1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC THI QUYỀN sở hữu CÔNG NGHIỆP ở VIỆT NAM TRƢỚC NHỮNG yêu cầu hội NHẬP WTO

74 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 597,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, đặt ra đòi hỏi cụ thể về việc thay đổi các quy định của pháp luật, các quy định về các thủ tục hành chính để tạo cơ sở hình thành một cơ cấu bảo hộ có hiệu quả quyền SHCN, thực..

Trang 1

ĐẶNG THỊ HOÀI THU

THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

TRƯỚC NHỮNG YÊU CẦU HỘI NHẬP WTO

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ

MÃ SỐ: 60.38.30

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: T.S LÊ MAI ANH

HÀ NỘI NĂM 2006

Trang 2

Chương 1 6

Một số vấn đề lý luận cơ bản về thực thi quyền SHCN 6

1.1 Khái quát chung về quyền SHCN 6

1.1.1.Khái niệm quyền SHCN 6

1.1.2.Đối tượng của quyền SHCN 9

1.1.3 Nội dung của quyền SHCN 11

1.2 Cơ chế thực thi quyền SHCN 13

1.2.1 Khái niệm thực thi quyền SHCN 13

1.2.2 Nguyên tắc thực thi quyền SHCN 16

1.2.3 Các phương thức và thiết chế thực thi quyền SHCN 19

Chương 2 24

Pháp luật Việt Nam về thực thi quyền SHCN của cá nhân, pháp nhân tương thích với các quy định của WTO về SHCN 24

2.1 Thực thi quyền SHCN trong các quy định của WTO 24

2.1.1 Các nguyên tắc chung 24

2.1.2.Thực thi quyền SHCN theo thủ tục dân sự và chế tài áp dụng 27

2.1.3 Thực thi quyền SHCN theo thủ tục hành chính và chế tài áp dụng 34

2.1.4 Thực thi quyền SHCN theo thủ tục hình sự và chế tài áp dụng 35

2.1.5 Thực thi quyền SHCN theo thủ tục tại biên giới 36

2.2 Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về thực thi quyền SHCN 40

2.2.1 Thực thi quyền SHCN theo thủ tục dân sự 42

2.2.2 Thực thi quyền SHCN theo thủ tục hành chính 46

Trang 3

Chương 3 54

Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về 54

thực thi quyền SHCN đáp ứng yêu cầu hội nhập WTO 54

3.1 Thực trạng về thực thi quyền SHCN ở Việt Nam 54

3.1.1 Thực trạng thực thi quyền SHCN ở Việt Nam 54

3.1.2 Những khó khăn trong việc thực thi quyền SHCN ở Việt Nam 57

3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thực thi quyền SHCN 60

3.3 Các giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về thực thi quyền SHCN 62

3.4 Các giải pháp hoàn thiện cơ chế, cách thức thực thi quyền SHCN 65

Kết luận 67

Danh mục tài liệu tham khảo 69

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

SHCN: Sở hữu công nghiệp

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Trong xã hội phát triển, khi trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng được nâng cao thì hàm lượng sở hữu trí tuệ (SHTT) thể hiện trong giá trị sản phẩm dịch vụ ngày càng chiếm ưu thế so với các yếu tố khác như nguồn tài nguyên hay lao động SHTT có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội, là thành quả của đầu

tư và trở thành một bộ phận của hoạt động thương mại Điều đó cho thấy, việc bảo hộ SHTT theo những tiêu chuẩn tối thiểu thống nhất sẽ là một sự đảm bảo cho sự an toàn trong đầu tư đối với cả các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài

Là một trong hai bộ phận cơ bản tạo thành quyền SHTT, quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) có một vị trí rất quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội vì nó là quyền đối với các đối tượng được áp dụng vào sản xuất kinh doanh, mang lại những lợi ích vật chất cho người sở hữu Xây dựng một cơ chế bảo hộ tổng thể các đối tượng của quyền SHTT nói chung và SHCN nói riêng là yêu cầu đặt ra đối với không chỉ mỗi quốc gia mà còn là đòi hỏi mang tính toàn cầu

Hiện tại, song song với việc trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế điều chỉnh về SHTT, Việt Nam đã và đang tiếp tục hội nhập vào các tổ chức kinh tế-quốc tế khu vực và thế giới, tiến trình này đặt ra nhu cầu hoàn thiện pháp luật phù hợp với điều kiện hội nhập quốc tế, nhất là vấn đề hoàn thiện pháp luật về

Sở hữu trí tuệ (SHTT) Để hợp tác quốc tế có hiệu quả, yêu cầu đặt ra trong hoàn cảnh hiện nay là phải có một cơ chế bảo hộ quyền SHTT mạnh mẽ và tập trung hơn, tạo cơ sở tăng cường việc thực thi các quyền SHTT ở Việt Nam Một thể chế pháp luật chặt chẽ, rõ ràng và có hệ thống về SHTT sẽ góp phần thúc đẩy

Trang 6

quá trình hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu, trong đó có mục tiêu gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO

Thực thi quyền SHTT nói chung và thực thi quyền Sở hữu công nghiệp (SHCN) nói riêng là lĩnh vực mang tính thời sự Các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước quan tâm đến việc bảo hộ SHCN ngày càng đòi hỏi cơ chế bảo hộ mạnh mẽ hơn nữa quyền SHCN Thực tế, tình trạng vi phạm quyền SHCN ở Việt Nam ngày càng gia tăng cùng với các yếu kém hiện tại trong vấn đề thực thi quyền SHCN đã kìm hãm các mong muốn đổi mới và thúc đẩy sự phát triển về công nghệ Có thể thấy, hệ thống pháp luật về SHCN của chúng ta tuy tương đối đầy

đủ, nhưng việc thực thi lại gặp rất nhiều khó khăn do hệ thống thực thi nhiều nhưng không mạnh, nhiều đầu mối, thiếu tính tập trung và sự phối hợp giữa các

cơ quan chức năng còn yếu Thực tế đó cùng với nhiều lý do khác đã khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài và những người sở hữu quyền SHCN chưa sẵn lòng phát triển công việc kinh doanh của mình tại Việt Nam chừng nào việc thực thi quyền SHCN chưa được tăng cường

Hoàn thiện pháp luật về thực thi quyền SHCN ở Việt Nam là nhu cầu phát sinh

từ lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế Tăng cường tính hiệu quả của hệ thống bảo

hộ SHCN trước hết là yêu cầu nội tại của hệ thống này và hơn hết là đòi hỏi trong quan hệ kinh tế quốc tế Hơn nữa, ngay chính pháp luật về SHCN của Việt Nam đòi hỏi việc tự hoàn thiện trong giai đoạn đổi mới, xây dựng một thể chế pháp luật chặt chẽ, thống nhất và có tính khả thi cao Mặt khác, Việt Nam đã tham gia gia nhập các hiệp ước và các thoả thuận quốc tế quan trọng trong lĩnh vực SHCN và đang trong quá trình gia nhập WTO Vì vậy, đặt ra đòi hỏi cụ thể

về việc thay đổi các quy định của pháp luật, các quy định về các thủ tục hành chính để tạo cơ sở hình thành một cơ cấu bảo hộ có hiệu quả quyền SHCN, thực

Trang 7

hiện các cải cách nhất định trong cơ cấu pháp luật về SHCN nói chung và thực thi quyền SHCN nói riêng để tiến gần đến tuân thủ TRIPs trong quá trình hoàn tất việc gia nhập WTO

2.Tình hình nghiên cứu đề tài

Trên thế giới, có rất nhiều công trình khoa học dưới dạng sách, tạp chí, website cập nhật thường xuyên những thông tin liên quan đến hoạt động sở hữu công nghiệp nói chung và thực thi quyền SHCN nói riêng, như "Intellectual Property rights of the WTO and developing countries, " 1998-Kluwer Law International,

"WIPO Intellectual Property Handbook" -WIPO, Trong phạm vi quốc gia, thời gian gần đây có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này như: "Nâng cao vai trò và năng lực của Toà án trong việc thực thi quyền SHTT ở Việt Nam-Những vấn đề lý luận và thực tiễn" (1999) -công trình nghiên cứu cấp

Bộ của Viện Khoa học xét xử-Toà án Nhân dân Tối cao; "Về cơ chế thực thi pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền SHTT trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế"-đề tài nghiên cứu khoa học của trường Đại học Quốc gia Hà Nội; "Tăng cường hiệu quả thực thi quyền SHTT"-đề án khoa học do Bộ Khoa học công nghệ và Bộ văn hoá thông tin phối hợp thực hiện Ngoài ra còn có các bài viết đăng tải trên các tạp chí Nhà nước và pháp luật, tạp chí Luật học, Tin tức hoạt động SHCN,

