1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOÀN THIỆN các QUY ĐỊNH của bộ LUẬT HÌNH sự HIỆN HÀNH về các tội xâm PHẠM TRẬT tự QUẢN lý KINH tế

82 173 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những bất cập của BLHS hiện hành trong việc quy định về dấu hiệu định khung áp dụng cho các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.... Quá trình áp dụng chương “Các tội xâm phạm trật tự qu

Trang 1

CHUYÊN NG ÀNH : LUẬT HÌNH SỰ

M Ã SỐ : 60 38 40

LUẬN V ĂN TH ẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯ ỜI HƯ ỚNG DẪ N : TS DƯƠNG TU YẾT M IÊN

HÀ NỘI NĂM 2006

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn giảng viên - Tiến sĩ Dương Tuyết Miên đã nhiệt tình hướng dẫn, các thầy, cô giáo đã tham gia giảng dạy cao học khoá XI và Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đã tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành được luận

văn này!

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương I : Những bất cập của BLHS hiện hành về các tội xâm

1.1 Những bất cập của BLHS hiện hành trong việc quy định về dấu

hiệu định tội áp dụng cho các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế 6

1.2 Những bất cập của BLHS hiện hành trong việc quy định về dấu

hiệu định khung áp dụng cho các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh

tế 16 1.3 Những bất cập của BLHS hiện hành trong việc quy định về

hình phạt áp dụng cho các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh

tế 21 1.4 Một số bất cập khác của BLHS hiện hành k hi quy định về các

tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế 27 1.4.1 Một số hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa được BLHS hiện

hành coi là tội phạm 27 1.4.2 Một số hành vi nên loại bỏ khỏi chương các tội xâm phạm

trật tự quản lý kinh tế 31

Chương II : Phương hướng hoàn thiện các quy định của BLHS

hiện hành về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

2.1 Các yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện 37

2.1.1 Các quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế phải

thể chế hoá được đường lối chính sách của Đảng về hoàn thiện hệ

thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng 37 2.1.2 Qui định về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế phải phù

hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay,

Trang 5

phải tương thích với luật chuyên ngành về quản lý kinh tế 39

2.1.3 Qui định về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế phải đảm

bảo tính hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm 41 2.2 Một số nội dung cần hoàn thiện 43

2.2.1 Sửa đổi, bổ sung, cụ thể hoá một số dấu hiệu định tội áp dụng

cho các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế 43

2.2.2 Sửa đổi, bổ sung, cụ thể hoá một số dấu hiệu định khung áp

dụng cho các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế 49

2.2.3 Sửa đổi, bổ sung một số quy định về hình phạt áp dụng cho

các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế 52 2.2.4 Những nội dung cần hoàn thiện khác 60

a- Xem xét bổ sung một số tội phạm mới vào chương các tội xâm

phạm trật tự quản lý kinh tế 60 b- Xem xét loại bỏ một số tội ra khỏi chương các tội xâm phạm trật

tự quản lý kinh tế 66

Kết luận 70

Danh mục tài liệu tham khảo 72 Phụ lục

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đổi mới là đặc tính của cách mạng XHCN , là xu thế của thời đại Chính vì lẽ đó mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) với phương

châm: “Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật” [13] đã

đề ra đường lối đổi mới toàn diện nền kinh tế - xã hội của đất nước Sau hai mươi năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, đất nước ta đã có những bước phát triển quan trọng Từ một nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, đã dần chuyển sang nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN, từng bước hội nhập vào nề n kinh tế thế giới Các thành phần kinh tế được phát triển lâu dài, không hạn chế về quy mô và được bình đẳng trong sản xuất, kinh doanh Công dân được quyền tự do kinh doanh theo qui định của pháp luật

Thực tiễn cho thấy tội phạm xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội trong đó có lĩnh vực kinh tế với quy mô và mức độ khác nhau Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã chứng minh, tội phạm trong lĩnh vực quản lý kinh tế là loại tội phạm mang tính kỹ thuật cao và phức tạp Khi xảy ra, hậu quả của nó để lại vô cùng to lớn Mục tiêu mà người thực hiện hành vi phạm tội hướng tới là lợi nhuận Vì lợi nhuận những người này không

từ bất cứ một thủ đoạn nào.Tội phạm về kinh tế thường liên quan đến tội phạm tham nhũng Do vậy, đấu tranh với tội phạm loại này lại càng phức tạp hơn Điều đó được thể hiện rõ nét trong các báo cáo về công tác của các ngành CA, VKSND, TAND Trong các báo cáo đó đều nhận định rằng: Các tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng nhất là các tội phạm kinh tế Kẻ phạm tội đã và đang triệt để lợi dụng những kẽ hở của cơ chế chưa được hoàn thiện để thực hiện tội phạm [49] Tất cả những điều đó đòi hỏi Nhà nước phải quan tâm đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói riêng trong đó hoạt động lập pháp hình sự đóng vai trò quan trọng BLHS 1999 là công cụ đắc lực để đáp ứng yêu cầu đó

Trang 7

Quá trình áp dụng chương “Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh

tế”đã bộc lộ một số bất cập cần sớm được khắc phục n hư: Dấu hiệu định

tội trong C TTP của các qui định về tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong chương này trong một chừng m ực nhất định chưa tương thích với luật chuyên ngành Nó m ới chủ yếu mang tính đối phó tức thời hơn là m ang tính dự phòng; m ới chỉ ch ú ý đến phòng chống tội phạm mà chưa trú trọng đến việc tạo ra hành lang pháp lý an toàn để khuyến khích, kích thích sản xuất phát triển Dấu hiệu định tội của một số tội còn chung chung, chưa rõ ràng từ đó có thể dẫn đến sự tuỳ tiện trong áp dụng không đ ảm bảo an toàn cho các hoạt động kinh tế năng động, sáng tạo Nhiều dấu hiệu định khung tăng nặng chưa được giải thích Qui định về hình phạt trong chương này vẫn còn bất cập Bên cạnh đó, có nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội m ới xuất hiện trong một số lĩnh vực như: đấu thầu, lĩnh vực chứng khoán, lĩnh vực cạnh tranh…vẫn chưa được BLHS qui định là tội phạm Mặt khác, một

số qui định trong chương này đã tỏ ra không còn phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Như vậy, có

thể nói qui định của BLHS hiện hành về chương: “Các tội xâm phạm trật

tự quản lý kinh tế” chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống các

tội phạm trong giai đoạn hiện nay

Ngày 02/06/2005 Bộ chính trị đã ra Nghị quyết số: 49 -NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Nghị quyết của Đảng đã nêu rõ:

“Chính sách hình sự … còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung”

trong khi “Tình hình tội phạm diễn biến phức tạp với tính chất và hậu quả

ngày càng nghiêm trọng” Do đó phải:

“Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự… phù hợp với nền kinh

tế thị trường XHCN , đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loạ i tội phạm Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình Qui định là tội phạm đối với những hành

vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế -

xã hội ”[7]

Trang 8

Như vậy, việc hoàn thiện các qui định của BLHS hiện hành về các tội xâm phạm quản lý kinh tế là một việc làm hoàn toàn cần thiết, phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng ta

Với tất cả lý do nói trên và để góp một tiếng nói vào quá trình hoàn thiện BLHS nói chung và hoàn thiện qui định của BLHS hiện hành đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói riêng, tôi mạnh dạn chọn đề tài:

“Hoàn thiện các qui định của BLHS hiện hành về các tội xâm phạm trật

tự quản lý kinh tế” để làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đây là đề tài thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và cán bộ pháp luật đang làm công tác thực tế Có thể kể đến các đề tài nghiên cứu

như: “Hoàn thiện khung pháp luật trong nền kinh tế thị trường” do PGS-TS Lê Hồng Hạnh chủ trì, “Hoàn thiện qui định của BLHS hiện hành về các tội xâm

phạm trật tự quản lý kinh tế”- đề tài cấp khoa do TS Trương Quang Vinh chủ

trì; các bài viết như: “Tội phạm kinh tế và vấn đề đấu tranh với nó trong nền

kinh tế thị trường ở nước ta” (Tạp chí Luật học, số 3/1996) của PGS-TS Phạm

Hồng Hải, “Hoàn thiện qui định của BLHS về các tội phạm kinh tế trong giai

đoạn hiện nay” trong sách “Luật hình sự Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, của PGS-TS Trần Văn Độ; “Một số vấn đề bổ sung, sửa đổi chương các tội phạm kinh tế của BLHS” (Tạp chí Thông tin khoa học pháp lý,

số 6/1998) của TS Nguyễn Văn Hiện; “Hiểu và áp dụng tình tiết “đã bị xử

phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” trong BLHS 1999 như thế nào” (Tạp chí Kiểm sát, số 7/2001) của Trần Văn Thuận; “Tội phạm kinh tế và đấu tranh phòng chống tội phạm này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”

(Tạp chí Luật học, số 3/2003) của TS Dương Tuyết Miên; “Các tội xâm phạm

trật tự quản lý kinh tế và sự cần thiết, hoàn thiện cơ chế đấu tranh chống tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế” (tạp chí Toà án nhân dân, số 7/2004) của

Thạc sỹ Mai Bộ; “Cần sửa đổi, bổ sung những qui định của BLHS về tình tiết

đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm” (Tạp chí

Kiểm sát, số tháng 10/2004) của Thạc sỹ Phùng Văn Ngân; “Về việc duy trì

hình phạt tử hình trong Luật hình sự Việt Nam” (Tạp chí Nhà nước và pháp

luật, số 1 (213)/2006) của Thạc sỹ Phạm Văn Beo,

Trang 9

Các tác giả trên với công trình nghiên cứu, bài viết của mình đã trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến những phương hướng, giải pháp hoàn thiện các tội phạm này trong thời gian tới Tuy nhiên, các công trình, bài viết này ở các mức độ khác nhau mới chỉ dừng lại ở việc nêu lên những bất cập trong thực tiễn áp dụng các qui định của BLHS, các đề xuất chưa mang tính tổng hợp, toàn diện Hơn nữa, các công trình này cũng chưa cập nhật đến định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng cũng như chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Chính vì vậy, rất cần có một công trình nghiên cứu một cách toàn diện về các tội xâm phạm trật

tự quản lý kinh tế trong BLHS, chỉ ra các bất cập cơ bản và đề xuất những giải pháp hoàn thiện chế định này trong BLHS, góp phần thiết thực vào công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trong thời gian tới

3 mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những qui định của BLHS hiện hành về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tác giả sẽ chỉ ra những bất cập chủ yếu của chương này và đề xuất các giải pháp cơ bản góp phần hoàn thiện các qui định của BLHS đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

4 Phạm vi nghiên cứu

Đây là đề tài được nghiên cứu dưới góc độ của Luật hình sự Phạm vi nghiên cứu là qui định của BLHS hiện hành về các tội xâm phạm trật tự quản

lý kinh tế

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- C ơ sở lý lu ận: Lu ận văn đ ược trình bày trên c ơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật Các quan điểm

cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng

- Phư ơng ph áp nghiên cứu: T rong luận văn , tá c giả đã sử dụng cá c phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh

Trang 10

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm 02 chương:

Chương I: Những bất cập của BLHS hiện hành về các tội xâm phạm

trật tự quản lý kinh tế

Chương II: Phương hướng hoàn thiện các qui định của BLHS hiện hành

về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 11

CHƯƠNG I NHỮNG BẤT CẬP CỦA BLHS HIỆN HÀNH VỀ CÁ C TỘI XÂM PH ẠM

TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ 1.1 Những bất cập của BLHS hiện hành trong việc qui định về dấu hiệu định tội áp dụng cho các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại nền kinh tế quốc dân, gây thiệt hại cho lợi ích của nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và của công dân qua việc vi phạm qui định của nhà nước trong quản lý kinh tế

Trong BLHS hiện hành chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế gồm 29 điều luật từ Điều 153 đến Điều 181 So với các chương khác thì chương này được đánh giá là một chương lớn của BLHS, có nhiệm vụ bảo vệ trật tự quản lý kinh tế XHCN chống lại mọi hành vi xâm phạm đến các qui định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý kinh tế Nghiên cứu các qui định về dấu hiệu định tội áp dụng cho chương này chúng tôi thấy về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm Tuy nhiên, nếu xét về kỹ thuật lập pháp, việc xây dựng dấu hiệu định tội còn bộc lộ nhiều hạn chế cần được nghiên cứu, hoàn thiện Theo nghiên cứu của chúng tôi, những bất cập ấy là:

- Thứ nhất: Qui định tình tiết xấu về nhân thân là dấu hiệu định tội là

không hợp lý, vì lý do sau: khi xây dựng các CTTP cho các tội phạm cụ thể, nhà làm luật lựa chọn những dấu hiệu đặc trưng cho mỗi loại tội - dấu hiệu định tội - để xây dựng nên những CTTP khác nhau Như vậy, dấu hiệu định tội là những dấu hiệu có tính đặc trưng điển hình của một tội cụ thể, qua đó người ta có thể phân biệt tội này với tội khác Trong mặt khách quan của tội phạm, hành vi khách quan được đánh giá là dấu hiệu cơ bản nhất Tất cả các dấu hiệu khác của tội phạm đều chỉ là biểu hiện xoay quanh và gắn liền với hành vi khách quan Không có hành vi thì cũn g không có các dấu hiệu khác Nhưng trong quá trình xây dựng các dấu hiệu định tội cho một số tội, nhà làm luật dường như đã quá thiên về dấu hiệu chủ thể, mà ở đây đặc điểm xấu về nhân thân của chủ thể đã được coi là dấu hiệu định tội thay thế cho dấu hiệ u

Trang 12

đặc trưng của một số tội cụ thể Trong các đặc điểm xấu về nhân thân thì các

dấu hiệu như: “đã bị xử phạt hành chính”, “đã bị xử lý kỷ luật”, “đã bị kết

án” được sử dụng một cách phổ biến Dưới đây là bảng thống kê của tác giả

về các điều luật trong chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, nhà làm luật có sử dụng các đặc điểm xấu về nhân thân làm dấu hiệu định tội:

STT Dấu hiệu định tội Điều luật qui định

Nguồn: BLHS, chương: “Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế”

Phân tích bảng trên ta thấy: Trong số 21 điều luật qui định đặc điểm xấu

về nhân thân làm dấu hiệu định tội, có 18 điều luật qui định dấu hiệu “đã bị xử

phạt hành chính”, 16 điều luật qui định dấu hiệu “đã bị kết án”, 8 điều luật qui

định dấu hiệu “đã bị xử lý kỷ luật”, có 13 điều luật qui định hai dấu hiệu “đã bị

xử phạt hành chính”, “đã bị kết án”, có 2 điều luật qui định dấu hiệu “đã bị xử phạt hành chính”, “đã bị xử lý kỷ luật”, có 3 điều luật qui định cả 3 dấu hiệu

“đã bị xử phạt hành chính”, “đã bị kết án”, “đã bị xử lý kỷ luật”

Trong chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, đặc điểm xấu về nhân thân được qui định là dấu hiệu định tội với những vai trò khác nhau như:

+ Là dấu hiệu định tội độc lập: Dấu hiệu này được qui định ở hai điều

Đó là các Điều 159 (tội kinh doanh trái phép) và Điều 174 (tội vi phạm các qui định về quản lý đất đai);

+ Là dấu hiệu tương đương và có thể thay thế cho dấu hiệu “hậu quả”

trong trường hợp dấu hiệu này không thoả mãn: Dấu hiệu này được qui định

ở 9 điều Đó là các điều: Điều 162 (tội lừa dối khách hàng), Điều 167 (tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế), Điều 168 (tội quảng cáo gian dối), Điều 171 (tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp), Điều 173 (tội vi phạm các qui định về sử dụng đất đai), Điều 175 (tội vi phạm các quyết định về khai thác và

Trang 13

bảo vệ rừng), Điều 176 (tội vi phạm các qui định về quản lý rừng), Điều 177 (tội vi phạm các qui định về cung ứng điện), Điều 178 (tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng);

+ Là dấu hiệu bổ sung cho dấu hiệu giá trị, số lượng hàng phạm pháp,

số tiền thu lợi bất chính khi giá trị, số lượng hàng phạm pháp, số tiền thu lợi bất chính không đủ mức định lượng mà điều luật qui định: Dấu hiệu này được

qui định ở 8 điều, đó là các điều: Điều 153 (tội buôn lậu), Điều 154 (tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới), Điều 155 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm), Điều 156 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả), Điều 158 (tội sản xuất, buôn bán hàng g iả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi), Điều 161 (tội trốn thuế), Điều 164 (tội làm tem giả, vé giả; tội buôn bán tem giả, vé giả), Điều 166 (tội lập quỹ trái phép);

+ Là dấu hiệu kết hợp với dấu hiệu “hậu quả” : Dấu hiệu này được qui

định ở hai điều: Điều 165 (tội cố ý làm trái qui định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng), Điều 170 (tội vi phạm qui định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp)

Nghiên cứu sự phát triển của Luật hình sự Việt Nam (tính từ khi có BLHS 1985) trong việc qui định dấu hiệu định tội áp dụng cho các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, chúng tôi thấy không phải ngay từ đầu Luật hình

sự Việt Nam đã coi đặc điểm xấu về nhân thân là dấu hiệu định tội Qua 4 lần sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1985, các đặc điểm xấu về nhân thân mới dần được đưa vào là dấu hiệu định tội và đến BLHS năm 1999 thì các đặc điểm xấu về nhân thân đã được qui định một cách phổ biến Với việc qui định này

có quan điểm đã đánh giá là để “phân biệt cụ thể hơn tội phạm và vi phạm

pháp luật khác, thể hiện quan điểm của Nhà nước ta đối với các vi phạm pháp luật trước hết là phải giáo dục hoặc xử lý bằng biện pháp khác rồi mới đến các biện pháp hình sự” [46] và để “nhằm hạn chế đến mức tối đa khả năng phải xử lý về hình sự, nhấn mạnh và đề cao vai trò của các biện pháp hành chính và các biện pháp khác trong việc răn đe, giáo dục người đã bị xử phạt hành chính thấy được khả năng, nguy cơ có thể xử lý hình sự của họ để từ đó tránh việc lại tiếp tục có hành vi vi phạm và đi vào con đường phạm tội ” [2]

Trang 14

Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng việc nhà làm luật lấy đặc điểm xấu về nhân thân làm dấu hiệu định tội đã bộc lộ những bất hợp lý của nó cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn:

Xét về mặt lý luận, nó trái với các nguyên tắc của Luật hình sự Việt Nam B ởi, thứ nhất một người cho dù nhân thân của họ có xấu đến mức độ nào đi chăng nữa thì Luật hình sự cũng không thể lấy đó làm dấu hiệu định tội Đúng là trong luật hình sự có qui định một số loại chủ thể của tội phạm với các đặc điểm nhất định về nhân thân như: giới tính, nghề nghiệp (chủ thể này gọi là chủ thể đặc biệt) Qui định như vậy là nhằm nhấn mạnh: chỉ những người như vậy mới thực hiện được hành vi phạm tội như vậy Nhưng các đặc điểm nhân thân đó không phải là các đặc điểm xấu Khoa học luật hình sự đến nay đã phân biệt rõ hai khái niệm chủ thể của tội phạm và nhân thân người phạm tội Trong đó, chủ thể của tội phạm (với các dấu hiệu như: năng lực TNHS, độ tuổi) là một tron g bốn yếu tố CTTP, còn các đặc điểm

về nhân thân người phạm tội (chỉ gồm các đặc điểm xấu) là cơ sở để cá thể hoá TNHS và hình phạt [8] Nghĩa là đặc điểm xấu về nhân thân chỉ được qui định là tình tiết tăng nặng TNHS (Điều 48 BLHS) hoặc là dấu hiệu định

khung tăng nặng chứ không được qui định là dấu hiệu định tội Do đó: “đặc

điểm xấu của nhân thân không có ý nghĩa quyết định hành vi trở thành hành

vi phạm tội mà chỉ có ý nghĩa làm tăng mức hình phạt cho người thực hiện hành vi phạm tội để đảm bảo cho hình phạt đạt được mục đích”[19] Thứ

hai, như chúng ta đã biết cái làm cho mọi ngư ời thấy đư ợc tính nguy hiểm

của tội phạm và sự cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự chính là hành

vi khách quan của nó Hành vi phạm tội trong lĩnh vực quản lý kinh tế vố n

dĩ đã vô cùng đa dạng nhưng càng ngày nó càng xuất hiện những dạng hành

vi mới nguy hiểm hơn, tinh vi hơn BLHS phải khái quát được các dạng hành vi đó để qui định về tội phạm và hình phạt nhưng với việc chỉ chú trọng đến các đặc điểm xấu về nhân thân nh ư vậy, BLHS đã bộc lộ hạn chế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm Đúng như có ý kiến đã nhận xét:

“Qui định của BLHS như vậy đã chưa tính hết các tính chất đa dạng và phức

tạp của tội phạm trên thực tế” [37]

Trang 15

Xét về mặt thực tế, việc qui định đặc điểm xấu về nhân thân đã mở rộng phạm vi truy cứu TNHS, tức là một người hoàn toàn có thể bị truy cứu TNHS

vì nhân thân xấu của họ Điều này thể hiện ở chỗ: tuy hành vi chưa nguy hiểm đáng kể hoặc chưa gây ra hậu quả nhưng nếu nhân thân có tiền án, tiền sự thì

TNHS được đặt ra Ví dụ Điều 175 BLHS qui định: “Người nào có một trong

các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án”, hoặc tuy hành vi chưa đủ dấu hiệu định lượng

nhưng nhân thân có tiền án, tiền sự thì cũng xử lý về hình sự Ví dụ Điều 156

BLHS qui định: “Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương với số

lượng hàng thật có giá trị từ 30 triệu đồng hoặc dưới 30 triệu đồng đã bị

xử phạt hành chính đã bị kết án ” Trong khi đó, những người không có đặc

điểm trên cùng lắm chỉ bị xử phạt hành chính theo qui định của PLXPVPHC Không những thế việc qui định đặc điểm xấu về nhân thân làm dấu hiệu định

tội có thể còn dẫn đến nguy cơ xử lý hình sự tràn lan chỉ với lý do: “đã bị kết

án”, “đã bị xử phạt hành chính”, “đã bị xử lý kỷ luật” mà không cần tính đến

tính chất, mức độ của lần vi phạm sau như thế nào

Tóm lại, với việc qui định đặc điểm xấu về nhân thân là dấu hiệu định tội, Luật hình sự nói chung và chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh

tế nói riêng đã mâu thuẫn với nguyên tắc của luật hình sự, mở rộng phạm vi truy cứu TNHS Từ đó dẫn đến việc xử lý bằng pháp luật hình sự một cách tràn lan, trái với nguyên tắc pháp chế và nhân đạo của luật hình sự

Thứ hai: Dấu hiệu định tội ở một số tội trong chương này còn qui định

chung chung, chưa rõ ràng Cụ thể là các dấu hiệu như: “gây hậu quả nghiêm

trọng”, “số lượng lớn”, “thu lợi bất chính lớn” đã được nhiều điều luật qui định

là dấu hiệu định tội Dưới đây là bảng thống kê của tác giả về các dấu hiệu đó:

STT Dấu hiệu định tội Điều luật qui định

1 Gây hậu quả nghiêm trọng 156, 158, 160, 165, 166, 167, 168, 169, 170, 171,

Trang 16

Phân tích bảng trên ta thấy dấu hiệu định tội “gây hậu qủa nghiêm

trọng” được nhiều điều luật qui định nhất 17/29 điều luật, tiếp đến là dấu hiệu

“số lượng lớn” 6/29 điều luật và cuối cùng là dấu hiệu có số lượng lớn 1/29

điều luật Như ta đã biết, lĩnh vực kinh tế là một lĩnh vực luôn có sự biến động Mỗi bước phát triển của chuyên ngành Luật kinh tế lại kéo theo sự sửa đổi, bổ sung của Luật hình sự Điều ấy được thể hiện rõ nét qua 4 lần sửa đổi BLHS 1985 thì cả 4 lần các dấu hiệu định tội trong chương tội phạm về kinh

tế đều được sửa đổi bổ sung ở các mức độ khác nhau Việc qui định các dấu hiệu định tội mang tính khái quát cao như vậy có ưu điểm là nhằm đảm bảo

sự ổn định của Luật hình sự bởi vì khác với các ngành luật khác, pháp luật hình sự phải tương đối ổn định, ít phải sửa đổi bổ sung để đảm bảo sự ổn định

chung Tuy nhiên, thế nào là “gây hậu quả nghiêm trọng”, “số lượng lớn”,

“thu lợi bất chính lớn”đến nay vẫn chưa được các cơ quan có thẩm quyền

giải thích chính thức, đầy đủ

Việc không giải thích kịp thời các dấu hiệu trên đây đã gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Khi một hành vi có dấu hiệu tội phạm xảy ra, nhận thức của các ngành nhiều khi không thống nhất Ví dụ cụ thể dưới đây sẽ cho chúng ta thấy điều đó:

Năm 1996, Hoàng Đình Tuấn Phương, Cao Hồng Phú làm 412 vé xem bóng đá giả Phương, Phú bị VKSND tỉnh Thừa Thiên - Huế truy tố về tội:

“Làm vé giả” theo khoản 1 Điều 173 BLHS 1985 Nhưng cả ha i cấp xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm) đều tuyên Phương và Phú không phạm tội với lý do trị giá số vé giả còn dưới 5 tấn gạo Tuy nhiên, ở cấp giám đốc thẩm, VKSNDTC và ủy ban thẩm phán TANDTC cho rằng: phải coi 412 vé xem bóng đá giả là có số lượng lớn, khôn g thể đồng nhất số lượng lớn với giá trị lớn và thu lời bất chính lớn Với nhận định như vậy, Uỷ ban thẩm phán TANDTC đã huỷ cả bản án sơ thẩm, phúc thẩm giao cho TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế xét xử sơ thẩm lại theo hướng kết án Phương, Phú về tội “làm vé giả” theo khoản 1 điều 173 BLHS 1985 [40] Đến BLHS 1999 vẫn tiếp tục qui định tội làm tem giả, vé giả; tội buôn bán tem giả, vé giả với một trong

các dấu hiệu định tội là “số lượng lớn” Nhưng khúc mắc về vấn đề thế nào là

“số lượng lớn” đến nay vẫn chưa được giải đáp

Trang 17

Để khắc phục tình trạng trên, các cơ quan THTT thường tiến hành họp

ba ngành làm án, xin ý kiến chỉ đạo của cấp uỷ địa phương (Thường vụ Huyện

uỷ đối với cấp huyện hay Thường trực tỉnh uỷ đối với cấp tỉnh) hoặc thỉnh thị

án Có những tỉnh còn ban hành Quy ước về mối quan hệ liên ngành CA - VKS

ND - TAND trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự (ví dụ như các cơ quan THTT ở Nam Định) Việc phối hợp với nhau trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm là điều đáng được ghi nhận Nhưng từ đó có

thể dẫn đến hiện tượng mà có ý kiến cho là “án bỏ túi”, “án có sự chỉ đạo”

Họ cho rằng: “cần chấm dứt tình trạng họp ba ngành làm án (Công an, Toà án,

Kiểm sát) để giải quyết vụ án trước khi mở phiên toà xét xử công khai” [17]

Trong khi đó hiện nay vấn đề bồi thường cho người bị oan trong TTHS theo Nghị quyết 388 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đang đặt ra một cách gay gắt Vì điều luật qui định chung chung, tính chịu trách nhiệm pháp lý - vật chất lại cao như vậy, cho nên một số người có thẩm quyền trong các cơ quan THTT đã không dám truy cứu TNHS đối với những hành vi mà theo họ có sự

“chấp chới” giữa có tội và không có tội để đảm bảo tính “chắc ăn” trong

phán quyết của mình Điều đó, vô hình chung có thể dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc xử lý không đúng người, đúng tội, các dấu hiệu định tội nêu trên không được vận dụng một cách đúng đắn trên thực tế

Như vậy, việc mô tả dấu hiệu của tội phạm với những dấu hiệu như

trên đã không đáp ứng được yêu cầu: “phải là những dấu hiệu có tính đặc

trưng, điển hình nhưng phải hạn chế những dấu hiệu trừu tượng có tính đánh giá cũng như những dấu hiệu nhiều nghĩa như dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng…”[19]

Một biểu hiện khác của bất cập nói trên là dấu hiệu định tội được quy định chung chung, không rõ ràng, nhưng hướng dẫn của cơ quan giải thích luật thì lại chồng chéo, mâu thuẫn Đây cũng là biểu hiện hạn chế của Luật hình sự Phân tích khoản 1 Điều 155 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm) chúng ta sẽ thấy rõ sự mâu thuẫn đó Kh oản 1 Điều

155 qui định: “Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng

hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh ”

Trang 18

Hàng cấm có rất nhiều loại, nhưng Điều 155 không nói rõ Trong khi

đó, theo Quyết định số 88/2000/QĐ -TM ngày 18/1/2000 của Bộ trưởng Bộ thương m ại về việc ban hành danh mục chi tiết h àng hoá cấ m lư u thông thì hiện nay là Nhà nước đang cấm lưu thông 11 mục hàng Đối chiếu 11 mặt hàng này với các qui định của B LHS chúng tôi thấy có một số mục hàng đã là đối tượng được qui định tại các điều khác của BLHS Ví dụ: các chất ma tuý; vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng, phương tiện, kỹ thuật chuyên dùng của các lực lượng vũ trang Còn hàng cấm là đối tượng của điều luật này chỉ bao gồm: thuốc lá điếu sản xuất tại nước ngoài; các hiện vật thuộc di tích lịch sử, văn hoá, bảo tàng; các loại pháo; một số đồ chơi có hại cho giáo dục nhân cách trẻ em

Điều đáng chú ý là trong số các danh mục hàng cấm lưu thông có hàng cấm là các hiện vật thuộc di tích lịch sử, văn hoá Tuy nhiên, khi nghiên cứu các qui định của Luật Di sản văn hoá chúng tôi thấy: công dân

cũng có quyền lập “bảo tàng tư nhân để bảo quản và trưng bày các sưu tập

về một hoặc nhiều chủ đề” ( khoản 4 Điều 47) Các hiện vật thuộc di tích

lịch sử, văn hoá bao gồm: di vật, cổ vật, bảo vật q uốc gia( khoản 3 Điều 4)

Nhưng chỉ có đối tượng là “di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc sở hữu

toàn dân, sở hữu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội phải được quản lí trong các bảo tàng và không được mua bán, tặng cho ” (khoản

1 Điều 43 ) Còn “di vật, cổ vật thuộc các hình thức sở hữu khác được mua

bán, trao đổi, tặng cho, được để thừa kế ở trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật; bảo vật quốc gia thuộc các hình thức sở hữu khác chỉ được mua bán, trao đổi, tặng cho và để thừ a kế ở trong nước theo quy định của pháp luật” (khoản 1 Điều 43) [28]

Do vậy, nếu chúng ta chỉ căn cứ vào Quyết định 88 mà không căn cứ vào Luật Di sản văn hoá để làm căn cứ truy cứu TNHS thì có thể dẫn đến oan, sai bởi Luật hình sự thì cấm mua bán, vận c huyển, tàng trữ hàng cấm là hiện vật thuộc di tích lịch sử, văn hoá nhưng Luật Di sản văn hoá lại cho phép công dân được lập bảo tàng (thực chất cũng là hành vi tàng trữ), cho phép công dân mua bán, vận chuyển với các di vật, cổ vật Riêng đối với bảo vật quốc gia thì công dân chỉ được phép mua bán, vận chuyển ở trong nước

Trang 19

Từ những phân tích ở trên, chúng tôi thấy việc B LHS qui định dấu hiệu định tội chung chung, không rõ ràng, không được giải thích kịp thời

đã dẫn tới hậu quả là: việc áp dụng có thể bị tu ỳ tiện hoặc có trường hợp tuy được giải thích nhưng lại mâu thuẫn với qui định của luật chuyên ngành

Thứ ba: Một số dấu hiệu định tội của một số tội trong chương các tội

xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong một chừng mực nhất định chưa tương thích với luật chuyên ngành Các ví dụ dưới đây sẽ cho chúng ta thấy điều đó

- Ví dụ thứ nhất, tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171) Khoản 1 Điều 171 BLHS qui định:

“1 Người nào vì mục đích kinh doanh mà chiếm đoạt, sử dụng bất hợp pháp sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi, xuất xứ hàng hoá hoặc các đối tượng sở hữu công nghiệp khác đang được bảo hộ tại Việt Nam…”

Tuy nhiên, quyền sở hữu công nghiệp theo qui định tại khoản 4 Điều 4

Luật sở hữu trí tuệ là: “Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch

tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh

do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”[31] Trong khi đó, khoản 1 Điều 171 lại liệt kê các đối tượng sở hữu

công nghiệp bao gồm: “Sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, tên

gọi, xuất xứ hàng hoá hoặc các đối tượng sở hữu công nghiệp khác đang được bảo hộ tại Việt Nam…” Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp theo qui định tại

khoản 2 Điều 3 Luật sở hữu trí tuệ bao gồm: “Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,

thiết kế bố trí mạch tích hợp dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu tên thương mại

và chỉ dẫn địa lý” Như vậy, tên gọi của khoản 1 Điều 171 đã không phù hợp với

cách mô tả trong phần qui định của khoản 2 Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ

Bên cạnh đó, điều luật sử dụng phương pháp liệt kê để qui định Do nhiều lý do mà điều luật đã liệt kê không hết các đối tượng quyền sở hữu công

nghiệp nên phải dùng thuật ngữ “các đối tượng sở hữu công nghiệp khác”

Các đối tượng sở hữu công nghiệp khác là những đối tượng nào điều luật không chỉ rõ Đối với một bộ luật quan trọng như BLHS mà lại không chỉ rõ

Trang 20

đâu là điều cấm để mọi người biết là một điều không hợp lý Nay Luật sở hữu trí tuệ đã qui định rõ các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ tại Việt Nam nên những đối tượng này phải được mô tả cụ thể tại khoản 1 Điều 171

So sánh các đối tượng được qui định trong Điều 171 BLHS với các đối tượng

được qui định trong Luật sở hữu trí tuệ chúng tôi thấy có độ “vênh” nhau nhất định Đó là “giải pháp hữu ích” nay không còn được bảo hộ với tư cách

là một đối tượng độc lập nữa mà “giải pháp hữu ích” chỉ là một bậc thấp hơn

“sáng chế” (không có trình độ sáng tạo như sáng chế), “tên gọi xuất xứ hàng hoá” nay đổi thành “chỉ dẫn địa lý”, “Nhãn hiệu hàng hoá” nay đổi thành

“nhãn hiệu” và qui định một số đối tượng sở hữu trí tuệ khác là: Bí mật kinh

doanh, tên thương mại, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn Điều này có nghĩa là dấu hiệu định tội của tội này ch ưa tương thích với luật chuyên ngành

- V í dụ th ứ hai, về c ác tộ i trong lĩnh vự c đấ t đ ai (Điều 173 Tội vi phạm các qui định về sử dụng đất đai, Điều 174 Tội vi phạm về quản lý đất đai)

Khoản 1 Điều 173 qui định: “ Lấn chiếm đất hoặc chuyển quyền sử

dụng đất, sử dụng đất trái với qui định của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai ” Trong khi đó Điều 140 Luật đất đai năm 2003 qui định

rõ các hành vi vi phạm các qui định về sử dụng đất đai, bao gồm: “ Lấn,

chiếm đất đai, không sử dụng đất hoặc sử dụng kh ông đúng mục đích, chuyển mục đích sử dụng trái phép, huỷ hoại đất, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ tài chính, các thủ tục hành chính, các quyết định của N hà nước trong quản lý đất đai, chuyển quyền sử dụng đất trái phép ” [29] So sánh hai qui định này với nhau, chúng tôi thấy

có m ột số loại hành vi không được phản ánh tại Điều 173 B LHS như hành

vi không sử dụng đất, không thực hiện quyết định của Nhà nước trong quản lý đất đai, huỷ hoại đất (riêng huỷ hoại đất bao gồm nhiều hành vi, Luật hình sự m ới chỉ qui định về tội gây ô nhiễm đất) Trên thực tế những hành vi này xảy ra rất nhiều như: nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng không sử dụng, nhận tiền bồi thường nhưng không di dời việc không đưa các hành vi này vào là khôn g bao quát hết hành vi vi phạm của luật chuyên ngành Nếu nhà làm luật chỉ xác định phạm vi những hành vi

Trang 21

ở khoản 1 Đ iều 173 là tội phạm thì tên tội này phải thay đổi lại cho phù hợp với loại hành vi đư ợc mô tả là dấu hiệu định tội

Khoản 1 Điều 174 qui định:“Ngư ời nào lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ,

quyền hạn giao đất, cho thuê, cho phép chuyển quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật ” Trong khi đó, Điều 141 Luật đất đai năm

2003 qui định nhữ ng hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý đất đai gồm: “Giao

đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, quản lý hồ sơ địa chính ” Như vậy, qui định của điề u này cũng chưa bao quát

hết các hành vi vi phạm của luật chuyên ngành Cụ thể chưa xử lý bằng hình sự đối với hành vi vi phạm qui định về thực hiện qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất, vi phạm

về giá đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật

Tóm lại, qui định của BLH S về các tội phạm trong lĩnh vự c đất đai đã không bao quát hết các hành vi vi phạm pháp luật của luật chuyên ngành về đất đai

Từ nhữ ng ví dụ trên ta thấy trong một chừ ng mực nhất định qui định của BLH S hiện hành về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế chưa tương thích với luật chuyên ngành

1.2 Những bất cập của BLHS hiện hành trong việc qui định về dấu hiệu định khung áp dụng cho các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

Dấu hiệu định khung hình phạt là dấu hiệu được qui đị nh trong luật đối với tội danh cụ thể cho phép áp dụng khung hình phạt nặng hơn hoặc khung hình phạt nhẹ hơn so với khung được áp dụng cho trường hợp không có dấu hiệu này

Trong chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có tội danh chỉ qui định một khung hình phạt như tội: Báo cáo sai trong quản lý kinh tế (Điều167), Quảng cáo gian dối (Điều168), có tội danh được chia thành nhiều khung hình phạt khác nhau như tội: Buôn lậu (Điều153), tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều156), tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều180)

Việc chia thành nhiều khung hình phạt như vậy nhằm đáp ứng yêu cầu phân hoá TNHS trong việc xử lý đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Trong

Trang 22

thực tiễn người ta còn gọi là các khoản của điều luật) Trong chương này có 44 khung hình phạt tăng nặng không có điều luật nào qui định dấu hiệu định khung hình phạt giảm nhẹ D o đó dấu hiệu định khung nói ở phần này là dấu hiệu định khung tăng nặng

Nghiên cứu các dấu hiệu định khung áp dụng cho các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, chúng tôi thấy về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu phân hoá TNHS Tuy nhiên, qua thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử đã bộc lộ một số bất cập như:

- Thứ nhất: dấu hiệu định khung trong nhiều khung hình phạt tă ng nặ ng còn

chung chung, trừu tượng Các dấu hiệu định khung như: “gây hậu quả nghiêm

trọng”, “rất nghiêm trọng”, “đặc biệt nghiêm trọng” và những thuật ngữ gần giống

như: “phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng”, “rất nghiêm trọng”, “đặc biệt

nghiêm trọng”; “gây hậu quả rất nghiêm trọng khác”, “ đặc biệt nghiêm trọng khác”; “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”, “thu lợi bất chính lớn”, “thu lợi bất chính rất lớn”, “thu lợi bất chính đặc biệt lớn” được sử dụng tương đối phổ

biến Dưới đây là bảng thống kê các dấu hiệu đó:

173, điểm c khoản 2 Điều 176, khoản 2 Điều 177, khoản 2 Điều 178, khoản 2 Điều 179

3

Hậu quả đặc biệt

nghiêm trọng

điểm c khoản 4 Điều 153, điểm c khoản 3 Điều 156, khoản 4 Điều

157, khoản 3 Điều 158, điểm c khoản 3 Điều 160, điểm d khoản 3 Điều 166, điểm c khoản 2 Điều 169, điểm c khoản 2 Điều 170, điểm c khoản 2 Điều 171, khoản 2 Điều 172, điểm c khoản 2 Điều

173, khoản 3 Điều 176, khoản 2 Điều 177, khoản 2 Điều 178, khoản 3 Điều 179

Trang 23

điểm b khoản 3 Điều 153, điểm d khoản 2 Điều 154

Nguồn, BLHS, Chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

Như chúng ta đã biết, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây ra hoặc đe doạ gây ra những thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hì nh sự

Trang 24

bảo vệ Những thiệt hại đó có thể là: thiệt hại về thể chất, thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần và các biến đổi khác Tuy nhiên, đây chỉ là sự khái quát hoá còn trên thực tế hậu quả của tội phạm có những biểu hiện vô cùng đa dạng, không vụ án nào giống vụ án nào Việc dùng những thuật ngữ mang tính định tính, định lượng nêu trên để chỉ các cấp độ hậu quả của tội phạm là qui định cần thiết Việc đánh giá hậu quả của tội phạm xảy ra trên thực tế như thế nào, thuộc về trường hợp nào trong số các trường hợp mà điều luật đó dự liệu hoàn toàn thuộc thẩm quyền của người áp dụng pháp luật Việc đánh giá này có đầy đủ, chính xác hay không phụ thuộc phần lớn vào năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của các Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán Nhưng trong giai đoạn hiện nay, khi mà năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của một số người này vẫn còn hạn chế thì không phải ai cũng có thể đánh giá một cách đầy đủ, chính xác các dấu hiệu trên Trong thực tế, người ta chủ yếu căn cứ vào dấu hiệu giá trị hàng phạm pháp để làm tình tiết định khung Ví dụ, buôn lậu từ 200 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng là phạm vào khoản 2 Điều 153,

từ 500 triệu đến dưới một tỷ là phạm vào khoản 3 Điều 153 Bởi xác định dấu hiệu này tương đối dễ (chỉ cần trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong TTHS là xác định được) Trong khi đó việc xác định các dấu hiệu trên khó khăn hơn nhiều Không phải chỉ một mình Điều tra viên là đã xác định được Trong rất nhiều trường hợp họ phải trao đổi với Kiểm sát viên thậm chí với cả Thẩm phán để xác định Tuy biết giá trị hàng phạm pháp chỉ phản ánh một phần tính chất, mức độ của tội phạm nhưng thời hạn tố tụng có hạn, các dấu hiệu định khung mà điều luật nêu ra lại chung chung, trìu tượng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ có hạn, mỗi ngành làm án là m việc theo chức năng, nhiệm vụ của mình nên không phải lúc nào cũng trao đổi được Trong khi đó trách nhiệm pháp lý - vật chất lại cao nếu để xảy ra oan, sai Cho nên, các dấu hiệu này ít khi được xem xét, đánh giá vận dụng trên thực tế mà chờ hướng dẫn c ủa cấp trên Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải thích chính thức các dấu hiệu trên Việc chậm trễ trong việc giải thích các dấu hiệu này cũng làm cho các cơ quan THTT gặp nhiều khó khăn trong việc điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Tâm lý chung

Trang 25

là khi chưa có hướng dẫn cụ thể thì không áp dụng Ví dụ cụ thể dưới đây cho thấy điều đó:

Theo bản cáo trạng số: 44/KSĐT ngày 14/5/2004 của VKS Quân sự Bộ đội Biên phòng truy tố bị can Nguyễn Văn Dũi và đồng phạm về tội buôn lậu theo qui định tại điểm a, b khoản 4 Điều 153 BLHS Bản cáo trạng xác định trong quá trình buôn lậu xăng, dầu, Nguyễn Văn Dũi đã thu lợi bất chính số tiền: 4,1 tỷ đồng Quá trình tranh luận tại phiên toà xét xử sơ thẩm, đại diện VKS rút một phần quyết định truy tố: không truy tố Nguyễn Văn Dũi về dấu hiệu qui định tại điểm b khoản 4 Điều

153 BLHS (thu lợi bất chính đặc biệt lớn) Lý do luật chưa có qui định cụ thể như thế nào là thu lợi bất chính đặc biệt lớn, nên không thể tuỳ tiện vận dụng Đề nghị này được HĐXX đánh giá là hợp lý, có cơ sở được chấp nhận

Về vụ án cụ thể này, có nhiều quan điểm cho rằng phải coi số tiền 4,1 tỷ đồng là thu lợi bất chính đặc biệt lớn mới chính xác và thoả đáng, phù hợp với tính c hất, m ức độ, hậ u quả tội phạm mà bị cá o c ùng các đồng phạ m khác đã gâ y

ra [42]

Thứ hai: Việc ghép các cấp độ hậu quả khác nhau, các trường hợp phạm tội

thậm chí là mức độ thu lợi bất chính của một tội phạm vào cùng một khung là không hợp lý Nghiên cứu các dấu hiệu định khung áp dụng cho các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, ta thấy trong nhiều khung hình phạt nhà làm luật đã gộp các cấp độ hậu quả, các trường hợp phạm tội, mức độ thu lợi bất chính vào trong khung hình phạt Ví dụ như: điểm b khoản 3 Điều 156 (mức độ thu lợi bất chính), điểm c khoản

2 Điều 169, điểm c khoản 2 Điều 170, điểm c khoản 2 Điều171, khoản 2 Điều 172, điểm c khoản 2 Điều 173 (cấp độ hậu quả), khoản 2 Điều 177, khoản 2 Điều 178, khoản 2 Điều 175, khoản 3 Điều 180, khoản 3 Điều 181 (các trường hợp phạm tội) Việc gộp vào để áp dụng cùng một khung chế tài pháp lý hình sự là không thể hiện được nguyên tắc phân hoá TNHS Điều này đưa đến hậu quả tuỳ tiện trong áp dụng

Và như vậy chính bản thân pháp luật hình sự đã tạo ra sự kh ông công bằng Có nhiều trường hợp phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng cũng như phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đều được qui định

gộp lại như vậy Ví dụ như khoản 3 Điều180 BLHS qui định: “Phạm tội trong trường

hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai

Trang 26

mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình” Với cách qui định như vậy người ta có thể

hiểu phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hình phạt cao nhất có thể đế n tử hình và phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng hình phạt cũng có thể đến tử hình Tình trạng này nếu không được khắc phục sẽ tạo ra những vướng mắc, sai lầm trong thực tiễn hoạt động áp dụng pháp luật hình sự trong việc xác định, đánh giá bản chất của tội phạm dễ dẫn đến sự tuỳ tiện, không đảm bảo tính khách quan, công bằng trong xử lý tội phạm và người phạm tội, vi phạm nguyên tắc pháp chế

Tóm lại, việc không hướng dẫn kịp thời các dấu hiệu định khung này không những gây khó khăn cho các cơ quan THTT trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử

mà còn có thể dẫn đến việc vận dụng sai trong thực tế, bỏ lọt hành vi phạm tội, xử quá nặng hoặc quá nhẹ và hậu quả chung là không đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của người phạm tội

1.3 Nhữn g bất cập của BLHS trong việc qui định về hình phạt áp dụng cho các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây rối loạn trật tự quản lý kinh tế, xâm hại đến lợi ích của toàn xã hội cũng như lợi ích của các tổ chức và công dân Vì vậy, xử lý tội phạm trong lĩnh vực quản lý kinh

tế là điều rất cần thiết Trong các biện pháp đấu tranh với các tội phạm kinh tế thì biện pháp TNHS là nghiêm khắc nhất Hình phạt áp dụng cho các tội xâm phạm trật tự quản

lý kinh tế không chỉ nhằm đạt được mục đích trừng trị mà còn nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội lại, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật

Thực tế đấu tranh phòng, chống tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế đã cho thấy người phạm tội thuộc nhóm tội này thường là người hiểu biết, đặc biệt có những trường hợp họ có học thức, có địa vị cao và đặc quyền đặc lợi trong xã hội, cho nên tội phạm mà họ thực hiện thường gắn liền với v iệc lợi dụng địa vị đó Nếu hình phạt không đủ nghiêm khắc đối với người phạm tội thì có thể làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào công lý và hệ thống pháp luật của nhà nước Với tinh thần trên, hệ thống hình phạt được BLHS áp dụng cho các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế như sau:

Trang 27

Đối với hình phạt chính: Hình phạt chính được qui định trong chương này

gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình Trong tổng số 29 điều luật của chương các tội xâm phạm t rật tự quản lý kinh

tế thì có tới 29 điều luật (với 68 khung hình phạt) qui định áp dụng hình phạt tù có thời hạn, có 18 điều luật (với 20 khung hình phạt) qui định áp dụng phạt tiền, có 18 điều luật (với 18 khung hình phạt) qui định áp dụng cải tạo không giam giữ, có 3 điều luật (với 3 khung hình phạt) qui định áp dụng hình phạt tù chung thân, tử hình Như vậy, trong các hình phạt chính được qui định tại chương này thì hình phạt tù là hình phạt phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ cao nhất

Đối với hình phạt bổ sung: Các hình phạt bổ sung được qui định trong

chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế gồm: phạt tiền, khi không áp dụng

là hình phạt chính; tịch thu tài sản; cấm đảm nhiệm chức vụ; cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định Trong tổng số 29 điều lu ật thì có 22 điều luật qui định hình phạt tiền là hình phạt bổ sung, có 7 điều luật qui định về tịch thu tài sản, có 20 điều qui định về cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định Như vậy, trong các hình phạt bổ sung thì hình phạt tiền là hình phạt phổ biến nhất chiếm tỷ lệ cao nhất

Thực tiễn xét xử các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong những năm gần đây cho thấy: Tù có thời hạn là hình phạt được áp dụng nhiều nhất, hình phạt tử hình được áp dụng ít nhất Bảng thống kê số liệu dưới đây sẽ cho thấy điều đó:

vụ

Số bị cáo

Cảnh cáo

Phạt tiền

C.T.K giam giữ

Phạt tù Chung

thân

Tử hình

Trang 28

Nghiên cứu qui định về hình phạt áp dụng cho các tội xâm phạm trật

tự quản lý kinh tế cũng như thực tiễn áp dụng hì nh phạt cho nhóm tội này, chúng tôi thấy: nhìn chung hình phạt được qui định trong chương đã đáp ứng về căn bản được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Tuy nhiên, về kỹ thuật lập pháp, BLHS hiện hành vẫn còn một số điểm bất hợp lý khi qui định về hình phạt áp dụng cho các tội trong chương này ở đây chúng tôi chỉ tập trung phân tích 3 loại hình phạt đó là: Phạt tiền, tù có thời hạn, tử hình

- Thứ nhất, về hình phạt tiền: Phạm vi áp dụng hình phạt tiền còn hẹp,

thiếu những biện pháp bảo đảm để hình phạt tiền được thi hành trên thực tế, khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa còn quá rộng:

+ Phạm vi áp dụng hình phạt tiền còn hẹp: Nghiên cứu các điều luật có

qui định hình phạt tiền chúng tôi thấy: Phạt tiền tuy đã đ ược mở rộng phạm vi

áp dụng so với trước đây nhưng trên thực tế lại được qui định là chế tài lựa chọn bên cạnh phạt tù hoặc cải tạo không giam giữ Không có tội danh nào

mà phạt tiền được qui định là chế tài độc lập đã đưa đến sự hạn chế làm thu hẹp khả năng áp dụng phạt tiền cho bị cáo Số liệu thống kê ở trên cho thấy tỷ

lệ phạt tiền được áp dụng rất ít (năm 2000 hình phạt tiền chỉ chiếm tỉ lệ 0,3% trong tổng số các loại hình phạt được áp dụng, năm 2005 hình phạt tiền được

áp dụng nhiều nhất cũng chỉ chiếm 2,5%) mặc dù trên thực tế, có một số vụ Toà án chỉ cần tuyên phạt tiền đối với hành vi phạm tội của bị cá o là thoả đáng và vẫn đảm bảo được mục đích của hình phạt Nhưng trên thực tế, Toà án lại thường xuyên phạt tù dẫn tới xử quá nặng cho bị cáo

+ BLHS còn thiếu những biện pháp bảo đảm để hình phạt tiền được thi hành trên thực tế: Theo qui định của chương này, mặc dù là chế tài lựa chọn

nhưng phạt tiền là hình phạt được áp dụng tương đối phổ biến Tuy nhiên, trên thực tế, phạt tiền lại là hình phạt mang tính khả thi kém nhất trong số các hình phạt áp dụng cho các tội xâm phạm trật tự quản lí kinh tế Nhiều trường hợp người phạm tội thường chây ỳ, dây dưa, kéo dài không tự giác nộp tiền phạt sung quỹ nhà nước trong khi BLHS hiện hành lại chưa có qui định thực

sự hữu hiệu để đảm bảo tính khả thi của phạt tiền

Trang 29

+ Khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa trong nhiều khung hình phạt có qui định hình phạt tiền còn quá rộng: Khoảng cách đó có thể là

10 lần như qui định ở khoản 1 Điều 153 (tội buôn lậu), kho ản 1 Điều 159 (tội kinh doanh trái phép)… có thể là 20 lần như qui định ở khoản 1 Điều

172 (tội vi phạm các qui định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên), thậm chí khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa có thể lên đến 50 lần như qui định ở khoản 1 Điều 178 (tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng) Việc qui định mức tối thiểu và mức tối đa rộng như vậy tuy có mặt tích cực là làm cho người có thẩm quyền dễ dàng trong việc ấn định mức hình phạt nhưng nó cũng dễ dẫn đến sự tuỳ tiện, không thống nhất trong áp dụng

Hạn chế khác của BLHS khi qui định về phạt tiền là: Theo qui định tại

khoản 1 Điều 30 BLHS thì: phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nhưng vẫn

có những điều luật qui định hình phạt tiền áp dụng cho cả tội nghiêm trọng

Đó là khoản 1 Điều 155 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm), mức cao nhất của khoản này là 5 năm; khoản 1 Điều 158 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi), mức cao nhất của khoản này là 5 năm; khoản 1 Điều 160 (tội đầu cơ), mức cao nhất của khoản này là 5 năm; khoản 1 Điều 179 (tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng) mức cao nhất của khoản này là 7 năm Theo qui định tại khoản

3 Điều 8 BLHS thì tội phạm ít nghiệm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 3 năm tù, còn tội phạm nghiêm tr ọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 7 năm tù Qui định như vậy theo chúng tôi là mâu thuẫn với khoản 1 Điều 30 BLHS

- T hứ hai, về hình phạt tù có thời hạn : Hình phạt tù có thời hạn được

qui định quá nhiều, khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa của hình phạt tù trong cùng một khung hình phạt là quá rộng, trong một số trường hợp chưa có sự công bằng:

Trang 30

+ Trong chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế hình phạt tù có thời hạn được qui định quá nhiều Nghiên cứu các qui định về hình phạt tù có thời

hạn trong chương này chúng tôi thấy không có điều luật nào không qui định hình phạt tù có thời hạn Việc qui định hình phạt tù nhiều như vậy một mặt nó thể hiện thái độ kiên quyết của Nhà nước ta trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm nhưng mặt khác nhìn vào con số áp dụng hình phạt tù có thời hạn (đã nêu ở bảng trên) chúng tôi thấy việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhiều như vậy là nghiêm khắc quá mức cần thiết, phần nào đó thể hiện sự cứng nhắc trong việc áp dụng hình phạt Nó dẫn đến tình trạng quá tải của các nơi giam giữ tù nhân, không phù hợp với tính chất kinh tế của loại tội này và cuối cùng mục đích của hình phạt trong một số trường hợp có thể không đạt được

+ Khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa của hình phạt tù trong cùng một khung hình phạt nhiều trường hợp quá rộng Dưới đây là bảng

Trang 31

Nguồn: BLHS, chương “Các tội xâm phạm trật tự quản lí kinh tế”

Qui định rộng như vậy có ư u điểm là không làm bó tay T oà án khi áp dụng hình phạt N ói một cách khác là mở rộng khả năng lựa chọn một hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm, phù hợp với đặc điểm nhân thân của ngư ời phạm tội cũng như yêu cầu đấu tranh phòng ngừa tội phạm N hưng mặt khác khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa trong từng khung hình phạt quá rộng như vậy cũng là một điều bất cập Trong khi trình độ của cán bộ xét xử còn không đồng đều, hư ớng dẫn nghiệp vụ và tập huấn chuyên môn còn gặp nhiều khó khăn, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp … thì qui định rộng n hư vậy sẽ tạo ra sự tuỳ tiện, không thống nhất trong áp dụng hình phạt tù, vi phạm nguyên tắc công bằng, nhân đạo, pháp chế của BLHS Đặc biệt là khoản 3 Điều 180 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lư u hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả) có mức khởi điểm của khung hình phạt là mư ời năm, trong khi đó mức tối đa là tử hình Việc qui định như vậy dễ tạo ra sự lạm dụng, sự tuỳ tiện trong áp dụng hình phạt

+ Hình phạt tù có thời hạn trong một số trường hợp chưa có sự công bằng

Ví dụ: Hành vi buôn bán hàng cấm với số lượng lớn nếu ở thị trường trong nước thì

bị phạt tù tới năm năm, còn nếu qua biên giới chỉ bị phạt tù có ba năm Trong khi đó

Trang 32

tội buôn lậu nguy hiểm hơn tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm

Đúng như có ý kiến đã nhận xét: “khó có thể có quyết định hình phạt đúng nếu như

các chế tài của các điều luật phần các tội phạm của BLHS được qui định không công bằng, không phản ánh được sự phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm ”[23]

- Thứ ba, về hình phạt tử hình:

Việc tiếp tục duy trì hình phạt tử hình á p dụng cho tội buôn lậu trong chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong giai đoạn hiện nay theo chúng tôi là quá nghiêm khắc Bởi: bản chất của tội buôn lậu là vì mục đích kinh tế, nhằm đạt lợi nhuận cao bằng mọi giá Buôn lậu cũng có nguyên nhân, điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Đ ối với nước ta đó là: Hàng rào thuế quan bảo hộ sản xuất trong nước còn cao (tạo ra sự chênh lệch giá), nạn thất nghiệp còn nhiều (sức

ép về việc làm) đã đẩy hàng vạn người thất nghiệp, thậm chí học sinh còn bỏ cả

học hành đi buôn lậu hoặc “tiếp tay” cho buôn lậu Điều đó cho thấy nếu việc đấu

tranh chống buôn lậu chỉ dừng lại ở biện pháp hành chính cấm đoán, xây dựng các biểu thuế hà khắc và nhất là đưa ra khung hình phạt với tội buôn lậu quá cao sẽ không có kết quả và không phù hợp với sự tiến triển của một xã hội văn minh Bên cạnh đó, tính quốc tế trong phân công lao động và sản xuất hàng hoá ngày càng cao, Việt Nam đang hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, nên khô ng thể duy trì hàng rào thuế quan cứng nhắc để bảo hộ sản xuất trong nước (theo qui định của Tổ chức thương mại quốc tế thì khi vào tổ chức này, hàng rào thuế quan phải giảm xuống từ

0 -> 5%) Hơn nữa, sẽ không khách qua n nếu c húng ta chỉ nhìn thấy mặt tiê u cực

mà chưa thấy được trong một chừng mực nào đó, hàng lậu với chất lượng tốt, giá rẻ hơn đã buộc các nhà sản xuất trong nước phải đổi mới quy trình công nghệ, nâng cao chất lượng hàng nội địa, hạ giá thành sản xuất trong nước Từ cách đặt vấn đề như vậy, chúng tôi cho rằng duy trì hình phạt tử hình đối tội buôn lậu như hiện nay

Trang 33

Trong nền kinh tế thị trường, một số hành vi mới xuất hiện có tính nguy hiểm cao cho xã hội nhưng BLHS chưa qui định là tội phạm Cụ thể như sau:

Trong lĩnh vực cạnh tranh: Cạnh tranh là một trong những điểm nổi

bật của nền kinh tế thị trường Khi kinh tế thị trường phát triển thì cạnh tranh càng trở nên quyết liệt hơn và bản thân nó lại trở thành một động lực thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển Trong quá trình cạnh tranh, tất yếu sẽ dẫn tới sự hình thành các tổ chức độc quyền và các tổ chức này tiến hành những hình thức cạnh tranh không lành mạnh nhằm gạt bỏ những đối thủ cạnh tranh yếu hơn và thực hiện sự kinh doanh có lợi cho mình Nhiều doanh nghiệp đã lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền hoặc d ựa vào sức mạnh tài chính của mình để hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh như: thường xuyên tổ chức chương trình khuyến mại với quy mô lớn như một

số hãng giải khát, mỹ phẩm đã từng làm Các hãng này luôn khuyến mại bằng các hình thức: giật nắp lon trúng thưởng với giá trị rất lớn như ô tô, tặng 20% giá không đổi, luôn duy trì giá bán thấp hơn sản phẩm cùng loại của hãng khác, thậm chí duy trì giá bán cao trong một thời gian dài Bên cạnh đó là các hành vi như: dèm pha, gây rối loạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác Ví dụ như tung tin đồn Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần á Châu (ACB) bỏ trốn đã khiến cho khách hàng đổ xô đến rút tiền Đứng trước nguy cơ đổ vỡ của ngân hàng này thậm chí cả hệ thống ngân hàng - phản ứng dây chuyền, Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã phải xuất hiện trước công chúng cam kết về sự an toàn của ngân hàng này, giám đốc không bỏ trốn Phải mất một thời gian rất lâu ngân hàng này mới đi vào ổn định Hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh là có hại cho nền kinh tế và xã hội, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, các tổ chức và công dân Chính vì thế, hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều có luật chống độc quyền và cạnh tranh bất hợp pháp trong đó qui định nhiều hành vi là tội phạm Tuy nhiên, BLHS đến nay vẫn chưa có qui định gì về tội phạm trong lĩnh vực chống độc quyền và cạnh tranh không lành mạnh

Trang 34

Trong lĩnh vực đấu thầu: Thời gian gần đây xuất hiện ngày càng nhiều

các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đấu thầu Các cơ quan chức năng đã tìm ra và chứng minh được một số hành vi vi phạm mang tính phổ biến và rất nghiêm trọng như: Bán thầu (khi trúng thầu, bên B đã bán lại cho B’, thậm chí B’’ thi công xây dựng ăn chênh lệch giá), đấu thầu theo kiểu

“đạo diễn” (khi một bên trúng thầu, họ viện ra những lí do nhất định để

không nhận thầu, tạo điều kiện để người có giá bỏ thầu kế tiếp được trúng

thầu sau đó cùng nhau chia chênh lệch), đấu thầu theo kiểu “bắt tay nhau” (tất

cả những người tham gia đấu thầu đều trúng hoặc đều hưởng lợi từ việc đấu thầu) Ngoài ra, còn có hiện tượng khi đấu thầu cố tình bỏ giá thấp để được trúng thầu, sau đó lấy lí do phát sinh chi phí để tăng giá thành Dưới đây là một số ví dụ về những vi phạm trong lĩnh vực đấu thầu: Cầu Hoàng Long được duyệt giá thầu 82 tỷ, nhưng sau đ ó bên trúng thầu lấy lí do về địa chất phải làm thêm công trình để được tăng chi phí đầu tư Cuối cùng chi phí cho công trình lên đến 280 tỷ [40] Các Tổng công ty sau khi đấu thầu được công trình đã bán lại cho các công ty thành viên, hoặc các nhà thầu nư ớc ngoài sau khi trúng thầu đã bán lại cho các công ty trong nước để ăn chênh lệch giá Vụ bán đấu giá nhà số: 163 Trần Hưng Đạo, vụ mua bán đấu giá cổ phiếu ở khách sạn Tản Đà (đều ở thành phố Hồ Chí Minh) [16] Trong đó, vụ khách sạn Tản Đà theo ước tính thiệt hại khoảng 15 tỉ đồng, còn vụ bán đấu giá nhà

163 Trần Hưng Đạo đã bị huỷ kết quả bán đấu giá Về vụ này cơ quan Điều

tra đã kết luận: “Khách hàng có hành vi thông đồng bán đấu giá tài sản [46]

Hoặc vụ Công ty tài chính dầu khí thuộc Tổng công ty d ầu khí Việt Nam, sau khi trúng thầu 940.600 cổ phần của công ty xây dựng số 3 Hà Nội với giá 18.623.880.000 đồng đã từ chối mua số cổ phần trên với lí do: ghi nhầm giá nên giá trúng thầu quá cao Theo quy chế đấu thầu thì công ty này sẽ mất 1,2

tỷ đồng tiền đặt cọc và những người tiếp theo có giá cao nhất sẽ trúng thầu Theo thống kê, với việc chối thầu trên thì giá trúng thầu của những người còn lại thấp hơn giá của công ty tài chính dầu khí là 4,5 tỉ Như vậy, Nhà nước mất 1,2 tỉ đồng (Công ty tài chính d ầu khí là doanh nghiệp nhà nước), Công

Trang 35

ty xây dựng số 3 Hà Nội bị thiệt hại 4,5 tỉ đồng Đây là hành vi ghi nhầm hay thực chất là nhằm chiếm đoạt chia nhau 4,5 tỉ đồng? [35]

Bên cạnh đó là những hành vi vi phạm pháp luật của chủ đầu tư, bên mời thầu trong quá trình đấu thầu Qua công tác thanh tra, cơ quan chức năng cũng phát hiện một loạt những vi phạm như: cố tình chia dự án thành các gói thầu nhỏ, tiết lộ tài liệu, thông tin về đấu thầu, ép nhà thầu trúng thầu phải dùng các

doanh nghiệp là “sân sau” của mình tham gia vào quá trình thi công công trình,

áp dụng các hình thức đấu thầu không đúng qui định

Như vậy, trong lĩnh vực đấu thầu có hai dạng hành vi vi phạm thuộc về hai chủ thể khác nhau Đó là những người có trách nhiệm trong việc tổ chức đấu thầu và những nhà thầu Những vi phạm trong đấu thầu như vậy là rất nghiêm trọng gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình, tạo điều kiện cho tham nhũng phát triển Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã từng nói: Nhà làm luật thông thái phải tìm mọi cách để đề phòng tội phạm chứ không phải để nó xảy ra rồi mới xử lí Hiện nay, một trong những biện pháp phòng chống tham nhũng được nhiều người nhắc đến là không tạo cơ chế cho tham nhũng phát triển Cho nên, BLHS đến nay chưa qui định về

tội phạm trong lĩnh vực đấu thầu cũng là một bất cập cần phải khắc phục

Trong lĩnh vực công ty cổ phần và thị trường chứng khoán : Thị

trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7/2000 với việc ra đời Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Đến nay đã có 34 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, với lượng cổ phiếu được giao dịch ngày một nhiều Hoạt động chứng khoán là một trong

những lĩnh vực của hoạt động kinh tế - được coi là “phong vũ biểu” của nền

kinh tế Hơn thế nữa đây là một lĩnh vực đặc biệt của thị trường đặc biệt - cung cầu các nguồn tài chính, chuyển dịch sở hữu các giá trị bất động sản, liên quan đến lợi ích của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp và từ đó có những tác động lớn đối với kinh tế, xã hội của đất nước Trong lĩnh vực này cũng không thể tránh khỏi những hành vi nguy hiểm xâm hại đến sự phát triển bình thường của thị trường chứng khoán, xâm hại đến lợi ích của những người tham gia vào thị trường chứng khoán mà trước hết là của các nhà đầu tư

Trang 36

Thông qua công tác thanh tra, người ta đã phát hiện các hành vi vi phạm phổ biến trên thị trường chứng khoán như: vi phạm về nhập lệnh, đặt sai lệnh của khách hàng của các công ty chứng khoán; vi phạm về mua, bán cổ phiếu quỹ của các tổ chức niêm yết; vi phạm các qui định về công bố thông tin của các

tổ chức niêm yết, vi phạm các qui định về mở tài khoản của các nhà đầu tư chứng khoán [44] Có những hành vi vi phạm rất nghiêm trọng như: tháng 8/2001, Công ty cổ phần dịch vụ giải từ Hà Nộ i (Haseco) phát hành 1,5 triệu

cổ phiếu với giá 16.000 đ/ cổ phiếu (mệnh giá mỗi cổ phiếu là 10.000 đồng)

với lời hứa là: “Sẽ niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán vào năm

2002” Tuy nhiên, sau khi thu về gần 20 tỉ đồng, công ti này đã không niêm

yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, không chia cổ tức, không mời các nhà đầu tư tham gia đại hội cổ đông, số vốn 20 tỉ đồng thu được Haseco sử dụng như thế nào các cổ đông không hề biết Tất cả những điều đó đã khiến cho những người mua cổ phiếu của công ti này có cảm giác như tiền của họ bị

“đánh cắp” Hiện tượng đấu giá cổ phiếu không cần cáo bạch cũng xảy ra

[34]

Lý giải cho hiện tượng trên, các quan điểm đều cho rằng: “ Pháp luật

Việt Nam chưa có qui định xử lý về hình sự đối với hành vi vi ph ạm mang tính chất đặc thù trong lĩnh vực thị trường chứng khoán, việc thiếu đi chế tài nghiêm khắc này cũng là nguyên nhân dẫn đến vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán ngày càng gia tăng”[21]

1.4.2 M ột số hành vi nên loại bỏ khỏi chương các tội x âm phạm trật

tự quản lý kinh tế

Trong quá trình áp dụng BLHS một số tội trong chương này đã tỏ ra bất cập, không còn phù hợp với cơ chế thị trường Theo nghiên cứu của chúng tôi đó là ba tội, gồm: tội đầu cơ (Điều 160 BLHS), tội lừa dối khách hàng (Điều 162 BLHS) và tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của

tổ chức tín dụng (Điều 178 BLHS)

Thứ nhất về tội đầu cơ: Có quan điểm cho rằng: mặc dù nền kinh tế thị

trường đang phát huy nhiều mặt nhưng vẫn tiềm ẩn những điều kiện, cơ hội cho tội đầu cơ xuất hiện Những mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực

Trang 37

phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh giá cả tăng cao ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội Những dịch bệnh như Sars, dịch cúm gà H5N1, dịch sốt xuất huyết ở trẻ em cũng như những biến động giá cả thị trường thế giới

về một số mặt hàng nhất định đã tạo điều kiện thuận lợi cho hiện tượng đầu

cơ phát triển Việc không xét xử về tội đầu cơ không phải loại tội phạm này không xảy ra trong thực tiễn Nó đang nằm trong phạm vi tội phạm ẩn [22]

Nhưng nghiên cứu qui định tại Điều 160 BLHS đối chiếu với thực tế cuộc sống chúng tôi thấy quan điểm trên không có cơ sở và không nên qui định tội đầu cơ trong nền kinh tế thị trường Bởi vì:

+ Về cơ sở kinh tế - xã hội: Việc duy trì tội đầu cơ trong BLHS là sự phản ánh tư duy kinh tế cũ Tư duy này cho rằng: do năng lực sản xuất của nước ta còn yếu kém nên phải áp dụng cơ chế phân phối Mọi hành vi đầu cơ, tích trữ đều bị cấm Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, công dân được quyền tự do kinh doanh, không hạn chế về quy mô Kinh doanh như thế nào để có lợi nhuận cao nhất thuộc về khả năng của người đó Nhà nước bằng công cụ pháp luật của mình phải tạo ra những hành lang pháp lí an toàn để cho hoạt động sả n xuất kinh doanh phát triển Chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh là những hiện tượng không bình thường của đời sống xã hội Khi hiện tượng đó xảy ra, nhà nước với công cụ điều tiết vĩ mô của mình hoàn toàn có thể kiểm soát được Ví dụ: trưng mua, trưng dụng hàng hoá hoặc xuất quỹ dự trữ quốc gia Do đó, cơ sở kinh tế - xã hội của tội đầu cơ không còn tồn tại

+ Về dấu hiệu đặc trưng: qui định về tội đầu cơ như trong BLHS là một qui định thiếu tính thực tế B ởi lẽ một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là p hạm tội n ày thì cũng đồng nghĩa v ới việc phải chứng minh một cá ch

rõ ràng bằng các biện pháp tố tụng, hành vi đó phải thoả mãn đầy đủ các

dấu hiệu của C TTP cơ bản Theo Điều 160 thì : Người nào lợi dụng tình

hình khan hiếm trong tình hình thiên tai m ua vét hàng hoá có số lượng lớn nhằm bán lại thu lời bất chính gây hiệu quả nghiêm trọng Thực tiễn

tiến hành TTHS đã chỉ rõ rằng để buộc tội được một người nào đó thì những chứng cứ trong hồ sơ phải chứng minh được đầy đủ hành vi phạm

Trang 38

tội của ngư ời đó N hư ng điều luật qui định về hành vi phạm tội chung chung như trên với một loạt các dấu hiệu kèm theo đã khiến cho việc chứ ng minh tội phạm rất khó khăn trong thực tế Rất hiếm ngư ời nào mà hành vi của họ có thể thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu nói trên

+ V ề thực tiễ n xé t xử: N ghiê n cứ u thự c tiễ n xét xử c ác vụ á n xâ m phạ m trật tự quản lý kinh tế từ năm 2000 trở lại đây chúng tôi thấy: số vụ xét xử rất ít

và ngày càng giảm Năm 2000 xử 04 vụ = 11 bị cáo, đến năm 2002 chỉ còn 1 vụ

= 1 bị cáo, trong 3 năm 2003, 2004, 2005 Toà án các địa phư ơng không xét xử

vụ nào

Thứ hai về tội lừa dối khách hàng: Trong tình hình hiện nay tội lừa dối

khách hàng trở nên không còn phù hợp Bởi vì:

+ Về cơ sở kinh tế - xã hội: tội này ra đời trong thời kỳ kinh tế tập trung, bao cấp nhằm bảo vệ trật tự mua bán hàng hoá, uy tín của người bán hàng, sự minh bạch đúng đắn của thương nghiệp XHCN trong lưu thông hàng hoá Việc bảo vệ các quan hệ nêu trên là cần thiết trong nền kinh tế bao cấp mà nhà nước nắm giữ vai trò chủ đạo trong lưu thông hàng hoá Nhưng thực tế hiện nay hầu hết các cơ sở thương nghiệp, công ty thương mại đã chuyển sang công ty cổ phần hoặc chuyển sang hình thức giao khoán cho cán bộ nhân viên vì vậy thương nghiệp XHCN chì còn là hình thức trong nhiều lĩnh vực Và có thể nói mạng lưới bán hàng của tư nhân đã chiếm lĩnh phần lớn trên thị trường nước ta Chính vì vậy việc gian dối cân, đo, đong, đếm thiếu … của người bán hàng tự cơ chế thị trường sẽ loại bỏ họ Do đó không cần thiết phải bảo vệ bằng quy phạm pháp luật hình sự trong quan hệ mua bán hàng hoá,

uy tín của người bán hàng Hành vi cân, đong, đếm thiếu gây thiệt hại cho khách hàng nên xử lí hành chính thì hợp lí hơn

+ Về dấu hiệu đặc trưng: tội lừa dối khách hàng được đặc trưng bởi: Cân, đo, đong, đếm, tính gian, đánh tráo hàng hoá… của người bán hàng nhằm mục đích để

có số tiền lớn hơn số tiền mà đáng ra người mua hàng phải trả và suy cho cùng là để chiếm đoạt tài sản của khách hàng Như vậy, khách hàng mất tiền và người bán hàng có được số tiền đó là kết quả của các hành vi gian dối: cân, đo, đong, đếm thiếu, tính gian, đánh tráo hàng hoá Vì vậy, bản chất của hành vi này là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, tính chất nguy hiểm của tội này lại thấp hơn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trang 39

+ Về thực tiễn xét xử: từ năm 2000 trở lại đây số vụ xét xử về tội lừa dối khách hàng trên phạm vi cả nước là không đáng kể Năm 2000 có 1 vụ = 3 bị cáo, năm 2003 có

1 vụ = 1 bị cáo, năm 2001, 2002, 2004, 2005 không xét xử vụ nào

Thứ ba về tội sử dụng trái phép quỹ d ự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng Đây là tội mới được đưa vào BLHS 1999 Điều luật này qui định: “ Người

nào có trách nhiệm mà dùng quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ chia lợi tức cổ phần gây hậu quả nghiêm trọng ” Theo qui định tại Điều 87 Luật các tổ chức tín dụng

2004 và Nghị định 146 năm 2005 về chế độ tài chính đối với các tổ chức tín dụng thì sau khi thực hiện các nghĩa vụ tài chính, phần lợi nhuận còn lại các tổ chức tín dụng bắt buộc phải có các loại quỹ sau: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ ( trích tỷ lệ 5%), quỹ dự phòng tài chính (trích tỷ lệ 10%) và một số quỹ không bắt buộc đối với tất cả các loại hình tổ chức tín dụng như quỹ đầu tư (trích tỷ lệ 50%), quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng Khi đã lập ra các quỹ này thì các tổ chức tín dụng không được dùng trả lợi tức cổ phần (cổ tức) [26]

Bên cạnh đó, theo qui định tại các Điều 95, 96, 108, 116 Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì người có thẩm quyền trong việc phân chia cổ tức là Đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị cũng như Tổng giám đốc, Giám đốc chỉ có quyền kiến nghị mức cổ tức được trả chứ không có quyền chia lợi tức cổ phần K hi nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông thông qua thì Hội đồng quản trị phải tuân thủ đúng qui định của Đại hội đồng cổ đông [27]

Như vậy, qui định của BLHS là qui định thiếu tính thực tế Bởi quỹ của các

tổ chức tín dụng không chỉ có một quỹ như điều luật qui định Một số quỹ khác còn quan trọng hơn cả quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng như quỹ dự phòng tài chính (để bù đắp rủi ro trong hoạt động tín dụng), quỹ đầu tư phát triển (dùng để mở rộng qui mô kinh doanh) Người có trách nhiệm trong việc chia lợi tức

cổ phần chính là Đại hội đồng cổ đông, hoặc Hội đồng quản trị đối với tổ chức tín dụng nhà nước Hơn nữa, một nguyên tắc trong kinh doanh là bả o tồn và phát triển vốn nên nếu họ dùng vốn trong kinh doanh của mình để chia lợi tức cổ phần thì khác nào họ tự hạn chế khả năng kinh doanh của mình

Chính vì qui định thiếu tính thực tế nên trong thời gian vừa qua, tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức dụng không xét xử vụ nào

Trang 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Trên đây là những bất cập cơ bản của BLHS hiện hành về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Những bất cập ấy thể hiện ở chỗ nhà làm luật đã lấy đặc điểm xấu về nhân thân làm dấu hi ệu định tội là trái với nguyên tắc của Luật hình sự, dẫn đến khả năng xử lý bằng pháp luật hình

sự một cách tràn lan C ác dấu hiệu dùng để mô tả tội phạm trong một số CTTP còn chung chung và lệ thuộc vào sự đánh giá theo thái độ chủ quan của cơ quan THTT mà hậu quả của nó có thể làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm Những khái niệm mà B LHS sử dụng trong chừng m ực nhất định chưa tương thích, chưa bao quát hết các hành vi vi phạm của luật chuyên ngành Nhiều dấu hiệu định khung còn chung chung, trừu tượn g gây khó khăn cho việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội dẫn đến tình trạng xử quá nặng hoặc quá nhẹ người phạm tội Việc gộp các cấp độ hậu quả, các trường hợp phạm tội, m ức độ thu lợi bất chính vào cùng một khung hình phạt để áp dụng chế tài như nhau không thể hiện được nguyên tắc phân hoá TNHS Hình phạt áp dụng cho các tội xâm phạm trật tư quản lý kinh tế cũng còn nhiều bất cập: hình phạt tiền trong tất cả các trường hợp chỉ là chế tài lựa chọn bên cạnh các hình phạt khác, thiếu những biện pháp bảo đảm để hình phạt tiền được thực thi một cách có hiệu quả, khoảng cách giữa m ức tối thiểu và mức tối đa của hình phạt tiền còn quá rộng, thậm chí hình phạt tiền còn được áp dụng đối với cả tội nghiêm trọng là không đúng với qui định tạ i Điều 30 BLHS Hình phạt

tù được qui định quá nhiều (không phù hợp với tính chất kinh tế của loại tội này), trong một số trường hợp chưa có sự công bằng và khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa còn lớn có thể dẫn đến sự không thống nhất trong áp dụng Trong tình hình hiện nay và theo xu thế hội nhập thì việc duy trì hình phạt tử hình đối với tội buôn lậu (Điều 153) là quá nặng Bên cạnh đó, một số tội trong chương này đã tỏ ra không phù hợp với thực

tế cuộc sống Theo sự phát triển của kinh tế - xã hội nhiều hành vi vi phạm pháp luật mang tính nguy hiểm cao m ới xuất hiện trong một số lĩnh vực

Ngày đăng: 20/10/2018, 17:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm