CỤC VIỄN THÔNG PHÒNG CHẤT LƯỢNG Số: /PTr-CL CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2018 PHIẾU TRÌNH V/v triển khai quản lý chất lượng hà
Trang 1CỤC VIỄN THÔNG
PHÒNG CHẤT LƯỢNG
Số: /PTr-CL
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2018
PHIẾU TRÌNH V/v triển khai quản lý chất lượng hàng hóa trong các khâu
theo quy định của Nghị định 74/2018/NĐ-CP
Kính trình: Cục trưởng Nguyễn Đức Trung;
Ý kiến chỉ đạo của Cục trưởng Nguyễn Đức Trung
Nội dung trình
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Cục trưởng về việc hoàn thiện nội dung trình,
đề xuất tổng thể với Lãnh đạo Bộ về việc triển khai Nghị định 74, trên cơ sở ý kiến của Vụ Khoa học và Công nghệ, Vụ Pháp chế, qua nghiên cứu, Phòng Chất lượng xin báo cáo như sau:
1 Phạm vi nhiệm vụ được giao trong Nghị định 74
Nghị định 74 quy định phạm vi quản lý nhà nước của Bộ về chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 đối với các sản phẩm, hàng hóa truyền thống gồm thiết
bị viễn thông, công nghệ thông tin, vô tuyến điện, phát thanh truyền hình; dịch
vụ bưu chính, viễn thông và sản phẩm hàng hóa liên quan đến công tác tuyên truyền như báo chí, xuất bản, sản phẩm quảng cáo; an toàn thông tin
Hiện nay Bộ đã ban hành Thông tư số 04/2018/TT-BTTTT ngày 08/5/2018 (sau đây gọi là Thông tư 04) quy định Danh mục sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 gồm các thiết bị công nghệ thông tin và truyền thông tương ứng là các thiết bị viễn thông, công nghệ thông tin, phát thanh truyền hình, vô tuyến điện,
Việc quản lý chất lượng với các sản phẩm, hàng hóa công nghệ thông tin
và truyền thông nói trênnày hiện do Cục Viễn thông là đầu mối triển khai thông qua công tác cấp giấy chứng nhận hợp quy, tiếp nhận công bố hợp quy, tổ chức kiểm tra, thanh tra việc chấp hành quy định về chứng nhận hợp quy, công bố hợp quychuyên ngành
Trang 2Các sản phẩm, hàng hóa khác như bưu chính, xuất bản, báo chí, an toàn thông tin đang được quản lý, kiểm tra theo pháp luật chuyên ngành và hiện được giao cho các đơn vị liên quan khác trong Bộ thực hiện
Theo quy định của Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, nội dung kiểm tra chất lượng tập trung chủ yếu vào việc kiểm tra kết quả đánh giá sự phù hợp (thử nghiệm, kiểm định, chứng nhận) của sản phẩm, hàng hóa theo các quy chuẩn bắt buộc áp dụng, nhãn hàng hóa, dấu hợp chuẩn, hợp quy và thử nghiệm mẫu theo quy chuẩn, tiêu chuẩn (khi cần thiết) Để tTriển khai các nội dung kiểm tra này
sẽ thuận lợi hơn khicần có sự liên thông với các hoạt động đo kiểm, chứng nhận, tiếp nhận công bố hợp quy Do vậy vViệc tiếp tục giao chức năng kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông cho Cục thực hiện là phù hợp, đảm bảo tính thống nhất, liên tục, xuyên suốt, một đầu mối trong công tác quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 của Bộ
2 Hoạt độngÝ kiến các đơn vị trong Cục về việc triển khai kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa
Tổng hợp ý kiến các đơn vị trong Cục (Trung tâm KĐ&CN 1 và Trung tâm
Đo lường) về việc triển khai kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa như sau:
- Trung tâm KĐ&CN 1: Theo quy định của Nghị định 74 thì Bộ nên có một đơn vị làm đầu mối thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa Đề xuất Cục là đơn vị duy nhất thuộc Bộ quản lý nhà nước chung cho hoạt động này thì phải thực hiện đầy đủ các nội dung yêu cầu của Nghị định/lĩnh vực được phân công
- Trung tâm Đo lường: Năng lực đo là đáp ứng theo các quy chuẩn, trừ điều kiện đo kiểm khắc nghiệt đang được Bộ đầu tư, nâng cấp trong thời gian tới Hậu kiểm bằng hình thức kiểm tra trong lưu thông là cần thiết để nhà nước quản
lý, giám sát, đánh giá chất lượng sản phẩm sau khi chứng nhận, công bố hợp quy
Theo quy định của Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa, các hướng dẫn của Chính phủ và văn bản quy phạm pháp luật liên quan thì hoạt động kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa bao gồm kiểm tra chất lượng sản phẩm trong sản xuất, kiểm tra chất lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường và trong quá trình sử dụng Đặc điểm của sản phẩm, hàng hóa CNTT&TT không có sự biến đổi về đặc tính kỹ thuật, không có khả năng gây mất an toàn khi không hoạt động Từ thực tế quản lý cho thấy những vấn đề cần xem xét khiĐể triển khai kiểm tra chất lượng trong các khâu cần xem xét những vấn đề như sau:
- Trong sản xuất: một mặt sản phẩm CNTT&TT sản xuất trong nước hiện
Trang 3chiếm tỷ lệ nhỏ; mặt khác việc quản lý chất lượng đã được lồng ghép khi chứng nhận, công bố hợp quy; để triển khai công tác này thì phải có tổ chức, bộ máy, đội ngũ công chức kiểm soát viên chất lượng Nếu triển khai kiểm tra trong sản xuất cần xem xét đến điều kiện thực tế còn hạn chế về tổ chức, bộ máy, cũng như khả năng tạo gánh nặng hành chính cho doanh nghiệp
- Do vậy để tránh tạo gánh nặng hành chính cho doanh nghiệp sản xuất trong nước, xét điều kiện thực tế còn hạn chế về tổ chức, bộ máy thì chưa triển khai kiểm tra chất lượng trong sản xuất
- Trong xuất khẩu: doanh nghiệp xuất khẩu có trách nhiệm đảm bảo chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo hợp đồng, theo yêu cầu của nước nhập khẩu đồng thời Vviệc quản lý chất lượng hàng hóa xuất khẩu cũng đã được thực hiện từ trong sản xuất Do vậy chưa thấy sự cần thiết triển khai kiểm tra chất lượng hàng hóa xuất khẩu, tránh tạo gánh nặng hành chính cho doanh nghiệp xuất khẩu
- Trong sử dụng: theo quy định của Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa, việc quản lý chất lượng trong sử dụng thông qua công tác kiểm định hàng hóa trong quá trình sử dụng Hiện nay, Cục Viễn thông đang chủ trì thực hiện công tác kiểm định theo các quy định liên quan của Bộ đối với đài vô tuyến điện và thiết bị viễn thông và đang nghiên cứu, đề xuất cải tiến báo cáo Lãnh đạo Bộ đối với công tác này trong thời gian tới Vì vậy đĐể tránh trùng lặp với các quy định hiện hành của Bộ thì không quy định lại nội dungviệc này
- Trong nhập khẩu: Để kịp thời triển khai quy định của Nghị định 74 về kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu, vừa qua Bộ đã có công văn số 2304 và 2305/BTTTT-CVT tạm giao nhiệm vụ này cho Cục Viễn thông đồng thời thông báo tới hải quan và tổ chức, cá nhân liên quan để phối hợp thực hiện Theo quy định của Nghị định 74 Bộ cần phân công cơ quan kiểm tra chất lượng và thông báo tới Bộ Khoa học và Công nghệ Việc tiếp tục giao chức năng kiểm tra khi nhập khẩu chất lượngđối với hàng hóa chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thôngCNTT&TT cho Cục thực hiện là phù hợp, đảm bảo tính thống nhất, liên tục, xuyên suốt, một đầu mối trong công tác quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa của Bộ
- Trong lưu thông: Đây là nhiệm vụ quản lý mới được Chính phủ giao ttheo quy định của Nghị định 74 Căn cứ quy định của Luật Chất lượng sản phẩm
hàng hóa, các hướng dẫn của Chính phủ, văn bản quy phạm pháp luật liên quan
và thực tế quản lý cho thấy:Nếu triển khai kiểm tra trong lưu thông cần xem xét những vấn đề sau:
+ Để triển khai công tác này thì phải có tổ chức, bộ máy, đội ngũ công chức kiểm soát viên chất lượng, trang thiết bị kỹ thuật đầy đủ, đồng bộ có khả năng
Trang 4đo kiểm hữu hiệu theo yêu cầu của hệ thốngcác quy chuẩn hiện hành nhằm đáp ứng yêu cầu về kiểm tra, về lấy mẫu, thử nghiệm khi cần thiết để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả thực thi quản lý nhà nước Bên cạnh việc chưa sẵn sàng về tổ chức,
bộ máy, đội ngũ công chức kiểm soát viên chất lượng thì Qua rà soát cho thấy hiện chưa có đơn vị nào thuộc Bộ đáp ứng yêu cầu về tổ chức, bộ máy và đội ngũ kiểm soát viên chất lượng; các phòng thử nghiệm trong nước vẫn còn nhiều hạn chế về năng lực đo kiểm, đánh giá theo các quy chuẩn hiện hành., việc đo kiểm phục vụ kiểm tra trong lưu thông là phải đánh giá đầy đủ theo quy chuẩn, khi triển khai công tác này thì năng lực đo phải đáp ứng đầy đủ
+ Một mặt, khác với các loại hàng hóa như xăng dầu, thực phẩm, dược phẩm, nông sản thì hhàng hóa chuyên ngành CNTT&TT không có sự biến đổi
về đặc tính kỹ thuật trong quá trình lưu thông Mặt khác, việc kiểm soát chất lượng hàng hóa đã được Cục thực hiện ngay từ trong sản xuất, khi nhập khẩu thông qua đo kiểm, chứng nhận, công bố hợp quy theo chủng loại Trong khi đó theo quy định của Luật, nội dung kiểm tra tập trung vào việc kiểm tra kết quả đánh giá sự phù hợp (thử nghiệm, chứng nhận) của hàng hóa, kiểm tra nhãn hàng hóa, dấu hợp quy và thử nghiệm mẫu theo quy chuẩn, tiêu chuẩn (khi cần thiết) Vì vậy vViệc kiểm tra chất lượng hàng hóa chuyên ngành CNTT&TT trong lưu thông sẽ không mang nhiều ý nghĩa quản lý, và tạo gánh nặng về hành chính cho người bán hàng
+ Việc quản lý nhà nước về sản phẩm, hàng hóa CNTT&TT trong lưu thông đang thực hiện thông qua công tác thanh tra chuyên ngành, nếu triển khai kiểm tra chất lượng hàng hóa trong lưu thông sẽ dẫn đếngây chồng chéo, trùng lặp
Vì vậy để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, không tạo gánh nặng về hành chính đối với tổ chức cá nhân kinh doanh thì trước mắt tạm thời chưa triển khai kiểm tra nhà nước chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường
3 Nội dung đề xuất/xin ý kiến chỉ đạo:
Để triển khai quản lý chất lượng hàng hóa theo Nghị định 74, tTrên cơ sở phân tích nêu trên, Phòng Chất lượng đã dự thảo nội dung Phiếu trình Lãnh đạo
Bộ đề xuất việc triển khai quản lý chất lượng hàng hóa theo Nghị định 74 (kèm theo),
đề xuất việc triển khai được thực hiện theo từng bước, trong từng khâu của hàng hóa, phù hợp với sự cần thiết quản lý, khả năng thực tế, cụ thể như sau:
1 Đề xuất Bộ giao Cục Viễn thông là cơ quản kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm hàng hóa chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông có nguy cơ gây mất an toàn, thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và
Trang 5Truyền thông được quy định tại Thông tư số 04/2018/TT-BTTTT ngày 08/5/2018 của Bộ Thông tin và Truyền thông
2 Nội dung kiểm tra: kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu có khả năng gây mất an toàn
3 Hình thức giao nhiệm vụ là quyết định của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông (dự thảo trình kèm)
Phòng đã dự thảo nội dung trình Lãnh đạo Bộ (kèm theo), kính trình Cục trưởng xem xét, chỉ đạo./
Nơi nhận:
- Như trên;
- Trưởng phòng (để b/c);
- Lưu: CL.
KT TRƯỞNG PHÒNG PHÓ TRƯỞNG PHÒNG
Nguyễn Văn Khoa
Chuyên viên soạn thảo: Phạm Mạnh Hà
Tài liệu trình kèm:
- Dự thảo Phiếu trình Lãnh đạo Bộ
- Dự thảo Quyết định giao nhiệm vụ kiểm tra cho Cục.
- Công văn góp ý của Vụ Pháp chế, Vụ KHCN
- Phiếu trình 179/PTr-CVT ngày 28/9/2018 của Cục Viễn thông về việc triển khai Nghị định 74