ở phạm vi các đề tài luận văn Thạc sỹ, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực SHTT nói chung và SHCN nói riêng, song hầu hết đều ở góc độ bảo hộ quyền SHCN nói chung, hoặc bảo hộ các đối tượng cụ thể của SHCN, như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, Liên quan đến thực thi quyền SHTT có hai đề tài đáng lưu tâm là: "Vấn đề thực thi các cam kết quốc tế trong lĩnh vực bào hộ sáng chế ở Việt Nam" của tác giả Lê Thị Anh Đào-2004, "Thực

Trang 8

thi quyền SHTT theo hiệp định TRIPS/WTO trong mối tương quan so sánh với pháp luật Việt Nam" của tác giả Vũ Thị Hồng Yến-năm 2004 Tuy nhiên, chưa

có một công trình khoa học nào đi sâu vào nghiên cứu vấn đề thực thi quyền SHCN theo các quy định của pháp luật Việt Nam, từ đó so sánh, đối chiếu với các quy định của TRIPS/WTO, nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật của nước ta trong lĩnh vực này đáp ứng yêu cầu cấp bách hiện nay là gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO Chính vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu đề tài

"Thực thi quyền SHCN ở Việt Nam trước những yêu cầu hội nhập WTO"

3.Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trên cơ sở phân tích và so sánh các quy định về thực thi quyền SHCN của Việt Nam với các quy định đã mang tính nguyên tắc và khuôn mẫu của hiệp định TRIPS, tác giả đề tài mong muốn chỉ ra những điểm còn chưa phù hợp của pháp luật Việt Nam cần điều chỉnh cho tương thích với pháp luật quốc tế, đặc biệt là các quy định của TRIPS qua đó góp phần tạo ra cơ sở pháp lý giải quyết được tình trạng xâm phạm SHCN đang rất nghiêm trọng và phức tạp trong tình hình hiện nay Quyền SHTT là một khái niệm rộng, bao gồm cả quyền SHCN và quyền tác giả ở đề tài này, tác giả chỉ đề cập tới việc thực thi quyền SHCN, với mong muốn góp một tiếng nói vào việc bảo vệ quyền SHCN, giúp các chủ thể quyền là các cá nhân, pháp nhân Việt Nam có định hướng và lựa chọn các cách thức bảo vệ mình

4.Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn sử dụng phương pháp phân tích và so sánh các quy định pháp luật từ

đó bình luận các điểm phù hợp, và chưa phù hợp của pháp luật Việt Nam so với TRIPS, từ đó đưa ra phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hệ thống văn bản cũng như cơ chế, cách thức thực thi

Trang 9

5.Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài:

- Nghiên cứu tổng quát các quy định của pháp luật về quyền SHCN, các quy định của pháp luật về thực thi quyền SHCN ở Việt Nam, trên cơ sở đối chiếu với các quy định và yêu cầu về thực thi quyền SHCN của TRIPs, để hoàn thiện pháp luật về thực thi quyền SHCN ở Việt Nam, nhằm đảm bảo tối đa quyền của các chủ sở hữu quyền SHCN là các cá nhân pháp nhân trong nước, cũng như thúc đẩy tiến trình gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế

-Đưa ra các tư vấn, khuyến cáo cần thiết cho các cá nhân, tổ chức trong việc tự bảo vệ quyền SHCN của mình cũng như yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực thi quyền SHCN nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực này

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về thực thi quyền

Chương 2: Pháp luật Việt Nam về thực thi quyền SHCN của cá nhân, pháp nhân Việt Nam phù hợp với các quy định của WTO về SHCN

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về thực thi quyền SHCN đáp ứng yêu cầu hội nhập WTO

Trang 10

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC THI QUYỀN SHCN 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SHCN

1.1.1.Khái niệm quyền SHCN

Quyền Sở hữu công nghiệp (SHCN), cùng với quyền tác giả, các quyền liên quan đến tác giả là các bộ phận hợp thành của quyền sở hữu trí tuệ- quyền hợp pháp của các tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ Từ góc độ kinh tế, thương mại, quyền sở hữu trí tuệ được coi là một trong các quyền sở hữu, là cơ sở của quyền tự do kinh doanh, các chủ thể có thể khai thác lợi ích kinh tế từ đối tượng SHCN mà mình nắm giữ Từ phương diện khoa học pháp lý, quyền sở hữu trí tuệ

là các quyền hợp pháp xuất phát từ các hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật Như vậy không phải mọi sản phẩm của hoạt động trí tuệ đều được coi là đối tượng của sở hữu trí tuệ và ngược lại, không phải mọi quyền sở hữu trí tuệ đều là sản phẩm của trí tuệ Có nghĩa là mọi quyền

sở hữu trong đó có sở hữu trí tuệ đều xuất phát từ ý chí của nhà lập pháp, phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế xã hội cũng như quan điểm lập pháp của mỗi quốc gia, mang tính lãnh thổ tuyệt đối Song nhìn chung, luật pháp của các quốc gia đều bảo vệ chủ sở hữu các đối tượng sở hữu trí tuệ bằng cách trao cho

họ những quyền nhất định, không áp dụng cho các vật thể vật chất cụ thể mà cho chính kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ

Khách thể của quyền SHTT được phân thành hai nhóm chính vận dụng trong đời sống tinh thần của con người và làm phong phú hơn đời sống tinh thần của con người và nhóm được áp dụng vào sản xuất kinh doanh tạo ra các sản

Trang 11

phẩm vật chất mang tính công nghệ [22] Theo đó, những đối tượng sở hữu công nghiệp khi áp dụng vào sản xuất kinh doanh sẽ mang lại những lợi ích vật chất nhất định

Trên thế giới, không có khái niệm thống nhất về sở hữu công nghiệp do các đối tượng sở hữu công nghiệp luôn luôn thay đổi và xuất hiện các đối tượng mới cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, cũng như sự phát triển giao thoa giữa các đối tượng đó Thuật ngữ sở hữu công nghiệp được hiểu theo cách truyền thống thông qua việc liệt kê các đối tượng cụ thể Công ước Paris ghi nhận:

“SHCN có đối tượng là sáng chế, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ hàng hoá, hạn chế cạnh tranh không lành mạnh.” 1

SHCN được hiểu theo nghĩa rộng và được ứng dụng không chỉ trong công nghiệp và thương mại

mà trong hầu hết các lĩnh vực khác của đời sống xã hội

Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm SHCN lần đầu tiên được đưa vào Bộ luật

Dân sự 1995: “Quyền SHCN là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu hàng hoá, quyền sử dụng đối với tên gọi xuất xứ hàng hoá, và quyền đối với các đối tượng khác do pháp luật quy định”2

Với việc đưa ra khái niệm này, quyền SHCN của các cá nhân, pháp nhân đã chính thức được pháp luật ghi nhận và bảo hộ như một quyền dân sự Tuy nhiên, khái niệm này chưa chỉ ra được đặc thù của các đối tượng SHCN, quyền SHCN

so với các loại tài sản và quyền tài sản thông thường khác để từ đó đặt ra cơ chế bảo hộ riêng biệt

Bộ luật Dân sự năm 2005 không đưa ra khái niệm về quyền SHCN, song có ghi

nhận về đối tượng của quyền SHCN: “đối tượng SHCN bao gồm sáng chế, kiểu

1 Điều 1- Công ước Paris 1883, sửa đổi bổ sung năm 1900, 1911, 1925, 1934, 1958, 1967, 1979

2

Trang 12

dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý”3 Cách tiếp cận này tương đối gần với thông lệ quốc tế, không đưa ra khái niệm mà sử dụng phương pháp liệt kê các đối tượng Tuy nhiên, với điều kiện và tốc độ phát triển của kỹ thuật khoa học như hiện nay, việc liệt kê cụ thể các đối tượng SHCN là không phù hợp khi pháp luật khó có thể cập nhật đầy đủ và kịp thời các đối tượng mới xuất hiện

Luật SHTT giải thích: “Quyền SHCN là quyền hợp pháp của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo

ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.4” Khái niệm mà luật SHTT đưa ra là sự kết hợp của hai phương pháp định nghĩa và liệt kê trong

nỗ lực thể hiện một cách đầy đủ nhất nội dung của quyền SHCN và các đối tượng cơ bản của quyền SHCN đang được pháp luật thừa nhận và bảo hộ

Như vậy, có thể thấy, trên thế giới cũng như ở Việt Nam không tồn tại một khái niệm chung, thống nhất về SHCN và quyền SHCN Các đối tượng của SHCN rất

đa dạng, phong phú, luôn luôn có khả năng xuất hiện thêm những đối tượng mới cùng với sự phát triển như vũ bão của các thành tựu khoa học-kỹ thuật Việc xuất hiện các đối tượng mới sẽ kéo theo hệ quả là cần xây dựng các cơ chế bảo hộ mới, phù hợp với thực tiễn đổi mới đó Trên bình diện khoa học pháp lý, khái niệm quyền SHCN không phải là một khái niệm tĩnh Đưa ra một khái niệm bao quát và thể hiện hết bản chất của nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với các đối tượng của SHCN là việc làm khó, đặc biệt trong điều kiện SHCN và các vấn đề liên quan là một lĩnh vực phức tạp và tương đối mới mẻ ở Việt Nam Thông

Trang 13

thường, SHCN và quyền SHCN được xác định thông qua các đối tượng SHCN theo hướng liệt kê và mở rộng

1.1.2.Đối tượng của quyền SHCN

Đối tượng của quyền SHCN được hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận, bao gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng hoá, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh

Có thể có nhiều tiêu chí để phân nhóm các đối tượng của quyền SHCN Căn cứ vào tính sáng tạo của các sản phẩm là đối tượng SHCN, có thể chia thành hai nhóm: quyền SHCN đối với các thành tựu sáng tạo công nghệ (sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, bí mật kinh doanh và thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn); và nhóm quyền SHCN đối với các chỉ dẫn thương mại (nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hóa) Nhóm các đối tượng SHCN là các thành tựu sáng tạo công nghệ là các sản phẩm mang hàm lượng trí tuệ cao, có tính ứng dụng trong đời sống khoa học, sản xuất

để tạo ra các sản phẩm mới có giá trị sử dụng và kinh tế Sáng chế/giải pháp hữu ích đều là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải

quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên Điểm khác biệt giữa sáng chế và giải pháp hữu ích là ở trình độ sáng tạo của giải pháp

Cũng mang tính mới, song kiểu dáng công nghiệp là giải pháp mang tính mỹ

thuật, dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp, thủ công nghiệp Một đối

tượng SHCN còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và các mối liên kết các

phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn, được bảo hộ nếu có tính nguyên gốc và

tính mới về thương mại Bí mật kinh doanh là những thông tin thu được từ hoạt

Trang 14

động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh Bí mật kinh doanh được bảo hộ phải đảm bảo tiêu chí không phải là những hiểu biết thông thường, có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ những lợi thế hơn so với những người không nắm giữ hoặc không sử dụng được những thông tin đó

Nhóm thứ hai thông thường là các đối tượng liên quan đến chỉ dẫn thương mại được sử dụng phổ biến trong các hoạt động kinh doanh thương mại, là dấu hiệu

để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân (nhãn hiệu hàng hóa); tên gọi của các tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh (tên thương mại); những chỉ dẫn về hàng hoá bắt nguồn về lãnh thổ của một nước thành viên

hoặc từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng uy tín hoặc đặc

tính khác của hàng hoá chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định (chỉ dẫn địa lý)

Mặc dù là những dấu hiệu bên ngoài của sản phẩm, dịch vụ hay chỉ là những tên gọi của các tổ chức, cá nhân song nhóm các đối tượng này là biểu tượng cho uy tín của chủ thể quyền cũng như là tài sản mang giá trị kinh tế trong hoạt động kinh doanh do vậy nó cần được bảo hộ như một đối tượng của quyền SHCN, tránh sự nhầm lẫn gây thiệt hại cho doanh nghiệp và người tiêu dùng Trên thực

tế, có rất nhiều nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý có uy tín và giá trị được định giá rất lớn, mang lại lợi nhuận cao cho người sở hữu nó

Căn cứ theo việc xác lập quyền SHCN, có thể chia quyền SHCN ra thành nhóm

các đối tượng được bảo hộ trên cơ sở các văn bằng bảo hộ, do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền cấp (sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế

bố trí mạch tích hợp, nhãn hiệu hàng hóa và quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hóa) và nhóm các đối tượng mà quyền sở hữu tự động phát sinh khi hội đủ các

Trang 15

điều kiện quy định, không cần phải đăng ký (bí mật kinh doanh, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý)

Ngoài ra, một đối tượng được coi là quyền SHCN là bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh Đó là việc các tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả

năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHCN của các chủ thể khác gây ra có quyền tự mình hoặc yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn Việc bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh bổ sung hữu hiệu cho việc bảo hộ các quyền SHCN khác Việc liệt kê và phân loại các đối tượng SHCN chỉ mang tính tương đối do tính đa dạng và giao thoa của các đối tượng này Các đối tượng SHCN rất đa dạng và phong phú, ngày càng được mở rộng và xuất hiện thêm nhiều đối tượng mới, cần được bổ sung và có cơ chế bảo hộ kịp thời, phù hợp

1.1.3 Nội dung của quyền SHCN

Quan hệ SHCN là một dạng quan hệ pháp luật dân sự, theo đó, các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự hoàn toàn có thể trở thành chủ thể quyền SHCN Các điều ước quốc tề về SHCN mà Việt Nam hiện hoặc sẽ là thành viên cũng đều quy định thể nhân, pháp nhân của mỗi nước thành viên được hưởng sự bảo hộ quyền SHCN ở mọi nước thành viên khác Do đó, chủ thể quyền SHCN còn có thể là các tổ chức, cá nhân hoặc là công dân nước ngoài hoặc cư trú thường xuyên hay có cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động thực thụ tại nước là thành viên của điều ước mà Việt Nam là thành viên Các tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng các điều kiện của pháp luật Việt Nam cũng được hưởng sự bảo hộ quyền SHCN

Có thể phân loại chủ thể quyền SHCN thành hai nhóm: Tác giả/đồng tác giả và chủ sở hữu đối tượng SHCN với các nhóm quyền và nghĩa vụ khác nhau

Trang 16

Tác giả/đồng tác giả là những người trực tiếp sáng tạo ra các đối tượng SHCN bằng lao động trí óc của mình Chỉ với một số loại đối tượng SHCN nhất định đòi hỏi quá trình tạo ra nó cần phải có sự tư duy sáng tạo, như sáng chế, giải pháp hữu ích, thiết kế bố trí mạch tích hợp, kiểu dáng công nghiệp mới xác định chủ thể quyền là tác giả Theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật về SHTT, tác giả có những quyền nhân thân như ghi tên là tác giả trên văn bằng bảo

hộ đối tượng SHCN, nêu tên là tác giả trong các tài liệu công bố, giới thiệu các đối tượng đó Ngoài ra, tác giả còn có quyền tài sản, như quyền được trả thù lao theo thoả thuận giữa tác giả và chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật nếu các bên không có thoả thuận nào khác Tiền thù lao của tác giả được hưởng trên

cơ sở những khoản lợi mà chủ sở hữu thu được do áp dụng các đối tượng SHCN

mà tác giả tạo ra, hoặc do số tiền làm được do bán li-xăng sau khi đã khấu trừ chi phí liên quan hoặc số tiền được đền bù từ việc cấp li-xăng không tự nguyện, đối với truờng hợp chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHCN Tác giả còn có quyền nhận các giải thưởng, danh hiệu đối với những sản phẩm có ý nghĩa về khoa học, kỹ thuật của mình Tác giả cũng có quyền khởi kiện đối với các hành

vi xâm phạm quyền nhân thân và tài sản của mình cũng như để lại thừa kế đối với các đối tượng do mình tạo ra và đang trong thời gian bảo hộ (nếu tác giả đồng thời là chủ sở hữu) Trong nhiều trường hợp, cá nhân có thể vừa là tác giả, đồng thời vừa là chủ sở hữu đối tượng SHCN Ngoài ra, khi tác giả tạo ra sản phẩm là các đối tượng SHCN bằng chi phí của người khác theo hợp đồng nghiên cứu sáng tạo, theo nhiệm vụ thì chủ sở hữu đối tượng SHCN là bên thuê nghiên cứu, tổ chức, cơ quan giao nhiệm vụ cho tác giả

Pháp luật thừa nhận một số loại chủ sở hữu đối tượng SHCN sau: Chủ sở hữu được xác lập thông qua văn bằng bảo hộ của các cơ quan nhà nước có thẩm

Trang 17

quyền; chủ sở hữu các đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá đã được chấp nhận bảo hộ tại nước sở tại, chủ sở hữu các nhãn hiệu nổi tiếng đã được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng; chủ sở hữu các bí mật kinh doanh hợp pháp và thực hiện việc bảo mật thông tin bí mật đó; chủ sở hữu là nhà nước đối với các dẫn địa lý Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân hoặc các chủ thể khác được chuyển giao một cách hợp pháp quyền sở hữu đối với sáng chế/giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá cũng được coi là chủ sở hữu đối tượng SHCN

Chủ sở hữu có các quyền tài sản như sử dụng, cho phép người khác sử dụng, để lại thừa kế, ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng SHCN, yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải chấm dứt hành vi đó và bồi thường thiệt hại và định đoạt đối tượng đó ( chuyển nhượng quyền, chuyển quyền sử dụng, ) Chủ sở hữu có nghĩa vụ trả thù lao cho các tác giả, nộp lệ phí duy trì hiệu lực của văn bằng bảo hộ, sử dụng hoặc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHCN cho nguời khác theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Đưa ra khái niệm quyền SHCN và cơ sở thiết lập quyền nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể phải luôn song song với việc xây dựng cơ chế bảo vệ và thực thi quyền có hiệu quả nhằm mục đích bảo hộ các quyền đó một cách hữu hiệu nhất

1.2 CƠ CHẾ THỰC THI QUYỀN SHCN

1.2.1 Khái niệm thực thi quyền SHCN

Một trong những nội dung quan trọng nhất của quyền SHCN là quyền sử dụng, khai thác các đối tượng thuộc quyền Bên cạnh việc xây dựng các tiêu chí, điều kiện để bảo hộ quyền, xác lập quyền, pháp luật của hầu hết các nước đặc biệt

Trang 18

quan tâm tới việc xây dựng các thiết chế nhằm bảo đảm cho chủ thể quyền được

sử dụng, khai thác quyền mà không gặp phải cản trở nào từ người thứ ba Điều

đó cũng có nghĩa là bản chất của việc bảo đảm thực thi quyền SHCN là ngăn chặn và xử lý mọi hành vi xâm phạm, khai thác quyền bất hợp pháp

Việc thực thi quyền SHTT phải thoả mãn lợi ích của bốn chủ thể: đó là người tiêu dùng (không bị nhầm lẫn giữa hàng thật và hàng giả), chủ sở hữu đối tượng SHTT (bảo vệ uy tín sản phẩm, bảo vệ những thông tin có giá trị), các nhà sản xuất khác (được cạnh tranh bình đằng), và Nhà nước (bảo đảm một hệ thống pháp luật công bằng và có hiệu quả, chống thất thu thuế) [14]

Thực thi quyền SHCN là mối quan tâm không chỉ của mỗi quốc gia mà cả trên bình diện quốc tế Các cam kết bắt buộc về thực thi quyền SHCN bắt đầu xuất hiện và trở thành phần không thể thiếu trong các điều ước quốc tế song phương

và đa phương Nếu trong Công ước Pari 1883 (được sửa đổi lần cuối cùng năm 1979) về bảo hộ sở hữu công nghiệp, vấn đề thực thi chỉ được đề cập tới một cách nguyên tắc và có tính khuyến cáo thì đến Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPS/WTO), vấn đề này đã được quy định cụ thể, chi tiết hơn về yêu cầu đối với hệ thống thực thi, các biện pháp chế tài, trình tự và thủ tục thực hiện các biện pháp đó5 Tương tự như vậy, trong Hiệp định thương mại Việt-Mỹ cũng đề cập tới thực thi quyền SHTT6

Điều đó xuất phát từ một thực tế, tình trạng xâm phạm quyền SHCN ngày càng gia tăng là mối quan ngại của hầu hết các quốc gia Và các quốc gia phải cùng hợp tác khắc phục tình trạng này, coi đó như một nghĩa vụ bắt buộc, một cam kết mang tính quốc tế Tuy nhiên, trong các văn bản pháp lý quốc tế cũng như trong pháp luật Việt Nam, đều chưa có một định nghĩa chính thức về thực thi quyền

5 Hiệp định TRIPS, phần III: thực thi quyền SHTT, gồm 5 mục và 21 điều khoản từ điều 41 đến điều 61

6

Hiệp định thương mại Việt –Mỹ, chương II, điều 11 đến điều 15

Trang 19

SHCN, cũng như còn tồn tại nhiều cách hiểu về nội hàm của khái niệm này.Theo Đại từ điển tiếng Việt của Bộ Giáo dục -Đào tạo và từ điển tiếng Việt 2000 của

nhà xuất bản Đà Nẵng thì thực thi có nghĩa là “thực hiện, thi hành một mệnh lệnh, một nhiệm vụ” Từ điển Anh-Anh-Việt định nghĩa “enforcement” là buộc

phải tuân theo một luật lệ để làm cho chúng có hiệu lực

Hiệp định TRIPS/WTO không định nghĩa về thực thi quyền, song qua các quy định về thực thi trong hiệp định, có thể thấy hiệp định đề cập tới thực thi dưới góc độ các biện pháp chế tài nhằm ngăn chặn các các hành vi xâm phạm và ngăn chặn không để các hành vi đó tiếp diễn được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền, như các cơ quan xét xử, cơ quan hải quan Thực thi quyền SHTT nói chung và thực thi quyền SHCN nói riêng không bắt buộc tách biệt với hệ thống tư pháp để thực thi luật nói chung Hiệp định TRIPS yêu cầu các nước thành viên áp dụng một số thủ tục tố tụng tối thiểu để tăng cường hiệu quả thực thi quyền Như vậy, có thể hiểu khái niệm thực thi quyền theo hiệp định TRIPS

là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thông qua các thủ tục và chế tài luật định, ngăn chặn các hành vi xâm phạm các quyền lợi hợp pháp của

các chủ sở hữu, chủ yếu từ các đối thủ cạnh tranh Người có quyền hợp pháp với

các đối tượng SHCN có thể dựa vào các thủ tục và chế tài theo quy định của pháp luật để yêu cầu ngăn chặn các hành vi vi phạm và yêu cầu những người có hành vi đó phải bồi thường thiệt hại cũng như chịu các biện pháp trừng phạt thích đáng

Luật SHTT được Quốc Hội khoá X kỳ họp thứ 10 thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/07/2006, không đề cập tới khái niệm thực thi quyền SHCN Tuy nhiên, các quy định về thực thi quyền SHTT trong bộ luật này đã thể hiện tầm quan trọng của vấn đề thực thi quyền cũng như sự quan tâm đúng mức của nhà

Trang 20

nước đối với vấn đề này trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay7

Bên cạnh việc quy định chức năng, quyền hạn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xử lý hành vi xâm phạm, luật SHTT còn đặc biệt thừa nhận quyền của các chủ thể là chủ sở hữu các đối tượng SHTT trong việc bảo vệ quyền của mình

Có thể hiểu theo nghĩa hẹp thực thi quyền SHCN là việc các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền áp dụng các biện pháp chế tài nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền SHCN theo quy định của pháp luật Theo nghĩa rộng, thực thi quyền SHCN là việc các chủ thể của quyền SHCN áp dụng các biện pháp tự bảo vệ quyền của mình hoặc/và yêu cầu các cơ quan chức năng thực hiện các biện pháp chế tài xử lý các hành vi vi phạm theo trình tự và thủ tục luật định Một cách

khái quát, thực thi quyền SHCN là hoạt động của các chủ thể quyền và các cơ quan chức năng tiến hành các biện pháp theo quy định của pháp luật nhằm bảo

vệ các quyền của chủ sở hữu và ngăn chặn, xử lý việc bên thứ ba sử dụng, khai thác trái phép đối tượng SHCN đã được bảo hộ Nó đảm hoàn tất một chu trình

bảo hộ quyền SHCN từ việc xác lập quyền, thực hiện và sử dụng quyền, cho đến bảo vệ và thực thi quyền

1.2.2 Nguyên tắc thực thi quyền SHCN

Một trong những yêu cầu đặt ra đối với hệ thống pháp luật SHCN nói chung trong điều kiện phát triển công nghệ hiện đại và bùng nổ thông tin trên thế giới như hiện nay là phải xây dựng các tiêu chuẩn bảo hộ và các thủ tục đảm bảo thực thi quyền SHCN một cách kịp thời, hiệu quả, công bằng và ít phiền hà Điều đó

sẽ góp phần tạo ra môi trường thuận lợi cho sự sáng tạo, bảo đảm động lực thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, thương mại

7

Luật SHTT 2006, phần thứ 5: bảo vệ quyền SHTT, 3 chương, 23 điều

Trang 21

Nguyên tắc đầu tiên, quan trọng nhất của hệ thống thực thi quyền SHCN là các hành vi xâm phạm quyền SHCN phải được xử lý kịp thời, triệt để và có hiệu quả

Để đảm bảo nguyên tắc này, trước hết phải xác định những hành vi nào bị coi là xâm phạm quyền SHCN Với mỗi quốc gia, với từng hệ thống pháp luật khác nhau là những cách thức xác định khác nhau về hành vi xâm phạm quyền SHCN

Và tương ứng với mỗi đối tượng của quyền SHCN là các hành vi vi phạm khác nhau Cụ thể, các hành vi sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp đã được bảo hộ hoặc kiểu dáng công nghiệp không khác biệt đáng kể với kiểu dáng đã được bảo hộ, bất kỳ phần nào có tính nguyên gốc của thiết kế bố trí, trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ mà không được phép của chủ sở hữu đều bị coi là xâm phạm quyền đối với các đối tượng kể trên Ngoài ra, việc sử dụng tạm thời các đối tượng này mà không trả tiền đền bù theo quy định của pháp luật cũng bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu Với nhãn hiệu hàng hoá, việc sử dụng các dấu hiệu trùng, hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ bị coi là hành vi xâm phạm quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá Một hệ thống thực thi được coi là có hiệu quả nếu pháp luật về SHCN có quy định các biện pháp và thủ tục cho phép hành động một cách kịp thời và hữu hiệu nhằm chống lại các hành vi xâm phạm quyền và trên thực tế các hành vi xâm phạm thật sự bị xử lý một cách hữu hiệu Việc các chủ thể quyền SHCN chống lại các hành vi xâm phạm không những ngăn chặn các hành vi vi phạm mà còn có tác dụng ngăn ngừa các hành vi xâm phạm quyền Một cách khác, hệ thống thực thi không những phải đủ các cơ chế xử lý, chặn đứng các hành vi xâm phạm đã và đang xảy ra cũng như không cho phép các hành vi tương tự như vậy có thể xảy ra Yêu cầu được đặt ra là cần phải có các quy định một cách rõ ràng trong các văn bản pháp luật về các biện pháp chế tài thích hợp

Trang 22

và đủ sức mạnh cưỡng chế; các thủ tục tiến hành các biện pháp đó phải linh hoạt, nhanh chóng và thuận tiện; các cơ quan chức trách được giao thực hiện các chế tài phải có đủ thẩm quyền và năng lực cần thiết Xử lý kịp thời các vi phạm là yêu cầu cấp thiết được đặt ra và có mối quan hệ hữu cơ với việc thực thi có hiệu quả Bởi lẽ, việc xử lý kịp thời sẽ hạn chế được tối đa các tổn thất do hành vi xâm phạm gây ra, bảo vệ được lợi ích của các chủ thể và cả cộng đồng Có như thế mới có thể đạt được yêu cầu về tính hữu hiệu của hệ thống pháp luật về thực thi Tuy nhiên, mặt trái của nguyên tắc này là tiêu chuẩn hiệu quả của hệ thống thực thi có thể dẫn đến khuynh hướng cực đoan, thậm chí là lạm dụng cơ chế bảo

hộ nhằm các mục tiêu không lành mạnh Để đề phòng và khắc phục các nguy cơ

đó, một điều kiện luôn luôn phải đi kèm theo các yêu cầu về tính hiệu quả là các biện pháp và thủ tục thực thi chỉ được thực hiện theo cách thức và nguyên tắc không gây cản trở cho các hoạt động thương mại chính đáng và không được lạm dụng các biện pháp đó

Một nguyên tắc cơ bản của vấn đề thực thi quyền SHCN là các tổ chức, cá nhân

có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bằng các biện pháp chế tài bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Hay nói cách khác, các biện pháp và thủ tục thực thi được quy định và áp dụng trong hệ thống pháp luật phải đảm bảo được sự đúng đắn và công bằng Các tổ chức, cá nhân là chủ thể quyền trước hết “có quyền hành động như cảnh sát của chính mình” [28] Chủ thể quyền phải quan tâm đến thị trường công nghiệp và thương mại nơi mình bán các sản phẩm, cung cấp các dịch vụ hoặc nơi quy trình của chủ thể quyền có thể được sử dụng Chủ thể quyền cũng phải quan tâm đến hoạt động

của các đối thủ cạnh tranh Từ đó, nếu phát hiện ra các hành vi vi phạm, trước hết, các chủ thể quyền phải liên hệ với các đối thủ cạnh tranh để chỉ ra sự tồn tại các quyền của mình, đàm phán để người vi phạm có thể bị thuyết phục để chấm dứt hành vi vi phạm

Trang 23

Cuối cùng chủ thể quyền có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua các biện pháp chế tài luật định xử lý các hành vi vi phạm, buộc người

có hành vi đó phải chấm dứt hành vi và bồi thường thiệt hại cũng như gánh chịu những biện pháp trừng phạt của pháp luật

Cùng với hai nguyên tắc như đã phân tích ở trên, một nguyên tắc thiết yếu là đảm bảo hệ thống thực thi minh bạch, đơn giản và ít tốn kém nhất Minh bạch là yêu cầu được đặt ra không chỉ với vấn đề thực thi quyền SHCN mà còn đối với

cả hệ thống pháp luật nói chung, đặc biệt đối với giai đoạn hội nhập và toàn cầu hoá như hiện nay Minh bạch trong hệ thống pháp luật về thực thi quyền SHCN đồng nghĩa với mọi quy định của pháp luật trong lĩnh vực này phải cụ thể, đầy

đủ, đồng bộ, được công bố công khai và có tính khả thi Các biện pháp, thủ tục, cách thức thực thi quyền cũng như các thiết chế của hệ thống phải rõ ràng và có hiệu quả trong thực tế, đáp ứng các yêu cầu của hệ thống pháp luật quốc gia và phù hợp, tương thích với pháp luật quốc tế Các quy định về thủ tục quá phiền hà hoặc mập mờ sẽ không đáp ứng được yêu cầu của nguyên tắc này Các quy định

về lệ phí xét xử, lệ phí thụ lý vụ việc (trừ các lệ phí liên quan đến theo đuổi vụ việc như điều tra, thu thập chứng cứ, thuê luật sư,…do các bên tự chi trả) được coi là chi phí thực hiện thủ tục thực thi không được quá cao Với việc minh bạch của hệ thống pháp luật, đơn giản và ít tốn kém nhất sẽ tạo điều kiện thuận lợi tối

đa cho các bên tham gia và thực hiện quyền tự bảo vệ trong các vụ tranh chấp, kiện cáo về SHCN

1.2.3 Các phương thức và thiết chế thực thi quyền SHCN

Sự xuất hiện ngày càng nhiều các hành vi xâm phạm quyền SHCN với mức độ, cách thức phức tạp và đa dạng đã ảnh hưởng không nhỏ đến quyền của các chủ

sở hữu, người tiêu dùng và xã hội Thiết lập một cơ chế thực thi quyền có hiệu

Trang 24

quả để ngăn chặn các hành vi xâm phạm không cho chúng tiếp diễn và ngăn ngừa các nguy cơ có thể xảy ra vi phạm là đòi hỏi thiết yếu và cấp bách đối với

hệ thống pháp luật SHCN Theo quy định của pháp luật, quyền SHCN có thể được bảo vệ thông qua nhiều phương thức khác nhau Các chủ thể có thể lựa chọn một phương thức thích hợp nhất để bảo vệ quyền của mình Có thể đó là các biện pháp tự bảo vệ thông qua việc yêu cầu người vi phạm chấm dứt hành vi

vi phạm, và bồi thường thiệt hại Người bị vi phạm cũng có thể yêu cầu người vi phạm xin lỗi, cải chính công khai hoặc tự mình cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng Một hình thức nữa cũng có thể được các chủ thể quyền áp dụng để ngăn ngừa các hành vi xâm phạm có thể xảy ra là công bố các khuyến cáo về sản phẩm/dịch vụ của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng, phân biệt sản phẩm/dịch vụ của mình với các nhà sản xuất khác để tránh các nhầm lẫn trong lựa chọn của người tiêu dùng Trước hết, các chủ thể quyền phải nhận thức đầy đủ về việc vi phạm quyền SHCN có ảnh hưởng đầu tiên, trực tiếp đến lợi ích vật chất và uy tín của chính họ Vì vậy, các chủ thể quyền SHCN bị

vi phạm phải là người đầu tiên tự bảo vệ quyền lợi của mình một cách chủ động

và tích cực nhất, trước khi yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp Đề cao vai trò của các chủ sở hữu trong việc tự bảo vệ quyền của mình cho thấy hoạt động thực thi quyền SHCN là trách nhiệm, nghĩa vụ của không chỉ của các cơ quan chức năng mà đối với các cá nhân, tổ chức và toàn thể cộng đồng Các chủ sở hữu cũng có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc các tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm phải dừng hành vi của mình và gánh chịu các chế tài cần thiết Việc yêu cầu này có thể thông qua một trong số các cách thức như gửi khiếu nại tới các cơ quan quản lý nhà nước hoặc khởi kiện tại toà án theo thủ tục tố tụng Như vậy, có thể thấy việc xuất hiện của các cơ

Trang 25

quan nhà nước trong quá trình thực thi quyền SHCN tại hầu hết các trường hợp đều xuất phát từ yêu cầu của các chủ đối tượng SHCN bị xâm phạm Đó là các

cơ quan tài phán như trọng tài, toà án, hay các cơ quan quản lý nhà nước như hải quan, cơ quan quản lý thị trường,… Các cơ quan này với chức năng và thẩm quyền của mình áp dụng các biện pháp hành chính, dân sự, hình sự; trong các trường hợp cần thiết có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp kiểm soát đối với hàng hoá xuất nhập khẩu và các biện pháp ngăn chặn khác để

xử lý hành vi xâm phạm quyền SHCN Với tính chất cưỡng chế, các biện pháp

mà các cơ quan chức năng áp dụng với các hành vi vi phạm chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cao hơn, có tác dụng không chỉ ngăn chặn các hành vi xâm phạm mà còn giáo dục, răn đe đối với các chủ thể khác không thực hiện các hành vi tương

tự Tuy nhiên tác dụng của các biện pháp mà các cơ quan chức năng áp dụng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như việc xây dựng các biện pháp xử lý đó trong

hệ thống pháp luật về thực thi quyền SHCN phải phù hợp và đúng đắn, phải xây dựng được một hệ thống đồng bộ, cùng với việc phân cấp rõ ràng là sự phối kết hợp giữa các cơ quan một cách hợp lý Một cơ chế yếu, lạm dụng các biện pháp

xử lý sẽ phản tác dụng, không mang lại hiệu quả cho toàn bộ hệ thống thực thi Tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, vi phạm hoặc tranh chấp về SHCN, có thể sử dụng một hoặc một số thiết chế, trình tự pháp luật: dân sự, hành chính, hình sự với mục đích đảm bảo thực thi

Các biện pháp và trình tự dân sự thông thường được ưu tiên áp dụng trong việc

xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHCN Xuất phát từ nguồn gốc quyền SHCN trước hết và chủ yếu là một quyền dân sự ở hầu hết các hệ thống tư pháp trên thế giới, các tranh chấp về SHCN sẽ được giải quyết tại toà dân sự Người có quyền khởi kiện vụ án dân sự theo nguyên tắc thông thường là người chứng minh được

Trang 26

mình có quyền hợp pháp đối với đối tượng SHCN không được tôn trọng hoặc bị xâm phạm, đó có thể là người nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ độc quyền, hoặc là chủ sở hữu bằng độc quyền đối tượng sở hữu công nghiệp Điều quan trọng trong trình tự khởi kiện dân sự nói chung và khởi kiện các tranh chấp liên quan đến quyền SHCN nói riêng là bên khởi kiện (nguyên đơn) phải xuất trình các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, từ hành vi bị cho là xâm phạm đến việc đánh giá thiệt hại Thiết chế dân sự điều chỉnh mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người xâm phạm Việc đền bù thiệt hại về cơ bản chỉ khắc phục được tác hại của hành vi xâm phạm gây ra cho người bị xâm phạm mà chưa tính đến thiệt hại cho người tiêu dùng và xã hội Các biện pháp xử lý theo trình tự dân sự vì thế chủ yếu mang lại lợi ích cho người nắm giữ quyền một cách hợp pháp, tính chất trừng phạt đối với người có hành vi xâm phạm thấp, mục tiêu phòng ngừa ít đạt được Xử lý vi phạm thông qua các biện pháp hành chính sẽ khắc phục được những khiếm khuyết đó Bản chất của các biện pháp hành chính là sử dụng sức mạnh của các cơ quan hành chính và thông qua các quyết định hành chính để xử

lý các hành vi xâm phạm quyền SHCN, đề cao ý nghĩa trừng phạt của các biện pháp xử lý đó Mục tiêu của biện pháp này không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ quyền của chủ thể nắm quyền mà còn bảo vệ lợi ích của người thứ ba và lợi ích chung của toàn xã hội Bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào nếu phát hiện thấy có hành vi vi phạm quyền SHCN hoặc các cơ quan có thẩm quyền biết được điều

đó đều có thể dẫn tới việc áp dụng các biện pháp hành chính Việc áp dụng các biện pháp hành chính trong thực thi quyền SHCN cũng phải tuân thủ một số nguyên tắc về xử lý vi phạm hành chính như nguyên tắc trừng phạt hành vi xâm phạm, nguyên tắc xử phạt một lần đối với một hành vi xâm phạm và nguyên tắc không cho phép tái phạm Các cơ quan hành chính có thẩm quyền như cơ quan

Trang 27

hải quan, quản lý thị trường, công an, thanh tra chuyên ngành,… có quyền áp dụng các hình thức phạt hành chính cảnh cáo, phạt tiền, bắt buộc loại bỏ yếu tố

vi phạm, bắt buộc bồi thường thiệt hại, tiêu huỷ vật phẩm xâm phạm, và các hình thức phạt bổ sung khác tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm quyền SHCN Việc vi phạm quyền SHCN có thể gây hại cho các chủ thể ở các mức độ khác nhau Trong một số trường hợp, việc xâm phạm đó là nghiêm trọng đối với chủ thể quyền và toàn xã hội, tới mức các trình tự dân sự và hành chính cũng không

đủ để trừng phạt và răn đe người vi phạm thì phải áp dụng các chế tài mạnh nhất

là các thiết chế, chế tài hình sự Các biện pháp hình sự được áp dụng với các cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm có yếu tố cấu thành tội phạm Pháp luật của hầu hết các quốc gia đều có các quy định cụ thể về các tội danh xâm phạm quyền SHCN Thông thường đó là các hành vi giả mạo hàng hoá là đối tượng SHCN như nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý,…Tuỳ theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm mà chế tài có thể áp dụng từ phạt tiền đến hình phạt cao nhất là tử hình áp dụng các biện pháp hình sự trong việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHCN cho thấy sự nghiêm trọng và tác hại của các hành vi này đối với xã hội, ở mức độ cao nhất có thể bị coi như một tội phạm Nó có tác dụng ngăn ngừa, giáo dục, răn đe đối với người có hành vi vi phạm và các chủ thể khác Mặt khác cũng cho thấy sự nghiêm khắc của pháp luật đối với các hành vi vi phạm quyền SHCN Những lý luận cơ bản về quyền SHCN và thực thi quyền SHCN là cơ sở để phân tích các quy định của WTO về thực thi quyền, được thể hiện cơ bản trong hiệp định TRIPS và từ đó so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này, để từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về thực thi quyền SHCN

Trang 28

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỰC THI QUYỀN SHCN CỦA CÁ NHÂN, PHÁP NHÂN TƯƠNG THÍCH VỚI CÁC QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ

và mở rộng thương mại trên nguyên tắc có đi có lại và cùng có lợi Hệ thống đó bao gồm cả các quy tắc về sở hữu trí tuệ Cùng với sự ra đời của WTO, ngày 15/04/1994 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT được ký kết và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 Hiệp định gồm 7 chương, 73 điều và là hiệp định đa phương về SHTT toàn diện nhất trên thế giới hiện nay, đồng thời cũng là cơ sở để các quốc gia điều chỉnh hệ thống luật pháp của mình hay hoạch định các hiệp định song phương về SHTT Ngoài các điều khoản chung và các nguyên tắc cơ bản, hiệp định đề cập đến ba nội dung chính: các tiêu chuẩn liên quan đến khả năng đạt được sự bảo hộ, phạm vi và việc sử dụng các quyền SHTT; thực thi quyền SHTT và giải quyết tranh chấp

Giống như các hiệp định khác của WTO, hiệp định TRIPS dựa trên hai nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc đãi ngộ như công dân (đãi ngộ quốc gia) và nguyên tắc

Trang 29

đãi ngộ tối huệ quốc Đây là các nguyên tắc chủ đạo xuyên suốt toàn bộ hiệp định, từ việc đặt ra các tiêu chí cho việc bảo hộ đến các vấn đề liên quan khác như việc thụ hưởng các đặc quyền, phạm vi quyền, việc bảo vệ quyền và việc thực thi quyền SHTT

2.1.1.1 Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia

Nội dung của nguyên tắc đãi ngộ quốc gia là các thành viên không được đối xử với công dân của các quốc gia thành viên khác kém thuận lợi hơn công dân của chính nước mình, trừ một số trường hợp ngoại lệ cho phép Đây có thể được coi

là mục tiêu của hầu hết các công ước quốc tế về SHTT Kế thừa và phát triển

nguyên tắc này từ công ước Paris, Hiệp định TRIPS ghi nhận: “Mỗi Thành viên phải chấp nhận cho các công dân của các thành viên khác sự đối xử không kém thiện chí hơn so với sự đối xử của thành viên đó đối với công dân của mình trong việc bảo hộ quyền SHTT”8 Nguyên tắc này rất có ý nghĩa trong việc bảo

hộ SHCN đặc biệt là trong quá trình thực thi và giải quyết các tranh chấp liên quan trong lĩnh vực này Bởi lẽ sự phát triển của các đối tượng SHCN không còn hạn chế trong phạm vi lãnh thổ mỗi quốc gia cũng như những vi phạm SHCN đã vượt qua biên giới các nước, đòi hỏi sự quan tâm và hợp tác giải quyết chung của cộng đồng

2.1.1.2 Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc

Hiệp định TRIPS, ngoài việc đề cập đến các nguyên tắc cơ bản của Công ước Paris, đã vượt ra ngoài Công ước Paris, lần đầu tiên đưa ra một nguyên tắc mới

đó là nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc Nội dung của nguyên tắc này được ghi

nhận như sau: “Đối với việc bảo hộ SHTT, bất kỳ một sự ưu tiên, chiếu cố, đặc quyền hoặc sự miễn trừ nào được một Thành viên dành cho công dân của bất kỳ

8

Trang 30

nước nào khác cũng phải được lập tức và vô điều kiện dành cho công dân của tất cả các Thành viên khác”9 Nếu như nguyên tắc đãi ngộ quốc gia đề cập tới sự bình đẳng trong đối xử giữa công dân của một quốc gia với công dân các nước thành viên thì nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc lại quy định sự bình đẳng trong đối xử của một quốc gia đối với công dân các nước, các nước thành viên phải được hưởng sự đối xử thuận lợi nhất mà một nước thành viên có thể giành cho một nước thứ ba khác, bất kể nước thứ ba đó có là thành viên của TRIPS hay không Nguyên tắc này tạo nên một sân chơi bình đẳng cho các quốc gia, ngăn cấm sự phân biệt đối xử giữa các quốc gia thành viên Một hành vi vi phạm của một quốc gia bất kỳ được miễn trừ trách nhiệm ở một quốc gia là thành viên của TRIPS thì cũng có nghĩa là hành vi tương tự của quốc gia thành viên khác cũng đương nhiên được hưởng sự miễn trừ trách nhiệm trên lãnh thổ nước thành viên

đó

Ngoài hai nguyên tắc cơ bản có tính chất chỉ đạo và bao quát toàn bộ quá trình bảo hộ SHCN, hiệp định TRIPS còn đưa ra các nghĩa vụ chung liên quan đến thực thi SHCN Trước hết luật pháp của mỗi quốc gia là thành viên của Hiệp định TRIPS phải có quy định bảo đảm các thủ tục thực thi, tạo khả năng khiếu kiện có hiệu quả đối với mọi hành vi xâm phạm, bao gồm cả những biện pháp khẩn cấp nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm đang xảy ra và không để cho

nó tiếp diễn Tuy nhiên, việc áp dụng các thủ tục thực thi quyền phải tránh tạo ra các hàng rào cản trở hoạt động thương mại hợp pháp và nhằm quy định các biện pháp bảo đảm cho các thủ tục đó không bị lạm dụng Đây có thể được coi là nguyên tắc có tính chất chỉ đạo và cơ bản nhất cho hoạt động thực thi, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các quốc gia trong việc xử lý các hành vi xâm phạm

9

Điều 4-Hiệp định TRIPS

Trang 31

quyền SHCN, song vẫn không ảnh hưởng đến các hoạt động xúc tiến thương mại khác Liên quan đến các thủ tục liên quan đến việc thực thi quyền SHCN, hiệp định TRIPS quy định một số yêu cầu tổng quát như: đúng đắn và công bằng, không được quá phức tạp hoặc tốn kém quá mức, không được quy định những thời hạn bất hợp lý hoặc việc trì hoãn vô thời hạn Các quyết định phán xử vụ việc nên được thể hiện bằng văn bản và nêu rõ lý do, việc trao các quyết định cho các bên tham gia khiếu kiện không được chậm trễ quá mức Việc đưa ra quyết định phải dựa trên chứng cứ mà các bên đưa ra và các bên đều đã được tạo

cơ hội trình bày ý kiến về chứng cứ đó Các bên tham gia khiếu kiện phải có quyền yêu cầu cơ quan tư pháp xem xét lại các quyết định hành chính cuối cùng

và, theo quy định trong luật quốc gia của thành viên về thẩm quyền tài phán theo mức độ nghiêm trọng của vụ án, ít nhất là xem xét lại các khía cạnh pháp lý của các quyết định xét xử vụ việc ở cấp sơ thẩm Tuy nhiên, các thành viên không có nghĩa vụ phải quy định quyền yêu cầu xem xét lại những tuyên bố tha bổng trong các vụ án hình sự Hiệp định không quy định nghĩa vụ thiết lập một hệ thống tư pháp để thực thi các quyền SHTT tách biệt với hệ thống tư pháp để thực thi luật nói chung, cũng không làm ảnh hưởng đến năng lực của các thành viên trong việc thực thi luật của mình nói chung

Trên cơ sở các nguyên tắc chung này, TRIPS đề ra các tiêu chuẩn bảo hộ và các thiết chế thực thi quyền SHTT nói chung bao hàm cả vấn đề thực thi quyền SHCN

2.1.2.Thực thi quyền SHCN theo thủ tục dân sự và chế tài áp dụng

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chủ sở hữu các đối tượng SHCN

có thể áp dụng một số biện pháp, thủ tục nhất định theo quy định của pháp luật Trong số các biện pháp, thủ tục đó, thủ tục dân sự chiếm một vị trí rất quan

Trang 32

trọng Thực tế cho thấy, ở hầu hết các hệ thống tư pháp trên thế giới, tranh chấp trong lĩnh vực SHCN được giải quyết thông qua các thủ tục dân sự Điều đó được lý giải bởi lẽ xét trên góc độ luật pháp, quan hệ SHCN mang bản chất của một quan hệ pháp luật về dân sự, đối tượng của quan hệ này là một loại tài sản đặc biệt: tài sản sở hữu trí tuệ Do vậy, việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHCN cũng như giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực này đương nhiên sẽ tuân theo thủ tục tố tụng dân sự

Hơn nữa, so với các thiết chế và thủ tục thực thi khác, thủ tục dân sự chiếm

ưu thế bởi tính dân chủ và khả năng duy trì cũng như bảo đảm công lý của nó Bên cạnh đó, trong nhiều trường hợp, việc áp dụng thủ tục dân sự là con đường duy nhất để giải quyết thoả đáng vấn đề bồi thường thiệt hại đối với các hành vi xâm phạm [1]

Đặc biệt, hiệp định TRIPS chú trọng đến các biện pháp và thủ tục dân sự hơn so với các biện pháp chế tài khác, dưới hai hình thức chủ yếu là các biện pháp khẩn cấp tạm thời và đền bù thiệt hại

* Các yêu cầu chung của thủ tục tố tụng dân sự:

Hiệp định TRIPS đưa ra một yêu cầu chung đối với các thủ tục và biện pháp chế tài dân sự là các thủ tục thực thi phải đúng đắn và công bằng Các thành viên của hiệp định phải bảo đảm quyền tham gia các thủ tục tố tụng dân sự liên quan đến bất kỳ loại quyền SHTT nào quy định trong hiệp định TRIPS10

Và theo nguyên tắc thông thường, người nào chứng minh được mình là người có quyền hợp pháp đều có quyền khởi kiện nếu có chứng cứ cho rằng quyền của mình không được tôn trọng hoặc bị vi phạm Sự bảo đảm quyền và thực thi các thủ tục một cách

10

Điều 42 Hiệp định TRIPS

Trang 33

đúng đắn và công bằng phải đảm bảo cho cả hai bên trong tranh chấp và được thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, bên bị đơn phải được thông báo bằng văn bản một cách kịp thời và chi

tiết, trong đó nêu cả căn cứ của các yêu cầu Việc thông báo phải bảo đảm kịp thời và chi tiết để bị đơn được quyền biết anh ta bị kiện vì lý do gì và bị buộc phải chịu những trách nhiệm, nghĩa vụ pháp lý gì theo yêu cầu của phía bên kia, cũng như có đủ thời gian chuẩn bị các chứng cứ, lý lẽ cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình

Thứ hai là quyền của các bên được phép có cố vấn pháp luật độc lập làm đại diện

và các thủ tục không được đòi hỏi một cách quá mức việc đương sự buộc phải có mặt tại toà Như vậy các bên có quyền sử dụng mọi hình thức, biện pháp mà các bên cho rằng tốt nhất cũng như pháp luật phải bảo đảm điều kiện thuận lợi nhất cho các bên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Các bên hoàn toàn có quyền lựa chọn cách bảo vệ mình bằng việc tự bảo vệ hoặc thông qua việc uỷ quyền cho các cố vấn pháp luật Việc có mặt tại toà đối với cả hai bên đương sự không nhất thiết là điều kiện bắt buộc trong mọi trường hợp

Thứ ba, để bảo vệ mình, khi tham gia phiên toà các bên có quyền đưa ra các

chứng cứ thích hợp, biện minh cho yêu cầu của mình Những chứng cứ là các thông tin bí mật phải được bảo hộ trừ khi trái với hiến pháp hiện hành

* Chứng cứ , nghĩa vụ chứng minh và bảo vệ thông tin bí mật:

Trong phiên toà dân sự, đặc biệt đối với các phiên toà liên quan đến các tranh chấp về quyền SHCN, việc các bên đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc để bảo vệ mình có ý nghĩa rất quan trọng Liên quan đến chứng cứ, hiệp định TRIPS có một số quy định cụ thể nhằm bảo đảm các chứng cứ được cung cấp đầy đủ và chính xác nhất góp phần giải quyết đúng đắn vụ án Nghĩa vụ

Trang 34

cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về các bên đương sự, tuy nhiên trong truờng hợp chứng cứ mà một bên đưa ra đủ biện minh cho yêu cầu và chỉ ra những chứng cứ thích hợp để biện minh cho các yêu cầu đó của mình song lại đang nằm dưới sự kiểm soát của phía bên kia thì các cơ quan có thẩm quyền xét

xử có quyền ra lệnh cho bên kia đưa ra chứng cứ đó Mặt khác các bên phải tuân thủ những điều kiện bảo đảm việc nhận biết và bảo hộ thông tin mật trong những trường hợp cần thiết Trong hoạt động kinh doanh thương mại nói chung và nói riêng đối với một số đối tượng SHCN nhất định, việc bảo mật thông tin là điều tối quan trọng, nó ảnh hưởng đến uy tín, danh dự cũng như thiệt hại về kinh tế đối với một số tổ chức, cá nhân Vì vậy, toà án phải đảm bảo nguyên tắc xét xử công khai song không vì thế mà để các đương sự và người có thẩm quyền lợi dụng việc khai thác thông tin bí mật để gây khó khăn cho các chủ thể nắm giữ các thông tin bí mật đó Với quy định này các hành vi cố tình che giấu những chứng cứ bất lợi cho mình của một bên đương sự sẽ bị ngăn chặn Hơn thế nữa,

nó bảo đảm cho quá trình thực thi đạt hiệu quả tối đa cho dù một chủ thể khó khăn trong việc tìm kiếm những chứng cứ liên quan có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án khi biết chắc chắn những chứng cứ đó đang nằm trong sự kiểm soát của phía bên kia Hiệp định cũng chỉ ra hậu quả của các bên tham gia tố tụng tự

ý và không có lý do xác đáng từ chối không cho tiếp cận thông tin, không cung cấp thông tin trong một thời hạn hợp lý, hoặc gây trở ngại cho đáng kể cho thủ tục tố tụng liên quan đến việc thực thi quyền, thì một thành viên có thể cho các

cơ quan xét xử được quyền ra quyết định tạm thời và quyết định cuối cùng, khẳng định hoặc phủ định, dựa trên cơ sở những thông tin được đệ trình, kể cả đơn tố cáo hoặc đơn kiện của bên chịu bất lợi vì bị từ chối không được tiếp cận

Trang 35

thông tin Tuy nhiên, các bên cũng phải được tạo cơ hội trình bày ý kiến về lý lẽ hoặc chứng cứ đã đưa ra

Hiệp định cũng quy định về quyền được thông tin của chủ thể quyền11 Cơ quan xét xử có quyền buộc người xâm phạm phải thông tin cho chủ thể quyền biết về những người tham gia vào việc sản xuất hoặc phân phối hàng hoá hoặc dịch vụ xâm phạm và về kênh phân phối của những người đó

* Các biện pháp chế tài dân sự

Tuỳ theo tính chất, nội dung và mức độ xâm phạm quyền, người nắm giữ quyền có thể yêu cầu toà án áp dụng một số biện pháp xử lý như:

- Buộc bên có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi đó Hiệp định TRIPS cho phép các cơ quan xét xử trong phạm vi quyền hạn của mình ngăn chặn các hàng hoá vi phạm thâm nhập vào các kênh thương mại nếu hàng hoá đó

đã được nhập khẩu và hoàn tất thủ tục hải quan12

.Tuy nhiên có một số ngoại lệ cho phép các thành viên không có nghĩa vụ phải quy định thẩm quyền này đối với những đối tượng được bảo hộ do một người tiếp nhận hoặc đặt hàng trước khi biết hoặc có căn cứ để biết rằng kinh doanh đối tượng đó sẽ dẫn đến việc xâm phạm quyền SHCN Một ngoại lệ khác cũng được áp dụng đối với các hành

vi vi phạm không cố ý và được phép sử dụng bởi Chính phủ hoặc những người được Chính phủ cho phép, các quốc gia có thể giới hạn những biện pháp chế tài theo quy định đối với việc sử dụng đó trong việc trả thù lao theo quy định của hiệp định13

- Cơ quan xét xử khi giải quyết tranh chấp liên quan đến SHCN có thể đưa

ra các phán quyết buộc người xâm phạm phải đền bù thiệt hại, trong đó có khoản

11 Điều 47 Hiệp định TRIPS

12 Khoản 1, điều 44, Hiệp định TRIPS

13

Trang 36

đền bù cho những thiệt hại mà chủ sở hữu quyền phải gánh chịu do hành vi xâm phạm gây ra, kể cả lợi nhuận đáng lẽ thu được Ngoài ra, người xâm phạm (bị đơn) còn phải chịu khoản phí tổn cho vụ kiện bao gồm cả các chi phí tham gia

vụ kiện cũng như các chi phí hợp lý để thuê người đại diện14 Trong một số trường hợp, các cơ quan xét xử có quyền ra lệnh thu hồi các khoản lợi nhuận hay đền bù thiệt hại đã ấn định trước, kể cả trường hợp người xâm phạm đã thực hiện hành vi vi phạm khi không biết hoặc không có căn cứ để biết điều đó

- Nhằm mục đích ngăn chặn một cách hữu hiệu các hành vi xâm phạm, và tránh gây bất cứ thiệt hại nào cho bên chủ thể quyền, các cơ quan xét xử có quyền ra lệnh xử lý ngoài kênh thương mại những hàng hoá bị coi là xâm phạm, các vật liệu và phương tiện phục vụ cho việc sản xuất hàng hoá đó kể cả việc tiêu huỷ, tịch thu mà không phải bồi thường dưới bất kỳ hình thức nào, trừ khi việc tiêu huỷ đó trái với quy định của hiến pháp hiện hành Việc xử lý triệt để từ hàng hoá vi phạm cho đến các vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất hàng hoá đó nhằm mục đích giảm thiểu các hành vi vi phạm tiếp diễn Tuy nhiên các cơ quan xét xử cũng phải chú ý đến mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm và lợi ích của bên thứ ba để đưa ra các biện pháp chế tài tương xứng15

- Trong thủ tục tố tụng dân sự nói chung, việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời giữ một vai trò rất quan trọng, nó không những ngăn chặn được các hành vi vi phạm tiếp diễn mà còn có tác dụng trong việc giải quyết các tranh chấp Hầu hết pháp luật các quốc gia đều ghi nhận việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời Hiệp định TRIPS cũng cho phép các cơ quan xét xử của các quốc gia thành viên áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời trong một số trường hợp sau:

Trang 37

+ Nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền SHCN, đặc biệt ngăn chặn hàng hoá nhập khẩu vào các kênh thương mại ngay sau khi hoàn tất thủ tục hải quan,

quyền, đề phòng tình trạng tẩu tán, tiêu huỷ tang vật xâm phạm, tài sản dùng để thi hành lệnh xử lý hoặc bồi thường thiệt hại

Có rất nhiều các biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được áp dụng như tạm giữ hàng hoá, lục soát nơi tàng trữ hàng hoá, tạm thời niêm phong thiết bị, phương tiện rõ ràng

là được dùng để thực hiện hành vi xâm phạm, thậm chí có thể tạm thời phong toả tài khoản của bị đơn nhằm bảo đảm tài chính để khắc phục hậu quả và đền bù thiệt hại Hiệp định TRIPS cũng cho phép các cơ quan xét xử tạm giữ hàng hoá, sản phẩm bị coi

là xâm phạm, kể cả các hàng hoá nhập khẩu đã hoàn tất thủ tục hải quan, khi có căn cứ nghi ngờ bên xâm phạm có thể tẩu tán hoặc tiêu huỷ chứng cứ vi phạm, đặc biệt nếu có căn cứ cho rằng bất cứ một sự chậm trễ nào cũng có nguy cơ gây ra hậu quả không khắc phục được cho chủ thể quyền 16 Trong trường hợp này, các cơ quan xét xử có quyền ra lệnh áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi nghe ý kiến trình bày của bị đơn Tuy nhiên, bên bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải được thông báo về việc áp dụng biện pháp đó, chậm nhất là ngay sau khi biện pháp được thi hành Sau khi được thông báo, bị đơn có thể yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền xem xét lại các biện pháp đã được áp dụng Lúc này, các cơ quan có thẩm quyền sẽ nghe bị đơn trình bày ý kiến để đi đến quyết định giữ nguyên hay sửa đổi, huỷ bỏ biện pháp đó Nguyên đơn, người yêu cầu toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời phải có nghĩa vụ cung cấp các chứng cứ chứng minh một cách thuyết phục mình là chủ thể quyền và quyền đó đang bị xâm phạm Thông thường, nguyên đơn sẽ phải nộp khoản bảo đảm hoặc bảo chứng tương đương đủ để bảo vệ bị đơn và ngăn chặn sự lạm dụng Các cơ quan sẽ thi hành các biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng có thể yêu cầu nguyên đơn cung cấp các thông tin cần thiết khác để xác định các hàng hoá liên quan Trong

16

Ngày đăng: 20/10/2018, 17:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm