cung cấp cho sinh viên những kỹ năng nói chung về các bước tư vấn, áp dụng pháp luật và thường nghiêng về kỹ năng của các nhà tư vấn Môn học kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh lại cung cấp cho sinh viên kỹ năng để trở thành các “chuyên viên tương lai” của cơ quan cạnh tranh Việt Nam Tuy nhiên, cũng có thể thấy rằng thông qua việc nghiên cứu môn học kĩ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh, người học sẽ nắm vững hơn về trình tự thủ tục giải quyết một vụ việc cạnh tranh, từ đó có thể đưa ra những tư vấn pháp lý phù hợp nếu có yêu cầu Cụ thể, trong nội dung môn học

kỹ năng sẽ cung cấp cho người học cách thức thụ lý hồ sơ vụ việc cạnh tranh

Ví dụ như nội dung đơn khiếu nại cần đảm bảo những yêu cầu nào, cách thức gửi đơn, thời điểm hồ sơ được thụ lý … Những kiến thức kỹ năng này rất cần thiết trong tư vấn đối với doanh nghiệp khi tham gia tố tụng cạnh tranh Và để đạt được hiệu quả như mong muốn, môn học kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh cần đặt ra những yêu cầu và nội dung cụ thể như sau:

Trang 23

19

2.2.2.1 Yêu cầu nội dung của môn học kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh

- Môn học cần cung cấp những hiểu biết toàn diện về hoạt động xử lý vụ việc cạnh tranh

Mặc dù để được học môn kỹ năng, hầu hết sinh viên đều phải học qua môn

tiên quyết là luật cạnh tranh Môn Luật cạnh tranh đã cung cấp đầy đủ cho các

em những kiến thức pháp lý về hành vi cạnh tranh, tố tụng cạnh tranh và xử lý

vi phạm Tuy nhiên ở môn học kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh, yêu cầu kiến thức về hoạt động xử lý vụ việc cạnh tranh cần được đẩy mạnh hơn nữa, theo hướng các bạn sinh viên cần phải có những hiểu biết toàn diện và sâu sắc về hoạt động này Cụ thể những quy định pháp luật về trình tự thủ tục xử lý vụ việc cạnh tranh, quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm cũng như chế tài xử lý các hành vi này, điều kiện để các hành vi bị cấm có thể được hưởng miễn trừ… Vì vậy trong nội dung các chuyên đề, các tác giả luôn cố gắng khái quát lại các quy định pháp luật và đặc biệt nhấn mạnh ở các nội dung liên

quan đến trình tự xử lý các vụ việc cạnh tranh

- Môn học đưa ra được các nguyên tắc trong quá trình điều tra xử lý các vụ việc cạnh tranh

Như đã trình bày ở phần đặc điểm, kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh đòi hỏi

sự mềm dẻo và linh hoạt Chính vì vậy, việc đề ra những nguyên tắc cơ bản trong quá trình điều tra xử lý vụ việc cạnh tranh hết sức quan trọng Tránh việc áp dụng pháp luật một cách mềm dẻo, linh hoạt quá mức, dẫn đến áp dụng sai cơ bản những quy định chung mà pháp luật đề ra Ví dụ, về thời hạn điều tra vụ việc cạnh tranh, cơ quan cạnh tranh có thể tiến hành gia hạn nhiều lần để kéo dài khoảng thời gian điều tra vụ việc Việc kéo dài thời hạn điều tra

là để làm sáng tỏ thêm những tình tiết, chứng cứ của vụ việc cạnh tranh mà cơ quan cạnh tranh đang tiến hành điều tra Tuy nhiên cơ quan cạnh tranh cũng không thể kéo dài thời hạn này một cách tùy tiện, mà cần phải có đề xuất xin kéo dài thời hạn điều tra, căn cứ xin đề xuất, quan trọng hơn là phải đảm bảo được đúng thời hạn điều tra tối đa đối với loại vụ việc cạnh tranh mà pháp luật

Trang 24

Kỹ năng “mềm” này sẽ không được quy định trong các văn bản pháp luật,

mà đòi hỏi người áp dụng phải trải qua thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm Cụ thể, luật chỉ quy định về các bước điều tra, thời hạn điều tra, cách thức điều tra như thu thập chứng cứ, lấy lời khai, lập báo cáo điều tra… Tuy nhiên làm thế nào

để thu thập chứng cứ một cách hợp pháp, việc khám xét trụ sở nên được tiến hành vào khi nào, theo trình tự nào, việc đánh giá độ tin cậy của chứng cứ trên thực tế ra sao, hay việc lập bảng hỏi trước lúc lấy lời khai cần đảm bảo những yếu tố nào…là những kỹ năng mềm không được quy định trong luật Do đó những nội dung này cần được lồng ghép trong các chuyên đề của môn học kỹ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh

- Môn học cần đưa ra được các vụ việc thực tế gắn với quy định của pháp luật thực định từ đó rút ra các nhận xét và bài học kinh nghiệm

Quá trình phân tích, tìm hiểu các nội dung của vụ việc cạnh tranh cụ thể, sẽ mang lại những bài học kinh nghiệm sâu sắc trong xử lý vụ việc cạnh tranh

Vì vậy trong nội dung các chuyên đề môn học kỹ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh, các tác giả cần phân tích được các vụ việc cạnh tranh trên thực tế từ đó khái quát thành những kỹ năng cần thiết trong quá trình điều tra xử lý vụ việc cạnh tranh Cũng cần lưu ý rằng việc phân tích các vụ việc cạnh tranh trên thực tế cần gắn với các quy định pháp luật thực định, nhằm thể hiện việc áp dụng pháp luật của cơ quan cạnh tranh

- Môn học cần đưa ra các quy định pháp luật mang tính thực tiễn, các tài liệu cụ thể, trực tiếp trong quá trình áp dụng pháp luật

Một trong những yêu cầu cơ bản của môn học kỹ năng, đó là người học cần

Trang 25

21

áp dụng được kiến thức pháp luật trên thực tiễn để làm việc Vì vậy những quy định pháp luật về trình tự thủ tục xử lý vụ việc cạnh tranh rất quan trọng Ngoài những quy định pháp luật mang tính thực tiễn đó, những nội dung pháp luật cần được thể hiện cụ thể trong các văn bản, biểu mẫu mà cơ quan cạnh tranh áp dụng Do đó trong môn học kỹ năng, việc đưa ra giới thiệu các tài liệu cụ thể, những biểu mẫu hay các quyết định cụ thể, cũng như hướng dẫn cách ghi biểu mẫu, cách soạn thảo quyết định, xác lập hồ sơ, đánh giá các tài liệu chứng cứ cụ thể… rất quan trọng Những nội dung này cần được đưa vào từng chuyên đề với những nội dung cụ thể liên quan đến quá trình điều tra, xử

Thứ nhất, căn cứ theo trình tự thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, có thể

sắp xếp nội dung môn học kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh như sau:

- Kỹ năng thụ lý hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh

- Kỹ năng điều tra vụ việc cạnh tranh

- Kỹ năng ra quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh

- Kỹ năng thẩm định hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ đối với vụ việc hạn chế cạnh tranh bị cấm

- Kỹ năng giải quyết khiếu nại đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh

Cách thức phân loại này, được áp dụng trong việc xây dựng đề cương môn học Kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh Ưu điểm của cách phân loại này đó là

đi theo trình tự thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh từ lúc bắt đầu cho tới khi kết thúc, giúp người học dễ dàng nắm bắt được quá trình xử lý vụ việc cạnh

Trang 26

22

tranh Ngoài ra việc sắp xếp các nội dung theo trình tự thống nhất này, khiến các nội dung môn học được bố cục theo một chỉnh thể thống nhất, không bị trùng lắp Tuy nhiên, điểm hạn chế trong cách bố cục này đó là không làm rõ được sự khác biệt trong quá trình điều tra, xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh và

vụ việc cạnh tranh không lành mạnh

Thứ hai, căn cứ theo từng loại vụ việc cạnh tranh, có thể phân thành:

- Kỹ năng điều tra, xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh

Trong kỹ năng điều tra xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh sẽ bao gồm các nhóm kỹ năng như sau:

+ Kỹ năng thụ lý, điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh

+ Kỹ năng xử lý các vụ việc hạn chế cạnh tranh

+ Kỹ năng thẩm tra hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm

- Kỹ năng điều tra, xử lý các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh

Cách thức phân loại này khắc phục được hạn chế trong cách phân loại thứ nhất, đó là làm rõ được sự khác biệt trong quá trình điều tra xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh và vụ việc hạn chế cạnh tranh Tuy nhiên cũng như đã phân tích ở trên, cách thức phân loại này có thể dẫn tới sự trùng lặp trong một

số nội dung Cụ thể về kỹ năng điều tra vụ việc cạnh tranh, mặc du có những

sự khác biệt cơ bản, song nói đến kỹ năng điều tra, chúng ta đều phải tập trung phân tích các yếu tố cơ bản như việc thu thập chứng cứ, sắp xếp, đánh giá và phân loại chứng cứ Cách thức thu thập chứng chứ như khám xét trụ sở, lập bảng hỏi, lấy lời khai hay tìm hiểu các số liệu chuyên ngành có liên quan Những kỹ năng này được coi là kỹ năng cơ bản trong điều tra vụ việc cạnh tranh nói chung bao gồm cả hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh

Có thể thấy cả hai cách thức phân loại hay sắp xếp nội dung môn học kỹ năng xử lý vụ việc cạnh tranh đều có những thế mạnh và những hạn chế riêng Tuy nhiên trong đề tài nghiên cứu này, tập thể tác giả lựa chọn cách thức phân

Trang 27

23

loại thứ hai để làm bố cục sắp xếp các chuyên đề Mong muốn của các tác giả,

là nhằm làm nổi bật kỹ năng xử lý các loại vụ việc cạnh tranh khác nhau Việc

bố cục như vậy, cũng giúp các tác giả tập trung phân tích các vụ việc cạnh tranh cụ thể trên thực tế, đồng thời đưa ra được những tài liệu, biểu mẫu áp dụng pháp luật có liên quan

Trước đây, khi mới lần đầu giảng dạy môn học Kỹ năng xử lý các vụ việc cạnh tranh cho Khóa 37 mã nghành Luật kinh tế vào năm học 2015 -2016, bộ môn đã cấu trúc Đề cương môn học theo cách phân loại thức nhất Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy, các giảng viên cũng đã nhận thấy được những hạn chế của cách phân loại này Việc bố trí thời gian giảng dạy các vấn đề theo cách phần loại này cũng gặp nhiều vướng mắc Vì vậy đề tài này được xem là một trong những bước quan trọng, trong việc đổi mới và hoàn thiện nội dung giảng dạy môn học kỹ năng xử lý các vụ việc hạn chế cạnh tranh

2.3 Hoàn thiện những nội dung cơ bản của môn học kĩ năng xử lý các

vụ việc cạnh tranh

2.3.1 Hoàn thiện nội dung kỹ năng thụ lý và điều tra các vụ việc hạn

chế cạnh tranh

2.3.1.1 Kỹ năng tiếp nhận hồ sơ đề tiến hành điều tra

(i) Nơi tiếp nhận và cách thức gửi đơn khiếu nại

Văn phòng Cục quản lý cạnh tranh chính là nơi tiếp nhận hồ sơ đề nghị điều tra các vụ việc hạn chế cạnh tranh Để tiến hành điều tra các vụ việc hạn chế cạnh tranh trên hai cơ chế :

- Thứ nhất, Cục quản lý cạnh tranh tự phát hiện để điều tra các vụ việc hạn chế cạnh tranh

- Thứ hai, có đơn khiếu nại của bên bị đơn về các vụ việc hạn chế cạnh tranh

Trong cơ chế thứ hai, bên liên quan có thể cử người đại diện gửi bộ hồ

sơ đề nghị điều tra đến văn phòng Cục quản lý cạnh tranh bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua đường bưu điện Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, địa chỉ

Trang 28

24

nộp hồ sơ là văn phòng Cục quản lý cạnh tranh số 25 Ngô Quyền, Hà Nội Mặc dù Cục quản lý cạnh tranh hiện có văn phòng đại diện tại TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, nhưng các văn phòng đại diện này cũng chỉ có nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ, giấy tờ của các bên liên quan và chuyển lên Cục

Ngay sau khi Văn phòng Cục quản lý cạnh tranh nhận được hồ sơ vụ việc, cơ quan này sẽ lập tức trình lên Cục trưởng Cục quản lý cạnh tranh hoặc Cục phó phụ trách nội dung liên quan

Trong thời gian 7 ngày (không kể thứ 7, Chủ Nhật và ngày lễ), bên tiếp nhận hồ sơ ở đây là đại diện Cục quản lý Cạnh tranh phải có trách nhiệm thông báo có chấp nhận đơn khiếu nại và hồ sơ của bên nguyên đơn hay không Nếu không chấp nhận phải nêu rõ lí do Trong trường hợp hồ sơ khiếu nại vụ việc hạn chế cạnh tranh không đủ tài liệu quy định tại khoản 3 điều 58 Luật cạnh tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh thông báo cho bên khiếu nại bổ sung trong thời hạn không quá 30 ngày; trong trường hợp đặc biệt, cơ quan quản lý cạnh tranh có thể gia hạn 1 lần không quá 15 ngày theo đề nghị của bên khiếu nại

(ii) Nội dung đơn khiếu nại trong hồ sơ khiếu nại vụ việc hạn chế

 Ngày, tháng, năm làm đơn khiếu nại

 Tên, địa chỉ của bên khiếu nại

 Tên, địa chỉ của bên bị khiếu nại

 Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (nếu có)

 Những vấn đề cụ thể yêu cầu cơ quan quản lý cạnh tranh giải quyết

8

Điều 45 Nghị định 116 NĐ/CP 2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh

Trang 29

25

 Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng(nếu có)

 Chứng cứ để chứng minh đơn khiếu nại là có căn cứ và hợp pháp

 Các thông tin khác mà bên khiếu nại xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ việc cạnh tranh

 Chữ ký hoặc điểm chỉ của bên khiếu nại trong trường hợp bên khiếu nại là cá nhân; chữ ký và dấu của đại diện hợp pháp của bên khiếu nại trong trường hợp bên khiếu nại là tổ chức

Lưu ý : Các tài liệu như : chứng cứ để chứng minh đơn khiếu nại là có căn cứ và hợp pháp; các thông tin khác mà bên khiếu nại xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ việc cạnh tranh nên được lập thành phụ lục kèm theo đơn khiếu nại trong hồ sơ khiếu nại vụ việc hạn chế cạnh tranh

2.3.1.2 Kỹ năng thụ lí hồ sơ khiếu nại của vụ việc hạn chế cạnh tranh Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ khiếu nại

vụ việc cạnh tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh tiến hành kiểm tra tính đầy đủ

và hợp pháp của hồ sơ Trường hợp hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh không

có đủ các tài liệu quy định tại khoản 3 Điều 58 của Luật Cạnh tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh thông báo cho bên khiếu nại bổ sung trong thời hạn không quá 30 ngày; trong trường hợp đặc biệt, cơ quan quản lý cạnh tranh có thể gia hạn 1 lần không quá 15 ngày theo đề nghị của bên khiếu nại.9

Cơ quan quản lý cạnh tranh trả lại hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh trong các trường hợp sau đây:

- Hết thời hiệu khiếu nại theo quy định tại khoản 2 Điều 58 của Luật Cạnh tranh;

- Vụ việc không thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan quản lý cạnh tranh;

- Bên khiếu nại không sửa đổi, bổ sung hồ sơ theo yêu cầu của cơ quan quản lý cạnh tranh đúng thời hạn

9

Điều 46,47 nghị định 116 NĐ/CP 2005 hướng dẫn chi tiết thi hành Luật cạnh tranh

Trang 30

26

Bên khiếu nại có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Công thương trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh do cơ quan quản lý cạnh tranh trả lại

Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu nại, Bộ trưởng Bộ Công thương phải ra một trong các quyết định sau đây:

- Giữ nguyên việc trả lại hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh;

- Yêu cầu cơ quan quản lý cạnh tranh tiến hành thụ lý hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh

Sau khi nhận hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh đầy đủ, hợp lệ, cơ quan quản lý cạnh tranh phải thông báo ngay cho bên khiếu nại nộp tiền tạm ứng chi phí xử lý vụ việc cạnh tranh trừ trường hợp được miễn tiền tạm ứng chi phí xử lý vụ việc cạnh tranh Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan quản lý cạnh tranh, bên khiếu nại phải nộp tiền tạm ứng chi phí xử lý vụ việc cạnh tranh

Cơ quan quản lý cạnh tranh chỉ thụ lý hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh sau khi nhận đươc biên lai nộp tiền tạm ứng chi phí xử lý vụ việc cạnh tranh, trừ trường hợp bên khiếu nại được miễn nộp tiền tạm ứng chi phí xử lý vụ việc cạnh tranh

Trong thực tế giảng dậy về nhóm kĩ năng này, giáo viên cần đưa ra các

vụ việc thực tiễn tại Việt Nam để mô tả quá trình thụ lý hồ sơ Ví dụ : vụ việc

19 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là vụ việc do cơ quan quản lý cạnh tranh nhận được đơn khiếu nại hay tự phát hiện để điều tra, hoặc đưa ra câu hỏi để sinh viên tìm hiểu về vụ việc bia Lazer của Tập đoàn Tân Hiệp Phát trên cơ chế nộp hồ sơ sẽ như thế nào Điều này đòi hỏi người dạy cần phải kiến thức thực tế về các vụ việc hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Vụ việc Tân Hiệp Phát là minh chứng rõ ràng cho cơ chế nộp đơn khiếu nại và làm rõ kĩ

năng thụ lí hồ sơ của các vụ việc hạn chế cạnh tranh : “Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ Tân Hiệp Phát (Tân Hiệp Phát) là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bia mang nhãn hiệu Laser Công ty Liên doanh Nhà máy

Trang 31

27

Bia Việt Nam (VBL) là doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm bia, trong đó có bia Heineiken, Tiger VBL ký các hợp đồng với các đại lý độc quyền trong đó yêu cầu không được quảng cáo, giới thiệu, bán hàng cho các hãng bia khác Tân Hiệp Phát đã gửi đến Cục Quản lý cạnh tranh đơn khiếu nại VBL vi phạm Luật Cạnh tranh.” 10 Ở đây, người hướng dẫn học viên nên gợi mở tình huống và yêu cầu học viên tìm hiểu từ nhiều nguồn về một vụ việc thực tế Điều này tạo cho học viên hiểu về nhóm kỹ năng này, cũng như giúp học viên nâng cao khả năng tìm kiếm, tổng hợp thông tin về những vụ việc hạn chế cạnh tranh Những kĩ năng sẽ giúp học viên hiểu bài, nâng cao kĩ năng mềm trong quá trình học tập về luật pháp, tạo tiền đề cho nâng cao kĩ năng thực tế trong nghiên cứu và áp dụng pháp luật trong tương lai Giảng viên cần lưu ý khi yêu cầu học viên tìm hiểu thông tin vụ án thực tế nên gợi ý cho học viên, sinh viên tìm hiểu tại các nguồn thông tin uy tín như trang web của Cục quản lý cạnh tranh11, Hội đồng cạnh tranh ở Việt Nam12 và các website của các cơ quan quản lý cạnh tranh các nước trên thế giới ví dụ trang web của Uỷ ban thương mại lành mạnh Nhật Bản13, Uỷ ban thương mại lành mạnh Hàn Quốc14 …; ngoài ra các bài báo phân tích vụ việc hoặc các bài nghiên cứu chỉ mang tính chất tham khảo bởi đôi khi nó thể hiện tính chủ quan của người viết, điều đó có thể làm giảm góc nhìn khách quan và thông tin chính xác của vụ việc

2.3.1.3 Kỹ năng điều tra các vụ việc hạn chế cạnh tranh

(i) Quy trình điều tra điều tra các vụ việc hạn chế cạnh tranh

Đầu tiên, cơ quan điều tra phải tiến hành điều tra sơ bộ Việc điều tra sơ

bộ vụ việc cạnh tranh được tiến hành theo quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh trong những trường hợp sau : Hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh

Trang 32

cơ quan quản lý cạnh tranh ra một trong các quyết định : Đình chỉ điều tra nếu kết quả điều tra sơ bộ cho thấy không có hành vi vi phạm các hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc tiến hành điều tra chính thức nếu kết quả điều tra sơ bộ cho thấy có dấu hiệu vi phạm luật cạnh tranh

Tiếp theo, trong quá trình điều tra chính thức với các vụ việc về hạn chế cạnh thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền hoặc tập trung kinh tế, nội dung điều tra bao gồm:

- Xác minh thị trường liên quan;

- Xác minh thị phần trên thị trường liên quan của bên bị điều tra;

- Thu thập và phân tích chứng cứ về hành vi vi phạm.15

Thời hạn điều tra chính thức được giới hạn đối với vụ việc thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền hoặc tập trung kinh tế, thời hạn điều tra chính thức là một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra; trường hợp cần thiết, thời hạn này có thể được Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh gia hạn, nhưng không quá hai lần, mỗi lần không quá sáu mươi ngày; Việc gia hạn thời hạn điều tra phải được điều tra viên thông báo đến tất cả các bên liên quan trong thời hạn chậm nhất là bảy ngày làm việc trước ngày hết hạn điều tra.16

15

Điều 89 Luật Cạnh tranh

16 Điều 90 Luật Cạnh tranh

Trang 33

29

Trong điều tra chính thức, biên bản điều tra và báo cáo điều tra là 02 văn bản mang tính phổ quát và quan trọng nhất trong quá trình điều tra chính thức :

Biên bản điều tra được điều tra viên lập biên bản điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm, người tiến hành điều tra, bên bị điều tra, nội dung điều tra, khiếu nại, yêu cầu của bên bị điều tra Biên bản điều tra phải được điều tra viên đọc cho bên bị điều tra nghe trước khi cùng ký vào biên bản.Trường hợp bên bị điều tra từ chối ký biên bản thì điều tra viên phải ghi vào biên bản và nêu rõ lý do Trong quá trình giảng dậy kĩ năng về vấn đề này, có thể hướng dẫn học viên thực hành lập biên bản điều tra trên các chứng cứ thu thập được trên các vụ việc giả định

Báo cáo điều tra gồm các nội dung chủ yếu sau đây:

cơ quan nhà nước có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự thấy có căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì phải trả lại hồ sơ cho cơ quan quản lý cạnh tranh để tiếp tục điều tra theo thủ tục tố tụng cạnh tranh Thời hạn điều tra được tính từ ngày nhận lại hồ sơ

Ngoài ra, điều tra bổ sung sẽ tiến hành khi Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh yêu cầu điều tra viên phải điều tra lại bằng văn bản, thời hạn điều ra bổ sung là 60 ngày, kể từ ngày có yêu cầu điều tra bổ sung bằng văn bản của Hội

17

Điều 93 Luật cạnh tranh

Trang 34

30

đồng xử lý các vụ việc cạnh tranh Trong quá trình điều tra chính quyền địa phương, cơ quan công an, tổ chức khác có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ quá trình điều tra theo yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh

(ii) Một số kỹ năng cơ bản trong quá trình điều tra vụ việc hạn chế cạnh

tranh

 Kỹ năng xác định thị trường liên quan

Điều tra về thị trường liên quan là bước đầu tiên, quan trọng nhất và là

“trung tâm” việc điều tra các vụ việc về hạn chế cạnh tranh Bước này được đánh giá sơ bộ trong quá trình điều tra sơ bộ và được điều tra chính xác; đưa

ra kết luận trong quá trình điều tra chính thức Điều tra về xác định thị trường liên quan là nội dung quan trọng trong quá trình điều tra chính thức Một vụ việc về hạn chế cạnh tranh có thể phán quyết sai nếu ngay từ bước xác định thị trường liên quan đã không chính xác

- Xác định thị trường liên quan: Để xác định được thị trường liên quan

trong các vụ việc hạn chế cạnh tranh các điều tra viên phải tìm kiếm hai thành

tố là thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Cách xác định thị trường liên quan được quy định cụ thể trong Nghị định 116/2005/NĐ-

CP Xác định thị trường liên quan đồng nghĩa với việc là xác định ranh giới nơi diễn ra sự cạnh tranh của các nhà doanh nghiệp trong một lĩnh vực cụ thể

và trong một khu vực địa lý nhất định

+ Xác định thị trường sản phẩm liên quan : Thị trường sản phẩm liên

quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau cả về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả Đặc tính của hàng hóa, dịch vụ được xác định theo một hoặc một số căn cứ như tính chất vật lý; tính chất hóa học; tính năng kỹ thuật; tác dụng phụ đối với người sử dụng; khả năng hấp thụ Mục đích sử dụng của hàng hóa, dịch vụ được xác định căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu nhất của hàng hóa, dịch vụ đó Giá cả của hàng hóa, dịch vụ là

giá ghi trong hóa đơn bán lẻ theo quy định của pháp luật Thuộc tính "có thể

thay thế cho nhau" của hàng hóa, dịch vụ được xác định như sau: Hàng hóa,

Trang 35

31

dịch vụ được coi là có thể thay thế cho nhau về đặc tính nếu hàng hóa, dịch vụ

đó có nhiều tính chất về vật lý, hóa học, tính năng kỹ thuật, tác dụng phụ đối với người sử dụng và khả năng hấp thụ giống nhau; hàng hóa, dịch vụ được coi là có thể thay thế được cho nhau về mục đích sử dụng nếu hàng hóa, dịch

vụ đó có mục đích sử dụng giống nhau; hàng hóa, dịch vụ được coi là có thể thay thế được cho nhau về giá cả nếu trên 50% của một lượng mẫu ngẫu nhiên 1.000 người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan chuyển sang mua hoặc có ý định mua hàng hóa, dịch vụ khác có đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hóa, dịch vụ mà họ đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong trường hợp giá của hàng hóa, dịch vụ đó tăng lên quá 10% và được duy trì trong 06 tháng liên tiếp Trường hợp số người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan quy định tại điểm này không đủ 1000 người thì lượng mẫu ngẫu nhiên được xác định tối thiểu bằng 50% tổng số người tiêu dùng đó Trường hợp phương pháp xác định thuộc tính "có thể thay thế cho nhau" của hàng hóa, dịch vụ quy cho kết quả chưa đủ để kết luận thuộc tính "có thể thay thế cho nhau" của hàng hóa, dịch vụ, cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng xử

lý vụ việc cạnh tranh có quyền xem xét thêm một hoặc một số yếu tố sau đây

để xác định thuộc tính "có thể thay thế cho nhau" của hàng hóa, dịch vụ: Tỷ lệ thay đổi của cầu đối với một hàng hóa, dịch vụ khi có sự thay đổi về giá của một hàng hóa, dịch vụ khác; thời gian cung ứng hàng hóa, dịch vụ ra thị trường khi có sự gia tăng đột biến về cầu; thời gian sử dụng của hàng hóa, dịch vụ; khả năng thay thế về cung theo quy định tại Điều 6 của Nghị định này Trong trường hợp cần thiết, cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng xử lý

vụ việc cạnh tranh có thể xác định thêm nhóm người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan không thể chuyển sang mua hàng hóa, dịch vụ khác

có đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hóa, dịch vụ mà họ đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong trường hợp giá của hàng hóa, dịch vụ đó tăng lên quá 10% và được duy trì trong 06 tháng liên tiếp.18

18

Điều 4 Nghị định 116/2005/ NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh

Trang 36

32

+ Xác định thị trường địa lý liên quan : Thị trường địa lý liên quan là

một khu vực địa lý cụ thể trong đó có các hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực địa lý lân cận Ranh giới của khu vực địa lý này được xác định theo các căn cứ sau : khu vực địa lý có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp tham gia phân phối sản phẩm liên quan; cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp khác đóng trên khu vực địa lý lân cận đủ gần với khu vực địa lý quy định tại điểm a khoản này để có thể tham gia phân phối sản phẩm liên quan trên khu vực địa lý đó; chi phí vận chuyển trong khu vực địa lý; thời gian vận chuyển hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong khu vực địa lý ; rào cản gia nhập thị trường Khu vực địa lý được coi là có điều kiện cạnh tranh tương tự và khác biệt đáng

kể với các khu vực địa lý lân cận nếu thỏa mãn một trong các tiêu chí : chi phí vận chuyển và thời gian vận chuyển làm giá bán lẻ hàng hóa tăng không quá 10%; có sự hiện diện của một trong các rào cản gia nhập thị trường.19

Việc xác định thị trường liên quan chính xác là vô cùng quan trọng, bởi xác định đúng thị trường liên quan mới tính chính xác mức thị phần của doanh nghiệp trong thị trường liên quan đó Ví dụ : Đối với các vụ việc thoả thuận ấn định giá, chỉ có các doanh nghiệp được xác định cùng hoạt động trên một thị trường liên quan (thỏa thuận theo chiều ngang) có hành vi TTHCCT ấn định giá mới là đối tượng của pháp luật về kiểm soát thoả thuận ấn định giá Bởi theo quy định rằng thị phần kết hợp phải từ 30% trở lên trên thị trường liên quan trở lên của ít nhất hai doanh nghiệp mới hình thành một thoả thuận ấn định giá bị Luật cạnh tranh Việt Nam kiểm soát Như vậy, nếu xác định sai thị trường liên quan thì việc điều tra về các vụ việc thoả thuận ấn định sẽ không chính xác kết quả

Đối với các vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để ấn định giá, vai trò của việc xác định thị trường liên quan lại là yếu tố tiên quyết Đối với cách xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, thì ngoài yếu tố khả

19

Điều 7 Nghị định 116/2005/ NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh

Trang 37

33

năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể thì yếu tố thị phần trên thị trường liên quan cũng là yếu tố luôn được xét tới khi xem xét về thị trường liên quan Bởi cách xác định về doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh từ có thị phần 30% trở lên thị trường liên quan, nhóm doanh nghiệp gồm 2,3,4 doanh nghiệp

có thị phần tương ứng từ 50%, 65%, 75% trở lên, và doanh nghiệp có vị trí độc quyền là chiếm 100% thị phần Ở đây, người dậy cần nêu ra tình huống về vấn

đề kỹ năng xác định thị trường liên quan “yếu kém” sẽ dẫn tới xác định sai thị trường liên quan thì trong vụ việc hạn chế cạnh tranh có thể phải điều tra lại từ đầu, còn với vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền sẽ xác định sai luôn vị thế của doanh nghiệp đó dẫn tới những phán quyết không đúng

Khi giảng dạy kĩ năng về xác định thị trường liên quan, có thể diễn giải thông qua xác định thị trường liên quan của vụ việc thực tế Ví dụ vụ việc về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của 19 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam năm 200820

 Kỹ năng lấy lời khai

Trong quá trình điều tra chính thức, việc lấy lời khai của bên điều tra, bên bị điều tra và bên có liên quan là vô cùng quan trọng Kỹ năng lấy lời khai, chứng cứ hoá tình tiết được coi là bước có thể tìm ra các chứng cứ chứng minh đã có hành vi vi phạm rõ ràng, từ đó buộc doanh nghiệp chấp nhận mình

đã vi phạm Luật cạnh tranh

Khi tiến hành điều tra, điều tra viên phải lập biên bản điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm, người tiến hành điều tra, nội dung điều tra, khiếu nại, yêu cầu của bên bị điều tra

Thứ nhất, giảng viên cần nêu rõ mục đích của việc lập biên bản điều tra

cho học viên hiểu được rằng một số vụ việc sẽ chứng minh được hành vi vi phạm chưa đúng, chứng cứ có thể bằng biên bản lời khai Người dạy có thể đưa ra quan điểm : “Kỹ năng này trên thực tế đòi hỏi điều tra viên phải nghiên

20

Xem chi tiết vụ việc thoả thuận hạn chế cạnh tranh giữa 19 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tại website của Hội đồng cạnh tranh : http://www.hoidongcanhtranh.gov.vn/default.aspx?page=news&do=detail&id=99

Trang 38

34

cứu, nắm bắt tình tiết cấu thành hành vi vi phạm (Khớp nối vụ việc) dựa trên các chứng cứ mà bên điều tra đang có (vật chứng) và các tình tiết đang được xác minh” Trong đó, có hai thành tố quan trọng đó là phải chứng cứ hoá tình tiết và giải thích vật chứng

Chứng cứ là những gì có thật, được điều tra viên, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi vi phạm hành vi hạn chế cạnh tranh Chứng cứ được xác định từ các nguồn sau đây:

- Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện vi phạm, tiền và những vật khác có giá trị chứng minh hành vi vi phạm quy định của Luật cạnh tranh 2004;

- Lời khai của người làm chứng, giải trình của tổ chức, cá nhân liên quan;

- Tài liệu gốc, bản sao tài liệu gốc, bản dịch tài liệu gốc được công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận;

- Kết luận giám định.21

Trong quá trình giảng dạy, người dạy cần nhấn mạnh phương pháp

“chứng cứ hoá tình tiết” trong nhóm kĩ năng về điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh cho học viên để tạo sự hấp dẫn cho học viên Theo quan điểm của người viết cũng trong giảng dạy, phương pháp “chứng cứ hoá tình tiết” là ghép nối những tình tiết thu thập được thành một chuỗi sự việc logic để minh chứng trong phiên điều trần để buộc bên bị đơn nhận vi phạm hành vi vi phạm Người dạy nên lấy ví dụ thực tiễn trong điều tra vụ việc về hạn chế cạnh tranh, điều tra viên thu thập được các bản ghi nhớ, các thông tin về các cuộc họp kín, những số liệu về thị phần, những số liệu về việc chuyển tiền giữa các công ty, chủ tập đoàn A bí mật gặp chủ tập đoàn B tại du thuyền … Nghĩa là khi thu thập được tình tiết, thì đó là những tình tiết rời rạc Nhiệm vụ của điều tra viên

là ráp nối, liên kết lại để tạo ra sự xuyên suốt, logic, để nhìn thấy bản chất của

21

Điều 60 Luật cạnh tranh 2004

Trang 39

ý nghĩa của vật chứng và sự liên quan của vật chứng với những nghi ngờ của

điều tra về nghi phạm

Thứ hai, người dạy nên chia lớp học thành các nhóm nhỏ gồm 3 học viên,

trong đó 2 học viên sẽ đóng vai điều tra viên, 1 học viên sẽ đóng bên bị điều tra và hình thức là đối mặt với nhau để xét hỏi Lưu ý với học viên, cần nghiên cứu vụ án và nghiên cứu các vấn đề trong vụ việc mô phỏng:

- Lý lịch của người khai

- Khái quát những người có quan hệ liên quan, điều tra nhân thân

- Tình tiết liên quan

- Tình tiết đang nghi ngờ

- Các vấn đề khác liên quan tới vụ việc …

Thứ ba, các điểm lưu tâm giảng dạy kĩ năng lấy lời khai để đạt được hiệu

quả tốt nhất trong thực tế các điều tra viên thường làm:

- Phải có sự nhiệt tình, kiên trì để hỏi ra được sự thật

- Thái độ bình tĩnh, nghiêm túc

- Xây dựng mối quan hệ tin cậy với tổ chức, cá nhân liên quan trong vụ việc,

- Ứng phó linh hoạt, tuỳ cơ ứng biến

Để đạt được hiệu quả khi lấy lời khai, giảng viên sẽ phân tích cách hỏi sẽ làm sáng rõ một số vấn đề còn chưa điều tra được cũng như tìm ra “chìa khoá”

để giải quyết vụ việc Giảng viên nên lấy ví dụ thực tế khi các điều tra viên lấy lời khai của người làm chứng, giải trình của tổ chức, cá nhân liên quan : “ Khi hỏi thì phải luôn giữ thái độ bình tĩnh, không để bên đang bị lấy lời khai biết

Trang 40

36

được người hỏi đã nắm được chứng cứ gì, cố gắng lấy được nhiều thông tin chính xác về vụ việc Việc đặt câu hỏi thì giảng viên có thể hướng dẫn kĩ năng hỏi cho học viên dựa theo các cách hỏi dựa theo các thành tố sau:

- Câu hỏi liên quan tới ai? (Xác định chủ thể thực hiện hành vi, hoặc những chủ thể giúp sức trong vụ việc)

- Tại sao? (Để bên bị lấy lời khai nói ra nguyên nhân, động cơ, bối cảnh thực hiện hành vi đó)

- Để làm gì? (Mục đích của hành vi đó)

- Khi nào? (Thời điểm nào xảy ra hành vi đó)

- Ở đâu? (Khi muốn tìm ra các địa điểm)

- Cái gì? (Câu hỏi như vậy thì thường đẩy bên bị lấy lời khai vào sự bối rối và làm cho họ không có thời gian để họ nói dối, nếu có)

- Bằng cách thức như thế nào, trở nên như thế nào? (Nêu ra quy trình thực hiện hành vi đó trong thực tế) Đặc biệt, nên hỏi các câu hỏi Đúng hay sai? Hoặc có hay không có? (Những câu hỏi này sẽ làm cho người đang khai nhận nếu có ý định nói dối sẽ gặp khó khăn khi trả lời)22

Lưu ý, khi hỏi, tránh tình trạng để người khai nhận tự trình bày và tin tưởng hoàn toàn vào các khai nhận của bên đang bị điều tra, bởi họ đã sự tính toán trước khi gặp cơ quan điều tra

Thứ tư, giảng viên nên phân tích và ví dụ thực tế cách các điều tra viên

tiếp xúc với với người đang bị lấy lời khai:

- Lắng nghe kỹ ý kiến của người khai

- Làm cho người khai nói ra sự thật

- Câu hỏi dài để làm nhiễu thông tin để bên bị lấy lời khai tưởng rằng điều tra đã nắm rõ vụ việc

Ngày đăng: 20/10/2018, 17:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w