ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM PHẠM THÙY LINH NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VỀ THÀNH PHẦN THỨC ĂN CỦA HAI LOÀI ĐẶC HỮU THUỘC GIỐNG THẠCH SÙNG MÍ GONIUROSAURUS TẠI VIỆT
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM THÙY LINH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI
VỀ THÀNH PHẦN THỨC ĂN CỦA HAI LOÀI ĐẶC HỮU THUỘC
GIỐNG THẠCH SÙNG MÍ GONIUROSAURUS TẠI VIỆT NAM
VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO TỒN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Thái Nguyên - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM THÙY LINH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI
VỀ THÀNH PHẦN THỨC ĂN CỦA HAI LOÀI ĐẶC HỮU THUỘC
GIỐNG THẠCH SÙNG MÍ GONIUROSAURUS TẠI VIỆT NAM
VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO TỒN
Ngành: Sinh thái học
Mã số: 8 42 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hoàng Văn Ngọc
Thái Nguyên - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quanêu trong luận văn là trung thực và chua từng đuợc bảo vệ truớc bất ky hội đồng nào truớc đây
Tác gia
Phạm Thuỳ Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cam ơn chân thành và tri ân sâu sắc tới PGS.TS HoàngVăn Ngọc đã tận tình huớng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôitrong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Quang Trường, TS PhạmThi Nhị, Nghiên cứu viên Hoàng Vu Trụ, Nguyễn Hai Nam, Phan Quang Tiến(Viện Sinh thái Tài nguyên Sinh Vật), TS Nguyễn Thiên Tạo, Th.S Ngô NgọcHai (Bao tàng Thiên nhiên Việt Nam) những người đã tận tình chỉ bao và giúp
đơ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận văn Tôi xin chân thành cam ơnPhòng Hệ thống học Côn trùng (Viện Sinh thái Tài nguyên Sinh vật), PhòngBao tồn Thiên nhiên (Bao tàng Thiên nhiên Việt Nam) đã giúp đơ, cung cấp tàiliệu và các trang thiết bi trong thời gian nghiên cứu tại đây
Ngoài ra, tôi xin cảm ơn thầy cô trong khoa Sinh học , Phòng Đào tạoTrường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã chỉ dạy và giúp đơ tôi trong suốt quátrình học tập và nghiên cứu
Tôi xin cam ơn Ban Lãnh đạo, các cán bộ kiểm lâm của VQG Bái TửLong, Ban quản lý vịnh Hạ Long đã cung cấp thông tin và tạo điều kiện thuậnlợi cho tôi trong quá trình khảo sát thực địa
Xin đuợc to lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, nguời thân và bạn bè đãđộng viên và ủng hộ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu này
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác gia
Phạm Thuỳ Linh
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cam ơn ii
Mục lục .iii
Danh lục chư viết tắt iv
Danh mục bảng v
Danh mục hình vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
4 1.1 Tổng quan về nghiên cứu bò sát ở Việt Nam
4 1.1.1 Đa dạng loài bò sát ở Việt 4
1.1.2 Các nghiên cứu về bò sát ở vùng Đông Bắc 4
1.1.3 Nghiên cứu về đặc điểm dinh dương, thành phần thức ăn của các loài bò sát 6
1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 6
1.2.1 Vườn quốc gia Bái Tử Long 6
1.2.2 Vịnh Hạ Long 9
1.3 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu: 12
1.3.1 Phân loại giống Thạch sùng mí Goniurosaurus: 12
1.3.2 Các loài Thạch sùng mí phân bố ở Việt Nam 13
1.3.3 Loài Thạch sùng mí Lichtenfer (Goniurosaurus lichtenfelderi):
14 1.3.4 Loài Thạch sùng mí Cát Bà (Goniurosaurus catbaensis) .
15 Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 62.2 Nội dung nghiên cứu 182.3 Phương pháp nghiên cứu .18
Trang 72.3.1 Dụng cu khảo sát thực địa 18
2.3.2 Khảo sát thực địa - Khảo sát theo tuyến 19
2.3.3 Đặc điểm hình thái 21
2.3.4 Phân tích thành phần thức ăn 22
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đặc điểm hình thái của hai loài Thạch sùng mí lichtenfer và Thạch sùng mí cát bà 27
3.2 Xác định thành phần thức ăn của loài Thạch sùng mí Lichtenfer và loài Thạch sùng mí cát bà 33
3.2.1 Thành phần thức ăn của loài Thạch sùng mí Lichtenfer 33
3.2.2 Thành phần thức ăn của loài Thạch sùng mí cát bà 35
3.2.3 So sánh thành phần thức ăn theo giới tính và nhóm tuổi: 39
3.2.4 Tương quan hình thái của loài Thạch sùng mí và kích thước thức ăn
43 3.2.5 So sánh thành phần dinh dưỡng của quần thể loài Thạch sùng mí lichtenfer và quần thể loài Thạch sùng mí cát bà tại Vịnh Hạ Long và VQG Cát Bà 45
3.3 Đánh giá các mối đe doạ đến loài và đề xuất các giai pháp bảo tồn hai loài Thạch sùng mí 46
3.3.1 Đánh giá các mối đe doạ đến loài thạch sùng mí 46
3.3.2 Các vấn đề bảo tôn 48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 8CS Cộng sự
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DTSQ Dự trư sinh quyển
GPS Hệ thống định vi toàn cầu (Global Positioning System)
HST Hệ sinh thái
IEBR Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
IUCN Hiệp hội Bao tồn thiên nhiên quốc tế (The World Conservation
Union)
NOWC Tổ chức tư nhân New Open World Corporation
PCA Phân tích thành phần chính (Principal Component Analysis) UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (United
Nations Educational Scientific and Cultural Organization)
VQG Vuờn Quốc gia
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bang 2.1 Các đặc điểm hình thái đo đạc trên mẫu Thạch sùng mí cát bà 22Bang 3.1 Đặc điểm hình thái của loài Thạch sùng mí lichtenfer và Thạch
sùng mí cát bà 28Bang 3.2 Tần suất (F), Số lượng (N), Thể tích (V), chiều dài (L), chiều
rộng (W) và chỉ số quan trọng (I) của các dạng thức ăn của loài
Thạch sùng mí Lichtenfer 35Bang 3.3 Tần suất (F), Số lượng (N), Thể tích (V), chiều dài (L), chiều
rộng (W) và chỉ số quan trọng (I) của các dạng thức ăn của loài
Thạch sùng mí cát bà 37
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Số lượng các loài bò sát được ghi nhận ở Việt Nam qua các năm
4 Hình 1.2 Ảnh chụp Ban đô hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp VQG Bái Tử Long - tỉnh Quang Ninh 7
Hình 1.3 Vi trí Vịnh Hạ Long, tỉnh Quang Ninh (Nguồn: Phòng Nghiệp vụ - Nghiên cứu, Ban Quan lý Vịnh Hạ Long) 10
Hình 1.4 Phân bố của các loài thuộc giống Thạch sùng mí ở Việt Nam 14
Hình 1.5 Loài Thạch sùng mí lichtenfer (Goniurosaurus lichtenfelderi) 15
Hình 1.6 Loài Thạch sùng mí cát bà (Goniurosaurus catbaensis) 16
Hình 2.1 A, B Sinh canh Vườn Quốc Gia Bái Tử Long; C, D Sinh cảnh Vịnh Hạ Long 20
Hình 2.2 A, B Khảo sát thực địa tại VQG Bái Tử Long và Vịnh Hạ Long
21 Hình 2.3 Xác định giới tính dựa trên đặc điểm hình thái 22
Hình 2.4 A Thut dạ dày mẫu Thạch sùng mí cát bà ngoài thực địa; B Thụt dạ dày mẫu Thạch sùng mí lichtenfer 23
Hình 2.5 Xác định và đo đếm kích thước mẫu thức ăn dưới kính lúp soi nổi Leica S6E 24
Hình 3.1 A Phân tích PCA (PC1) so sánh về kích thước giữa các cá thể đực và cái của loài Thạch sùng mí lichtenfer; B Đánh giá anh hưởng của các chỉ số đo tới sự khác biệt về hình thái giữa giới tính bằng chỉ số PC1 loading 30
Hình 3.2 A Phân tích PCA (PC1) so sánh về kích thước giữa các cá thể đực và cái của loài Thạch sùng mí cát bà; B Đánh giá anh hưởng của các chỉ số đo tới sự khác biệt về hình thái giữa giới tính bằng chỉ số PC1 loading 31 Hình 3.3 A Phân tích PCA (PC1) so sánh về kích thước giữa 2 loài
Thạch sùng mí; B Đánh giá anh hưởng của các chỉ số đo tới
Trang 11biệt về hình thái giữa 2 loài bằng chỉ số PC1 loading 32
Trang 12Hình 3.4 Vẩy giữa gian mũi của loài, A: Thạch sùng mí lichtenfelderi;
Thạch sùng mí cát bà (n=52) 36Hình 3.7 So sánh kích thước A Chiều rộng, B Chiều dài, C Thể tích của
thức ăn theo cấu trúc giới tính của loài Thạch sùng mí Lichtenfer 40
Hình 3.8 So sánh kích thước A Chiều rộng, B Chiều dài, và C Thể tích
của thức ăn theo cấu trúc giới tính và nhóm tuổi ở loài Thạch
sùng mí cát bà 42Hình 3.9 A, B Tương quan sinh trưởng giữa chiều dài cơ thể (SVL) và
kích thước thức ăn của loài Thạch sùng mí Lichtenfer; C, D
Tương quan sinh trưởng giữa độ rộng miệng (MW) và kích
thước thức ăn của loài Thạch sùng mí Lichtenfer 43Hình 3.10 A, B Tương quan sinh trưởng giữa chiều dài cơ thể (SVL) và
kích thước thức ăn của loài Thạch sùng mí cát bà; C, D
Tương quan sinh trưởng giữa độ rộng miệng (MW) và kích
thước thức
ăn của loài Thạch sùng mí cát bà 44Hình 3.11 Các mối đe doạ đến loài Thạch sùng mí, A Buôn bán loài
Thạch sùng mí lichtenfer; B Lu lụt tại xã Việt Hai, VQG Cát
Bà; C Xa rác bừa bãi tại Vịnh Hạ Long; D Tổ chức sinh nhật
tại hang động của Vịnh Hạ Long 48Hình 3.12 A Cá thể Thạch sùng mí lichtenfer; B Cá thể Thạch sùng mí
cát bà nuôi nhốt tại Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh 50Hình 3.13 Hình ảnh Poster giới thiệu về loài Thạch sùng mí cát bà tại
Vịnh Hạ Long 51
Trang 13MỞ ĐẦU
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và có địa hình phứctạp tạo nên sự đa dạng về sinh canh ở ca vùng đồng bằng, trung du, vùng núi vàvùng đất liền hải đao nên phù hợp cho sự phát triển của động vật nói chung vàcác loài bò sát nói riêng Khu hệ bò sát của nước ta rất đa dạng với khoảng hơn
465 loài hiện đã được ghi nhận Uetz & Hošek, 2018 [60] Số lượng các loài bò
sát được nghiên cứu ở Việt Nam không ngừng tăng trong những năm gần đây,với hàng trăm loài mới và ghi nhận mới được phát hiện, đặc biệt là các nhóm
còn ít được nghiên cứu như các loài thuộc họ Tắc kè (Gekkonidae) [49] Bò sát
là một mắt xích quan trọng trong mạng lưới thức ăn của quần xã sinh vật, với
số lượng loài rất phong phú và đa dạng, đã góp phần quan trọng tạo nên tính đadạng sinh học và giư trạng thái cân bằng sinh học trong quần xã sinh vật Trongđời sống và phát triển kinh tế - xã hội của con người, bò sát cũng có một vai tròrất quan trọng như nguồn thực phẩm, nguồn dược liệu sử dụng trong một số bàithuốc dân gian, nuôi làm canh, vật liệu kỹ nghệ da, hàng mỹ nghệ Ngoàitự nhiên, các loài bò sát còn là thiên địch của rất nhiều loài sâu bọ phá hoại mùamàng, kể ca một số loài gặm nhấm gây hại cho con người Chúng tham gia đắclực vào việc giúp con người chống sâu bệnh, góp phần hạn chế việc sử dụngthuốc bao vệ thực vật làm giam ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, quần thể củacác loài bò sát trong tự nhiên đang bi suy giam nghiêm trọng, nhiều loài đangđứng trước nguy cơ bi đe dọa tuyệt chủng do mất và suy thoái sinh cảnh sống.Ngoài ra, nhiều loài bò sát có giá tri kinh tế cao (rùa, rắn, tắc kè) bi săn bắt cạnkiệt phục vu nhu cầu của con người nên quần thể của nhiều loài đã bi suy giamnhanh chóng IUCN, 2018 [27] Theo ước tính của Böhme và cs (2013) [13], cókhoảng 20% tổng số loài bò sát đã ghi nhận trên toàn cầu có nguy cơ bi đe dọatuyệt chủng Bên cạnh đó, hiểu biết của chúng ta về hiện trạng quần thể của cácloài, đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài bò sát còn rất hạn chế khiến chocông tác bảo tồn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt tại các khu vực xa xôi hẻo lánh
Trang 14hoặc đối với các loài mới được phát hiện trong những năm gần đây.
Chính bởi vậy, công tác nhân nuôi và bảo tồn các loài bò sát đặc hữu vàquý hiếm trong những năm gần đây đang đóng vai trò quan trọng trong việcduy trì và phục hồi nhiều quần thể loài ngoài tự nhiên Tuy nhiên, đa phầnnhững nghiên cứu cơ bản về sinh thái học, đặc điểm dinh dưỡng và thành phầnthức ăn của các loài bò sát ở Việt Nam rất hạn chế, nên công tác bảo tồn gặpnhiều khó khăn và chủ yếu dựa trên những kinh nghiệm cá nhân
Loài Thạch sùng mí Lichtenfer Goniurosaurus lichtenfelderi (Mocquard,
1897) [35] được ghi nhận tại khu vực rừng trên đảo thuộc Vườn Quốc Gia Bái
Tử Long, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh Những nghiên cứu tiếp theo ghinhận loài phân bố trên trên đất liền tại dãy núi Yên Tử thuộc địa bàn tỉnhQuảng Ninh và Hải Dương, khu vực Đông Bắc, Việt Nam (Grismer, 2000,Orlov và cs,
2008) [21], [55] Loài Thạch sùng mí cát bà Goniurosaurus catbaensis được
phát hiện và mô ta vào năm 2008 dựa trên bộ mẫu chuẩn thu được tại đảo Cát
Bà, thành phố Hai Phòng (Ziegler và cs, 2008) [67] Loài này cũng là một trong
21 loài đặc hữu của Việt Nam nên có giá tri đặc biệt đối với bảo tồn đa dạngsinh học của Vườn quốc gia Cát Bà cũng như của Việt Nam (Ban Tuyên giáoHuyện uỷ Cát Hai, 2012; Ngo và cs, 2016) [3], [42] Nghiên cứu gần đây ghinhận mở rộng loài phân bố tại các đảo nho thuộc Vịnh Hạ Long (Ngo và cs)[39] Nghiên cứu của Ngo và cs (2016) [42] bước đầu đã ước tính được kích cơquần thể và ghi nhận một số đặc điểm sinh học, sinh thái cũng như xác địnhnhững mối đe dọa tới quần thể loài Thạch sùng mí cát bà tại đảo Cát Bà Trên
cơ sở đó, Nguyen và cs (2016) [46] đưa loài Thạch sùng mí cát bà vào trong
Danh lục đo thế giới xếp hạng Nguy cấp (EN) và nhận định các loài Thạch sùng
mí có nguy cơ tuyệt chủng cao, trong đó bao gồm ca loài Thạch sùng mílichtenfer Một số chương trình nghiên cứu nhân nuôi sinh sản với mục đíchbao tồn các loài Thạch sùng mí đang được thực hiện tại trạm Đa dạng sinh học
Trang 15nhân nuôi đam bao cho sự
Trang 16sinh trưởng và phát triển của các loài Thạch sùng mí, đòi hỏi phải có nhữngthông tin cần thiết tư các nghiên cứu điều tra thực tế về cấu trúc quần thể, đặcđiểm sinh thái và thành phần dinh dương của loài ngoài tự nhiên Tuy nhiên,ngoài nghiên cứu ghi nhận với số lượng nho mẫu thành thức ăn của loàiThạch sùng mí cát bà tại đảo Cát Bà, chưa ghi nhận bất kể nghiên cứu nào vềthành phần thức ăn của các loài Thạch sùng mí Xuất phát tư thực tế đó, đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái về thành phần thức ăn của hai loài đặc hữu thuộc giống Thạch sùng mí Goniurosaurus tại Việt Nam và đề xuất một số biện pháp bảo tồn”, được thực hiện để tìm hiểu một số đặc điểm sinh
thái dinh dương, thành phần thức ăn của các loài bò sát trên phục vu công tácbao tồn nhân nuôi và các quần thể ngoài tự nhiên Kết qua của đề tài là cơ sở đểphát triển hướng nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng của loài hai loài Thạch
sùng mí đặc hữu Goniurosaurus catbaensis và G lichtenfelderi nói riêng và các
loài bò sát nói chung tại Việt Nam và phục vu công tác bảo tồn sau này
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về nghiên cứu bò sát ở Việt Nam
1.1.1 Đa dạng loài bò sát ở Việt Nam
Việt Nam cũng được đánh giá là một trong 25 quốc gia có mức độ đadạng sinh học cao nhất thế giới (Myers và cs, 2000) [36] trong đó có khu hệ bòsát Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hô Thu Cúc ghi nhận 258 loài bò sát, sốlượng loài tăng lên 368 loài vào năm 2009 (Nguyễn và cs, 2009) [49] và lên tới
420 loài vào năm 2013 Chỉ tính riêng trong 5 năm trở lại đây có tới hơn 50 loàimới được công bố hoặc ghi nhận tại Việt Nam (tính đến tháng 3-2018 theoUetz & Hošek, 2018 [60] (Hình 1.1)) Số lượng loài tăng lên nhanh chóng vànhững phát hiện mới chứng to khu hệ bò sát của Việt Nam rất đa dạng và cầntiếp tục những nghiên cứu chi tiết hơn
Hình 1.1 Số lượng các loài bò sát được ghi nhận ở Việt Nam qua các năm 1.1.2 Các nghiên cứu về bò sát ở vùng Đông Bắc
Trong khoảng gần 20 năm trở lại đây, có rất nhiều công trình công bố về
Bò sát ở khu vực Đông Bắc Việt Nam nhưng hầu hết các nghiên cứu tập trungđiều tra về thành phần loài hoặc đa dạng khu hệ
Trang 18Thành phần loài tại các khu hệ, Orlov và cs (2000) [52] ghi nhận hơn 80loài rắn ở Tam Đao, tỉnh Vĩnh Phúc Năm 2007, Trương Văn Lã và cs [8] đãthống kê được 25 loài Bò sát tại khu vực Tam Đao - Chợ Đồn - Bắc Kạn Năm
2008, Trần Thanh Tùng thống kê 89 loài bò sát ở khu vực Tây Yên Tử, tỉnh BắcGiang [12] Các nghiên cứu về bò sát ở Bắc Kạn theo Nguyễn Văn Sáng và cs(2009) [10] ghi nhận 39 loài rắn và 18 loài thằn lằn ở Ba Bể, Chợ mới, ChợĐồn, Ngân Sơn, Linh Thông, Xuân Lạc Hoàng Văn Ngọc (2010) [9] đã ghinhận 101 loài bò sát ở 3 tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang Nguyen
và cs (2011) [45] khảo sát và ghi nhận 40 loài bò sát tại VQG Cát Bà Vu TiếnThịnh (2013) [11] xác định được 11 loài bò sát quý hiếm ở khu bảo tồn loài loài
và sinh canh Nam Xuân Lạc (Bắc Kạn) Hecth và cs (2014) [24] thống kê ởvùng núi Tây Yên Tử (tỉnh Bắc Giang) có 40 loài Bò sát Gawor và cs (2016)[19] đã ghi nhận 51 loài bò sát tại VQG Bái Tử Long
Về mô ta loài mới và ghi nhận mới cho Việt Nam: Le & Ziegler (2003)
[31] lần đầu tiên ghi nhận loài Shinisaurus crocodilurus ở Việt Nam Darevsky
và cs (2004) [17] mô ta loài mới Sphenomorphus devorator ở Quang Ninh Böhme và cs (2005) [14] mô ta mới loài Tylototriton vietnamensis ở Bắc Giang.
Vu và cs (2006) [61] ghi nhận bổ sung loài Goniurosaurus luii cho khu hệ bò sát của Việt Nam Ziegler và cs (2008) [69] mô ta mới Goniurosaurus
catbaensis ở đảo Cát Bà Ziegler và cs (2008) [69] phát hiện loài mới Opisthotropis tamdaoensis ở Tam Đao Năm 2009, Orlov và cs [53] mô ta loài
rắn mới Protobothrops trungkhanhensis với mẫu chuẩn thu tại tỉnh Cao Bằng Nguyen và cs (2010) [47] mô ta loài mới Scincella apraefrontalis tại tỉnh Lạng Sơn Roesler và cs (2010) [58] mô ta loài Gekko canhi thu tại tỉnh Lạng Sơn David và cs (2012) [18] mô ta mới loài Oligodon nagao tại tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng Nguyen và cs (2012) [48] ghi nhận bổ sung loài Sphenomorphus
incognitus cho khu hệ bò sát của Việt Nam với mẫu vật thu tại tỉnh Bắc Giang.
Orlov và cs (2013) [54] mô ta loài mới Azemiops kharini với mẫu vật thu tại
Trang 19Bằng, Lạng Sơn và Vĩnh Phúc Nguyen và cs (2013) [43] đã công bố và mô ta
loài mới Hemiphyllodactylus zugi ở Hạ Lang, Cao Bằng Loài rắn đặc hữu
Opisthotropis voquyi gần đây được phát hiện duy nhất phân bố tại vùng núi Tây
Yên Tử, Bắc Giang và được mô ta bởi nhóm nghiên cứu của Ziegler và cs(2018) [67]
1.1.3 Nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng, thành phần thức ăn của các loài
bò sát
Số lượng các nghiên cứu về sinh thái học của các loài bò sát ở Việt Namcòn khá hạn chế, một số nghiên cứu về thành phần thức ăn trong tự nhiên được
ghi nhận như: Nghiên cứu dinh dương của Rắn ráo trâu Ptyas mucosa trong
điều kiện nuôi tại Nghệ An thực hiện bởi Ông Vĩnh An và cs (2012) [1];
Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng và sinh dục của Rắn nước Xenochrophis
flavipunctatus của Ngô Đắc Chứng và Lê Anh Tuấn (2012); Ngo và cs (2014)
[5], [40] nghiên cứu thành phần thức ăn của loài Eutropis multifasciatus (Kuhl,
1820) [40]; Nghiên cứu về sinh thái săn mồi và dinh dương của loài Thằn lằn
bóng Eutropis multifasciatus được nghiên cứu bởi Ngo và cs (2015); Ngo và cs
(2016) [40], [41] phân tích và ghi nhận một số mẫu thành phần thức ăn của loài
Thạch sùng mí cát bà (Goniurosaurus catbaensis) tại VQG Cát Bà Như vậy,
có thể nói hướng nghiên cứu về đặc điểm dinh dương và thành phần thức ăncủa các loài bò sát còn khá hạn chế ở Việt Nam Bên cạnh đó kết qua nghiêncứu có ý nghĩa quan trọng đối với công tác bảo nhân nuôi các loài bò sát quýhiếm và có nguy cơ bi đe dọa tuyệt chủng
1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.2.1 Vườn quốc gia Bái Tử Long
1.2.1.1 Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Bái Tử Long được thành lập ngày 01/06/2001 theo quyết định số 85/2001/QĐ-TT, nằm trong tọa độ địa lý: 20°55’05’’ - 21°15’10’’ vĩ độ Bắc, 107°30’10’’ - 107°46’20’’ kinh độ Đông, nằm trong địa giới hành chính
Trang 20của 3 xã: Minh Châu, Vạn Yên và Hạ Long của huyện Vân Đồn, với tổng diện
tích 15.783 ha (Hình 1.2) VQG Bái Tử Long thuộc Vịnh Bái Tử Long, nằm trong vịnh Bắc Bộ, phía Tây nam giáp Vịnh Hạ Long, phía Đông gáp biển, phía
Tây giáp đất liền với thành phố Cẩm Pha và phía Đông bắc giáp huyện đảo Cô
Tô Vịnh Bái Tử Long bao gồm hàng trăm hòn đảo lớn nho và trong đó cónhiều đảo lớn và có dân sinh sống Các đảo thuộc vườn quốc gia bao gồm: BaMùn, Trà Ngọ Lớn, Trà Ngọ Nhỏ, Sậu Nam, Sậu Động, Đông Ma, Hòn Chính,
Lò Hố, Máng Hà Nam, Máng Hà Bắc, Di To, Chầy Cháy, Đá Ẩy, Soi Nhụ,…(Lê văn Lanh, 2011) [7]
Hình 1.2 Ảnh chụp Bản đồ hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp VQG
Bái Tử Long - tỉnh Quảng Ninh
(Nguồn: VQG Bái Tử Long)
Trang 211.2.1.2 Khí hậu
VQG Bái Tử Long chịu anh hưởng chung của vùng nhiệt đới gió mùacận chí tuyến Bắc có mùa đông lạnh tư tháng 10 tới tháng 3 năm sau và mùa hènắng nóng tư tháng 5 tới tháng 8, tháng 4 và tháng 9 là thời ky chuyển tiếp vớikhí hậu ôn hoà
Nhiệt độ không khí theo số liệu quan trắc của 4 trạm Khí tượng khu vựcxung quanh (trạm Móng Cái, Tiên Yên, Cô Tô, Cửa Ông) trong thời gian 1956 -
2003 cho thấy nhiệt độ trung bình năm trong khoảng 22,4 - 22,8°C, trong
khoảng thời gian nóng nhất vào các tháng 6 - 8 và đặc biệt vào tháng 7
Lượng mưa trung bình năm của khu vực VQG Bái Tử Long trong khoảng1693,8 - 2679,6mm
Độ ẩm tương đối của không khí khu vực trung bình khoảng 83 - 85% [7]
1.2.1.3 Đa dạng sinh học
- Hệ sinh thái Vịnh Bái Tử Long:
Vịnh Bái Tử Long bao gồm VQG Bái Tử Long do có cấu tạo địa hình,địa chất đa dạng nên HST rất đa dạng: HST rừng lá rộng thường xanh nhiệt đớitrên đảo đá vôi, HST rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới trên đảo đất, HSTrừng ngập mặn, vùng triều, hô nước mặn (tùng, áng), HST tham co biển, HSTrạn san hô, đáy mềm (động thực vật phù du, tham rong, co biển, …), HSTthung áng trong đảo đá vôi và hệ thống các hang động
- Hệ động, thực vật VQG Bái Tử Long:
VQG Bái Tử Long có hệ thực vật khá phong phú và đa dạng Hệ thực vậtrừng ở đây bao gồm 780 loài, 468 chi, 135 họ thuộc 5 ngành thực vật bậc cao
có mạch Trong đó ngành Mộc lan chiếm đa số với 729 loài, 438 chi, 114 họ.Nguồn tài nguyên cây có ích: 431 loài cây thuốc, 126 loài cây cho gỗ, 44 loàicây cho qua và hạt ăn được, 33 loài cây làm rau ăn, 27 loài cây cho tinh dầu vàdầu béo,
14 loài cây làm thức ăn cho gia súc Qua khảo sát đã phát hiện được 19 loài thực vật ngập mặn thuộc hai nhóm: nhóm loài chủ yếu có 8 loài và nhóm loài
Trang 22chịu
Trang 23mặn gia nhập vào rừng ngập mặn có 8 loài Trong thành phần của khu hệ loài
Sú chiếm ưu thế trong toàn khu vực
Thành phần loài động vật hoang dã trên đao trong phạm vi VQG Bái TửLong có:
⁻ Lớp thú có 24 loài thuộc 13 họ, 6 bộ
⁻ Lớp chim có 71 loài thuộc 28 họ, 9 bộ
⁻ Lớp lưỡng cư có 15 loài thuộc 1 họ, 1 bộ
⁻ Lớp bò sát có 33 loài thuộc 12 họ, 2 bộ
⁻ Côn trùng bộ Cánh phấn có 120 loài, thuộc 8 họ
Một số loài động vật rừng thuộc sách đo Việt Nam có: Bô câu nâu, Báogấm, Báo lửa, Sơn dương, Rái cá, Rùa hộp ba vạch, Tắc kè, Ky đà hoa, Trănđất, Rắn ráo, Rắn cạp nong, Rắn hổ mang, Rắn hổ mang chúa… [7]
- Đa dạng các loài bò sát, ếch nhái tại VQG Bái Tử Long:
Nghiên cứu của Le và Vo (2005) [30] khảo sát đánh giá đa dạng các loàiđộng vật có xương tại VQG Bái Tử Long ghi nhận 08 loài ếch nhái thuộc 06 họ
và 19 loài bò sát thuộc 11 họ Nguyen và cs (2009) [49] ghi nhận 40 loài bò sáttại VQG Bái Tử Long Gần đây, Gawor và cs (2016) [19] đã bổ sung và ghinhận một số loài bò sát và ếch nhái, tăng số lượng các loài ếch nhái thành 14loài và số lượng các loài bò sát tăng lên tới 51 loài Đa dạng các loài bò sát ếchnhái tại VQG Bái Tử Long ghi nhận 04 loài trong Danh lục Đo IUCN 2018[27], 08 loài trong Sách đo Việt Nam (2007) , 05 loài có tên trong Nghi định32/NĐ-CP (2006), 05 loài có tên trong Công ước quốc tế về buôn bán các loàiđộng, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES-2016) và 01 loài đặc hữu tại Việt
Nam là loài Thạch sùng mí lichtenfer (Goniurosaurus lichtenfelderi).
1.2.2 Vịnh Hạ Long
1.2.2.1 Vị trí địa lý
Vịnh Hạ Long thuộc Vịnh Bắc Bộ nằm ở khu vực Đông Bắc Việt Nam,thuộc địa phận tỉnh Quang Ninh (Hình 1.3) Vịnh Hạ Long hai lần được
Trang 24UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1994 với giá tri ngoại hạngmang tính toàn cầu về canh quan thiên nhiên, và năm 2000 với giá tri đặc biệt
về địa chất - địa mạo; ngoài ra vịnh Hạ Long còn là 1 trong 7 ky quan thiênnhiên của thế giới do NOWC bầu chọn vào năm 2011 Khu vực di san thế giớiVịnh Hạ Long được công nhận có diện tích rộng 434km2, gồm 775 hòn đảotrong đó 411 đảo có tên, được xác định trong tọa độ: 106059'24” - 107020'30”kinh độ Đông và 20043'24”-20056'12” vĩ độ Bắc, giới hạn bởi 3 điểm: Đao Đầu
Gỗ (phía Tây), đảo Đầu Bê (phía Nam) và đao Cống Tây (phía Đông) [3]
Hình 1.3 Vị trí Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
(Nguồn: Ban Quản lý Vịnh Hạ Long) 1.2.2.2 Khí hậu
Vịnh Hạ Long có khí hậu cơ ban là nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, chia làm
2 mùa chính và 2 mùa chuyển tiếp: Mùa đông tư tháng 11 đến tháng 3 năm sau.Mùa hè tư tháng 5 đến tháng 9 Hai mùa chuyển tiếp: Mùa xuân vào tháng 4 vàmùa thu vào tháng 10 có khí hậu mát mẻ ôn hoà
Mùa hè có nhiệt độ trung bình 26oC - 27oC Mùa đông có nhiệt độ trungbình 15oC - 20oC Nhiệt độ trung bình năm 18oC - 19oC
Trang 25Lượng mưa trung bình năm tại Vịnh Hạ Long tư 2.000mm - 2.200mm [3].
1.2.2.3 Đa dạng sinh học:
- Hệ sinh thái Vịnh Hạ Long:
Vịnh Hạ Long là nơi hội tu nhiều hệ sinh thái biển đảo đa dạng nhất củaViệt Nam như: hệ sinh thái rừng thường xanh nhiệt đới trên đao núi đá vôi, hệsinh thái biển và ven bờ gồm hệ sinh thái đất ướt: vùng triều và vùng ngập mặn,đáy cứng và rạng san hô, hang động và Tùng Áng, đáy mềm, bãi triều không córừng ngập mặn và hệ sinh thái biển: Thực vật phù du, động vật phù du, động vậtđáy biển và động vật tự du
- Hệ động, thực vật Vịnh Hạ Long:
Theo thống kê năm 2003 của các nhà khoa học, thực vật trên cạn ở HạLong có 435 loài, trong đó ngành mộc lan có 416 loài, ngành dương xỉ có 14loài, ngành thông đất có 02 loài, ngành lá thông có 01 loài, ngành thông (hạttrần) có 02 loài
Về động vật, đã thống kê được: 04 loài lương cư, 08 loài bò sát, 76 loàichim và 22 loài thú trên đảo Một số quần xã các loài thực vật khác nhau đượctìm thấy như: các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loàimọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở cửa hang Tất ca cácloài thực vật này đều thích nghi tốt với điều kiện sống trên các đảo đá vôi củaVịnh Hạ
Long
- Đa dạng các loài bò sát, ếch nhái tại Vịnh Hạ Long:
Tuy có ranh giới tiếp giáp với VQG Cát Bà và VQG Bái Tử Long tuynhiên thành phần các loài bò sát và ếch nhái tại Vịnh Hạ Long không đa dạng.Những nghiên cứu điều tra đa dạng chung ghi nhận chỉ với 08 loài bò sát và 04loài ếch nhái tại các đao nho thuộc Vịnh Hạ Long Gần đây, nghiên cứu củaNgo và cs (in press - gửi đăng tạp chí) đã phát hiện và ghi nhận mới 01 loài đặc
hưu và quý hiếm Thạch sùng mí cát bà (Goniurosaurus catbaensis), mở rộng
vùng phân bố của loài tại các đảo nho thuộc Vịnh Hạ Long [3]
Trang 261.3 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu:
1.3.1 Phân loại giống Thạch sùng mí
Goniurosaurus:
Theo Nguyen và cs (2009) [49] giống Thạch sùng mí (Goniurosaurus) thuộc họ Tắc kè mí (Eublepharidae), bộ Có vay (Squamata), lớp Bò sát (Reptilia).
Hiện nay, trên thế giới đã ghi nhận 19 loài thuộc giống Thạch sùng mí(Orlov và cs, 2008; Ziegler và cs, 2008; Yang và cs, 2015, Honda & Ota, 2017,Zhou và cs, 2018 ) [26], [55], [65], [66], [68] Trong các năm 2014 - 2018, có
04 loài mới được mô ta với mẫu vật thu ở Nam Trung Quốc gồm: G zhelongi
(Wang, Jin, Li & Grismer, 2014), G kadoorieorum (Yang & Chan, 2015), G kwangsiensis (Yang & Chan, 2015) và G Zhoui (Zoui, Wang, Chen & Liang),
2018 [64], [65], [66] Các loài thạch sùng mí phân bố ở Đông Nam châu Á, ghi
nhận ở vùng Đông Bắc Việt Nam (kể ca các đảo trong Vịnh Hạ Long), NamTrung Quốc (kể ca đảo Hai Nam) và quần đao Ryukyu của Nhật Ban (Ziegler
và cs, 2008; Nguyen và cs, 2009; Yang và cs, 2015) [49], [65], [68]
Các loài thuộc giống Thạch sùng mí được phân thành 4 nhóm:
Nhóm G lichtenfelderi bao gồm loài G lichtenfelderi Mocquard, 1897 [35] phân bố ở Đông Bắc Việt Nam và loài G hainanensis Barbour, 1908 phân
bố ở đảo Hai Nam, Trung Quốc
Nhóm G kuroiwae gồm 06 loài phân bố ở quần đao Ryukyu của Nhật Ban: G kuroiwae (Namiye, 1912) , G orientalis (Maki, 1931), G splendens
(Nakamura &; Uano, 1959), G toyamai (Grismer, Ota và Tanaka, 1994), và G yamashinae (Okada, 1936), G sengokui (Honda & Ota, 2017) [20], [26], [33],
[37], [38], [51]
Nhóm G.luii gồm 09 loài: G araneus (Grismer Viets & Boyle, 1999)
[22] phân bố ở Đông Bắc Việt Nam và phía Tây Nam tỉnh Quảng Tây (Trung
Quốc), G bawanglingensis (Grismer, Haitao, Orlov & Anajeva, 2002) [23]
ở đảo Hai Nam; G catbaensis (Ziegler, Nguyen, Schmitz, Stenke &
Trang 272008) [69] ở đảo Cát Bà (Việt Nam), G huuliensis Orlov, Ryabov, Nguyen, Nguyen & Ho, 2008) [55] ở tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam), G liboensis (Wang,
Yang & Grismer, 2013) [62] phân bố ở Quang Tây và Quý Châu (Trung Quốc),
G luii (Grismer, Viets & Boyle, 1999) [22] ở khu vực Tây Nam tỉnh Quảng
Tây (Trung Quốc) và các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn (Việt Nam) và 3 loài mới
mô ta gần đây G kadoorieorum và G kwangsiensis (Yang & Chan, 2015) [65] phân bố ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) và G zhoui (Zhou, Wang, Chen &
Liang,
2018) [66] ở đảo Hai Nam, Trung Quốc
Nhóm G yingdeensis bao gồm 02 loài: G yingdeensis (Wang, Yang & Cui, 2010) [63] và loài G zhelongi (Wang, Jin, Li & Grismer, 2014) [64] phân
bố ở tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc)
1.3.2 Các loài Thạch sùng mí phân bố ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hiện đã ghi nhận 5 loài gồm: Goniurosaurus araneus, G.
catbaensis, G huuliensis, G lichtenfederi, và G luii (Nguyen và cs 2009) [49]
(Hình 1.4) Trong số 5 loài Thạch sùng mí trên có 3 loài đặc hữu chỉ ghi nhận
tại khu vực Đông Bắc, Việt Nam gồm: loài Thạch sùng mí cát bà (G.
catbaensis) chỉ ghi nhận phân bố tại đao Cát Bà thuộc VQG Cát Bà, các đao
nho thuộc Vịnh Hạ Long; loài Thạch sùng mí hữu liên (G huuliensis) phân bố
tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hưu Liên, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; loài
Thạch sùng mí lichtenfer (G lichtenfelderi) phân bố tại VQG Bái Tử Long, tỉnh
Quảng Ninh và vùng núi Yên Tử thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang
và Hai Dương Trong khi đó 2 loài còn lại ghi nhận phân bố ở Việt Nam vàTrung Quốc (Nguyen và cs 2009; Ziegler và cs, 2008; Orlov và cs, 2008) [49],[55], [68]
Trang 28Hình 1.4 Phân bố của các loài thuộc giống Thạch sùng mí ở Việt Nam
(Nguồn: Ngô Ngọc Hải)
1.3.3 Loài Thạch sùng mí Lichtenfer (Goniurosaurus
lichtenfelderi):
Loài Thạch sùng mí Lichtenfer Goniurosaurus lichtenfelderi (Mocquard,
1897) [35] được ghi nhận lần đầu tiên ghi nhận ở Việt Nam tại khu vực rừngtrên
đảo thuộc Vườn Quốc Gia Bái Tử Long, huyện Vân Đồn, tỉnh Quang Ninh(Hình
1.5) Loài này sau đó được ghi nhận mở rộng tại huyện Chí Linh - Hải Dương(Nguyen et al 2009) [49]; Khu bao tồn thiên nhiên Tây Yên Tử (huyện SơnĐộng - Bắc Giang); rừng Quốc gia Yên Tử (thành phố Uông Bí - Quang Ninh)
Trên thế giới, trước đây loài G lichtenfelderi được ghi nhận tại Quảng Tây và
Hai Nam của Trung Quốc (Nguyen et al 2009) [49] nhưng các tài liệu công bố
Trang 29loài Thạch sùng mí hai nam G hainanensis.
Trang 30Hình 1.5 Loài Thạch sùng mí lichtenfer (Goniurosaurus lichtenfelderi)
Đặc điểm nhận dạng: SVL 77 - 104,3mm; cơ thể chắc mập; 5 - 6 vayquanh mũi; 1 hàng vẩy có nốt sân lớn phía trước ổ mắt; bề mặt của mí mắt trên
là các vẩy có kích thước bắng ½ các vẩy ở đỉnh đầu; 1 - 2 vẩy gian mũi; 9 - 11vay môi dưới; 8 - 10 vay môi trên; 15 - 19 vẩy trước ổ mắt; 51 - 55 vay mí mắt;
2 - 5 vay sau cằm; vùng dước cằm không có các vẩy sần lớn; 117 - 130 vayquanh thân;
21 27 hàng vẩy nốt sần quanh thân; 11 13 vay nho bao quanh vay lớn; 18
-24 bản mỏng dưới ngón 4; 30 - 32 lỗ đùi phía trước hậu môn ở con đực, ở concái là 17 - 21; mống mắt mầu nâu đỏ; phía trên của đầu, cơ thể, chân có màunâu đen; dải sáng màu phía sau gáy hẹp hình cư U; trên lưng có 2 dải sáng màuvàng, hẹp; vùng cổ có chấm màu nâu; phía dưới đầu, có thể, chân màu trắngđục (Mocquard, 1897; Grismer và cs, 2002; Orlov và cs, 2008) [23], [35], [55]
- Một số đặc điểm sinh học, sinh thái: Ngoài tự nhiên, chúng hoạt độngmạnh vào buổi tối, thường bắt gặp loài này bám trên các vách đất, các gốc câycạnh đường mòn hay cạnh suối để tìm kiếm thức ăn Trong nuôi nhốt, ban ngàychúng thường trú trong các ống tre hay gáo dừa; ra kiếm ăn và uống nước vàobuổi tối, loài này ăn các loại côn trùng như dế, sâu quy, sâu sáp, mối… Loàinày mỗi lần đẻ 2 trứng (kích thước 18,9 - 20,6 mm, rộng 14,2 - 14,8 mm) tưtháng 4 đến tháng 8, đẻ 3 - 4 lứa, trứng ấp ở 25 - 28º C, độ ẩm 75 - 95 %, nở sau
55 - 65 ngày (Orlov và cs, 2008) [23]
1.3.4 Loài Thạch sùng mí Cát Bà (Goniurosaurus catbaensis)
Trang 31thuộc nhóm G luii phân bố ở đảo Cát Bà (Việt Nam) (Hình 1.6) Loài Thạch sùng mí cát bà (G catbaensis) được mô ta dựa trên mẫu chuẩn thu tại đảo Cát
Bà, thành phố Hai Phòng (Ziegler và cs, 2008) [68] và hiện chỉ ghi nhận tạiViệt Nam Gần đây, nghiên cứu của Ngo và cs (submitted) [39] ghi nhận mởrộng vùng phân bố của loài Thạch sùng mí cát bà tại các đao nho thuộc Vịnh HạLong Nghiên cứu của Ngo và cs (2016) [42] bước đầu đã ước tính được kích
cơ quần thể và ghi nhận một số đặc điểm sinh học, sinh thái cũng như xác địnhnhững mối đe dọa tới quần thể loài Thạch sùng mí cát bà tại đảo Cát Bà Trên
cơ sở đó, Nguyen và cs (2016) [46] đề xuất đưa loài Thạch sùng mí cát bà vàotrong danh lục đo thế giới xếp hạng Nguy cấp (EN)
Hình 1.6 Loài Thạch sùng mí cát bà (Goniurosaurus catbaensis)
Đặc điểm nhận dạng: SVL 84,4 - 111,5 mm; cơ thể và chân manh; 5 - 6vay quanh mũi; 1 hàng vẩy có nốt sần lớn phía trước ổ mắt; bề mặt mí mắt trên
là các vẩy có kích thước bằng kích thước các vẩy ở đỉnh đầu; không có vay gianmũi; 8 - 9 vay môi dưới; 8 - 10 vay môi trên; 11 - 12 vẩy trước ổ mắt; 52 - 55vay mí mắt; 2 - 3 vay sau cằm; vùng dưới hàm không có vẩy có nốt sần lớn;112-
127 vay quanh thân; 23 - 25 hàng vay có nốt sần quanh thân; 8 - 11 vay nho baoquanh vay lớn; 22 - 24 ban mỏng dưới ngón 4; 19 - 21 lỗ đùi phía trước hậumôn ở con đực; mống mắt màu nâu vàng; phần trên của đầu, lưng và chân có
Trang 32màu
Trang 33xám nâu và các đốm màu xám đen; dai màu phía sau gáy hẹp, hình chư V; trênlưng có 3 - 4 dai sáng màu vàng, hẹp không có các đốm đen; đuôi màu đen có 5dai màu trắng (đuôi nguyên vẹn); mặt bụng của đầu, cơ thể, chân màu trắngđục; vùng cổ chấm màu nâu (Ziegler và cs, 2008) [68].
Một số đặc điểm sinh học, sinh thái: Ngoài tự nhiên loài này hoạt độngmạnh vào buổi tối, thường bắt gặp loài này bám trên các vách đá, các cửa hang
đá, cách mặt đất tư 0,3 - 1,5 m hay các đường mòn trong rừng Trong nuôi nhốtban ngày chúng thường trú trong các ống tre hay gáo dừa, khe tối; ra kiếm ăn
và uống nước vào buổi tối, ăn các loại côn trùng như dế, sâu quy, sâu sáp,mối… có trộn thêm canxi Loài này đẻ mỗi lần 1 - 2 trứng (kích thước 24 - 25
mm, rộng
15,8 - 16,5 mm) bắt đầu vào khoảng tháng 4 đến tháng 7, đẻ 2 - 3 lứa, có thể dothiếu chất nên trứng thường bi non, hoặc trứng bi hỏng sau một thời gian ấp(Ziegler và cs 2008) [68]
Trang 34Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích được thành phần thức ăn của loài Thạch sùng mí lichtenfer
(Goniurosaurus lichtenfelderi) tại VQG Bái Tử Long và loài Thạch sùng mí cát
bà (G catbaensis) tại Vịnh Hạ Long.
- Đánh giá các mối đe dọa và đề xuất các giai pháp bao tồn hai loài
Thạch
sùng mí tại Việt Nam.
2.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Xác định thành phần thức ăn của loài Thạch sùng mí
lichtenfer và loài Thạch sùng mí cát bà
- Xác định thành phần thức ăn, dạng thức ăn ưa thích của loài.
- So sánh thành phần thức ăn theo cấu trúc giới tính và nhóm tuổi.
- So sánh thành phần thức ăn của loài Thạch sùng mí lichtenfer với loài
Thạch sùng mí cát bà
Nội dung 2: Đánh giá các mối đe dọa đến loài và đề xuất các giải pháp
bảo tồn loài Thạch sùng mí lichtenfer và loài Thạch sùng mí cát bà tại ViệtNam
loài
- Đánh giá các mối đe dọa đến loài.
- Đề xuất và kiến nghi các biện pháp bảo tồn sinh cảnh và các quần thể
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Dụng cụ khảo sát thực địa
Các dụng cu phục vu cho công tác điều tra thực địa gồm có: máy định viGPS Garmin 62s, thuớc đo điện tử độ chính xác 0,01 mm, phiếu giám sát, máy
đo nhiệt độ, độ ẩm, máy anh, đèn đội đầu, ống tiêm, xilanh, ống thụt dạ dày,
Trang 352.3.2 Khảo sát thực địa - Khảo sát theo tuyến
- Khảo sát theo tuyến:
Nguyên tắc lập tuyến: Tuyến điều tra đuợc lập dựa vào ban đô địa hình,tham thực vật và sinh canh sống của thạch sùng mí Các tuyến điều tra đi quacác dạng sinh cảnh, độ cao khác nhau của khu vực nghiên cứu Đối với loàiThạch sùng mí lichtenfer thường ghi nhận gần các điểm có suối trong rừng, do
đó nghiên cứu khao sát dọc theo các tuyến suối núi đất Trong khi đó, chúng tôilựa chọn khảo sát loài Thạch sùng mí cát bà dọc theo các tuyến có các hang vàvách đá, các thung lũng giữa các dãy núi đá vôi trong rừng
Qua phân tích tài liệu và phỏng vấn cán bộ kiểm lâm tại VQG Bái TửLong và Vịnh Hạ Long, chúng tôi xác định và tiến hành khao sát thực địa theo
6 tuyến:
- VQG Bái Tử Long, huyện Vân Đồn, tỉnh Quang Ninh:
Tuyến 1 (T-1): tuyến đảo Ba Mùn,
Tuyến 2 (T-2): tuyến đảo Cái Lim,
- Vịnh Hạ Long, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Tuyến 3 (T-3): Áng Cống Đỏ,
Tuyến 4 (T-4): Áng Bù Xám,
Tuyến 5 (T-5): Áng Cửa Vạn,
Tuyến 6 (T-6): Áng Dù
Mỗi tuyến khảo sát có chiều dài khoảng tư 2 - 3km Trong đó, tuyến 1
và tuyến 2 khảo sát tại dọc theo các tuyến suối ở khu vực rừng núi đất tại cácđảo thuộc VQG Bái Tử Long (Hình 2.1.A, B) để ghi nhận loài Thạch sùng
mí lichtenfer (Hình 1.5, trang 14); các tuyến còn lại khảo sát dọc theo cáctuyến đường mòn ở khu vực rừng núi đá vôi tại c ác đảo nho thuộc Vịnh HạLong (Hình 2.1.C, D) để ghi nhận loài Thạch sùng mí cát bà (Hình 1.6, trang15)
Trang 36Hình 2.1 A, B Sinh cảnh Vườn Quốc Gia Bái Tử Long; C, D.
Sinh cảnh Vịnh Hạ Long
- Phuơng pháp thu mẫu:
Để đo đếm các chỉ tiêu hình thái, thụt rửa dạ dày, chúng tôi tiến hành thuthập mẫu vật của loài Thạch sùng mí dọc theo các tuyến khao sát Mẫu vật đuợcthu thập bằng tay và các dụng cu chuyên dụng nhu kẹp có bọc cao su nhằmtránh gây tổn thuơng đến con vật Mẫu vật sau khi thu được mẫu thức ăn và đođếm đuợc tha lại đúng điểm đã thu thập
- Thời gian khảo sát thực địa:
Chúng tôi tiến hành khao sát thực địa trong khoang thời gian 20 ngày tưtháng 6 đến tháng 7 năm 2017, vào thời gian này các loài Thạch sùng mí ra hoạtđộng, kiếm ăn và sinh sản (Ngo và cs 2016) [42] Nghiên cứu đã thực hiện 2đợt khảo sát tại VQG Bái Tử Long và Vịnh Hạ Long
Đợt 1 tư ngày 21 đến ngày 28 tháng 6 năm 2017 tại VQG Bái Tử Long
Đợt 2 tư ngày 29 tháng 6 đến ngày 10 tháng 7 năm 2017 tại Vịnh Hạ Long
Trang 37Hình 2.2 A, B Khảo sát thực địa tại VQG Bái Tử Long và Vịnh Hạ Long
Để thu thập mẫu thức ăn và các số liệu hình thái có liên quan, chúng tôitiến hành khảo sát thực địa ca ban ngày và ban đêm
Ban ngày: Tư 13h00 đến 15h00, khao sát các tuyến đuờng và chụp anhsinh canh, quan sát các nhân tố tác động tới sinh canh và loài, tha cá thể bắt tưtối hôm trước (sau khi đo đếm số liệu hình thái)
Ban đêm: Loài Thạch sùng mí thường hoạt động và kiếm ăn nên chúngtôi tiến hành khảo sát tư 20h00 đến 3h00 ngày hôm sau để thu thập mẫu vật và
đo đếm các chỉ số hình thái và sinh thái liên quan
2.3.3 Đặc điểm hình thái
Xây dựng bảng dư liệu hình thái cho 02 loài Thạch sùng mí cát bà vàThạch sùng mí Lichtenfer theo Ziegler và cs (2008), và Orlov và cs (2008) [55],
[56], [68] Các số đo được đo bằng thước kẹp điện tử Alpha-Tool với độ chính
xác là 0,01mm Đo trọng lượng của từng cá thể bằng cân điện tử với độ chính
xác là 0,01g (Bảng 1) Giới tính được xác định dựa trên đặc điểm hình tháingoài đối với mẫu ghi nhận trên thực địa: cá thể đực thường có phần sau gốcđuôi phình to hơn hẳn so với cá thể cái (Hình 2.3.A) và trong mùa sinh san cáthể đực thường có lỗ trước hậu môn rõ hơn và cá thể cái thường có trứng trong
ổ bụng (Ziegler và cs 2008) [68] (Hình 2.3.B).
Trang 38Hình 2.3 Xác định giới tính dựa trên đặc điểm hình thái
Bảng 2.1: Các đặc điểm hình thái đo đạc trên mẫu Thạch sùng mí cát bà
1 SVL Chiều dài tư mút mõm đến lỗ huyệt: đo tư mút mõm đến rìa trước
hậu môn
2 TAL Chiều dài đuôi: đo tư rìa sau lỗ huyệt đến mút đuôi
3 WT Chiều rộng đuôi: đo gần cuống đuôi nơi chiều rộng lớn nhất
4 HL Dài đầu: Đo tư mút mõm đến góc sau của xương hàm dưới
5 HW Rộng đầu: Đo phần rộng nhất của đầu
6 HH Chiều cao tối đa của đầu
9 AG Chiều dài ổ bụng: Tư hốc nách chi trước đến hốc háng chi sau
10 WS Chiều rộng ổ bụng: Kích thước rộng bụng lớn nhất
11 Forearm Chiều dài chi trước: đo tư hốc nách đến mút ngón 4
12 Hindlimb Chiều dài chi sau: đo tư hốc háng đến mút ngón 4
13 IN Vẩy giữa 2 vay mũi lớn
14 PP Lỗ huyệt trước huyệt
15 Weight Cân nặng
Chúng tôi đo đếm các đặc điểm hình thái cơ bản (15 chỉ tiêu) sau đó nhậpvào phiếu giám sát như ở Bang 2.1
2.3.4 Phân tích thành phần thức ăn
Trang 392.3.4.1 Thu thập mẫu thức ăn trong dạ dày
Để nghiên cứu thành phần thức ăn nhưng không gây chết đối với mẫuvật, chúng tôi áp dụng phương pháp thụt dạ dày Phương pháp này được ápdụng khá phổ biến trong nghiên cứu thành phần thức ăn các loài bò sát và lương
cư (James và cs, 1984, Norval và cs, 2012, Ngo và cs, 2016) [28], [42], [50].Mẫu vật sau khi thu thập sẽ được thụt dạ dày ngay tại vi trí thu mẫu Chúng tôikhông thụt dạ dày với những cá thể cái có trứng và con non vì có thể anhhưởng tới kha năng sinh sản hoặc sinh trưởng Nước sử dụng cho việc thụt dạdày là nước tinh khiết để đam bao tinh sạch Phương pháp thực hiện dựa trên
mô ta của Sole và cs (2005) [59]: giư cá thể cố định, dùng panh nho có quấn
cao su để mở miệng mẫu vật, nhẹ nhàng luồn ống dẫn nước có đường kính 1
mm qua thực quản xuống dạ dày, dùng bơm tiêm nước để thức ăn trào ra ngoài.Lượng nước và thức ăn trào ra ngoài được hứng bởi cốc đựng nước (thể tích 20ml) có màng lọc (Hình 2.4 A, B) Toàn bộ mẫu thức ăn thu được sau khi thụt
dạ dày sẽ được bao quản trong cồn 70% để phục vu phân tích, định loại tại Baotàng Thiên nhiên Việt Nam và Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật
Hình 2.4 A Thụt dạ dày mẫu Thạch sùng mí cát bà ngoài thực địa.; B Thụt
dạ dày mẫu Thạch sùng mí lichtenfer
2.3.4.2.Phân tích mẫu thức ăn
Trang 40Các mẫu thức ăn được phân tích và định loại dưới kính lúp soi nổi LeicaS6E ở phòng thí nghiệm của Bao tàng Thiên nhiên Việt Nam và Viện Sinh thái
và Tài nguyên sinh vật Mẫu thức ăn được đo đếm, chụp ảnh dưới kính lúpLeica M80 có gắn máy anh Leica IC80HD Nghiên cứu định loại mẫu thức ăntheo các tài liệu của Millar và cs (2000) và Thái Trần Bái (2003) [2], [34]
Các thông số phân tích thành phần thức ăn gồm: Tần số (F) thể hiện sựphong phú của một loại con mồi thu được tư các mẫu dạ dày, số lượng (N) là sốmẫu thức ăn của một loại con mồi, thể tích (V, mm3) của mỗi mẫu thức ăn đượcước tính bằng công thức theo tài liệu của Magnusson và cs (2003) và Ngo và cs(2014) [40]:
Trong đó, L: là chiều dài của mẫu thức ăn, W: là chiều rộng của mẫuthức ăn (Hình 11) Hirai và Masui 2001 [25]
Chỉ số quan trọng (Ix) là phần trăm của mỗi mẫu thức ăn được tính theocông thức mô ta trong tài liệu của Caldart và cs (2012), Ngo và cs (2014), Ngo