Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về kuyến khích đầu tư như sau: Khuyến khích đầu tư là hệ thống các chính sách, biện pháp ưu đãi đầu tư của Nhà nước nhằm thu hút vốn đầu tư c
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo bộ tư pháp
trường đại học luật hà nội
Trang 2Mục lục
Trang
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp
1.1 Sự cần thiết của pháp luật khuyến khích đầu tư 4
1.2 Khái niệm về khuyến khích đầu tư và pháp luật khuyến
1.3 Vai trò của pháp luật khuyến khích đầu tư 10
1.4 Quá trình phát triển của các quy định pháp luật về
1.5 Khuyến khích đầu tư ở một số nước trên thế giới 18
2.1 Thực trạng pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp
2.2 Thực trạng pháp luật về khuyến khích đầu tư trong nước 36
2.3
Xu hướng xích lại gần nhau giữa pháp luật khuyến
khích đầu tư trong nước và pháp luật khuyến khích đầu
tư nước ngoài
48
pháp luật về khuyến khích đầu tư 57
3.1 Các nguyên tắc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về khuyến
3.2 Phương hướng và các giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp
Trang 31 Các chữ viết tắt tiếng Việt Nam
Điều lệ ĐTNN năm 1977 Điều lệ về đầu tư của nước ngoài ở nước cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP, ngày 8/4/1977
Luật ĐTNN năm 1987 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, ban hành
ngày 29/12/1987 Luật ĐTNN năm 1990 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam, ban hành ngày 30/6/1990 Luật ĐTNN năm 1992 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam, ban hành ngày 23/12/1992 Luật ĐTNN năm 1996 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, ban hành
ngày 12/11/1996 Luật ĐTNN năm 2000 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam, ban hành ngày 9/6/2000
2 Các chữ viết tắt tiếng Anh
AFTA ASEAN Free Trade Area - Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
ASEAN Association of Southeast Asian Nations - Hiệp hội
các quốc gia Đông Nam á
Kinh doanh - Chuyển giao)
Chuyển giao - Kinh doanh)
CEPT Common Effective Preferential Tariff (ASEAN) -
Thoả thuận về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung
UNCTAD United Nations Conference on Trade and
Development - Diễn đàn của Liên Hợp quốc về
thương mại và phát triển
Trang 4Lời nói đầu
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) nền kinh tế nước ta từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế Sự đa dạng của các loại hình sở hữu, sự tự do kinh doanh của các chủ thể cũng như xu thế hội nhập kinh tế thế giới làm cho việc khuyến khích đầu tư trở thành vấn đề tất yếu Nó khơi dậy những tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước Đảng và Nhà nước ta chủ trương tranh thủ vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý của các nhà đầu tư trong và ngoài nước để
đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển doanh nghiệp Để tạo ra sự bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài theo nguyên tắc không phân biệt đối xử, nhiều quy định pháp lý đã được xây dựng
và không ngừng được hoàn thiện
Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1987 đã được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung bốn lần (năm 1990,1992,1996,2000) Những quy định pháp lý về khuyến khích đầu tư đã được ghi nhận trong đạo luật này Chính phủ cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp quy, hướng dẫn chi tiết thi hành Luật hoặc quy định những vấn đề mới phát sinh về ĐTNN Có thể nói trong hơn 17 năm thi hành Luật ĐTNN, những nguồn vốn quan trọng đã được huy động cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần khai thác và nâng cao hiệu quả nguồn vốn trong nước Luật ĐTNN đã chú trọng đến một số điều chỉnh căn bản theo hướng phù hợp với một nền kinh tế mở, với xu thế của tình hình mới, đảm bảo lợi ích kinh tế - xã hội của nước ta và được các nhà ĐTNN đánh giá cao
Luật Khuyến khích ĐTTN (1994) đã quy định hệ thống các điều kiện, thang bậc ưu đãi đầu tư trong nhiều lĩnh vực Các biện pháp khuyến khích đầu tư cũng được quy định trong Luật Khuyến khích ĐTTN và các văn bản hướng dẫn thi hành với mức độ khác với ĐTNN Trong những năm gần đây, mức độ khác nhau về khuyến khích đầu tư giữa ĐTNN và ĐTTN đã được giảm dần Tuy nhiên cho đến nay, nhìn chung pháp luật khuyến khích đầu tư vẫn còn thiếu tính đồng bộ, ổn định và cụ thể, thậm chí có những quy định còn mâu thuẫn nhau, dẫn đến tình trạng phân biệt đối xử giữa ĐTTN và ĐTNN Trong khi đó, chính sách nhất quán thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam đã
được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng “Tiếp tục
chính sách mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế để phát triển” [7, tr.330].
Trang 5Trong bối cảnh hiện nay, việc làm sáng tỏ thực trạng của pháp luật khuyến khích đầu tư để từ đó tìm ra lộ trình xây dựng các quy định pháp luật
áp dụng chung cho cả ĐTNN và ĐTTN là một vấn đề rất bức xúc và thiết thực
ở Việt Nam Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật về khuyến
khích đầu tư ở Việt Nam” mang tính cấp thiết, không những về lý luận, mà
còn là đòi hỏi của thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của các loại hình khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước ở Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu
về pháp luật đầu tư như: Luận án tiến sĩ của Lê Mạnh Tuấn (1996) về “Cơ sở
khoa học của việc hoàn thiện khung pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ của Hoàng Phước Hiệp (1996) về “Cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam”, Luận
án tiến sĩ của Nguyễn Khắc Định (2003) về “Hoàn thiện pháp luật về đầu tư
trực tiếp nước ngoài trong xu hướng nhất thể hoá pháp luật về đầu tư ở Việt Nam” cùng nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu đăng trên các tạp chí Luật
học, Nghiên cứu kinh tế cũng đã đề cập tới pháp luật về đầu tư ở Việt Nam dưới nhiều giác độ khác nhau Một số giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Ngoại thương, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế quốc dân cũng có những chuyên đề về pháp luật đầu tư
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập đến khía cạnh cơ chế điều chỉnh pháp luật ĐTNN, pháp luật ĐTNN hoặc quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện nội dung hoàn thiện pháp luật khuyến khích đầu tư ở Việt Nam để tiến tới thống nhất một mặt bằng pháp luật khuyến khích đầu tư áp dụng chung cho cả ĐTTN và ĐTNN
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài này tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về khuyến khích
ĐTTN và ĐTNN để làm rõ thực trạng và kiến nghị phương hướng hoàn thiện theo xu hướng thống nhất sự điều chỉnh pháp luật khuyến khích đầu tư áp dụng chung cho cả ĐTTN và ĐTNN trong điều kiện hội nhập kinh tế, quốc tế,
có tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn sử dụng phương pháp luận nghiên cứu khoa học là biện chứng duy vật của triết học Mác-Lênin Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ thể là: phân tích, tổng hợp, so sánh, dự báo, hệ thống hoá, khái quát
Trang 6hoá, trừu tượng hoá để nghiên cứu những vấn đề khuyến khích ĐTTN,
ĐTNN ở Việt Nam
5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là trên cơ sở nghiên cứu một cách có
hệ thống nội dung hoàn thiện pháp luật khuyến khích đầu tư ở Việt Nam làm
rõ cơ sở lý luận của việc khuyến khích đầu tư và yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về khuyến khích đầu tư, đưa ra các kiến nghị, phương hướng, nhằm
đưa các quy định của pháp luật về khuyến khích ĐTNN xích lại gần với pháp luật khuyến khích ĐTTN, tạo thế chủ động trong hội nhập quốc tế, đưa ra giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, hoàn thiện pháp luật tiến tới xây dựng một
đạo luật áp dụng chung cho cả ĐTTN và ĐTNN
Để đạt được mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ các khái niệm: khuyến khích đầu tư và pháp luật khuyến khích đầu tư, đặc điểm và vai trò vị trí của nó trong hệ thống pháp luật Việt Nam
- Phân tích, làm rõ sự thực trạng của pháp luật khuyến khích ĐTTN,
ĐTNN, đánh giá về ưu điểm và hạn chế của hai lĩnh vực pháp luật này
- Dự báo xu hướng phát triển của pháp luật khuyến khích ĐTTN, ĐTNN
và từ đó đưa ra phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật huyến khích đầu tư ở Việt Nam
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật trong lĩnh vực khuyến khích đầu tư Tác giả cố gắng luận giải một cách đầy đủ các vấn
đề lý luận cơ bản về khuyến khích đầu tư
Luận văn có những kiến nghị có tính khả thi góp phần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật theo xu hướng tiến tới thống nhất sự điều chỉnh pháp luật khuyến khích đầu tư cho cả ĐTTN và ĐTNN, phù hợp với thông lệ quốc tế và đặc thù của Việt Nam
7 Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm 76 trang Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật khuyến khích đầu tư Chương 2: Thực trạng pháp luật về khuyến khích đầu tư ở Việt Nam Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về khuyến
khích đầu tư
Trang 7Chương 1
Những vấn đề lý luận cơ bản
về pháp Luật Khuyến khích đầu tư
1.1 Sự cần thiết của pháp luật khuyến khích đầu tư
1.1 1 Tính tất yếu khách quan của việc khuyến khích đầu tư
Trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới, hoạt động đầu tư nước ngoài xuất hiện từ thế kỷ thứ XVI Các nhà tư bản trên thế giới đã tích luỹ tư bản và tiến hành đầu tư vốn vào các nước đang phát triển để mở các đồn điền, khai thác khoáng sản, nguồn lao động để kiếm lời Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì hoạt động đầu tư càng có phạm vi, quy mô lớn hơn với những hình thức đầu tư đa dạng và phong phú hơn Tuy nhiên, ở những năm cuối của thế kỷ XVI, số nhà tư bản tích luỹ tư bản và đầu tư phát triển nguồn tư bản chỉ chiếm một phần rất nhỏ, trong khi đó các quốc gia có nhu cầu thu hút đầu tư lại rất nhiều, đặc biệt là các nước Châu á, Châu phi và Mỹ La tinh Điều đó đã
đặt ra cho các nhà đầu tư tư bản đứng trước nhiều sự lựa chọn đầu tư Sự lựa chọn dựa trên các tiêu chí rất khác nhau phụ thuộc vào lĩnh vực đầu tư, nguồn vốn đầu tư, những điều kiện kinh tế - xã hội - chính trị của quốc gia đang thu hút đầu tư, song mục đích cuối cùng mà nhà tư bản muốn có là việc đầu tư vốn của mình vào quốc gia nào, khu vực nào thì kiếm được lợi nhuận cao nhất Rõ ràng giữa bối cảnh “nguồn vốn thì ít mà địa bàn, khu vực đầu tư lại rất nhiều”
đã đặt các quốc gia đang cần nguồn vốn đầu tư phải “cạnh tranh” lẫn nhau để
có thể “lôi kéo” được các nhà đầu tư về phía mình Để có thể cạnh tranh trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư, các quốc gia đang cần sự đầu tư phải “làm nổi bật” mình bằng các chiến lược, biện pháp để thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư Và đương nhiên, nhà đầu tư sẽ quyết định đầu tư vào quốc gia nào “hấp dẫn” mình nhất
Ngày nay, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang ngày càng phát triển, một điều tưởng như nghịch lý nhưng lại rất thống nhất là hầu hết các nước
đang phát triển đang rất thiếu vốn nhưng lại có rất nhiều nguồn lực để phát triển; trong khi đó, các nước phát triển có nguồn tư bản rất dồi dào nhưng các tiềm năng để phát triển hoạt động đầu tư lại không phong phú bằng các nước
đang phát triển Những điều mâu thuẫn ấy đã gặp nhau ở một điểm là hoạt
động “đầu tư”: các nước phát triển tiến hành việc đầu tư còn các nước đang phát triển cần phải thu hút đầu tư
Trang 8Việt Nam, ngoài đặc điểm chung của một quốc gia đang phát triển, còn
có những đặc thù riêng của một nước đã phải trải qua nhiều năm chiến tranh
ác liệt Nền kinh tế sau chiến tranh manh mún và lạc hậu, trong khi đó hoạt
động quản lý nhà nước lại vấp phải những thiếu sót, sai lầm Thời kỳ “tập trung, quan liêu, bao cấp” kéo dài đã làm cho nền kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng Để đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu, Việt Nam cần phải đổi mới không chỉ trong hoạt động quản lý mà trong cả các hoạt động kinh tế - xã hội Đồng thời với việc tranh thủ nguồn nội lực quốc gia, huy động ĐTTN, Việt Nam cần phải tranh thủ vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài
Thu hút đầu tư và khuyến khích đầu tư là một bài toán khó đối với các nhà quản lý Việc đưa ra các chiến lược và các biện pháp nhằm thu hút đầu tư
là hết sức cần thiết, nó không chỉ giải quyết vấn đề trước mắt là đưa Việt Nam thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu mà còn là động lực để đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển và có thể cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, muốn đạt được mục đích thu hút vốn đầu tư, Việt Nam cần phải tạo lập một môi trường đầu tư hấp dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, giữ vững ổn định nền kinh tế vĩ mô, ổn định chính trị và thực hiện cải cách từng bước để hội nhập vào quỹ đạo để phát triển nền kinh tế thế giới Việc đưa
ra các biện pháp khuyến khích đầu tư để thu hút các nhà đầu tư trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam là một tất yếu khách quan
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập quốc tế, đã ký Hiệp định thương mại với Hoa kỳ, hội nhập kinh tế khu vực AFTA, và đang phấn đấu để gia nhập WTO Việc tham gia vào “sân chơi” quốc tế đặt nền kinh tế Việt Nam trước nhiều cơ hội song cũng đứng trước nhiều thách thức Để khẳng định vị thế của mình và tận dụng các cơ hội trong sự hội nhập, trong lĩnh vực thu hút
đầu tư, Việt Nam cần có những biện pháp khuyến khích đầu tư cụ thể, hấp dẫn
và có tính cạnh tranh cao Khuyến khích đầu tư trong tiến trình hội nhập quốc
tế là một nhu cầu khách quan và cần thiết, từng bước tranh thủ vốn đầu tư và
kỹ thuật hiện đại của các nước trên thế giới, huy động tối đa nguồn vốn ĐTTN
đồng thời tạo ra cho các nhà ĐTTN cơ hội tiếp xúc và cạnh tranh với các nhà
Trang 9biện pháp khuyến khích đầu tư bằng pháp luật trong điều kiện phát triển kinh
tế của Việt Nam hiện nay là hoàn toàn cần thiết Sự cần thiết phải quản lý các biện pháp khuyến khích đầu tư bằng pháp luật được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, Các biện pháp khuyến khích đầu tư được đặt ra nhằm mục
đích thu hút các nhà đầu tư đầu tư nguồn vốn của họ vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cụ thể Song, các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư, trong các quan hệ về khuyến khích đầu tư đòi hỏi Nhà nước phải có những biện pháp quản lý phù hợp và hiệu quả Việc hướng các quan hệ trong lĩnh vực
đầu tư theo một trật tự có định hướng, đảm bảo đầy đủ các quyền và lợi ích cho các nhà đầu tư là nội dung quan trọng của quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư Nhà nước không chỉ quản lý hoạt động đầu tư bằng các nghị quyết, chủ trương, đường lối mà cần phải cụ thể hoá các nghị quyết, chủ trương thành pháp luật, đảm bảo một hành lang pháp lý cho hoạt động đầu tư phát triển Nếu không có một hành lang pháp lý cụ thể, Nhà nước không thể phát huy hết quyền lực và vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư
Thứ hai, Đối với hoạt động đầu tư và các biện pháp khuyến khích đầu tư,
pháp luật về đầu tư và khuyến khích đầu tư hình thành trên cơ sở vận động nội tại của các quan hệ đầu tư Nếu như trong thời kỳ quản lý tập trung, các quan hệ
đầu tư diễn ra hết sức tẻ nhạt và theo kiểu cơ chế “xin cho”, các chủ thể đầu tư
là các nhà ĐTTN, nguồn vốn đầu tư rất nhỏ thì trong nền kinh tế thị trường, với một cơ chế thông thoáng, các chủ thể là các nhà ĐTNN xuất hiện, hệ thống các chính sách liên quan đến đầu tư ngày càng cởi mở đã làm cho môi trường đầu tư dần “nóng lên” và ngày càng sôi động Sự cạnh tranh giữa các nhà đầu tư trong một “sân chơi” với những nội dung cạnh tranh phức tạp đòi hỏi các nhà quản lý cần phải có phương tiện để điều khiển các “cuộc chơi” hướng các hoạt
động đầu tư theo định hướng rõ rệt, đảm bảo một môi trường pháp lý bình đẳng
mà ở đó các nhà đầu tư có thể phát huy hết năng lực của mình
Thứ ba, bản chất của các biện pháp khuyến khích đầu tư là Nhà nước
muốn dành cho các nhà đầu tư những chính sách “ưu đãi đặc biệt” để khuyến khích nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư Để các biện pháp khuyến khích đầu tư phát huy được hiệu quả, Nhà nước không thể tuỳ tiện đưa ra các chính sách ưu đãi
và không thể dành sự ưu đãi cho nhà đầu tư này mà không dành ưu đãi cho nhà đầu tư khác Cần phải có chính sách thống nhất và bình đẳng, tạo ra một môi trường cạnh tranh đầu tư lành mạnh và “sòng phẳng” Trong bối cảnh hiện nay, khi chủ thể đầu tư không chỉ là các nhà ĐTTN mà các chủ thể
Trang 10ĐTNN đến từ các quốc gia khác nhau cũng song song tồn tại Việc có sự thống nhất và bình đẳng trong môi trường pháp lý là vô cùng cần thiết Nó không chỉ làm cho thị trường đầu tư của Việt Nam có một sự cạnh tranh sôi
động mà còn đảm bảo cho hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư
có hiệu quả Pháp luật đầu tư và pháp luật khuyến khích đầu tư là mực thước
để phân định và thúc đẩy các hoạt động đầu tư phát triển Sự điều chỉnh các biện pháp khuyến khích đầu tư bằng pháp luật ngoài việc đảm bảo cho các hoạt động đầu tư vận động theo đúng các quy luật khách quan đồng thời bảo
đảm cho các biện pháp khuyến khích đầu tư phát huy được hiệu quả, thu hút, hấp dẫn và tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư Nếu không có sự quản lý các biện pháp khuyến khích đầu tư bằng pháp luật sẽ làm cho môi trường đầu tư trở nên kém hiệu quả, bản thân các biện pháp khuyến khích đầu tư sẽ phản lại tác dụng của nó, Nhà nước sẽ không thể quản lý hoạt động đầu tư ở phương diện đối ngoại, Việt Nam sẽ mất đi vị thế trong thị trường đầu tư đang diễn ra hết sức sôi động, bình đẳng và lành mạnh trên thế giới
1.2 Khái niệm về khuyến khích đầu tư và pháp luật khuyến khích
đầu tư
1.2.1 Khái niệm về khuyến khích đầu tư
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có một khái niệm thống nhất về khuyến khích đầu tư Khái niệm khuyến khích đầu tư được đề cập ở nhiều văn bản khác nhau, ở mỗi ngành nghề khác nhau có những biện pháp khuyến khích
đầu tư khác nhau Trên thế giới, theo định nghĩa của UNCTAD thì “Khuyến
khích đầu tư hay còn gọi là ưu đãi đầu tư là các biện pháp được Chính phủ sử dụng để thu hút đầu tư, hướng các dự án đầu tư vào các ngành, các khu vực cần thiết hoặc ảnh hưởng đến tính chất của đầu tư” Theo một cách tiếp cận
khác, khuyến khích đầu tư là các biện pháp xúc tác rất đa dạng và phong phú
để thu hút đầu tư Các biện pháp khuyến khích đầu tư có thể quy về hai nhóm chính: chính sách thuế khoá (tax policy) và chính sách khác không phải là thuế (non- tax policy) [35, tr 4] Khuyến khích đầu tư hay còn gọi là ưu đãi
đầu tư là một công cụ, chính sách nhằm thu hút đầu tư hoặc định hướng đầu tư theo những mục tiêu phát triển nhất định
Khác với đầu tư nước ngoài, “đầu tư trong nước” là hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam; các nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc người
đầu tư là người Việt Nam định cư ở nước ngoài Trong giai đoạn đầu của nền kinh tế mở, ĐTNN giữ vai trò chủ đạo và đóng một vai trò vô cùng quan trọng
Trang 11trong phát triển kinh tế Nhưng trong nền kinh tế thị trường có sự hội nhập quốc tế, ĐTTN được xác định là nguồn đầu tư đóng vai trò then chốt, quyết
định Bên cạnh nguồn vốn từ bên ngoài có vị trí quan trọng, nguồn vốn trong nước có ý nghĩa quyết định phải được huy động tối đa và đóng vai trò quyết định trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nếu như trong giai đoạn đầu, khi đất nước còn nghèo và chưa phát triển, tỷ lệ vốn
ĐTNN có thể cao, song khi trong toàn bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cùng với quá trình phát triển, tỷ lệ vốn nước ngoài thường thấp hơn so với tổng số vốn trong nước đã huy động và vốn trong nước chiếm vai trò quyết
định” [35, tr.3]
Khẳng định vai trò và ý nghĩa quan trọng của ĐTTN, việc đẩy mạnh các chính sách thu hút ĐTTN trong bối cảnh hội nhập quốc tế và thu hút ĐTNN là vô cùng quan trọng Giống với các biện pháp khuyến khích ĐTNN, các biện pháp khuyến khích ĐTTN cũng nhằm mục đích thu hút các nguồn vốn đầu tư
và huy động nguồn vốn đầu tư của các nhà ĐTTN
Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về kuyến khích đầu tư như sau:
Khuyến khích đầu tư là hệ thống các chính sách, biện pháp ưu đãi đầu tư của Nhà nước nhằm thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước hoặc định hướng đầu tư theo những mục tiêu phát triển nhất định 1.2.2 Khái niệm pháp luật về khuyến khích đầu tư
Khi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực khuyến khích đầu tư dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng với nội dung ngày càng trở nên phức tạp Để đảm bảo cho hoạt động đầu tư và hệ thống các biện pháp, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển theo
định hướng của nhà nước, đảm bảo quyền lợi và sự bình đẳng trong quá trình
đầu tư, các biện pháp khuyến khích đầu tư không thể tồn tại dưới dạng các quan hệ xã hội bình thường mà cần phải có sự điều chỉnh của pháp luật Dưới
sự tác động của các quy phạm pháp luật, Nhà nước quản lý và hướng các hoạt
động đầu tư và ưu đãi đầu tư theo định hướng của mình
Từ sự phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm về pháp luật khuyến khích đầu tư như sau:
Pháp luật khuyến khích đầu tư là hệ thống những quy phạm pháp luật
do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực khuyến khích đầu tư
Trang 12Để đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn ĐTNN, Chính phủ các nước đã sử dụng nhiều công cụ hay các biện pháp huy động vốn đầu tư và thể hiện các biện pháp khuyến khích đầu tư trong các quy định pháp luật, một số nước gọi
là Luật Thúc đẩy đầu tư như: Thái Lan, Đài Loan, Hàn Quốc ở Việt Nam,
để thúc đẩy đầu tư trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, vừa hướng đầu tư vào một số lĩnh vực ưu tiên phát triển, các địa bàn, lĩnh vực khuyến khích đầu tư, các biện pháp khuyến khích đầu tư được quy định ở nhiều văn bản pháp lý khác nhau, phù hợp với từng lĩnh vực đầu tư khác nhau Các quy định này
được ghi nhận từ trong Hiến pháp, nhiều đạo luật và các văn bản dưới luật, thể hiện tập trung nhất là trong Luật ĐTNN, Luật Khuyến khích ĐTTN, các Luật Thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành
Việc quy định địa bàn và lĩnh vực khuyến khích đầu tư có một tầm quan trọng đặc biệt, nó sẽ định hướng các dự án đầu tư theo mục đích và chính sách
đầu tư của Nhà nước Trên cơ sở đó các biện pháp khuyến khích được xác lập gồm có:
- Các chính sách ưu đãi về thuế;
- Các chính sách ưu đãi trong việc sử dụng đất trong quá trình đầu tư, sản xuất, kinh doanh;
- Các chính sách ưu đãi trong hoạt động xuất, nhập khẩu, hải quan;
- Các chính sách ưu đãi trong việc sử dụng nguồn lao động,
Ngoài các biện pháp ưu đãi đặc biệt trong các lĩnh vực nêu trên, Nhà nước còn đưa ra các biện pháp bảo đảm đầu tư trực tiếp nước ngoài như:
- Bảo đảm đối xử công bằng và thoả đáng đối với các nhà ĐTNN, bảo
đảm nguồn vốn và tài sản đầu tư không bị trưng dụng hoặc tịch thu bằng biện pháp hành chính, doanh nghiệp có vốn ĐTNN không bị quốc hữu hoá, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà ĐTNN trong hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam
- Các bảo đảm khi pháp luật Việt Nam có thay đổi làm thiệt hại đến lợi ích của nhà đầu tư
Các biện pháp bảo đảm đầu tư có ý nghĩa đặc biệt đối với các nhà đầu tư,
nó tác động đến tâm lý và ảnh hướng trực tiếp đến việc quyết định đầu tư Các biện pháp bảo đảm đầu tư chính là biện pháp có hiệu quả để thu hút đầu tư Nếu khuyến khích đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích mà các nhà đầu tư
được hưởng thì các biện pháp bảo đảm đầu tư giúp các nhà đầu tư an tâm và tin tưởng vào các chính sách thu hút đầu tư
Trang 131.3 Vai trò của pháp luật về khuyến khích đầu tư
Pháp luật khuyến khích đầu tư có ý nghĩa và tầm quan trong đặc biệt trong việc tạo cơ sở cho việc xác lập những nguyên tắc pháp lý cơ bản đảm bảo cho sự vận hành của hoạt động đầu tư nhằm thu hút và huy động nguồn vốn đầu tư đang rất dồi dào trong các nhà đầu tư:
1.3.1 Pháp luật khuyến khích đầu tư có vai trò tăng cường khả năng cạnh tranh và thu hút vốn đầu tư
Trong bối cảnh nền kinh tế quốc tế và nền kinh tế khu vực đang ngày càng phát triển và xích lại gần nhau hơn, tốc độ công nghiệp hoá và chuyên môn hoá ngày càng cao Trong hành trang quốc tế hoá, mỗi quốc gia có những thế mạnh riêng của mình, các quốc gia có nguồn tư bản dồi dào muốn mang nguồn vốn của mình đầu tư, sản xuất, kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận Các quốc gia thiếu vốn có nhu cầu thu hút vốn đầu tư để phát triển nền kinh tế Để thu hút nguồn vốn đầu tư ngày càng nhiều, việc đưa ra các chính sách và các biện pháp khuyến khích đầu tư là một tất yếu khách quan Qúa trình thu hút vốn ĐTNN là “sân chơi” cho các quốc gia đang có nhu cầu tìm kiếm nguồn vốn đầu tư Trong “sân chơi” đó có một sự cạnh tranh thường xuyên liên tục Thực tế, nhà đầu tư với mục đích cuối cùng rất rõ ràng là lợi nhuận, việc lựa chọn và quyết định địa bàn và lĩnh vực đầu tư là một sự “tính toán” rất kỹ lưỡng Trong sự “tính toán” đó, nhà đầu tư hết sức để ý đến các chính sách và các biện pháp thu hút đầu tư Quốc gia nào có các biện pháp khuyến khích đầu tư hợp lý, hiệu quả và “hấp dẫn nhất” sẽ thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư hơn Sự cụ thể hoá các biện pháp khuyến khích đầu tư trong các quy định pháp luật tạo cho nhà đầu tư tâm ý ổn định, tin tưởng vào các chính sách thu hút
đầu tư của các nước nói chung và Việt Nam nói riêng, làm tăng khả năng cạnh tranh và thu hút vốn của các nước đang cần thu hút đầu tư trong quá trình thu hút vốn đầu tư
1.3.2 Pháp luật khuyến khích đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong việc
Trang 14thuận lợi, nhà đầu tư sẽ không bao giờ lựa chọn đầu tư vào các địa bàn, lĩnh vực đầu tư mà họ biết chắc chắn rằng họ sẽ gặp khó khăn hoặc không thu
được lợi nhuận Các biện pháp khuyến khích đầu tư đối với các địa bàn, lĩnh vực khó khăn sẽ khích lệ các nhà đầu tư đầu tư mạnh dạn bỏ vốn đầu tư Tạo
ra một sự cân bằng giữa các địa bàn, lĩnh vực đầu tư không chỉ thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư vào các địa bàn, lĩnh vực khó khăn mà còn giúp cho hoạt động phát triển đầu tư theo đúng định hướng của Nhà nước, từng bước xoá bỏ sự chênh lệch giữa các vùng, miền, lĩnh vực đầu tư, đảm bảo cho quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước ngày càng nhanh, mạnh và vững chắc
1.3.3 Pháp luật khuyến khích đầu tư góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của nhà đầu tư
Pháp luật về các biện pháp khuyến khích đầu tư ra đời là do yêu cầu của việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư, đó là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư Pháp luật về các biện pháp khuyến khích đầu tư cũng tác động trở lại làm cho việc khuyến khích đầu tư phát sinh, phát triển theo hướng có lợi
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo chỉ có thể mang lại kết quả khi pháp luật nói chung và pháp luật về các biện pháp khuyến khích đầu tư nói riêng phản ánh đúng các quy luật kinh tế khách quan trong
điều kiện mới của nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước ở đây, pháp luật đóng vai trò chủ yếu là
đảm bảo cho công cuộc đổi mới không thể đảo ngược, bởi lẽ, khi pháp luật phản ánh đúng đòi hỏi của xã hội, sẽ làm cho các quan hệ xã hội mới xuất hiện và được củng cố một cách vững chắc Vai trò của pháp luật có ý nghĩa rất lớn đối với sự thành bại của công cuộc đổi mới Ngược lại, sự thành công của công cuộc đổi mới gắn liền với sự đổi mới của bản thân hệ thống pháp luật Chính sự đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo tiền đề cho sự “cởi trói”, thúc đẩy các quan hệ kinh tế mới phát triển Pháp luật về các biện pháp khuyến khích đầu tư bên cạnh vai trò thúc đẩy và thu hút đầu tư đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả đầu tư:
Thứ nhất, pháp luật về các biện pháp khuyến khích đầu tư tạo cơ sở cho
việc xác lập các nguyên tắc pháp lý cơ bản đảm bảo cho sự vận hành hoạt
động đầu tư của nhà đầu tư có hiệu quả Trong nền kinh tế thị trường, để thúc
đẩy và thu hút đầu tư, không thể bỏ qua các nguyên tắc: khuyến khích cạnh
Trang 15tranh, nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền Khi các nguyên tắc trên được thể chế hoá thành những nguyên tắc pháp lý sẽ trở thành những tiêu chí cho sự lựa chọn hệ thống các giải pháp, công cụ để có thể thúc đẩy và thu hút đầu tư
Thứ hai, pháp luật về các biện pháp khuyến khích đầu tư xác lập một môi
trường pháp lý an toàn, đảm bảo cho các hoạt động đầu tư được điều chỉnh theo một trật tự Đây là vấn đề mang tính quy luật, bởi lẽ quyền lợi và hoạt
động đầu tư của nhà đầu tư chỉ có thể phát triển trong một môi trường chính trị - kinh tế - xã hội ổn định và có đủ độ tin cậy lẫn nhau
Pháp luật nói chung, pháp luật về các biện pháp khuyến khích đầu tư nói riêng là phương tiện có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập môi trường ổn
định mà ở đó mọi chủ thể tham gia quan hệ pháp luật, cụ thể là nhà đầu tư, phải tôn trọng các cam kết và phải chịu trách nhiệm về những hậu quả có thể xảy ra
1.4 Quá trình phát triển của các quy định pháp luật về khuyến khích đầu tư ở Việt Nam
1.4.1 Quá trình phát triển của các quy định pháp luật về khuyến khích đầu tư nước ngoài
Sau khi đất nước thống nhất (1975), nền kinh tế sau chiến tranh bị tàn phá nặng nề, nền sản xuất nhỏ, kém phát triển, lệ thuộc vào bên ngoài rất nhiều Với một thực trạng kinh tế - xã hội như vậy, để thực hiện nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế, Đại hội Đảng lần thứ IV (1976) đã khẳng định
“chủ trương thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường giữa nước ta với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi, tích cực tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợn để nhanh chóng xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội” [2, tr 82] Thực hiện chủ trương đúng
đắn đó, ngày 18/4/1977 Chính phủ đã ra Nghị định số115/CP ban hành Điều
lệ ĐTNN, một văn bản pháp lý nhằm khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Văn bản pháp quy đầu tiên về ĐTNN và khuyến khích ĐTNN
đã thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng, Nhà nước như một tín hiệu “mở cửa” của Việt Nam Theo các quy định tại Điều 1 của Điều lệ ĐTNN năm
1977, Chính phủ Việt Nam “chấp thuận đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và các bên cùng có lợi” [10] không phân biệt chế độ kinh tế - chính
Trang 16trị - xã hội Mục đích khuyến khích đầu tư đã được thể hiện một cách rõ ràng Trong bối cảnh của nền kinh tế kế hoạch, Điều lệ ĐTNN năm 1977 đã làm hình thành một môi trường pháp lý đặc thù của nền kinh tế tự do đối với các doanh nghiệp Điều lệ ĐTNN năm 1977 đã tạo ra khung pháp lý ban đầu cho hoạt động thu hút đầu tư Đây là những tiền đề cho những ý tưởng và là cơ sở cho những bước cải cách sau này Luật ĐTNN năm 1987 cũng đã lấy Điều lệ
đầu tư năm 1977 làm nội dung chính để hoàn thiện các biện pháp khuyến khích đầu tư Tuy nhiên, Điều lệ ĐTNN năm 1977 đã thể chế hoá chính sách quản lý của nền kinh tế bao cấp nên còn thiếu các quy định cụ thể cho việc thi hành các biện pháp khuyến khích đầu tư liên quan đến ngân hàng, lao động,
đất đai, quản lý ngoại tệ do đó chưa tạo được môi trường pháp lý đảm bảo cho một sự đầu tư đồng bộ nên chưa hấp dẫn các nhà đầu tư
Đầu những năm 1980, nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Cụ thể hoá đường lối của Đảng về đẩy mạnh giao lưu quốc tế nhằm thu hút đầu tư, Nghị quyết số 19 của Bộ Chính trị (ngày 17/7/1984) và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá V (ngày 10/12/1984) đã đề ra nhiệm vụ hoàn thiện pháp luật ĐTNN, đặc biệt là pháp luật về khuyến khích đầu tư là phải có chính sách khuyến khích nước ngoài
đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức, nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu Trước tình hình đó, Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã đề ra những chính sách đúng đắn, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng, xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, đưa nền kinh tế nước ta từng bước thoát khỏi khủng hoảng, mở ra công cuộc “đổi mới” toàn diện mọi mặt của đời sống Đi đôi với việc công bố văn bản pháp luật mới về ĐTNN cần có chính sách và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài và Việt kiều vào nước ta để hợp tác kinh doanh Ngày 31/12/1987, Quốc hội đã thông qua Luật ĐTNN tại Việt Nam Trong đạo luật này các biện pháp khuyến khích
đầu tư được cụ thể hoá thành các quy phạm pháp luật, tạo cơ sở pháp lý có giá trị cao cho hoạt động thu hút ĐTNN tại Việt Nam Tuy nhiên, Luật ĐTNN năm 1987 ra đời trong hoàn cảnh khung pháp luật hiện hành chưa có các luật
và quy định về nền kinh tế thị trường, các quy định pháp lý liên quan đến hoạt
động thu hút đầu tư và khuyến khích đầu tư chưa phản ánh đúng các quy luật của nền kinh tế thị trường nên chưa đảm bảo yếu tố cạnh tranh lành mạnh và thực sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư Do vậy các biện pháp khuyến khích
đầu tư trong Luật ĐTNN năm 1987 chưa phát huy hết bản chất, giá trị cũng như hiệu quả của nó
Trang 17Để thực hiện yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật
ĐTNN tại Việt Nam, ngày 30/6/1990 Quốc hội đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ĐTNN năm 1987 Luật ĐTNN năm 1990 đã tuân thủ một số nguyên tắc chủ yếu của nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện thuận lợi để tất cả các thành phần kinh tế trong nước có thể tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện dự án đầu tư Các chủ thể đầu tư có sự cạnh tranh bình
đẳng Các quy định pháp lý liên quan đến các biện pháp khuyến khích đầu tư
đã thúc đẩy và thu hút các nhà đầu tư, cụ thể như các biện pháp bảo đảm đầu tư, các biện pháp miễn thuế trong 4 năm, giảm thuế 50% trong 4 năm tiếp theo, hoàn 100% thuế cho phần lợi tức tái đầu tư Có thể khẳng định, sau khi Luật ĐTNN năm 1990 được ban hành, hoạt động ĐTNN tại Việt Nam đã bước sang một giai đoạn phát triển mới, đánh dấu sự thành công của chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta Với những chính sách thu hút đầu tư hấp dẫn, nhịp độ tăng trưởng của ĐTNN tăng rõ rệt
từ 108 dự án đầu tư với tổng số vốn đầu tư là 635,148 triệu USD tại thời điểm 31/12/1990, chỉ sau 2 năm thực hiện chính sách thu hút đầu tư, số dự án đầu tư tăng lên 197 dự án với tổng số vốn là 2,027 tỷ USD
Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang có sự chuyển biến mạnh mẽ, nhu cầu thu hút đầu tư trên thế giới có sự biến động rất lớn và trở thành một cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia, các chính sách thu hút
đầu tư được đề cập trong Luật ĐTNN năm 1990 đã bắt đầu hấp dẫn các nhà
đầu tư, song thực tiễn hợp tác và thu hút đầu tư cho thấy các biện pháp thu hút
đầu tư của nước ta chưa có sức cạnh tranh cao và chưa thực sự hấp dẫn so với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore và các nước trên thế giới Từ những chuyển biến căn bản như trên, việc phải hoàn thiện các chính sách thu hút và khuyến khích ĐTNN là vô cùng cần thiết, Luật ĐTNN năm
1992 ra đời trong bối cảnh như vậy Ngoài việc bổ sung biện pháp bảo đảm quyền lợi của nhà ĐTNN trong trường hợp pháp luật có thay đổi, Luật ĐTNN năm 1992 còn hoàn thiện các biện pháp khuyến khích đầu tư: nếu như Luật
ĐTNN năm 1990 chỉ áp dụng mức thuế ưu đãi cho xí nghiệp liên doanh 25% thì Luật ĐTNN năm 1992 quy định mức thuế ưu đãi áp dụng cho cả xí nghiệp 100% vốn nước ngoài Luật ĐTNN năm 1992 đã xây dựng các chính sách ưu đãi về thuế, giá thuê đất, giá điện nước và công nhân và cụ thể hoá các chính sách ưu đãi đầu tư Nhưng, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hoá
10%-đang phát triển cao độ, nhu cầu hợp tác và thu hút đầu tư ngày càng cao, các quy định pháp luật về thu hút đầu tư thiếu tính đồng bộ, nhiều văn bản còn
Trang 18chồng chéo, các thủ tục hành chính vẫn còn phức tạp, rườm rà Việc chuẩn hoá các biện pháp khuyến khích đầu tư được thực hiện theo hướng tiếp tục tăng cường thu hút FDI vào những mục tiêu trọng điểm trong chương trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Luật ĐTNN năm 1996 ra đời với mục tiêu minh bạch và chuẩn xác hoá các biện pháp thu hút đầu tư Luật ĐTNN năm 1996 đã quy định cụ thể những lĩnh vực và địa bàn khuyến khích đầu tư, quy định lại việc miễn, giảm thuế lợi tức theo đó, doanh nghiệp có vốn ĐTNN và bên nước ngoài tham gia hợp
đồng hợp tác kinh doanh có thể được miễn thuế lợi tức trong một thời gian tối
đa là 2 năm kể từ khi bắt đầu kinh doanh có lãi và được giảm 50% thuế lợi tức trong một thời gian tối đa 2 năm tiếp theo Trường hợp dự án có nhiều tiêu chuẩn khuyến khích đầu tư, thì được miễn thuế lợi tức trong một thời gian tối
đa 4 năm kể từ khi bắt đầu kinh doanh có lãi và được giảm 50% thuế lợi tức trong một thời gian tối đa là 4 năm tiếp theo Đối với những trường hợp đặc biệt khuyến khích đầu tư, thời gian miễn thuế tối đa là 8 năm Ngoài ra, Luật
ĐTNN năm 1996 còn có quy định giảm tiền thuê đất, miễn thuế nhập khẩu cho các thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng Các biện pháp khuyến khích đầu tư quy định trong Luật ĐTNN năm
1996, về cơ bản đã thu hút và hấp dẫn các nhà đầu tư, đặc biệt là các biện pháp khuyến khích đầu tư đã có tính cạnh tranh cao Song, có một số quy định pháp lý về thu hút đầu tư liên quan đến đất đai, ngân hàng vẫn chưa thực sự
đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư Luật ĐTNN năm 2000 ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu đó, tạo điều kiện xích lại gần nhau hơn giữa các nhà ĐTNN và nhà ĐTTN Ngoài việc cải tiến các chính sách thu hút đầu tư liên quan đến thuế, liên quan đến thủ tục cấp phép đầu tư hoặc cho phép nhà ĐTNN tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh được trực tiếp mua ngoại tệ tại các ngân hàng thương mại để đáp ứng các giao dịch vãng lai và các giao dịch khác, Luật ĐTNN năm 2000 đã từng bước xoá bảo hộ đối với các nhà ĐTTN, tạo ra môi trường pháp lý đầu tư bình đẳng và cạnh tranh
Có thể nói, các biện pháp khuyến khích đầu tư đã từng bước được hoàn thiện để thu hút nguồn vốn trực tiếp nước ngoài quy định trong Luật ĐTNN đã thực sự mang tính hấp dẫn và tính cạnh tranh rất cao, đã từng bước tạo thế chủ
động trong tiến trình hội nhập và đảm bảo các cam kết quốc tế, làm cho môi trường kinh doanh của Việt Nam trở nên thông thoáng, bình đẳng và thực sự
có uy tín đối với các nhà ĐTNN
Trang 191.4.2 Qúa trình phát triển của các quy định pháp luật về khuyến khích đầu tư trong nước
So với pháp luật về các biện pháp khuyến khích ĐTNN, pháp luật về các biện pháp khuyến khích ĐTTN ra đời muộn hơn, tuy nhiên nó đã phản ánh rõ chính sách huy động nguồn vốn ĐTTN và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực rất dồi dào ở Việt Nam Thực tế cho thấy Việt Nam là nước có nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên rất lớn, nhưng việc sử dụng nguồn lực này vẫn chưa thật hiệu quả Vì vậy, cần phải có những biện pháp khuyến khích nhằm tăng cường hoạt động đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế Việc phát huy nội lực trong nước để khai thác có hiệu quả những tiềm năng sẵn có là những vấn đề cần được chú trọng Với tinh thần đó, Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp
hành trung ương Đảng khoá VIII đã nhấn mạnh quan điểm “huy động mọi
nguồn lực, đặc biệt là phát huy tối đa mọi nguồn lực trong nước nhằm góp phần phát triển kinh tế, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” [6, tr 85] Đảng và Nhà nước ta đã khuyến khích các thành phần kinh
tế đầu tư vào phát triển kinh tế Ngày 22/6/1994, Quốc hội đã thông qua Luật Khuyến khích ĐTTN Đây là văn bản pháp lý điều chỉnh việc khuyến khích
ĐTTN, tạo động lực thúc đẩy các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất Tuy nhiên, do môi trường đầu tư chưa thông thoáng, thủ tục đầu tư còn nhiều khó khăn, phức tạp nên kết quả đầu tư còn thấp, mức độ đầu tư chưa cao
Để thúc đẩy các thành phần kinh tế đầu tư vào phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, đổi mới công nghệ, thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng cường hội nhập kinh tế giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới Quốc hội đã thông qua Luật Khuyến khích
ĐTTN sửa đổi vào ngày 20/5/1998
Luật Khuyến khích ĐTTN chủ yếu quy định các biện pháp khuyến khích
đầu tư trong nước Đó là các biện pháp đảm bảo đầu tư, hỗ trợ đầu tư và ưu đãi
đầu tư Bằng những chính sách nhằm đảm bảo về mặt pháp lý và thực tế, những chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng, cùng với các biện pháp hỗ trợ về vốn, mặt bằng sản xuất đối với nhà đầu tư Luật Khuyến khích ĐTTN còn quy
định một số vấn đề như: quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, quản lý nhà nước
về khuyến khích ĐTTN, khen thưởng và xử lý vi phạm
Trang 201.4.3 Mối quan hệ của pháp luật về khuyến khích đầu tư với những ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Trong phạm vi đề tài, luận văn tập trung làm rõ mối quan hệ của pháp luật khuyến khích đầu tư với 2 lĩnh vực luật khác là: pháp luật đất đai và pháp luật về thuế bởi vì đây là những lĩnh vực pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành và phát triển hệ thống các biện pháp khuyến khích đầu tư Trong hệ thống các biện pháp khuyến khích, các đạo luật về thuế và các quy
định về đất đai, có mối quan hệ đặc biệt chặt chẽ, không thể thiếu và trở thành một bộ phận cấu thành rất cơ bản trong chính sách khuyến khích đầu tư Nếu thiếu đi các biện pháp khuyến khích đầu tư trong hai lĩnh vực này, hệ thống các biện pháp khuyến khích đầu tư sẽ mất đi ý nghĩa và không có tính hấp dẫn
đối với các nhà đầu tư
1.4.3.1 Mối quan hệ giữa pháp luật về khuyến khích đầu tư với pháp luật đất đai
Các biện pháp khuyến khích đầu tư liên quan đến đất đai có tính hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư, bởi vì đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích trước mắt cũng như lâu dài của nhà đầu tư Vấn đề đầu tiên và nhạy cảm mà các nhà
đầu tư quan tâm đó chính là mặt bằng dành cho hoạt động đầu tư Hoạt động
đầu tư liên quan đến hàng loạt các vấn đề về đất, như: quyền sử dụng đất, hình thức sử dụng đất, giải phóng mặt bằng, bồi thường, thế chấp quyền sử dụng
đất Ngoài các quy định liên quan đến việc miễn, giảm tiền thuê đất cho nhà
đầu tư khi thực hiện các dự án, bảo đảm quyền sử dụng đất hợp pháp cho nhà
đầu tư, các ưu đãi về thời hạn thuê đất đất đai còn có ảnh hưởng rất lớn đến
vị trí kinh doanh của nhà đầu tư, hoạt động giao thông, vận tải, đi lại, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư Như vậy, các quy định pháp luật về đất đai là một bộ phận cấu thành không thể thiếu và là cơ sở pháp
lý quan trọng trong việc giải quyết các quan hệ phát sinh trong quá trình sử dụng đất của nhà đầu tư Các biện pháp khuyến khích đầu tư sẽ không phát huy đầy đủ hiệu quả nếu thiếu đi các biện pháp khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực sử dụng đất Trong mối quan hệ với pháp luật đất đai, pháp luật về các biện pháp khuyến khích đầu tư có tác động trở lại trong việc cung cấp những
cứ liệu cho việc hoàn thiện một số chế định của Luật Đất đai như các chế định liên quan đến thế chấp quyền sử dụng đất ở các ngân hàng, chế định về quyền
sử dụng đất của doanh nghiệp khi bị phá sản, giải thể Có thể khẳng định rằng, các quy định pháp luật về đất đai có quan hệ chặt chẽ và trở thành một trong những biện pháp khuyến khích đầu tư, xét ở tính chiến lược, có tính hấp dẫn nhất trong hệ thống các biện pháp khuyến khích đầu tư
Trang 211.4.3.2 Mối quan hệ giữa pháp luật về khuyến khích đầu tư với pháp luật thuế
Trong chính sách thu hút và khuyến khích đầu tư của các quốc gia trên thế giới, chính sách thuế rất được các quốc gia coi trọng Điều đó khẳng định vai trò đặc biệt của các đạo luật về thuế trong mối quan hệ với các biện pháp khuyến khích đầu tư Giống như các chính sách thu hút đầu tư liên quan đến
đất đai, các biện pháp khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực thuế có tính hấp dẫn rất lớn đối với các nhà đầu tư, nếu như các biện pháp khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực đất đai hấp dẫn nhà đầu tư ở lợi ích có tính chiến lược lâu dài thì các quy định pháp luật về thuế hấp dẫn trực tiếp các nhà đầu tư Tất nhiên, trong mối quan hệ tổng thể, các biện pháp khuyến khích đầu tư ảnh hưởng đến lợi ích trước mắt và lâu dài và đều được các nhà đầu tư quan tâm rất kỹ khi quyết định đầu tư, song các biện pháp khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực thuế
có tính hấp dẫn ngay tức khắc, mang tính cạnh tranh cao và nhà đầu tư dễ xác
định khi quyết định đầu tư Chính sách thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của nhà đầu tư khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Thuế là một khoản phải chi trả mang tính thường xuyên, ngay cả khi hoạt động sản xuất kinh doanh không hiệu quả Trong mối quan hệ với tổng doanh thu, thuế là một khoản phải trả, vì thế thuế có tính liên quan thường xuyên và là vấn đề
được nhà đầu tư quan tâm trong suốt quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh Chính vì thế, trong mối quan hệ với các biện pháp khuyến khích đầu tư khác, các biện pháp khuyến khích về thuế có một vị trí đặc biệt quan trọng Nếu như thiếu các biện pháp khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực thuế thì hệ thống các biện pháp khuyến khích đầu tư sẽ mất tính cạnh tranh có tính quốc
tế và vì thế hoạt động thu hút đầu tư sẽ trở nên không hiệu quả
1.5 Khuyến khích đầu tư ở một số nước trên thế giới
Đầu tư là một trong những yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế Chính vì thế, thu hút đầu tư và khuyến khích để thu hút đầu tư là nhu cầu tất yếu khách quan không chỉ của các quốc gia đang phát triển
mà của cả các nước phát triển Trong bối cảnh các nền kinh tế được quốc tế hoá ngày càng cao độ, thì thu hút đầu tư ngày càng thể hiện rõ tính chất cạnh tranh rất gay gắt không chỉ ở cấp độ khu vực mà còn mang tính quốc tế rất cao Việc nghiên cứu và tìm hiểu các chính sách thu hút đầu tư của các nước trên thế giới để tìm ra những chính sách thu hút đầu tư có hiệu quả và có thể vận dụng một cách linh hoạt vào bối cảnh của nền kinh tế Việt Nam hiện nay
để thu hút đầu tư là vô cùng cần thiết Có thể thấy hầu hết các nước đều ban
Trang 22hành Luật Khuyến khích đầu tư để thúc đẩy đầu tư trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế Các chính sách thu hút đầu tư của các quốc gia có những định hướng chiến lược rất rõ ràng, cụ thể Luật Khuyến khích đầu tư hoặc các chính sách thu hút đầu tư của các quốc gia quy định rõ các địa bàn, lĩnh vực khuyến khích đầu tư như ở Inđônêxia, Malaysia, Trung quốc, Nhật bản, Đức Trong phạm vi đề tài, luận văn đề cập đến một số chính sách khuyến khích đầu tư của một số quốc gia trong khu vực - là các quốc gia có vị trí tương đối giống Việt Nam, đều là các quốc gia đang phát triển và có nguồn lực phát triển giống Việt Nam Từ đó có thể thấy được sự tương quan trong các chính sách
đầu tư giữa các quốc gia có cùng yếu tố, thấy được những điểm mạnh và những vấn đề cần phải sửa đổi pháp luật liên quan đến các chính sách thu hút
đầu tư của Việt Nam
1.5.1 Khuyến khích đầu tư ở Inđônêxia:
Inđônêxia là quốc gia đang phát triển, nhu cầu về vốn rất cao, vì thế chính sách thu hút đầu tư được Chính phủ Inđônêxia rất coi trọng Hiện nay, liên quan đến hoạt động đầu tư, Inđônêxia ban hành hai luật đầu tư riêng rẽ Luật ĐTNN và Luật ĐTTN Inđônêxia cũng có những định hướng rõ ràng trong chính sách đầu tư, đó là quy định các lĩnh vực thu hút đầu tư trọng điểm Luật ĐTNN của Inđônêxia quy định các lĩnh vực ưu tiên và các biện pháp ưu
đãi chủ yếu; ưu đãi thuế Inđônêxia không có chính sách thu hút đầu tư thống nhất dành cho nhà ĐTNN và nhà ĐTTN, có một sự bảo hộ rất rõ ràng mà Chính phủ Inđônêxia dành cho các nhà ĐTTN Inđônêxia cũng có những chính sách ưu đãi thuế, miễn, giảm thuế cho nhà đầu tư tuy nhiên vẫn có sự
khác biệt về thời hạn miễn, giảm thuế giữa ĐTNN và ĐTNN
1.5.2 Khuyến khích đầu tư ở Malaysia
Theo Luật Khuyến khích ĐTTN năm 1986 Malaysia áp dụng ưu đãi đầu tư đối với ngành công nghiệp mới; sử dụng công nghệ cao; đầu tư vào các địa bàn có điều kiện khó khăn; sử dụng nhiều lao động; hoạt động nghiên cứu và phát triển; tái đầu tư Các biện pháp khuyến khích chủ yếu là miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; cho phép chuyển lỗ; miễn giảm thuế nhập khẩu, thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt
Malaysia quy định chế độ khuyến khích và ưu đãi đầu tư cho từng lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp và du lịch Trong ưu đãi đối với từng ngành, có các biện pháp ưu đãi khuyến khích đầu tư chung, và ưu đãi đầu tư theo mục tiêu
Trang 23Chính phủ Malaysia có những chính sách thu hút đầu tư thống nhất dành cho cả nhà ĐTNN và nhà ĐTTN, tạo được “sân chơi” bình đẳng và mang tính cạnh tranh cao cho các nhà ĐTTN Chính phủ Malaysia có những chính sách
đầu tư rất hấp dẫn cho các nhà đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu phát triển và
đào tạo Có thể thấy đây là một lĩnh vực đang rất được coi trọng ở các quốc gia phát triển Việt Nam có thể tham khảo các chính sách thu hút đầu tư chung
đang được áp dụng ở Malaysia và chính sách thu hút đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu, phát triển và giáo dục đào tạo - một lĩnh vực đầu tư mà Việt Nam
đang có nhiều tiềm năng
1.5.3 Khuyến khích đầu tư ở Thái Lan
Thái Lan có thế mạnh sản xuất hàng xuất khẩu, ứng dụng công nghệ thông tin, vật liệu mới, nuôi trồng, chế biến nông - lâm - hải sản Vì vậy, các biện pháp khuyến khích đầu tư theo Luật Khuyến khích ĐTTN 1977 và sửa
đổi năm 1991 có các biện pháp ưu đãi về thuế; các ưu đãi bổ sung đối với các doanh nghiệp ở những vùng được khuyến khích đầu tư đặc biệt; các ưu đãi bổ sung đối với các xí nghiệp xuất khẩu
Thái Lan cũng đưa ra các lĩnh vực và địa bàn khuyến khích đầu tư, ở Thái Lan, các chính sách ưu đãi để thu hút và khuyến khích đầu tư là thống nhất dành cho cả nhà ĐTTN và nhà ĐTNN Chính phủ có những chính sách thu hút
đầu tư rất rõ ràng và hấp dẫn đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ trong phạm vi kế hoạch phát triển, hỗ trợ đầu tư
Có thể nói, các chính sách đầu tư của các quốc gia cùng khu vực có rất nhiều điểm tương đồng, như đều đưa ra các địa bàn và các lĩnh vực khuyến khích đầu tư, khuyến khích đầu tư nhằm đảm bảo cho hoạt động đầu tư diễn ra theo định hướng và chiến lược của Chính phủ, các biện pháp khuyến khích
đầu tư tập trung chủ yếu vào các biện pháp ưu đãi về thuế Song giữa các quốc gia có những quy định pháp luật rất khác nhau về khuyến khích đầu tư, nếu như ở Malaysia và Thái lan không có sự phân biệt trong chính sách ưu đãi
đầu tư dành cho nhà ĐTNN và nhà ĐTTN thì ở Việt Nam, Inđônêxia lại có sự phân biệt tương đối rõ ràng giữa các nhà đầu tư này Hiện nay, Việt Nam đang trong tiến trình dự thảo Luật Đầu tư, mà trong đó, chính sách ưu đãi và thu hút
đầu tư là thống nhất cho cả nhà ĐTNN và nhà ĐTTN, việc nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm của Thái lan và Malaysia để có thể áp dụng linh hoạt vào Việt Nam là rất cần thiết Đặc biệt, Việt Nam có thể nghiên cứu xem xét một
số lĩnh vực thu hút đầu tư tương đối mới nhưng rất có tiềm năng phát triển ở Việt Nam như lĩnh vực nghiên cứu, phát triển và giáo dục đào tạo, để có những chính sách thu hút đầu tư hợp lý và hấp dẫn
Trang 24Chương 2
Thực trạng pháp luật về khuyến khích đầu tư ở Việt nam
2.1 Thực trạng pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1.1 Các biện pháp khuyến khích đầu tư nước ngoài
a) Lĩnh vực, địa bàn khuyến khích đầu tư
Luật ĐTNN năm 1987 đã cho phép các tổ chức, cá nhân nước ngoài được
đầu tư vào Việt Nam trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Đồng thời, đoạn
2 Điều 3 còn quy định cụ thể những lĩnh vực được khuyến khích đầu tư như:
- Thực hiện các chương trình kinh tế lớn, sản xuất hàng xuất khẩu và
hàng thay thế nhập khẩu
- Sử dụng kỹ thuật cao, công nhân lành nghề, đầu tư theo chiều sâu để
khai thác, tận dụng các khả năng và nâng cao công suất của các cơ sở kinh tế hiện có
- Sử dụng nhiều lao động, nguyên liệu và tài nguyên thiên nhiên sẵn có ở
Việt Nam
- Xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng
- Dịch vụ thu tiền nước ngoài như du lịch, sửa chữa tàu, dịch vụ sân bay,
cảng khẩu và các dịch vụ khác
Luật ĐTNN năm 1996 đã có một bước tiến so với Luật ĐTNN năm 1987
ở chỗ đã quy định cụ thể những lĩnh vực và địa bàn khuyến khích ĐTNN, các lĩnh vực đầu tư có điều kiện, những lĩnh vực và địa bàn không cấp giấy phép
ĐTNN và giao cho Chính phủ quy định các địa bàn khuyến khích đầu tư, ban hành danh mục các dự án khuyến khích, đặc biệt khuyến khích đầu tư, danh mục các lĩnh vực đầu tư có điều kiện, danh mục các lĩnh vực không cấp giấy phép đầu tư Điều 3 Nghị định số 12/CP ngày 18/02/1997 quy định Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các Bộ, ngành và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trình Chính phủ quyết định và cho công bố các loại danh mục đó Như vậy, trong Luật ĐTNN năm 1996, chúng ta vẫn chưa quy định
Trang 25được danh mục các ngành nghề cụ thể cấm đầu tư hoặc đầu tư có điều kiện
Cụ thể hơn, Nghị định số 24/2000/NĐ-CP của Chính Phủ mới công bố chính thức các danh mục khuyến khích đầu tư:
- Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư
- Danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư
- Danh mục địa bàn khuyến khích đầu tư
Nhà nước Việt Nam không khuyến khích các nhà ĐTNN đầu tư tràn lan
mà chỉ khuyến khích đầu tư theo hướng tập trung vào các mục tiêu trọng điểm
là các lĩnh vực, địa bàn ưu tiên góp phần giải quyết sự mất cân đối trong cơ cấu về lĩnh vực, ngành nghề, vùng kinh tế, về cán cân thương mại và cán cân
thanh toán như: Sản xuất hàng xuất khẩu; nuôi trồng chế biến nông, lâm, thuỷ
sản; Sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại, bảo vệ môi trường sinh thái,
đầu tư vào nghiên cứu phát triển; Sử dụng nhiều lao động, chế biến nguyên liệu và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam
Địa bàn khuyến khích đầu tư là địa bàn mà đầu tư tại đó được Chính phủ khuyến khích và cho hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định và trình tự của Luật
Đầu tư
Địa bàn khuyến khích đầu tư bao gồm đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất; Địa bàn đặc biệt khuyến khích đầu tư như: vùng núi, vùng sâu, vùng xa, những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, đặc biệt khó khăn
b) Ưu đãi về thuế
ưu đãi đầu tư là các lợi ích về kinh tế mà Nhà nước dành cho các nhà đầu tư nhằm thu hút họ đầu tư vào các lĩnh vực hoặc địa bàn cần khuyến khích bằng cách làm giảm các chi phí, rủi ro và tăng khả năng thu lợi nhuận của đầu tư Các ưu đãi về thuế là loại ưu đãi được áp dụng rộng rãi nhất trên thế giới, bao gồm các ưu đãi nhằm giảm gánh nặng về thuế cho nhà đầu tư như: miễn, giảm thuế thu nhập công ty; miễn giảm thuế xuất nhập khẩu, cho phép chuyển lỗ; ưu đãi đối với tái đầu tư
Luật Đầu tư năm 1987 đã quy định về các loại thuế một cách hợp lý, vừa
đảm bảo lợi ích của Nhà nước Việt Nam, vừa đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư,
đồng thời có tính hấp dẫn hơn so với các loại thuế tương ứng được ban hành ở các nước trong khu vực
Trang 26Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp (trước ngày 1/1/1999 là thuế lợi tức)
Điều lệ ĐTNN năm 1977 quy định ba mức thuế lợi tức 30%,40%,50% là quá cao so với các nước trong khu vực Luật Đầu tư năm 1987 đã quy định thuế lợi tức đối với xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp có 100% vốn nước ngoài
và bên nước ngoài hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng từ 10% đến 25% lợi nhuận thu được Trên cơ sở quy định này, Nghị định số 139/HĐBT (1988) hướng dẫn thi hành Luật ĐTNN tại Việt Nam đã quy định ba loại: Trường hợp
đặc biệt cần khuyến khích đầu tư áp dụng 10% đến 14% lợi nhuận thu được, trường hợp ưu tiên áp dụng từ 15% đến 20% lợi nhuận thu được, trường hợp phổ thông áp dụng từ 21% đến 25% lợi nhuận thu được
Nghị định số 12/CP ngày 18/2/1997 đã cụ thể hoá mức thuế lợi tức ưu đãi trong các trường hợp khuyến khích đầu tư cũng như đơn giản hoá các tiêu chuẩn được hưởng mức thuế lợi tức ưu đãi Các mức thuế lợi tức ưu đãi gồm
ba mức:10%,15%,20% Các mức thuế lợi tức ưu đãi này được hưởng trong thời gian tương ứng là 10 năm, 12 năm, 15 năm kể từ khi dự án bắt đầu hoạt
động kinh doanh Đối với các dự án đầu tư theo phương thức BOT, BTO, BT, xây dựng kết cấu hạ tầng KCN, KCX và đầu tư vào KCN, KCX , thì các mức thuế lợi tức ưu đãi được áp dụng trong toàn bộ quá trình hoạt động của dự án Nghị định còn quy định cụ thể về thời hạn miễn, giảm thuế lợi tức như sau: các dự án hưởng thuế lợi tức ưu đãi mức 20% được xét miễn thuế 2 năm, giảm 50% trong thời hạn tối đa là 3 năm tiếp theo Các dự án hưởng mức thuế lợi tức 15% được xét miễn thuế 2 năm, giảm 50% trong 4 năm tiếp theo Các dự
án đặc biệt khuyến khích đầu tư được miễn thuế lợi tức 8 năm Nếu so sánh với ĐTTN, thì mức thuế suất lợi tức áp dụng đối với các doanh nghiệp có vốn
ĐTNN thấp hơn so với các doanh nghiệp trong nước: mức thuế suất lợi tức phổ thông áp dụng đối với các doanh nghiệp trong nước là 32%, mức thuế ưu
đãi là 25%
Để khuyến khích kiều bào đầu tư về nước, Luật ĐTNN còn quy định
“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước theo Luật ĐTNN được giảm 20% thuế thu nhập doanh nghiệp so với các dự án cùng loại, trừ trường hợp được hưởng mức thuế là 10%”.[17, tr 34]
Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 1/1/2004 quy định mức thuế suất phổ thông 28% và các mức thuế ưu đãi là 10%, 15%, 20% với thời hạn ưu đãi tương ứng trong 15 năm, 12 năm, 10 năm, cũng như mức miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng chung cho doanh nghiệp
Trang 27trong nước và doanh nghiệp có vốn ĐTNN Luật cũng đã bãi bỏ quy định hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp cho số thu nhập tái đầu tư và thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài quy định tại Điều 42 và Điều 43 của Luật
ĐTNN tại Việt Nam
Nếu so sánh với các nước trên thế giới, với mức thuế suất thuế lợi tức phổ thông áp dụng đối với các doanh nghiệp có vốn ĐTNN ở nước ta là 28% thì thuế suất của Việt Nam vào loại thấp nhất, vì mức thuế suất thu nhập công ty của các nước thường ở khoảng 30% đến 60% Mức thuế suất phổ thông của Việt Nam, cũng như trong các trường hợp miễn, giảm được cọi là hấp dẫn so với các nước trong khu vực: Malaysia: 28%, Thái Lan: 30%, Inđônêxia: thuế thu nhập công ty và thuế thu nhập cá nhân áp dụng chung theo 3 mức (10%
đối với thu nhập dưới 25 triệu Rupi/năm; 15% đối với phần thu nhập từ 25 triệu Rupi đến 50 triệu Rupi/năm; 30% đối với thu nhập trên 50 triệu Rupi/năm), Trung Quốc: 30% ngoài ra còn phải trả thuế thu nhập địa phương
là 3%
Mặt khác, quy định của Việt Nam về hoàn thuế lợi tức trong trường hợp tái đầu tư cũng vào loại hấp dẫn nhất trong khu vực, bởi lẽ: Inđônêxia, Thái Lan không có ưu đãi về tái đầu tư; Malaysia quy định, nếu lợi nhuận được
đem tái đầu tư dưới dạng góp vốn để mở rộng, hiện đại hoá, đa dạng hoá các cơ sở sản xuất trong các lĩnh vực chế tạo sản xuất và công nghiệp, thì có thể
được xem xét miễn, giảm thuế đối với phần lợi nhuận thu được từ tái đầu tư
đó, với điều kiện việc tái đầu tư phải nâng cao được năng suất, công suất của
dự án
Ưu đãi về tái đầu tư
Theo quy định của Nghị định số 24/2000/NĐ-CP, nhà ĐTNN dùng lợi nhuận được chia để tái đầu tư vào những dự án được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp với điều kiện vốn tái đầu tư được sử dụng từ 3 năm trở lên và đã góp đủ vốn pháp định ghi trong giấy phép đầu tư được hoàn lại số thuế lợi tức đã nộp của số lợi nhuận tái đầu tư như sau: 100% đối với các dự
án hưởng thuế suất ưu đãi 10%; 75% đối với các dự án hưởng thuế suất ưu đãi 15% và 50% đối với các dự án hưởng thuế suất ưu đãi là 20%
Malaysia quy định, nếu lợi nhuận đem tái đầu tư dưới dạng góp vốn để
mở rộng và đa dạng hoá các cơ sở sản xuất hiện tại thì thuế đối với phần lợi nhuận đó được miễn Trung Quốc quy định, nếu nhà ĐTNN dùng lợi nhuận
Trang 28thu được mở rộng quy mô sản xuất thông qua việc tăng vốn hoặc thành lập xí nghiệp mới với thời gian hoạt động không dưới 5 năm thì tuỳ thuộc vào địa bàn và tính chất của dự án được hoàn trả tối đa không quá 60% thuế thu nhập công ty đã nộp cho phần lợi nhuận được tái đầu tư đó Inđônêxia, Thái Lan,
ấn Độ không có các ưu đãi về tái đầu tư
Ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu:
Các nhà ĐTNN thường rất quan tâm đến thuế xuất nhập khẩu Bởi vì, các nhà đầu tư thường phải đưa công nghệ, máy móc tạo tài sản cố định, nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất kinh doanh Mặc dù nước ta có nhiều nguyên vật liệu nhưng các nhà đầu tư cũng phải nhập thêm nguyên vật liệu ở các quốc gia khác Hoạt động xuất nhập khẩu của các nhà đầu tư diễn ra thường xuyên và liên quan trực tiếp đến lợi nhuận của họ Thuế xuất nhập khẩu tác động đến giá cả, sức cạnh tranh đối với hàng hoá của họ Cho nên việc quan tâm đến thực hiện chính sách thuế suất nhập khẩu đối với nhà ĐTNN là một trong những nhân tố tạo nên môi trường đầu tư hấp dẫn Để thực hiện mục tiêu của Nhà nước trong thu hút vốn ĐTNN, đặc biệt là thu hút công nghệ tiên tiến của nước đầu tư
Chính sách ưu đãi của Việt Nam trong vấn đề miễn thuế xuất nhập khẩu
về cơ bản là tương đối rộng rãi Về nguyên tắc, tất cả tài sản thuộc vốn đầu tư
được miễn thuế nhập khẩu, cụ thể bao gồm: máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây truyền công nghệ để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp hoặc mở rộng quy mô dự án đầu tư và phương tiện vận chuyển nhập khẩu dùng để đưa đón công nhân Chính phủ quy định việc miễn giảm thuế suất, nhập khẩu đối với các hàng hoá đặc biệt cần khuyến khích đầu tư khác Luật Đầu tư năm 1996 bỏ quy định miễn thuế nhập khẩu đối với vật tư và xe ô tô con
Nghị định số 12/CP ngày 18/2/1997 quy định cụ thể việc miễn thuế nhập khẩu đối với trường hợp mở rộng quy mô dự án, thay thế, đổi mới công nghệ; miễn thuế nhập khẩu đối với các giống cây trồng, giống vật nuôi đặc chủng
được phép nhập khẩu để thực hiện dự án nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp; miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá, vật tư khác dùng cho các dự án
đặc biệt khuyến khích đầu tư theo quyết định của Thủ tướng chính phủ Nếu
so sánh với việc miễn thuế nhập khẩu đối với các nhà ĐTTN, thì quy định trên không ưu đãi hơn, bởi lẽ theo điều 15, 16 Luật Khuyến khích ĐTTN, nhà đầu
Trang 29tư được miễn thuế nhập khẩu đối với các loại hàng hoá sau đây mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đáp ứng được yêu cầu: Thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải nằm trong dây chuyền công nghệ để tạo tài sản cố
định hoặc để mở rộng quy mô đầu tư, đổi mới công nghệ, phương tiện vận chuyển dùng để đưa đón công nhân (ô tô từ 24 chỗ ngồi trở lên, phương tiện tàu thuỷ)
Nhằm khuyến khích thu hút ĐTNN và tháo gỡ khó khăn đối với các dự
án đang hoạt động, Chính phủ đã tiếp tục ban hành nhiều chính sách ưu đãi liên quan đến miễn thuế nhập khẩu đối với các dự án ĐTNN (như Nghị định
số 10/1998/NĐ-CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ); Quyết định số 53/1999/QĐ-TTg ngày 26/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ ) Để nâng cao hiệu lực pháp lý của các biện pháp quan trọng này, Luật ĐTNN năm 2000 đã luật hóa các quy định trên và sửa đổi, bổ sung một số quy định về miễn thuế nhập khẩu như sau:
“Doanh nghiệp có vốn ĐTNN, các bên tham gia hợp động hợp tác kinh doanh được miễn thuế nhập khẩu đối với các hàng nhập khẩu để tạo tài sản
để sản xuất hàng xuất khẩu được miễn thuế nhập khẩu Hàng hoá, vật tư khác dùng cho các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ được miễn thuế nhập khẩu
Hầu hết các nước trong khu vực đều miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu Inđônêxia và Malaysia quy
định hoàn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu Tuy nhiên Malaysia quy định đối với loại nguyên liệu có thuế suất thuế nhập khẩu dưới 3% thì không được xem xét miễn thuế nhập khẩu, Thái Lan quy định miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên vật liệu thiết yếu trong 5 năm cho các dự án đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư và xuất khẩu ít nhất 30% sản phẩm
Trang 30Ưu đãi về thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài:
Luật ĐTNN năm 1987 quy định cụ thể về mức thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài là từ 5% đến 10% số tiền chuyển ra nước ngoài Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 quy định cụ thể hơn: ngoài việc phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, nhà ĐTNN khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài vẫn phải nộp một khoản thuế là 5%,7%,10% số lợi nhuận chuyển ra nước ngoài, tuỳ thuộc vào quy mô góp vốn của nhà ĐTNN vào vốn pháp định của doanh nghiệp
Để cải thiện môi trường đầu tư, Luật ĐTNN năm 2000 đã sửa đổi Điều
43 Luật ĐTNN năm 1996 theo hướng giảm mức thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài xuống các mức 3%, 5%,7% Riêng nhà đầu tư ở KCX, KCN và nhà đầu tư là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì được hưởng mức ưu
đãi là 3%, nhà đầu tư ở các lĩnh vực khám, chữa bệnh, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học chỉ phải nộp tối đa là 5%
Ưu đãi về thuế giá trị gia tăng:
Đây là loại thuế mới chưa được quy định trong Luật ĐTNN năm 1996 Khi Luật Thuế giá trị gia tăng được ban hành, để đảm bảo khuyến khích đưa thiết bị, máy móc vào Việt Nam, đồng thời tránh đánh thuế vào chính nguồn vốn đầu tư của nhà ĐTNN khi họ đưa vào dưới hình thức máy móc, thiết bị Luật ĐTNN quy định: Doanh nghiệp có vốn ĐTNN phải nộp thuế giá trị gia tăng đối với các loại máy móc, thiết bị, vật tư nhập khẩu đồng bộ để tạo tài sản cố định (chỉ được miễn đối với các loại thiết bị, máy móc, phương tiện chuyên dùng trong nước chưa sản xuất được) Quy định này thực chất là đánh thuế vào vốn đầu tư của doanh nghiệp, làm tăng chi phí của doanh nghiệp, trong khi sức hấp dẫn, tính cạnh tranh của môi trường đầu tư ở Việt Nam
đang giảm dần
Để tháo gỡ những vướng mắc về thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp có vốn ĐTNN nhằm khuyến khích đầu tư, Luật Đầu tư năm 2000 đã sửa đổi theo hướng: cho phép thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải nhập khẩu đồng bộ (không phụ thuộc vào việc trong nước sản xuất được hay chưa)
và vật tư trong nước chưa sản xuất được đều là đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng
b) Ưu đãi về chuyển lỗ của doanh nghiệp:
Luật ĐTNN năm 1996 có quy định khuyến khích đối với việc chuyển lỗ của doanh nghiệp nhưng chỉ là khuyến khích đối với doanh nghiệp liên doanh
Trang 31như: cho phép doanh nghiệp liên doanh được chuyển lỗ của bất kỳ năm thuế nào sang năm tiếp theo và được bù lỗ đó bằng lợi nhuận của những năm tiếp theo nhưng không quá 5 năm Quy định đó chưa thật công bằng đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh Vì vậy, Luật Đầu tư năm 2000 đã sửa đổi theo hướng khuyến khích cả hai hình thức khác như: cho phép doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh cũng được hưởng ưu tiên như doanh nghiệp liên doanh hoặc là được chuyển lỗ sang năm tiếp theo và được bù khoản lỗ đó bằng lợi nhuận của những năm tiếp theo, nhưng không quá 5 năm Thời hạn cho phép chuyển lỗ này là mức trung bình trong khu vực, Trung Quốc, Thái Lan quy định cho phép chuyển lỗ tối đa là 5 năm Inđônêxia quy
định cho phép được chuyển lỗ tới 10 năm Đối với các dự án trồng trọt và khai khoáng không thuộc các địa bàn khuyến khích đầu tư chỉ được chuyển lỗ tối
đa là 8 năm Malaysia quy định đối với các dự án hưởng quy chế đầu tư vào lĩnh vực mới từ sau 1/1/1991, được chuyển lỗ vô thời hạn Tuy nhiên, nếu lỗ phát sinh trong thời gian được miễn thuế thì không được chuyển lỗ
c) Ưu đãi trong việc miễn, giảm tiền thuê đất
Việc miễn giảm tiền thuê đất, mặt nước, mặt biển được áp dụng cho các
dự án BOT, BTO, BT; dự án đầu tư vào miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có
điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn theo quy định của Chính phủ
Điều 42 – Nghị định số 12/CP ngày 18/2/1997 quy định: “tiền thuê đất,
mặt nước, mặt biển và việc miễn, giảm tiền thuê đất, mặt nước, mặt biển do Bộ tài chính quy định”
Doanh nghiệp có vốn ĐTNN, các bên hợp doanh được thuê đất với mức giá thấp nhất và được miễn, giảm tối đa các loại thuế trong trường hợp đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân và công trình hạ tầng ngoài hàng rào KCX, KCN Mức giá thuê đất thấp nhất cũng được áp dụng đối với các dự án đầu tư trong các lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học
d) Cho doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được hưởng ưu đãi như doanh nghiệp liên doanh
Trong Luật ĐTNN năm 1987 có sự phân biệt chế độ ưu đãi giữa xí nghiệp liên doanh và xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, trong đó xí nghiệp liên doanh được hưởng ba điều ưu đãi mà xí nghiệp 100% vốn nước ngoài không
được hưởng, đó là: được miễn, giảm thuế trong vài năm đầu (Điều 27,28);
Trang 32trong trường hợp đặc biệt được hưởng khung thuế lợi tức thấp nhất từ 10% đến 15%(Điều 27,28); được chuyển lỗ của năm trước sang các năm sau (Điều 27) Khi ban hành Luật ĐTNN năm 1987, Nhà nước khuyến khích việc thành lập hình thức xí nghiệp liên doanh, vì trong đó có phần góp vốn của bên Việt Nam và chúng ta muốn thông qua hình thức xí nghiệp liên doanh để học hỏi kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường, thông qua bên Việt Nam trong liên doanh để giám sát, kiểm tra hoạt động của xí nghiệp Đến nay chủ trương này vẫn đúng Nhưng thực tiễn thi hành Luật ĐTNN còn cho thấy, trong thời gian
đầu, nhiều nhà ĐTNN muốn thành lập xí nghiệp liên doanh, vì họ chưa quen thị trường Việt Nam, nên muốn thông qua bên Việt Nam trong liên doanh để cùng chia sẻ rủi ro và lo các thủ tục hành chính cần thiết Đến nay, nhiều nhà
ĐTNN, nhất là những người đã quen thị trường Việt Nam và có ý đồ làm ăn lớn, có xu hướng muốn thành lập xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, thì lại không được hưởng những khuyến khích về tài chính như xí nghiệp liên doanh
Họ bị đặt trước tình huống phải cân nhắc Việc xoá bỏ sự phân biệt về ưu đãi tài chính giữa doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
là yêu cầu bức xúc đặt ra
e) Ưu đãi về chính sách sử dụng lao động
Thu hút vốn ĐTNN tạo ra nguồn lực để phát triển kinh tế và tạo việc làm cho người lao động là xu hướng quan trọng không những của Việt Nam mà còn của nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, mỗi quốc gia có những chính sách cụ thể và biện pháp khác nhau Kinh nghiệm chung của các nước là thu hút ĐTNN phải dựa trên cơ sở phát triển sản xuất, tạo việc làm cho người lao
động mới đảm bảo được sự phát triển bền vững ĐTNN đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội đối với các nước đang phát triển ĐTNN có khả năng tạo ra việc làm cho người lao động Hơn thế, ĐTNN không chỉ tạo ra việc làm trực tiếp mà còn tạo ra việc làm gián tiếp Theo điều tra của WB thì mỗi việc làm do ĐTNN trực tiếp tạo ra sẽ tạo thêm cho từ một tới hai việc làm gián tiếp khác Theo Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, các dự án
ĐTNN sử dụng nhiều lao động được khuyến khích, nhất là trong lĩnh vực gia công, chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu như dệt may, giày dép, đầu tư vào KCN, KCX Số lao động trực tiếp trong khu vực ĐTNN đã tăng lên nhanh chóng, trong 4 năm 2001-2004 có khoảng 960 doanh nghiệp ĐTNN đi vào hoạt
động, tạo việc làm cho 36 vạn lao động, đưa tổng số lao động trực tiếp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN lên 76 vạn người Trung bình mỗi năm có 240 doanh nghiệp ĐTNN mới ra đời và tạo ra 9 vạn chỗ làm việc mới[31, tr 2]
Trang 33Qua hợp tác đầu tư, một số lượng đáng kể người lao động đã được đào tạo nâng cao năng lực quản lý, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài Hơn nữa, qua hợp tác đầu tư với nước ngoài, người lao
động Việt Nam đã được đào tạo chuyên môn, nâng cao tay nghề, tiếp thu kỹ năng, công nghệ tiên tiến, rèn luyện tác phong công nghiệp và thích ứng với cơ chế lao động mới
ĐTNN cũng đem lại thu nhập đáng kể cho người lao động, góp phần làm tăng sức mua cho thị trường Lương bình quân của người lao động Việt Nam trong khu vực ĐTNN từ 75 - 80 USD/tháng, cao hơn mức lương bình quân chung ở các doanh nghiệp trong nước
2.1.2 Kết quả của việc thực hiện các quy định pháp luật khuyến khích
đầu tư nước ngoài trong những năm qua ở Việt Nam
Nhờ các quy định về khuyến khích ĐTNN mà hoạt động ĐTNN vào Việt Nam càng ngày càng có những đóng góp quan trọng Từ năm 2000, sau khi Quốc hội thông quan Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật ĐTNN, hệ thống pháp luật chung về khuyến khích đầu tư đã tiếp tục được cải thiện theo hướng đồng bộ, ngày càng thông thoáng và minh bạch hơn Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 quy định chi tiết thi hành Luật ĐTNN tại Việt Nam, Nghị định 27/2003/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số
điều của Nghị định số 24/2000/NĐ-CP, Nghị định số 38/2003/NĐ-CP ngày15/4/2003 về việc chuyển đổi một số doanh nghiệp ĐTNN sang hoạt
động theo hình thức cổ phần Bên cạnh đó, các Bộ, ngành cũng ban hành nhiều văn bản pháp quy quan trọng góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và rào cản cho các nhà đầu tư Những văn bản nêu trên đã góp phần đáng
kể trong việc cải thiện môi trường đầu tư
a) Những thành công trong hoạt động khuyến khích đầu tư nước ngoài
ĐTNN đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, góp phần khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước, tạo ra thế
và lực phát triển mới cho nền kinh tế
Tỷ lệ đóng góp của khu vực ĐTNN trong GDP tiếp tục tăng dần qua các năm: năm 2001 là 13,1%, năm 2002 là 13,9%, năm 2003 là 14,5% và năm
2004 là 14,8% [31, tr 11]
Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN luôn là khu vực kinh tế phát triển năng
động với tốc độ tăng trưởng cao, luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng của cả nước
Trang 34Việc tăng cường thu hút ĐTNN hướng về xuất khẩu đã tạo thuận lợi cho việc tiếp cận và mở rộng thị trường quốc tế, nâng cao năng lực xuất khẩu của Việt Nam
Trong 4 năm (2001-2004), xuất khẩu của khu vực ĐTNN (không kể dầu thô) đạt 23,4 tỷ USD, riêng năm 2004 đạt 8,8 tỷ USD, chiếm 33,3% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước Nếu tính cả xuất khẩu dầu thô thì tỷ lệ trên đạt 50,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Giá trị xuất khẩu/ năm 2001 2002 2003 2004
- Xuất khẩu cả nước (triệu USD) 15.029 16.706 20.176 26.503
- Xuất khẩu của FDI kể cả dầu thô
ĐTNN chủ yếu là do nhập khẩu máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên phụ kiện cho việc hình thành doanh nghiệp và phục vụ sản xuất hàng hoá cho xuất khẩu
và tiêu dùng trong nước
Ngoài ra, khu vực ĐTNN đã góp phần mở rộng thị trường trong nước; thúc đẩy các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ, dịch vụ tư vấn pháp lý, công nghệ, tạo cầu nối cho các doanh nghiệp trong nước tham gia xuất khẩu tại chỗ hoặc tiếp cận với các thị trường quốc tế Việc thu hút ĐTNN đã chú trọng nhiều hơn đến chất lượng phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Năm 2004, khu vực ĐTNN tạo ra 36,2% giá trị sản lượng công nghiệp, góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng công nghiệp cả nước Hiện nay, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN chiếm 100% về khai thác dầu thô, khoảng 60% sản
Trang 35lượng về thép cán, 30% về xi măng, 33% về sản xuất máy móc thiết bị điện,
điện tử, 76% dụng cụ y tế chính xác, 55% về sản lượng sợi các loại, 30% vải các loại, 49% về da giày dép, 18% sản phẩm may, 25% về thực phẩm và đồ uống [31, tr 12]
Đối với các địa bàn trọng điểm (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Long An ) khu vực kinh tế có vốn ĐTNN chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng vốn đầu tư, giá trị sản xuất công nghiệp, xuất khẩu, thu ngân sách, cũng như góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế; nhờ vậy, các địa phương này có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn nhiều so với các nơi khác trong cả nước
ĐTNN đã thúc đẩy hình thành hệ thống các KCN, KCX, góp phần phân
bổ công nghiệp hợp lý, nâng cao hiệu quả đầu tư Ngoài ra, việc thu hút
ĐTNN đã chú trọng kết hợp các dự án công nghệ hiện đại với các dự án thu hút nhiều lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực; qua đó góp phần nâng cao trình độ công nghệ trong nhiều ngành và lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là các lĩnh vực viễn thông, dầu khí, hoá chất, điện tử, tin học, ô tô, xe máy, hệ thống khách sạn hiện đại; giải quyết thêm nhiều việc làm, nâng cao trình độ và kinh nghiệm quản lý kinh doanh hiện đại, góp phần tăng cường liên kết và thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước cải tiến chất lượng, nâng cao khả năng cạnh tranh
b) Những hạn chế trong hoạt động khuyến khích đầu tư nước ngoài
Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, trong hoạt động khuyến khích
ĐTNN tại Việt Nam trong năm qua vẫn còn những hạn chế cần khắc phục:
Pháp luật ĐTNN còn tồn tại sự mâu thuẫn, chồng chéo: Pháp luật ĐTNN
còn nhiều quy định mâu thuẫn, chồng chéo Dưới đây xin nêu ra một số ví dụ: Mâu thuẫn, chồng chéo giữa Luật ĐTNN năm 2000 với Nghị định số 24/2000/NĐ-CP và Quyết định số 176/1999/QĐ-CP về vấn đề miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu, vật tư, linh kiện, bán thành phẩm trong nước chưa sản xuất
được đối với các dự án thuộc điều kiện được miễn thuế nhập khẩu trong 5 năm
kể từ khi đi vào sản xuất cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNN Đối với nguyên liệu, thì cả ba văn bản trên đều cho miễn thuế; đối với vật tư, Luật ĐTNN năm
2000 và quyết định 176 cho miễn thuế, nhưng Nghị định 24 không cho miễn thuế; đối với linh kiện, Luật ĐTNN năm 2000 cho miễn thuế, nhưng Nghị
định 24 và Quyết định 176 không cho miễn thuế; đối với bán thành phẩm, Luật ĐTNN năm 2000 và Nghị định 24 không cho miễn thuế, nhưng Quyết
định 176 lại cho miễn thuế
Trang 36Về thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế giá trị gia tăng quy định chỉ xem xét giảm thuế đối với những cơ sở sản xuất trong những năm đầu áp dụng Luật thuế giá trị gia tăng bị lỗ do số thuế giá trị gia tăng phải nộp lớn hơn so với mức thuế phải nộp trước đây Trong khi đó, Quyết định số 53/1999/QĐ-TTg ngày 26/3/1999 lại bổ sung thêm trường hợp doanh nghiệp có vốn ĐTNN
được tạm chưa phải nộp thuế giá trị gia tăng đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu trong thời hạn chưa phải nộp thuế nhập khẩu
Về thuế thu nhập doanh nghiệp, Thông tư số 13/2001/TT-BTC ngày 8/3/2001 hướng dẫn việc điều chỉnh thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và thời gian miễn, giảm theo Điều 46, 48 Nghị định số 24/2000/NĐ-CP như sau:
“các doanh nghiệp được hưởng ưu đãi trong thời gian còn lại kể từ khi giấy phép điều chỉnh có hiệu lực” [23] Trong khi đó, đáng lẽ các doanh nghiệp
phải được hưởng ưu đãi kể từ khi Nghị định số 24/2000/NĐ-CP có hiệu lực
Về thuế xuất nhập khẩu, Luật ĐTNN năm 1996 quy định doanh nghiệp KCX được miễn thuế xuất, nhập khẩu đối với hàng hoá từ KCX xuất khẩu ra nước ngoài và từ nước ngoài nhập khẩu vào KCX Trong khi đó, Công văn số
355 TC/TCT của Bộ Tài chính lại giới hạn doanh nghiệp KCX chỉ được miễn thuế nhập khẩu ô tô trong trường hợp ô tô đó chỉ chạy bên trong hàng rào KCX
Về đất đai, Điều 36 Nghị định số 24/2000/NĐ-CP quy định doanh nghiệp có vốn ĐTNN khi tạm ngừng hoặc giãn tiến độ thực hiện dự án thì
được xem xét miễn, giảm nghĩa vụ tài chính Trong khi đó, Quyết định số 189/2000/QĐ-BTC của Bộ tài chính lại quy định chỉ miễn tiền thuê đất trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN trong trường hợp phải tạm ngừng hoạt động
và không cho miễn tiền thuê đất khi giãn tiến độ thực hiện dự án
Pháp luật chưa kịp điều chỉnh nhiều vấn đề bức xúc mà thực tiễn ĐTNN
đặt ra:
Trong thời gian qua, thực tiễn ĐTNN tại Việt Nam đã đặt ra nhiều vấn đề bức xúc đòi hỏi pháp luật ĐTNN phải điều chỉnh, ví dụ một số vấn đề sau: Chưa có nhiều hình thức và phương thức đầu tư như: Công ty cổ phần có vốn ĐTNN, công ty quản lý vốn, công ty hợp danh, cho phép doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thành lập doanh nghiệp liên doanh mới, cho phép doanh nghiệp có vốn ĐTNN ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh với Bên Việt Nam hoặc Bên ngước ngoài
Trang 37Người nước ngoài được trừ tiền bảo hiểm ra khỏi thu nhập chịu thuế, trong khi đó lao động là người Việt Nam không được hưởng ưu đãi này, Điều này thể hiện sự phân biệt đối xử giữa người Việt Nam và người nước ngoài Thuế thu nhập cá nhân của người Việt Nam quá cao khiến cho giá thành thuê nhân công Việt Nam cao, không hấp dẫn các nhà ĐTNN
Việc ban hành một số văn bản pháp quy về ĐTNN chưa đúng với quy
định của pháp luật
Một số văn bản pháp quy về ĐTNN được ban hành không đúng trình tự
và thẩm quyền Thông tư ban hành thiếu, nhầm lẫn lại chỉ được đính chính bởi một công văn Ngoài ra, rất nhiều các quy phạm pháp luật về ĐTNN được ban hành dưới dạng công văn làm cho các nhà ĐTNN hết sức lo ngại
Pháp luật ĐTNN hiện hành chưa phát huy hết vai trò định hướng thu hút
đầu tư
Một trong những mục đích quan trọng mà pháp luật ĐTNN phải thực hiện là khuyến khích thu hút vốn đầu tư có trọng điểm và định hướng vào các lĩnh vực, địa bàn khuyến khích ĐTNN Tuy nhiên, số liệu về ĐTNN cho thấy, cơ cấu đầu tư được hình thành về cơ bản mang tính tự nhiên, ta chưa chủ động
về dự án, đối tác ĐTNN
Nguyên nhân của tình trạng trên là do ta còn thiếu quy hoạt thu hút đầu tư cụ thể, hoặc những chính sách ưu đãi, khuyến khích các dự án thuộc những lĩnh vực, địa bàn khuyến khích đầu tư mà đưa ra chưa phù hợp với nhu cầu của nhà đầu tư như: việc thu hút vốn ĐTNN trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp còn hạn chế, mặc dù đã có những chính sách ưu đãi nhất định, do nhiều nguyên nhân (là lĩnh vực còn nhiều rủi ro vì thiên tai, phương thức hợp tác với nông dân chưa hợp lý, quy hoạch vùng nguyên liệu chưa hợp lý và đầy đủ, các nhà ĐTNN có xu hướng đầu tư vào địa bàn có hạ tầng cơ sở tốt và thị trường
đầy đủ, thuận lợi)
Thiếu các quy định rõ ràng về các quyền tự do lựa chọn đối tác và cơ hội của các nhà đầu tư
Từ trước đến nay, pháp luật ĐTNN luôn luôn khẳng định việc Nhà nước Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện cho nhà ĐTNN đầu tư vào Việt Nam, nhưng đi vào từng vấn đề cụ thể thì lại rất chung chung, nên việc thực hiện các
dự án gặp nhiều khó khăn Nghị định số 24/2000/NĐ-CP đã quy định “nhà
Trang 38đầu tư được chủ động lựa chọn dự án đầu tư, đối tác đầu tư, hình thức đầu tư,
địa bàn đầu tư, thời hạn đầu tư, thị trường tiêu thụ sản phẩm, tỷ lệ góp vốn pháp định phù hợp với quy định của Luật ĐTNN và Nghị định này” (Điều 3,
khoản 2) [23] Nhưng thực tế cho thấy, các nhà đầu tư thường bị hạn chế về quyền tự do lựa chọn lĩnh vực đầu tư, đối tác đầu tư, quy mô dự án Nguyên nhân là do pháp luật ĐTNN hiện hành thiếu những quy định xác định rõ ràng quyền tự do lựa chọn đối tác đầu tư và cơ hội đầu tư của các nhà ĐTNN
Pháp luật ĐTNN hiện hành trong nhiều trường hợp còn chậm được sửa
đổi, bổ sung những vấn đề cải thiện môi trường đầu tư để cạnh tranh với các nước trong khu vực: Để có thể cạnh tranh, thu hút ĐTNN vào Việt Nam, thì
việc thường xuyên cải thiện môi trường ĐTNN là một vấn đề có ý nghĩa sống còn Tuy nhiên, nhiều quy định về tài chính, quản lý ngoại hối, ngân hàng, đất
đai của pháp luật ĐTNN hiện hành chậm được đổi mới, nên pháp luật ĐTNN của ta trong chừng mực nào đó chưa thực sự có tính cạnh tranh cao, nhất là so với Trung Quốc Điều đó làm cho không ít các nhà ĐTNN đã bỏ đi đầu tư ở nước khác
Thủ tục hành chính về ĐTNN mặc dù có những tiến bộ, nhưng nhìn chung còn phức tạp, gây phiền hà cho nhà ĐTNN: Bên cạnh những cải tiến rõ
rệt về thủ tục hành chính từ khâu hình thành, thẩm định dự án, đến khâu thực hiện dự án, những quy định về thủ tục hành chính ở một số lĩnh vực như xuất khẩu, nhập khẩu, hải quan, đất đai, xây dựng còn phức tạp, gây phiền hà và làm nản lòng các nhà ĐTNN Vì vậy, việc tiếp tục cải tiến các thủ tục hành chính về ĐTNN luôn là yêu cầu có tính bức xúc hiện nay
Nguyên nhân của những mặt hạn chế nói trên là: nhận thức, quan điểm
về ĐTNN chưa thực sự thống nhất và chưa được quán triệt đẩy đủ ở các cấp,
các ngành
Môi trường đầu tư nước ta tuy được cải thiện nhưng tiến độ đạt được còn chậm hơn so với các nước trong khu vực, chưa hấp dẫn Thể chế kinh tế thị trường, môi trường kinh tế và pháp lý còn đang trong qúa trình hoàn thiện nên
chưa đồng bộ
Công tác quản lý nhà nước về ĐTNN có nhiều cố gắng nhưng gặp khó khăn lớn do thiếu nguồn kinh phí để tổ chức các cuộc vận động đầu tư ở nước ngoài cũng như để hoàn chỉnh các tài liệu xúc tiến đầu tư Xúc tiến đầu tư
Trang 39chưa chú trọng vào các đối tác quan trọng, các dự án điểm Danh mục dự án
kêu gọi ĐTNN còn hạn chế về chủ trương và quy hoạch
Việc đa dạng hoá các hình thức ĐTNN để khai thác thêm các kênh thu hút đầu tư mới cũng như việc thành lập và triển khai một số mô hình khu kinh
tế mở còn chậm
Một số công việc đề ra tại Nghị quyết số 9/2001/NQ-CP của Chính Phủ
được thực hiện chưa đúng tiến độ, hoặc chưa đảm bảo chất lượng, thậm chí chưa được thực hiện do nhiều lý do (Ví dụ: đa dạng hoá các hình thức đầu tư,
mở rộng phạm vi các dự án thuộc diện đăng ký cấp phép đầu tư )
2.2 Thực trạng pháp luật khuyến khích đầu tư trong nước
2.2.1 Các biện pháp khuyến khích đầu tư trong nước
a) Lĩnh vực, địa bàn khuyến khích đầu đầu tư
Nhìn chung, các quy định của Nhà nước về khuyến khích ĐTTN tập trung vào danh mục các ngành nghề được hưởng ưu đãi đầu tư (Danh mục A), Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn (Danh mục B) và Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (Danh mục C) được hưởng ưu đãi đầu tư Tại Nghị định số 35/2002/NĐ-CP, Danh mục A
đã bị thu hẹp nhưng Danh mục B và C lại được mở rộng
Thời gian qua, địa giới hành chính của nhiều địa phương có sự thay đổi
và việc thu hút đầu tư vào các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn còn hạn chế Do vậy, cần có sự nghiên cứu sửa đổi Danh mục B, Danh mục C
cho phù hợp với điều kiện thực tế
Một số ngành, nghề, lĩnh vực được hưởng ưu đãi đầu tư quy định tại Danh mục A còn thiếu rõ ràng, minh bạch, dẫn đến việc hiểu và vận dụng còn chưa thống nhất Ví dụ, Danh mục A Nghị định số 35/2002/NĐ-CP quy định nhà đầu tư có dự án đầu tư vào lĩnh vực ứng dụng công nghệ kỹ thuật cao được hưởng ưu đãi đầu tư Nhưng chưa có định nghĩa, giải thích hoặc hướng dẫn thế nào là ứng dụng công nghệ kỹ thuật cao
b) ưu đãi về thuế
Ưu đãi về tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất, và tiền thuê đất
Ưu đãi tiền sử dụng đất được chia làm 3 cấp độ: giảm 50% tiền sử dụng
đất đối với dự án thuộc Danh mục A; giảm 75% tiền sử dụng đất đối với dự án