Một số công trình, đề tài được in thành sách, tạp chí, các bài viết liên quan đến pháp luật lao động về việc làm đã giúp ích cho việc nghiên cứu, tham khảo về chế định này như đề tài cấp
Trang 1BỘ TƢ P HÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢ ỜNG Đ ẠI HỌC LU ẬT HÀ N ỘI
TRỊNH THỊ LINH CHI
CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM QUA THỰC TIỄN Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
M ã số : 60 38 50
LUẬN VĂN TH ẠC SỸ LUẬT HỌC NGƢ ỜI HƢ ỚNG DẪ N: TIẾN SỸ L Ƣ U BÌNH N H Ƣ ỠNG
HÀ NỘI - NĂM 2006
Trang 3MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1: N HỮNG VẤN ĐỀ C HUNG VỀ V IỆC LÀM , CHÍN H
SÁCH VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM THEO QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
5
1.1.2 Q uan niệm về việc làm và giải quyết việc làm theo tổ chức Lao động
quốc tế (ILO)
10
1.3 Mối quan hệ giữa việc làm với quan hệ pháp luật lao động 14 1.3.1 Việc làm là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ pháp luật lao động 14 1.3.2 Việc làm là nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động 15 1.3.3 Việc làm là cơ sở để duy trì quan hệ pháp luật lao động 15 1.4 Pháp luật lao động về việc làm và chính sách giải quyết việc làm theo
quy định của phá p luật la o động
16
1.4.2 Chính sách giải quyết việc làm theo quy định của pháp luật lao động 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠ NG CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ VIỆC
LÀM VÀ GIẢ I QUYẾT VIỆC LÀM Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TỪ
KHI THÀNH LẬP ĐẾN NAY (1996-2005)
26
2.1 Tầm quan trọng của vấn đề giải quyết việc làm ở thành phố Đà Nẵng 26 2.1.1 Bối cảnh chung về tình hình kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng 26 2.1.2 Vai trò, ý nghĩa của vấn đề giải quyết việc làm ở thành phố Đà Nẵng 27 2.2 Chính sách giải quyết việc làm tại thành phố Đà Nẵng 29 2.2.1 Tình hình ban hà nh các văn bản quy phạm pháp luật về giải quyết việc
2.2.2 Kết quả giải quyết việc làm của thành phố Đà Nẵng (1997-2005) 33 2.2.3 M ột số tồn tại, khó khăn trong công tác giải quyết việc làm ở thành phố
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ M ỘT SỐ G IẢI PHÁP VỀ CHÍNH SÁCH,
PHÁP LUẬT NHẰM GIẢI QUYẾT HIỆU QUẢ VIỆC LÀ M TẠI
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN TỚI
50
3.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội và m ục tiêu
giải quyết việc làm trong thời gian tới của thành phố Đà Nẵng
50 3.2 Kiến nghị một số giải pháp về chính sách, pháp luật nhằm giải quyết hiệ u
quả việc làm tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới
51
Trang 4CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BLLĐ: Bộ luật Lao động
DVVL: Dịch vụ việc làm
HĐND: Hội đồng nhân dân
ILO: International Labour Organizatio n (Tổ chức Lao động Quốc tế) LĐTBXH: Lao động, Thương binh và Xã hội
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Việc làm được thừa nhận có vai trò quan trọng trong việc ổn định tình hình chính trị - xã hội, là điều kiện quan trọng nhất để xóa đói giảm nghèo và
là cách thức để thông qua đó người lao động tích cực tham gia và khẳng định
sự đóng góp của mình đối với sự phát triển của đất nước
Trong nền kinh tế thị trường, việc làm và thất nghiệp là vấn đề mang tính toàn cầu, vấn đề này không loại trừ một quốc gia nào dù đó là nước đang phát triển hay nước có nền công nghiệp phát triển Giải quyết việc làm, chống thất nghiệp luôn là vấn đề nan giải, bởi vì việc làm và thất nghiệp vừa là mang tính kinh tế, xã hội vừa mang tính chính trị - pháp lý, không chỉ là vấn
đề trước mắt mà còn mang tính chiến lược lâu dài
Với ý nghĩa quan trọng của vấn đề việc làm, Đảng và Nhà nước ta đã
đề ra quan điểm bảo đảm việc làm cho dân là mục tiêu xã hội hàng đầu Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của các cấp, các ngành và của toàn xã hội Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010 xác định “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người,
ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân” [1]
Thành phố Đà Nẵng sau khi được chia tách từ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng trở thành đơn vị hành chính trực thuộ c trung ương, diện mạo thành phố
đã có nhiều thay đổi đáng kể, nhất là trong đầu tư cơ sở hạ tầng và chỉnh trang
đô thị, luôn duy trì được nhịp độ tăng trưởng kinh tế khá, ổn định, đời sống và thu nhập của người dân được cải thiện Sự nỗ lực không ngừng, v ươn lên của chính quyền và nhân dân thành phố đã được Đảng và Nhà nước công nhận Đà Nẵng là đô thị loại I từ ngày 01/8/2003 Đây là cơ sở để Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 16/10/2003 về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời
Trang 6kỳ mới Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới và phát triển đô thị vẫn còn nhiều tồn tại, khó khăn, trong đó tình trạng thất nghiệp ngày càng tăng và sức ép về giải quyết việc làm lớn đã ảnh hưởng không nhỏ đến m ục tiêu xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành đô thị văn minh, hiện đại, xứng đáng là trung tâm kinh
tế trọng điểm của miền Trung và Tây Nguyên
Trước yêu cầu đổi mới về công tác hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật về việc làm, việc nghiên cứu sâu sắ c vấn đề việc làm và thực tiễn áp dụng chính sách giải quyết việc làm ở địa phương là rất cần thiết Vì vậy, tôi
chọn vấn đề “Chính sách, pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm qua thực tiễn ở thành phố Đà Nẵng Thực trạng và giải pháp hoàn thiện" làm
đề tài luận văn thạc sỹ luật học của mình, với mong muốn góp phần làm sáng
tỏ về mặt lý luận, thực tiễn áp dụng và kiến nghị một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm của thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới
2 Tình hình ng hiên cứu đề tài
Từ trước đến nay có nhiều bài viết, đề tài nghiên cứu về chế định việc làm (trong nước) dưới góc độ kinh tế lao động và luật học Các ý kiến đóng góp và hướng hoàn thiện đúng đắn của các nhà khoa học đã được pháp luật lao động ghi nhận và điều chỉnh cho phù hợp trong những lần sửa đổi Bộ luật Lao động Một số công trình, đề tài được in thành sách, tạp chí, các bài viết liên quan đến pháp luật lao động về việc làm đã giúp ích cho việc nghiên cứu, tham khảo về chế định này như đề tài cấp Nhà n ước “Nguồn lao động và việc làm” năm 1992; đề tài cấp trường “Việc làm và giải quyết việc làm trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” năm 2004 của Trường Đại học Luật Hà Nội, tài liệu nghiên cứu "Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên" của TS Nguyễn Hữu Dụng Ngoài ra, có luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Văn Quynh, một số khoá luận tốt nghiệp của sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội thực hiện, nghiên cứu dưới góc độ lý luận luật học và một số bài viết đăng trên các tạp chí: Lao động và xã hội, Nghiên cứu lập pháp, Kinh tế và phát triển chủ
Trang 7yếu nghiên cứu ở góc độ chính sách kinh tế lao động việc làm Nhìn chung, việc nghiên cứu chủ yếu tập trung làm rõ những khía cạnh khác nhau về vấn
đề thực trạng nguồn nhân lực, chính sách tạo và giải quyết việc làm cho người lao động trong phạm vi cả nước hoặc bài viết mang tính thực tế ở một vài địa phương Riêng đề tài về chính sách việc làm và giải quyết việc làm của thành phố Đà Nẵng chưa có luận văn nào thực hiện
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu những vấn đề pháp lý cơ bản về việc làm và giải quyết việc làm theo quy định của Bộ luật Lao động
- Nghiên cứu hệ thống chính sách, các quy định về việc làm và giải quyết việc làm của thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn từ khi thành lập đến nay
- Tình hình thực thi chính sách, pháp luật về việc làm tại thành phố Đà Nẵng kể từ khi thành lập đến nay
- Các giải pháp hoàn thiện chính sách việc làm phục vụ cho quá trình phát triển của thành phố Đà Nẵng
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để tìm hiểu, nghiên cứu và thực hiện đề tài, luận văn đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa
M ác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí M inh về Nhà nước và pháp luật làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: hệ thống hóa, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, gắn lý luận với thực tiễn hoạt động giải quyết việc làm
5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ về mặt lý luận vấn
đề việc làm và sự điều chỉnh của pháp luật đối với vấn đề việc làm trên cơ sở phân tích thực trạng lao động, việc làm và chính sách giải quyết việc làm trong thực tiễn ở thành phố Đà Nẵng, từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá
và nêu kiến nghị một số giải pháp về chính sách, pháp luật nhằm giải quyết hiệu quả vấn đề việc làm tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới Từ mục đích và đối tượng nghiên cứu, luận văn tập trung giải quy ết các nhiệm vụ:
Trang 8Một là, nghiên cứu những vấn đề có tính khái quát chung về việc làm
và sự điều chỉnh của pháp luật lao động đối với vấn đề việc làm cũng như các chính sách giải quyết việc làm ở nước ta làm cơ sở cho việc nghiên cứu tiếp theo
Hai là, nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng chính sách giải quyết
việc làm ở thành phố Đà Nẵng kể từ khi thành lập đến nay để luận giải về nhu cầu và sự cần thiết khách quan về giải quyết việc làm trong phạm vi thành phố và trong mối quan hệ giữa thành phố với các tỉnh thuộc khu vực miền Trung - Tây Nguyên
Ba là, đưa ra kiến nghị một số giải pháp về chính sách, pháp luật nhằm
giải quyết hiệu quả việc làm tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Lĩnh vực việc làm tuy đã có những công trình nghiên cứu mang tầm vĩ
mô, vì vậy việc chọn và nghiên cứu sâu sắc đề tài này trong phạm vi hẹp sẽ có giá trị đối với công tác hoạch định chính sách giải quyết việc làm của địa phương Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu sâu th ực trạng và đánh giá ưu điểm và những mặt còn tồn tại của chính sách, pháp luật giải quyết việc làm ở thành phố Đà Nẵng, từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết việc làm cũng như khắc phục tính thiếu đồng bộ với các chính sách kinh tế - xã hội khác, khắc phục việc coi chính sách việc làm là loại chính sách phụ từ trước đến nay trong thực tiễn triển khai thực hiện
7 Cơ cấu của luận văn
Nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài, ngoài mục lục, lời nói đầu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về việc làm, chính sách và pháp luật về giải quyết việc làm theo quy định của pháp luật lao động
Chương 2: Thực trạng chính sách, pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm ở thành phố Đà Nẵng từ khi thành lập đến nay (1996 -2005)
Chương 3: Kiến nghị một số giải pháp về chính sách, pháp luật nhằm giải quyết hiệu quả việc làm tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆ C LÀM, CHÍNH SÁCH
VÀ PHÁP LU ẬT VỀ GIẢI Q UYẾT VIỆC LÀ M THEO
QUY ĐỊNH CỦA PH ÁP LUẬT LAO ĐỘNG
1.1 QUAN NIỆM VỀ VIỆC LÀ M
1.1.1 Quan niệm về việc làm ở Việt Nam
1.1.1.1 Dưới góc độ kinh tế - xã hội
Mỗi cá nhân từ khi sinh ra, lớn lên, trưởng thành đều mong muốn tìm được việc làm phù hợp với khả năng, nguyện vọng và sở thích của mình để được làm việc và có thu nhập để trang trải cuộc sống của bản thân và nuôi sống người thân trong gia đình Vấn đề việc làm trở nên quan trọng và bức xúc hơn khi dân số ngày càng đông, chỗ làm việc ít, người lao động buộc phải
tự cạnh tranh để tìm được việc làm Việc làm và thất nghiệp trở thành nỗi ám ảnh thường trực đối với bất kỳ người nào Đối với quốc gia, chỉ số về tạo việc làm và thất nghiệp là những phản ánh quan trọng về thực trạng phát tri ển kinh
tế - xã hội của đất nước Để giải quyết vấn đề việc làm cần phải có chính sách phát triển kinh tế và các biện pháp để thực thi hiệu quả Trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế thị trường hiện nay, việc nghiên cứu vấn đề việc làm không thể tách rời thị trường lao động, nguồn nhân lực có chất lượng và hệ thống các quan hệ thị trường
Dưới góc độ ngôn ngữ học cho rằng, “việc làm” [29] là từ ghép gồm hai từ “việc” và “làm” “Việc” được hiểu là công việc, công chuyện phải làm như “việc nhà, việc nước”, hay đi kèm động từ để trở thành danh từ hóa như
“việc phòng, chống cháy rừng” Còn từ “làm” là động từ được hiểu là sự
“thực hành” trong thực tế một công việc cụ thể, có nghĩa là phải bỏ sức lao động ra để có thành quả hay cái thiết yếu cho cuộc sống của mình; hay có nghĩa bỏ sức lao động và làm việc thuộc một nghề nào đó thường mang tính lâu dài, ví dụ “làm ruộng, làm thầy thuốc”, ngoài ra nó còn được dùng với mục đích nào đó như “cây trồng làm cảnh” Vì vậy, “việc làm” nói chung là
Trang 10về các công chuyện có mục đích, có thể cần phải dùng trí lực hay sức lực để
có được thu nhập sinh sống Việc làm là đối tượng của sự làm việc, của hành động thực hiện nó Khi có sự làm việc thì chắc chắn tồn tại một việc làm
Dưới góc độ kinh tế, việc làm trước hết là vấn đề cá nhân người lao động, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh cuộc sống của mỗi người Lao động - việc làm luôn được coi là nhu cầu cơ bản nhất, chính đáng và lớn nhất của con người Ph.Ăngghen đã khẳng định lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con người, chính lao động đã tạo ra chính bản thân con người Từ khi sinh ra ai cũng có nhu cầu, phương tiện để tồn tại, để ăn, mặc
Để đáp ứng được nhu cầu đó, con người không có cách nào khác là phải lao động để tạo ra của cải vật chất, hay nói các h khác con người phải tham gia thực hiện công việc nào đấy để được trả công (thu nhập) thỏa mãn nhu cầu của bản thân Cho dù với tư cách là người làm thuê hay người sử dụng lao động thì tiền công hay lợi nhuận thu được luôn là mục đích mà người lao động hướng đến, mong muốn đạt được
Trong nền kinh tế thị trường, việc làm thực hiện thông qua sức lao động được coi là hàng hoá có thể đem bán trên thị trường và có ích lợi cho người mua nó Theo đó, việc làm được đánh giá theo các tiêu chuẩn như: tính chất địa lý, kỹ thuật của việc làm, các yêu cầu về năng lực, trình độ tay nghề, kinh nghiệm, tính cơ động của việc làm Lao động thông qua quá trình thực hiện việc làm của người lao động là yếu tố quan trọng của đầu vào sản xuất và
là cơ sở để xem xét việc trả cô ng cho người lao động Mức tiền công thể hiện giá trị mà người lao động nhận được trên cơ sở trao đổi sức lao động Tiền công là giá cả của lao động cụ thể, được phản ánh thông qua giá trị của việc làm Do vậy, việc làm càng có giá trị cao thì mức trả công càng lớn
Việc làm không chỉ mang tính kinh tế mà còn mang tính xã hội Bởi vì, con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội đã thể hiện mối quan hệ giữa mỗi cá nhân sống trong cộng đồng, gia đình, đó là mối liên hệ qua lại, tương
hỗ Việc làm của mỗi người luôn gắn liền với các hoạt động sản xuất của xã hội Mỗi cá nhân không những phải làm việc, tạo ra thu nhập thỏa mãn lợi ích
Trang 11cá nhân mà còn có nghĩa vụ đem lại lợi ích cho những người khác trong gia đình và cộng đồng Việc làm luôn là vấn đề của cá nhân , nhưng không phải mọi việc làm đều được xã hội công nhận, nói cách khác trong xã hội có rất nhiều loại hoạt động tạo ra thu nhập nhưng không được coi là việc làm theo góc độ xã hội lẫn luật pháp
Như vậy, dưới góc độ kinh tế - xã hội, việc làm được hiểu là các hoạt động lao động, đem lại lợi ích, thu nhập cho người lao động và việc làm của mỗi cá nhân luôn gắn liền với các hoạt động sản xuất của xã hội
Bên cạnh khái niệm việc làm là khái niệm thất nghiệp và người thất nghiệp cũng được các nhà khoa học giải thích theo nhiều cách khác nhau Theo ILO thì "thất nghiệp" là tình trạng tồn tại khi một người trong độ tuổi lao động mong muốn và có khả năng làm việc, rất tích cực tìm kiếm nhưng không tìm được việc làm vì lý do không có chỗ làm việc trống hoặc trình độ
chuyên môn không phù hợp Còn "người thất nghiệp" được hiểu là người
trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang không có việc làm và đang
đi tìm việc làm và sẵn sàng đi làm ngay khi có việc làm
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, việc làm và thất nghiệp là vấn
đề mang tính toàn cầu mà các quốc gia không thể tránh khỏi Thực tế đã chứng minh ở các nước có nền kinh tế phát triển luôn tồn tại một số lượng người thất nghiệp Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp trong giới hạn cho phép tạo ra
sự cạnh tranh bình đẳng về lao động, từ đó tạo ra động lực kích thích sự tăng năng suất lao động và sử dụng nguồn lao động có hiệu quả hơn Vấn đề đặt ra
là Nhà nước phải xác định được giới hạn của tình trạng thất nghiệp để không trở thành vấn đề xã hội gay gắt, ản h hưởng đến nền kinh tế và an toàn xã hội Bởi vì khi tỷ lệ thất nghiệp trong giới hạn cho phép thì nó trở thành yếu tố tích cực tạo ra động lực phát triển kinh tế, và ngược lại, nếu thất nghiệp vượt quá giới hạn cho phép thì nó trở thành vấn đề xã hội gay gắt Do vậy phải giải quyết mối quan hệ giữa chính sách phát triển kinh tế và chính sách xã hội trong lĩnh vực giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là vấn đề kinh tế - xã hội tổng hợp và phức tạp, là
Trang 12vấn đề quan trọng đảm bảo ổn định, công bằng và ti ến bộ xã hội Giải quyết việc làm bao gồm các vấn đề liên quan đến phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, phát triển thị trường lao động Đây là quá trình diễn ra lâu dài, bắt nguồn từ vấn đề giáo dục và đào tạo, phổ cập nghề nghiệp để người lao động chuẩn bị bước vào cuộc sống tự lập của mình, đến vấn đề tự do lao động và thụ hưởng thành quả do lao động tạo ra, đồng thời cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động Vấn đề tạo và giải quyết việc làm luôn gắn với các chương trình phát triển kinh tế Theo đó, giải quyết việc làm chủ yếu hướng vào đối tượng và đưa ra mục tiêu, biện pháp để giảm tỷ lệ thất nghiệp, khắc phục tình trạng thiếu việc làm, tăng thu nhập Nội dung giải quyết việc làm được giới hạn trong khuôn khổ phạm vi của c hính sách xã hội, tạo việc làm chính là giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần ổn định và an toàn xã hội
1.1.1.2 Dưới góc độ pháp lý
Quan niệm về việc làm ở nước ta được nhận thức một cách khác nhau qua các thời kỳ lịch sử của đất nước Trong giai đoạn nền kinh tế kế hoạch, tập trung, bao cấp trước đây, với chủ trương của Đảng và Nhà nước là xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu tư liệu sản xuất với hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể Những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, hợp tác xã, tổ hợp tác mới được được thừa nhận là có việc làm Trong cơ chế đó, Nhà nước không thừa nhận sự tồn tại hiện tượng thất nghiệp cũng như hiện tượng phá sản, cạnh tranh, các quyền
tự do kinh doanh bị hạn chế Điều này được thể hiện trong các bản Hiến pháp Với quan niệm một chiều, mọi công dân đều có quyền có việc làm, Nhà nước phải có nghĩa vụ cam kết đảm bảo việc làm đầy đủ thông qua cơ chế kế hoạch hóa tập trung, dựa vào kế hoạch phát triển kinh tế và văn hóa mà tạ o thêm việc làm, sắp xếp công việc căn cứ vào năng lực, nguyện vọng cá nhân và yêu cầu của xã hội, nâng cao trình độ nghề nghiệp, bồi dưỡng sức lao động, không ngừng cải thiện điều kiện làm việc của lao động chân tay và lao động trí óc (Điều 58 Hiến pháp 1980) Nhà nước có trách nhiệm tạo việc làm và bảo đảm
Trang 13cho công dân có chỗ làm việc theo chế độ biên chế suốt đời, thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa Nhưng trên thực tế, quy định này không có tính khả thi
Từ khi chuyển sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, vấn
đề việc làm được nhìn nhận với quan điểm mới Trước hết, việc làm được coi
là một nhu cầu chính đáng của con người và quyền làm việc đã trở thành một trong những quyền cơ bản của công dân, Hiến pháp 1992 ghi nhận "Lao động
là quyền và nghĩa vụ của công dân" (Điều 55) Từ đây, quan điểm về việc làm
đã có nhiều thay đổi đáng kể Thứ nhất, quan niệm việc làm đầy đủ cho mọi công dân không còn nữa mà đã trở thành mục tiêu trong chính sách tạo việc làm cho mọi người trong xã hội, bằng cách Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo việc làm ngày càng nhiều cho người lao động Thứ hai, mọi người lao động phải tự tổ chức tìm kiếm việc làm cho bản thân vì cuộc sống của mình Việc quy định thừa nhận công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy đị nh của pháp luật đã thể hiện sự năng động trong việc tự tạo việc làm mà không trông chờ, ỷ lại Nhà nước Hơn nữa, từ khi BLLĐ ban hành từ năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) đã củng cố quan niệm việc làm Nếu như trước đây, người lao động làm việc trong k hu vực quốc doanh và tập thể mới coi là có việc làm thì ngày nay đã chỉ rõ "mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không
bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm" (Điều 13 BLLĐ)
Như vậy, việc làm dưới góc độ pháp luật được hiểu là hoạt động lao động hợp pháp, tạo ra thu nhập chính đáng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân và gia đình Quan niệm việc làm cũng áp dụng đối với người nội trợ trong gia đình mặc dù không có yếu tố tạo ra thu nhập nhưng vẫn được Nhà nước thừa nhận là người có việc làm Quan niệm về việc làm theo pháp luật lao động đã làm thay đổi một cách cơ bản so với trước đây Người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế có quyền tự do lựa chọn công việc phù hợp với nguyện vọng và khả năng của bản thân; được tự do lựa chọn nơi làm việc phù hợp với điều kiện sống và lựa chọn người sử dụng lao động để thiết lập quan hệ lao động cũng như thay đổi, chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật, đã thể hiện nguyên tắc "công dân được làm tất cả
Trang 14những gì mà pháp luật không cấm" Theo quan niệm mới về việc làm đã phù hợp với điều kiện kinh tế -xã hội của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay
Cùng với chủ trương tạo mở việc làm thông qua nhiều biện pháp, trong
đó có chính sách mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài đã thúc đẩy tinh thần tíc h cực, chủ động của người lao động trong tìm kiếm việc làm, khuyến khích chủ
sử dụng lao động tạo ra nhiều việc làm mới, góp phần tháo gỡ những khó khăn trong chính sách giải quyết việc làm cho người lao động
Trong cơ chế thị trường, giải quyết việc làm phải dựa trên quan hệ cung
- cầu của thị trường lao động, lựa chọn mọi biện pháp giải phóng tiềm năng lao động, cho người lao động quyền tự do trong lao động Tự bản thân người lao động phải phát huy năng lực sáng tạo, tính năng động của mình trong việc
tự tạo việc làm, đồng thời thụ hưởng đúng giá trị lao động mà mình đã tạo ra, không phụ thuộc vào Nhà nước Vấn đề giải quyết việc làm không chỉ là trách nhiệm của cá nhân người lao động mà còn là của Nhà nước, các doanh nghiệp
và xã hội
Vì vậy, giải quyết việc làm dưới góc độ pháp lý chính là việc Nhà nước ban hành các chính sách để thực thi pháp luật lao động về việc làm Thông qua các chương trình mục tiêu về việc làm, bằng những cơ chế, biện pháp pháp lý để tạo việc làm cho người lao động, hạn chế thất nghiệp, góp phần ổn định an ninh, chính trị, trật tự xã hội của đất nước
1.1.2 Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO)
Ngay từ những ngày đầu thành lập (năm 1919), trong lời nói đầu của điều lệ ILO đã nêu mục tiêu chống thất nghiệp, đảm bảo tiền công đủ sống Vấn đề việc làm và chống thất nghiệp là nội dung quan trọng trong các chương trình nghị sự tại các hội nghị thường niên của ILO như "Chương trình việc làm thế giới" năm 1969 với mục tiêu tạo việc làm có hiệu q uả cho một số lượng lớn người dân; năm 1976, ILO tổ chức Hội nghị việc làm thế giới và thông qua Tuyên ngôn về các nguyên tắc và các chương trình hành động nhằm loại trừ nghèo khổ, phát triển việc làm đầy đủ, có hiệu quả, thỏa mãn
Trang 15nhu cầu lao động cơ bản của người lao động
Theo ILO, người có việc làm là người làm một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật
Ngoài ra, các Công ước và khuyến nghị về chính sách việc làm, chống thất nghiệp, điều kiện an toàn lao động của ILO không chỉ tạo tiền đề pháp lý cho việc đảm bảo quyền tự do việc làm mà còn định hướng những quy định của pháp luật lao động về quyền tự do việc làm Trong những năm qua, chính sách giải quyết việc làm của ILO có những bước phát triển tích cực Đặc biệt, Công ước số 122 (1964) về chính sách việc làm ILO kêu gọi các nước thành viên giải quyết việc làm phải hư ớng tới các cấp độ hiệu quả khác nhau: việc làm đầy đủ, việc làm có hiệu quả và việc làm tự do lựa chọn.Theo đó, việc làm đầy đủ là sự thoả mãn nhu cầu tìm việc làm của những người có khả năng lao động trong xã hội, là sự giải quyết về mặt số lượng; việc l àm hiệu quả là việc làm phù hợp với nguyện vọng, trình độ, khả năng của người lao động mà
ở đó người lao động cống hiến được nhiều nhất năng lực của mình đem lại hiệu quả cao nhất và tự do lựa chọn việc làm là khả năng mà người lao động được tự do lựa chọn việc làm với thời gian, điều kiện làm việc phù hợp nhất Việc làm tự do lựa chọn là giai đoạn phát triển cao nhất của chính sách việc làm ở mỗi quốc gia, là mục tiêu mà các quốc gia hướng đến
Trong thời đại ngày nay, tôn chỉ của ILO là tạo cơ hội cho phụ nữ cũng như nam giới tìm được việc làm phù hợp và có năng suất trong điều kiện đảm bảo tự do, bình đẳng và nhân phẩm, đã thực sự làm cho cách nhìn nhận và đối
xử với người lao động một cách bình đẳng và việc làm mang một chất lượng cao hơn Theo đó, khái niệm "việc làm nhân văn" (decent work) [28] ra đời đã trở thành một quan niệm mới về việc làm đồng thời nó cũng là chính sách việc làm của ILO đặt ra từ nhiều năm nay Khái niệm việc làm nhân văn ra đời chính là mục tiêu lớn của các quốc gia trên thế giới Việc làm nhân văn là một bước tiến lớn đánh dấu sự thay đổi trong nhận thức của con người đối với
Trang 16việc làm Theo quan niệm hiện đại thì việc làm nhân văn là việc làm chắc chắn và hữu ích, ở đó người lao động được tôn trọng các quyền lao động, được làm việc và nhận được mức thù lao tương xứng, đồng thời người lao động được bảo đảm các quyền xã hội khác như quyền được tham gia và thương lượng tập thể, quyền tự do công đoàn và đối thoại xã hội Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, việc làm nhân văn đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo và hội nhập xã hội, đóng góp vào công bằng xã hội Việc làm nhân văn được cấu thành bởi bốn yếu tố có mối liên hệ với nhau Thứ nhất, có việc làm là vấn đề quan trọng nhưng nội dung và điều kiện làm việc cũng quan trọng không kém như thời gian, cường độ làm việc, tiền lương, môi trường làm việc, điều kiện an toàn lao động đều góp phần tạo nên chất lượng công việc Thực tế cho thấy giữa chất lượng công việc và năng suất lao động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nó có thể đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng hoặc làm giảm khả năng cạnh tranh và sự bền vững của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh Thứ hai, việc làm nhân văn thể hiện trong các tiêu chuẩn lao động quốc tế (international labour standards) của ILO Các tiêu chuẩn cơ bản về tự do liên kết (kết hợp), chống phân biệt đối xử, chống lao động cưỡng bức và lao động trẻ em là nền tảng để thực hiện các quyền của người lao động Thứ ba là an ninh việc làm, thể hiện ở các quy định pháp luật
và các chính sách bảo vệ người lao động khỏi những biến động về việc làm Các hệ thống bảo hiểm xã hội, dạy nghề, thoả ước tập thể và bảo đảm an toàn
vệ sinh lao động là những cách bảo đảm an ninh việc làm hữu hiệu Cuối cùng, việc làm nhân văn thể hiện ở khả năng đại diện và đối thoại xã hội, mà vai trò chính trong quá trình này là công đoàn và tổ chức của giới chủ, Nhà nước đóng vai trò tạo điều kiện cho hai bên thực hiện đối thoại Cơ chế hiện đang được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường để giải quyết các vấn đề về lao động
1.2 PHÂN LOẠI VIỆC LÀ M
Dựa vào những tiêu chí, đặc điểm khác nhau, có thể phân loại việc làm như sau:
Trang 17- Việc làm bình thường và việc làm khó khăn, độc hại, nguy hiểm
Việc làm bình thường là loại công việc không chứa đựng hoặc chứa đựng ít yếu tố khó khăn, độc hại, nguy hiểm, ví dụ công việc mang tính hành chính, văn phòng ở các công sở Tính chất công việc được thực hiện theo một quy trình, thủ tục nhất định Người lao động yên tâm khi bắt tay thực hiện công việc đó Ngược lại, việc làm khó k hăn, độc hại, nguy hiểm là loại công việc
có chứa đựng những yếu tố hóa học, vật lý, sinh học tác động theo hướng tiêu cực đến sức khoẻ của người thực hiện công việc đó Các yếu tố đó có thể gây nên những chứng bệnh làm suy giảm sức khoẻ của người lao động
- Việc làm cho người lao động bình thường, việc làm cho đối tượng đặc thù
Những người lao động có sự phát triển bình thường về mặt thể chất, có thể tìm việc làm dễ dàng hơn, phạm vi công việc rộng hơn, khả năng lựa chọn cao hơn cũng như cơ hội mở rộng hơn Ngược lại, đối với người lao động bị khiếm khuyết về mặt cấu trúc cơ thể hoặc bị hạn chế một hoặc một số khí quan mà khả năng thực hiện công việc ở mức độ hạn chế thì không thể có nhiều cơ hội để tham gia vào tất cả các loại công việc như người lao độ ng bình thường Những đối tượng này thường được gọi chung là lao động đặc thù như phụ nữ, người lao động chưa thành niên, người tàn tật, người cao tuổi, thường lựa chọn những công việc nhẹ nhàng, không độc hại, nguy hiểm phù hợp với sức khỏe của bản thân Pháp luật lao động quy định những điều kiện, tiêu chuẩn để thực hiện
- Việc làm chân tay, việc làm trí óc
Thực tiễn, thuật ngữ này được sử dụng thông dụng là "lao động tay chân và lao động trí óc" để chỉ loại công việc cần nhiều sức lực, cơ bắp hay trí tuệ Cách phân loại này dựa vào phương thức thực hiện công việc Đối với việc làm chân tay, người lao động phải thực hiện công việc thông qua các thao tác của tay, chân, cơ thể Công việc đòi hỏi người lao động phải có sức khoẻ tốt mà không cần nhiều tư duy Công việc dạng này có thể tìm thấy ở các công nhân, thợ cày, lao công Ngược lại, công việc trí óc đòi hỏi người lao động không cần sử dụng nhiều sức lực mà sử dụng phương thức tư duy rất
Trang 18nhiều để giải quyết công việc Công việc này có thể tìm thấy ở n hững nghề như luật sư, giáo viên, kiến trúc sư, kỹ sư, nhà quản lý
- Việc làm trọn ngày và việc làm không trọn ngày Việc làm trọn ngày là
việc làm mà người lao động thực hiện công việc với thời gian tối đa Người lao động phải dành toàn bộ thời gian làm việc của mình để thực hiện công việc (theo quy định của Nhà nước thời giờ làm việc là 8h/ngày), thu nhập đạt được bảo đảm chi tiêu cho cuộc sống cá nhân ở mức tối thiểu Việc làm trọn ngày mang ý nghĩa là việc làm chính của người lao động, tạo động lực ch o người lao động phấn đấu vì công việc Người lao động làm những công việc mang tính chất không trọn giờ (part time) thường làm một hoặc một số công việc mà mức độ đòi hỏi về thời giờ làm việc không dài Họ phải thực hiện nghĩa vụ trong một khoảng thời gian nhất định theo hợp đồng đã ký kết
Ngoài ra, dựa vào những tiêu chí khác, việc làm còn bao gồm: việc làm độc lập, việc làm tổng thể, việc làm linh hoạt, việc làm tạm thời, việc làm tự nguyện, việc làm cưỡng bức, việc làm nhân văn
1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆC LÀM VỚI QUAN HỆ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG 1.3.1 Việc làm là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ pháp luật lao động
Trong hoạt động lao động, việc làm là yếu tố không thể thiếu, bởi vì không có việc làm thì không thể có sự làm việc, nghĩa là không có hoạt động lao động Mối quan hệ lao động xuất phát từ nhu cầu của cả hai bên chủ thể,
đó là người lao động có nhu cầu tìm việc làm để có thu nhập, trang trải cho cuộc sống của cá nhân và gia đình, còn người sử dụng lao động muốn thuê mướn người lao động để làm việc cho mình, tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của doanh nghiệp Quan hệ lao động hình thành trên cơ
sở thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện Giao kết hợp đồng lao động là sự kiện pháp lý chủ yếu, thông dụng để hình thành quan hệ pháp luật lao động Tuy nhiên, việc giao kết đó phải tiến hành trên cơ sở quy định
"công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm", nghĩa là việc làm phải hợp pháp Chính việc làm là điều kiện tiền đề, là cầu nối giữa người
Trang 19sử dụng lao động và người lao động để thiết lập mối quan hệ pháp luật lao động
1.3.2 Việc làm là nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động
Trong quan hệ pháp luật lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi chủ thể luôn gắn liền với nhau, nghĩa là quyền của bên này sẽ là nghĩa vụ của bên kia
và ngược lại Hơn nữa, các bên không những phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, mà còn có trách nhiệm tạo điều kiện cho phía bên kia thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của họ Lợi ích của các chủ thể giao hòa nhau trên tinh thần lợi ích của một bên được đảm bảo trong mối tương quan với lợi ích của bên còn lại
Nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động bao gồm công việc phải làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, địa điểm làm việc, bảo hiểm
xã hội, điều kiện an toàn lao động Tuy nhiên, việc làm là nội dung chủ yếu,
cơ bản đầu tiên vì nó là tiền đề để thực hiện các điều kiện liên quan đến quan
hệ pháp luật lao động Do đó, khi việc làm thay đổi thì quan hệ lao động cũng thay đổi theo, đồng thời các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ
cũng thay đổi tương ứng
1.3.3 Việc làm là cơ sở để duy trì quan hệ pháp luật lao động
Việc làm không chỉ là tiền đề thiết lập mà còn có vai trò là cơ sở để duy trì quan hệ lao động Khi giao kết hợp đồng, nghĩa là đã t hiết lập quan hệ lao động, thời hạn của việc làm quyết định thời hạn của hợp đồng lao động Nhờ
có việc làm mà quan hệ pháp luật lao động có điều kiện tồn tại, và khi không còn việc làm hoặc khi công việc kết thúc thì hợp đồng lao động đương nhiên chấm dứt hiệu lực, quan hệ lao động cũng không còn lý do để tiếp tục duy trì Trong mối tương quan này, quan hệ lao động phụ thuộc và dựa trên cơ sở việc làm Vì vậy, để quan hệ pháp luật lao động được duy trì thì việc làm với tư cách là nội dung của quan hệ pháp luật lao động phải mang tính bảo đảm, ổn định
Như vậy, trong mối liên hệ giữa việc làm và quan hệ lao động, việc làm
có vai trò vừa là điều kiện tiên quyết để thiết lập, vừa là nội dung đồng thời là
cơ sở để duy trì quan hệ lao động Quan hệ việc làm là tiền thân của quan hệ
Trang 20lao động, vì vậy pháp luật cần có các quy định cụ thể điều chỉnh vấn đề việc làm trong thực tiễn
1.4 PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ VIỆC LÀM VÀ CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
1.4.1 Pháp luật lao động về việc làm
Việc làm là một trong những nội dung quan trọng được quy định tại chương II BLLĐ với 7 điều nhưng đã thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với chính sách giải quyết việc làm Theo quy định của BLLĐ "mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nh ập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm" (Điều 13) Quan niệm này vừa mang nội dung kinh tế,
xã hội vừa mang tính pháp lý; phù hợp với nền kinh tế thị trường, tạo sự bình đẳng trong vấn đề tìm kiếm việc làm Đồng thời quy định việc giải q uyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm
là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội Việc quy định trách nhiệm của các chủ thể đã thể chế hóa quan điểm xã hội hóa, cộng đồng trách nhiệm trong vấn đề giải quyết việc làm
Trách nhiệm của Nhà nước được BLLĐ quy định khá cụ thể ở tầm
quản lý vĩ mô trong việc ban hành các chính sách, cơ chế cụ thể để giải quyết việc làm Nhà nước đề ra chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm Nhà nước ban hành chương trình quốc gia việc làm trong từng giai đoạn, hàng năm để triển khai thực hiện Bên cạnh
đó, Nhà nước có chính sách tạo điều kiện cho vay vốn, hỗ trợ tài chính, miễn, giảm thuế và áp dụng các biện pháp khuyến khích người lao động tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh
tế phát triển nhiều ngành nghề mới nhằm tạo việc làm cho nhiều lao động (Điều 14 BLLĐ)
Trách nhiệm của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong phạm vi, quyền
hạn của mình có trách nhiệm tham gia thực hiện các chương trình và quỹ giải quyết việc làm (Điều 15 BLLĐ) Đây là cơ sở pháp lý ghi nhận và giao trách nhiệm cho các đoàn thể, tổ chức xã hội cùng Nhà nước tham gia tạo việc làm
Trang 21cho các tầng lớp nhân dân trong xã hội
Trách nhiệm của người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông
qua các tổ chức giới thiệu việc làm để tuyển chọn lao động, có quyền tăng, giảm số lượng lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh theo quy định pháp luật (Điều 16 BLLĐ); đồng thời phải có trách nhiệm ưu tiên nhận lao động nữ vào làm việc và thực hiện các quy định về lao động nữ; nhận lao động là người tàn tật với số lượng nhất định (Điều 125 BLLĐ); phải lập quỹ
dự phòng về trợ cấp mất việc làm, có trách nhiệm đào tạo lại người lao động
để tiếp tục sử dụng vào chỗ làm việc mới trong trường hợp do doanh nghiệp thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ (Điều 17 BLLĐ)
Trách nhiệm của người lao động được tự do lựa chọn việc làm và nghề
nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề n ghiệp; có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm, có quyền trực tiếp liên hệ tìm việc hoặc đăng ký tại các tổ chức giới thiệu việc làm, tự tạo việc làm cho mình (Điều 5, 16 BLLĐ)
Ngoài ra, pháp luật lao động còn có những quy định riêng về việc làm đối với một số lao động đặc thù Đó là những người có đặc điểm riêng về thể chất, tinh thần, tâm sinh lý, không có khả năng như những lao động bình thường khác như lao động nữ, lao động chưa thành niên, lao đ ộng cao tuổi, lao động là người tàn tật Đối với những đối tượng này, các quy định pháp luật luôn dành cho họ những hỗ trợ, ưu đãi nhất định nhằm giúp họ hòa nhập cộng đồng, tham gia tự tạo việc làm cho mình, góp phần giảm bớt gánh nặng cho xã hội Các quy định pháp luật về việc làm cho đối tượng lao động đặc thù luôn hướng đến mục tiêu bảo vệ quyền lợi cũng như bảo đảm việc làm đầy đủ, ổn định lâu dài
Lao động nữ: Nhà nước bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng
về mọi mặt với nam giới, có chính sách khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ có việc làm thường xuyên, kết hợp hài hòa công việc gia đình và xã hội; Nhà nước có trách nhiệm mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ để ngoài nghề đang làm người lao độn g nữ còn
Trang 22có thêm nghề dự phòng và việc sử dụng lao động nữ phù hợp với đặc điểm cơ thể, sinh lý và chức năng làm mẹ (Điều 109, 110 BLLĐ) Lao động nữ có thai
có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không phải bồi thường cho người sử dụng lao động (Điều 112 BLLĐ)
Lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi Pháp luật
cấm sử dụng người lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại, công việc ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ và nhân cách của họ; cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một số nghề và công việc do Bộ LĐTBXH quy định (Điều 120, 121 BLLĐ)
Lao động là người cao tuổi là người trên 60 tuổi đối với nam, trên 55
tuổi đối với nữ (Điều 123 BLLĐ) Do yếu tố sức khoẻ mà p háp luật quy định trước khi nghỉ hưu người lao động cao tuổi được rút ngắn thời giờ làm việc hàng ngày hoặc áp dụng chế độ làm việc không trọn ngày, không trọn tuần theo quy định
Lao động là người tàn tật: Nhà nước bảo hộ quyền làm việc đối với
người tàn tật và khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức thu nhận, tạo việc làm cho người tàn tật Pháp luật cấm sử dụng người tàn tật đã bị suy giảm sức khỏe từ 51% trở lên làm thêm giờ, làm việc ban đêm; người tàn tật không được làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm h oặc tiếp xúc với các chất độc hại; Nhà nước có chính sách hỗ trợ về tài chính, miễn giảm học phí đối với người tàn tật học nghề và các chính sách ưu đãi khác (Điều 127 BLLĐ)
1.4.2 Chính sách giải quyết việc làm theo quy định của pháp luật lao động
Cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai cụ thể vấn đề việc làm theo quy định của Bộ luật Lao động là Nghị định số 39/2003/NĐ -CP ngày 18/4/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ
về việc làm và các văn bản hướng dẫn liên quan khác để tổ chức thực hiện Vấn đề việc làm được thực hiện thông qua những biện pháp pháp lý chủ yếu
để giải quyết việc làm
Trang 231.4.2.1 Chương trình việc làm
Chương trình việc làm là một trong những biện pháp để Chính phủ thực hiện việc điều tiết, tạo việc làm mới và giải quyết việc làm cho người lao động Nội dung chương trình việc làm bao gồm mục tiêu, chỉ tiêu tạo việc làm mới, nội dung hoạt động, nguồn tài chính, các biện pháp để đảm bảo thực hiện chương trình để đạt mục tiêu cao nhất là tìm mọi cách tạo được việc làm cho người lao động càng nhiều càng tốt Theo Quyết định số 05/QĐ -TTg ngày 14/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ, Nhà nước đã xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và giao cho Bộ LĐTBXH quản lý Năm
2000, Chính phủ đã xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm theo Quyết định số 126/1998/QĐ-TTg ngày 11/07/1998 Vào năm 2001, căn
cứ vào những đặc điểm liên quan giữa chương trình quốc gia về việc làm và chương trình xóa đói giảm nghèo, Chính phủ quyết định sáp nhập hai ch ương trình này và đổi tên thành Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm [16]; đồng thời xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 -2005 [17] Đây là chương trình tổng hợp có tính chất liên ng ành trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, lồng ghép xóa đói giảm nghèo với tạo việc làm nhằm tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập, tiếp cận các dịch vụ xã hội, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân
Theo quy định BLLĐ, chương trình việc làm của địa phương do UBND cấp tỉnh xây dựng và được HĐND cùng cấp phê duyệt Việc thực hiện chương trình phải được lồng ghép với các chương trình, dự án phát triển kinh tế- xã hội nhằm tạo nhiều việc làm cho người lao động
1.4.2.2 Quỹ giải quyết việc làm
Để giải quyết việc làm, BLLĐ và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định thành lập, cơ chế thực hiện Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm, quỹ giải quyết
Trang 24việc làm của các địa phương, quỹ việc làm cho người tàn tật và quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm
Thứ nhất, lập Quỹ quốc gia về việc làm là một biện pháp pháp lý quan
trọng để Nhà nước triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm Quỹ được hình thành từ ngân sách Nhà nước, các nguồn hỗ trợ của các tổ chức và cá nhân ở trong và ngoài nước và các nguồn hỗ trợ khác Quỹ được sử dụng vào mục đích cho vay vốn theo dự án nhỏ để tạo thêm việc làm; cho các doanh nghiệp vay để hạn chế lao động mất việc làm và nhận người thất nghiệp; cho một số đối tượng thuộc diện chính sách vay với lãi suất thấp
để hỗ trợ giải quyết việc làm; hỗ trợ tổ chức giới thiệu việc làm và các hoạt động phát triển thị trường
Quỹ quốc gia về việc làm đóng vai trò hạt nhân trong chương trình giải quyết việc làm quốc gia và trở thành một trong những dự án quan trọng của Chương trình mục tiêu quốc g ia xóa đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001-2005 Việc cho vay vốn với lãi suất thấp nhằm giúp cho người có nhu cầu được tiếp cận với nguồn vốn của Quỹ một cách dễ dàng Cơ chế quản lý, điều hành hoạt động của quỹ luôn được điều chỉnh để phù hợp với n guyện vọng, khả năng và nhu cầu của người lao động [20] Công tác hướng dẫn xây dựng, tổ chức thẩm định và phân cấp phê duyệt rõ ràng, cụ thể, đồng thời phân cấp trách nhiệm của các cơ quan quản lý điều hành [6] Việc chuyển giao quyền quản lý quỹ từ Kho b ạc Nhà nước sang Ngân hàng Chính sách xã hội đã tăng cường công tác quản lý, bảo toàn và phát triển nguồn vốn, tạo thuận lợi cho người có nhu cầu chỉ cần thực hiện các thủ tục cần thiết và nhận vốn tại Ngân hàng chính sách xã hội nơi cư trú
Thứ hai, Quỹ giải quyết việc làm cấp tỉnh hình thành từ ngân sách của
địa phương, từ sự đóng góp của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước
và các nguồn hỗ trợ khác Quỹ giải quyết việc làm của địa phương được dùng
để thực hiện các mục tiêu của Chương trình việc làm của địa phương và hỗ trợ cho chương trình giải quyết việc làm của cấp huyện [7] Có thể thấy, việc hình thành, quản lý Quỹ giải quyết việc làm từ trung ương đến địa phương
Trang 25được thực hiện thống nhất và chặt chẽ theo các văn bản hướng dẫn của Nhà nước
Thứ ba, Quỹ việc làm cho người tàn tật Theo quy định Nghị định số
81/CP ngày 23/11/1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về lao động là người tàn tật và các văn bản hướng dẫn liên quan [12], Quỹ việc làm dành cho người tàn tật là quỹ của địa phương được hình thành từ ngân sách địa phương, hỗ trợ từ quỹ quốc gia về việc làm, khoản thu
từ các doanh nghiệp nộp hàng tháng do không nhận đủ số lao động là người tàn tật vào làm việc theo quy định của pháp luật, từ các tổ chức, cá nhân tro ng nước và nước ngoài trợ giúp và các nguồn thu khác Quỹ được sử dụng vào mục đích hỗ trợ cho người tàn tật được học nghề gắn với giải quyết việc làm, cho vay với lãi suất ưu đãi đối với các đối tượng là cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh, cá nhân người tàn tật, doanh nghiệp nhận người tàn tật vào làm việc Có thể nhận thấy, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm triển khai các chính sách trợ giúp người tàn tật, quy định các quyền và nghĩa vụ của người tàn tật tương đối đầy đủ, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động trợ giúp người tàn tật, góp phần tạo việc làm cho đối tượng này
Thứ tư, Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm cũng là một biện pháp giải
quyết việc làm quy định tại Điều 17 BLLĐ và Điều 13 Nghị định 39/2003/NĐ-CP, các doanh nghiệp phải lập Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm Theo quy định, doanh nghiệp phải trích từ 1% -3% trên quỹ tiền lương làm cơ sở đóng bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp cho quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm Quỹ được dùng để trả trợ cấp mất việc làm cho ngư ời lao động trong trường hợp do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ, đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ của doanh nghiệp và bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề cho người lao động Việc trích lập, quản lý, sử dụng và hạch toán Quỹ
dự phòng về trợ cấp mất việc làm tại doanh nghiệp được quy định tại Thông
tư số 82/2003/TT-BTC ngày 14/8/2003 của Bộ Tài chính và các văn bản hướng dẫn
Ngoài ra, Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ xử lý lao động dôi dư
Trang 26trong các doanh nghiệp cổ phần hóa và các doanh nghiệp trong thờ i kỳ chuyển đổi sở hữu và thay đổi công nghệ nhằm tháo gỡ một phần khó khăn về tài chính cho các doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước cũng như giảm bớt những tác động tiêu cực về kinh tế và xã hội cho lao động dôi
dư Chính phủ thành lập Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư theo quy định Nghị định 41/2002/NĐ-CP ngày 11/4/2002 do Bộ Tài chính quản lý, điều hành thống nhất trong cả nước, do ngân sách Nhà nước, viện trợ của các tổ chức, cá nhân
và các nguồn khác đóng góp Theo đó, những người lao động bị m ất việc làm
sẽ được hưởng một khoản trợ cấp theo quy định của BLLĐ và được Nhà nước
hỗ trợ thêm một khoản trợ cấp cho những người làm việc theo chế độ không xác định thời hạn mà tự nguyện thôi việc; người lao động đã có một số năm làm việc nhất định, có đóng bảo hiểm xã hội mà nghỉ hưu sớm, cũng được hưởng chế độ ưu đãi về hưu đối với người tự nguyện về hưu; trợ cấp đào tạo nghề cho người lao động bằng cách Nhà nước cấp cho người lao động dôi dư một khoản tài chính nhất định cho người lao động để họ tự tham gia vào các chương trình đào tạo nghề, làm công việc khác hoặc tự tạo việc làm cho mình Đây là chính sách hỗ trợ mang tính tạm thời cho những doanh nghiệp thật sự khó khăn về tài chính, sau khi đã sử dụng hết quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm (nếu có) mà vẫn không đủ nguồn để giải quyết chế độ mất việc cho người lao động thì được hỗ trợ từ Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư Đối với doanh nghiệp
bị giải thể, phá sản cũng được Quỹ cấp kinh phí để giải quyết chế độ cho người lao động dôi dư của doanh nghiệp Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư kết thúc hoạt động vào ngày 31/12/2005 theo quy định tại Nghị định 41/2002/NĐ -CP ngày 11/4/2002 của Chính phủ
1.4.2.3 Dạy nghề gắn với việc làm
Việc làm có mối quan hệ mật thiết với đào tạo nghề, bởi có nghề là điều kiện tiên quyết để người lao động có thể nhanh chóng tìm được việc làm,
có thu nhập ổn định Tầm quan trọng của công tác đào tạo nghề được quy định tại chương III của BLLĐ và Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 09/01/2001 quy định chi tiết và hướng dẫn th i hành
Trang 27BLLĐ và Luật Giáo dục về dạy nghề Quyền tự do lựa chọn nghề và nơi học nghề phù hợp với nhu cầu làm việc của mọi công dân được đảm bảo Việc đào tạo nghề phải gắn với nhu cầu của thị trường lao động, đồng thời giải quyết việc làm cho người học
Theo quy định, các cơ sở dạy nghề phải bảo đảm các điều kiện theo quy định pháp luật Các cơ sở dạy nghề hiện nay đã được đầu tư, nâng cấp, nhiều trường dạy nghề trở thành trường trọng điểm quốc gia Nhận thức tầm quan trọng của dạy nghề, Nhà nước tiến hành quy hoạch, củng cố mạng lưới trường dạy nghề trên phạm vi cả nước từ năm 2002 đến năm 2010 [18] Nhà nước khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân có đủ điều kiện tham gia mở trường, dạy nghề cho mọi đối tượng trong xã hội có nhu cầu
Từ năm 1999, Nhà nước đã có chính sách khuyến khích xã hội hoá các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, trong đó có dạy nghề [8] và gần đây, việc ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ trong lĩnh vực này đã thúc đẩy công tác xã hội hóa dạy ng hề được đặt ra cấp bách với mục tiêu huy động nhiều nguồn lực từ các cá nhân, tổ chức của các thành phần kinh tế khác tham gia Sự đa dạng hóa các loại hình cơ sở dạy nghề sẽ
mở ra nhiều khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học nghề trong nền kinh tế thị trường Việc dạy nghề thông qua nhiều hình thức như dạy các nghề phổ thông để giải quyết việc làm cho người chưa có việc làm, người lao động
bị mất việc làm; dạy nghề kết hợp với việc sử dụng người học nghề làm việc tại doanh nghiệp; đào tạo lại nghề để chuyển sang nghề khác trong doanh nghiệp; đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ; dạy nghề, bổ túc nghề cho người lao động phục vụ nhu cầu xuất khẩu lao động và chuyên gia Ngoài ra, pháp luật quy định việc ưu tiên phát triển dạy nghề, có chính sách ưu đãi đối với người học nghề và cơ sở dạy nghề dành cho các đối tượng chính sách như thương binh, bộ đội xuất ngũ, người tàn tật, người dân tộc thiểu số, người ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo Bên cạnh đó, đối với lao động nông thôn, Nhà nước có chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, trong đó có ban hành chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông
Trang 28thôn gắn với giải quyết việc làm Chính sách tạo điều kiện hỗ trợ cho lao động
ở nông thôn đã góp phần giảm bớt gánh nặng về kinh phí học tập cho người lao động trong điều kiện khó khăn về tài chính [21] Nhìn chung, các quy định hiện hành về đào tạo nghề ngày càng hoàn thiện, góp phần đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ngày càng cao, tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng tham gia vào thị trường lao động trong nước và nước ngoài
1.4.2.4 Tổ chức hoạt động giới thiệu việc làm
Tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động là cầu nối giữa người lao động và người sử dụng lao động Đây cũng là biện pháp pháp lý được quy định tại Điều 18 và Điều 156 BLLĐ Theo Nghị định 39/2003/NĐ -CP, tổ chức giới thiệu việc làm bao gồm hai loại hình: các trung tâm giới thiệu việc làm và các doanh nghiệp chuyên hoạt động môi giới việc làm Trung tâm giới thiệu việc làm do cơ quan Nhà nước, tổ chức chí nh trị - xã hội thành lập là đơn vị sự nghiệp có thu, tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, thuộc lĩnh vực hoạt động xã hội, được Nhà nước, các tổ chức chính trị
- xã hội giao chỉ tiêu biên chế cán bộ, được hỗ trợ đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước về trang thiết bị, cơ sở vật chất, tài chính và được miễn hoặc giảm thuế theo quy định của pháp luật Hiện nay, theo Nghị định số 19/2005/NĐ -
CP ngày 28/2/2005 của Chính phủ và văn bản hướng dẫn [3], tổ chức giới thiệu việc làm có nhiệm vụ tư vấn việ c làm cho người lao động; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập và cung ứng thông tin về thị trường lao động và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực môi giới việ c làm phải được thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và được UBND cấp tỉnh cấp giấy phép hoạt động Nhìn chung, các văn bản pháp luật về hoạt động của tổ chức giới thiệu việc làm được ban hành kịp thời, tạo cơ sở pháp lý cho công tác giới thiệu việc làm đi vào nề nếp, đúng pháp luật, tránh thiệt hại cho người lao động khi tham gia tìm kiếm việc làm
1.4.2.5 Đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
Nhận thức vai trò quan trọng của việc đưa người lao động đi làm việc ở
Trang 29nước ngoài trong chiến lược giải quyết việc làm, Bộ Chính trị có Chỉ thị số 41/CT-TW ngày 22/9/1998 xác định "Xuất khẩu lao động và c huyên gia là một hoạt động kinh tế- xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta với các nước" Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh hoạt động này như BLLĐ, Nghị định số 81/2003/NĐ-CP ngày 17/7/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành BLLĐ về người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài và văn bản hướng dẫn thi hành [2], đồng thời có hướng dẫn thực hiện chế độ tài chính đối với người lao động và doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài [5] N hằm đẩy mạnh công tác đưa người lao động đi làm việc nước ngoài, Nhà nước thành lập Quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động theo Q uyết định số 163/2004/QĐ -TTg ngày 08/9/2004 là rất cần thiết
và quan trọng để hỗ trợ người có nhu cầu đi làm việc nước ngoài, thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn ở các địa phương
1.4.2.6 Những biện pháp khác
Ngoài những biện pháp cơ bản nêu trên, các quy định của pháp luật gắn với giải quyết việc làm cho người lao động được quy định trong các văn bản pháp luật khác như Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Doanh nghiệp Bên cạnh đó, Chính phủ còn xây dự ng và thực hiện các chương trình khuyến nông, lâm, ngư gắn với tạo việc làm cho người lao động, thực hiện các chính sách về giảm tốc độ gia tăng dân số, phân bố dân cư, xóa đói giảm nghèo, phát triển sản xuất các mặt hàng chế biến nông sản, thực phẩm, phát triển làng nghề, tạo công ăn việc làm ch o người lao động
Nhìn chung, các quy định về việc làm theo quy định của pháp luật lao động
đã bao quát hầu hết các vấn đề liên quan đến giải quyết việc làm và thể hiện trách nhiệm của N hà nước, doanh nghiệp, xã hội và cá nhân người lao động đối với vấn
đề tạo việc làm
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM
VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
TỪ KHI THÀNH LẬP ĐẾN NAY (1996 -2005)
2.1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1.1 Bối cảnh chung về tình hình kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng được thành lập mới trên cơ sở tách ra từ tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương với tổng diện tích tự nhiên là 1.255,5 km2, về đơn vị hành chính, thành phố hiện có 6 quận: Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu, Cẩm Lệ,
và 2 huyện: Hoà Vang và Hoàng Sa Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ của đất nước, có vị trí trọng yếu cả về kinh tế -xã hội và quốc phòng-an ninh, là đầu mối giao thông quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, thuận lợi trong giao thương với các tỉnh, thành phố trong cả nước Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước, thành phố Đà Nẵng càng có vai trò quan trọng trong mối liên hệ nhiều mặt với các tỉnh duyên hải miền Trung, Tây Nguyên
Năm 1997, kể từ khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, thành phố Đà Nẵng có một vị thế mới trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Việc khai thác và phát huy nội lực để tiến hành nâng cấp
cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, tình hình chính trị - xã hội trên địa bàn được ổn định, an ninh quốc phòng ngày càng củng cố Những năm qua, đặc biệt là giai đoạn 2001-2005, nhịp độ tăng trưởng kinh tế tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của thành phố đạt 13%/năm, tăng 2,5% so với thời kỳ 1996 - 2000 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng phát triển ngành công nghiệp - dịchvụ - nông nghiệp, đưa tỷ trọng GDP ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 40,6% năm 2000 lên 48,2% năm 2005, với tốc độ tăng giá trị hàng năm đạt từ 21% -22%; tỷ trọng
Trang 31GDP ngành dịch vụ từ 51,5% năm 2000 giảm xuống còn 46,1% năm 2005 với tốc độ tăng giá trị đạt khoảng 12,5% -13,5%; tỷ trọng GDP ngành nông nghiệp (thuỷ sản - nông lâm) từ 7,9% năm 2000 giảm còn 5,7% năm 2005 với tốc độ tăng giá trị từ 5% -5,5%, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 21% -22%, hằng năm giải quyết việc làm cho trên 18.000 lao động, giảm tỷ lệ hộ nghèo còn 0,13% theo tiêu chuẩn của trung ương
Vào năm 1997, dân số của thành phố có khoảng 679.741 người, tăng lên 781.022 người năm 2005, trong đó dân số ở thành thị là 673.345 người, chiếm hơn 80% dân số; tỷ lệ tăng dân số 1,74%, trong đó tăng tự nhiên là 1,19% và tăng cơ học là 0,55% Đà Nẵng là thành phố có cơ cấu dân số trẻ, có trình độ học vấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2001 Đây
là nguồn lực quan trọng tạo động lực cho sự phát triển kinh tế của thành phố
Theo số liệu thống kê năm 2005, số người trong độ tuổi lao động là 485.171 người, chiếm trên 61% dân số th ành phố; tập trung đông ở thành thị chiếm gần 81% dân số trong độ tuổi lao động; nguồn lao động của thành phố
là 481.444 lao động, chiếm khoảng 62% dân số; lực lượng lao động có 382.002 lao động, chiếm khoảng 49% Lực lượng lao động trong các ngành kinh tế là 363.478 người, trong đó lao động tham gia khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,89%, trong khu vực thương mại - dịch vụ chiếm 42,96%, trong khu vực nông nghiệp chiếm 19,15% Hàng năm số người đến tuổi lao động tăng khoảng gần một vạn người, khoảng 8 00 thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự
2.1.2 Vai trò, ý nghĩa của vấn đề giải quyết việc làm ở thành phố
Đà Nẵng
Mặc dù được chính thức công nhận là thành phố trực thuộc Trung ương
từ năm 1997, tuy nhiên dân số thành phố Đà Nẵng thời gian qua vẫn khôn g có những biến động lớn Bên cạnh đó, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và những thành tựu trên một số lĩnh vực quan trọng của thành phố trong những năm gần đây đã đưa Đà Nẵng trở thành một trong những thành phố lớn củ a cả nước có tốc độ phát triển kinh tế và đô thị
Trang 32hóa nhanh Nhìn chung, vấn đề giải quyết việc làm ở Đà Nẵng có một số thuận lợi nhất định trong việc thu hút lao động từ các tỉnh, trong khu vực lân cận
Đà Nẵng là thành phố lớn của khu vực miền Trung có c ác điều kiện về sinh hoạt, học tập, tìm việc làm, phát triển nghề nghiệp tốt hơn so với các tỉnh, thành phố khác nên đã thu hút một bộ phận dân cư, lao động từ các địa phương khác đến cư trú, tìm việc làm Bên cạnh đó, Đà Nẵng đang có nhiều thuận lợi trong việc đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao nhờ vào khả năng đào tạo tại chỗ của hệ thống các cơ sở đào tạo bao gồm 6 trường đại học,
13 trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp và hệ thống trường dạy nghề
đa dạng Hàng năm, thành phố đào tạo cho hàng chục nghìn lao động trẻ có kiến thức khá vững vàng, được đánh giá có chất lượng cao của khu vực miền Trung và Tây Nguyên Phần lớn học sinh, sinh viên tốt nghiệp, sau khi ra trường có xu hướng muốn tìm việc làm tại Đà Nẵng, do điều kiện làm việc tốt, có thu nhập khá và công việc ổn định
Trong những năm qua, thành phố đã đầu tư mạnh mẽ về hạ tầng cơ sở vật chất, phát triển các khu công nghiệp, ban hành nhiều chính sách ưu đãi, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đến Đà Nẵng kinh doanh nên có khả năng thu hút, tạo việc làm cho lực lượng lao động từ các tỉnh, thành phố Hiện nay, các doanh nghiệp tăng cường đẩy mạnh sản xuất, đầu tư nâng cấp thêm nhiều máy móc thiết bị mở rộng sản xuất, các dự án mới được cấp phép đang triển khai đi vào hoạt động nên có thể tiếp nhận thêm nhiều lao động mới
Cùng với xu hướng hợp tác với các quốc gia trong tiểu vùng sông Mê Kông đang mở ra cho Đà Nẵng nhiều cơ hội lớn để thiết lập các mối quan hệ kinh tế với các trung tâm năng động nhất của Đông Nam á và khu vực châu á Thái Bình Dương Đây là cơ hội để Đà Nẵng đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nhằm phát triển kinh tế, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế của thành phố trong tương lai
Từ những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý cùng với chính sách thu hút nhân tài, Đà Nẵng là địa phương có thế mạnh về nguồn nhân lực khoa học
Trang 33kỹ thuật chuyên môn cao, nguồn nhân lực tại chỗ phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Sự phát triển kinh tế - xã hội ổn định và quá trình đô thị hóa nhanh chóng trong những năm qua đã có những tác động tích cực như thu hút người lao động từ ngoại tỉnh đến làm việc và định cư lâu dài; kinh tế phát triển thúc đẩy thị trường lao động phát triển, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo môi trường và nhiều cơ hội thuận lợi cho người lao động tìm việc làm, có cuộc sống ổn định Vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm của Đà Nẵng đóng vai trò khá quan trọng bởi vì Đà Nẵng không những phải giải quyết việc làm đầy đủ cho lực lượng lao động của thành phố
mà còn có trách nhiệm làm tốt công tác này đối với những người lao động đến
từ các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, đặc biệt là người lao động từ các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên
2.2 CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.2.1 Tình hình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về giải quyết việc làm tại thành phố Đà Nẵng
Là thành phố trực thuộc Trung ương duy nhất ở miền Trung và Tây Nguyên, Đà Nẵng là nơi thu hút khá đông lực lượng lao động ngoại tỉnh đến làm việc và sinh sống Để thúc đẩy phát triển kinh tế, thành phố đã xây dựng chính sách và ban hành các quy định nhằm giải quyết việc làm cho người lao động trong và ngoài thành phố
Trên lĩnh vực lao động việc làm, ở cấp thành ph ố đã thành lập Ban Chỉ đạo chương trình việc làm để triển khai các chương trình việc làm của Chính phủ Ngày 06/9/1999, UBND thành phố ban hành Chương trình việc làm của thành phố đến năm 2000 (Quyết định số 111/1999/QĐ -UB) với mục tiêu mỗi năm tạo việc làm từ 14.000 đến 15.000 lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở mức 6% và nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn trên 75% vào năm 2000; thực hiện các biện pháp trợ giúp người thất nghiệp có được việc làm, tăng thu nhập; gắn phát triển kinh tế với giải quyết việc làm cho người lao động Năm 2000, thành phố xây dựng chương trình "thành phố 5 không: không có hộ đói, không có người mù chữ, không có người lang thang xin ăn,
Trang 34không có người nghiện ma tuý, không có giết người cướp của" (theo Quyết định số 129/2000/QĐ-UB ngày 05/12/2000) Thành phố đề ra mục tiêu và thực hiện các biện pháp cụ thể để triển khai chương trình này Kết quả đến cuối năm 2005, thành phố cơ bản đã giải quyết một số vấn đề xã hội như mù chữ, đói nghèo, xin ăn, nghiện hút ma tuý làm cơ s ở cho việc ổn định xã hội Bên cạnh đó, thành phố còn ban hành chính sách, chế độ đãi ngộ ban đầu đối với những người tự nguyện đến làm việc lâu dài tại thành phố, thu hút nhân lực có trình độ vào làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp của thành phố (Quyết định số 86/2000/QĐ -UB ngày 02/8/2000) Với chính sách thu hút nhân tài đã giúp cho thành phố có thêm đội ngũ cán bộ trẻ, có năng lực, trình
độ vào làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố
Nhận thức tầm quan trọng của công tác gi ải quyết việc làm, ngày 18/7/2001 HĐND thành phố đã ban hành Nghị quyết số 16/2001/NQ -HĐND
về thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2001-2005), trong đó
đề ra mục tiêu tạo việc làm mới cho khoảng 100.000 -110.000 lao động, bình quân hàng năm giải quyết được 18.000 đến 20.000 lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị từ 5,95% năm 2000 xuống còn dưới 5% vào năm 2005 (bình quân mỗi năm giảm 0,19%), nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn từ 76,17% năm 2000 lên khoảng 80% năm 2005
Trên lĩnh vực dạy nghề, UBND thành phố ban hành Quy chế quản lý hoạt động dạy nghề trên địa bàn thành phố (Quyết định 19/2003/QĐ -UB ngày 19/02/2003) và đề án củng cố và nâng cao chất lượng các cơ sở dạy nghề trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2010 (Quyết định số 178/2005/QĐ-UBND ngày 22/12/2005), đây là cơ sở pháp lý quan trọng để đẩy mạnh công tác dạy nghề, quy hoạch mạng lưới các cơ sở dạy nghề theo hướng hiện đại nhằm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế
- xã hội của thành phố trong tương lai Ngoài ra, thành phố còn ban hành đề
án hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề, tạo việc làm (Quyết định số 65/2005/QĐ
-UB ngày 24/5/2005) để ổn định đời sống cho người dân trong diện thu hồi đất sản xuất, di dời, giải tỏa trên địa bàn thành phố
Trang 35Trên lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, UBND thành phố ban hành Chỉ thị số 17/2002/QĐ -UB ngày 16/10/2002 về tăng cường công tác đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trên địa bàn thành phố Thành phố chỉ đạo các cấp, các ngành phối hợp với doanh nghiệp, có chính sách hỗ trợ, khuyến khích người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài nhằm tăng thu nhập, cải thiện đời sống
Bên cạnh đó, thành phố có chính sách đối với lao động dôi dư từ các doanh nghiệp nhà nước như thành lập Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp (Quyết định
số 111/2004/QĐ-UB ngày 24/6/2004) nhằm hỗ trợ tài chính, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp của thành phố đổi mới, phát triển sản xuất; đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, chuyển đổi h ình thức hoạt động, trong đó có hỗ trợ thanh toán trợ cấp cho người lao động bị mất việc làm Với nguồn kinh phí hỗ trợ của thành phố đã giúp các doanh nghiệp giảm bớt khó khăn khi thực hiện thay đổi chiến lược sản xuất, kinh doanh
Ngoài ra, thành phố ban hành nhiều chương trình cụ thể để triển khai Nghị quyết số 33-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong đó chương trình giải quyết việc làm được lồng ghép cùng với các chương trình kinh tế -xã hội khác như chương trình xây dựng thành phố "5 không", xóa đói giảm nghèo với nâng cao chất lượng hoạt động y tế, thể dục - thể thao (Quyết định số 136/2004/QĐ-UB ngày 12/8/2004) Thành phố còn ban hành chương trình phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao , đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Quyết định số 117/2004/QĐ -UB ngày 07/7/2004)
Thực hiện thành công chương trình thành phố "5 không", đã tạo đà tiếp sức cho Đà Nẵng triển khai chương trình xây dựng "Thành phố 3 có: có nhà
ở, có việc làm, có nếp sống văn hóa-văn minh đô thị" được HĐND thành phố thông qua Nghị quyết số 25/2005/NQ -HĐND ngày 26/7/2005 Đây là chính sách lớn, nhằm thay đổi mọi mặt về đời sống nhân dân, đưa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống Theo đó, để triển khai nội dung
"có việc làm" trong giai đoạn 2005-2010, thành phố đã ban hành các đề án:
Trang 36Giải quyết việc làm cho người trong độ tuổi lao động của thành phố (Quyết định số 142/2005/QĐ-UBND ngày 03/10/2005); đề án Giảm nghèo trên địa bàn thành phố giai đoạn 2005 -2010 (Quyết định số 41/2005/QĐ -UBND ngày 11/4/2005); đề án có nhà ở cho nhân dân trên địa bàn thành phố (theo Quyết định số 140/2005/QĐ-UBND ngày 03/10/2005); đề án Củng cố và nâng cao chất lượng các cơ sở dạy nghề trên địa bàn thành p hố đến năm 2010 (Quyết định số 178/2005/QĐ-UBND ngày 22/12/2005) với mục tiêu tạo việc làm, nhà ở cho người lao động, từ đó tiến tới xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh ở thành phố
Hằng năm căn cứ Nghị quyết của HĐND cấp huyện và trên cơ sở chủ trương, kế hoạch giải quyết việc làm của thành phố, UBND cấp huyện triển khai thực hiện công tác giải quyết việc làm gắn với xóa đói giảm nghèo thuộc địa phương quản lý, thông qua hoạt động của Ban Xóa đói giảm nghèo - 120
Từ chủ trương giải quyết việc làm của thành phố, UBND các quận, huyện xây dựng Kế hoạch triển khai với các hình thức, biện pháp giải quyết việc làm hiệu quả trên cơ sở tình hình thực tiễn tại địa bàn
Nghiên cứu hệ thống chính sách việc làm của thành phố Đà Nẵng có thể rút ra những nhận xét:
Một là, các chính sách giải quyết việc làm đều có xuất phát điểm từ
việc vận dụng và triển khai đường lối, chủ trương của Đảng bộ, được cụ thể hoá thành các Nghị quyết của HĐND thành phố, để từ đó UBND thành phố xây dựng các Chương trình, Đề án nhằm chỉ đạo các quận, huyện thi hành
Hai là, công tác giải quyết việc làm của Đà Nẵng luôn được đặt trong
bối cảnh nhằm một mặt thu hút lao động, thu hút nhân tài, mặt khác có tác dụng đẩy mạnh và xúc tiến việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề cho người lao động với mục đích nâng cao trình độ của nền sản xuất xã hội của một thành phố trực thuộc Trung ương, với trách nhiệm giải quyết các vấn đề xã hội không chỉ của riêng thành phố Đà Nẵng mà còn thực hiện bổn phận với các địa bàn lân cận
Ba là, công tác giải quyết việc làm ở Đà Nẵng luôn được đặt trong tổng
thể các công tác xã hội khác như xoá đói - giảm nghèo, phòng chống tệ nạn
Trang 37xã hội, nâng cao mức sống của người dân ở cả vùng nông thôn và thành thị Điều đó có tác dụng hỗ trợ cho công tác giải quyết việc làm đồng thời thực hiện được mục tiêu gắn giải quyết việc làm với công bằng xã hội, xây dựng thành phố văn minh, hiện đại và an toàn trên mọi phương diện
2.2.2 Kết quả giải quyết việc làm của thành phố Đà Nẵng (1997 -2005)
Từ năm 1997-2005, đã có 176.173 lao động được giải quyết việc làm, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho khoảng 19.000 lao động Năm
2005, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị 4,85%, nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn đạt 83%, hoàn thành kế hoạch đặt ra Kết quả giải quy ết việc làm của thành phố qua các năm như sau:
Bảng 2.1 Số lƣợng lao động đƣợc giải quyết việc làm ở thành phố
Khê 2.675 2.455 2.970 3.090 3.510 3.750 4.307 4.400 5.613 Liên
Chiểu 2.386 2.372 2.436 2.620 3.120 3.200 4.082 5.336 7.751 Sơn Trà 2.278 2.360 2.451 2.695 3.200 2.950 3.257 3.600 3.372 Ng.H
Sơn 985 1.085 1.187 1.298 1.560 1.570 1.712 1.700 1.308
Hoà
Vang 2.646 2.675 2.869 3.118 2.560 3.420 3.340 3.500 2.779 Tổng
Trang 38thực hiện bằng những biện pháp cụ thể:
Thứ nhất, tạo việc làm cho người lao động thông qua hình thức cho vay
vốn từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm
Để triển khai có hiệu quả Chương trình việc làm của thành phố, một trong
những giải pháp quan trọng là cho vay vốn Quỹ quốc gia giải quyết việc làm để
tạo việc làm cho người lao động Hàng năm với nguồn vốn hỗ trợ 2,5 tỷ đồng
cùng với nguồn vốn thu hồi, xoay vòng, nâng tổng số nguồn vốn của quỹ đạt
11.500 - 12.500 triệu đồng giúp nhiều đối tượng vay vốn để sản xuất kinh doanh
Từ năm 1997 đến năm 2005, toàn thành phố đã thẩm định và cho vay
được 74.521 triệu đồng đối với 3.608 dự án lớn, nhỏ tập trung chủ yếu cho
các lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, chăn nuôi, trồng trọt, kinh
tế hộ gia đình, trực tiếp tạo việc làm cho 18.642 lao động Mức đầu tư bình
quân trên một chỗ làm việc mới là 01 triệu đồng/người (trong đó các dự án
khối sản xuất kinh doanh được đầu tư trung bình là 03 triệu đồng trên một chỗ
làm việc mới; các hộ gia đình trung bình vay từ 0,5 triệu đến 5 triệu đồng
trên một chỗ làm việc mới) Mỗi năm có từ 300 - 400 dự án, tạo việc làm cho
khoảng 1.600-1.800 người, trong đó kết quả về số dự án, số vốn và lao động
có việc làm tăng đều qua từng năm, đạt 100% kế hoạch, công tác giải ngân
vốn vay cũng được đánh giá là kịp thời và đạt tỷ lệ cao, nhìn chung cuối kỳ
đều đạt 97%-98% theo các quyết định được phê duyệt Một số địa phương
làm tốt như quận Hải Châu, Thanh Khê, Hoà Vang, Sơn Trà
Bảng 2.2 Kết quả cho vay vốn từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm
Trang 39việc làm mới cho người lao động Hình thức cho vay vốn theo dự án, người dân được hỗ trợ, khuyến khích đưa thêm vốn nhàn rỗi vào đầu tư sản xuất kinh doanh, làm thay đổi cơ bản nhận thức xã hội về vay vốn và giải quyết việc làm Là nguồn vốn vay với lãi suất thấp nên đã được các hộ gia đình, doanh nghiệp sử dụng hiệu quả, góp phần vào định hướng đầu tư đúng đắn trong phát triển sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm cho lao động và phát triển các ngành nghề truyền thống, nâng cao mức sống ổn định xã hội Nhiều chủ dự án, sau khi được vay vốn đã tự biết tìm hướng vươn lên thoát nghèo và làm giàu chính đáng Bằng những kết quả thiết thực của nguồn vốn vay, đã
góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trị, xã hội của thành phố
Thứ hai, giải quyết việc làm thông qua công tác đào tạo nghề
Trong những năm qua, công tác đào tạo nghề ở thành phố Đà Nẵng đã đạt được những kết quả nhất định Số lượng các cơ sở dạy nghề tăng nhanh,
từ 10 cơ sở dạy nghề năm 1999 đã tăng lên 53 cơ sở đăng ký hoạt động dạy nghề, trong đó 25 cơ sở có hoạt động chính là dạy nghề, 28 cơ sở dạy nghề chỉ là chức năng phụ (trong đó có 20 cơ sở dạy nghề ngoài công lập) Đội ngũ giáo viên dạy nghề đã tăng từ 469 người năm 2000 tăng lên 717 người năm
2005, trong đó giáo viên có trình độ cao đẳng trở lên chiếm 84,1%; bình quân
có 19,5 học sinh/giáo viên (so với quy định mức chuẩn là 15 học sinh/giáo viên)
Cơ cấu ngành nghề đào tạo cũng đã có nhiều thay đổi đáng kể để đáp ứng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Các cơ sở dạy nghề chủ yếu đào tạo những ngành nghề mà cơ sở đang có những thiết bị đơn giản như may công nghiệp, điện dân dụng, điện tử, sửa chữa ôtô Một số ngành nghề kinh tế kỹ thuật có hàm lượng chất xám cao như tự động hóa, cơ điện tử , công nghệ sinh học trong nuôi trồng, chế biến thực phẩm, giày da, dệt chưa được đầu tư trang bị để đào tạo Tổng vốn đầu tư của các cơ sở dạy nghề đạt 375 tỷ đồng, trong đó cơ sở dạy nghề ngoài công lập 35,32 tỷ đồng, chiếm 9,42% Tổng giá trị thiết bị dành cho dạy nghề 110 tỷ đồng, trong đó cơ sở dạy nghề ngoài công lập 14,14 tỷ đồng chiếm 12,87%