Ở các phạm vi và mức độ khác nhau, có một số công trình đã được công bố, đề cập đến một số khía cạnh của pháp luật về doanh nghiệp như: “Luận án tiến sĩ Luật học của nghiên cứu sinh Xổm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Ngọc Dũng
HÀ NỘI - 2010
Trang 2Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP 6
1.1.MỘTSỐVẤNĐỀLÝLUẬNCƠBẢNVỀDOANHNGHIỆP 6
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp 6
1.1.2 Phân loại doanh nghiệp 9
1.1.2.1 Phương pháp phân loại doanh nghiệp 9
1.1.2.2 Các loại hình doanh nghiệp theo pháp luật ở các nước trên thế giới 11
1.1.2.3 Các loại hình doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành của nước CHDCND Lào 12
1.2.PHÁPLUẬTVỀDOANHNGHIỆP 16
1.2.1 Quan niệm về pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp 16
1.2.2 Hệ thống pháp luật về doanh nghiệp 19
1.2.2.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về doanh nghiệp 19
1.2.2.2 Cấu trúc bên trong của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về doanh nghiệp 20
1.2.2.3 Vai trò của pháp luật về doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường 23
1.2.3 Những yếu tố chi phối pháp luật về doanh nghiệp 26
1.2.3.1 Cơ chế quản lý kinh tế 26
1.2.3.2 Trình độ phát triển của thị trường 27
1.2.3.3 Truyền thống văn hóa kinh doanh 28
1.3 CẤU TRÚC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CHDCNDLÀO 29
Trang 3NƯỚC CH DCND LÀO 32
CHDCNDLÀO 32
TƯNƯỚCNGOÀIỞCHDCNDLÀO 35
LÀO 39
HỘKINHDOANHCÁTHỂỞNƯỚCCHDCND LÀO 42
CHDCNDLÀO 43 2.5.1 Những ưu điểm và thành công của hệ thống pháp luật về doanh nghiệp ở nước CHDCND Lào 43 2.5.2 Những nhược điểm, bất cập của hệ thống pháp luật về doanh nghiệp ở nước CHDCND Lào 47
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP Ở NƯỚC CHDCND LÀO 51
CỦACHĐCNLÀOVỀDOANHNGHIỆP 51 3.1.1 Việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp phải tiếp tục thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng NDCM Lào về doanh nghiệp 51 3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp phải căn cứ vào những đặc điểm của nền kinh tế thị trường ở nước CHDCND Lào 53 3.1.3 Pháp luật về doanh nghiệp phải phù hợp với đặc điểm văn hóa kinh doanh của người Lào 54 3.1.4 Việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp cần được đặt trong giải pháp tổng thể hoàn thiện pháp luật kinh tế của Lào 55
Trang 4CHDCNDLÀO VỀDOANHNGHIỆP 55
CỦANƯỚCCHDCNDLÀOVỀDOANHNGHIỆP 57 3.3.1 Về cấu trúc hệ thống pháp luật về doanh nghiệp 57 3.3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp nhà nước 61 3.3.3 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 62 3.3.4 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty 63 3.3.5 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể 63 KẾT LUẬN 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật Quyền tự do kinh doanh và bình đẳng của các doanh nghiệp chỉ thực sự được bảo đảm trên cơ sở hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện, mà trước hết là hệ thống pháp luật về tổ chức doanh nghiệp
Trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới cơ chế kinh tế ở Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật về các hình thức tổ chức kinh doanh nói riêng, được xây dựng trên nền tảng những đặc thù về chính trị, kinh tế - xã hội, có tính chất giải pháp tình thế, nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc do thực tiễn kinh doanh đặt ra
Với quan điểm xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, theo định hướng XHCN, những năm gần đây, Nhà nước Lào rất quan tâm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp Những vấn đề pháp lý về tổ chức doanh nghiệp được quy định trong nhiều văn bản khác nhau Nội dung của các VBPL này bên cạnh những thành công nhất định, còn bộc lộ nhiều bất cập cả về nội dung pháp lý và kỹ thuật lập pháp Tính phức tạp, mâu thuẫn, chống chéo là những biểu hiện không hiếm thấy trong pháp luật hiện hành về doanh nghiệp Thực tế này là nguyên nhân không nhỏ dẫn đến việc kìm hãm sự phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tạo ra
sự phân bổ các nguồn lực không hợp lý, tác động tiêu cực đến sản xuất, kinh doanh và tính công bằng trong môi trường kinh doanh
Năm 1986, tại Đại hội lần thứ IV Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã
đề ra chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để thực hiện đường lối đổi mới, Nhà nước CHDCND Lào đã ban hành nhiều VBPL nhằm khuyến khích
Trang 6phát triển kinh tế, phát huy nội lực, thu hẹp dần khoảng cách giữa Lào với các nước trong khu vực và trên thế giới
Hoàn thiện pháp luật là mục tiêu lý tưởng nhằm đạt được một hệ thống pháp luật phù hợp với thực tiễn các quan hệ xã hội, đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội Vì vậy, vấn đề hoàn thiện pháp luật luôn luôn được đặt ra với tính chất là một quá trình Vấn đề hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở nước CHDCND Lào cũng là một quá trình đã và đang diễn
ra dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn nhất định
Để góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở
CHDCND Lào, tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở nước CHDCND Lào” làm
đề tài cho luận văn tốt nghiệp cao học Luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về doanh nghiệp là một nội dung quan trọng của pháp luật kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, đang được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu Ở các phạm vi và mức độ khác nhau, có một số công trình đã được công bố, đề cập đến một số khía cạnh của pháp luật về doanh nghiệp như: “Luận án tiến sĩ Luật học của nghiên cứu sinh
Xổm Xay Xỉ Hà Chắc về Hoàn thiện pháp luật kinh tế trong quá trình đổi
mới quản lý kinh tế của Lào (2001); Luận văn thạc sĩ của Souliya
Pouangpadith về Các biện pháp khuyến khích và bảo hộ đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại CHDCND Lào (2007); Luận văn thạc sĩ của Bounthavy Insomedy
về Pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại CHDCND Lào – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện (2007)” Cho đến nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu chuyên biệt vấn đề về cơ sở
lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở nước CHDCND Lào
3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Trang 7Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là nêu ra những quan điểm, phương hướng và những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở nước CHDCND Lào
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, luận văn đề ra và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về doanh nghiệp và pháp luật về doanh nghiệp
- Phân tích những nội dung cơ bản của pháp luật về doanh nghiệp; đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của pháp luật hiện hành về doanh nghiệp của nước CHDCND Lào
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan điểm, tư tưởng luật học về doanh nghiệp và pháp luật về doanh nghiệp: Các VBPL thực định của nước CHDCND Lào; Pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc tế về doanh nghiệp; Thực tiễn xây dựng, áp dụng pháp luật về doanh nghiệp ở nước CHDCND Lào
Pháp luật về doanh nghiệp là một lĩnh vực pháp luật có nội dung rộng và phức tạp Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản trong pháp luật về tổ chức doanh nghiệp, đặc biệt là những nội dung có nhiều điểm bất cập, không đảm bảo tính thống nhất của pháp luật về doanh nghiêp
Phạm vi nghiên cứu của đề tài không bao gồm những vấn đề của hợp tác xã và pháp luật về hợp tác xã Mặc dù thực tiễn điều chỉnh pháp luật đối với hợp tác xã luôn gắn liền với hệ thống pháp luật về chủ thể kinh doanh, song hợp tác xã không thể hiện đẩy đủ bản chất của hình thức tổ chức kinh doanh theo đúng ý nghĩa đích thực của khái niệm pháp lý này Lý luận và kinh nghiệm quốc tế về hợp tác xã cho thấy, hợp tác xã theo quan điểm phổ biến trên thế giới được hiểu là một thiết chế kinh tế - xã hội, với những đặc
Trang 8điểm đặc thù, không hoàn toàn mang bản chất của doanh nghiệp kinh doanh thuần túy, thể hiện cơ bản ở nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nó
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên nền tảng của phương pháp luận biện chứng
duy vật, trên cơ sở các quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa
và xã hội của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào
Ngoài ra, luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học
cụ thể khác nhau, như: phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và đổi chiếu, phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn…
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
- Luận văn xây dựng quan điểm pháp lý tiến bộ và hiện đại về chức năng, vai trò và đặc điểm của pháp luật về doanh nghiệp; xác định rõ vị trí
và sự gắn bó chặt chẽ của pháp luật về doanh nghiệp với các lĩnh vực khác của hệ thống pháp luật, đặc biệt là trong mối liên hệ với pháp luật dân sự
- Chỉ rõ những bất cập, đặc biệt là những nội dung lạc hậu, những mâu thuẫn nội tại của pháp luật hiện hành về doanh nghiệp, đang ảnh hưởng xấu đến quyền tự do, bình đẳng trong kinh doanh, làm giảm hiệu quả tổ chức, vận hành doanh nghiệp của các nhà đầu tư
- Để xuất quan điểm tiến bộ và hiện đại về tiêu chí xác định hình thức pháp lý doanh nghiệp
- Để xuất giải pháp cấu trúc lại hệ thống pháp luật về doanh nghiệp đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật này, phù hợp với quan điểm xây dựng nền kinh tế thị trường
- Kiến nghị giải pháp sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật về tổ chức các loại hình doanh nghiệp phổ biến và điển hình trong cơ chế thị trường, nhằm tạo sự rõ ràng, minh bạch của pháp luật về doanh nghiệp, đảm bảo
Trang 9cho các nhà đầu tư tổ chức vận hành hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả, tự do và bình đẳng
Những quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp được đề xuất trong luận văn có khả năng ứng dụng ngay để thiết lập sự thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp cả về nội dung và hình thức, khắc phục sự mâu thuẫn nội tại của pháp luật về doanh nghiệp đã tồn tại ở nước CHDCND Lào trong nhiều năm qua
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về doanh nghiệp và pháp luật về doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp ở nước CHDCND Lào
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về
doanh nghiệp ở nước CHDCND Lào
Trang 10CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP
VÀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Với tính chất là một thực thể kinh tế - xã hội, doanh nghiệp là một đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có khoa học pháp lý Ở Lào, pháp luật hiện hành sử dụng khái niệm doanh ngiệp để chỉ các chủ thể kinh doanh chủ yếu trong nền kinh tế Tuy vậy, từ trước đến nay, những vấn đề lý luận về doanh nghiệp ít được đề cập dưới giác độ của khoa học pháp lý Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất, kinh doanh được
tổ chức, nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường, thông qua đó tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng Với quan điểm này, nền kinh tế vận hành theo cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung không bao hàm các yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Khái niệm doanh nghiệp dưới góc độ kinh tế - xã hội
Từ góc độ kinh tế - xã hội, các doanh nghiệp được coi là thành tố cơ bản của hệ thống kinh tế - xã hội Bản chất của doanh nghiệp là những thực thể xã hội, sinh ra với chức năng chủ yếu là hoạt động kinh doanh Doanh nghiệp được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau như: Cơ sở vật chất (vốn, tài sản), bộ máy quản lý điều hành, người lao động
Sự hình thành các doanh nghiệp là hệ quả tất yếu của sự phát triển hoạt động kinh doanh, kinh doanh là tổ chức việc sản xuất, buôn bán, dịch
vụ nhằm mục đích sinh lợi Hoạt động kinh doanh tồn tại với tính chất nghề nghiệp là cơ sở kinh tế xã hội Kinh doanh là hoạt động mang tính nghề nghiệp, điều đó có nghĩa là trong xã hội có những người, nhóm người, tổ chức mà nghề nghiệp chính của họ là kinh doanh, sống bằng nghề kinh
Trang 11doanh Thực tiễn đã chứng minh, kinh doanh với tính chất là một nghề nghiệp chỉ ra đời và phát triển khi phân công lao động trong xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định và hình thành nền sản xuất hàng hoá
Khái niệm doanh nghiệp dưới góc độ pháp lý
Từ góc độ pháp lý, doanh nghiệp được hiểu là một loại chủ thể pháp luật (có tư cách chủ thể pháp lý độc lập) và có nghề nghiệp kinh doanh Trong điều kiện kinh tế thị trường, doanh nghiệp trở thành đối tượng trung tâm chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật kinh doanh Điều này phần nào lý giải một thực tế là khái niệm doanh nghiệp xuất hiện trong khoa học pháp lý cũng như luật thực định đã từ lâu, nhưng khái niệm này chỉ được sử dụng một cách phổ biến trong bối cảnh kinh tế thị trường Trong cơ chế kinh tế thị trường, doanh nghiệp có những đặc điểm pháp lý cơ bản sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp là một loại chủ thể pháp luật Trong điều
kiện kinh tế thị trường, với việc thừa nhận quyền tự do kinh doanh, tất yếu
có sự tham gia vào hoạt động kinh doanh (hành nghề kinh doanh) của các
cá nhân, tổ chức thuộc các thành phần kinh tế và hình thức sở hữu khác nhau Khái niệm doanh nghiệp trong luật pháp có ý nghĩa là danh tính pháp
lý chỉ những chủ thế hành nghề kinh doanh để phân biệt với những chủ thể không có nghề nghiệp này Với tư cách là một loại chủ thể pháp luật, doanh nghiệp có năng lực chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật, trong đó trước hết và chủ yếu là các quan hệ kinh doanh Tư cách chủ thể pháp luật của doanh nghiệp có thể là tư cách cá nhân Trong trường hợp doanh nghiệp cá nhân, năng lực chủ thể pháp luật của doanh nghiệp chính là năng lực của chủ thể pháp luật của cá nhân trong việc tham gia các quan hệ kinh doanh theo quy định của pháp luật Trong trường hợp doanh nghiệp là một tổ chức, năng lực chủ thể của doanh nghiệp được phân biệt với năng lực chủ thể của những người (tổ chức hoặc cá nhân) đã tạo ra nó Ngoại trừ trường hợp doanh nghiệp cá nhân, doanh nghiệp tồn tại với tư cách pháp lý (tương đối) với chủ sở hữu của nó Thực tiễn pháp luật kinh doanh trên thế giới
Trang 12cũng như ở nước CHDCND Lào đã ghi nhận những doanh nghiệp không phải là pháp nhân và cũng không phải là cá nhân (công ty hơp doanh)
Thứ hai, doanh nghiệp được xác lập tư cách (thành lập và đăng ký kinh
doanh) theo thủ tục do pháp luật quy định Việc thành lập và đăng ký kinh doanh là cơ sở để xác định tính chất chủ thể pháp lý độc lập của doanh nghiệp, gắn với những đặc điểm của hoạt động kinh doanh Thủ tục xác lập tư cách pháp lý cho doanh nghiệp có sự khác nhau giữa các loại hình doanh nghiệp, phù hợp với những đặc điểm về mặt tổ chức của từng loại hình doanh nghiệp Ngoài ra, về phương diện chủ quan, thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh được quy định cho các doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào quan điểm của các quốc gia trong việc sử dụng quyền lực nhà nước để can thiệp vào thị trường Tuy vậy, xuất phát từ yêu cầu của tự do kinh doanh, xu hướng phổ biến hiện nay trên thế giới là thủ tục xác lập tư cách pháp lý cho doanh nghiệp ngày càng được đơn giản hoá nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư
Thứ ba, doanh nghiệp có nghề nghiệp kinh doanh Đặc điểm này
biểu hiện ở chỗ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện có
hệ thống, một cách độc lập, trên danh nghĩa và trách nhệm của doanh nghiệp, với mục đích sinh lợi và trong điều kiện do pháp luật quy định Tính chất có hệ thống của hoạt động kinh doanh có thể hiểu theo ý nghĩa thông thường của nó, tức là hoạt động kinh doanh có khuynh hướng lâu dài, không gián đoạn trong một thời gian nhất định và tiềm ẩn khả năng tái diễn thường kỳ
Ngoài ra, bản thân nghề nghiệp kinh doanh đã quy định mục đích thu lợi nhuận trong các hoạt động của doanh nghiệp Khi xác định mục đích lợi nhuận trong hoạt động của doanh nghiệp, cần hiểu là, “ý định” thu lợi của doanh nghiệp mới là tiêu chí quyết định, chứ việc đạt được lợi nhuận hay không cũng như việc sử dụng lợi nhuận đạt được cho mục đích gì không phải là dấu hiệu quyết định Hoạt động chính của tổ chức không phải là
Trang 13hoạt động kinh doanh, vì vậy, tổ chức không thể được xem là một doanh nghiệp, cho dù doanh số mà tổ chức đó thu được có thể là rất lớn Cơ sở để phân định mục đích lợi nhuận không phải là xem doanh nghiệp đạt được lợi nhuận hay không mà phải xem xét tính chất của hoạt động để sinh lợi
1.1.2 Phân loại doanh nghiệp
1.1.2.1 Phương pháp phân loại doanh nghiệp
Việc phân loại doanh nghiệp nhằm các mục đích khác nhau và được dựa trên các tiêu chí khác nhau Từ góc độ nghiên cứu và lập pháp, việc phân loại doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng cho việc lựa chọn cơ chế điều chỉnh pháp luật thích hợp đối với doanh nghiệp, cả về quản lý nhà nước và quản trị doanh nghiệp Phương pháp phân loại doanh nghiệp cũng
có ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc của hệ thống pháp luật doanh nghiệp
Lý luận và thực tiễn đã biết đến các cách phân loại doanh nghiệp phổ biến sau đây
Thứ nhất, phân loại doanh nghiệp căn cứ vào tính chất sở hữu và mục
đích hoạt động của doanh nghiệp Theo tiêu chí này, doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp tư và doanh nghiệp công Doanh nghiệp tư có bản chất kinh doanh thuần túy, hoạt động chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận và lấy lợi nhuận là cơ sở để tồn tại và phát triển Các doanh nghiệp tư thường được hình thành từ sở hữu tư nhân hoặc đa sở hữu Doanh nghiệp công được thành lập với sự can thiệp và chi phối của nhà nước trong chiến lược và mục tiêu hoạt động (thông qua nắm giữ một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của doanh nghiệp) Với cách phân loại này, doanh nghiệp được phân chia thành các loại chủ yếu như: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tập thể…
Thứ hai, phân loại doanh nghiệp theo cơ cấu nhà đầu tư và phương
thức góp vốn vào doanh nghiệp Theo cách phân loại này, doanh nghiệp được chia thành: doanh nghiệp một chủ sở hữu và doanh nghiệp nhiều chủ
sở hữu Chủ sở hữu của doanh nghiệp một chủ có thể là cá nhân hoặc tổ
Trang 14chức Theo pháp luật hiện hành của CHDCND Lào, các doanh nghiệp một chủ sở hữu bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân cá thể, Doanh nghiệp nhà nước, công ty nhà nước, công ty TNHH nhà nước một thành viên, công ty TNHH một thành viên Doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu
là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở sự liên kết của nhà đầu tư (do nhiều nhà đầu tư góp vốn thành lập) Những doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu thông thường được gọi là công ty Căn cứ vào tính chất của sự liên kết giữa các nhà đầu tư trong doanh nghiệp, doanh nghiệp nhiều chủ lại được chia thành: Doanh nghiệp hỗn hợp, hợp danh, hợp danh hữu hạn (pháp luật nhiều nước gọi là công ty hợp danh và công ty hợp danh hữu hạn), công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần Về bản chất, công ty nói chung (theo đúng ý nghĩa đích thực của nó) là một hình thức liên kết giữa các nhà đầu
tư trong xã hội Tuy nhiên, khác với những liên kết kinh tế thông thường,
sự liên kết trong trừơng hợp công ty bao giờ cũng tạo ra một tư cách chủ thể pháp luật mới
Thứ ba, phân loại doanh nghiệp theo tư cách pháp lý của doanh
nghiệp Với cách phân loại này, doanh nghiệp được phân chia thành: doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân Pháp nhân là một khái niệm kinh điển trong khoa học pháp lý cũng như luật pháp Thực tiễn pháp lý ở CHDCND Lào đã đề cập đến những doanh nghiệp không phải là cá nhân mà cũng không phải là pháp nhân (công ty hợp danh, hộ kinh doanh cá thể)
Thứ tư, phân loại doanh nghiệp theo chế độ trách nhiệm tài sản Đây
là phương pháp phân loại doanh nghiệp dựa trên mức độ chịu trách nhiệm tài sản trong hoạt động kinh doanh của chủ sở hữu doanh nghiệp Thực tiễn pháp lý đã biết đến hai loại chế độ trách nhiệm tài sản áp dụng cho các chủ
sở hữu doanh nghiệp là chế độ trách nhiệm vô hạn và chế độ trách nhiệm hữu hạn
Trang 151.1.2.2 Các loại hình doanh nghiệp theo pháp luật ở các nước trên thế giới
Sự phong phú, đa dạng của các hình thức tổ chức kinh doanh luôn có xu hướng vượt ra khỏi tầm bao quát của các nhà nghiên cứu cũng như các nhà lập pháp Doanh nghiệp của các nước trên thế giới được tổ chức theo rất nhiều hình thức pháp lý khác nhau, mà về lý luận khó có thể tổng kết thành quan điểm phổ quát Điều này xuất phát từ thực tế là các nhà kinh doanh đã tạo ra muôn vàn hình thức tổ chức doanh nghiệp để thích ứng với hoạt động kinh doanh của họ
Các loại hình doanh nghiệp theo hệ thống luật án lệ (Thông pháp)
Các loại hình doanh nghiệp theo pháp luật của các nước thuộc hệ thống Thông pháp được quy định rất phong phú, đa dạng và có những điểm khác nhau nhất định ở từng nước Tuy nhiên, ở mức độ tổng quát, có thể nhận thấy, các nước theo hệ thống luật Anh - Mỹ phân chia doanh nghiệp thành 2 nhóm chủ yếu là: hãng kinh doanh, và công ty
Hãng kinh doanh: Hãng kinh doanh được chia thành hai loại chủ yếu là doanh nghiệp cá nhân (Sole Priopretorship) và hợp danh (Partnership) Hãng kinh doanh theo pháp luật Anh - Mỹ đều chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản trong kinh doanh và không có tư cách pháp nhân Doanh nghiệp cá nhân thực chất là một cá nhân thực hiện nghề nghiệp kinh doanh Ở hình thức doanh nghiệp cá nhân, lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp được cộng vào thu nhập
cá nhân của chủ doanh nghiệp từ các nguồn khác để tính thuế thu nhập cá nhân, mọi chi phí kinh doanh của doanh nghiệp do cá nhân chủ doanh nghiệp thông qua và được trừ vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của chủ doanh nghiệp
Hợp danh là một dạng liên kết kinh tế có tính chất đối nhân giữa các nhà đầu tư Hợp danh được phân biệt với công ty trên cả phương diện lý luận cũng như cơ chế điều chỉnh pháp luật Những quy định về hợp danh được pháp điển hoá trong Luật Hợp danh (1890) của Vương quốc Anh
Trang 16được dựa trên cơ sở luật về đại diện (Agency) Theo đó, mỗi thành viên trở thành đại diện của các thành viên khác (Điều 5 Luật Hợp danh 1890) Vì vậy, nó tạo ra một khung pháp lý phù hợp với sự hợp tác của một số ít người với sự tin tưởng và tín nhiệm lẫn nhau
1.1.2.3 Các loại hình doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành của nước CHDCND Lào
Doanh nghiệp ở CHDCND Lào được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là: uy tín doanh nghiệp, thói quen tiêu dùng, khả năng huy động vốn; rủi ro đầu tư; tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp; tổ chức quản lý doanh nghiệp Do đó, khi cá nhân, tổ chức muốn thành lập doanh nghiệp thì việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Doanh nghiệp tư nhân: Theo điều 27 của Luật Doanh nghiệp định
nghĩa:
“Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và
tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân”
Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật; có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý thì chủ doanh
Trang 17nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh [10]
Điều 27 của Luật Doanh nghiệp được quy định việc xin giấp phép tổ chức thành lập doanh nghiệp Cách hiểu về doanh nghiệp tư nhân theo pháp luật hiện hành là phù hợp với quan điểm của đa số các nước về cá nhân kinh doanh hay doanh nghiệp cá nhân Điều 28 quy định quyền và nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp, Điều 29 quy định quản lý doanh nghiệp tư nhân có thể là chủ doanh nghiệp tư quản lý hay có thể thuê người khác làm giám đốc quản lý thay mình Cá nhân kinh doanh khác doanh nghiệp tư nhân ở chỗ cá nhân kinh doanh chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sự khác nhau giữa cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân theo pháp luật hiện hành không chỉ dừng lại ở định nghĩa pháp lý, mà thực chất có một sự phân biệt của pháp luật về tổ chức và hoạt động của hai loại chủ thể này
Công ty: Điều 78 của Luật Doanh nghiệp quy định ý nghĩa và địa vị
của thành viên trong công ty TNHH là người góp vốn hay người đầu tư trong công ty TNHH, việc mua cổ phần trong công ty là sư tập hợp vốn và đầu tư của người đầu tư gần giống với việc gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng mà người gửi không tham gia việc quản trị ngân hàng, nhưng được nhận lãi suất tiền gửi Sự ra đời của công ty gắn chặt với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế thị trường
Công ty trách nhiệm hữu hạn:
Công ty hợp danh (Partnership): Công ty hợp danh là một loại hình công ty trong đó các thành viên chia sẻ lợi nhuận cũng như thua lỗ của công ty mà họ cùng nhau vào Tại hầu hết các nước, công ty hợp danh được tạo nên từ một hợp đồng hợp tác giữa các cá nhân, những người với tinh thần hợp tác, đồng ý thành lập nên doanh nghiệp, đóng góp tài sản cho nó hoạt động và cùng chia sẻ lợi nhuận Giữa các thành viên có thể có một hợp đồng hợp tác hoặc một bản tuyên bố hợp tác Trong một số hệ thống luật pháp, những thỏa thuận như vậy có thể được đăng ký và công bố rộng rãi
Trang 18cho công chúng biết Ở nhiều nước, công ty hợp danh có thể được coi là có
tư cách pháp nhân, trong khi một số nước khác lại có quan điểm trái ngược Công ty hợp danh thường có lợi thế hơn so với các loại hình công ty khác vì nó không phải đóng thuế trên số lợi nhuận thu được, hay nói cách khác tránh được việc bị đánh thuế hai lần
Hình thức cơ bản nhất của công ty hợp danh là công ty hợp danh trách nhiệm chung (GP) trong đó mọi thành viên đều tham gia vào điều hành kinh doanh và đều chịu trách nhiệm cá nhân về các khoản nợ của công ty Hai hình thức khác cũng khá phát triển ở hầu hết các nước là Công ty hợp danh hữu hạn (LP) và Công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (LLP), Trong công ty hợp danh hữu hạn, ngoài các thành viên quản trị còn có các "thành viên trách nhiệm hữu hạn", những người này từ bỏ quyền điều hành doanh nghiệp để đổi lấy "trách nhiệm hữu hạn" đối với các khoản nợ của công ty Còn với Công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (LLP), tất cả các thành viên đều có trách nhiệm hữu hạn trong một mức độ nhất định
C Doanh nghiệp có vốn hỗn hợp và doanh nghiệp có vốn ĐTNN: Về
bản chất, doanh nghiệp cố vốn ĐTNN là các công ty, tuy nhiên quy chế pháp
lý cho các doanh nghiệp này không giống như các công ty có vốn đầu tư trong nước Nhiều ràng buộc pháp lý được đặt ra đối với các doanh nghiệp có vốn ĐTNN thể hiện ở một số vấn đề chủ yếu như: cấu trúc vốn, tổ chức quản lý nội bộ doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước trong nhiều trường hợp gây bất lợi cho các nhà ĐTNN, và mặt khác không phù hợp với đòi hỏi của nhiều hiệp định quốc tế đầu tư khác mà Lào ký kết hoặc tham gia Một số doanh nghiệp
có vốn ĐTNN, khi đáp ứng những điều kiện nhất định, có thể được chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần Đây là một điều chỉnh đáng kể của Nhà nước Lào về vấn đề tổ chức hoạt động của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN trong thời gian qua Công ty hỗn hợp là công ty mà bên Nhà nước liên doanh với các bên khác trong nước hay nước ngoài thành để thành lập
Trang 19d Doanh nghiệp nhà nước: Doanh nghiệp nhà nước có lịch sử tồn tại
khá lâu đời và hiện đang giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế theo quan điểm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước CHDCND Lào Trải qua quá trình phát triển, trong từng giai đoạn khác nhau, quan điểm pháp lý về doanh nghiệp nhà nước cũng có những thay đổi nhất định trước đòi hỏi của thực tiễn kinh doanh Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Doanh nghiệp nhà nước còn bao gồm cả những tổ chức kinh tế hoạt động công ích của Nhà nước Doanh nghiệp nhà nước theo cách hiểu này đã được điều chỉnh bởi pháp luật có sự khác biệt
rõ rệt với các loại hình doanh nghiệp khác cả về tổ chức và hoạt động Khái niệm công ty nhà nước được quy định tại khoản 1 Điều 191 Luật Doanh nghiệp: Công ty nhà nước được thành lập bởi 100 % vốn của Nhà nước và có thể bán một số cổ phần của mình cho cổ đông khác sau khi Nhà nước đã cho phép đăng ký kinh doanh, mà cao nhất không quá 50% số cổ phần Công ty nhà nước được thành lập chủ yếu ở những ngành, lĩnh vực cung cấp sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho xã hội; ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành và toàn bộ nền kinh tế; Đòi hỏi đầu tư lớn, có lợi thế cạnh tranh cao hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư
Công ty nhà nước có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, công ty được tiếp nhận vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn để đầu tư, hoạt động kinh doanh
Công ty nhà nước được tổ chức quản lý theo mô hình có hoặc không
có Hội đồng quản trị Các tổng công ty nhà nước sau đây có Hội đồng quản trị: (i) Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập; (ii) Tổng
Trang 20công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước; (iii) Công ty nhà nước độc lập
có quy mô vốn lớn, giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác
1.2 Pháp luật về doanh nghiệp
1.2.1 Quan niệm về pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp
Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp với tính chất là các thực thể kinh tế - xã hội là cơ sở thực tiễn cho sự ra đời và phát triển của pháp luật
về doanh nghiệp Pháp luật về doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống pháp luật kinh doanh Trên bình diện nghiên cứu, pháp luật về doanh nghiệp là một nội dung rất cơ bản trong chương trình nghiên cứu và giảng dạy pháp luật Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về bộ phận pháp luật này Từ góc độ lý luận, có thể tiếp cận khái niệm pháp luật về doanh nghiệp theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệp
là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp Tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp là một quá trình phức tạp, có thể nảy sinh nhiều quan hệ xã hội thuộc các lĩnh vực khác nhau Trên thực tế, khó có thể liệt kê đẩy đủ những quan hệ xã hội cụ thể phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp Các quan
hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệp trải rộng trên nhiều giai đoạn, nhiều lĩnh vực của quá trình tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp Khi thành lập doanh nghiệp, nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Việc đăng ký kinh doanh làm phát sinh quan hệ quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Sau khi được “khai sinh”, doanh nghiệp có tư cách là một loại chủ thể pháp luật Doanh nghiệp còn là đối tượng thuộc quyền sở hữu của những người
đã thành lập ra nó
Với đối tượng điều chỉnh như vậy, pháp luật về doanh nghiệp, theo nghĩa rộng, có thể được định nghĩa là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà
Trang 21nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp Từ quan điểm truyền thống của lý luận pháp luật ở Lào, thì pháp luật về doanh nghiệp là một lĩnh vực pháp luật bao gồm các quy phạm, các chế định được quy định trong các VBPL thuộc nhiều ngành luật khác nhau ( như Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Tài chính, Luật Hình sự, Luật Môi trường…), điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp
Theo nghĩa hẹp, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệp
là các quan hệ pháp luật về tổ chức doanh nghiệp Căn cứ vào quá trình tồn tại của doanh nghiệp, có thể xác định pháp luật về doanh nghiệp điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các giai đoạn sau:
Gia nhập thị trường: Khái niệm gia nhập thị trường được hiểu dưới
góc độ pháp lý với nội dung cơ bản là thành lập doanh nghiệp và đăng
ký kinh doanh
Quản trị doanh nghiệp: Quản trị doanh nghiệp thường được tiếp cận
dưới góc độ của khoa học quản lý và hiện đang có nhiều cách hiểu khác nhau Định nghĩa chính thức của tổ chức của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (Organisation For Economic Co-operration And Development, OECD) về quản trị doanh nghiệp là “hệ thống định hướng và quản lý công ty kinh doanh Cơ cấu quản trị doanh nghiệp xác định sự phân công quyền hạn
và trách nhiệm giữa các thành viên khác nhau tham gia trong công ty”(24, tr 11) Theo quan điểm của OECD, cơ cấu quản trị công ty phải hướng đến mục đích bảo vệ quyền lợi của các cổ đông; đảm bảo việc đối xử công bằng với các cổ đông, bao gồm cả các cổ đông nhỏ và cổ đông nước ngoài Theo Adrian Cadbury, quản trị doanh nghiệp là việc giữ cân bằng giữa những mục tiêu kinh tế và xã hội; giữa mục tiêu cá thể và cộng đồng
Rút khỏi thị trường: Rút khỏi thị trường đề cập tới vấn đề chấm dứt
hoạt động của nhà đầu tư Việc chấm dứt hoạt động kinh doanh có thể do
Trang 22nhiều nguyên nhân khác nhau và có ảnh hưởng trực tiếp tới những đối tượng có quan hệ với doanh nghiệp (đối tác hợp đồng, chủ nợ, người lao động…)
Có thể nhận thấy các quan hệ pháp luật về tổ chức doanh nghiệp phát sinh trực tiếp từ quá trình tạo lập, duy trì, biến đổi và chấm dứt tư cách chủ thể pháp luật của doanh nghiệp (thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh, tổ chức quản lý nội bộ của doanh nghiệp, tạo lập cơ cấu vốn,
tổ chức lại doanh nghiệp, giải thể doanh nghiệp…) Từ đó có thể định nghĩa: Pháp luật về doanh nghiệp là hệ thống các quy tắc xử sự, do Nhà nước ban hành hoặc thừc nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình gia nhập thị trường, quản trị hoạt động và rút khỏi thị trường của các doanh nghiệp
Trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn, pháp luật về doanh nghiệp thường được hiểu theo nghĩa này, và còn được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như: pháp luật về tổ chức doanh nghiệp, pháp luật các loại hình doanh nghiệp, pháp luật về các chủ thể kinh doanh, pháp luật về thương nhân Khái niệm pháp luật về doanh nghiệp được tiếp cận trong khoa học pháp lý với những cách hiểu có thể không giống nhau cả về thuật ngữ và nội dung pháp lý, nhưng nhìn chung pháp luật về doanh nghịêp được thường được hiểu là các quy định về tổ chức doanh nghiệp (gia nhập thị trường, quản trị doanh nghiệp và rút khỏi thị trường)
Với đối tượng điều chỉnh là các quan hệ xã hội về tổ chức doanh nghiệp, chức năng chủ yếu của pháp luật về doanh nghiệp là đảm bảo an toàn pháp lý cho các nhà đầu tư trong quá trình tạo lập doanh nghiệp, đầu
tư vốn và tổ chức vận hành doanh nghiệp Phương pháp điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệp chủ yếu là các phương pháp của luật đầu tư (tự
do, bình đẳng, thoả thuận…) Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng, việc phân biệt nội hàm của khái niệm pháp luật về doanh nghiệp theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp chỉ có tính chất tương đối Hệ thống pháp luật điều chỉnh tổ chức và
Trang 23hoạt động của doanh nghiệp là một chỉnh thể thống nhất; các bộ phận cấu thành pháp luật về doanh nghiệp dù được xác định trên nguyên tắc nào, luôn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về mặt nội dung
1.2.2 Hệ thống pháp luật về doanh nghiệp
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, có hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các
cơ quan quản lý nhà nước, của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân Trong
đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội Hệ thống pháp luật về doanh nghiệp cần được tiếp cận từ hai phương diện: hệ thống cấu trúc bên trong và hệ thống VBPL về doanh nghiệp
1.2.2.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về doanh nghiệp
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về doanh nghiệp cần được xem xét theo hai góc độ: theo chiều ngang và theo chiều dọc Về mặt lý luận chung, xét theo chiều ngang, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với hệ thống cấu trúc của pháp luật… Xét theo chiều dọc, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mang tính thứ bậc Với quan điểm tiếp cận đó, có thể xác định pháp luật về doanh nghiệp là hệ thống các VBPL thuộc nhiều cấp
độ hiệu lực khác nhau, chứa đựng các quy phạm pháp luật về doanh nghiệp Các VBPL về doanh nghiệp có thể rất phong phú, đa dạng và được ban hành vào các thời điểm khác nhau, nhưng đều có mối liên hệ mật thiết với nhau và tạo thành một hệ thống Trung tâm của hệ thống pháp luật về doanh nghiệp
Trang 24chỉnh bằng một luật đơn hành, trên cơ sở các quy định chung về doanh nghiệp trong Bộ luật Dân sự và Bộ luật Thương mại
Theo pháp luật của Cộng hoà Liên bang Đức, những vấn đề chung về doanh nghiệp (thương nhân) được quy định trong Bộ luật Dân sự và Bộ Luật Thương mại Bộ luật Thương mại quy định cụ thể về các vấn dề tổ chức và hoạt động của công ty hợp danh, công ty hợp vốn đơn giản (hợp danh hữu hạn), cá nhân kinh doanh Ngoài ra, các loại hình doanh nghiệp khác được quy định tại các luật đơn hành: Luật về Công ty hợp danh của những người hành nghề tự do, ngày 25/6/1994; Luật Công ty trách nhiệm hữu hạn 1892 (được sửa đổi lần mới nhất năm 1980); Luật Công ty cổ phần ngày 6/9/1965 (được sửa đổi lần mới nhất ngày 12/6/2003)
Ở Trung Quốc, hệ thống pháp luật về doanh nghiệp bao gồm các văn bản chủ yếu là: Luật Doanh nghiệp quốc hữu (doanh nghiệp nhà nước) ban hành 1988; Quy định về Hộ kinh doanh cá thể (1987); Luật Doanh nghiệp
cá thể, Luật về Hợp danh 1987; Luật Công ty 1993 Có thể nhận thấy, cấu trúc hệ thống VBPL về doanh nghiệp ở các nước rất đa dạng, không có một khuôn mẫu thống nhất Tuy nhiên, ngoại trừ một số nước có quy định một số loại hình doanh nghiệp trong Bộ Luật Dân sự (Cộng hoà Liên bang Nga) và
Bộ luật Thương mại (Đức, Pháp) Nhìn chung, mỗi loại hình doanh nghiệp được điều chỉnh bằng một đạo luật dân sự Cách tiếp cận này có ưu điểm rõ rệt là đảm bảo những vấn đề về tổ chức của từng loại hình doanh nghiệp được thể hiện một cách rõ ràng, phù hợp với đặc điểm riêng của từng loại hình doanh nghiệp
1.2.2.2 Cấu trúc bên trong của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về doanh nghiệp
Về cấu trúc bên trong, hệ thống pháp luật về doanh nghiệp được cấu thành bởi các quy phạm, các chế định pháp luật liên quan đến tổ chức doanh nghiệp (gia nhập thị trường, quản trị doanh nghiệp và rút khỏi thị trường) Về lý luận, hệ thống pháp luật về doanh nghiệp được xác lập phù
Trang 25hợp với chức năng của nó Theo L.C.B Gower, pháp luật về công ty, bộ phận chủ yếu của pháp luật về doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, có hai chức năng chủ yếu là: Ghi nhận quyền năng của các nhà đầu tư trong việc tạo lập tư cách công ty Quy định các điều kiện phải tuân thủ trong tổ chức vận hành công ty nhằm bảo vệ quyền lợi của thành viên, của các chủ nợ và toàn xã hội trước những rủi ro luôn tiềm ẩn khả năng được tạo ra bởi loại chủ thể này Theo Cally Jordan, chức năng cơ bản của Luật công ty bao gồm: Ngăn ngừa chiếm đoạt lợi ích của cổ đông bởi người quản lý; Ngăn ngừa chiếm đoạt lợi ích của cổ đông thiểu số bởi cổ đông đa số; Bảo vệ và điều hoà lợi ích của chủ nợ, người lao động Với chức năng như vậy, nội dung của pháp luật về doanh nghiệp chủ yếu là những quy phạm ghi nhận
và đảm bảo quyền, đồng thời xác định trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc tổ chức, vận hành doanh nghiệp Các nhóm quy phạm chủ yếu của pháp luật về doanh nghiệp bao gồm:
Các quy định về bản chất pháp lý của loại hình doanh nghiệp: Nội
dung của chế định này quy định những dấu hiệu pháp lý để xác định loại hình doanh nghiệp Mỗi loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm pháp lý nhất định và cần được xác định trong luật pháp Việc quy định về loại hình doanh nghiệp có thể có sự khác nhau nhất định giữa các quốc gia, phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể và ý chí chủ quan của các nhà
lập pháp
Các quy định về thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh:
Thành lập doanh nghiệp có ý nghĩa xác lập tư cách pháp lý cho doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, với yêu cầu của nguyên tắc tự do kinh doanh, thành lập doanh nghiệp được coi là quyền cơ bản của nhà đầu tư Chế định thành lập doanh nghiệp thừơng bao gồm những nội dung cơ bản: Đối tượng có quyền thành lập doanh nghiệp; ngành nghề kinh doanh; Thủ
tục đăng ký kinh doanh
Trang 26Các quy định về tổ chức, quản lý doanh nghiệp: Với yêu cầu của
nguyên tắc tự do kinh doanh, việc tổ chức quản lý (nội bộ) doanh nghiệp trước hết và chủ yếu thuộc quyền quyết định của chủ sở hữu các doanh nghiệp Pháp luật chỉ quy định ràng buộc những vấn đề cơ bản, mang tính nguyên tắc , xác lập “khung pháp lý” cho việc tổ chức quản lý doanh nghiệp Về lý luận, mức độ ràng buộc của pháp luật đối với việc tổ chức quản lý doanh nghiệp có sự khác nhau giữa các loại hình doanh nghiệp, phù hợp với cấu trúc vốn và cơ cấu thành viên của doanh nghiệp Nội dung của chế định tổ chức quản lý doanh nghiệp bao gồm các vấn đề cơ bản là:
Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý, thẩm quyền và thể thức hoạt động của bộ máy quản lý doanh nghiệp, nghĩa vụ của người quản lý doanh nghiệp, kiểm
soát giao dịch tư lợi
Các quy định về cấu trúc vốn của doanh nghiệp: Vốn là cơ sở vật chất
không thể thiếu cho sự tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp Từ phương diện pháp lý – kinh tế, vốn của doanh nghiệp được quan niệm là vốn kinh doanh, là giá trị của toàn bộ tài sản (đại lượng bằng tiền) được đầu tư vào hoạt động của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời Về mặt cấu trúc, vốn của doanh nghiệp là một chỉnh thể bao gồm các bộ phận có mối quan hệ tác động
qua lại lẫn nhau
Cấu trúc vốn của doanh nghiệp có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Căn cứ vào công dụng kinh tế và tính chất luân chuyển của tài sản, vốn của doanh nghiệp được chia thành ba bộ phận cơ bản là: Vốn cố định, vốn lưu động và vốn đầu tư tài chính Pháp luật thường chỉ ràng buộc một số vấn đề mang tính nguyên tắc (như nguyên tắc trích khấu hao tài sản, quản lý các chi phí sản xuất kinh doanh, quản lý doanh thu…) nhằm đảm bảo nghĩa
vụ tài chính của doanh nghiệp đối với Nhà nước Căn cứ vào nguồn hình thành vốn, vốn của doanh nghiệp được cấu trúc bởi: Vốn chủ sở hữu (vốn tự có) và vốn tín dụng (vốn vay) Cấu trúc vốn được xem xét từ góc độ này là đối
Trang 27tượng tác động chủ yếu của chế định pháp luật về cấu trúc vốn của doanh nghiệp
Các quy định về tổ chức lại doanh nghiệp: Tổ chức lại doanh nghiệp
là một nhu cầu chính đáng của các nhà đầu tư Nó có thể xuất hiện trong quá trình phát triển tự nhiên của doanh nghiệp Các quy định pháp luật về
tổ chức lại doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo việc tổ chức lại doanh nghiệp được thực hiện một cách thuận lợi, hiệu quả, đồng thời bảo vệ lợi ích của các chủ thể có liên quan, đặc biệt là lợi ích của chủ nợ và người lao động Tuy nhiên, các biện pháp tổ chức lại doanh nghiệp cho từng loại hình doanh nghiệp cụ thể có sự khác nhau theo quy định của pháp luật
Các quy định về giải thể doanh nghiệp: Giải thể doanh nghiệp là một
trong những thủ tục pháp lý dẫn đến chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp Các quy định pháp luật về giải thể và thủ tục giải thể Về nguyên tắc quyết định việc giải thể doanh nghiệp thuộc quyền của chủ sở hữu doanh nghiệp Tuy nhiên, khi doanh nghiệp không còn thoả mãn các điều kiện tồn tại theo quy định của pháp luật hoặc kinh doanh vi phạm pháp luật, thì bắt buộc doanh nghiệp phải giải thể
Ngoài ra, cần lưu ý rằng, phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp, hệ thống pháp luật về doanh nghiệp được cấu trúc với những chế định phù hợp với đặc điểm pháp lý của từng loại hình doanh nghiệp Trường hợp quan điểm phân loại doanh nghiệp dựa vào tính chất sở hữu, hệ thống pháp luật về doanh nghiệp bao gồm các chế định cơ bản là: Pháp luật về doanh nghiệp nhà nước, pháp luật về doanh nghiệp tư nhân (bao gồm doanh nghiệp cá nhân và công ty), pháp luật về doanh nghiệp hỗn hợp và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…
1.2.2.3 Vai trò của pháp luật về doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Trang 28Đối với các nhà đầu tư, pháp luật về doanh nghiệp không chỉ có vai trò đảm bảo quyền tự do và sự bình đẳng, mà còn có vai trò đảm bảo sự an toàn trong đầu tư vốn của họ Các quy định về định giá tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn, các quy định về tổ chức quản lý nội bộ đảm bảo quyền lợi của các thành viên doanh nghiệp, về giao dịch tư lợi, về nghĩa vụ người quản lý doanh nghiệp…
Thứ nhất, pháp luật về doanh nghiệp phải đảm bảo quyền tự do của
công dân trong tổ chức hoạt động kinh doanh Trong các quyền con người, quyền tự do kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi lẽ hoạt động này luôn có vị trí trọng yếu trong đời sống kinh tế, xã hội Hoạt động kinh doanh là một nhu cầu mang tính xã hội, là đòi hỏi tự thân của quá trình phát triển kinh tế, xã hội Ghi nhận và đảm bảo quyền tự do kinh doanh là nhiệm
vụ cơ bản của cả hệ thống pháp luật kinh tế, trong đó có pháp luật về doanh nghiệp Lý luận và thực tiễn đều cho thấy, quyền tự do kinh doanh không thể được thực hiện có hiệu quả trên thực tế nếu thiếu pháp luật về doanh nghiệp
Vai trò ghi nhận và đảm bảo quyền tự do kinh doanh của pháp luật
về doanh nghiệp thể hiện ở những nội dung cơ bản sau: Một là, pháp luật
về doanh nghiệp quy định những ngành nghề, lĩnh vực cấm hoặc hạn chế kinh doanh Việc quy định những ngành nghề, lĩnh vực cấm hoặc hạn chế kinh doanh có ý nghĩa to lớn đối với việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh của mọi công dân Đối với nhà kinh doanh, quy định này là cơ sở pháp lý
để họ chủ động lựa chọn ngành nghề kinh doanh thích hợp cho mình và phù hợp với pháp luật Hai là, pháp luật về doanh nghiệp quy định thủ tục đăng ký kinh doanh cho các nhà đầu tư Ý nghĩa của thủ tục đăng ký kinh doanh có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Về phía nhà đầu
tư, việc đăng ký kinh doanh có tính chất “thông báo” với công quyền về việc thực hiện quyền tự do kinh doanh của họ Về phía cơ quan nhà nước, bằng thủ tục đăng ký kinh doanh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập
Trang 29tư cách pháp lý cho các chủ thể kinh doanh Ba là, pháp luật về doanh nghiệp quy định các hình thức doanh nghiệp để các nhà đầu tư lựa chọn Khi thực hiện quyền tự do kinh doanh, các nhà đầu tư phải thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua các hình thức nhất định Bốn là, pháp luật về doanh nghiệp quy định các quyền và nghĩa vụ cụ thể của nhà đầu tư trong
tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cụ thể như: tổ chức bộ máy quản lý nội bộ của doanh nghiệp, mở rộng, thu hẹp quy mô kinh doanh, huy động vốn, chuyển đổi hình thức pháp lý của doanh nghiệp, chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp…
Thứ hai, pháp luật về doanh nghiệp đảm bảo quyền sở hữu vốn và tài
sản trong kinh doanh của các nhà đầu tư Vốn, tài sản là tiền đề vật chất không thể thiếu để thực hiện hoạt động kinh doanh Quyền sở hữu vốn và tài sản cần phải được ghi nhận bởi pháp luật Với các quy định về quyền và nghĩa vụ của người góp vốn vào doanh nghiệp, pháp luật về doanh nghiệp thể hiện vai trò tiếp tục phát triển các quy định về sở hữu trong dân luật đối với tài sản trong kinh doanh Tính đặc thù các quy định về sở hữu trong pháp luật về doanh nghiệp thể hiện ở chỗ pháp luật về doanh nghiệp bảo vệ quyền sở hữu tài sản trong trạng thái vận động, đồng thời hạn chế những tiêu cực do chế độ đa sở hữu trong kinh doanh của cơ chế thị trường gây ra
Thứ ba,pháp luật về doanh nghiệp là công cụ đảm bảo cho các
hoạt động kinh doanh vận hành theo các quy luật của thị trường Kinh doanh thị trường vận động theo những nguyên tắc, quy luật tự nhiên Trong điều kiện kinh tế thị trường, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho hoạt động kinh doanh là đòi hỏi khách quan, là nhiệm vụ
cơ bản toàn bộ hệ thống pháp luật Mỗi chế định pháp luật có chức năng
và nhiệm vụ khác nhau, song đều hướng tới việc tạo lập môi trường pháp
lý bình đẳng, tôn trọng quyền tự do của công dân
Thứ tư, pháp luật về doanh nghiệp góp phần giải quyết các vấn đề xã
hội Thực tiễn phát triển kinh tế thị trường cho thấy, tuỳ thuộc vào các điều
Trang 30kiện lịch sử kinh tế, xã hội, các nhà nước đều đặt ra các mục tiêu cao nhất, bản thân kinh tế thị trường không bao hàm cơ chế để giải quyết các vấn đề
xã hội Với tư cách là bộ phận cấu thành của pháp luật kinh doanh, pháp luật về doanh nghiệp góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp và lợi ích của các chủ thể có quan hệ với doanh nghiệp (chủ nợ, người lao động…) trong tổ chức hoạt động kinh doanh
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, những mục tiêu, nhiệm vụ được đặt ra không xuất phát từ yêu cầu của thị trường mà chỉ đơn thuần là chỉ tiêu pháp lệnh từ trung ương áp đặt cho doanh nghiệp Còn trong nền kinh tế thị trường thì trước khi xác định mục tiêu và nhiệm vụ, doanh nghiệp phải tiến hành phân tích đánh giá môi trường bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp tìm ra điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức sau đó mới để ra mục tiêu cho minh trên cơ sở những phân tích đó
1.2.3 Những yếu tố chi phối pháp luật về doanh nghiệp
Pháp luật về doanh nghiệp bị chi phối bởi nhiều yếu tố, khách quan
và chủ quan Mô hình pháp luật về doanh nghiệp có mối liên hệ phụ thuộc với đặc điểm về mặt tổ chức của các loại hình doanh nghiệp Với tư cách là một bộ phận cấu thành của kiến trúc thượng tầng, pháp luật về doanh nghiệp chịu sự chi phối sâu sắc bởi cơ sở kinh tế Bên cạnh đó, với tính chất là một bộ phận của hệ thống pháp luật, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, pháp luật về doanh nghiệp chịu tác động của các yếu tố chủ quan như: Cơ chế quản lý kinh tế, trình độ phát triển của thị trường, truyền thống văn hóa kinh doanh…
1.2.3.1 Cơ chế quản lý kinh tế
Cơ chế kinh tế là khái niệm chung để chỉ phương thức tự vận động của nền kinh tế Cơ chế kinh tế là yếu tổ khách quan, vốn có của nền kinh
tế Cơ chế kinh tế quyết định tính chất và nội dung của cơ chế quản lý kinh
tế Có thể khẳng định, theo cách tiếp cận này, pháp luật nói chung và pháp
Trang 31luật về doanh nghiệp nói riêng được xem là một bộ phận cấu thành của cơ chế quản lý kinh tế, là nhân tố chủ quan và bị chi phối bởi nhân tố khách quan là cơ chế kinh tế Trong mối quan hệ với cơ chế kinh tế, pháp luật nói chung và pháp luật về doanh nghiệp nói riêng phụ thuộc vào cơ chế kinh tế
Cơ chế kinh tế chi phối pháp lụât về doanh nghiệp cả về hình thức và nội dung Pháp luật về doanh nghiệp vì vậy chứa dựng chủ yếu các quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực luật công Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, pháp luật về tổ chức doanh nghiệp không thực sự được coi trọng, và không phải là phương tiện quan trọng nhất đề điều tiết kinh tế nói chung và điều chỉnh tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng
1.2.3.2 Trình độ phát triển của thị trường
Thị trường có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá Thị trường chính là trung tâm của cả quá trình sản xuất hàng hoá K.Marx đã khẳng định, pháp luật luôn phản ánh trình độ phát triển của kinh
tế xã hội, pháp luật lại có giá trị đảm bảo và thúc đẩy sự phát triển của kinh
tế - xã hội Là một bộ phận của pháp luật kinh doanh, nội dung và phương pháp điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệp được quy định bởi các quan
hệ kinh tế - xã hội về tổ chức kinh doanh
Trong mối liên hệ với thi trường, sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật về doanh nghiệp phản ánh trình độ phát triển của thị trường Điều này
có căn nguyên ở chỗ, việc tổ chức các loại hình doanh nghiệp phù hợp với đặc điểm và dung lượng của thị trường là một những điều kiện quan trọng cho sự thành công của các nhà đầu tư Sự phát triển của thị trường là động lực trực tiếp thúc đẩy sự ra đời, phát triển theo hướng ngày càng hoàn thiện của các loại hình doanh nghiệp Từ đó, hệ thống pháp luật về doanh nghiệp phải được xây dựng, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu tổ chức và vận hành các loại hình doanh nghiệp tương ứng với đặc điểm và dung lượng của thị trường
Trang 32Việc nhận thức đúng trình độ phát triển của thị trường để xây dựng
hệ thống pháp luật về doanh nghiệp là vấn đề có tính quyết định đến hiệu quả của pháp luật về doanh nghiệp Pháp luật về doanh nghiệp và sự phát triển của thị trường có sự tác động qua lại lẫn nhau Luật Doanh nghiệp đã đóng góp phần quan trọng vào việc tạo lập môi trường pháp lý bình đẳng cho hoạt động kinh doanh
1.2.3.3 Truyền thống văn hóa kinh doanh
Văn hoá là sản phẩm của một quá trình được tích luỹ qua nhiều thế
hệ Các lực lượng này tác động đến sở thích làm việc, tiêu thụ, đầu tư, tiết kiệm và đối mặt với rủi ro Bản chất con người có thể không đổi, nhưng nó được khắc hoạ bởi văn hoá Quan niệm cho rằng thành tích kinh tế không thể tách khỏi những đặc thù quốc gia là hiển nhiên, đó cũng chính là yếu tố hình thành nên văn hóa kinh doanh Tóm lại, văn hoá kinh doanh chính là cách thức hình thành và xây dựng một môi trường (bao gồm tập tục, quy định, thông lệ, thói quen, tư duy…) sản xuất, buôn bán trao đối sản phẩm hoặc dịch vụ giữa cá nhân với cá nhân, tập thể với cá nhân và tập thể mà trong đó yếu tố địa lý, thiên nhiên, gia đình, quốc gia, dân tộc đóng vai trò quyết định
Văn hoá kinh doanh đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành, phát
triển của hệ thống các doanh nghiệp cũng như phong cách kinh doanh của chúng Khẳng định văn hoá kinh doanh chi phối pháp luật về doanh nghiệp, cũng có nghĩa là khẳng định việc xây dựng pháp luật về doanh nghiệp cần dựa trên những chuẩn mực về văn hoá trong kinh doanh, có tính cộng đồng dân tộc Hiện nay nhiều doanh nghiệp chạy theo ISO không vì thực chất
mà là muốn có cái danh để bán hàng Thực tế ISO thì có danh nhưng không thể không thực chất Các doanh nghiệp có thể tham khảo ISO để tái tạo, nhưng ISO là một quá trình chung, và mỗi công ty thì phải có một quá trình
Trang 33riêng để áp dụng tuỳ đặc điểm văn hoá kinh doanh của mỗi công ty Vậy văn hoá kinh doanh là yếu tố vô cùng quan trọng
1.3 Cấu trúc hệ thống pháp luật về doanh nghiệp ở CHDCND Lào
Hệ thống các VBPL của CHDCND Lào về doanh nghiệp
Pháp luật về doanh nghiệp được xây dựng để quản lý doanh nghiệp ở nước CHDCND Lào nhằm cải tiến cách sản xuất, kinh doanh và dịch vụ phát triển lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, làm cho kinh tế - xã hội tiến bộ lớn mạnh, góp phần vào việc phát triển dất nước, nâng cao đời sống của nhân dân các bộ tộc Lào
Pháp luật về doanh nghiệp được sửa đổi, bổ sung từ Luật Kinh doanh (năm 1994) Luật Doanh nghiệp được bổ sung bởi Nghị định về doanh nghiệp năm 1993 Tương tự pháp luật của nhiều nước, Điều 1 của Luật Doanh nghiệp quy định mục đích của luật Trong lần giới thiệu dự thảo pháp luật về doanh nghiệp với Quốc hội ông SouriVông Đaravông (Bộ trường Bộ Năng lượng và Mỏ), cho rằng: “mục đích của dự thảo Luật Doanh nghiệp (mới) là nhằm vào thay đổi thật sự ở trong quá trình đăng
ký và cấp giấy phép kinh doanh được thuận lợi, dễ dàng, phục vụ quá trình đầu tư và hoạt động kinh doanh của mỗi đơn vị kinh doanh trong và ngoài nước theo lòng tin là (càng có nhiều người làm kinh doanh càng sẽ có nhiều đầu tư, sẽ có tổ chức nhiều việc làm sẽ có sự sản xuất, và quan hệ mua bán, nhân dân sẽ có nhiều thu nhập, Nhà nước giầu và kinh tế phát triển) Điều đó có tác dụng sau:
Một, làm cho tất cả các tầng nhân dân có thể đóng góp vào việc kinh
doanh được dễ dàng, đào tạo công dân biết làm kinh doanh về sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và buôn bán càng ngày càng tăng lên, tránh được khủng hoàng, tạo thâu việc làm, tăng thu nhập và giảm đói nghèo cho nhân dân các bộ tộc Lào
Trang 34Hai, tổ chức bầu không khí đầu tư cho tốt, làm cho người đầu tư trong
nước và nước ngoài dám đầu tư và có sự tin tưởng để liên doanh cùng nhau, cho dù quyền sở hữu có khác nhau [8]
Ba,tạo điều kiện cho việc tạo lập kinh doanh hợp lý, cho phát triển ví
dụ công bằng và có tư cách, giới hạn khe hở lợi dụng cơ hội và kinh doanh ngoài hệ thống
Bốn, cải tiến hệ thống quản trị doanh nghiệp rõ ràng, góp phần kiểm
soát được người tham gia hay người đầu tư có niềm tin và có sự đảm bảo
về pháp luật đối với tài sản mà mình đã đóng góp doanh nghiệp
Năm, đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước trong mô hình quản lý hiện
đại mà người đầu tư (Nhà nước) có thể kiểm soát được rõ ràng nguồn đầu tư Thị trường chứng khoán trong tương lai sẽ không có nguy cơ chịu trách nhiệm tài sản nợ thay doanh nghiệp nhà nước
Trong Điều 1 của Luật doanh nghiệp có cụm từ “tất cả thành phần kinh tế” điều dó có nghĩa là thành phần kinh tế được chia theo cơ sở của hình thức sở hữu Điều 2 của Luật doanh nghiệp quy định quyền sở hữu có
5 mô hình là: Quyền sở hữu của Nhà nước, quyền sở hữu tập thể, quyền sở hữu cá thể, quyền sở hữu tư nhân, quyền sở hữu cá nhân
Điều 1 của Luật Doanh nghiệp, quy định việc thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước nhằm mở rộng lực lượng tất cả các thành phần kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất, mở rộng kinh doanh, thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài Điều 13 Hiến pháp quy định việc khuyến khích và thúc đẩy kinh tế nhiều thành phần để xây dựng và phát triển kinh
tế quốc dân Phù hợp với quan điểm phân loại doanh nghiệp dựa trên tính chất sở hữu và thành phần kinh tế, pháp luật về doanh nghiệp có cấu trúc bên trong bao gồm những chế định cơ bản sau:
- Pháp luật về doanh nghiệp nhà nước
- Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân và các loại hình công ty
- Pháp luật về doanh nghiệp hỗn hợp và có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 35Nội dung của từng chế định nêu trên đều chứa đựng những quy định
về tổ chức và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp Đó là những quy định cơ bản về: Xác định tư cách pháp lý của doanh nghiệp, tổ chức quản
lý (nội bộ) của doanh nghiệp, quyền và nghĩa vụ cơ bản của doanh nghiệp, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu doanh nghiệp, chế độ pháp lý về vốn và phân chia lợi nhuận, tổ chức lại doanh nghiệp, chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP
Ở NƯỚC CỘNG HOÀ DCND LÀO
2.1 Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp nhà nước ở CHDCND Lào
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn
bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần Doanh nghiệp nhà nước là bộ phận cấu thành cơ bản của kinh tế nhà nước Với quan điểm duy trì vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, pháp luật về doanh nghiệp nhà nước ở Lào trong nhiều năm qua được xây dựng và hoàn thiện theo hướng ngày càng mở rộng quyền tự
do, tự chủ kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước Các doanh nghiệp nhà nước trước đây hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 1994 Năm 2005, luật này được sửa đổi bằng Luật Doanh nghiệp (mới), đánh dấu sự chuyển đổi quan trọng trong việc tạo lập khung khổ pháp lý cho doanh nghiệp nhà nước và chương trình cải cách doanh nghiệp nhà nước Luật Doanh nghiệp nhà nước (2005) và các văn bản hướng dẫn đã thể chế hoá các quan điểm, chủ trương đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Đây cũng là lần đầu tiên Nhà nước Lào ban hành một đạo luật quy định về doanh nghiệp nhà nước, bước đầu tạo ra một khung pháp lý tương đối đồng bộ, đảm bảo doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo pháp luật, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường So với Luật Doanh nghiệp (1994) thì Luật Doanh nghiệp (2005) về cơ bản đã bước đầu tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng hơn, nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp và có một số điểm khác biệt quy định đối với các doanh nghiệp nhà nước chủ yếu sau:
Thứ nhất: Về phạm vi các doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp nhà nước, điều 191 của Luật Doanh nghiệp (2005) quy định như sau: