Bên cạnh đó, Toà án cũng có một số quyền hạn nhất định trong việc giải quyết các vấn đề có tính chất kinh tế của vụ việc phá sản như: quyết định cử người thay thế người quản lý và điều h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN NAM
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT PHÁ SẢN
VIỆT NAM THEO CÁC KHUYẾN NGHỊ CỦA HƯỚNG DẪN XÂY DỰNG LUẬT PHÁ SẢN CỦA
UNCITRAL NĂM 2005
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS TS DƯƠNG ĐĂNG HUỆ
HÀ NỘI 2010
Trang 2Chương 1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM 8
1.1 Những nội dung cơ bản của pháp luật phá sản Việt Nam hiện hành 8
1.1.1 Đối tượng áp dụng của Luật Phá sản 9 1.1.2 Dấu hiệu doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản 9 1.1.3 Địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản 9
1.1.6 Trách nhiệm tài sản của người mắc nợ sau khi bị tuyên bố phá sản 21 1.1.7 Chế tài trong lĩnh vực phá sản 22
1.2.1 Tình hình ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Phá sản 22 1.2.2 Kết quả thực hiện Luật Phá sản năm 2004 23 1.2.3 Những tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện Luật Phá sản năm
1.2.4 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện
Chương 2 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM TRÊN CƠ
SỞ THAM KHẢO CÁC KHUYẾN NGHỊ TRONG HƯỚNG DẪN XÂY DỰNG LUẬT PHÁ SẢN CỦA UNCITRAL NĂM 2005
35
2.1 Những nội dung cơ bản của các khuyến nghị trong hướng dẫn xây
2.1.1 Mục tiêu và các nội dung chủ yếu của luật phá sản 36
Trang 32.1.4 Tài sản phá sản 41
2.1.6 Trách nhiệm tài sản của người mắc nợ bị tuyên bố phá sản 53
2.2 Hoàn thiện pháp luật phá sản Việt Nam trên cơ sở tham khảo các
2.2.1 Về đối tượng áp dụng của luật phá sản 54 2.2.2 Về địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản 55
Trang 4UNCITRAL: Ủy ban về Luật Thương mại quốc tế của Liên hợp quốc
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Là những thực thể pháp lý, các doanh nghiệp được thành lập (sinh ra), hoạt động (thực hiện các nghiệp vụ sản xuất, kinh doanh của mình) và mất đi (giải thể, phá sản) Pháp luật của bất cứ quốc gia nào, trong đó có Việt Nam, cũng đều phải tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện một cách đồng bộ các công việc thuộc ba giai đoạn đó của doanh nghiệp Sự yếu kém của pháp luật trong bất cứ giai đoạn nào trong số ba giai đoạn này đều ảnh hưởng xấu đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Vì vậy, bên cạnh việc hoàn thiện các quy định pháp luật về thành lập doanh nghiệp (mà chủ yếu là Luật Doanh nghiệp), việc hoàn thiện các quy định pháp luật về kinh doanh (mà chủ yếu là các luật kinh doanh chuyên ngành), thì Nhà nước ta cũng đã rất quan tâm đến các văn bản pháp luật điều chỉnh quá trình chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp, trong đó có pháp luật về phá sản
Luật Phá sản năm 2004 ra đời là bước phát triển mới của pháp luật Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu nêu trên của các doanh nghiệp Về cơ bản, Luật này đã giải quyết được những vấn đề mà thực tiễn giải quyết phá sản đã đặt
ra Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết phá sản cũng đã chứng tỏ rằng, luật này không phải không có những hạn chế cần phải được khắc phục Vì vậy, hiện nay, Nhà nước ta đang rất quan tâm đến việc hoàn thiện pháp luật về phá sản
mà nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất là việc nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Luật Phá sản năm 2004 với tư cách là văn bản xương sống, nền tảng và đầy đủ nhất trong hệ thống các văn bản pháp luật về phá sản ở nước ta
Để việc sửa đổi, bổ sung luật này có hiệu quả thì chỉ riêng việc nghiên cứu thực tiễn pháp luật Việt Nam, kinh nghiệm của các nước có điều kiện kinh tế - xã hội tương tự như Việt Nam là cần thiết nhưng chưa đủ Một vấn
đề rất quan trọng đặt ra là chúng ta phải nghiên cứu, tham khảo các khuyến
Trang 6nghị mang tính chất tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về phá sản và giải quyết phá sản của các thiết chế, định chế kinh tế quốc tế, trong đó có các khuyến nghị của Uỷ ban về luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (Uncitral)
Thực hiện nhiệm vụ của mình, năm 2005, Uỷ ban này đã ban hành
Hướng dẫn xây dựng luật phá sản nhằm đưa ra các khuyến nghị giúp các
quốc gia thành viên của Liên hợp quốc có thể xây dựng được một đạo luật phá sản của mình có hiệu quả Sau khi nghiên cứu, bản thân tôi cho rằng, các khuyến nghị này là những ý tưởng rất tốt giúp chúng ta có thể tham khảo để tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể của đất nước mình mà
có thể chọn lọc để tiếp thu
Như phần trên đã nói, tại Việt Nam, Luật Phá sản năm 2004 mặc dù đã
có nhiều điểm tiến bộ, góp phần đáp ứng được điều kiện về mặt thể chế pháp
lý để Việt Nam có thể gia nhập WTO Tuy nhiên, trong quá trình thi hành, luật đã bộc lộ rất nhiều thiếu sót, dẫn đến việc giải quyết phá sản không đáp ứng được yêu cầu khách quan của nền kinh tế, gây cản trở cho sự phát triển lành mạnh của môi trường kinh doanh
Với mong muốn nghiên cứu pháp luật phá sản một cách toàn diện, có
hệ thống, phù hợp với cách tiếp cận của quốc tế và phù hợp với thực tiễn Việt Nam, tôi đã lựa chọn vấn đề “Hoàn thiện pháp luật phá sản Việt Nam theo các khuyến nghị của Hướng dẫn xây dựng luật phá sản của UNCITRAL năm 2005” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việt Nam đã có hai luật phá sản là Luật Phá sản doanh nghiệp năm
1993 và Luật Phá sản năm 2004 Hơn 15 năm qua, kể từ ngày có luật mới, đã
có hàng chục công trình ở các cấp độ khác nhau nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của Luật Phá sản cũng như phương hướng hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này Trong số các công trình đó, có thể kể đến là:
Trang 7- Pháp luật phá sản của Việt Nam, của PGS.TS Dương Đăng Huệ (xuất
bản năm 2005) Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện về pháp luật phá sản Việt Nam từ năm 1993 đến nay đồng thời nêu
ra những định hướng cơ bản trong việc hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này
- Thực trạng phá sản doanh nghiệp và giải pháp hoàn thiện pháp luật
về phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp bộ năm 2004 của
Bộ Kế hoạch và đầu tư, do thạc sỹ Nguyễn Kim Anh làm chủ nhiệm đề tài
- Luật phá sản Việt Nam dưới góc độ luật so sánh và phương hướng
hoàn thiện, Luận án tiến sỹ của tác giả Trương Hồng Hải, bảo vệ năm 2005
- Quản lý và xử lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật phá sản
Việt Nam, Luận án tiến sỹ của tác giả Vũ Thị Hồng Vân, bảo vệ năm 2009 tại
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Các giải pháp pháp lý nhằm giải quyết tốt hơn việc phá sản doanh
nghiệp ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp năm 2009 của Bộ Tư pháp do
PGS.TS Dương Đăng Huệ làm chủ biên
Bên cạnh những công trình nghiên cứu ở tầm tiến sỹ và tầm đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ như đã nêu trên, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở cấp độ thấp hơn, được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành và một số luận văn thạc sỹ của các học viên cao học tại các trung tâm đào tạo luật trên
cả nước
Như vậy, vấn đề phá sản và hoàn thiện pháp luật về phá sản không còn
là vấn đề mới trong khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, cái mới của đề tài nghiên cứu ở tầm thạc sỹ này là ở chỗ, chưa bao giờ có công trình nào ở nước ta trước đây nghiên cứu về phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật phá sản Việt Nam dưới góc độ tham khảo các khuyến nghị của một
tổ chức thương mại quốc tế là Uncitral Nói cách khác, đây là đề tài lần đầu tiên nghiên cứu về việc hoàn thiện pháp luật phá sản Việt Nam dưới một góc
Trang 8độ mới - góc độ nghiên cứu, đối chiếu và có tính đến những kinh nghiệm quốc tế đã được tổng kết bởi một tổ chức nghiên cứu khoa học pháp lý về thương mại có danh tiếng của Liên hợp quốc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Để thực hiện được mục đích đặt ra, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, các nội dung chủ yếu của pháp luật phá sản Việt Nam hiện
hành Việc nghiên cứu vấn đề này nhằm giúp người đọc nhận thức được một cách cơ bản diện mạo của pháp luật phá sản Việt Nam hiện nay, tìm ra các mặt ưu điểm cũng như các mặt nhược điểm của nó để trên cơ sở đó mà tìm hướng hoàn thiện cho phù hợp
Thứ hai, thực tiễn thi hành Luật Phá sản trong thời gian qua, từ năm
2004 đến nay Việc nghiên cứu thành công vấn đề này sẽ giúp chúng ta thấy được đâu là những vướng mắc mà quá trình vận hành của pháp luật phá sản trên thực tế đang gặp phải để trên cơ sở đó mà định hướng các giải pháp nhằm tháo gỡ
Thứ ba, nội dung cơ bản của Hướng dẫn xây dựng luật phá sản của
Uncitral năm 2005 Đây được xem là một đối tượng nghiên cứu rất quan trọng của luận văn này vì nếu không nắm được rõ các nội dung cơ bản của các khuyến nghị của Uncitral thì chúng ta sẽ không thể đánh giá được là chúng có phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam hay không, và vì vậy có thể được vận dụng để hoàn thiện luật phá sản Việt Nam hay không
Trang 9thể tham gia giải quyết phá sản, thủ tục giải quyết phá sản, cơ chế bảo vệ tài sản phá sản, thứ tự thanh toán tài sản phá sản, và nhiều vấn đề quan trọng khác Vì vậy, để phù hợp với yêu cầu và phạm vi hạn hẹp của một luận văn thạc sỹ luật học, tác giả không có tham vọng nghiên cứu một cách toàn diện các quy định của pháp luật phá sản Việt Nam cũng như của Hướng dẫn xây dựng luật phá sản của Uncitral Luận văn chỉ dừng lại ở một mức độ nghiên cứu nhất định, cụ thể là: Chỉ nghiên cứu một số vấn đề cơ bản nhất trong số các khuyến nghị của Uncitral và trên cơ sở đối chiếu với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước ta mà khuyến nghị có nên áp dụng hay không mà thôi
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện thành công luận văn này, tác giả đã sử dụng một cách đồng bộ và tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học Trước hết đó là phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin Phương pháp này giúp tác giả luôn luôn nhận thức được rằng pháp luật là tấm gương phản ánh của thực trạng kinh tế - xã hội, pháp luật không bao giờ có thể cao hơn trình độ phát triển kinh tế của quốc gia mà ở đó pháp luật được xây dựng nên Phương pháp này có ý nghĩa rất lớn vì khi nghiên cứu và áp dụng các khuyến nghị của Uncitral thì chúng ta không thể tiếp thu, vận dụng một cách máy móc mà cần phải xem xét, cân nhắc xem những kiến nghị đó có thực sự phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam hay không Ngoài phương pháp nghiên cứu có tính chất lý luận cơ bản này, tác giả cũng đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống khác, nhất là phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh Những phương pháp này giúp tác giả tiếp cận các đối tượng nghiên cứu một cách có cơ sở khoa học, đảm bảo tính hiệu quả của quá trình nghiên cứu
5 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
5.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sao để việc hoàn thiện pháp luật
Trang 10phá sản Việt Nam được thực hiện không chỉ phù hợp với điều kiện kinh tế -
xã hội của Việt Nam mà còn phù hợp với các quy định chung, phổ biến của pháp luật quốc tế đã được Uỷ ban về pháp luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc tổng kết và khuyến nghị
5.2 Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên, luận văn giải quyết một số nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, nhận diện được một cách chính xác mô hình và đặc điểm của
pháp luật phá sản Việt Nam
Thứ hai, phân tích được các ưu điểm cũng như nhược điểm của pháp
luật phá sản hiện hành
Thứ ba, đánh giá, tổng kết được thực tiễn thi hành Luật 2004 qua các số
liệu mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố, nhất là của các toà kinh tế cấp tỉnh và của Toà án nhân dân tối cao
Thứ tư, nghiên cứu để nắm được nội dung cơ bản của các khuyến nghị
trong Hướng dẫn xây dựng luật phá sản của UNCITRAL năm 2005
Thứ năm, đưa ra các khuyến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật
phá sản Việt Nam trên cơ sở vận dụng một cách có chọn lọc các khuyến nghị của Uncitral
6 Những điểm mới của luận văn
Luận văn có những điểm mới cơ bản như sau:
Thứ nhất, tìm ra được những điểm khác biệt cơ bản của pháp luật Việt
Nam với những quy định có tính chất thông lệ của pháp luật phá sản của các nước trên thế giới
Thứ hai, trình bày được những nội dung cơ bản của Hướng dẫn xây
dựng luật phá sản của UNCITRAL năm 2005
Thứ ba, đưa ra được một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
Trang 11phá sản Việt Nam theo hướng phù hợp với các quy định mới nhất của UNCITRAL
7 Cơ cấu của luận văn
Lời nói đầu
Nội dung
Chương 1: Thực trạng pháp luật phá sản Việt Nam
Chương 2: Hoàn thiện pháp luật phá sản Việt Nam trên cơ sở tham khảo các khuyến nghị trong Hướng dẫn xây dựng luật phá sản của UNCITRAL năm 2005
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 12Chương I THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM 1.1 Những nội dung cơ bản của pháp luật phá sản Việt Nam hiện hành
Phá sản là một hiện tượng tất yếu chỉ xuất hiện một cách phổ biến trong nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, phá sản và pháp luật về phá sản không tồn tại Để điều chỉnh những vấn đề liên quan đến phá sản, nhà nước cần phải ban hành một loạt các văn bản quy phạm pháp luật như điều kiện để một người mắc mắc nợ bị coi là đã lâm vào tình trạng phá sản; người có quyền nộp đơn yêu cầu giải quyết phá sản; cơ quan có thẩm quyền giải quyết phá sản; thủ tục giải quyết phá sản; phân chia tài sản phá sản; trách nhiệm của người mắc nợ sau khi giải quyết phá sản; Tổng hợp những văn bản pháp luật này tạo thành một lĩnh vực pháp luật được gọi là pháp luật phá sản mà trung tâm của nó là Luật Phá sản
Ở Việt Nam, pháp luật phá sản chính thức được hình thành từ năm
1993 khi Luật phá sản doanh nghiệp ra đời trong điều kiện xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cùng với sự phát triển của kinh tế đất nước, pháp luật phá sản cũng được tiếp tục hoàn thiện đánh dấu bằng sự ra đời của Luật Phá sản năm 2004
Cũng giống như cách tiếp cận chung của thế giới về thủ tục phá sản, pháp luật Việt Nam cũng coi thủ tục phá sản là một loại thủ tục tư pháp đặc biệt Tính chất đặc biệt này thể hiện ở chỗ thủ tục phá sản là một thủ tục đòi
nợ tập thể; là thủ tục đòi nợ được tiến hành trong một hoàn cảnh đặc biệt, như một biện pháp cuối cùng của quá trình đòi nợ; là thủ tục mà hậu quả của nó thường là sự chấm dứt hoạt động của một thương nhân; là một thủ tục có khả năng giúp người mắc nợ phục hồi hoạt động kinh doanh; và là một thủ tục pháp lý có tính chất tổng hợp [16] Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, pháp
Trang 13luật phá sản gồm những nội dung cơ bản sau đây:
1.1.1 Đối tượng áp dụng của Luật Phá sản
Đối tượng áp dụng của Luật Phá sản là các chủ thể có thể bị áp dụng thủ tục phá sản và có thể bị tuyên bố phá sản Khoản 1 Điều 2 Luật Phá sản
năm 2004 quy định: “Luật này áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên
hiệp hợp tác xã (hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã gọi chung là hợp tác xã) được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật” Như vậy, đối
tượng áp dụng của Luật Phá sản chỉ là các doanh nghiệp Việc quy định hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong Điều 2 của Luật Phá sản “có lẽ chỉ có tác dụng làm rõ chủ thể là đối tượng áp dụng của Luật vì mặc dù có một số đặc thù trong việc góp vốn, thành lập, điều hành, quản lý, phân chia lợi nhuận nhưng xét về bản chất thì hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã vẫn là một loại hình doanh nghiệp” [3] Như vậy, các chủ thể kinh doanh khác không phải là đối tượng áp dụng của Luật Phá sản
1.1.2 Dấu hiệu doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Dấu hiệu doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là căn cứ để Toà án
có thể thụ lý và mở thủ tục phá sản Tình trạng phá sản có thể được quy định theo phương pháp định tính hoặc định lượng
Luật Phá sản năm 2004 đã quy định một cách đơn giản nhưng đầy đủ những tiêu chí xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, đó là
“doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu” Quy định này phù hợp với thông lệ chung
của thế giới, giúp cho có thể sớm mở thủ tục phá sản và làm tăng khả năng phục hồi hoạt động kinh doanh của người mắc nợ
1.1.3 Địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia thủ tục phá sản
1.1.3.1 Địa vị pháp lý của Toà án
Theo Luật Phá sản năm 2004, Toà án có vai trò, vị trí trung tâm trong
Trang 14thủ tục phá sản, là cơ quan giải quyết phá sản Vụ việc phá sản sẽ được giải quyết bởi một thẩm phán của Toà án nhân dân cấp huyện hoặc bởi một thẩm phán hoặc một tổ thẩm phán (gồm ba thẩm phán) của Toà án nhân dân cấp tỉnh Việc phân định thẩm quyền giải quyết phá sản theo cấp Tòa án như trên
là căn cứ vào nơi đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã
Để giải quyết một vụ phá sản thì có rất nhiều chủ thể tham gia Mỗi một chủ thể được phân công thực hiện một số công việc nhất định Tuy nhiên, Toà án có vai trò quyết định vì Toà án có quyền hạn khá lớn trong việc giải quyết các vấn đề pháp lý cơ bản của vụ việc phá sản như: quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản (Điều 22, Điều 28); quyết định áp dụng thủ tục phục hồi (Điều 68), thủ tục thanh lý (Điều 78, 79, 80) hoặc thủ tục tuyên bố phá sản (Điều 86, 87); Bên cạnh đó, Toà án cũng có một số quyền hạn nhất định trong việc giải quyết các vấn đề có tính chất kinh tế của vụ việc phá sản như: quyết định cử người thay thế người quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã (Điều 20); quyết định cho phép doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện các giao dịch nhất định (Điều 31); quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực pháp luật (Điều 45); quyết định
áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; và các quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
1.1.3.2 Địa vị pháp lý của người mắc nợ
Là đối tượng của một thủ tục đòi nợ tập thể, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản sẽ bị hạn chế quyền và phải chịu những nghĩa vụ nhất định Luật Phá sản năm 2004 đã có cách tiếp cận tiến bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế, đó là tạo điều kiện tối đa để người mắc nợ có thể khắc phục các khó khăn về tài chính, thoát khỏi tình trạng phá sản để trở lại hoạt động bình thường
Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có các quyền cơ
Trang 15bản như sau: quyền được tiếp tục hoạt động sản xuất, kinh doanh sau khi mở thủ tục phá sản (Điều 30); quyền tham gia Hội nghị chủ nợ, xây dựng phương
án phục hồi kinh doanh để trình ra Hội nghị chủ nợ xem xét, thông qua (Điều 68); thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh đã có hiệu lực (Điều 73); được nhận phần giá trị tài sản còn lại của mình sau khi đã thanh toán đủ các nghĩa vụ tài sản (Điều 37); quyền khiếu nại đối với các quyết định của Toà án, của Tổ quản lý, thanh lý tài sản (Điều 25, 32, 52, 53, 56, 83, 91) Trường hợp thực hiện thành công phương án phục hồi hoặc nếu được quá nửa
số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ hai phần ba số nợ không có bảo đảm trở lên nhất trí đình chỉ thủ tục phục hồi thì Toà án sẽ ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi và doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ được coi là không còn lâm vào tình trạng phá sản
Ngoài những quyền như trên, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có những nghĩa vụ nhất định, đó là: nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản khi thấy mình lâm vào tình trạng phá sản (Điều 15); nghĩa
vụ xuất trình cho Tòa án các giấy tờ, tài liệu theo yêu cầu của Tòa (Điều 23); trách nhiệm tự kiểm kê tài sản và nộp lại bảng kê cho Tòa án (Điều 50); nghĩa
vụ tham gia Hội nghị chủ nợ để giải quyết các vấn đề có liên quan (Điều 63); nghĩa vụ thanh toán các nghĩa vụ tài sản bằng toàn bộ tài sản; trong trường hợp doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh thì chủ doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh có trách nhiệm tiếp tục trả nợ đối với phần nợ chưa được thanh toán cho các chủ nợ, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (Điều 90)
Trang 16Pháp luật quy định cho nhóm này có quyền quyết định những vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ nợ và số phận của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, như: quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 13, 14); quyền tham gia Hội nghị chủ nợ và biểu quyết những vấn
đề thuộc thẩm quyền của Hội nghị chủ nợ (Điều 68)
Hai là, nhóm chủ nợ có bảo đảm Căn cứ vào lý do quyền lợi của nhóm chủ nợ này sẽ luôn được đảm bảo dù có mở thủ tục phá sản hay không, nên pháp luật quy định họ bị hạn chế một số quyền như quyền nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản, không có quyền biểu quyết thông qua Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ,
Các chủ nợ thực hiện quyền của mình thông qua Hội nghị chủ nợ Đây
là cơ quan đại diện cao nhất cho ý chí của các chủ nợ, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến lợi ích của các chủ nợ như: quyết định xem sẽ áp dụng thủ tục phục hồi hay áp dụng thủ tục thanh lý; trong trường hợp áp dụng thủ tục phục hồi, việc chấp nhận phương án phục hồi của Hội nghị chủ nợ sẽ là căn cứ để mở thủ tục phục hồi Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ được thông qua khi có quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm có mặt tại hội nghị đại diện cho từ hai phần ba trở lên tổng số nợ không có bảo đảm biểu quyết tán thành
Bên cạnh các quyền như trên, các chủ nợ có nghĩa vụ gửi giấy đòi nợ cho Tòa án trong thời hạn 60 ngày (trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan) kể từ ngày cuối cùng đăng báo Ngoài ra, các chủ nợ còn có nghĩa vụ chấp hành nghị quyết của Hội nghị chủ nợ, kể cả trường hợp không đồng ý với nghị quyết đó
1.1.3.4 Địa vị pháp lý của Tổ quản lý, thanh lý tài sản
Theo Luật Phá sản năm 2004, việc quản lý và thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được giao cho một thiết
Trang 17chế là Tổ quản lý, thanh lý tài sản Tổ quản lý, thanh lý tài sản do Thẩm phán hoặc Tổ Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản quyết định thành lập đồng thời với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản Cơ cấu của Tổ bao gồm: 01 chấp hành viên của cơ quan thi hành án cùng cấp làm Tổ trưởng; 01 cán bộ Toà án;
01 đại diện chủ nợ; 01 đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã bị mở thủ tục phá sản Tổ quản lý, thanh lý tài sản hoạt động dưới sự điều hành của
Tổ trưởng Sự tham gia của đại diện công đoàn, đại diện người lao động hoặc đại diện các cơ quan chuyên môn sẽ do Thẩm phán quyết định nếu xét thấy cần thiết
Tổ quản lý, thanh lý tài sản có các nhiệm vụ và quyền hạn như sau: lập bảng kê toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp, hợp tác xã (khoản 1 Điều
10, khoản 3 Điều 50); giám sát, kiểm tra việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã (khoản 1 Điều 30); đề nghị Thẩm phán quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp cần thiết (Điều 55); lập danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ (Điều 52, 53); tham gia và báo cáo Hội nghị chủ nợ về thực trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã (Điều 64); thực hiện việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; và thi hành các quyết định khác của Thẩm phán trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản
Tổ quản lý, thanh lý tài sản được giải thể khi có quyết định của Thẩm phán về việc mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã (khoản 1 Điều 73); có quyết định của Thẩm phán về việc đình chỉ việc phân chia tài sản do doanh nghiệp, hợp tác xã không còn tài sản để thực hiện phương án phân chia tài sản; hoặc có quyết định của Thẩm phán về việc tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thực hiện xong phương án phân chia tài sản
1.1.4 Tài sản phá sản
Trang 181.1.4.1 Xác định tài sản và nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Việc xác định tài sản và nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là một vấn đề quan trọng, không chỉ tác động đến quyền lợi của các chủ nợ mà còn ảnh hưởng đến việc quản lý và bảo toàn tài sản phá sản Điều 49 Luật Phá sản năm 2004 đã quy định: “Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản bao gồm:
- Tài sản và quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
- Các khoản lợi nhuận, các tài sản và các quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ có do việc thực hiện các giao dịch được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
- Tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác
xã Trường hợp thanh toán tài sản là vật bảo đảm được trả cho các chủ nợ có bảo đảm, nếu giá trị của vật bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm phải thanh toán thì phần vượt quá đó là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
- Giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai.”
Ngoài ra các tài sản trên, tài sản của doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh lâm vào tình trạng phá sản còn bao gồm tài sản riêng của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh doanh theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Về nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, Điều 33 Luật Phá sản năm 2004 xác định bao gồm:
- Các yêu cầu đòi doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà
Trang 19nghĩa vụ này không có bảo đảm;
- Các yêu cầu đòi doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ về tài sản có bảo đảm được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nhưng quyền ưu tiên thanh toán đã bị huỷ bỏ
Trường hợp nghĩa vụ tài sản là các khoản nợ chưa đến hạn vào thời điểm mở thủ tục thanh lý thì được xử lý như khoản nợ đến hạn nhưng không được tính lãi đối với thời gian chưa đến hạn (Điều 34) Đối với nghĩa vụ tài sản là các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì được ưu tiên thanh toán bằng tài sản đó; nếu giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố không
đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; nếu giá trị của tài sản thế chấp hoặc cầm cố lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã (Điều 35) Đối với tài sản mà Nhà nước
sử dụng khi áp dụng biện pháp đặc biệt về tài sản để phục hồi hoạt động kinh doanh nhưng vẫn không phục hồi được, phải áp dụng thủ tục thanh lý thì phải hoàn trả lại giá trị tài sản đã được áp dụng biện pháp đặc biệt cho Nhà nước trước khi phân chia tài sản (Điều 36) Đối với trường hợp nghĩa vụ tài sản không phải là tiền thì theo yêu cầu của người có quyền hoặc của doanh nghiệp, hợp tác xã, Toà án xác định giá trị của nghĩa vụ đó vào thời điểm ra quyết định mở thủ tục phá sản để đưa vào nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã (Điều 38)
Nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp nghĩa vụ liên đới hoặc bảo lãnh sẽ được xác định theo các quy định của Bộ luật Dân sự
1.1.4.2 Bảo toàn tài sản phá sản
Bảo toàn tài sản là một mục tiêu quan trọng của Luật Phá sản nhằm bảo
vệ lợi ích cho các chủ nợ và cho chính người mắc nợ Luật Phá sản năm 2004
Trang 20quy định khá đầy đủ các biện pháp bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác
xã lâm vào tình trạng phá sản Theo đó, có bảy nhóm biện pháp cơ bản như sau:
Một là, quy định các biện pháp nhằm ngăn chặn doanh nghiệp, hợp tác
xã mắc nợ làm thất thoát tài sản sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản (Điều 31)
Hai là, tuyên bố vô hiệu đối với các giao dịch được thực hiện với mục
đích cất giấu, tẩu tán tài sản, gây thiệt hại cho các chủ nợ (Điều 43, 44)
Ba là, quy định cách xử lý các hợp đồng đang có hiệu lực Theo đó các
hợp đồng đang có hiệu lực sẽ được tiếp tục thực hiện nếu có lợi cho doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản cũng như các chủ nợ Nếu việc tiếp tục thực hiện là không có lợi, các hợp đồng đó sẽ bị đình chỉ theo quyết định của Toà án (Điều 45, 46, 47)
Bốn là, quy định bù trừ nghĩa vụ giữa các chủ nợ với doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (Điều 48)
Năm là, quy định Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm
đăng kí giao dịch bảo đảm cho các giao dịch bảo đảm nhưng chưa được đăng
kí của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (Điều 54)
Sáu là, quy định các biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng để bảo
toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã Theo đó, Toà án có thể tiến hành các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo đề nghị của Tổ quản lý, thanh lý tài sản
để bảo toàn tài sản của người mắc nợ (Điều 55)
Bảy là, quy định trách nhiệm của ngân hàng, nhân viên và người lao
động trong doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (Điều 59)
1.1.4.3 Chi phí phá sản
Chi phí phá sản là các chi phí phát sinh trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản và được ưu tiên thanh toán khi phân chia tài sản Căn cứ vào các
Trang 21văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, chi phí phá sản bao gồm các khoản sau:
- Lệ phí nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: theo Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án năm 2009, lệ phí nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là 1.000.000 đồng
- Các chi phí bảo đảm hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản (khoản 2, mục II, Thông tư số 19/2008/TTLT-BTC-BTP ngày 19/02/2008)
- Chi phí cho việc kiểm kê, bảo quản, thu hồi, định giá, bán đấu giá tài sản
- Các chi phí hợp lý khác
1.1.4.4 Phân chia tài sản phá sản
Thực chất của việc giải quyết phá sản là việc xử lý mối quan hệ về lợi ích tài sản giữa các chủ nợ với con nợ [16] Mỗi con nợ sẽ có nhiều loại chủ
nợ và mỗi loại chủ nợ sẽ được thanh toán theo mức độ ưu tiên khác nhau Điều 37 Luật Phá sản năm 2004 quy định thứ tự phân chia tài sản như sau:
- Phí phá sản;
- Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;
- Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng
Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh toán đủ các khoản quy định tại khoản 1 Điều này mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về: xã viên hợp tác xã; chủ doanh nghiệp tư nhân; các thành
Trang 22viên của công ty; các cổ đông của công ty cổ phần; hoặc chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước
Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì việc thanh toán được thực hiện theo thứ tự như trên, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác
1.1.5 Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
Theo Luật Phá sản năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản gồm các bước cơ bản sau:
1.1.5.1 Nộp và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Về cơ bản, thủ tục nộp và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản giống như thủ tục nộp đơn khởi kiện và thụ lý vụ việc dân sự theo quy định chung tại Bộ luật Tố tụng Dân sự
* Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Chủ thể có quyền nộp đơn bao gồm: chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần; người lao động; chủ sở hữu doanh nghiệp Nhà nước, các
cổ đông công ty cổ phần, thành viên hợp danh Chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn
là bản thân doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản trong thời hạn ba tháng kể từ khi nhận thấy mình lâm vào tình trạng phá sản
Nội dung của đơn phải nêu rõ căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản và người nộp đơn phải nộp tạm ứng lệ phí phá sản, trừ trường hợp người nộp đơn là người lao động
* Thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản
Điều kiện để Toà án thụ lý đơn là nội dung đơn đã đầy đủ theo quy định; người nộp đơn đã nộp đủ các tài liệu kèm theo, đã nộp tạm ứng lệ phí phá sản; và không thuộc các trường hợp trả lại đơn
Thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp thuộc
về Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án nhân dân cấp tỉnh Trường hợp có sự
Trang 23tranh chấp về thẩm quyền thì được giải quyết theo quy định chung của Bộ luật
Tố tụng Dân sự
* Quyết định mở thủ tục phá sản
Căn cứ để Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản là doanh nghiệp, hợp tác xã đã lâm vào tình trạng phá sản Thời hạn ra quyết định là 30 ngày
kể từ ngày thụ lý yêu cầu tuyên bố phá sản
Quyết định mở thủ tục phá sản phải được thông báo trong thời hạn bảy ngày cho doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản; Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; các chủ nợ và người mắc nợ; và phải được đăng báo địa phương nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có địa chỉ chính, báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp Đồng thời với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán ra quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
1.1.5.2 Hội nghị chủ nợ
Hội nghị chủ nợ là một bước quan trọng trong thủ tục phá sản Kết quả của Hội nghị chủ nợ sẽ quyết định thủ tục phá sản sẽ được tiếp tục theo một trong ba hướng sau:
- Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản sẽ được áp dụng thủ tục phục hồi
- Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản sẽ được áp dụng thủ tục thanh lý và bị tuyên bố phá sản
- Thủ tục phá sản sẽ bị đình chỉ (khi người tham gia Hội nghị chủ nợ vắng mặt theo Điều 67)
1.1.5.3 Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh
Điều kiện Thẩm phán ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi là Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua thủ tục phục hồi và doanh nghiệp, hợp tác
Trang 24xã lâm vào tình trạng phá sản phải xây dựng phương án phục hồi Phương án phục hồi phải có đầy đủ các nội dung như: các điều kiện để phục hồi, thời hạn phục hồi (không quá ba năm), các biện pháp cần thiết, và kế hoạch thanh toán các khoản nợ Thẩm phán sẽ xem xét phương án phục hồi và đưa ra để Hội nghị chủ nợ xem xét và thông qua Nếu được thông qua, Thẩm phán sẽ ra quyết định công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ, sau đó, Tổ quản lý, thanh lý tài sản sẽ giải thể và doanh nghiệp, hợp tác xã bắt đầu thực hiện phương án phục hồi dưới sự giám sát của Toà án và các chủ nợ
Nếu thực hiện xong phương án phục hồi, Thẩm phán sẽ ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi và doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ được coi là chưa lâm vào tình trạng phá sản
- Hội nghị chủ nợ không thành (Điều 79);
- Theo Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất;
- Thủ tục phục hồi bị thất bại (Điều 80)
Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản phải bao gồm phương án phân chia tài sản Thủ tục thanh lý tài sản bị đình chỉ khi phương án phân chia tài sản đã được thực hiện xong hoặc doanh nghiệp, hợp tác xã không còn tài sản
để thực hiện phương án phân chia tài sản
1.1.5.5 Thủ tục tuyên bố phá sản
Thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản trong các trường hợp sau:
Trang 25- Đồng thời với việc ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản
- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp tạm ứng phí phá sản mà chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã không còn tiền và tài sản khác để nộp tạm ứng phí phá sản
- Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản không còn tài sản hoặc còn nhưng không đủ để thanh toán phí phá sản
Toà án có trách nhiệm thông báo công khai quyết định tuyên bố phá sản như đối với quyết định mở thủ tục phá sản và phải gửi quyết định tuyên
bố phá sản cho cơ quan đăng kí kinh doanh để xoá tên doanh nghiệp, hợp tác
xã trong sổ đăng kí kinh doanh
1.1.5.6 Thủ tục phá sản đối với các doanh nghiệp đặc biệt
Khoản 2 Điều 2 Luật Phá sản quy định: Chính phủ quy định cụ thể danh mục và việc áp dụng Luật này đối với doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và trong các lĩnh vực khác thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu
Thực hiện quy định trên, Chính phủ đã ban hành hai nghị định là Nghị định số 67/2006/NĐ-CP ngày 11/07/2006 hướng dẫn áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và Nghị định số 114/2008/NĐ-CP ngày 03/11/
2008 hướng dẫn áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác
1.1.6 Trách nhiệm tài sản của người mắc nợ sau khi bị tuyên bố phá sản
Phù hợp với chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân
và thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Luật Phá sản năm 2004 đã quy định hậu quả của việc tuyên bố phá sản là không miễn trừ nghĩa vụ về tài sản của hai đối tượng này đối với các chủ nợ chưa được thanh toán, trừ trường
Trang 26hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
1.1.7 Chế tài trong lĩnh vực phá sản
Chế tài trong pháp luật phá sản bao gồm bốn hình thức: chế tài dân sự, chế tài kỉ luật, chế tài hành chính, và chế tài hình sự Theo đó, người nào có hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỉ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường
Đối với người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản, Luật Phá sản quy định các đối tượng này có thể bị hạn chế quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp trong thời hạn từ một đến ba năm kể từ ngày doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản Trong trường hợp doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản là doanh nghiệp nhà nước, các đối tượng này có thể bị cấm đảm đương các chức vụ tương tự ở bất kì doanh nghiệp nhà nước nào một cách vô thời hạn
1.2 Thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2004
1.2.1 Tình hình ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Phá sản
Luật Phá sản được Quốc hội thông qua ngày 15/06/2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2004 Để thực hiện Luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành sau:
- Nghị quyết số 03/2005/NQ-TANDTC ngày 28 tháng 4 năm 2005 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản;
- Quyết định số 01/2005/QĐ-TANDTC ngày 27 tháng 4 năm 2005 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao về Quy chế làm việc của Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản;
- Nghị định số 94/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 7 năm
Trang 272005 về giải quyết quyền lợi của người lao động ở doanh nghiệp và HTX bị phá sản;
- Nghị định số 67/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11 tháng 7 năm
2006 hướng dẫn việc áp dụng Luật Phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và
tổ chức, hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản
- Thông tư liên tịch số 19/2008/TTLT-BTC-BTP của Bộ Tài chính và
Bộ Tư pháp ngày 19 tháng 02 năm 2008 hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng
và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự và
Tổ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
- Nghị định số 114/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03 tháng 11 năm
2008 Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác
- Nghị định số 10/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 06 tháng 02 năm
2009 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản
Tính đến nay, còn một văn bản hướng dẫn thi hành Luật Phá sản năm
2004 đã được Chính phủ thông báo công khai để lấy ý kiến nhân dân nhưng chưa đưa được ban hành, đó là Nghị định quy định việc áp dụng Luật Phá sản đối với các tổ chức tín dụng
1.2.2 Kết quả thực hiện Luật Phá sản năm 2004
Theo báo cáo tổng kết của Toà án nhân dân tối cao, từ khi Luật Phá sản
có hiệu lực tính đến hết năm 2008, đã có 331 vụ phá sản được thụ lý Cụ thể như sau:
- Năm 2005, toàn ngành Tòa án đã thụ lý mới 11 vụ Năm 2004 chuyển qua 3 vụ, tổng cộng 14 vụ Toà án đã giải quyết được 01 vụ (đạt 7,14%); còn
Trang 28tồn chuyển sang năm 2006 là 13 vụ
- Năm 2006, toàn ngành Toà án đã thụ lý mới 40 vụ; có 13 vụ từ năm
2005 chuyển qua, tổng cộng là 53 vụ Đã giải quyết được 16 vụ, đạt tỷ lệ 30,2%
- Năm 2007, toàn ngành Toà án đã thụ lý mới 144 vụ phá sản, trong đó, Toà án nhân dân cấp tỉnh thụ lý 120 vụ, Toà án nhân dân cấp huyện thụ lý 24
vụ Năm 2006 chuyển qua 31 vụ, tổng cộng là 175 vụ việc Trong số đó, Toà
án đã ra quyết định mở thủ tục phá sản 164 vụ, quyết định không mở thủ tục phá sản 10 vụ, quyết định trả lại đơn 01 vụ Toà án nhân dân cấp huyện giải quyết xong tất cả 24 vụ đã thụ lý (đều ra quyết định tuyên bố phá sản), đạt 100% Còn lại 151 vụ phá sản do Toà án nhân dân cấp tỉnh thụ lý được giải quyết như sau: quyết định trả lại đơn 01 vụ, quyết định không mở thủ tục phá sản 10 vụ, quyết định tuyên bố phá sản theo thủ tục đặc biệt 04 vụ, quyết định đình chỉ thủ tục phá sản 10 vụ, quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản 75 vụ, còn tồn lại 51 vụ đang được tiếp tục giải quyết
- Năm 2008, toàn ngành Tòa án thụ lý mới 136 vụ Trong đó, các Toà
án ra quyết định mở thủ tục phá sản là 131 vụ, quyết định không mở thủ tục phá sản 04 vụ và quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 01 vụ
1.2.3 Những tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện Luật Phá sản năm 2004
1.2.3.1 Tỷ lệ doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản còn ít, chưa phản ánh đúng thực trạng hoạt động của các chủ thể kinh doanh
Luật Phá sản năm 2004 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo thành khung pháp lý khá đầy đủ cho việc phá sản của các doanh nghiệp, hợp tác xã gặp khó khăn về tài chính, không thể tiếp tục hoạt động Tuy nhiên, theo tổng kết của ngành Toà án, số lượng vụ việc phá sản mà Toà án đã thụ
Trang 29lý, giải quyết trong 4 năm kể từ ngày Luật Phá sản có hiệu lực là rất ít, chỉ có
331 vụ Tình trạng nhiều doanh nghiệp hoạt động thua lỗ nhưng không được
xử lý bằng thủ tục phá sản mà lại xử lý bằng thủ tục thu hồi nợ dân sự, thủ tục hành chính và các thủ tục khác vẫn còn phổ biến
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thuế, đến hết tháng 09 năm 2008,
cả nước đã có khoảng gần 350.000 doanh nghiệp nhưng trong số đó chỉ có khoảng 270.000 doanh nghiệp đang hoạt động và có thực hiện nghĩa vụ thuế Trong số 80.000 doanh nghiệp còn lại, chỉ có khoảng 40.000 doanh nghiệp thực hiện thủ tục giải thể để chấm dứt hoạt động Như vậy, còn khoảng 40.000 doanh nghiệp không hoạt động nhưng không làm thủ tục chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật và vẫn tồn tại về mặt pháp lý, trong số
đó, chắc chắn có không ít doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn nhưng không thực hiện thủ tục phá sản
1.2.3.2 Tình trạng vi phạm các quy định trong quá trình giải quyết
vụ phá sản còn phổ biến
Thực tiễn thi hành Luật Phá sản trong thời gian vừa qua cho thấy vẫn còn có những biểu hiện vi phạm các quy định của pháp luật Những vi phạm này xuất phát từ tất cả các chủ thể tham gia vụ việc phá sản
Theo Điều 15 Luật Phá sản, khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản phải gửi cho Toà án các giấy tờ, tài liệu như báo cáo về tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; báo cáo về các biện pháp tài chính mà doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện nhưng vẫn không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn; bảng kê chi tiết tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; danh sách các chủ nợ và danh sách người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã Tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều vụ việc, doanh nghiệp, hợp tác xã không nộp
đủ các giấy tờ, tài liệu trên nhưng Toà án vẫn tiến hành thụ lý và ra quyết định
Trang 30mở thủ tục phá sản, dẫn đến sau đó Tổ quản lý, thanh lý tài sản phải yêu cầu doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản làm lại các tài liệu trên Tuy nhiên, sau vài tháng, doanh nghiệp mới hoàn thành để nộp lại cho Tổ quản lý, thanh lý tài sản Lúc đó, Tổ quản lý, thanh lý tài sản mới bắt đầu hoạt động Dẫn đến kéo dài vụ việc phá sản, vi phạm thời hạn tố tụng
1.2.3.3 Quá trình giải quyết vụ phá sản còn bị kéo dài, hiệu quả giải quyết phá sản còn kém
Từ khi Luật Phá sản có hiệu lực, ở hầu hết các địa phương, việc giải quyết vụ phá sản thường kéo dài Những vụ Toà án ra được quyết định tuyên
bố phá sản là rất ít Do vụ phá sản bị kéo dài nên dẫn đến chi phí giải quyết phá sản chiếm một tỉ lệ khá cao Hiệu quả giải quyết phá sản còn được xác định bằng tỉ lệ thu hồi nợ của các chủ nợ Tuy nhiên, thực tiễn thời gian qua cho thấy tỉ lệ này là khá thấp Theo xếp hạng chỉ số phá sản của Việt Nam trong Báo cáo Doing Business các năm 2007, 2008 và 2009 của Ngân hàng Thế giới và Tập đoàn Tài chính quốc tế công bố thì thời gian giải quyết một
vụ phá sản của Việt Nam là 5 năm, chi phí giải quyết phá sản là 15% giá trị tài sản phá sản, tỉ lệ thu hồi cho các chủ nợ là 18% Các chỉ số trên đều giữ nguyên từ năm 2007 đến năm 2009 Trong khi đó, ở các nước có thực tiễn tốt
về thủ tục phá sản, các chỉ số trên so với Việt Nam có sự khác biệt rất lớn Ví
dụ, theo Báo cáo Doing Business năm 2009, ở Ireland, thời gian giải quyết một vụ phá sản trung bình là 0,4 năm; ở Singapore, chi phí giải quyết phá sản
là 1% giá trị tài sản phá sản; ở Nhật Bản, tỉ lệ thu hồi nợ là 92,5%
Như vậy, so sánh Việt Nam với một số nước thì rõ ràng hệ thống pháp luật phá sản hiện nay còn có nhiều hạn chế, đó là tốn thời gian, chi phí lớn, và rủi ro cho các chủ nợ và bản thân doanh nghiệp
1.2.3.4 Luật Phá sản chưa phát huy được vai trò là công cụ giúp phục hồi doanh nghiệp, tỉ lệ phục hồi doanh nghiệp sau khi mở thủ tục
Trang 31phá sản là rất thấp
Luật Phá sản năm 2004 đã được xây dựng theo hướng tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có thể nhanh chóng tiếp cận với thủ tục phục hồi theo Luật Phá sản Tuy nhiên, trên thực tế, Luật vẫn chưa phát huy được hiệu quả Theo tổng kết của Toà án nhân dân tối cao đến hết năm 2008, chỉ có 01 vụ việc phá sản tại Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng được giải quyết với kết quả phục hồi doanh nghiệp (Xí nghiệp Dâu Tằm tơ tháng tám) Như vậy, tỉ lệ phục hồi doanh nghiệp sau khi mở thủ tục phá sản so với tổng số vụ việc mà Toà án đã thụ lý giải quyết là rất thấp Tính trong 4 năm từ năm 2005 đến hết năm 2008, tỉ lệ này chỉ đạt khoảng 0,3% (1/331 vụ)
1.2.4 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện Luật Phá sản
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong quá trình thi hành Luật Phá sản rất đa dạng, xuất phát từ nhiều phía Có thể xác định chúng theo bốn nhóm cơ bản bao gồm: nguyên nhân từ phía Luật Phá sản; nguyên nhân từ phía doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và các chủ nợ tham gia giải quyết phá sản; nguyên nhân từ phía các cơ quan có thẩm quyền giải quyết phá sản và nguyên nhân từ phía các cơ quan, tổ chức có liên quan Tuy nhiên, trong phạm vi hạn hẹp của một luận văn thạc sỹ và để phù hợp với hướng nghiên cứu của đề tài, tôi chỉ xin được đề cập đến các nguyên nhân xuất phát
từ phía Luật Phá sản
1.2.4.1 Về dấu hiệu doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Quy định về tình trạng phá sản theo Luật Phá sản năm 2004 là phù hợp nhưng không có tiêu chí cụ thể để hướng dẫn nên dẫn đến việc có một số chủ
nợ đã “lạm dụng” quyền nộp đơn nhằm gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác Trong nhiều trường hợp,
Trang 32các chủ nợ thay vì khởi kiện vụ án dân sự, kinh tế để đòi nợ, họ lại làm đơn yêu cầu Toà án mở thủ tục phá sản và Toà án không thể từ chối yêu cầu này [2] Điều 19 Luật Phá sản có quy định về trách nhiệm của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản do không khách quan hoặc gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác Tuy nhiên, chưa có hướng dẫn cụ thể thế nào là không khách quan, hoặc thế nào là gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác Do vậy quy định này khó có thể được áp dụng trong thực tế hoặc được
áp dụng tuỳ thuộc vào ý chí chủ quan của Thẩm phán giải quyết phá sản
1.2.4.2 Về vai trò của Toà án trong thủ tục phá sản
Toà án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết phá sản Tuy nhiên, vai trò của Toà án trong quá trình giải quyết phá sản là quá lớn, không hợp lý
Điều đó thể hiện thông qua việc Toà án tự mình thành lập ra thiết chế
để quản lý, thanh lý tài sản trong khi đó theo thông lệ thế giới, nhiệm vụ quản
lý, thanh lý tài sản được giao cho các thiết chế độc lập và có đủ kiến thức cần thiết về thương mại, do chủ nợ hoặc con nợ đề xuất, Toà án thường chỉ phê chuẩn hoặc công nhận đề xuất đó Bên cạnh đó, Toà án còn tự mình quyết định về nhiều vấn đề mang tính kinh tế của vụ việc phá sản Điều đó là không cần thiết, làm giảm hiệu quả hoạt động của Toà án
1.2.4.3 Về hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản
Luật Phá sản năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định khá chi tiết về hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản, tuy nhiên một số quy định chưa đầy đủ và chưa hợp lý đã dẫn đến hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản trong thực tế còn nhiều vướng mắc và kém hiệu quả Cụ thể như sau:
- Về thành phần của Tổ quản lý, thanh lý tài sản: Việc quản lý và tổ
chức thanh lý tài sản của các doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp vừa và
Trang 33lớn, là công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi sự chuyên nghiệp hoá cao, đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn cần thiết Theo quy định, Tổ quản lý, thanh
lý tài sản bao gồm một chấp hành viên làm tổ trưởng, một cán bộ Toà án, một đại diện chủ nợ, một đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã bị mở thủ tục phá sản, trường hợp cần thiết thì có thêm đại diện của người lao động
và của các cơ quan chuyên môn Như vậy, thành viên Tổ quản lý, thanh lý tài sản hầu hết là kiêm nhiệm, hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản phụ thuộc chủ yếu vào Tổ trưởng là chấp hành viên của cơ quan thi hành án dân
sự Trong quá trình giải quyết phá sản, chấp hành viên vừa phải chịu trách nhiệm trước Thẩm phán phụ trách phá sản, vừa phải chịu sự quản lý của cơ quan thi hành án, phải thực hiện song song nhiệm vụ của Tổ quản lý, thanh lý tài sản và của cơ quan công tác Do vậy hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản thường kém hiệu quả, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế
- Về hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản: Do pháp luật chưa quy
định rõ ràng về chế độ làm việc của Tổ nên mỗi nơi, mỗi vụ việc, Tổ quản lý, thanh lý tài sản hoạt động theo chế độ khác nhau Có trường hợp do quá bận công tác tại cơ quan thi hành án nên Chấp hành viên chỉ làm việc vào thứ bảy
và chủ nhật Việc phối hợp giữa Thẩm phán với Chấp hành viên cũng còn nhiều vấn đề bởi vì Chấp hành viên vừa phải chịu sự quản lý của Thủ trưởng
cơ quan thi hành án, vừa phải chịu sự chỉ đạo của Thẩm phán phụ trách phá sản Ngoài ra, về thù lao cho thành viên Tổ quản lý, thanh lý tài sản, theo Thông tư số 19/2008/TTLT-BTC-BTP, mức chi tối đa là 25.000đ/người/buổi, việc chỉ quy định mức tối đa như vậy sẽ dẫn đến mỗi địa phương, mỗi vụ việc
sẽ được áp dụng mức chi thù lao khác nhau Do vậy cần có hướng dẫn để áp dụng thống nhất
1.2.4.4 Về tài sản phá sản
- Về xác định tài sản phá sản: Quy định về xác định về phạm vi tài sản
Trang 34tại Điều 49 Luật Phá sản năm 2004 về cơ bản là phù hợp, tuy nhiên không bao hàm hết các loại tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Các loại tài sản không được quy định là: Tài sản được thu hồi từ các giao dịch trái pháp luật; tài sản có được sau khi mở thủ tục phá sản, Ngoài ra, Luật cũng chưa có quy định về tài sản được loại trừ ra khỏi khối tài sản phá sản đối với chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh Theo thông lệ thế giới, để đảm bảo tính nhân đạo, nên loại trừ một số tài sản như: đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, các khoản trợ cấp, bồi thường do bị tổn hại về sức khoẻ, tiền bảo hiểm, … [27]
- Về xác định các khoản nợ phải trả: Theo Điều 34 Luật Phá sản, thời
điểm ngừng thanh toán nợ là thời điểm mở thủ tục thanh lý tài sản Quy định này gây khó khăn cho Tổ quản lý, thanh lý tài sản khi xác định nợ, nhất là nợ tín dụng ngân hàng Thời điểm xác định lãi suất sẽ là thời điểm gửi giấy đòi
nợ hay thời điểm mở thủ tục thanh lý tài sản Mặt khác, cũng chưa có quy định xác định lãi suất phát sinh từ khoản nợ gốc có bảo đảm có được tính là khoản nợ có bảo đảm hay không
- Về xử lý các khoản nợ khó đòi, không thể đòi: Luật Phá sản năm 2004
chưa quy định về các khoản nợ khó đòi, không thể đòi được Thực tế, Toà án
và Tổ quản lý, thanh lý tài sản thường áp dụng các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự để giải quyết, tuy nhiên việc áp dụng như vậy là chưa có đầy đủ căn cứ pháp lý
- Về vấn đề thu hồi tài sản phá sản: Luật Phá sản năm 2004 chưa quy
định rõ về thủ tục thu hồi tài sản Ngoài ra, Luật cũng chưa quy định về các biện pháp bảo đảm quyết định thu hồi tài sản của Thẩm phán, chưa quy định
về việc uỷ thác thu hồi trong trường hợp tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã nằm rải rác ở nhiều địa phương Do vậy, việc thu hồi tài sản trong thực tế gặp rất nhiều khó khăn Mặt khác, có những tài sản mà chi phí cho việc thu hồi
Trang 35còn lớn hơn giá trị của tài sản, nếu cứ thực hiện việc thu hồi thì vừa mất thời gian, vừa tốn kém
- Về thẩm quyền của Thẩm phán trong việc ra quyết định bán đấu giá tài sản: Việc ra quyết định bán đấu giá tài sản của Thẩm phán khi tiến hành
thủ tục thanh lý là không có đủ căn cứ, bởi vì Điều 8 Luật Phá sản năm 2004 khi xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản không quy định thẩm phán có quyền ra quyết định bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
- Về bán đấu giá tài sản: Việc bán đấu giá tài sản gặp rất nhiều khó
khăn do thiếu các tổ chức định giá chuyên nghiệp, chế độ tài chính - kế toán của doanh nghiệp chưa được thực hiện nghiêm chỉnh
- Về xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán cho các chủ nợ có bảo đảm:
Theo Luật Phá sản năm 2004 và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/
2006 về giao dịch bảo đảm thì tài sản bảo đảm có thể được giao cho các chủ
nợ hoặc có thể được Tổ quản lý, thanh lý tài sản bán đấu giá Tuy nhiên, trong thực tế, các chủ nợ thường không muốn nhận tài sản vì tài sản bảo đảm thường có giá trị thấp hơn giá trị theo sổ sách Ngoài ra, trong trường hợp đó
cơ chế để xác định giá trị tài sản bảo đảm cũng chưa được quy định rõ ràng
1.2.4.5 Về thủ tục giải quyết phá sản
* Thủ tục nộp đơn và yêu cầu mở thủ tục phá sản
- Về thành phần chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:
Theo Luật Phá sản năm 2004 thì chủ nợ có bảo đảm không có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Trong nhiều vụ phá sản, tài sản bảo đảm có giá trị thấp hơn nhiều so với khoản nợ có bảo đảm, do vậy về thực chất thì các chủ nợ có bảo đảm đó chỉ được bảo đảm một phần Do vậy, quy định này là không hợp lý và đã tước đi của các chủ nợ có bảo đảm quyền lựa chọn một phương thức đòi nợ hữu hiệu là thủ tục phá sản
Trang 36- Về quyền nộp đơn của chủ nợ: Trong thực tế, các chủ nợ thường chỉ
sử dụng thủ tục phá sản như phương thức đòi nợ cuối cùng, khi không thể áp dụng các biện pháp nào khác Nhiều chủ nợ thường tìm cách để dàn xếp với doanh nghiệp mắc nợ đã lâm vào tình trạng phá sản để khoản nợ của họ được thanh toán trước Nhiều chủ nợ là các ngân hàng, doanh nghiệp nhà nước thường không tích cực trong việc đòi nợ, đặc biệt khi doanh nghiệp mắc nợ là các doanh nghiệp nhà nước
- Về quyền nộp đơn của người lao động: Theo Luật Phá sản năm 2004,
người lao động có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nhưng phải thông qua người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn Thủ tục cử người đại diện của người lao động là rất phức tạp và khó thực thi Điều này đã hạn chế quyền nộp đơn của người lao động trong doanh nghiệp
* Về thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: Hiện nay, có nhiều trường
hợp không xác định được địa chỉ của doanh nghiệp hoặc của chủ doanh nghiệp khi có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Khi đó Toà án sẽ lúng túng trong việc giải quyết đơn và thường áp dụng điểm 5 Điều 24 Luật Phá sản để trả lại đơn
* Về tổ chức Hội nghị chủ nợ: Theo quy định của Luật Phá sản năm
2004, chỉ có các chủ nợ đại diện cho ít nhất một phần ba tổng số nợ không có bảo đảm mới có quyền yêu cầu Thẩm phán triệu tập Hội nghị chủ nợ Quy định như vậy đã không tạo điều kiện cho Hội nghị chủ nợ có thể hoạt động một cách thường xuyên, kịp thời để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi mang tính cấp bách của các chủ nợ Ngoài ra, tại Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất, Luật cũng chưa quy định rõ hậu quả pháp lý nếu doanh nghiệp, hợp tác
xã lâm vào tình trạng phá sản không lập phương án, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh để trình Hội nghị chủ nợ xem xét Trong trường hợp này, có
vụ việc thì Hội nghị chủ nợ vẫn tiếp tục và ra nghị quyết về việc thanh lý tài
Trang 37sản, Thẩm phán sẽ căn cứ vào đó và ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản;
có vụ việc Thẩm phán quyết định hoãn hội nghị để chờ doanh nghiệp, hợp tác
xã thực hiện nghĩa vụ
* Về việc đình chỉ thủ tục phá sản: Điều 67 Luật Phá sản năm 2004 quy
định Thẩm phán sẽ ra quyết định đình chỉ thủ tục phá sản trong trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản rút lại đơn yêu cầu Quy định này
là không hợp lý Thẩm phán chỉ nên ra quyết định đình chỉ thủ tục phá sản nếu chưa ra quyết định mở thủ tục phá sản Bởi vì khi đã có quyết định mở thủ tục phá sản thì có nghĩa là doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực sự lâm vào tình trạng phá sản Việc đình chỉ thủ tục phá sản sẽ ảnh hưởng bất lợi đến quyền lợi của các chủ nợ
Bên cạnh đó, Luật Phá sản năm 2004 cũng chưa quy định về hậu quả của việc đình chỉ thủ tục phá sản Toà án sẽ lúng túng trong việc xác định liệu doanh nghiệp, hợp tác xã có bị coi là vẫn còn lâm vào tình trạng phá sản hay không, và vấn đề thi hành án dân sự hoặc giải quyết vụ án bị đình chỉ theo quy định tại Điều 57 của Luật Phá sản chưa được thi hành hoặc chưa được giải quyết thì sẽ được tiếp tục giải quyết như thế nào
1.2.4.6 Về quyền lợi của người lao động:
Theo quy định của pháp luật lao động thì việc giải quyết chính sách xã hội như hưu trí và các chế độ khác cho người lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội phải căn cứ vào quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp Thẩm phán muốn ra quyết định tuyên bố phá sản thì phải thực hiện xong phương án phân chia tài sản Do thực tế các vụ phá sản thường kéo dài nên quyền lợi của người lao động thường chậm được giải quyết Điều này đã tạo ra sức ép rất lớn lên hoạt động của Toà án
1.2.4.7 Về trách nhiệm tài sản sau khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản:
Trang 38Theo thông lệ quốc tế, sau khi Toà án ra quyết định tuyên bố phá sản thì thương nhân sẽ được giải trừ toàn bộ nghĩa vụ về tài sản Thương nhân sẽ
có cơ hội để bắt đầu lại việc kinh doanh của mình Như vậy, quy định của Luật Phá sản năm 2004 về trách nhiệm của chủ doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh của công ty hợp danh là quá khắt khe và cứng nhắc Quy định đó sẽ hạn chế các thương nhân sử dụng thủ tục phá sản
Ngoài ra, Luật Phá sản cũng chưa quy định về cách xử lý trong trường hợp sau khi ra quyết định tuyên bố phá sản mà chủ nợ phát hiện ra người mắc
nợ có tài sản khác Khi gặp tình huống như vậy, Toà án sẽ không có căn cứ để giải quyết yêu cầu đòi nợ của các chủ nợ
Như vậy, qua việc nghiên cứu các nội dung cơ bản của pháp luật phá sản Việt Nam hiện hành mà trọng tâm là Luật Phá sản năm 2004, có thể nhận thấy rằng pháp luật phá sản đã được quy định một cách có hệ thống, khá đầy
đủ, về cơ bản phù hợp với cách tiếp cận của pháp luật phá sản thế giới Cùng với pháp luật về các chủ thể kinh doanh và pháp luật về các hoạt động kinh doanh, pháp luật phá sản đã góp phần hình thành nên khung pháp lý cho thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh đó, qua hơn 4 năm thi hành, pháp luật phá sản cũng đã bộc lộ nhiều bất cập, vướng mắc mà nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ các nội dung chưa đầy đủ và chưa hợp lý của Luật Phá sản Chứng minh cho nhận định trên một cách rõ ràng nhất là số lượng doanh nghiệp, hợp tác xã được giải quyết theo Luật Phá sản trong 4 năm qua mới chỉ khoảng 300 - 400 doanh nghiệp, hợp tác xã, trên tổng số khoảng gần 400.000 doanh nghiệp và khoảng 18.000 hợp tác xã của cả nước Đây là một con số bất hợp lý, chưa phản ánh đúng thực trạng của hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế và chứng tỏ rằng Luật Phá sản chưa thực sự đi vào cuộc sống