1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐƯƠNG sự TRONG vụ án dân sự một số vấn đề lý LUẬN và THỰC TIỄN

83 211 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 597,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường t

Trang 1

NGUYỄN TRIỀU DƯƠNG

ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ - MỘT SỐ

VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành: Luật Dân sự

Mã số: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HOÀNG NGỌC THỈNH

HÀ NỘI - 2005

Trang 2

1996

Trang 3

Lời nói đầu 1

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về đương sự trong

quan hệ pháp luật tố tụng dân sự

4

1.1 Khái niệm chủ thể trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự 4

1.2 Khái niệm đương sự trong vụ án dân sự 7

1.3 Lược sử các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt

1.4 Một số quy định của pháp luật nước ngoài về đương sự 25

1.4.1 Qui định về đương sự trong Bộ Luật Tố tụng dân sự

Chương 2: Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong pháp

luật tố tụng dân sự hiện hành

31

Trang 4

2.1.1 Các quyền thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự 32

2.1.2 Các quyền, nghĩa vụ của đương sự trong hoạt động cung

cấp chứng cứ, chứng minh

36

2.4 Quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 51

2.4.1 Quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan có yêu cầu độc lập

52

2.4.2 Quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn

52

2.5 Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng 52

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các

quy định của pháp luật về đương sự trong vụ án dân sự

3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của

pháp luật tố tụng dân sự về đương sự trong vụ án dân sự

Trang 5

Lời nói đầu

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Đương sự trong vụ án dân sự là chủ thể đặc biệt quan trọng- nếu thiếu chủ thể này thì không thể phát sinh vụ án dân sự Việc xác định thành phần, tư cách đương

sự trong vụ án dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quyền và nghĩa vụ

tố tụng của họ Đây là cơ sở quan trọng giúp cho quá trình giải quyết vụ án dân sự

một cách chính xác, khách quan

Để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, trong thời gian qua Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về tố tụng dân sự như: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các

vụ án dân sự (1989), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (1994), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (1996) v.v Các pháp lệnh này đã phát huy hiệu quả cao trong quá trình Toà án giải quyết các vụ án dân sự, nhưng nhìn chung nhiều quy định của các văn bản pháp luật này đã không còn phù hợp, thiếu những quy định cần thiết, trong đó phải kể đến những hạn chế, bất cập của các quy định về đương sự trong vụ án dân sự

Kế thừa, phát triển và pháp điển hóa những quy định của văn bản pháp luật tố tụng dân sự trước đây, BLTTDS đã được Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ năm thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 BLTTDS quy định về đương sự trong vụ án dân sự tại Mục 1 Chương VI (từ Điều 56 đến Điều 62) Các quy định trong Bộ luật này đã khắc phục được đáng kể những hạn chế, bất cập của các quy định về đương sự trong

vụ án dân sự của các văn bản pháp luật trước đó Tuy nhiên, một số các quy định về

đương sự trong BLTTDS còn chưa đầy đủ, thiếu cụ thể, thậm chí còn mâu thuẫn cần được nghiên cứu nhằm góp phần hoàn thiện, tạo điều kiện cho việc giải quyết các vụ án dân sự của Toà án được nhanh chóng và chính xác

Thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động trong thời gian qua cho thấy không ít các Toà án đã xác định sai thành phần và tư cách của đương

sự, từ đó đã dẫn đến hậu quả pháp lý đó là quyền và nghĩa vụ của các đương sự không được xác định một cách chính xác, do đó quyền và lợi ích hợp pháp của họ không được bảo đảm Vì vậy đã dẫn tới hậu quả là nhiều bản án, quyết định của Toà

án đã bị huỷ

Trang 6

Xuất phát từ thực trạng trên, việc tìm hiểu đương sự trong vụ án dân sự là vấn

đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức quan trọng Thông qua việc tìm hiểu

đương sự trong vụ án dân sự cũng như quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ giúp cho chúng ta có cách nhìn tổng quan hơn về đương sự trong vụ án dân sự, đồng thời có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, đề tài không tập trung phân tích toàn bộ các khía cạnh về đương sự trong vụ việc dân sự mà chỉ đề cập, nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề xung quanh việc xác định thành phần, tư cách đương sự, quyền

và nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài luận văn cũng được sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên nghành như: phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh, diễn giải, suy diễn

logic

5 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ khái niệm đương sự cũng như việc xác định tư cách đương sự, quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự

Để đạt được mục đích này, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định trên những khía cạnh sau: Làm rõ các khái niệm về đương sự trong vụ án dân sự; Phân tích lịch sử phát triển của các qui định trong pháp luật về đương sự trong vụ án dân sự; Phân tích các quyền và nghĩa vụ của đương sự theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành; Tìm hiểu thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng các qui định của pháp luật về

đương sự trong vụ án dân sự và đưa ra một số kiến nghị

Trang 7

6 Những đóng góp mới của luận văn

Luận văn đã khái quát những nét cơ bản về đương sự trong vụ án dân sự, qua

đó phân tích những bất cập của các quy định pháp luật tố tụng hiện hành về đương

sự và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về đương sự để góp phần hoàn thiện các qui định của pháp luật trong lĩnh vực tương ứng Trên cơ sở

đó, luận văn là tài liệu quan trọng giúp cho cán bộ nghiên cứu, cán bộ làm công tác thực tiễn hiểu rõ và xác định chính xác thành phần và tư cách đương sự trong vụ án dân sự

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn cao học với đề tài: “Đương sự trong vụ án dân sự - một số vấn đề

lý luận và thực tiễn” thuộc chuyên ngành Luật dân sự, mã số 60 38 30 được kết cấu

bởi ba chương ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo

Lời nói đầu

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về đương sự trong quan hệ pháp

luật tố tụng dân sự

Chương 2: Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự

hiện hành

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định của

pháp luật tố tụng dân sự về đương sự trong vụ án dân sự

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 8

Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về đương sự

trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự

1.1 Khái niệm chủ thể trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự

1.1.1 Khái niệm

Chủ thể hiểu một cách chung nhất là bộ phận chính, giữ vai trò chủ yếu; Là con người với tư cách là một sinh vật có ý thức và ý chí, trong quan hệ đối lập với thế giới bên ngoài; Là đối tượng gây ra hành động, trong quan hệ với đối tượng bị sự chi phối của hành động, gọi là khách thể [24, Tr 173] Để sống, để tồn tại con người không thể tồn tại một cách đơn lẻ mà buộc phải có quan hệ với những người khác Quan hệ giữa người này với người khác là quan hệ xã hội và luôn được chi phối bởi các lợi ích Để điều hoà lợi ích giữa các chủ thể, pháp luật được coi là công cụ hữu hiệu Khi các quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh thì các chủ thể của các quan hệ xã hội đó trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật

Chủ thể pháp luật là người hay cơ quan, tổ chức được pháp luật quy định có năng lực pháp luật, được hưởng quyền, phải làm nghĩa vụ và phải chịu trách nhiệm pháp lý [25]

Lý luận Mác - Lê nin về Nhà nước và pháp luật đã chỉ ra rằng chủ thể của một quan hệ pháp luật nói chung đó chính là tổ chức, cá nhân thoả mãn được những

điều kiện do Nhà nước quy định cho mỗi loại quan hệ pháp luật Tổ chức, cá nhân

đó được coi là có năng lực chủ thể pháp luật ( bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi) [23, Tr 444] Phạm vi chủ thể của mỗi ngành luật là khác nhau, điều đó phụ thuộc vào đối tượng điều chỉnh của ngành luật đó Mỗi ngành luật trong hệ thống pháp luật điều chỉnh một hoặc nhiều nhóm các quan hệ xã hội cùng loại, có những đặc điểm tương đồng và có cùng tính chất

Luật Tố tụng dân sự Việt Nam điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, những người tham gia tố tụng và những người liên quan, phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự Những quan hệ xã hội do Luật Tố tụng dân sự điều chỉnh luôn gắn liền với hoạt

động giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự Các quan hệ xã hội này rất phong phú và đa dạng, đan xen giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với nhau, giữa cơ

Trang 9

quan tiến hành tố tụng với những người tham gia tố tụng và người liên quan, giữa

đương sự với nhau và với người liên quan Sự phong phú, đa dạng của các quan hệ xã hội mà Luật Tố tụng dân sự điều chỉnh đã dẫn đến tính đa dạng về mặt chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự

Tuy nhiên, không phải bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào cũng trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự mà để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, các chủ thể phải đáp ứng được những điều kiện do pháp luật tố tụng dân sự quy định Khi cá nhân, cơ quan, tổ chức trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự thì họ sẽ có các quyền và nghĩa vụ pháp lý do Luật

Tố tụng dân sự quy định

Như vậy, chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là các cá nhân, cơ

quan, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp luật nhất định

1.1.2 Thành phần chủ thể trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự nảy sinh nhiều quan hệ khác nhau giữa các chủ thể: Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành

án, những người tham gia tố tụng và những người liên quan Các chủ thể này tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự với những động cơ và mục đích khác nhau, tuy nhiên hành vi của họ lại liên quan mật thiết với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất Các chủ thể này là các chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự

Chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự bao gồm: Toà án, Viện kiểm sát, những người tham gia tố tụng, người liên quan, căn cứ vào mục đích tham gia tố tụng và địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự có thể chia chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự làm các nhóm sau:

- Cơ quan tiến hành tố tụng: Khoản 1 Điều 39 BLTTDS quy định cơ quan tiến hành tố tụng gồm có Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân

Toà án nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự duy nhất có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các vụ việc dân sự Theo đó, Toà án nhân dân có nhiệm vụ quyền hạn như: thụ lý vụ việc dân sự; lập hồ sơ vụ việc dân sự; hoà giải vụ án dân sự; quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời; tổ chức các phiên toà, phiên họp; cấp, tống đạt các văn bản tố tụng v.v Vì vậy, trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Toà án là chủ thể đặc biệt, là chủ thể chủ yếu, chủ thể có quyền lực, các quyết định của Toà án buộc các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan phải thi hành

Trang 10

Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tố tụng bảo đảm cho việc giải quyết vụ án và thi hành án được đúng

đắn và kịp thời Để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của toà án, cơ quan thi hành án trong việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án, pháp luật tố tụng dân sự quy định cho Viện kiểm sát có các quyền như: kiểm sát việc thụ lý, lập hồ sơ, hoà giải vụ án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các đương sự và các chủ thể tố tụng khác; yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị các bản án, quyết định của Toà án theo quy

định của pháp luật; tham gia phiên toà xét xử vụ án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của đương sự, cơ quan thi hành án và chấp hành viên, cá nhân, tổ chức liên quan đến việc thi hành án; kháng nghị các quyết định về thi hành án; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại của toà án, cơ quan thi hành án và những người có thẩm quyền trong việc giải quyết các khiếu nại phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự v.v Khi thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn đó Viện kiểm sát nhân dân là chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự với các chủ thể khác như: Toà án, đương sự, đại diện của đương sự

Mặc dù Điều 39 BLTTDS không quy định cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự, nhưng theo chúng tôi thì cơ quan thi hành án cũng là cơ quan tiến hành tố tụng Bởi vì, việc thi hành án mang tính tài sản, dựa trên bản án, quyết định của toà án, nó gắn liền với việc giải quyết vụ án, thi hành án là một giai

đoạn tiếp theo của giai đoạn xét xử Mặt khác, BLTTDS mới ban hành cũng đã dành toàn bộ Chương XXXI quy định về thủ tục thi hành bản án, quyết định của toà án

- Những người tham gia tố tụng dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác bao gồm: đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự

Đương sự là chủ thể khá phổ biến trong các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự

Để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đương sự phải thiết lập các quan

hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng và các chủ thể khác Khi tham gia vào các quan

hệ pháp luật tố tụng dân sự, đương sự mặc dù ở các vị trí tố tụng khác nhau nhưng

đều bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ tố tụng Trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện các quyền chủ quan, thể hiện ý chí của một bên chủ thể như là quyền khởi kiện, quyền yêu cầu, quyền rút đơn khởi kiện, rút yêu cầu, quyền kháng cáo, quyền rút đơn kháng cáo v.v

Trang 11

Người đại diện của đương sự là người thay mặt đương sự để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự Người đại diện của đương sự tham gia vào các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự có thể là người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo uỷ quyền Người đại diện theo quy định của pháp luật bao gồm

đại diện đương nhiên và đại diện do Toà án chỉ định Khi tham gia vào các quan hệ

tố tụng dân sự người đại diện theo pháp luật thực hiện các quyền và nghĩa vụ của

đương sự mà người đó đại diện, còn người đại diện theo uỷ quyền chỉ thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong phạm vi uỷ quyền

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người có đủ các điều kiện do pháp luật quy định được đương sự yêu cầu tham gia tố tụng để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của họ và được Toà án chấp nhận Khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có vị trí pháp lý độc lập với đương sự, không phải thay mặt đương sự mà tham gia tố tụng

để giúp đỡ, trợ giúp đương sự về mặt pháp lý bằng việc thực hiện các quyền và nghĩa

vụ của mình

- Những người tham gia tố tụng khác để hỗ trợ Toà án trong việc giải quyết

vụ việc dân sự bao gồm: người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp chứng cứ cho Toà án, đương sự; cơ quan, tổ chức có trách nhiệm chuyển giao tài liệu giấy tờ cho toà án

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, để việc giải quyết vụ án được đúng

đắn, khách quan, toàn diện thì trong một số trường hợp cần có sự tham gia của những người tham gia tố tụng khác mà hoạt động tố tụng của họ có tính chất hỗ trợ cho quá trình giải quyết vụ án như hoạt động cung cấp chứng cứ của người làm chứng, hoạt động giám định của người giám định v.v

Như vậy, chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự rất phong phú, đa dạng

và có địa vị pháp lý khác nhau Tuy nhiên trong số các chủ thể đó thì đương sự là một chủ thể đặc biệt quan trọng

1.2 Khái niệm đương sự trong vụ án dân sự

1.2.1 Khái niệm đương sự

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự thì việc xác định thành phần đương

sự, tư cách của đương sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng Việc xác định đúng thành phần và tư cách của đương sự là một bảo đảm để các đương sự thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng, bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng đắn Toà án giải quyết

Trang 12

vụ án dân sự thực chất là việc giải quyết các quan hệ pháp luật nội dung giữa các

đương sự, xác định quyền và nghĩa vụ trên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự là các bên trong quan hệ pháp luật nội dung Vì vậy không có

đương sự thì cũng không có vụ án dân sự

Theo Từ điển tiếng Việt [24, Tr 346]: “Đương sự là người, là đối tượng trong

một vụ việc nào đó được đưa ra giải quyết” Như vậy, theo nghĩa chung nhất thì

đương sự chỉ là người, là đối tượng trong bất kỳ một vụ việc nào đó được đưa ra giải quyết trong cuộc sống hàng ngày Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng cách định nghĩa về

bị tranh chấp Trong các vụ án dân sự, có một số chủ thể tham gia có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan đến việc giải quyết các vụ án dân sự, các chủ thể này tham gia vào quá trình giải quyết vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích của mình và một số chủ thể tham gia tố tụng để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực

được giao phụ trách Các chủ thể này được gọi là đương sự trong vụ án dân sự

Theo quy định tại khoản 1, Điều 56 BLTTDS: “Đương sự trong vụ án dân sự

là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan” Do vậy, các chủ thể có thể trở thành đương sự trong các vụ án dân sự khá phong phú, đa dạng bao gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức (tổ chức có tư cách pháp nhân và tổ chức không có tư cách pháp nhân)

Như vậy, đương sự trong vụ án dân sự là các cá nhân, cơ quan, tổ chức tham

gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước

Đương sự trong các vụ án dân sự bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

1.2.2 Nguyên đơn

Nguyên đơn là một trong những đương sự quan trọng của vụ án dân sự Việc nguyên đơn khởi kiện hoặc các chủ thể theo quy định của pháp luật tố tụng khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn là một trong những điều kiện tiên quyết để

Trang 13

có vụ án dân sự phát sinh tại Toà án, đồng thời là cơ sở để bắt đầu quá trình giải quyết vụ án dân sự

Theo quy định tại khoản 2, Điều 56 BLTTDS: “Nguyên đơn trong vụ án dân

sự là người khởi điện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy

định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm

Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn”

Như vậy, trong vụ án dân sự để trở thành nguyên đơn thì cá nhân, cơ quan, tổ chức phải đáp ứng đầy đủ hai điều kiện sau:

- Các chủ thể này cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Thực chất trên cơ sở bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa quyền, lợi ích của các chủ thể này có bị xâm phạm hay không thì phải được khẳng định trong các bản án, quyết

định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Khi chưa có bản án quyết định của Toà án

có hiệu lực pháp luật khẳng định vấn đề đó, thì quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn mới chỉ dừng lại là giả thiết bị xâm phạm Về nguyên tắc, quyền lợi chỉ

có thể có được hoặc bị xâm phạm khi các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật nội dung (quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh - thương mại, lao

động) mà nguyên đơn là một bên chủ thể

- Ngoài điều kiện nêu trên thì cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ trở thành nguyên

đơn khi có việc khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách

Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự hoặc cơ quan, tổ chức thông qua người đại điện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự và được Toà án thụ lý vụ án thì cá nhân, cơ quan, tổ chức đó được xác định là nguyên đơn Trong trường hợp cá nhân là người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự mà được người đại điện, cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích của người này thì người được bảo vệ quyền lợi cũng được xác định là nguyên đơn

Bên cạnh đó, cơ quan, tổ chức do BLTTDS quy định khởi kiện vụ án dân sự

để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng được xác định là nguyên đơn

Trang 14

Trong trường hợp cả hai bên chủ thể của một quan hệ pháp luật nội dung

đang tranh chấp mà cùng khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết quan hệ nội dung tranh chấp đó thì Toà án thụ lý đơn khởi kiện bên nào trước thì bên đó được xác

định là nguyên đơn

1.2.3 Bị đơn

Bị đơn là chủ thể không thể thiếu trong quá trình Toà án giải quyết vụ án dân

sự Bị đơn là chủ thể bao giờ cũng đi kèm với nguyên đơn Khi đã xác định tư cách nguyên đơn thì cũng đồng thời với việc xác định tư cách bị đơn Việc tham gia tố tụng của nguyên đơn mang tính chất chủ động, còn việc tham gia tố tụng của bị đơn mang tính chất bị động, do bị bắt buộc tham gia tố tụng

Khoản 3, Điều 56 BLTTDS quy định: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”

Như vậy, cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xác định là bị đơn trong vụ án dân sự khi đáp ứng hai điều kiện sau:

- Là người bị nguyên đơn hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của BLTTDS khởi kiện

- Đối với nguyên đơn là người giả thiết cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, bị tranh chấp Vì vậy, bị đơn cũng chỉ là người được giả thiết là có tranh chấp hay vi phạm đến quyền lợi của nguyên đơn

Trong đa số các trường hợp thì bị đơn chính là chủ thể trực tiếp phía bên kia trong mối quan hệ pháp luật nội dung với nguyên đơn Ví dụ: A cho B mượn một chiếc xe đạp, B làm mất chiếc xe đó A kiện B đòi bồi thường số tiền tương đương với giá trị xe A là nguyên đơn, B là bị đơn trong vụ án dân sự Tuy nhiên trong một

số trường hợp thì để xác định bị đơn chúng ta cần phải căn cứ vào các quy định của pháp luật nội dung để xác định trong mỗi trường hợp cụ thể ai mới là chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung với nguyên đơn

1.2.4 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Đương sự trong vụ án dân sự không chỉ bao gồm nguyên đơn, bị đơn mà bao gồm cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bởi vì, khi giải quyết vụ án dân sự để giải quyết tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn thì có thể ảnh hưởng tới quyền, lợi

Trang 15

ích của người thứ ba Để giải quyết vụ án toàn diện, triệt để đòi hỏi cần thiết có sự tham gia của người thứ ba này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hiểu một cách chung nhất là người tham gia tố tụng vào vụ án đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác với nguyên đơn và bị đơn Họ không phải là người khởi kiện, cũng không phải là người bị kiện Việc tham gia tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự có thể do họ chủ

động hoặc theo yêu cầu của đương sự khác hoặc theo yêu cầu của Toà án Như vậy,

để có thể xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án thì các chủ thể này phải có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án dân sự mà Toà án đang giải quyết, đồng thời phải được Toà án đưa họ vào tham gia tố tụng do thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của chính họ

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường xuất hiện trong các vụ án khi xuất hiện quyền đòi bồi hoàn, như: Quyền của chủ phương tiện đối với người lái xe của

họ trong trường hợp chủ phương tiện phải bồi thường cho người bị hại do người lái xe gây ra; Quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng khi các cơ quan này đã bồi thường cho người bị hại do hành vi trái pháp luật của người tiến hành tố tụng gây ra; Quyền, nghĩa

vụ của người thứ ba liên quan khi giải quyết chia tài sản chung với vợ chồng

Trong khoa học pháp lý, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có hai loại: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập hay còn gọi là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia vào vụ án dân sự đã xảy ra giữa nguyên đơn,

bị đơn để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình việc tham gia tố tụng của họ độc lập với nguyên đơn, bị đơn Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cho rằng đối tượng, phần đối tượng tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là thuộc về họ, chứ không phải thuộc về nguyên đơn hay bị đơn, do vậy yêu cầu của họ

có thể chống lại cả nguyên đơn, bị đơn hoặc trong một số trường hợp yêu cầu của họ chỉ chống nguyên đơn hoặc chỉ chống lại bị đơn Tuy nhiên, trong mọi trường hợp yêu cầu của họ đều độc lập với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn và không phụ thuộc vào yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn Vì có yêu cầu độc lập với cả nguyên đơn và bị

Trang 16

đơn, do vậy thông thường người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập

có đủ điều kiện pháp lý để khởi kiện vụ án dân sự để Toà án giải quyết yêu cầu của mình, nhưng do vụ án dân sự đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn, nên họ phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nếu không tham gia ngay vào vụ án dân sự đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn mà khởi kiện thành

vụ án dân sự khác để bảo vệ quyền lợi cho mình thì việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ sau đó sẽ gặp khó khăn, phức tạp hơn

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia vào vụ

án đã xảy ra giữa nguyên đơn, bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, việc tham gia tố tụng của họ luôn phụ thuộc vào việc tham gia tố tụng của nguyên

đơn hoặc bị đơn

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên

đơn hoặc bị đơn do có quyền, lợi ích luôn phụ thuộc và gắn liền với quyền, lợi ích của nguyên đơn hoặc bị đơn nên họ không thể đưa ra yêu cầu độc lập với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn mà yêu cầu của họ bao giờ cũng đi kèm và phụ thuộc vào yêu cầu của nguyên đơn hoặc yêu cầu của bị đơn Vì vậy, họ không thể khởi kiện để Toà án giải quyết, mà quyền lợi của họ sẽ được giải quyết ngay trong vụ án đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn

1.2.5 Năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự

Theo lý luận Mác - Lê nin về Nhà nước và pháp luật thì hai yếu tố cấu thành năng lực chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự [23, Tr 445] Đương sự là một loại chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng, vì vậy để tham gia vào quá trình này thì đương sự phải có năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự

Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của đương sự là khả năng pháp luật quy

định cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác có các quyền và nghĩa

vụ tố tụng dân sự

Giữa năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong đó năng lực pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình là cơ sở của năng lực pháp luật tố tụng dân sự, hay nói cách khác thì năng lực pháp luật tố tụng dân sự

Trang 17

là biểu hiện quyền năng của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án

Nội dung của năng lực pháp luật tố tụng dân sự của đương sự là toàn bộ các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự mà đương sự có được theo quy định của pháp luật

Đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là các chủ thể có quyền bình

đẳng về quyền và nghĩa vụ Vì vậy để việc giải quyết vụ án được đúng đắn và khách quan pháp luật tố tụng dân sự quy định: “Mọi cá nhân, tổ chức có năng lực pháp luật

tố tụng dân sự như nhau trong việc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” (khoản 1, Điều 57 BLTTDS)

Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của cá nhân là khả năng pháp luật quy định cho cá nhân có các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự, do đó năng lực pháp luật tố tụng dân sự của cá nhân bao giờ cũng gắn liền với sự tồn tại của cá nhân Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó chết Như vậy, năng lực pháp luật tố tụng dân sự của cá nhân chính là thuộc tính gắn liền với cá nhân suốt đời và không bị ảnh hưởng bởi trạng thái tinh thần, tuổi tác, hoàn cảnh, tài sản mọi cá nhân đều bình đẳng về năng lực pháp luật tố tụng dân sự

Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của tổ chức xuất hiện khi tổ chức đó được thành lập và chấm dứt khi tổ chức đó không còn tồn tại Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của tổ chức và năng lực pháp luật tố tụng dân sự của cá nhân với tư cách là

đương sự là như nhau, bình đẳng với nhau trong việc hưởng quyền và gánh chịu nghĩa vụ tố tụng dân sự

Năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự là khả năng bằng hành vi của mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự Năng lực hành vi tố tụng dân

sự khác với năng lực pháp luật tố tụng dân sự Trong khi năng lực pháp luật tố tụng của các đương sự là bình đẳng ngang nhau, thì năng lực hành vi là yếu tố luôn có sự biến động và được xác định ở các mức độ khác nhau

Năng lực hành vi tố tụng dân sự có mối liên hệ mật thiết với năng lực hành vi dân sự, hôn nhân - gia đình, kinh doanh - thương mại, lao động, trong đó thông thường một chủ thể chỉ được xác định là có năng lực hành vi tố tụng dân sự nếu chủ thể đó đã có năng lực hành vi dân sự, hôn nhân - gia đình, kinh doanh - thương mại, lao động Tuy nhiên năng lực hành vi dân sự chỉ là một trong các điều kiện để có năng lực hành vi tố tụng dân sự

Trang 18

Đối với cá nhân thì năng lực hành vi tố tụng dân sự của họ được xác định dựa trên cơ sở khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của cá nhân đó và trên cơ sở tính chất, yêu cầu của việc tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Quá trình giải quyết vụ án dân sự là một quá trình phức tạp bao gồm nhiều thủ tục, nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau, trong đó đương sự có thể tham gia ở tất cả các giai đoạn khác nhau của quá trình đó để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tố tụng Vì vậy, muốn bảo vệ được quyền và lợi ích của mình trước Toà án, thì đương sự phải

có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình như việc tham gia vào các quan hệ pháp luật nội dung, đồng thời đương sự phải có sự hiểu biết sâu sắc về pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng và ít nhiều phải có những kinh nghiệm nhất định Mặt khác, khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự có thể xác định ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất, hành vi, mức độ các quyền và nghĩa vụ dân sự mà họ thực hiện, còn để có thể bằng hành vi của mình tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự đòi hỏi ở khả năng đầy đủ, toàn diện, hoàn thiện Do vậy, thông thường cá nhân chỉ được coi là có năng lực hành vi tố tụng dân sự khi đã đủ mười tám tuổi trở lên, không bị mất năng lực hành vi dân sự (khoản 3, Điều 57 BLTTDS) Đối với người chưa đủ mười tám tuổi, người bị mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân

sự, trường hợp này người đại diện hợp pháp của họ là người thay mặt họ để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương

sự trước Toà án ( khoản 4, 5, 6 Điều 57 BLTTDS)

Tuy nhiên, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam cũng có quy định một số trường hợp ngoại lệ, như trường hợp người vợ từ đủ mười bảy tuổi nhưng chưa đủ mười tám tuổi trong vụ án xin ly hôn hoặc trong trường hợp đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao

động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình Đối với những trường hợp này, mặc dù người vợ từ đủ mười bảy tuổi nhưng chưa đủ mười tám tuổi hoặc người

từ đủ mười lăm tuổi nhưng chưa đủ mười tám tuổi vẫn được coi là có năng lực hành

vi tố tụng dân sự về việc ly hôn, việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan

hệ dân sự đó (khoản 6 Điều 57 BLTTDS)

Trang 19

1.3 Lược sử các quy định của pháp luật tố tụng dân

sự Việt Nam về đương sự trong vụ án dân sự

Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam được hình thành và phát triển ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời Qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, các quy định pháp luật của luật tố tụng đã có những bước phát triển đáng kể và không ngừng hoàn thiện để phù hợp tình hình đất nước qua từng thời kỳ Các quy

định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về đương sự trong vụ án dân sự cũng không ngừng được thay đổi, hoàn thiện Có thể xem xét quá trình hình thành và phát triển của các quy định về đương sự trong hệ thống pháp luật nước ta qua hai giai

đoạn sau:

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến 1989

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, ngay sau đó ngày 10/10/1945 Nhà nước ta ban hành Sắc lệnh 47/SL cho giữ tạm thời các luật lệ hiện hành của chế độ cũ (Sắc lệnh này cho phép

áp dụng nội dung pháp luật của chế độ cũ nhưng lại không đề cập đến việc cho phép

áp dụng pháp luật tố tụng) Ngoài ra, nhà nước ta còn ban hành hàng loạt các Sắc lệnh trong đó cho phép Toà án áp dụng thủ tục tố tụng để giải quyết tranh chấp dân

sự như: Sắc lệnh 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức các Toà án và các ngạch Thẩm phán; Sắc lệnh 51/SL ngày 17/04/1946 quy định thẩm quyền của các Toà án; Sắc lệnh 112/SL ngày 28/06/1946 bổ sung Sắc lệnh 51/SL; Sắc lệnh 130/SL ngày 19/07/1946 quy định thể thức thi hành án; Sắc lệnh 85/SL ngày 22/05/1950 cải cách

bộ máy tư pháp và luật tố tụng; Sắc lệnh 159/SL ngày 07/11/1950 quy định vấn đề ly hôn [16]

Nhìn chung trong giai đoạn 1945 đến 1954 trong điều kiện kháng chiến, các Sắc lệnh nêu trên chủ yếu quy định chung về thủ tục tố tụng dân sự mà không quy

định cụ thể về đương sự trong vụ án dân sự Sau khi kháng chiến thắng lợi, năm

1954 Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản tố tụng quy định về các vấn đề như: Tư cách đương sự trong vụ án dân sự; năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự; quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự

* Về tư cách đương sự trong vụ án dân sự

Nhìn chung, các văn bản pháp luật tố tụng trong thời kỳ này đều quy định

đương sự trong vụ án dân sự bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan

Trang 20

- Về nguyên đơn: Tại Công văn số 05/NCPL ngày 29/06/2966 của Toà án

nhân dân Tối cao về tư cách bị đơn có nêu: “Địa vị tố tụng của mỗi đương sự trong một vụ kiện phản ánh quan hệ giữa các đương sự với nhau trong một quan hệ pháp luật nhất định nào đó: Người có quyền lợi bị xâm phạm ra trước Toà án với tư cách

là nguyên đơn” Sau đó tại Công văn số 546/DS ngày 07/07/1967 đã nêu: “Thông thường khi Viện kiểm sát nhân dân khởi tố một vụ kiện về dân sự đòi bồi thường, bồi hoàn cho một cơ quan nhà nước hay một hợp tác xã thì Toà án cần đưa cơ quan nhà nước hay hợp tác xã vào đứng là nguyên đơn trong vụ kiện vì họ là đương sự chính trong vụ kiện” Ngoài ra tại Công văn số 125/NCPL ngày 12/07/1989 của Toà

án nhân dân Tối cao trả lời về tố tụng dân sự có hướng dẫn: “Đối với vụ kiện dân sự

đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà hai bên đều phải bồi thường cho nhau thì việc xác định tư cách đương sự cũng giống như đối với các vụ kiện khác là: Toà

án căn cứ vào việc bên nào khởi tố trước là nguyên đơn”[16]

Như vậy, chúng ta có thể thấy những văn bản nêu trên đã xác định điều kiện

để trở thành nguyên đơn trong vụ kiện dân sự là cá nhân, pháp nhân có quyền lợi bị xâm phạm, đã khởi kiện hoặc được Viện kiểm sát khởi tố

- Về bị đơn: Cũng tại Công văn số 05/NCPL ngày 29/06/1986 của Toà án

nhân dân Tối cao về tư cách bị đơn trong vụ kiện dân sự, đã khẳng định: “ người có nghĩa vụ hoặc phải chịu trách nhiệm tham gia vụ kiện ở vị trí bị đơn”, đồng thời Công văn này cũng xác định: “Cha mẹ là người phải chịu trách nhiệm dân sự về hành vi của con cái vị thành niên là bị đơn trong vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại do người vị thành niên gây lên Khi ấy người vị thành niên (không phải là đương sự) tham gia vụ kiện chỉ để khai về hành vi của mình đã gây thiệt hại cho người khác” Ngoài ra trường hợp một vị thành niên học việc ở một công xưởng gây thiệt hại cho người khác trong khi làm việc ở xưởng “khi ấy công xưởng là bị đơn” Tuy nhiên trong trường hợp vị thành niên có công ăn việc làm sống độc lập về kinh tế đối với cha mẹ và Toà án xét thấy người này có khả năng bồi thường thì người này phải tự mình bồi thường, trong trường hợp này người vị thành niên là bị đơn Trường hợp họ không có đủ tài sản để bồi thường, thì cha mẹ(hay người giám hộ) phải bù phần còn thiếu, trường hợp này cha mẹ hay(người giám hộ) của người chưa thành niên phải tham gia vụ kiện ở vị trí bị đơn cùng với người vị thành niên

Theo hướng dẫn tại Công văn số 96/NCPL ngày 08/02/1977 của Toà án nhân dân Tối cao thì: “Người chưa thành niên từ mười sáu đến mười tám tuổi đã gây thiệt

Trang 21

hại cho người khác phải chịu trách nhiêm về dân sự theo nguyên tắc chung Do đó, nếu họ đã có tiền lương, thu nhập trong hợp tác xã hoặc đã có tài sản riêng(được thừa kế, được tặng cho ) thì họ phải bồi thường bằng tài sản của họ Nếu họ không

có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải bồi thường hoặc bồi thường bổ sung Do đó, tuỳ từng trường hợp, cha mẹ hoặc người giám hộ tham gia tố tụng là đại diện bị đơn hoặc đồng bị đơn(nếu phải bồi thường hoặc bồi thường bổ sung)

Người chưa thành niên dưới mười sáu tuổi không có năng lực về tố tụng dân

sự cho nên trong trường hợp phải bênh vực những quyền lợi của họ, cha mẹ hoặc người giám hộ là người đại diện cho họ trong vụ kiện Nếu người chưa thành niên dưới 16 tuổi gây thiệt hại cho người khác thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình kể cả trường hợp người chưa thành niên đã có tài sản riêng Trong trường hợp này cha mẹ hoặc người giám hộ là bị đơn và nếu cần phải gọi người chưa thành niên để xét hỏi thì họ là “người gây thiệt hại” nhưng không phải là bị đơn và họ không có những quyền tố tụng của đương sự

Cách xác định tư cách bị đơn của người vị thành niên nêu trên đã được qui

định cụ thể tại Nghị quyết 01/NQ/HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao ngày 20/01/1988 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 Nghị quyết này đã quy định: “Người chưa thành niên dưới mười sáu tuổi gây thiệt hại cho người khác thì cha mẹ là bị đơn người chưa thành niên từ mười sáu đến dưới tám tuổi chịu trách nhiệm bồi thường bằng tài sản riêng của mình thì họ là bị đơn, nhưng cha mẹ phải được tham gia tố tụng với tư cách là đại diện hợp pháp của bị đơn Nếu tài sản của con không đủ để bồi thường thì cha mẹ là đồng

bị đơn, nếu con không có tài sản thì cha mẹ là bị đơn”[16]

- Về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Theo hướng tại Công văn

1111/NCPL ngày 13/07/1963 của Toà án nhân dân Tối cao về thủ tục xử chia tài sản trong ly hôn giữa vợ chồng còn ăn ở chung với bố mẹ chồng thì khi: “Xử chia tài sản giữa vợ chồng mà ngay từ sơ thẩm không mời bố mẹ chồng tham gia vụ kiện với tư cách là người dự sự là không đảm bảo quyền tố tụng của những người này và không

thể xét xử đúng đắn được ” Người dự sự ở đây được hiểu là người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan trong vụ án Mặt khác, tại Thông tư số 03/NCPL ngày 03/03/1966 của Toà án nhân dân Tối cao về trình tự giải quyết việc ly hôn có nêu:

“ nếu là tài sản chung của vợ, chồng đương sự và của cả người khác thì khi xử Toà

Trang 22

án phải mời những người khác này ra với tư cách là người có quyền lợi liên quan” Tiếp đó, Báo cáo tổng kết công tác năm 1967 của Toà Dân sự Toà án nhân dân Tối cao cũng đề cập: “Về thủ tục xét xử thì về loại việc ly hôn đối với một bên đi công tác xa là thuộc quyền của Toà án nhân dân tỉnh, thành và khi xử cần báo cho Viện kiểm sát nhân dân cử đại diện đến tham gia, mời gia đình của người đi công tác xa

đến dự phiên toà và đưa họ vào dự sự trong trường hợp người vợ có xin đòi bồi thường công sức ”[16]

* Về việc xác định năng lực hành vi tố tụng dân sự;

Theo quy định tại Công văn số 07/NCPL ngày 30/09/1966 của Toà án nhân dân Tối cao về thủ tục xét xử việc ly hôn đối với người mất trí thì: “Khi xét xử tại phiên toà, người mất trí sẽ do người đại diện thay mặt ” Ngoài ra, Báo cáo tổng kết công tác năm 1967 của ngành Toà án nhân dân có đề cập: “Theo một nguyên tắc thông thường về thủ tục tố tụng thì trẻ vị thành niên do không có năng lực hành vi, nên không thể tham gia vụ kiện với tư cách là nguyên đơn, hay bị đơn hay người dự sự ” Tại Thông tư số 39/NCPL ngày 21/01/1972 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn việc thụ lý, xếp và tạm xếp những việc kiện về hôn nhân và gia đình và tranh chấp

về dân sự có nêu: “Người vị thành niên không có năng lực hành vi Vì vậy, nếu quyền lợi của họ bị xâm phạm, người giám hộ có quyền đi kiện thay cho họ Cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã, đoàn thể nhân dân đi kiện phải có tư cách pháp nhân”

Sau đó, Công văn số 96/NCPL ngày 08/02/1977 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự có hướng dẫn khá cụ thể, chi tiết về năng lực hành vi của đương sự Theo Công văn này thì nguyên tắc chung có thể xác

định: Chỉ có người thành niên (từ đủ mười tám tuổi trở lên) mới có năng lực hành vi

về tố tụng dân sự, còn những người chưa thành niên (dưới mười tám tuổi) thì nói chung chưa có năng lực hành vi về tố tụng dân sự, do đó họ phải có người đại diện tham gia tố tụng Tuy nhiên, trong một số trường hợp, những người chưa thành niên

từ mười sáu đến mười tám tuổi cũng đã có năng lực hành vi hạn chế về tố tụng dân

sự Cụ thể:

- Đối với người chưa thành niên từ mười sáu đến mười tám tuổi đã vào hợp tác xã, hoặc đã lao động học nghề, sản xuất trong xí nghiệp, họ đã có nhu cầu riêng, thì có quyền là đương sự độc lập trong những vụ kiện có liên quan đến quan hệ lao

động của họ Nếu xét thấy cần thiết thì Toà án nhân dân mới triệu tập cha mẹ hoặc

Trang 23

người giám hộ của họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho đương sự chưa thành niên để giúp đỡ bênh vực quyền lợi của họ

- Với các việc khác, khi cần phải bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên

từ mười sáu đến mười tám tuổi, họ không có quyền tham gia tố tụng một cách độc lập mà phải có người đại diện tham gia tố tụng, trường hợp này họ được xác định là

đương sự

Người chưa thành niên, người mất trí là người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự Tuy nhiên, khi giải quyết các vụ án dân sự liên quan đến quyền lợi của những người này thì họ là đương sự, còn trong các vụ án mà họ là người gây ra thiệt hại thì họ không được coi là đương sự, mà người có trách nhiệm bồi thường mới

được gọi là đương sự [16]

* Về quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự

Các văn bản tố tụng trong giai đoạn này đã quy định đương sự có các quyền

tố tụng: Quyền khởi kiện “ Đương sự có quyền đưa đơn trực tiếp đến Toà án, mặc

dù việc bất hoà trong gia đình chưa được tổ hoà giải hoặc uỷ ban hành chính xã giải quyết Khi nhận đơn Toà án phải thụ lý để giải quyết hoặc trực tiếp điều tra, hoà giải hoặc giao lại cho uỷ ban hành chính xã cùng với tổ hoà giải tiến hành trước công tác hoà giải với sự theo dõi và hướng dẫn của Toà án” (Mục 3, phần III Thông tư số 03/NCPL ngày 3/3/1966 của Toà án nhân dân Tối cao về trình tự giải quyết việc ly hôn); Quyền thay đổi yêu cầu khởi kiện “Đương sự cũng có quyền thay đổi trước khi Toà án quyết định” (Thông tư số 614/DS ngày 24/04/1963 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số thủ tục cho Toà án địa phương) hay “Nếu đương sự tự nguyện giảm hoặc không đòi những quyền lợi của mình (như đòi nợ, bồi thường thiệt hại ) mà việc đó không có xâm phạm lợi ích chung thì Toà án nhân dân phải tôn trọng ý kiến của họ” (Mục A phần thứ nhất Công văn số 96/NCPL ngày 08/2/1977 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự); Quyền hoà giải được hướng dẫn trong các văn bản như: Công văn số 439/NCPL ngày 10/4/1964 của Toà án nhân dân Tối cao thể thức chấp nhận sự thoả thuận của

đôi bên đương sự khi việc đã đến cấp phúc thẩm có hướng dẫn: “ Nếu đến giai

đoạn xét xử phúc thẩm các bên đương sự tỏ ý muốn thoả thuận với nhau để chấm dứt vụ tranh chấp bằng hoà giải, thì toà phúc thẩm sẽ cho họ trình bày nội dung việc thoả thuận trước Toà án Sau khi đã nghe lời trình bày của các đương sự và lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, nếu thấy việc thoả thuận phù hợp với pháp luật,

Trang 24

chính sách, thì toà phúc thẩm sẽ ra bản án phúc thẩm, chấp nhận sự thoả thuận đó và chấm dứt vụ kiện ”

Nếu xét thấy việc thoả thuận của đương sự không phù hợp với pháp luật, chính sách, thì toà phúc thẩm không chấp nhận sự thoả thuận đó và tiến hành xét việc kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục chung ” Thông tư số 03/NCPL ngày 3/3/1966 của Toà án nhân dân Tối cao về trình tự giải quyết việc ly hôn hướng dẫn:

“Để chia đồ vật cho bên nào (chia tài sản chung) Toà án căn cứ vào sự thoả thuận của đôi bên” và “Trường hợp bản án sơ thẩm xử cho ly hôn, nhưng khi việc đến Toà

án cấp trên mà người bị kiện lại xin thuận tình ly hôn thì Toà án phúc thẩm sẽ công nhận bằng bản án phúc thẩm sự tự nguyện ly hôn nếu xét họ thực sự tự nguyện có căn cứ và sự thoả thuận là hợp lý, hợp tình về các vấn đề phụ thuộc ”; Quyền yêu cầu Toà án nhân dân làm sáng sỏ sự thật “ Bên bị cũng như bên nguyên có quyền yêu cầu Toà án thi hành mọi phương sách cần thiết để chứng tỏ sự thật ” (Điều 20 Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 ấn định thẩm quyền của Toà án và sự phân công giữa các nhân viên trong toà); Quyền cáo tỵ của đương sự “Đương sự có quyền yêu cầu Toà án thay đổi Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân, nếu thấy người này có quan hệ với vụ án có thể làm cho việc xét xử vụ án không được công bằng Việc thay đổi này

do Chánh án Toà án nhân dân xét và quyết định ” (Điều 14 Luật Tổ chức Toà án nhân dân ngày 14/7/1960); Quyền yêu cầu Toà án áp dụng những biện pháp khẩn cấp tạm thời được hướng dẫn trong các văn bản: Thông tư số 39/NCPL ngày 21/1/1972 của Toà án nhân dân Tối cao: “ Nếu xét thấy cần thiết, sau khi đã được

sự thoả thuận của Chánh án Toà án nhân dân, Thẩm phán phụ trách điều tra, hoà giải vụ kiện, có thể ra quyết định về những biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo đảm những quyền lợi chính đáng của đương sự Tuỳ trường hợp, thẩm phán có thể áp dụng những biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay khi có yêu cầu của một bên đương sự hoặc có thể triệu tập hai bên để nghe lời những khai của họ rồi mới quyết định ”, Thông tư số 03/NCPL ngày 3/3/1966 của Toà án nhân dân tối cao: “ Toà án chỉ áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời khi đương sự có yêu cầu và khi Toà án xét là cần thiết, trừ đối với vấn đề chịu phí tổn nuôi con thì Toà án được quyết định khi xét thấy cần thiết ”; Quyền xin hoãn phiên toà nếu có lý do chính

đáng được hướng dẫn tại Công văn số 669/HĐTP ngày 8/4/1958 của Bộ Tư pháp:

“ nếu bị can hay đương sự xin hoãn phiên toà để cung cấp thêm bằng chứng hoặc yêu cầu Toà án điều tra thêm thì lời yêu cầu của họ cũng cần xem xét ”; Quyền

Trang 25

kháng cáo được quy định tại Điều 6, Luật T chức Toà án nhân dân ngày 14/7/1960:

“Toà án nhân dân thực hành chế độ hai cấp xét xử Đương sự có quyền chống bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân xử sơ thẩm lên Toà án nhân dân trên một cấp ”, Điều 1 Sắc lệnh số 112/SL ngày 28/6/1946 quy định: Trong những trường hợp mà theo pháp luật hiện hành các người đương sự có quyền kháng cáo ”

Để khái quát, tập hợp và chi tiết các quyền của đương sự quy định trong các văn bản nêu trên, tại Thông tư số 96/NCPL ngày 8/2/1977 của Toà án nhân dân Tối cao đã hướng dẫn: “Nguyên đơn, bị đơn, người dự sự có những quyền sau đây:

- Được Toà án nhân dân cho xem hoặc sao chép đơn từ, tài liệu của các

đương sự khác, nhân chứng, giám định viên nếu nhận thấy cần thiết cho đương sự chuẩn bị chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ những quyền lợi của họ và việc đó không gây khó khăn cho việc điều tra, hoà giải

- Được đề xuất yêu cầu, bổ sung yêu cầu hoặc thay đổi yêu cầu của việc kiện

- Được đề xuất chứng cứ và những yêu cầu về điều tra hoặc về biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được Toà án nhân dân giải quyết

- Được xin cáo tỵ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân hoặc người phiên dịch

- Được đề xuất những câu hỏi trong khi Toà án nhân dân thẩm vấn tại phiên toà và được tham gia cuộc tranh luận

- Được rút đơn kiện hoặc hoà giải với nhau

- Được kháng cáo, kháng án theo những quy định của pháp luật, những người

dự sự chỉ được kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền lợi của họ

Nếu một bên đương sự chết thì người thừa kế của họ có quyền yêu cầu tham gia tố tụng thay thế cho người đã chết, hoặc Toà án nhân dân có quyền tự mình quyết định người thừa kế tham gia tố tụng thay thế cho người đã chết, trừ trường hợp người được gọi thay thế đó không nhận thừa kế”

Như vậy, có thể thấy các văn bản pháp luật tố tụng trong giai đoạn này tuy còn rất tản mạn, thiếu tính tập trung, cụ thể, nhưng cũng đã bước đầu quy định được khá đầy đủ các quyền tố tụng cơ bản của đương sự trong vụ án dân sự

Bên cạnh quy định quyền tố tụng của đương sự, các văn bản tố tụng trong giai đoạn này còn xác định nghĩa vụ pháp lý của đương sự Cụ thể:

- Nghĩa vụ chứng minh: Trong Đề án năm 1964 của Toà án nhân dân Tối cao

về chuyển hướng tổ chức Toà án địa phương có nêu: “ Trong các vụ kiện về dân sự, các bên đương sự có trách nhiệm chứng minh các yêu cầu của mình và đề xuất các

Trang 26

chứng cứ Nếu các chứng cứ mà các đương sự xuất trình chưa đầy đủ thì Toà án yêu cầu họ xuất trình các chứng cứ bổ sung ” Tại Thông tư số 06/TATC ngày 25/12/1974 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn việc điều tra trong tố tụng dân

sự đã nêu: “ Các đương sự(nguyên đơn, bị đơn và người dự sự) có quyền đề xuất những yêu cầu và có nhiệm vụ trình bày những chứng cứ, lý lẽ để chứng minh những yêu cầu và bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của mình” Hay tại Công văn số 96/NCPL của Toà án nhân dân Tối cao ngày 8/2/1977 hướng dẫn trình tự xét xử sơ thẩm có đề cập: “Nếu các đương sự đã có quyền thì họ cũng có những nghĩa vụ trong tố tụng dân sự Nghĩa vụ bao trùm của họ là phải sử dụng những quyền về tố tụng một cách thiện ý, do đó, họ có những nhiệm vụ cụ thể là: Đề xuất chứng cứ, khai báo đúng sự thật mà không được mua chuộc nhân chứng hoặc dùng tài liệu giả mạo trong tố tụng, có mặt tại Toà án khi được triệu tập và chấp hành nghiêm chỉnh bản án Nguyên đơn đã được triệu tập mà không đến Toà án, nếu không có lý do chính đáng, thì vụ kiện của họ sẽ bị tạm xếp Bị đơn vắng mặt không có lý do chính

đáng có thể bị xử vắng mặt Người sử dụng tài liệu giả mạo có thể bị truy tố về hình

sự Người đi kiện mà bị bác yêu cầu thì phải chịu án phí ”

Như vậy, chúng ta có thể thấy các quy định của pháp luật tố tụng nói chung, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về đương sự trong vụ án dân sự nói riêng trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 có rất ít các quy định về tố tụng là do hoàn cảnh kháng chiến, vì vậy Toà án hầu như đã đình chỉ giải quyết các “việc hộ và thương sự” Từ năm 1955 đến năm 1960 đã có khá nhiều văn bản tố tụng dân sự

được ban hành, nhưng chủ yếu là thủ tục giải quyết việc ly hôn Có thể thấy đặc

điểm nổi bật nhất trong giai đoạn từ năm 1945 đến 1989 là mặc dù không có những văn bản luật về tố tụng dân sự, nhưng căn cứ vào các quy định của Hiến pháp, Luật

tổ chức Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân Tối cao đã chủ

động cùng với các cơ quan hữu quan ban hành nhiều thông tư, chỉ thị, công văn v.v hướng dẫn các thủ tục về tố tụng dân sự, trong đó có đề cập đến những vấn đề

về đương sự trong vụ án dân sự (quy định về việc xác định tư cách đương sự, năng lực hành vi tố tụng dân sự, quyền và nghĩa vụ của đương sự) [16]

1.3.2 Giai đoạn từ 1989 đến nay

Kế thừa và phát triển các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự của giai

đoạn trước năm 1989, từ năm 1989 Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật tố tụng dân sự như: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ( 29/11/1989)

Trang 27

[8]; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (6/3/1994) [9]; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (11/4/1996) [10] v.v Đây là những văn bản pháp luật quan trọng quy định về tố tụng dân sự, trong đó có các quy định về đương

sự trong vụ án dân sự

* Về tư cách đương sự

Tại Điều 19 PLTTGQCVADS, Điều 20 PLTTGQCVAKT có quy định:

đương sự là công dân, cá nhân, pháp nhân tham gia tố tụng với tư cách là nguyên

đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Còn tại Điều 19 PLTTGQCTCLĐ quy định: Người lao động, tập thể lao động, người sử dụng lao

động tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trong trường hợp Viện kiểm sát khởi tố hoặc tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì người có quyền lợi được bảo vệ có thể tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở khởi kiện thì có quyền và nghĩa vụ tố tụng như nguyên đơn, tuy nhiên Ban chấp hành công

đoàn cơ sở của tập thể lao động có lợi ích cần được bảo vệ tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn

* Về năng lực hành vi tố tụng dân sự

Trong PLTTGQCVADS và PLTTGQCTCLĐ đều xác định: Người có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ, có thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên Đối với người chưa thành niên thì phải có người đại diện thay mặt tham gia tố tụng Người

có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần mà không thể tham gia tố tụng được thì phải có người đại diện của họ tham gia tố tụng Trong trường hợp không có người

đại diện thì Toà án phải cử một người thân thích hoặc một thành viên của tổ chức xã hội làm người đại diện cho họ (Điều 21) Đối với người dưới mười tám tuổi, theo quy định tại Điều 21 PLTTGQVADS thì người chưa thành niên từ đủ mười sáu tuổi

đến dưới mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng được tự mình tham gia

tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động Tuy nhiên, sau đó khi tuổi lao động thay đổi theo qui định của Bộ Luật Lao động, Điều 21 PLTTGQCTCLĐ đã quy định: người lao động từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi có thể tự mình tham gia tố tụng

Trang 28

* Về quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự

Quyền và nghĩa vụ cơ bản của đương sự trong giai đoạn này đã được ghi nhận khá đầy đủ trong các Điều 20 PLTTGQCVADS, Điều 21 PLTTGQCVAKT, Điều 20 PLTTGQCTCLĐ Theo đó, đương sự có các quyền như: Nguyên đơn có quyền thay

đổi yêu cầu của mình, bị đơn có quyền phản đối yêu cầu của nguyên đơn, đồng thời

có quyền đề đạt yêu cầu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn; Đương sự có quyền đưa ra chứng cứ, được biết về các chứng cứ mà các đương sự khác đưa ra, yêu cầu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, tham gia phiên toà, yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng, hoà giải với nhau, tranh luận tại phiên toà, kháng cáo bản án, quyết định của Toà án, yêu cầu người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm Bên cạnh các quyền tố tụng nêu trên thì đương sự phải có các nghĩa vụ như: Cung cấp đầy đủ và kịp thời các chứng cứ cần thiết liên quan đến yêu cầu của mình, phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà, thì hành các quyết định của Toà án

Các quy định về đương sự trong các Pháp lệnh trên đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các cấp Toà án giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao

động Tuy nhiên, có thể thấy các quy định trong các văn bản này về đương sự vẫn còn rất tản mạn, thiếu tính tập trung, nhiều quy định bị lặp lại hoặc có sự chồng chéo, mâu thuẫn Ngoài ra, qua quá trình áp dụng vào thực tiễn, nhiều quy định của các Pháp lệnh trên đã không còn phù hợp

Để cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng về cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân đã được khẳng định trong Nghị quyết của

Đảng, đặc biệt là Nghị quyết 08 - NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ chính trị

“Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới [1], đồng thời cụ

thể hoá các quy định trong Hiến pháp 1992(đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết

51 ngày 25 tháng 12 năm 2001)[7], ngày 15 tháng 5 năm 2004 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã thông qua BLTTDS tại kỳ họp thứ Năm [3] Bộ Luật này đã được công bố vào ngày 24 tháng 6 năm 2004 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2005 BLTTDS là sự kế thừa và pháp điển hoá các quy

định của pháp luật tố tụng dân sự trước đây Về vấn đề đương sự trong vụ án dân sự, BLTTDS đã dành toàn bộ Mục 1 Chương VI quy định các vấn đề chung nhất về đương

sự như: Thành phần và tư cách đương sự trong vụ án dân sự (Điều 56); Năng lực pháp

Trang 29

luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự (Điều 57); Quyền, nghĩa vụ chung của đương sự (Điều 58); Quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn (Điều 59); Quyền, nghĩa vụ của bị đơn (Điều 60); Quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Điều 61); Thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng (Điều 62)

Phải khẳng định rằng, BLTTDS đã làm thay đổi cơ bản cả về lượng và chất các quy định về tố tụng dân sự nói chung và quy định về đương sự trong vụ án dân

sự nói riêng, tạo nền tảng pháp lý quan trọng để các Toà án giải quyết vụ án dân sự nhanh chóng, khách quan, đúng pháp luật

1.4 Một số quy định của pháp luật nước ngoài về

đương sự

Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng nảy sinh trên cơ sở hạ tầng xã hội Xuất phát từ đặc trưng này mà mỗi quốc gia khác nhau có hệ thống pháp luật nói chung, các qui định cụ thể trong từng ngành luật nói riêng khác nhau Các quy định về đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự của các nước trên thế giới theo đó cũng có những điểm khác biệt nhất định Việc tìm hiểu chế định này trong pháp luật tố tụng dân sự của một số nước là điều cần thiết để chúng ta tham khảo, góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

1.4.1 Qui định về đương sự trong BLTTDS Trung Quốc

Bộ luật được Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Khoá 7 thông qua tại kỳ họp thứ Tư ngày 9/4/1991 Nhìn chung, BLTTDS Trung Quốc[5] có rất nhiều điểm tương đồng so với BLTTDS Việt Nam Song bên cạnh đó vẫn có những quy định khác biệt xuất phát từ sự khác nhau về nền tảng kinh tế, từ phong tục tập quán giữa Trung Quốc và Việt Nam

Điều 49 BLTTDS Trung Quốc qui định: “Công dân, pháp nhân và các tổ chức khác có thể là đương sự của tố tụng dân sự Pháp nhân do người đại diện theo quy

định của luật pháp tiến hành tố tụng Những tổ chức khác do người phụ trách chính của tổ chức đó tiến hành tố tụng” Quy định này cho thấy sự thừa nhận tư cách

đương sự của nhà nước Trung Quốc đối với cá nhân, pháp nhân và các tổ chức khác

Tương đồng với pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, BLTTDS Trung Quốc đã quy định cho đương sự có các quyền pháp lý nhất định như: “Đương sự có quyền uỷ nhiệm người đại diện, nêu yêu cầu hồi tị, thu nhập, cung cấp chứng cứ, tiến hành đối

đáp, yêu cầu hoà giải, khiếu nại, xin được thi hành án” (Điều 50); Quyền tự hoà giải

“Đương sự hai bên có thể tự mình tiến hành hoà giải” (Điều 51); “Nguyên cáo có

Trang 30

thể từ bỏ, hoặc thay đổi thỉnh cầu tố tụng, bị cáo có thể chấp nhận hoặc bác bỏ lời thỉnh cầu tố tụng, có quyền đưa ra phản tố” (Điều 52)

Ngoài ra theo pháp luật Trung Quốc, đương sự còn có các quyền đã được quy

định thành những nguyên tắc chỉ đạo Điều 8 BLTTDS Trung Quốc ghi nhận: “Các

đương sự có quyền tố tụng bình đẳng Toà án nhân dân xét xử các vụ án dân sự thực hiện quyền tố tụng đối xử với các đương sự phải hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật” Để tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình: “Khi Toà án nhân dân xét xử các vụ án dân sự, đương sự có quyền biện luận” (Điều 12) Pháp luật Việt Nam quy

định cho đương sự có quyền tự định đoạt thì trong BLTTDS Trung Quốc, Điều 13 cũng đã nêu: “Đương sự có quyền xử lý quyền dân sự và quyền tố tụng của mình trong phạm vi quy định của pháp luật”

Những quyền tố tụng trên đây có phần giống với quy định của pháp luật tố tung dân sự Việt Nam Tuy nhiên, khi quy định về quyền uỷ nhiệm thay mặt mình tham gia tố tụng của đương sự, Điều 58 nêu rõ: “Những đương sự, người đại diện theo luật định có thể uỷ nhiệm một đến hai người làm đại diện tố tụng” BLTTDS Trung Quốc còn đề cập rất chi tiết đến quyền được yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo toàn tài sản, biện pháp khẩn cấp tạm thời Theo đó đương sự, thậm chí cả người chưa có tư cách tố tụng do vụ án dân sự chưa được khởi tố, được làm đơn xin Toà án ra tài định

áp dụng những biện pháp đó Nhưng qua các Điều 93, 96, 98 pháp luật đã ràng buộc trách nhiệm của người yêu cầu là phải có tài sản bảo đảm và bồi thường những tổn thất nếu gây ra thiệt hại cho người bị áp dụng Về quyền tự định đoạt được biểu hiện

cụ thể bằng quyền rút đơn khởi kiện, pháp luật Trung Quốc nêu: “Trước khi tuyên án, nguyên đơn rút đơn kiện, có cho phép rút hay không do Toà án nhân dân tài định Trường hợp Toà án nhân dân tài định không cho rút đơn, nguyên đơn có giấy gọi những không có lý do chính đáng mà không ra toà, có thể xử vắng mặt”

Theo BLTTDS Trung Quốc, bên cạnh các quyền trên, đương sự còn có những nghĩa vụ pháp lý nhất định Điều 64 đã nêu rõ: “Đương sự có trách nhiệm đưa ra chứng cứ về những chủ trương chủ mình nêu ra” Đồng thời, đương sự có nghĩa vụ:

có mặt theo giấy triệu tập, tuân thủ kỷ luật phiên toà, thi hành bản án, quyết định đã

có hiệu lực pháp luật

1.4.2 Qui định về đương sự trong BLTTDS nước Cộng hoà Pháp

Bộ luật được chia làm 4 quyển với 1057 điều, ban hành đầu năm 1806 và liên tục được sửa đổi bổ sung nhiều lần cho tới nay

Trang 31

Theo BLTTDS của Cộng hoà Pháp[4], đương sự cũng bao gồm: nguyên đơn,

bị đơn, người thứ ba tham gia tố tụng với tính chất là can thiệp dự sự Điều 323 quy

định trường hợp nhiều người cùng đứng đơn kiện hoặc cùng bị kiện được gọi là nhiều bên đương sự Điều 325 ghi nhận: Can thiệp dự sự chỉ được chấp nhận khi có

sự liên quan mật thiết đến các yêu cầu của đương sự

Trong phần quy định về các nguyên tắc của tố tụng, đương sự có quyền và nghĩa vụ như: quyền khởi kiện, rút đơn khởi kiện (Điều 1), quyền được biết chứng

cứ do bên đương sự kia cung cấp (Điều 15), quyền được bào chữa (Điều 18, 19, 20), quyền tham gia tranh luận (Điều 30), quyền biện hộ về nội dung (Điều 71, 72), phản kháng tố tụng (Điều 73, 74) ; về nghĩa vụ chứng minh thì: “Mỗi bên đương sự có nghĩa vụ chứng minh theo luật định các tình tiết cần thiết làm căn cứ cho các yêu cầu của mình” (Điều 9); nghĩa vụ tôn trọng Toà án (Điều 24) và các nghĩa vụ khác

Để bảo đảm nghĩa vụ xuất trình chứng cứ được thực hiện, tạo điều kiện cho Toà án giải quyết vụ án thuận lợi, Điều 11 đã quy định: “Các bên đương sự có nghĩa vụ giúp thẩm phán thực hiện các biện pháp thẩm cứu Nếu một bên đương sự đang nắm giữ một yếu tố cấu thành chứng cứ, thì theo yêu cầu của bên kia, thẩm phán có thể

ra lệnh cho họ cung cấp yếu tố cấu thành chứng cứ đó, trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng biện pháp phạt tiền cưỡng chế”

Nhìn chung, BLTTDS của Cộng hoà Pháp đã quy định về vấn đề đương sự khá cụ thể, chi tiết và có những điểm tương đồng, cả những điểm khác biệt với pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Điều 127 BLTTDS của Cộng hoà Pháp ghi nhận:

“Trong suốt quá trình tố tụng các bên có thể tự hoà giải với nhau theo sáng kiến của Thẩm phán” Theo đó, sự thoả thuận của đương sự sẽ được ghi nhận trong một biên bản hoà giải và biên bản này có hiệu lực thi hành (Điều 131) Đương sự cũng có quyền yêu cầu thay đổi thẩm phán (trên cơ sở quy định tại các Điều 342, 343, 344

và phải tuân thủ những điều kiện tại Điều 341) Để ràng buộc trách nhiệm của

đương sự, Điều 353 cho phép Toà án áp dụng hình thức phạt tiền nếu yêu cầu đó không được chấp nhận Đương sự có quyền được đại diện và trợ giúp pháp lý tại Toà

án (Thiên XII) và họ có thể nhờ cả thể nhân hoặc pháp nhân làm đại diện Điều 431

Bộ luật cũng khẳng định: Đại diện bao gồm cả trợ giúp pháp lý Riêng bị đơn, do

địa vị pháp lý của mình còn có quyền được nhờ người bảo lãnh (Điều 109)

Đương sự được quyền kháng cáo phúc thẩm, kháng cáo giám đốc, tái thẩm và quyền kháng án của người bị xử vắng mặt - buộc Toà án đã xử phải xem xét lại

Trang 32

những điểm đã xét xử vắng mặt (trên cơ sở quy định tại các điều 546, 571, 593,

594, 609 )

Ngoài ra trong pháp luật tố tụng dân sự của Cộng hoà Pháp đã có những quy

định thể hiện sự bình đẳng giữa các đương sự Theo Điều 472, Toà án vẫn tiến hành xét xử và quyết định về nội dung nếu vắng mặt bị đơn, đồng thời thẩm phán “cứ xét

xử và quyết định coi như có mặt cả hai bên” theo đề nghị của bị đơn nếu không có

lý do chính đáng mà nguyên đơn không ra trước toà (Điều 468)

1.4.3 Qui định về đương sự trong BLTTDS Liên bang Nga

Những người tham gia tố tụng bao gồm các bên (nguyên đơn, bị đơn), người thứ ba (người có quyền, nghĩa vụ liên quan), kiểm sát viên, những người yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của người khác hoặc những người tham gia tố tụng để phát biểu kết luận về những tình tiết được quy định tại Điều 4,

46 và 47 Bộ luật này, những người khởi kiện và những người khác trong những tranh chấp được giải quyết theo thủ tục đặc biệt và trong những tranh chấp phát sinh từ quan hệ công pháp (Điều 34)

Những người tham gia tố tụng có quyền tiếp xúc với hồ sơ vụ án, ghi chép hoặc sao chụp tài liệu, đưa ra đề nghị loại trừ việc tham gia tố tụng, xuất trình chứng

cứ và tham gia nghiên cứu chứng cứ, đặt ra câu hỏi cho nhà chuyên môn, giám định viên, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác, đưa ra yêu cầu bao gồm cả yêu cầu cung cấp chứng cứ, đưa ra lời giải thích bằng lời nói và bằng văn bản, phát biểu lập luận của mình về mọi vấn đề trong quá trình xét xử, phản đối yêu cầu và lập luận của những người tham gia tố tụng khác, khiếu nại phán quyết của Toà án và sử dụng những quyền tố tụng khác do pháp luật tố tụng quy định Những người tham gia tố tụng phải sử dụng quyền tố tụng của mình một cách thiện chí

Những người tham gia tố tụng có nghĩa vụ tố tụng do Bộ luật này và Luật liên bang quy định Trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ tố tụng thì phải chịu hậu quả pháp lý do pháp luật tố tụng dân sự quy định (Điều 35)

Về năng lực pháp luật tố tụng theo pháp luật của Liên bang Nga: năng lực pháp luật tố tụng dân sự của mọi công dân và tổ chức là như nhau trong việc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của mình (Điều 36)

Về năng lực hành vi Điều 37 – BLTTDS Liên bang Nga quy định: Mọi tổ chức và công dân đến 18 tuổi có năng lực hành vi tố tụng dân sự như nhau Người chưa thành niên có thể tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự ở Toà án

Trang 33

nếu đã kết hôn hoặc được công nhận có năng lực hành vi đầy đủ Việc bảo vệ quyền,

tự do và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên từ mười bốn đến mười tám tuổi, của người bị hạn chế năng lực hành vi do đại diện hợp pháp của những người đó thực hiện Trong những trường hợp đó, Toà án phải triệu tập người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi tham gia tố tụng Trong trường hợp luật liên bang quy định, đối với những tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự, hôn nhân, lao động, công pháp và những quan hệ pháp luật khác, người chưa thành niên từ mười bốn đến mười tám tuổi có thể tự mình thực hiện việc bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của mình tại Toà án Trong những trường hợp này, Toà án có quyền triệu tập người

đại diện hợp pháp của người chưa thành niên tham gia tố tụng Việc bảo vệ quyền,

tự do và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên chưa đủ mười bốn tuổi cũng như của người không có năng lực hành vi do những người đại diện hợp pháp thực hiện Những người đại diện hợp pháp bao gồm cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, người giám hộ, người đỡ đầu hoặc người khác do luật Liên bang quy định

Về quyền và nghĩa vụ của đương sự BLTTDS Liên bang Nga quy định: các bên

có quyền và nghĩa vụ tố tụng như nhau (Điều 38) Nguyên đơn có quyền thay đổi căn cứ hoặc đối tượng khởi kiện, tăng hoặc giảm mức yêu cầu hoặc rút đơn khởi kiện; bị đơn có quyền thừa nhận vụ kiện, các bên có thể kết thúc vụ án bằng việc hoà giải Toà án không công nhận việc rút đơn khởi kiện, việc bị đơn thừa nhận vụ kiện hoặc việc hoà giải của các bên, nếu điều đó là trái pháp luật hoặc xâm phạm

đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Trong trường hợp thay đổi căn cứ hoặc đối tượng khởi kiện, tăng hoặc giảm mức yêu cầu, thời hạn giải quyết vụ án đ-

ược quy định trong Bộ luật này bắt đầu tính từ ngày thực hiện những hành vi tố tụng

đó (Điều 39) Người có quyền, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có thể tham gia tố tụng trước khi Toà án cấp sơ thẩm ra phán quyết Người có quyền, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền và nghĩa vụ tố tụng như nguyên đơn Toà án

ra quyết định về việc công nhận hoặc từ chối công nhận tư cách của người có quyền, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Đối với quyết định này có thể khiếu nại riêng Trong trường hợp người có quyền, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập tham gia tố tụng, việc giải quyết vụ án được bắt đầu lại từ đầu (Điều 42)

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập có thể tham gia

tố tụng ở bên nguyên đơn hoặc phía bị đơn trước khi Toà án cấp sơ thẩm ra phán quyết, nếu phán quyết của Toà án ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của người có

Trang 34

quyền, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập trong mối quan hệ với một trong hai bên Người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập có thể tham gia tố tụng theo yêu cầu Toà án hoặc của những người tham gia tố tụng khác Người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập có quyền và nghĩa vụ

tố tụng như các bên, trừ quyền thay đổi căn cứ hoặc đối tượng khởi kiện, quyền tăng hay giảm mức yêu cầu, quyền rút đơn khởi kiện, quyền thừa nhận vụ kiện, quyền hoà giải, quyền khởi kiện ngược lại và quyền yêu cầu ra quyết định cưỡng chế thi hành án Trong trường hợp người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu

độc lập tham gia tố tụng, việc giải quyết vụ án được bắt đầu lại từ đầu (Điều 43)

Về việc kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng, BLTTDS Liên bang Nga quy định: trong trường hợp một bên không thể tham gia tố tụng (công dân bị chết, thay đổi pháp nhân do giải thể, chấm dứt , chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển giao nghĩa

vụ, và những trường hợp thay thế khác), Toà án cho phép bên đó được thay thế bằng người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự Việc thay thế có thể được tiến hành ở bất cứ giai đoạn nào của tố tụng dân sự Những hành vi tố tụng được thực hiện trước khi có người thay thế nếu có hiệu lực bắt buộc đối với người được thay thế thì cũng

có hiệu lực bắt buộc đối với người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng (Điều 44)

Trang 35

Chương 2 Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong

pháp Luật Tố tụng dân sự hiện hành 2.1 Quyền, nghĩa vụ chung của đương sự

Đương sự là một chủ thể không thể thiếu trong quá trình Toà án giải quyết vụ

án dân sự, không có đương sự thì cũng không có vụ án dân sự Mặt khác, đương sự cũng là chủ thể trong các quan hệ pháp luật nội dung mà Toà án đang giải quyết trong vụ án

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự để đảm bảo cho các đương sự có điều kiện thuận lợi để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án, đồng thời bảo đảm việc giải quyết vụ án dân sự nhanh chóng, kịp thời và đúng đắn Pháp luật

tố tụng dân sự hiện hành đã quy định khá cụ thể, chi tiết về quyền, nghĩa vụ chung của đương sự

Về nguyên tắc, để bảo đảm việc giải quyết vụ án dân sự được khách quan,

đúng pháp luật thì các đương sự phải bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự Mặt khác, Toà án với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng và có trách nhiệm tạo điều kiện để cho các đương sự thực hiện được đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình Khi đương sự có điều kiện thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ tố tụng cũng chính là lúc họ có điều kiện nhất trong việc bảo vệ các quyền và nghĩa vụ về mặt nội dung Điều 8 BLTTDS quy định về nguyên tắc bình

đẳng về quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự : “Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình” Nguyên tắc này chính là sự cụ thể hoá trong pháp luật tố tụng dân sự nguyên tắc “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” (Điều 52 - Hiến pháp 1992)

Cụ thể hoá nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 58 BLTTDS quy định: “Các đương sự có quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng”

Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành đã quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ chung của đương sự trong các lĩnh vực, các giai đoạn tố tụng khác nhau như: Sử dụng các biện pháp pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Toà án; Tự định

đoạt quyền, lợi ích hợp pháp trước Toà án; Thực hiện các yêu cầu của Toà án; Khiếu

Trang 36

nại tố cáo; Thi hành bản án, quyết định Cụ thể theo quy định tại khoản 2 Điều 58 BLTTDS đương sự có những quyền, nghĩa vụ tố tụng sau đây:

2.1.1 Các quyền thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự

- Đề nghị Toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, để giải quyết nhu cầu cấp bách của

đương sự, để bảo vệ bằng chứng hoặc bảo đảm việc thi hành án sau này, Toà án cần phải áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời Dù là biện pháp tạm thời nhưng việc áp dụng các biện pháp này bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.Chính vì lý

do đó, pháp luật tố tụng quy định rất chặt chẽ trình tự, thủ tục và điều kiện áp dụng

Yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng chính là để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự Do đó, các chủ thể có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng chính là chủ thể có quyền yêu cầu Toà án giải quyết vụ

án dân sự Về nguyên tắc, Toà án chỉ được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi

có đơn yêu cầu của đương sự và người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Toà án cũng có quyền tự mình áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy

định tại các khoản 1,2,3,4,5 Điều 102 BLTTDS

Đương sự có thể yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay trong quá trình Toà án giải quyết vụ án dân sự, đồng thời trong trường hợp cấp bách cần phải áp dụng sớm biện pháp khẩn cấp tạm thời thì đương sự có thể yêu cầu Toà

án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng với việc nộp đơn khởi kiện đến Toà

án Đương sự là cá nhân yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải làm đơn, nếu đương sự yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là cơ quan, tổ chức khởi kiện thì cơ quan, tổ chức phải có văn bản gửi cho Toà án Trong đơn hay văn bản này đều phải nêu rõ: tên, địa chỉ của người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (hoặc tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích hợp pháp cần được bảo vệ); tóm tắt nội dung tranh chấp hoặc hành vi xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của

đương sự; lý do cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng và các yêu cầu cụ thể Người có đơn hay văn bản yêu cầu

áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đều phải đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là cần thiết và hợp pháp Đối với yêu cầu

áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của đương sự trong trường hợp bình thường khi

Trang 37

đã có việc thụ lý vụ án thì trong thời hạn ba ngày kể từ khi nhận được đơn, nếu người yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc ngay sau khi người đó

đưa ra chứng cứ là đã thực hiện biện pháp bảo đảm thì Toà án phải ra ngay quyết

định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Trong trường hợp đương sự yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên toà nếu Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của đương sự thì ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc ngay sau khi đương sự thực hiện xong biện pháp bảo đảm Trong trường hợp phải có thời gian để đương sự thực hiện biện pháp bảo đảm thì Toà án có thể tạm ngưng phiên toà để đương sự thực hiện Trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm nhận

được đơn yêu cầu, Thẩm phán phải xem xét và ra Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp do tình thế khẩn cấp cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra Nếu không chấp nhận yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết

- Tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, tham gia hoà giải

Nguyên tắc có tính chất chủ đạo trong tố tụng dân sự đối với tất cả các giai

đoạn tố tụng, có giá trị định hướng cho các hoạt động của các chủ thể tố tụng đó là nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự Theo quy định tại khoản

2 Điều 5 BLTTDS thì: “ Đương sự có quyền thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội”

Quyền tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; Quyền tham gia hoà giải là một sự thể hiện rõ nét của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong

tố tụng dân sự Về nguyên tắc, đương sự có quyền hoà giải (thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án) ở bất kỳ thời điểm hay giai đoạn nào của quá trình tố tụng Hoà giải giữa các đương sự có thể thực hiện dưới hai hình thức khác nhau trong hoạt

động tố tụng:

+ Hình thức thứ nhất: Đương sự tự hoà giải (đương sự tự thoả thuận) là việc

đương sự tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án trong quá trình tố tụng mà không có vai trò tác động của Toà án đối với sự thoả thuận này Trường hợp sau khi Toà án đã thụ lý vụ án mà các đương sự tự thoả thuận và không yêu cầu Toà án tiếp tục giải quyết vụ án, làm cho đối tượng cần giải quyết trong vụ án không còn nữa, Toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm đ khoản 1

Điều 192 BLTTDS

Trang 38

+ Hình thức thứ hai: Hoà giải do Toà án tiến hành - đây là việc Toà án giúp

đỡ đương sự thoả thuận tự nguyện với nhau về việc giải quyết vụ án không trái pháp luật và đạo đức xã hội Khác với tự thoả thuận (tự hoà giải), trong trường hợp này để

có sự thoả thuận của các đương sự phải có vai trò giúp đỡ của Toà án trong việc hướng dẫn, giải thích pháp luật kết hợp với việc giải quyết các vướng mắc trong tâm tư, tình cảm của các bên đương sự Trên cơ sở đó làm cho các bên đương sự hiểu rõ

về quyền, nghĩa vụ của mình, để họ có thể thương lượng, điều đình được với nhau về việc giải quyết vụ án Hoà giải trong trường hợp này là hoạt động do Toà án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Vì vậy, khi Toà án tiến hành hoà giải phải có mặt đầy đủ các đương sự, các đương sự có quyền tham gia hoà giải do Toà án tiến hành, bởi vì đương sự chính là người có quyền, nghĩa vụ cần giải quyết trong vụ án Họ chính là chủ thể của các quan hệ pháp luật nội dung tranh chấp nên họ có quyền hoà giải với nhau

- Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình

Đương sự là chủ thể của các quan hệ pháp luật nội dung Trong vụ án họ tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của chính mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách Trước hết, đương sự bằng việc tham gia tích cực của mình vào quá trình tố tụng để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhằm tự mình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Toà án Đồng thời, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để đương

sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Ngoài việc đương sự tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đương sự

có thể nhờ luật sư hoặc bất kỳ một người nào khác có năng lực hành vi tố tụng dân

sự bảo vệ quyền lợi cho họ và được Toà án chấp nhận Người này được gọi là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng song song cùng với đương sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chủ yếu bằng việc giúp đỡ các đương sự về nhận thức pháp luật để đương sự có thể thực hiện một cách tốt nhất các quyền và nghĩa vụ tố tụng, để đương sự có thể bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình

- Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Toà án theo quy định của BLTTDS

Đương sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà quyền, lợi ích của các chủ thể này phụ thuộc vào việc Toà án giải quyết vụ án Để bảo đảm cho Toà án giải quyết đúng

Trang 39

đắn vụ án, đồng thời bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án thì Toà án phải thực hiện hai cấp xét xử Đây chính là nguyên tắc của luật tố tụng dân sự (Điều 17 BLTTDS), theo đó bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Nếu bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại

Đương sự thực hiện quyền kháng cáo, tức là thể hiện sự phản đối để chống lại bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực để từ đó yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án đó, bởi vì họ cho rằng việc ra bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm là chưa bảo đảm đúng đắn, chưa bảo vệ được quyền và lợi ích của họ

Việc đương sự thực hiện quyền kháng cáo chính là điều kiện để Toà án cấp phúc thẩm tiến hành xét xử phúc thẩm, góp phần bảo đảm cho các đương sự có điều kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Khi thực hiện quyền kháng cáo

đương sự phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Đương sự

có quyền kháng cáo, nhưng mỗi đương sự chỉ có quyền kháng cáo về phần bản án, quyết định sơ thẩm hoặc bản án, quyết định sơ thẩm có liên quan đến quyền, nghĩa

vụ của các đương sự đó, còn những phần bản án, quyết định không có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình thì đương sự không có quyền kháng cáo Đương sự cũng chỉ kháng cáo trong thời hạn do pháp luật quy định Theo quy định tại Điều 245

BLTTDS thì “Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là mười lăm ngày kể từ ngày

tuyên án Đối với đương sự không có mặt tại phiên toà, thì thời hạn kháng cáo tính

từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết

Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết

vụ án dân sự của Toà án cấp sơ thẩm là bảy ngày, kể từ ngày người(đương sự) nhận

được quyết định

Như vậy, nếu kháng cáo ngoài thời hạn pháp luật quy định là kháng cáo quá hạn Về nguyên tắc, kháng cáo quá hạn là không hợp lệ, trừ trường hợp kháng cáo quá hạn của đương sự là do gặp trở ngại khách quan hoặc có lý do chính đáng khác

mà được Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận thì mới được coi là kháng cáo hợp lệ

Ngoài ra, đương sự kháng cáo còn phải thực hiện việc kháng cáo bằng một

đơn kháng cáo Đơn kháng cáo phải nêu được các nội dung chính theo quy định tại

Điều 244 BLTTDS, đồng thời đương sự thực hiện quyền kháng cáo cũng phải thực hiện nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật thì kháng cáo mà đương sự thực hiện mới được coi là hợp lệ

Trang 40

Bên cạnh việc đương sự có quyền kháng cáo đối với các bản án, quyết định của Toà án thì trong những trường hợp khác đương sự cũng có quyền phản đối, thể hiện sự không đồng ý của mình đối với các quyết định của Toà án bằng việc thực hiện quyền khiếu nại quyết định của Toà án được xem xét giải quyết không theo nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử là thủ tục đặc biệt Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 124

BLTTDS: “Đương sự có quyền khiếu nại với Chánh án Toà án đang giải quyết vụ án

về quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc việc trường hợp Thẩm phán không ra quyết định thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời Thời hạn khiếu nại, kiến nghị là ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc trả lời của Thẩm phán về việc không ra quyết định thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời”

Chánh án Toà án phải xem xét giải quyết khiếu nại về quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ hoặc không thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại Quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án là quyết định cuối cùng Tại phiên toà, việc giải quyết khiếu nại trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng xét xử Quyết định giải quyết của Hội đồng xét xử là quyết định cuối cùng (Điều 125 BLTTDS)

2.1.2 Các quyền, nghĩa vụ của đương sự trong hoạt động cung cấp chứng

cứ, chứng minh

- Cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong tố tụng dân sự có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc giải quyết các vụ việc dân sự, bởi vì chỉ khi Toà án có

đầy đủ các chứng cứ và các tình tiết của vụ việc đã được làm rõ, thì Toà án mới có thể giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự

Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án dân sự, hoạt động cung cấp chứng

cứ, chứng minh do nhiều chủ thể tiến hành, tuy vậy hoạt động này hầu hết do đương

sự tiến hành Sở dĩ như vậy vì bản thân đương sự là người trong quan hệ phát sinh tranh chấp, hơn ai hết họ là người hiểu rõ nhất nguyên nhân, điều kiện phát sinh tranh chấp, nội dung vụ án, họ cũng là người đưa ra yêu cầu do vậy họ phải cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minh làm rõ các tình tiết của vụ án

Trong tố tụng dân sự, việc cung cấp chứng cứ, chứng minh vừa là quyền, vừa

là nghĩa vụ của đương sự (khoản 1 Điều 5 BLTTDS) Tuy nhiên về vấn đề này hiện nay có những quan điểm rất khác nhau [17, Tr 209, 210]:

Ngày đăng: 20/10/2018, 17:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w