Hơn nữa, với kinh nghiệm thực tiễn ở các nước trên thế giới về các loại hình công ty, đặc biệt là xu thế cổ phần hoá ngày càng mạnh mẽ, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thống nhất hệ thống
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ THỊ TÚ HỒNG
CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP (2005) – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CHUYÊN NGÀNH : LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ : 60.38.50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VIẾT TÝ
HÀ NỘI - 2006
Trang 2Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ luật học Nguyễn Viết Tý, người thầy đã dành nhiều thời gian và công sức để hướng dẫn tôi hoàn thành Luận văn
Tôi xin trân trọng cám ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội đã trang bị cho tôi những kiến thức cần thiết trong suốt những năm đào tạo tại trường
Xin cám ơn gia đình, các đồng nghiệp, bạn bè và tất cả những người đã giúp đỡ tôi trong qúa trình hoàn thành Luận văn này
Trang 3CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
CP : Cổ phần CHXHCN : Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Nxb : Nhà xuất bản
Trang 4MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN
1.1 Quan niệm về công ty TNHH một thành viên theo Luật doanh nghiệp (2005) 1
1.2 Đặc điểm của công ty TNHH một thành viên theo Luật doanh nghiệp (2005) 11
1.4 Pháp luật về công ty TNHH một thành viên ở một số nước trên Thế
2.1.2 Thực trạng doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam 26 2.2 Những quy định của Luật doanh nghiệp (2005) về công ty TNHH một
2.2.1 Quy chế thành lập, đăng ký kinh doanh, tổ chức lại, giải thể công ty
2.2.2 Cơ cấu tổ chức quản lý công ty TNHH một thành viên 43
2.2.3 Chế độ tài chính và vốn của công ty TNHH một thành viên 46
2.2.4 Quyền và nghĩa vụ của công ty, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên 49
Trang 5CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM THỰC THI LUẬT DOANH NGHIỆP (2005) VỀ CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN. 55
3.1 Phương hướng thực thi Luật doanh nghiệp (2005) về công ty TNHH một
3.2 Các biện pháp thực thi Luật doanh nghiệp (2005) về công ty TNHH một
3.2.1 Tiếp tục xúc tiến chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước thành công ty
3.2.2 Ban hành Nghị định hướng dẫn chuyển đổi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành công ty TNHH (trong đó có công ty TNHH một thành viên) 59 3.2.3 Cần có văn bản hướng dẫn cụ thể việc chuyển doanh nghiệp tư nhân thành công ty TNHH một thành viên và việc cá nhân thành lập công ty
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Từ trước tới nay, ở nước ta tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, mỗi một loại hình doanh nghiệp đều có một loại văn bản pháp luật điều chỉnh, tạo nên những môi trường và địa vị pháp lý cho các doanh nghiệp khi tham gia vào nền kinh tế thị trường Công ty TNHH một thành viên cũng là một loại hình doanh nghiệp cần được quan tâm và khuyến khích phát triển
Hơn nữa, với kinh nghiệm thực tiễn ở các nước trên thế giới về các loại hình công ty, đặc biệt là xu thế cổ phần hoá ngày càng mạnh mẽ, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thống nhất hệ thống pháp luật về doanh nghiệp nói chung và có những quy định pháp lý chặt chẽ, mới mẻ để khẳng định vai trò quan trọng của công ty TNHH một thành viên nói riêng
Do vậy, việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh và phát huy các lợi thế của doanh nghiệp nói chung cũng như của công ty TNHH một thành viên là thiên chức của các nhà làm luật Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật doanh nghiệp ngày 29/11/2005 với những nội dung mới so với hệ thống pháp luật về doanh nghiệp hiện hành Trong đó, việc khẳng định và khuyến khích phát triển công
ty TNHH một thành viên có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, có tính thời sự cấp bách
Đây cũng là lý do mà tác giả chọn đề tài "Công ty TNHH một thành viên theo Luật doanh nghiệp (2005) - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" làm luận văn thạc sỹ cho mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến của công ty TNHH, hiện đã có một số công trình nghiên cứu Chẳng hạn như: Luận văn thạc sỹ "Công ty TNHH theo pháp luật Việt Nam và hướng hoàn thiện địa vị pháp lý của loại hình doanh nghiệp này" của tác giả Lê Văn Khải - 1997; Luận văn Thạc sỹ "Công ty TNHH một thành
Trang 7viên theo quy định của pháp luật Việt Nam và Cộng hoà Pháp" của tác giả Đinh Thị An Ngoài ra, còn có rất nhiều luận án Thạc sỹ, Tiến sỹ khác và các bài báo, tạp chí luật học như: "Quan niệm về Luật doanh nghiệp - Một số vấn
đề phương pháp luận" của Thạc sỹ Đồng Ngọc Ba (2/2004), "Bàn về tính thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay" của Tiến sỹ Bùi Ngọc Cường (6/2004)
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu hay các bài báo, tạp chí đều mới nghiên cứu về công ty TNHH ở những góc độ khác nhau và ở một giai đoạn nhất định Bởi vậy, việc nghiên cứu đầy đủ về công ty TNHH một thành viên theo Luật doanh nghiệp (2005) có ý nghĩa mới mẻ về mặt lý luận và thực tiễn
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Công ty TNHH một thành viên đã được Luật doanh nghiệp (1999) ghi nhận, tuy nhiên để phản ánh đầy đủ hơn thực tế cuộc sống của công ty TNHH một thành viên, Luật doanh nghiệp (2005) đã có những sửa đổi bổ sung mới về bản chất cũng như hình thức của loại hình công ty này Chính
vì vậy, nghiên cứu đề tài này có nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần luận giải Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này, tác giả có khả năng và cũng không có tham vọng tìm hiểu tất cả các vấn đề mà chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản sau:
+ Luận văn tập trung khái quát hoá một số vấn đề lý luận về công ty TNHH một thành thành viên;
+ Luận văn nghiên cứu hệ thống pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp, trong đó đặc biệt chú trọng đến các quy định về công
ty TNHH một thành viên trong nội dung Luật doanh nghiệp (2005); đồng thời
để làm sáng tỏ hơn các quy định của Luật doanh nghiệp (2005), luận văn cũng tìm hiểu pháp luật một số nước về công ty TNHH một thành viên;
+ Ngoài ra, để có những giải pháp thực thi Luật doanh nghiệp (2005)
có cơ sở thực tiễn, luận văn tìm hiểu thực tế thi hành pháp luật về doanh nghiệp trong thời gian qua
Trang 84 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được thực hiện trên nền tảng của phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, nhất là nguyên lý cơ sở
hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, các quan hệ kinh tế quyết định chi phối các quy phạm pháp luật Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phân tích, so sánh, tổng hợp và khảo sát thực tiễn để nhằm nêu
rõ về các quy định của pháp luật về công ty TNHH ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện các quy định này
5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài này là tìm hiểu những quy định về công ty TNHH một thành viên theo Luật doanh nghiệp (2005), thực tế áp dụng các quy định pháp luật đó và trên cơ sở đó, tác giả đề xuất kiến nghị nhằm thực thi Luật doanh nghiệp (2005) nói chung và các quy định pháp luật về công ty TNHH một thành viên theo Luật doanh nghiệp (2005) nói riêng
Để đạt được mục đích trên, luận văn phải giải quyết được một số nhiệm
vụ sau:
- Giải quyết một số vấn đề lý luận về công ty TNHH;
- Nghiên cứu hệ thống pháp luật hiện hành về doanh nghiệp, đặc biêt, Nghiên cứu nội dung các quy định của luật doanh nghiệp (2005) về công ty TNHH một thành viên;
- Phân tích, so sánh để thấy được những vấn đề lý luận và thực tiễn của công ty TNHH một thành viên;
- Đưa ra kiến nghị cụ thể nhằm thực thi pháp luật về công ty TNHH một thành viên
6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn:
- Về mặt lý luận, Luận văn tập trung giải quyết mối quan hệ giữa công
ty TNHH một thành viên với các loại hình doanh nghiệp khác theo Luật doanh nghiệp (2005)
Trang 9- Đồng thời, Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của công ty TNHH một thành viên và đưa ra một số giải pháp nhằm thực thi pháp luật về loại hình doanh nghiệp này
- Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho giới nghiên cứu lý luận cũng như các nhà doanh nghiệp
7 Cấu trúc của Luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu bởi 3 chương:
- Chương 1 Khái quát về công ty TNHH một thành viên theo Luật doanh nghiệp (2005)
- Chương 2 Quy định của Luật doanh nghiệp (2005) về công ty TNHH một thành viên
- Chương 3 Một số kiến nghị nhằm thực thi Luật doanh nghiệp (2005)
về công ty TNHH một thành viên
Trang 10CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THEO
LUẬT DOANH NGHIỆP (2005) 1.1 QUAN NIỆM VỀ CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP (2005)
1.1.1 Quan niệm chung về công ty
Có thể nói cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, công ty ra đời và phát triển phù hợp với từng giai đoạn, điều kiện lịch sử nhất định Công ty được hiểu theo nhiều nghĩa với những khía cạnh khác nhau Xét theo góc độ pháp lý, công ty được hiểu là sự liên kết của nhiều người để tiến hành một, một số công việc nào đó vì mục đích lợi nhuận
Trong khoa học pháp lý, mỗi nước có một định nghĩa "công ty" khác nhau Theo pháp luật Cộng hoà liên bang Đức: "Khái niệm về công ty được hiểu là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng nhiều sự kiện pháp lý, nhằm tiến hành các hoạt động để đạt được một mục tiêu chung nào đó "[32, tr 29]
Bộ luật dân sự Cộng hoà Pháp định nghĩa "công ty là một hợp đồng, thông qua đó hai hay nhiều người thoả thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng của mình vào một hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận thu được qua hoạt động đó" [22, tr 7]
Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan quy định về công ty: "Hợp đồng tổ chức hội kinh doanh hoặc công ty là hợp đồng qua đó, hai hay nhiều người thoả thuận hợp nhau lại để tiến hành một công việc chung, nhằm chia lời có thể có được qua công việc chung đó"(Điều 1012)
Như vậy, khi xem xét bản chất của công ty, pháp luật các nước nhìn chung có một số điểm cơ bản chung nhất Công ty do hai chủ thể trở lên góp vốn thành lập Đây là quan niệm truyền thống từ trước đến nay về công ty
Trang 11Khái niệm công ty của pháp luật các nước Đức, Pháp, Thái Lan và một số nước khác đều chức đựng yếu tố liên kết, mà muốn liên kết được thì phải có nhiều người Công ty sẽ không thoả mãn yếu tố liên kết nếu chỉ có một chủ thể góp vốn để thành lập Chủ thể ở đây có thể hiểu là các cá nhân hoặc pháp nhân Công ty có thể là sự liên kết giữa hai hay nhiều cá nhân với nhau, giữa
cá nhân với pháp nhân hoặc giữa các pháp nhân với nhau
Pháp luật cộng hoà liên bang Đức quan niệm "công ty" là sự liên kết giữa các cá nhân hoặc pháp nhân bằng các sự kiên pháp lý Thông qua các sự kiện pháp lý này, họ tiến hành một, một số hoạt động để đạt được mục tiêu chung nào đó "Mục tiêu" của việc thành lập công ty ở đây không được thể hiện rõ ràng khiến người ta có thể hiểu sang một khía cạnh khác, đó là công ty một số công ty hoạt động không vì mục đích lợi nhuận Như vậy, khái niệm ban đầu về công ty ở cộng hoà liên bang Đức mới chỉ nêu lên được một đặc điểm nổi bật của công ty đó là sự liên kết giữa hai hay nhiều người chứ chưa làm rõ được bản chất của sự liên kết đó
Nếu như pháp luật Đức khẳng định công ty là sự liên kết của hai hay nhiều người thông qua sự kiện pháp lý thì pháp luật nước cộng hoà Pháp và Thái Lan đã có cách nhìn cụ thể hơn, rõ ràng hơn về công ty Các nước này cũng thừa nhận công ty là sự liên kết của hai hay nhiều người Nhưng điểm khác cơ bản ở đây là họ đã nêu ra được mục đích của việc liên kết đó là vì lợi nhuận và các thành viên thoả thuận sử dụng tài sản hay khả năng của mình vào một hoạt động chung
Bên cạnh sự phát triển của pháp luật về công ty các nước trên Thế giới, năm 1990, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật công ty nhằm điều chỉnh các hoạt động kinh doanh trong nước Luật công
ty (1990) định nghĩa: " Công ty TNNH và công ty cổ phần, gọi chung là công ty,
là doanh nghiệp trong đó các thành viên đều góp vốn, cùng nhau chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản
nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty" (Điều 2)
Trang 12Luật công ty ghi nhận công ty là doanh nghiệp bao gồm công ty TNHH
và công ty cổ phần Công ty có tư cách pháp nhân độc lập, các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp mà họ đã góp vào công ty Việc thành lập công ty ở đây dựa trên yếu
tố liên kết đó là vốn góp của các thành viên Công ty được hiểu theo nghĩa truyền thống, đó là sự liên kết giữa các cá nhân, tổ chức thông qua hoạt động kinh doanh nhằm thu lợi nhuận Công ty ở đây chỉ bao gồm hai loại công ty
đó là công ty TNHH và công ty CP Tại thời điểm này, công ty ở Việt Nam giống công ty ở Mỹ, đó là chỉ có loại hình công ty đối vốn Pháp luật Mỹ chỉ phân biệt hai trường hợp: công ty có phát hành cổ phiếu và không phát hành
cổ phiếu
Luật doanh nghiệp (1999) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã không đưa ra một định nghĩa chung về công ty mà đưa ra các khái niệm cụ thể về các loại hình công ty Công ty theo quy định tại Luật doanh nghiệp (1999) đã được mở rộng: Công ty bao gồm công ty CP, công ty TNHH, công ty hợp danh Trong công ty TNHH bao gồm công ty TNHH một thành viên là tổ chức và công ty TNHH hai thành viên Như vậy, Luật doanh nghiệp (1999) bổ sung thêm loại hình công ty TNHH một thành viên và công
ty hợp danh
Theo Luật doanh nghiệp (1999) thì khái niệm công ty không còn nguyên vẹn theo nghĩa truyền thống của nó nữa Công ty có thể là doanh nghiệp do một người làm chủ sở hữu, tức là pháp luật Việt Nam thừa nhận sự tồn tại của công ty TNHH một thành viên, cũng có nghĩa là phá vỡ ý nghĩa
"liên kết" của công ty Một thành viên là tổ chức có thể độc lập thành lập công ty, có tư cách pháp nhân
Luật doanh nghiệp (2005) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không đưa ra một định nghĩa chung về công ty mà đưa ra các khái niệm
cụ thể của các loại hình công ty:
Trang 13Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó, thành viên
có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi; thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp (Khoản 1, Điều 38)
"Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công
ty trong phạm vi vốn điều lệ của công ty" (Khoản 1, Điều 63)
Công ty CP là doanh nghiệp, trong đó, vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp (Khoản 1, Điều 77)
Công ty hợp danh là doanh nghiệp có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng kinh doanh dưới một tên chung, ngoài các thành viên hợp danh còn có các thành viên góp vốn Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
Nhìn một cách khái quát thì "công ty" theo Luật doanh nghiệp (2005) được quy định cụ thể rõ ràng hơn, bổ sung thêm loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân Đây là sự thay đổi phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội ở nước ta cũng như xu thế phát triển doanh nghiệp ở nhiều nước trên Thế giới
Chính sự thay đổi này đã tạo ra cơ chế huy động vốn mềm dẻo, bảo đảm cho các thành phần kinh tế có thể tham gia một cách dễ dàng vào hoạt động sản xuất - kinh doanh, bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh
tế, từ đó tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư khi bỏ vốn kinh doanh, góp phần xây dựng một nền kinh tế ổn định, bền vững Do vậy, việc ban hành Luật doanh nghiệp thống nhất không những chỉ bảo đảm sự công bằng cho
Trang 14các doanh nghiệp trong nước mà còn bảo đảm sự công bằng về chế độ pháp lý cho các nhà đầu tư nước ngoài
Xét về khía cạnh pháp lý từ khi công ty ra đời, công ty theo Luật doanh nghiệp (2005) có một số đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, công ty có thể do một hoặc hai chủ thể trở lên góp vốn thành lập Chủ thể ở đây là pháp nhân hoặc cá nhân Công ty có thể là sự liên kết giữa các pháp nhân với nhau, các thể nhân với nhau hoặc giữa thể nhân với pháp nhân Công ty TNHH một thành viên là một ngoại lệ Điều này xuất phát từ điều kiện lịch sử, xã hội riêng của từng nước và thực tế kinh doanh, do vậy, khái niệm truyền thống về công ty có ít nhất hai thành viên không còn tồn tại nguyên vẹn nữa
Thứ hai, các thành viên hoặc chủ sở hữu góp tài sản của mình vào công
ty Tài sản ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, có thể là của cải như tiền, vàng, ruộng đất, nhà cửa, cũng có thể là công sức hay các giá trị tinh thần như uy tín trên thương trường, quyền sở hữu công nghiệp
Thứ ba, mục đích của việc thành lập công ty là kiếm lời Có thể nói, lợi nhuận là dấu hiệu để phân biệt công ty với các tổ chức khác như hội từ thiện, các hội đoàn chuyên nghiệp
Như vậy, theo Luật doanh nghiệp (2005), công ty bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh ở đây, trong khuôn khổ của luận văn, tác giả chỉ đề cập đến loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, trong đó tập trung đi sâu nghiên cứu về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
1.1.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn (công ty TNHH)
Công ty TNHH là mô hình công ty đáp ứng được nhiều yêu cầu của các nhà kinh doanh: chịu trách nhiệm hữu hạn và quy chế pháp lý đơn giản Chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn tạo điều kiện cho các nhà đầu tư sẵn sàng đầu tư vào
Trang 15những lĩnh vực rủi ro lớn, đồng thời nó cũng tạo cho họ khả năng đầu tư vốn vào nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau, tạo cơ hội mở rộng thị trường vốn
Công ty TNHH có một số đặc trưng cơ bản như: (1) Công ty TNHH là một pháp nhân độc lập, chính địa vị pháp lý này quyết định chế độ trách nhiệm của công ty; (2) thành viên công ty không nhiều và thường là những người quen biết nhau; (3) vốn điều lệ chia thành từng phần, mỗi thành viên có thể góp nhiều, ít khác nhau; (4) phần vốn góp không thể hiện dưới dạng cổ phiếu và rất khó chuyển nhượng ra bên ngoài, vốn góp có thể bằng tiền hoặc bằng hiện vật; (5) công ty TNHH không được phát hành cổ phiếu, có nghĩa là không được công khai huy động vốn trong công chúng
1.1.3 Công ty TNHH một thành viên
• Quan niệm về công ty TNHH một thành viên trên Thế giới
Nếu dựa trên quan niệm phổ biến về công ty (sự liên kết của hai hay nhiều thể nhân hoặc pháp nhân với nhau góp vốn thành lập) thì công ty TNHH một thành viên không thực sự là công ty theo đúng nghĩa của nó mà được xem như là doanh nghiệp một chủ chịu trách nhiệm hữu hạn Bởi vậy, pháp luật ở một số nước nhìn nhận, quy định loại hình này cũng khác nhau Trong hệ thống pháp luật của Đức, Anh, Mỹ thừa nhận loại hình công ty TNHH một thành viên nhưng ở Italia, Tây Ban Nha, các nước Nam Mỹ lại không cho phép thành lập loại hình doanh nghiệp này vì họ cho rằng bản chất của nó là doanh nghiệp cá thể chịu trách nhiệm hữu hạn chứ không phải là công ty Công ty TNHH một thành viên ra đời là kết quả pháp lý đặc biệt của quá trình phát triển của các công ty TNHH khi toàn bộ tài sản của công ty TNHH nhiều thành viên đã chuyển vào tay một thành viên duy nhất với nhiều
lý do như có thành viên chết hoặc ra khỏi công ty Nếu công ty vẫn hoạt động tốt thì theo pháp luật nhiều nước vẫn cho phép công ty này tiếp tục hoạt động
mà không phải chuyển đổi hình thức hay giải thể công ty Như vậy, công ty TNHH từ chỗ nhiều thành viên trở thành công ty có một chủ sở hữu duy nhất
Trang 16Sau này, trong quá trình hoạt động thương mại, do có nhiều ưu thế nên công ty TNHH một thành viên (công ty TNHH một chủ) đã được thừa nhận bằng con đường thành lập mới và không ngừng được khuyến khích phát triển
Quan niệm về công ty TNHH một thành viên ở các nước trên Thế giới
có nhiều cách khác nhau: Bộ luật dân sự của nước Cộng hoà Pháp quy định,
"Công ty có thể được thành lập trong những trường hợp do luật định bằng hành vi, ý chí của chỉ một người" (Điều 1832); Luật công ty TNHH nước cộng hoà liên bang Đức quy định, "Công ty TNHH do một hoặc nhiều người sáng lập trên cơ sở những quy định của luật và theo đó có mục đích hoạt động được pháp luật cho phép" (Điều 1); Pháp luật Mỹ không đưa ra khái niệm cụ thể về công ty TNHH một thành viên mà chỉ quy định trong Luật thương mại Mỹ: Luật pháp cho phép thành lập công ty TNHH một chủ
Như vậy, tính đặc thù của công ty TNHH một thành viên ở các nước trên Thế giới so với các loại hình công ty nói chung đó là không có sự liên kết giữa hai hay nhiều cá nhân, tổ chức để thành lập công ty, mà một cá nhân có thể độc lập, không bắt buộc phải góp vốn với bất kỳ cá nhân, tổ chức nào để thành lập công ty
• Quan niệm công ty TNHH một thành viên ở Việt Nam
ở Việt Nam, tiền lệ mô hình công ty TNHH một thành viên đã tồn tại trước đó Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định về doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là đơn vị kinh doanh hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của
cá nhân, tổ chức nước ngoài, công ty do họ thành lập, tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh Mô hình doanh nghiệp này được tồn tại dưới hình thức công ty TNHH và là một pháp nhân Việt Nam Chế độ trách nhiệm hữu hạn cá nhân được coi là một ưu đãi nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
Loại hình công ty chỉ có một thành viên làm chủ đã tồn tại ngay từ buổi đầu sơ khai khi các nhà kinh doanh tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh
Trang 17doanh Tuy nhiên, với điều kiện cụ thể của mỗi nước, việc thừa nhận hay không thừa nhận mô hình này là một vấn đề gây nhiều tranh cãi
Pháp luật Việt Nam trước đây cũng không ghi nhận công ty TNHH một thành viên (Luật công ty 1990) Bởi vì, ở giai đoạn này, công ty vẫn được hiểu theo nghĩa truyền thống, công ty có ba đặc trưng: Sự liên kết của nhiều người thể hiện qua việc góp vốn bằng tài sản hoặc bằng các giá trị tinh thần;
sự liên kết phải thông qua một sự kiện pháp lý đó là hợp đồng thành lập công ty; mục đích của sự liên kết đó là nhằm tìm kiếm lợi nhuận Như vậy, trong ba điều kiện thì công ty TNHH một thành viên không thoả mãn hai điều kiện, bởi vì, nếu chỉ có một cá nhân hay một tổ chức thì không thể thực hiện được hành vi "liên kết", không thể có sự góp vốn, vì vậy không thể chấp nhận một hợp đồng đơn phương chỉ có một bên tham gia
Sở dĩ, Luật công ty (1990) không thừa nhận công ty TNHH một thành viên là bởi các nhà làm luật dựa trên lẽ phải thông thường rằng, không thể nào
có được một tổ chức mà một thành viên vừa là người sáng lập vừa là hội viên duy nhất Vả lại, một tổ chức hay một cá nhân không thể thành lập công ty với chính bản thân mình hay ký kết hợp đồng lập công ty cũng với chính bản thân mình Bởi vậy mà loại hình công ty TNHH một thành viên ở giai đoạn này chưa được thừa nhận
Đến Luật doanh nghiệp (1999) thì quan niệm về công ty đã có sự thay đổi Luật doanh nghiệp (1999) quy định: "Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp" (Khoản 1, Điều 46)
Theo Luật doanh nghiệp (1999), số lượng thành viên công ty không nhất thiết phải từ hai thành viên trở lên như trước mà luật cho phép thành lập công ty TNHH một thành viên do một tổ chức làm chủ sở hữu (từ Điều 46
Trang 18đến Điều 50) Đây là một điểm mới lần đầu tiên về công ty TNHH được pháp luật Việt Nam thừa nhận
Trong thực tế thương mại ở nước ta, tồn tại rất nhiều công ty TNHH trong đó có một số thành viên danh nghĩa vào danh sách thành viên sáng lập công ty để hợp pháp hóa việc thành lập công ty, còn thực chất công ty chỉ có một chủ Như vậy, dù pháp luật có thừa nhận hay không thì công ty TNHH một thành viên vẫn tồn tại và hoạt động trên thực tế Luật công ty trước đây không ngăn chặn việc thành lập công ty thuộc sở hữu của một chủ Do đó, khi Luật doanh nghiệp thừa nhận loại hình công ty này tức là đã đưa ra được giải pháp pháp lý đối với một vấn đề bức xúc trên thực tế, tạo nên môi trường kinh doanh rõ ràng, minh bạch hơn
Để cụ thể hoá khái niệm "tổ chức" làm chủ sở hữu, Điều 14, Nghị Định
số 03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của Chính Phủ quy định tổ chức là chủ
sở hữu của công ty TNHH một thành viên bao gồm 17 tổ chức khác nhau
Sở dĩ pháp luật chỉ thừa nhận công ty TNHH một thành viên là tổ chức, không thừa nhận công ty TNHH một thành viên là cá nhân, bởi vì theo quan niệm của các nhà làm luật Việt Nam giai đoạn này thì những tổ chức này phải
là một pháp nhân, có cơ cấu chặt chẽ, có tài sản độc lập với tài sản công ty
Sự tách bạch giữa tài sản công ty và tài sản của thành viên công ty là đặc điểm quan trọng thể hiện chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn Thành viên công
ty chỉ chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn họ góp vào công ty Trong khi đó, nếu thành viên công ty là một cá nhân thì rất khó để phân tách đâu là tài sản công ty, đâu là tài sản cá nhân và chủ doanh nghiệp góp bao nhiêu vốn vào công ty Mặt khác, trong suốt quá trình hoạt động của công ty sẽ dễ có sự chuyển dịch tài sản cá nhân - chủ sở hữu công ty và tài sản công ty Vậy ai là người kiểm soát vấn đề này?
Hơn nữa, ở thời điểm này các nhà làm luật thấy không cần thiết phải thừa nhận loại hình công ty TNHH một thành viên là cá nhân vì trên thực tế
Trang 19khi một cá nhân muốn tham gia vào thị trường thì đã có loại hình doanh nghiệp tư nhân
Tuy nhiên, qua sáu năm thực thi Luật doanh nghiệp, chúng ta thấy rõ một số bất cập khi không ghi nhận loại hình công ty TNHH một thành viên là cá nhân Trên thực tế, Luật doanh nghiệp (1999) cũng đã gián tiếp thừa nhận mô hình công
ty TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ sở hữu công ty Tại Điều 111 - Khoản 3 - Luật doanh nghiệp (1999) quy định, công ty phải giải thể nếu không còn
đủ số lượng thành viên tối thiểu theo luật định trong thời hạn sáu tháng liên tục Điều đó có nghĩa là, khi một, một số thành viên công ty chết hay mất tích mà không
có người thừa kế hoặc người thừa kế không được chấp nhận, hoặc khi thành viên công ty rút vốn, công ty vẫn được phép tồn tại trong vòng sáu tháng với một thành viên duy nhất Đây là khoảng thời gian khá dài để cho công ty có thể thực hiện rất nhiều hoạt động kinh doanh, thực hiện các giao dịch làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ khác nhau giữa công ty với người lao động, giữa công ty với các chủ nợ hay những người có liên quan
Theo Luật doanh nghiệp (2005): "Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn điều lệ của công ty" (Khoản 1, Điều 63)
Nếu trước đây, công ty TNHH một thành viên là cá nhân không được thừa nhận chính thức thì đến Luật doanh nghiệp (2005), vấn đề này đã được ghi nhận rõ ràng với đầy đủ tư cách pháp nhân, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác Việc thừa nhận công ty TNHH một thành viên là cá nhân có ý nghĩa quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội nước ta hiện nay Cá nhân có quyền lựa chọn hình thức, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, lập doanh nghiệp, tự do giao kết hợp đồng, thuê lao động và các quyền khác phù hợp với quy định của pháp luật Việc thành lập công ty nói chung và công ty TNHH một thành viên là cá nhân nói riêng đều nhằm mục tiêu lợi nhuận, thông qua đó, nhu cầu xã hội cũng được đáp ứng ngày một tốt hơn Do vậy, các nhà làm luật Việt Nam thấy cần thiết phải ghi nhận và bảo
vệ loại hình doanh nghiệp này bên cạnh các loại hình doanh nghiệp đang tồn tại ở Việt Nam Bởi vì, suy cho cùng đó là quyền tự do kinh doanh của mỗi con người
Trang 20Hơn nữa, mô hình công ty TNHH một thành viên là cá nhân đã được pháp luật nhiều nước trên Thế giới công nhận và thử nghiệm ở Việt Nam, những tiền lệ cho mô hình này cũng đã tồn tại và được pháp luật quy định Ví dụ: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định về doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là đơn vị kinh doanh hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của cá nhân nước ngoài, do họ thành lập,
tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Mô hình này được tồn tại dưới hình thức công ty TNHH và là một pháp nhân Việt Nam Bởi vậy, không có lý
do gì mà pháp luật nước ta lại thừa nhận tư cách pháp nhân của một cá nhân nước ngoài khi thành lập công ty mà lại không thừa nhận đối với cá nhân là công dân Việt Nam Nếu trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn cá nhân được coi là một ưu đãi nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài thì không có lý do gì chúng ta lại ngăn cản các nhà đầu tư trong nước trong vấn đề này
Như vậy, qua phân tích nói trên cho thấy việc Luật doanh nghiệp (2005) chính thức thừa nhận công ty TNHH một thành viên là cá nhân là sự đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đời sống, đồng thời hoà nhập với xu hướng chung của pháp luật
về công ty trên Thế giới
1.2 ĐẶC DIỂM CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP (2005)
Công ty TNHH một thành viên theo Luật doanh nghiệp (2005) có một số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, thành viên công ty là một cá nhân hoặc một tổ chức Thành viên duy nhất này là chủ sở hữu công ty Nếu như trước đây công ty TNHH một thành viên là một tổ chức thì bây giờ pháp luật nước ta đã thừa nhận chủ sở hữu công ty là một cá nhân Điều này phù hợp với chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời tạo ra môi trường pháp lý đa dạng và thuận lợi để cá nhân thành lập công ty riêng phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế cũng như các quy định của Luật doanh nghiệp Chính sự thừa nhận này tạo ra ưu thế riêng cho công ty TNHH một thành viên so với loại hình doanh nghiệp tư nhân
Thứ hai, Công ty TNHH một thành viên là một pháp nhân
Trang 21Cá nhân hay tổ chức thành lập công ty TNHH một thành viên được coi là có
tư cách pháp nhân, tức là đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định, đó là: được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập (Điều 84, Bộ luật dân sự năm 2005)
Pháp luật nước ta quy định như vậy để góp phần tạo lập tư cách pháp lý độc lập và chế độ tự chịu trách nhiệm, nhất là trách nhiệm tài sản của các tổ chức, cá nhân đối với các hành vi pháp lý của mình Khi thành lập công ty, chủ sở hữu là thành viên duy nhất của công ty phải cam kết góp vốn vào công ty với giá trị vốn góp và thời hạn góp vốn cụ thể Số vốn góp của chủ sở hữu được thể hiện trong Điều lệ của công ty Trường hợp chủ sở hữu không góp đầy đủ và đúng hạn số vốn
đã cam kết thì số vốn chưa góp được coi là nợ của cá nhân, tổ chức đó đối với công
ty Cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu công ty chỉ phải chịu trách nhiệm trong số vốn đã góp hoặc cam kết góp vào công ty, mọi nghĩa vụ phát sinh ngoài số vốn này thì không phải chịu trách nhiệm, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì chủ sở hữu phải liên đới chịu trách nhiệm đối với công ty Đây cũng chính là đặc điểm xuất phát từ chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn của công ty TNHH một thành viên
Như vậy, công ty TNHH một thành viên được ghi nhận là một pháp nhân, một chủ thể thực sự, có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó
Thời điểm ghi nhận công ty TNHH một thành viên là pháp nhân cũng là một vấn đề quan trọng Theo quan niệm chung của các luật gia nhiều nước thì công ty được coi là có tư cách pháp nhân ngay sau khi hoàn tất thủ tục thành lập mà không phụ thuộc vào việc công ty đó đã được công bố hay chưa Việc đăng báo bố cáo thành lập chỉ đơn thuần là việc doanh nghiệp thông báo cho công chúng biết mà thôi
Luật doanh nghiệp (2005) quy định cụ thể thời điểm phát sinh tư cách pháp nhân của công ty nói chung và của công ty TNHH một thành viên nói riêng là thời điểm được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh "Công ty TNHH một thành
Trang 22viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh"
Cụ thể, công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân cần có một số yếu tố cơ bản như tên công ty, có trụ sở, quốc tịch, có tài sản độc lập, năng lực thực hiện những hành vi pháp lý
Thứ ba, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn
về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
Vốn điều lệ của công ty TNHH một thành viên được hiểu là số do thành viên góp và ghi vào Điều lệ công ty Vốn điều lệ của công ty có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty
Trong qúa trình hoạt động kinh doanh, nếu phát sinh các khoản nợ và nghĩa tài sản khác của công ty thì chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn điều lệ đã góp hoặc cam kết góp vào công ty chứ không phải đưa tài sản riêng của cá nhân, tổ chức ra để thanh toán các khoản nợ đó
Do vậy, chủ sở hữu đăng ký thành lập công ty phải đăng ký số vốn điều lệ của công ty Trường hợp vốn điều lệ là các tài sản thì tài sản đó phải được chủ sở hữu định giá, đồng thời chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác đối với giá trị tài sản góp vốn Trường hợp giá trị tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế của nó tại thời điểm góp vốn thì chủ sở hữu phải góp đủ vốn như đã được định giá, nếu gây thiệt hại cho người khác thì phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường
Điều này chứng tỏ rằng tài sản của công ty và tài sản của chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên có sự phân tách rạch ròi Đây là đặc điểm để phân biệt công
ty TNHH một thành viên với doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh Đối với doanh nghiệp tư nhân, tài sản cá nhân của chủ doanh nghiệp và tài sản của chính doanh nghiệp tư nhân không
Trang 23có sự phân biệt Bởi vậy, Luật doanh nghiệp (2005) bổ sung thêm chủ sở hữu công
ty TNHH một thành viên là cá nhân tạo nên một môi trường pháp lý phù hợp để các thương nhân tham gia vào thương trường
Thứ tư, công ty TNHH một thành viên không được quyền phát hành cổ phiếu
để công khai huy động vốn Luật doanh nghiệp (2005) quy định rõ: "Công ty TNHH một thành viên không được quyền phát hành cổ phần" (khoản 3, Điều 63) Đây cũng là đặc điểm chung của loại hình công ty TNHH
Thứ năm, theo Luật doanh nghiệp (2005), quyền của chủ sở hữu bị hạn chế Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác, nếu với hình thức khác thì chủ sở hữu phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác Đồng thời, chủ sở hữu không được rút lợi nhuận khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản đến hạn Điều này xuất phát từ đặc thù của công ty TNHH một thành viên, một cá nhân vừa là thành viên vừa là chủ sở hữu công ty thì nguy cơ chuyển dịch tài sản của công ty thành tài sản riêng của một cá nhân là rất lớn, trong khi đó cá nhân này chỉ phải chịu trách nhiệm về tài chính trong phạm vi số vốn của công ty Bởi vậy, pháp luật hạn chế quyền của chủ sở hữu công ty nhằm mục đích hành vi lạm quyền của chủ sở hữu, bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể liên quan khi tham gia các quan hệ pháp luật với công ty
Như vậy, so với các loại hình công ty khác thì công ty TNHH một thành viên
có những đặc trưng cơ bản và có thể phát huy những lợi thế của mình trong nền kinh tế thị trường
1.3 VAI TRÒ CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN
Sở dĩ pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật nhiều nước trên Thế giới thừa nhận loại hình công ty TNHH một thành viên là xuất phát từ yêu cầu của sự phát triển kinh tế cũng như những ưu thế vốn có của loại hình doanh nghiệp này
Với khái niệm công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu, Luật doanh nghiệp (2005) đã ghi nhận vai trò quan trọng của công ty TNHH một thành viên
Trang 24Trước hết, công ty TNHH một thành viên ra đời góp phần khẳng định nguyên tắc cơ bản của công ty đó là tự do ý chí và tự do kinh doanh
Nguyên tắc tự do ý chí, tự do kinh doanh được xem là nền tảng cơ bản thể hiện bản chất pháp lý của công ty Học thuyết tự do ý chí, tự do kinh doanh dựa trên nền tảng của tự do cá nhân, có nghĩa là không ai có thể ép buộc làm hay không làm một việc gì đó ngoài ý muốn của họ, không ai có thể bị ép buộc làm hay không làm một việc gì mà không xuất phát từ lợi ích của bản thân họ Lợi ích cá nhân là động lực thúc đẩy các hoạt động kinh tế, tự do ý chí được đề cao, con người vì lợi ích của mình trong xã hội tự do cạnh tranh, mang lại những lợi ích chung Tuy nhiên, tự do
cá nhân sẽ bị hạn chế trong lợi ích chung của cả cộng đồng, vì thế pháp luật đưa ra những quy định có tính bắt buộc để điều tiết các quan hệ cá nhân vì một lợi ích lớn hơn đó là sự tồn tại và phát triển của xã hội
Luật doanh nghiệp (2005) ghi nhận quyền tự do thành lập công ty TNHH một thành viên là một tổ chức hoặc một cá nhân có ý nghĩa rất lớn đối với Việt Nam giai đoạn này Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền, của dân, do dân, vì dân, người dân tự lo liệu cuộc sống của mình thông qua sự lựa chọn cách thức làm ăn, đó là bước vào hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập công ty Nhà nước với quyền lực được nhân dân giao cho, có trách nhiệm tạo ra môi trường pháp lý và cung cấp phương tiện, chỉ dẫn cách thức để từng cá nhân có thể đáp ứng được các nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của mình Công ty TNHH một thành viên sẽ giúp các tổ chức, cá nhân gia tăng lợi nhuận cũng như giải quyết việc làm cho người lao động Theo đó, nhu cầu của xã hội cũng được đáp ứng ngày một tốt hơn, con người trao đổi sản phẩm và phục vụ lẫn nhau
Qua những phân tích trên, chúng ta có thể thấy, công ty TNHH một thành viên là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh mà pháp luật
đã thừa nhận Do vậy, pháp luật Việt nam đã ghi nhận và bảo vệ loại hình công ty TNHH một thành viên bên cạnh các loại hình doanh nghiệp đang tồn tại và phát triển ở Việt Nam
Mặt khác, công ty TNHH một thành viên đã khẳng định được ưu thế của mình ở chế độ chịu trách nhiệm Chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư, tạo điều kiện cho họ mạnh dạn rót vốn vào những địa bàn, những lĩnh vực hiện đang thiếu
Trang 25nguồn đầu tư trầm trọng Trong nền kinh tế thị trường, chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn phần nào giúp các nhà kinh doanh hạn chế rủi ro bằng cách chia sẻ trách nhiệm cho nhiều người, đồng thời giúp các nhà kinh doanh đầu tư vào bất kỳ lĩnh vực kinh tế nào có lợi cho cá nhân họ, có lợi cho xã hội trường hợp đầu tư kinh doanh mà phải chịu trách nhiệm vô hạn thì họ sẽ không dám đầu tư vào những lĩnh vực, những ngành nghề có rủi
ro lớn, và như vậy thì môi trường kinh doanh sẽ bị hạn chế, gây tổn hại đến lợi ích chung của toàn xã hội
Công ty TNHH một thành viên là một loại hình doanh nghiệp rất tiện lợi cho chủ sở hữu công ty Một cá nhân có thể lựa chọn phương thức thành lập công ty TNHH một thành viên để tiến hành hoạt động kinh doanh mà không bắt buộc phải liên kết với bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào Điều này đáp ứng nguyện vọng của người kinh doanh muốn mình là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp và doanh nghiệp đó hoạt động theo quy chế của công ty TNHH một thành viên Với mô hình này, nhà kinh doanh cảm thấy an toàn, phân tán được rủi ro, chuyển dịch vốn, hợp vốn dễ dàng với các chủ thể kinh doanh khác mà không làm mất đi bản chất pháp lý của doanh nghiệp
Do vậy, công ty TNHH một thành viên ngày càng được khuyến khích phát triển, đặc biệt Luật doanh nghiệp (2005) đã thừa nhận công ty TNHH một thành viên với chủ sở hữu là một tổ chức hoặc một cá nhân Khi Luật doanh nghiệp (2005) có hiệu lực sẽ làm tăng khả năng lựa chọn loại hình doanh nghiệp, các cá nhân có thể tự mình độc lập thành lập công ty TNHH, có tư cách pháp nhân để tham gia vào thương trường Điều này là một lợi thế vượt trội so với loại hình doanh nghiệp tư nhân
1.4 PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Công ty TNHH một thành viên không là "công ty" theo cách hiểu truyền thống, song việc xác lập một loại hình doanh nghiệp mới có quy chế pháp lý như công ty TNHH với một chủ sở hữu thì không thể gọi doanh nghiệp đó bằng một khái niệm nào khác hơn là công ty TNHH một thành viên Luật công ty nhiều nước trên Thế giới đều điều chỉnh mô hình này thông qua pháp luật về công ty của họ
Trang 26Nếu xét theo định nghĩa chung về công ty thì công ty TNHH một chủ không phải là một công ty thực sự Luật công ty ở ý, Tây Ban Nha và các nước Nam Mỹ không cho phép thành lập loại hình doanh nghiệp này bởi theo
họ, về bản chất, công ty TNHH một chủ chính là doanh nghiệp tư nhân có trách nhiệm hữu hạn
Có thể nói, công ty TNHH một thành viên xuất hiện đầu tiên ở Đức Điều 1 Luật công ty TNHH của nước cộng hoà liên bang Đức quy định:
"Công ty TNHH do một hoặc nhiều người sáng lập trên cơ sở những quy định của Luật và theo đó có mục đích hoạt động được pháp luật cho phép"
ở Đức, công ty TNHH một thành viên được điều chỉnh bởi Luật công ty TNHH Đức (1892), được sửa đổi, bổ sung năm 1980 và có hiệu lực đến nay Công ty TNHH có một thành viên là một trong những kết quả pháp lý đặc biệt của quá trình phát triển đặc biệt của các công ty đối vốn, có khả năng tồn tại
và phát triển khi toàn bộ tài sản của công ty chuyển vào tay một thành viên duy nhất và trở thành công ty một chủ Công ty TNHH một chủ được hưởng quy chế pháp lý độc lập Điều đó có nghĩa là công ty tách rời với chủ sở hữu Pháp luật Đức gọi đây là nguyên tắc phân tách Nguyên tắc này được áp dụng trong mọi quan hệ tài sản, nợ nần và trách nhiệm của công ty, ngay cả trường
hợp công ty chỉ có một thành viên và là người điều hành duy nhất
Pháp luật Đức, kể cả Anh, Mỹ đều cho phép trong trường hợp công ty một người, thành viên duy nhất này vẫn có quyền được giải phóng khỏi trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm thuộc về công ty TNHH
Theo pháp luật Đức, nhà kinh doanh muốn thành lập công ty TNHH một chủ thì chủ sở hữu phải đảm bảo có đủ vốn pháp định là 50.000 DM (tương đương với 35.000 USD) (Điều 5 Luật công ty TNHH cộng hoà liên bang Đức) Chủ sở hữu phải tiến hành báo cáo thành lập Các tài liệu đánh giá
về công ty được kiểm tra tại Toà án đăng ký (Điều 8 Luật công ty TNHH Cộng hoà liên bang Đức) Để đảm bảo an toàn cho các chủ nợ và công chúng, luật quy định nguyên tắc bắt buộc đối với công ty TNHH nói chung và công
Trang 27ty TNHH một chủ nói riêng phải huy động đủ vốn và bảo toàn vốn ban đầu Trong Điều lệ công ty phải ghi rõ số vốn ban đầu Vốn góp có thể bằng tiền, hiện vật hoặc bản quyền của chủ sở hữu Trong trường hợp chủ sở hữu góp vào công ty bằng hiện vật hoặc bản quyền thì phải xác định giá trị, công ty sẽ trưng cầu giám định của các chuyên gia kiểm toán độc lập Chủ sở hữu công
ty TNHH một chủ nộp đủ toàn bộ vốn đã đăng ký mới được ký tên vào danh
bạ thương mại
Về cơ cấu tổ chức, công ty TNHH một chủ phải có hai cơ quan là Hội đồng quản trị và Giám đốc điều hành Hội đồng quản trị là cơ quan cao nhất của công ty, quyết định những vấn đề quan trọng nhất đồng thời cử ra giám đốc điều hành Giám đốc điều hành có thể là chủ sở hữu hoặc không phải là chủ sở hữu của công ty
Pháp luật Mỹ về công ty TNHH một thành viên có những quy định khác so với pháp luật Đức Trong những năm gần đây, pháp luật Mỹ mới quy định về loại hình công ty TNHH ở tất cả các bang của nước Mỹ, công ty TNHH một thành viên được điều chỉnh bởi Đạo luật thống nhất về công ty TNHH năm 1995
Về thủ tục thành lập công ty TNHH một thành viên, pháp luật Mỹ quy định đơn giản hơn so với pháp luật Đức: đó đơn thuần chỉ là việc đăng ký chứng chỉ thành lập tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền ở các bang Địa vị pháp lý của công ty TNHH một chủ (one - man company) do luật các tiểu bang quy định và nói chung không hoàn toàn giống nhau [33, Tr
168]
Cơ cấu tổ chức, điều hành công ty, nhiệm vụ, quyền hạn của chủ sở hữu công ty được quy định trong hợp đồng công ty Trong trường hợp hợp đồng công ty không có quy định về một vấn đề nào đó thì áp dụng tương tự các quy định hoặc thông lệ như là một công ty đối nhân Quy định này xuất phát từ đặc điểm của công ty TNHH ở Mỹ, đó là loại hình công ty kết hợp những đặc điểm giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn
Trang 28Luật Mỹ nói chung không bắt buộc chủ sở hữu phải có số vốn tối thiểu mà chỉ cần ghi vốn ban đầu vào Điều lệ thành lập công ty Nếu như ở Đức quy định chủ
sở hữu công ty góp vào công ty số vốn bắt buộc tối thiểu là 50.000 DM thì ở Mỹ lại không có quy định này Tại các công ty của Mỹ, quyền điều hành thuộc về Giám đốc công ty, các hoạt động quản lý và kinh doanh thường nhật do các quan chức công ty được Giám đốc bổ nhiệm, đặt dưới sự giám sát của Giám đốc Giám đốc phải đại diện cho lợi ích chung của toàn công ty Chế độ chịu trách nhiệm của chủ
sở hữu công ty là chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu phải gánh chịu rủi
ro, thua lỗ tương ứng với số vốn góp thành lập công ty
Nhìn chung, pháp luật điều chỉnh hoạt động công ty TNHH một thành viên ở
Mỹ được quy định rất ít, mặc dù loại hình công ty này rất phát triển ở Mỹ
ở Pháp, công ty TNHH một thành viên được hình thành từ năm 1985 và được điều chỉnh bởi các quy định tại các đạo luật từ số 85 đến số 697 ngày 11/05/1985 Điều 1832 Bộ luật dân sự nước Cộng hoà Pháp quy định: Công ty do hai hay nhiều người thành lập trên cơ sở thoả thuận bằng hợp đồng, sử dụng tài sản hoặc công nghệ của mình vào việc kinh doanh chung nhằm chia lãi hoặc thu lợi nhuận Trong những trường hợp do pháp luật quy định, công ty có thể do một người thành lập
Tại Pháp, công ty TNHH một thành viên được thành lập theo hai cách: Công
ty TNHH một chủ được thành lập mới hoặc từ loại hình công ty TNHH truyền thống có sự chuyển vốn vào tay một người
Đối với việc thành lập công ty TNHH một thành viên theo cách thứ nhất, Điều 1832 Bộ luật dân sự Pháp quy định: Công ty có thể do một người thành lập Công ty TNHH một chủ ở Pháp được thành lập trên cơ sở một hợp đồng đơn phương của cá nhân hay pháp nhân Đối với cá nhân, người này không phải là thương gia và không thể là thành viên độc nhất của nhiều công ty TNHH một chủ trong cùng một lúc Đối với pháp nhân, pháp luật của Pháp quy định khá nhiều loại pháp nhân có thể trở thành thành viên duy nhất của công ty TNHH một chủ
Đối với việc thành lập công ty TNHH một thành viên theo cách thứ hai, công ty được hình thành khi toàn bộ tài sản của công ty TNHH nhiều thành viên được chuyển vào tay một thành viên duy nhất Trong trường hợp này, pháp luật Pháp không áp dụng
Trang 29thủ tục giải thể đối với công ty TNHH ban đầu (Điều luật 36-1; Luật 223 - 4 Bộ luật thương mại) Hoa lợi của tất cả các phần vốn góp vào công ty thuộc về một người không quan trọng đối với sự tồn tại của công ty Như vậy, công ty TNHH nhiều chủ đã trở thành công ty TNHH một chủ
Về vốn góp, ở Pháp, vốn điều lệ của công ty TNHH một thành viên là 50.000
F, được chia thành từng phần có giá trị nhỏ nhất là 100 F Vốn góp của chủ sở hữu phải được công bố thì mới có hiệu lực đối với người thứ ba
Việc quản lý công ty TNHH một chủ có thể do chính thành viên duy nhất của công ty thực hiện hoặc do người thứ ba đảm nhiệm Thành viên duy nhất của công ty một chủ có thể tự uỷ nhiệm cho mình chức vụ quản lý Tuy chỉ có một thành viên nhưng thành viên công ty phải phân biệt giữa công việc công ty với công việc riêng của thành viên Thành viên duy nhất đảm nhiệm quyền hạn của Đại hội đồng, không nhất thiết phải tôn trọng những nguyên tắc về triệu tập hoặc hội họp Tuy nhiên, những quyết định của thành viên duy nhất cũng như hợp đồng được ký kết giữa thành viên này với công ty TNHH do chính thành viên làm đại diện phải được ghi vào biên bản hoặc lập thành văn bản
ở Pháp, công ty TNHH một chủ cũng có sự độc lập giữa tài sản của chủ sở hữu và tài sản của công ty Công ty có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm trong
số vốn điều lệ của mình
Qua phân tích trên, chúng ta thấy được nhiều điểm tương đồng giữa pháp luật về công ty TNHH một thành viên của Việt Nam và của các nước trên Thế giới như vấn đề thành lập, chế độ chịu trách nhiệm , tuy nhiên có những sự khác biệt
về con đường hình thành công ty TNHH một thành viên, quyền và nghĩa vụ của chủ
sở hữu Điều này xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi nước
Trang 30CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP (2005) VỀ
CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN 2.1 THỰC TRẠNG CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN TRƯỚC KHI LUẬT
DOANH NGHIỆP (2005) CÓ HIỆU LỰC
2.1.1 Thực trạng công ty TNHH nhà nước một thành viên
Luật doanh nghiệp (1999) với nhiều nội dung mới, đã cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam, cải cách một bước thủ tục hành chính, giúp các doanh nghiệp yên tâm hơn khi đầu tư vào quá trình sản xuất - kinh doanh
Luật doanh nghiệp (1999) với phạm vi điều chỉnh được mở rộng hơn
so với Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân (1990), là bước đầu tiên quan trọng tạo ra cơ sở pháp lý cho quá trình chuyển các cá thể kinh doanh ở Việt Nam sang hoạt động theo một Luật chung, xây dựng một Luật duy nhất cho tất cả các loại hình doanh nghiệp Đây là một tín hiệu rõ ràng về cải cách
hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về doanh nghiệp nói riêng ở nước
ta, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh cho cộng đồng doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, cho các tổ chức và các nhà đầu tư khác, phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Công ty TNHH nhà nước một thành viên là công ty TNHH do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp
Theo Nghị định số 63/2001/NĐ-CP ngày 14/09/2001 của Chính phủ
về chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành công ty TNHH một thành viên, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, do Nhà nước hoặc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quyết định nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc không thuộc diện giao, bán, khoán, cho thuê, giải thể, phá sản hoặc không nằm trong kế
Trang 31hoạch cổ phần hoá thì được chuyển đổi thành công ty TNHH nhà nước một thành viên
Tính từ khi Luật doanh nghiệp 1999 có hiệu lực đến hết năm 2005, ở nước ta đã tiến hành chuyển đổi được 217 doanh nghiệp nhà nước sang công
ty TNHH nhà nước một thành viên (Theo số liệu thống kê của Phòng sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp Nhà nước - Cục phát triển doanh nghiệp nhỏ và
vừa - Bộ Kế hoạch và Đầu tư )
Như vậy, số lượng công ty TNHH một thành viên ngày càng cao, đặc biệt là thông qua con đường chuyển đổi Việc thành lập công ty TNHH một thành viên theo cách chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được thực hiện theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII: "Chuyển các doanh nghiệp nhà nước hoạt động sang hoạt động theo cơ chế công ty TNHH một thành viên hoặc công ty cổ phần, bổ sung hình thức công ty TNHH chỉ có một sáng lập viên để áp dụng đối với doanh nghiệp kinh doanh 100% vốn Nhà nước"
Chủ trương này của Đảng ta đã được tiếp tục khẳng định trong Dự thảo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm 2001-2010 và Phương hướng nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm năm (2001-2005) trình Đại hội IX là: "Chuyển các doanh nghiệp kinh doanh sang hoạt động theo cơ chế công ty TNHH hoặc công ty cổ phần, phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền của doanh nghiệp, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm đầy
đủ trong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Đổi mới phương thức đầu
tư cho doanh nghiệp nhà nước thông qua công ty đầu tư tài chính của Nhà nước và thị trường vốn"[26]
Thực hiện các chủ trương trên của Đảng, Quốc hội khoá X, tại kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật doanh nghiệp (1999), trong đó, tại khoản 2 Điều 1
đã quy định: "Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội khi được chuyển đổi thành công ty TNHH, công
Trang 32ty cổ phần thì được điều chỉnh theo Luật doanh nghiệp Trình tự và thủ tục chuyển đổi do Chính phủ quy định"
Để thực thi Luật doanh nghiệp, ngày 20/7/1999, Thủ tướng Chính Phủ
đã ban hành Chỉ thị số 20/1999/CT-TTg, giao cho Bộ kế hoạch và đầu tư triển khai soạn thảo Nghị định về trình tự, thủ tục chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành công ty TNHH một thành viên Chính phủ ban hành Nghị định số 03/2000/NĐ-CP để cụ thể hoá quy định về công ty TNHH một thành viên Ngày 14/9/2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2001/NĐ-CP về chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội thành công ty TNHH một thành viên
Pháp luật về công ty TNHH một thành viên được quy định chung tại Luật doanh nghiệp (1999) (Từ Điều 46 đến Điều 50), Nghị định 03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp và một số văn bản pháp luật liên quan
Đối với doanh nghiệp nhà nước khi chuyển đổi sang công ty TNHH nhà nước một thành viên phải tuân theo đầy đủ thủ tục quy định tại Khoản 1, Điều 5, Nghị định số 63/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/09/2001
Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính Phủ, Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định danh sách và kế hoạch chuyển các doanh nghiệp độc lập do mình quyết định thành lập
Hội đồng quản trị Tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định danh sách và kế hoạch chuyển các doanh nghiệp thành viên Tổng công ty trình Thủ tướng Chính phủ quyết định
Hội đồng quản trị Tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền cho Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, lập danh sách
và kế hoạch chuyển các doanh nghiệp thành viên Tổng công ty trình Bộ
Trang 33trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định
Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng quản trị Tổng công ty nhà nước
do thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập thông báo cho doanh nghiệp chuyển đổi và tổ chức được uỷ quyền là đại diện chủ sở hữu công ty về kế hoạch chuyển đổi
Người có thẩm quyền quyết định kế hoạch và danh sách doanh nghiệp chuyển đổi là người ký quyết định chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty TNHH nhà nước một thành viên
Các doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành công ty TNHH nhà nước một thành viên phải đăng ký kinh doanh và thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của Luật doanh nghiệp và phải kèm theo quyết định chuyển đổi Công ty TNHH nhà nước một thành viên phải đăng ký lại quyền sở hữu tài sản được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký kinh doanh
Theo Điều 60 Luật doanh nghiệp nhà nước (2003) thì chủ sở hữu của công ty TNHH nhà nước một thành viên là Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước Chủ sở hữu thực hiện chức năng đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp chuyển đổi sở hữu này Cơ cấu quản lý của Tổng công ty nhà nước có Hội đồng quản trị bao gồm Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, các phó tổng giám đốc, kế toán trưởng và bộ máy giúp việc
Như vậy, kể từ khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực, hệ thống các cơ quan thực thi pháp luật về doanh nghiệp đã có nhiều nỗ lực và thành tích đưa pháp luật về công ty TNHH một thành viên vào cuộc sống, khuyến khích tính sáng tạo và tự chủ trong kinh doanh, làm cho cộng đồng doanh nghiệp tự
Trang 34tin hơn trong hoạt động đầu tư và kinh doanh, củng cố niềm tin của nhân dân vào đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước
Tuy đạt được những thành tựu đáng khích lệ nhưng việc thực thi pháp luật về công ty TNHH một thành viên đã vấp phải không ít những khó khăn,
và cụ thể hoá một số điều luật phải chờ tới ngày 03/02/2000 mới được ban hành và cũng chỉ phát sinh hiệu lực từ ngày 18/02/2000 Các quy định của Nghị định cũng chưa được áp dụng ngay mà phải chờ đến khi Bộ Kế hoạch
và Đầu tư ra Thông tư hướng dẫn (Thông tư số 03/2000/TT-BKH&ĐT được ban hành vào ngày 02/03/2000 và có hiệu lực kể từ ngày 17/03/2000) Trong thực tế, không ít địa phương phải tới nửa năm sau khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực mới có kế hoạch triển khai thi hành luật Điều này lại càng khó khăn hơn đối với công ty TNHH một thành viên, vì đây là loại hình doanh nghiệp mới mà phải đến Luật doanh nghiệp (1999) mới được ghi nhận Bởi vậy, nếu không có một hệ thống văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể thì các tổ chức khó có thể thành lập công ty TNHH một thành viên và hoạt động theo quy chế của loại hình này
Hơn nữa, các quy định pháp luật về công ty TNHH một thành viên nhìn chung còn quá ít ỏi chưa đủ để tạo thành cơ sở pháp lý cần thiết đảm bảo cho công ty TNHH một thành viên có thể đi vào hoạt động một cách có hiệu quả Thực tế hiện nay cho thấy, còn nhiều vấn đề liên quan đến hoạt
Trang 35động của công ty TNHH một thành viên cũng chưa được xử lý trong pháp luật hiện hành Đây là một trong những cản trở về mặt pháp lý đối với công ty TNHH một thành viên Ví dụ như về vấn đề tài chính đối với công ty này trong Luật doanh nghiệp mới chỉ quy định một số vấn đề có tính nguyên tắc như trách nhiệm trong đầu tư vốn, quyền rút vốn điều lệ của chủ sở hữu và việc phân phối lợi nhuận sau thuế Một số vấn đề quan trọng trong cơ chế tài chính như vay vốn, thay đổi cơ cấu tài sản của công ty chưa được đề cập đến một cách đầy đủ và cụ thể Trong điều kiện như vậy, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thi hành pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên là rất cần thiết
Còn vấn đề chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty TNHH một thành viên thì phải chờ đến Nghị Định số 63/2001/NĐ-CP ngày 14/9/2001 của Chính phủ thì mới có quy định về trình tự, thủ tục chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành công
đã tiếp tục xúc tiến việc chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước sang công ty TNHH nhà nước một thành viên, quá trình này được thực hiện theo lộ trình hàng năm nhưng chậm nhất trong thời hạn bốn năm kể từ ngày Luật doanh nghiệp (2005) có hiệu lực, các công ty nhà nước thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 phải chuyển đổi thành công ty TNHH hoặc công ty cổ phần
2.1.2 Thực trạng doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là đơn vị kinh doanh, hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài, do họ thành lập, tự quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh
Trang 36Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thành lập ở Việt Nam, tồn tại dưới hình thức công ty TNHH và là một pháp nhân Việt Nam, chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam
Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế theo hướng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 29/12/1987, Quốc hội nước ta đã thông qua và ban hành Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Trải qua hơn mười lăm năm thi hành Luật với bốn lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000, cùng với những thành tựu chung của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội, hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta đã đã được những kết quả khả quan, đáng khích lệ Trong đó, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã được nước ta khuyến khích đầu tư và phát triển
Chúng ta đã thu hút được một số lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khá lớn, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đặc biệt là trong những năm gần đây Đến năm 2003, nước ta có 73 quốc gia và vùng lãnh thổ vào đầu tư ở nước ta [28, Tr 41] Từ đầu năm 1998 đến giữa năm 2002, Nhà nước ta đã cấp 4.047 Giấy phép đầu tư nước ngoài với số vốn 41,5 tỷ USD Đây là một nguồn vốn quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế Trong ba năm gần đây, số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng lên vượt trội, đặc biệt là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Năm 2002, Nhà nước ta đã cấp Giấy phép đầu tư và thành lập cho 2.308 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là 1.561 doanh nghiệp: Doanh nghiệp có vốn đầu tư dưới 50 tỷ đồng Việt Nam là 1.130 công ty, doanh nghiệp có vốn đầu tư trên 50 tỷ đồng Việt Nam là 431 công ty Năm 2003, ở Việt Nam có 2.641 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có 1.869 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Doanh nghiệp
có vốn đầu tư dưới 50 tỷ đồng Việt Nam là 1.327 công ty, doanh nghiệp có vốn đầu tư trên 50 tỷ đồng Việt Nam là 542 công ty Số lượng này tăng đáng
Trang 37kể so với năm 2002 Năm 2004, Việt Nam có 3.156 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong đó 2.335 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: 1.646 doanh nghiệp có vốn đầu tư dưới 50 tỷ đồng Việt Nam, 689 doanh nghiệp có vốn đầu tư trên 50 tỷ đồng Việt Nam [29]
Với các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài góp phần quan trọng vào việc đổi mới, nâng cao sức cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế Bởi vậy, chúng ta có điều kiện tiếp nhận các công nghệ hiện đại của Thế giới nhằm phát triển một số ngành kinh tế, các khu chế xuất, các khu công nghiệp Thông qua hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chúng ta đã tạo điều kiện thay đổi tư duy và phong cách, phương pháp quản lý doanh nghiệp phù hợp với cơ chế thị trường Tại Hội nghị doanh nghiệp Châu á lần thứ 13 tổ chức tại Hà Nội (tháng 3/2003), nhiều đại biểu quốc tế đã đánh giá cao công cuộc đổi mới kinh tế nói chung và chính sách đầu tư của Việt Nam nói riêng Mặc dù môi trường quốc tế không thuận lợi, một loạt cải cách kinh tế đã làm cho niềm tin của các nhà đầu tư tăng lên nhiều [28]
Đại hội lần thứ IX của Đảng ta đã đánh giá: "Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, nước ta đã phát triển quan hệ kinh tế với hầu khắp các nước thu hút được một khối lượng khá lớn vốn từ bên ngoài cùng nhiều công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến"[2, Tr 150]
Nhìn chung, với tư cách là một doanh nghiệp, là một pháp nhân Việt Nam, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoàn toàn bình đẳng với các doanh nghiệp có
tư cách pháp nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế nước ta Xuất phát từ tính có hiệu quả và tính khả thi của các dự án đầu tư, đối với những dự án
mà Nhà nước ta chỉ cần thực hiện quyền quản lý nhà nước, để cho chủ đầu tư nước ngoài đầu tư dưới hình thức doanh nghiệp 100% vốn Trong trường hợp này, chủ đầu tư nước ngoài vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ về tài chính đối với Nhà nước
ta
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định thủ tục thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cơ bản giống thủ tục thành lập doanh nghiệp liên doanh Tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam dưới hình thức thành lập công ty TNHH 100% vốn nước ngoài phải gửi hồ sơ xin cấp giấy phép
Trang 38đầu tư đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép kèm theo Điều lệ của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, văn bản chứng minh tư cách pháp lý, tình hình tài chính của chủ đầu tư nước ngoài, những đảm bảo là chủ đầu tư nước ngoài có điều kiện đầu tư kinh doanh dài hạn tại Việt Nam Ngoài ra, đối với những dự án phải
áp dụng thủ tục cấp giấy phép đầu tư, chủ đầu tư còn phải nộp giải trình kinh tế kỹ thuật Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập sau khi được cấp Giấy phép đầu tư và chứng nhận đăng ký điều lệ doanh nghiệp
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thuộc sở hữu toàn bộ của chủ đầu tư nước ngoài Theo quy định của Luật đầu tư Việt Nam, chủ doanh nghiệp được quyền tự tổ chức bộ máy quản lý, điều hành; đồng thời, chịu trách nhiệm hoàn toàn
về mọi hoạt động của doanh nghiệp Trường hợp người chủ doanh nghiệp nếu không có điều kiện thường trú tại Việt Nam thì phải có giấy uỷ quyền hợp pháp cho người đại diện có thẩm quyền thường trú ở Việt Nam Người đại diện đó phải đăng
ký tại cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép đầu tư
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty TNHH, chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn Chính chế độ trách nhiệm này đảm bảo cho các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm bỏ vốn đầu tư dưới hình thức doanh nghiệp 100% vốn Kể cả trường hợp chỉ một cá nhân nhà đầu tư nước ngoài thành lập một doanh nghiệp 100% vốn bằng một phần tài sản của mình thì doanh nghiệp này vẫn cũng chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn Đây là đặc điểm khác biệt và có ưu thế so với với chế độ trách nhiệm của chủ doanh nghiệp tư nhân
2.2 NHỮNG QUY DỊNH CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP (2005) VỀ CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN
2.2.1 Quy chế thành lập, đăng ký kinh doanh, tổ chức lại, giải thể công ty TNHH một thành viên
• Thành lập công ty TNHH một thành viên
Theo khoản 1, Điều 63 Luật doanh nghiệp (2005): "Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm