Tuy nhiên gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện hiện hai hình thức này ví dụ như: khó khăn về thời gian thuê, về nguồn vốn tự có, về quỹ đất nông nghiệp công ích của xã và về hiệu quả đầu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Hà Nội – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TÍCH TỤ, TẬP TRUNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI
HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số : 8.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh
HÀ NỘI – 2018
Trang 3CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Cán bộ hướng dẫn chính: TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Cán bộ chấm phản biện 1: PGS.TS Phan Đình Binh
Cán bộ chấm phản biện 2: TS Lưu Văn Năng
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:
HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Ngày 15 tháng 9 năm 2018
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn
trung thực, của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và pháp luật Việt Nam Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Thúy Hằng
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Quản lý đất đai –Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì, các phòng ban trong huyện, Ủy ban nhân dân, cán bộ địa chính và nhân dân của các xã, thị trấn điều tra đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả Luận văn
Nguyễn Thị Thúy Hằng
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍCH TỤ,TẬP TRUNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 4
1.1 Sử dụng đất nông nghiệp 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Vai trò của sử dụng đất nông nghiệp 5
1.1.3 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp 6
1.1.4 Tích tụ, tập trung đất nông nghiệp 7
1.2 Chính sách pháp luật liên quan đến tích tụ đất nông nghiệp 24
1.2.1 Chính sách đất đai liên quan đến tích tụ đất nông nghiệp 24
1.2.2 Pháp luật đất đai liên quan đến tích tụ đất nông nghiệp 31
1.3 Cơ sở thực tıễn về tích tụ đất nông nghıệp 33
1.3.1 Tích tụ đất nông nghiệp tại một số nước trên thế giới 33
1.3.2 Tích tụ đất nông nghiệp tại Việt Nam 39
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
2.1 Đốı tượng nghiên cứu 44
2.2 Phạm vı nghıên cứu 44
2.3 Nộı dung nghıên cứu 44
2.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Ba Vì 44
2.3.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai của huyện Ba Vì 44
2.3.3 Đánh giá thực trạng tích tụ, tập trung đát nông nghiệp tại huyện Ba Vì 44
Trang 72.3.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo
hướng tích tụ, tập trung đất đai tại huyện 44
2.4 Phương pháp nghıên cứu 44
2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp 44
2.4.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, thu thập số liệu sơ cấp 45
2.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 46
2.4.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 46
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48
3.1 Điều kıện tự nhıên, kinh tế và xã hộı của huyện Ba Vì 48
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 48
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 54
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Ba Vì 57
3.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất đaı của huyện ba vì 59
3.2.1 Tình hình quản lý đất đai cuả huyện Ba Vì giai đoạn 2013 – 2017 59
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất huyện Ba Vì 66
3.3 Thực trạng tích tụ, tập trung đất nông nghıệp tạı huyện ba vì 69
3.3.1 Khái quát chung về tích tụ, tập trung đất nông nghiệp huyện Ba Vì 69
3.3.2 Công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì 71
3.3.3 Kết quả tích tụ, tập trung đất nông nghiệp tại huyện Ba Vì 81
3.3.4 Một số tác động của tích tụ, tập trung đất nông nghiệp đến sử dụng đất trên địa bàn huyện Ba Vì 94
3.3.5 Một số hạn chế ảnh hưởng đến thực hiện tích tụ, tập trung đất nông nghiệp huyện Ba Vì 114
3.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp 118
3.4.1.Giải pháp chung về chính sách 118
3.4.2.Giải pháp về tổ chức thực hiện tích tụ đất nông nghiệp 120
3.4.3.Giải pháp về tăng cường tích tụ, tập trung đất nông nghiệp 121
3.4.4.Giải pháp về huy động vốn phục vụ tích tụ đất nông nghiệp 123
3.4.5.Giải pháp về tính ổn định và bền vững của thị trường tiêu thụ sản phẩm 124 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 125
1 KẾT LUẬN 125
2 KIẾN NGHỊ 126
Trang 8THÔNG TIN LUẬN VĂN
Nội dung được trình bày gồm:
+ Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng
Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá thực trạng tích tụ, tập trung đất nông nghiệp huyện Ba Vì,
thành phố Hà Nội;
- Đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Nội dung chính trong luận văn:
- Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa ở phía Tây Bắc của thành phố Hà Nội, Huyện có đường Quốc lộ 32 chạy qua, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 53 km; đây là tuyến đường quốc lộ từ Hà Nội qua huyện Ba Vì đến các tỉnh phía Bắc là Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái,… và có tuyến đường thuỷ qua phía Tây, phía Bắc và Đông Bắc huyện từ Hà Nội đến Hoà Bình qua sông Hồng và sông Đà với chiều dài trên 70 Km.Với vị trí địa lý và giao thông thuỷ bộ thuận tiện huyện Ba
Vì rất có điều kiện để phát triển kinh tế xã hội như: Trao đổi hàng hoá, tiếp thu thông tin, khoa học kỹ thuật, công nghệ và vốn đầu tư tạo điều kiện tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế đa dạng, nông - lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, du lịch
- Tích tụ, tập trung đất nông nghiệp đã được thực hiện tại huyện Ba Vì đặc biệt sau khi thực hiện chương trình dồn điền đổi thửa huyện Ba Vì Tính đến hết tháng 3/2018 toàn huyện đã dồn điền đổi thửa được 5659ha tăng 300,64ha so với
Trang 9cuối năm Kết quả cho thấy theo đặc điểm địa hình, huyện chia thành 3 vùng: vùng núi( tiểu vùng 1), vùng đồi gò( tiểu vùng 2) và vùng đồng bằng( tiểu vùng 3), các hộ tích tụ theo 2 quy mô trong đó vùng núi và vùng đồng bằng chủ yếu tập trung ở quy mô 1, vùng đồi gò tập trung chủ yếu ở quy mô 2 Về cơ bản các
hộ tích tụ có bình quân diện tích đuợc giao thấp nằm trong khoảng từ 0,11 ha – 0,29 ha Tuy nhiên, ở đây có các hộ quy mô 2, tiểu vùng 2 là bình quân đất được giao bằng 1,45ha
- Bên cạnh dồn điền, thuê và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hai hình thức được hộ thực hiện chủ yếu Tuy nhiên gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện hiện hai hình thức này ví dụ như: khó khăn về thời gian thuê, về nguồn vốn
tự có, về quỹ đất nông nghiệp công ích của xã và về hiệu quả đầu tư, về thủ tục hành chính…
- Đề tài đã chỉ ra một số tác động của tích tụ, tập trung đất nông nghiệp đến
sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Vì bao gồm tác động tích cực như: góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, góp phần làm tăng năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, góp phần thúc đẩy cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp
- Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất của các hộ dân tích tụ, tập trung đất nông nghiệp cần kết hợp đồng bộ các giải pháp như: giải pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng đất, giải pháp tổ chức thực hiện tích tụ, giải pháp về tăng cường tích tụ tập trung đất nông nghiệp, giải pháp về huy động vốn, giải pháp về ổn định và bền vững của thị trường tiêu thụ Ngoài ra cần phối hợp giữa các cấp chính quyền
và người dân để giúp tích tụ, tập trung đất nông nghiệp đạt hiệu quả và có tính bền vững cao
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DĐĐT Dồn điền đổi thửa
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Quy mô bình quân trang trại của một số nước 34
Bảng 3.1.Một số yếu tố thời tiết khí hậu ở huyện Ba Vì 50
Bảng 3.2 Chỉ tiêu phát triển kinh tế của huyện giai đoạn 2015 - 2017 55
Bảng 3.3 Dân số và lao động huyện Ba Vì giai đoạn 2012 - 2017 56
Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất huyện Ba Vì năm 2017 66
Bảng 3.5 Quỹ đất hộ gia đình của huyện Ba Vì trước DĐĐT và sau DĐĐT 78
Bảng 3.6 Bình quân số thửa cả các xã tại các tiểu vùng 80
Bảng 3.7 Quy mô đất nông nghiệp của các hộ tích tụ đất nông nghiệp tại huyện Ba Vì 82
Bảng 3.8.Bình quân các hộ tích tụ tại huyện Ba Vì 83
Bảng 3.9 Các hình thức tích tụ đất nông nghiệp của hộ gia đình 86
Bảng 3.10 Cách thực hiện trong tích tụ, tập trung đất nông nghiệp của các hộ tại huyện Ba Vì 88
Bảng 3.11 Khó khăn trong quá trình tích tụ của hộ thực hiện hình thức thuê đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã 89
Bảng 3.12 Khó khăn trong quá trình tích tụ của hộ thực hiên hình thức thuê đất nông nghiệp của các hộ dân cùng địa phương 91
Bảng 3.13 Khó khăn trong quá trình tích tụ của hộ thực hiên hình thức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất 92
Bảng 3.14.Sản lượng ngành trồng trọt phân theo nhóm cây trồng 96
từ năm 2012-2017 96
Bảng 3.15 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp với các kiểu sử dụng đất năm 2017 97
Bảng 3.16 Hiệu quả kinh tế các cây trồng chính vùng 1 99
Bảng 3.17 Hiệu quả kinh tế các cây trồng chính tiểu vùng 2 100
Bảng 3.18 Hiệu quả kinh tế các cây trồng chính tiểu vùng 1 104
Bảng 3.19 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất 106
Bảng 3.20 Mức thu hút lao động và giá trị/ngày công lao động tiểu vùng 1 110
Bảng 3.21 Mức thu hút lao động và giá trị/ngày công lao động tiểu vùng 2 111
Bảng 3.22 Đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 3112
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1.Mô hình trang trại chè sạch tại xã Ba Trại – huyện Ba Vì 99
Hình 3.2.Khoai lang chất lượng cao xã Đồng Thái – huyện Ba Vì 103
Hình 3.3 Mô hình trồng rau sạch trong nhà kính tại xã Cổ Đô – huyện Ba Vì 106
Trang 13DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ về diện tích và giá trị của cây Khoai lang 102
Biểu đồ 3.2 Diện tích trồng rau màu và thủy sản giai đoạn 2012-2017 105
Trang 14
MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, Việt Nam vẫn là một nước có nền kinh tế nông nghiệp chiếm trọng yếu với khoảng 73,3% dân số sống ở nông thôn, 71% dân số làm nông dân (Đỗ Kim Chung, 2008) Sự phát triển của ngành nông nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của cả nền kinh tế quốc dân Để tiến hành bất cứ quá trình sản xuất nào cũng cần phải có các đầu vào cần thiết, sản xuất nông nghiệp cũng vậy Thực tế cho thấy, sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam được thực hiện dưới các hình thức tổ chức sản xuất khác nhau như hộ nông nghiệp, trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp,… Và khoảng 90% đất nông nghiệp thuộc các hộ nông nghiệp và các trang trại, 6% thuộc các doanh nghiệp, số còn lại thuộc các cơ sở khác Đa phần các hộ nông nghiệp có quy mô rất nhỏ Theo số liệu Tổng điều tra nông nghiệp của Tổng cục Thống kê, cơ cấu thành phần kinh tế trong nông nghiệp thay đổi rất ít Nhóm có quy mô sản xuất nhỏ dưới 0,2 ha chiếm khoảng 35%; nhóm có quy mô trên 2 ha chiếm khoảng 6% Nhìn chung, các hộ nông dân nhỏ không đạt hiệu suất cao do ruộng đất manh mún, phân tán ảnh hưởng đến năng suất lao động và hiệu quả quản lý
Trong điều kiện Việt Nam, quỹ đất nông nghiệp chỉ có hạn lại đang bị thu hẹp, dân số lớn, chủ yếu sống bằng nông nghiệp nên bình quân ruộng đất thấp,
do lịch sử để lại nên bình quân diện tích đất nông nghiệp trên hộ đã nhỏ, lại phân chia phân tán Tổ chức quản lý và sử dụng quỹ đất trong điều kiện quy mô nhỏ
và lại manh mún là vấn đề rất khó khăn, không thể sản xuất tập trung, không thể sản xuất có hiệu quả cao nên cứ để tình trạng đất nông nghiệp bị phân bố nhỏ lẻ
và manh mún
Vì vậy, để tổ chức và sử dụng quỹ đất nông nghiệp một cách hợp lý, tiết kiệm, đem lại hiệu quả cao nhưng vẫn đảm bảo được tính bền vững trong công cuộc hiện đại hoá – công nghiệp hoá của nước ta cần thiết phải đưa ra những biện pháp thiết thực Một trong những biện pháp quan trọng và thực tiễn trong giai
Trang 15đoạn này là giải pháp tích tụ tập trung đất nông nghiệp Bởi vì tích tụ đất đai là phương thức giúp giảm chi phí, tăng sản lượng, giảm giá thành, tăng khả năng cạnh tranh giúp người nông dân tăng thu nhập, cải thiện đời sống
Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa ở phía Tây Bắc thành phố Hà Nội Địa hình của huyện thấp dần từ phía Tây Nam sang phía Đông Bắc được chia làm ba vùng rõ rệt: Vùng núi, vùng đồi gò, vùng đồng bằng ven sông Vùng núi chiếm 47,5% diện tích Vùng đồng bằng đất đai rất phì nhiêu, màu mỡ, vì đặc trưng như vậy mà kinh tế chính của Ba Vì là nông nghiệp Tuy nhiên hiện nay ở tình trạng manh mún đất đai vẫn cản trở đối với quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, chưa khuyến khích, tích tụ đất đai quy mô lớn, hạn chế về quy mô thửa ruộng nên việc triển khai các dự án đầu tư của doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn còn gặp rất nhiều khó khăn làm cho nền kinh tế huyện còn hạn chế
Xuất phát từ thực tế nêu trên tôi tiến hành thực hiện đề tài:“ Đánh giá thực
trạng và đề xuất giải pháp tích tụ, tập trung đất nông nghiệp huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá thực trạng tích tụ, tập trung đất nông nghiệp huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội;
- Đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Ý nghĩa khoa học
Luận văn đã góp phần hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về tích
tụ, tập trung đất nông nghiệp
Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu trong luận văn đã đánh giá được thực trạng tích tụ, tập trung đất nông nghiệp tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cho các hộ dân tích tụ, tập trung
Trang 16đất đai Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể áp dụng cho các vùng có điều kiện tương đồng
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho học viên cao học và sinh viên cũng như những nhà quản lý đất đai về tích tụ, tập trung đất nông nghiệp
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ TÍCH TỤ,TẬP TRUNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
Phân loại đất nông nghiệp: Theo điều 10 Luật Đất Đai năm 2013 căn cứ vào mục đích sử dụng đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau:
- Đất trồng cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; Đất trồng cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối
- Đất nông nghiệp khác bao gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh
Đất nông nghiệp có sự khác biệt rõ rệt với các loại đất khác, nó có vai trò quan trọng trong sự phát triển ngành nông nghiệp, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là nơi tạo ra giá trị sản xuất và thu nhập của các hộ dân Nếu con người biết cách sử dụng các công thức luân canh cây trồng phù hợp với từng loại đất sẽ đảm bảo được năng suất cho cây cũng như đảm bảo được tính bền vững trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp
b Sử dụng đất nông nghiệp
Sử dụng đất nông nghiệp là hành vi lấy đất kết hợp với sức lao động, vốn để
Trang 18sản xuất nông nghiệp tạo ra lợi ích, tùy vào mức độ phát triển kinh tế, xã hội, ý thức của loài người về môi trường sinh thái được nâng cao, phạm vi sử dụng đất nông nghiệp được mở rộng ra các mặt sản xuất, sinh hoạt, sinh thái
Sử dụng đất nông nghiệp chính là những tác động tích cực, đôi khi có cả tác động tiêu cực của các hộ sản xuất nông nghiệp trên thửa đất mà hộ được giao quyền sử dụng đất Ngày nay, khi xã hội phát triển, sử dụng đất nông nghiệp không chỉ đơn thuần trồng cây, nuôi vật nuôi trên đất mà phải thiết kế đồng ruộng, với cách quản lý phù hợp, quy mô sử dụng đất hợp lý nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, cải thiện thu nhập cho hộ dân trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới Đặc biệt, trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần phải có những cách thức sản xuất hiện đại, áp dụng các loại máy móc, cơ giới hóa và tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm hướng tới một nền sản xuất hàng hóa tập trung
1.1.2 Vai trò của sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai luôn là tư liệu sản xuất đặc biệt vô cùng quý giá của mỗi quốc gia Đất đai nói chung và đất sản xuất nông nghiệp nói riêng là tư liệu sản xuất trực tiếp không thể thay thế, bởi tất cả các sản phẩm nông nghiệp đều được hình thành từ đất Năng suất cao hay thấp phụ thuộc vào sự phù hợp giữa cây trồng và tính chất của đất
Với những tác động tiêu cực lên đất trong quá trình sử dụng đất làm cho đất đai bị tổn thương và dẫn đến một số hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến cuộc sống của con người Tài nguyên đất của thế giới hiện đang suy thoái nghiêm trọng do xói mòn, rửa trôi, bạc màu, nhiễm mặn, nhiễm phèn và ô nhiễm đất, biến đổi khí hậu Khoảng 2/3 diện tích đất nông nghiệp trên thế giới đã bị suy thoái nghiêm trọng trong 50 năm qua do xói mòn rửa trôi, sa mạc hóa, chua hóa, mặn hóa, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng hệ sinh thái Khoảng 40% đất nông nghiệp đã bị suy thoái mạnh hoặc rất mạnh Ngoài ra, đất nông nghiệp đang đứng trước nguy cơ bị thoái hóa, ô nhiễm chưa từng có do hoạt động phát triển kinh tế của con người, do phát rừng, do hệ biến đổi khí hậu toàn cầu nhiều diện tích
Trang 19đất bị hoang mạc hóa, sa mạc hóa Do vậy, để hạn chế được những tại họa này con người cần có cách thức sử dụng đất nông nghiệp hợp lý và bền vững Mặt khác, kinh nghiệm thế giới cho thấy sản xuất nông nghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả cao trên đất tốt Việc sử dụng đất hiệu quả và bền vững được đặt ra như một yêu cầu tất yếu
Việc sử dụng đất có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất nông nghiệp Nếu sử dụng đất hiệu quả bằng các giải pháp trồng trọt hợp lý, áp dụng những loại cây trồng phù hợp, với công thức luân canh hiệu quả sẽ thu được năng suất cây trồng cao và đảm bảo được độ phì trong đất Nhưng ngược lại, khai thác đất đai không hiệu quả, không hợp lý làm cho đất nghèo dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến năng suất cây trồng và ảnh hưởng đến thu nhập của hộ dân
1.1.3 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn lực quan trọng đối với quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Mỗi quốc gia trên thế giới có một quỹ đất nhất định, và quỹ đất này có hạn do vậy khi sử dụng đất phải đảm bảo tính hiệu quả, bền vững và phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định Tại Điều 6 Luật Đất đai năm 2013 quy định có
3 nguyên tắc phải đảm bảo khi sử dụng đất: (1) Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất; (2) Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh; (3) Người sử dụng đất thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật
có liên quan
Đối với đất nông nghiệp ngoài 3 nguyên tắc trên khi sử dụng đất cần thêm nguyên tắc “đầy đủ, hợp lý, hiệu quả và bền vững”, và phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương để làm cơ sở cho việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả về
cả mặt kinh tế, xã hội, môi trường
Sở dĩ chúng ta cần sử dụng đất nông nghiệp một cách “đầy đủ, hợp lý, hiệu quả
và bền vững” bởi lý do:
Trang 20- Nó sẽ làm tăng nhanh khối lượng nông sản trên 1 đơn vị diện tích, xây dựng cơ cấu cây trồng phù hợp với tiềm năng sẵn có của từng địa phương, chế độ bón phân hợp lý, góp phần bảo vệ độ phì đất, bảo vệ môi trường
- Là tiền đề để sử dụng có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên khác của vùng từ đó nâng cao mức sống của người dân, quy mô sản xuất và đảm bảo hiệu quả bền vững
- Điều đó sẽ bảo vệ được tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn được việc thoái hóa đất, nước, bảo vệ môi trường
- Trong cơ chế kinh tế thị trường cần phải xét đến tính quy luật của nó, gắn với các chính sách vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nền nông nghiệp bền vững
1.1.4 Tích tụ, tập trung đất nông nghiệp
Bên cạnh đó, theo từ điển tiếng việt của Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt
Trang 21Nam: tích là dồn góp lại từng ít một cho nhiều thêm, tụ là họp lại, đọng lại một chỗ Do vậy, tích tụ là dồn từng ít một vào một chỗ để có nhiều thêm
Tích tụ tư bản là tập trung vốn đủ lớn vào một đơn vị kinh doanh (doanh nghiệp) dưới nhiều hình thức khác nhau, để có thể đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, áp dụng công nghệ cao trong sản xuất và quản lý, để tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô, nhằm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp
và sản phẩm trên thương trường, nhờ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Tích tụ ruộng đất là một dạng tích tụ tư bản dưới hình thức hiện vật trong nông nghiệp, vì ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được của nông nghiệp Nhưng do đặc điểm sản xuất mang tính sinh học nên tích tụ ruộng đất nói riêng và tích tụ tư bản nói chung trong nông nghiệp khác hẳn với tích tụ
cơ bản trong công nhiệp
Do đất nông nghiệp có vị trí cố định không di dời nên khái niệm tích tụ đất nông nghiệp khác với khái niệm tích tụ tư bản Nếu tích tụ tư bản hình thành lên doanh nghiệp lớn cụ thể với việc huy động nguồn vốn lớn từ các cổ đông khác nhau thì tích tụ đất nông nghiệp là việc hình thành lên trang trại có diện tích lớn hơn Tích tụ đất nông nghiệp là quá trình chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp, trong thời gian nào đấy từ nhiều người vào số ít người khác, để làm tăng quy mô diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp của người nhận quyền sử dụng đất, và người nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp có đầy đủ quyền sử dụng đất (quyền
sở hữu hạn chế) theo quy định của pháp luật Với khái niệm này có thể hiểu tích
tụ đất nông nghiệp là làm tăng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của hộ bằng cách chuyển quyền sử dụng đất thông qua các quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thừa kế mà người sử dụng đất được quyền thực hiện Ngoài ra, thông qua việc thực hiện chuyển quyền, người nhận chuyển quyền sẽ được Nhà nước bảo vệ quyền sử dụng đất hợp pháp khi thực hiện việc chuyển quyền hợp pháp Tuy nhiên khái niệm này chưa nêu cụ thể việc tích tụ đất nông nghiệp nhằm mục đích gì
Từ những luận chứng trên, dưới góc độ tích tụ đất nông nghiệp theo quy mô
hộ gia đình có thể đưa ra khái niệm tích tụ đất nông nghiệp như sau: Tích tụ tđất
Trang 22nông nghiệp là cách thức làm tăng diện tích đất nông nghiệp của hộ thông qua việc thực hiện nhận chuyển quyền sử dụng đất (nhận chuyển nhượng, thuê, nhận tặng cho ) nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Từ khái niệm tập trung và tích tụ đất nông nghiệp cho thấy sự khác nhau rõ rệt của hai khái niệm Bởi lẽ, tập trung đất nông nghiệp là việc người dân tự nguyện dồn đổi hoặc góp đất nông nghiệp vào tổ hợp tác, hoặc hợp tác xã hoặc các doanh nghiệp tập trung đất nông nghiệp không có sự tăng quy mô diện tích của hộ còn tích tụ đất nông nghiệp thì có sự tăng quy mô diện tích của hộ Ngoài
ra, tích tụ đất nông nghiệp có sự chuyển quyền sử dụng đất từ người này sang người khác, từ nhiều người vào một người có tiềm lực kinh tế phát triển nông nghiệp
b Sự cần thiết phải tích tụ đất nông nghiệp
Tích tụ ruộng đất là quá trình tập trung ruộng đất từ nhiều thửa nhỏ thành thửa lớn, từ nhiều chủ sử dụng đất (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân) vào một số chủ
sử dụng đất có khả năng vốn, lao động, kinh nghiệm quản lý để sản xuất hàng hóa Từ thực tiễn ở Việt Nam cho thấy sự cần thiết của tích tụ đất nông nghiệp để hướng tới sản xuất hàng hóa bởi:
- Việc giao đất cho các hộ dân theo tinh thần của Nghị định 64/CP cho các
hộ gia đình, cá nhân đã gặp một số khó khăn: 1) Do nguyên tắc công bằng “có tốt
- có xấu, có cao - có thấp, có gần - có xa” trong giao đất nên thửa đất bị chia nhỏ, mỗi gia đình có thể có tới 10 - 15 thửa đất nhỏ, không phù hợp với nhu cầu về tăng quy mô đất đai trong sản xuất nông nghiệp hiện đại; 2) Sức sản xuất của nông dân cá thể đã được giải phóng nhưng từng hộ gia đình, cá nhân không thể tạo được khả năng tiếp cận vốn, công nghệ, thị trường để tăng nhanh năng suất, sản lượng và chất lượng nông sản
- Kết quả của việc giao đất nông nghiệp cho các hộ gia đình là tình trạng đất đai manh mún, nhỏ lẻ cụ thể: cả nước có 75 triệu thửa đất, bình quân mỗi hộ có 6
- 8 thửa với khoảng 0,3 – 0,5 ha/hộ Theo số liệu của Nguyễn Trung Kiên (2011), đồng bằng sông Hồng là khu vực có quy mô sản xuất nông nghiệp của các hộ dân
Trang 23dưới 0,5 ha là nhiều nhất (chiếm 94,46%), Đông Nam Bộ là khu vực có quy mô sản xuất nông nghiệp của các hộ dân trên 3 ha là nhiều nhất (chiếm 12,16%) Tình trạng này sẽ gây khó khăn trong quá trình sản xuất đặc biệt là việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, áp dụng cơ giới hóa, tăng chi phí sản xuất
- Phong tục và thói quen sản xuất nông nghiệp manh mún và nhỏ lẻ của người dân hiện nay là một trong số các nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, hiện nay quỹ đất nông nghiệp bị thu hẹp do phải chuyển sang các mục đích khác nhằm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội
Do vậy, tổ chức quản lý và sử dụng quỹ đất trong điều kiện quy mô nhỏ, lại manh mún là vấn đề rất khó khăn, không thể sản xuất tập trung, không thể sản xuất hiệu quả cao Chính vì vậy, cần phải có phương thức mới làm thay đổi thói quen sản xuất nhỏ lẻ, manh mún đó là tích tụ đất nông nghiệp sản xuất theo hướng hàng hóa
Hiện nay, tích tụ đất nông nghiệp đang diễn ra tại các địa phương nhằm khắc phục tình trạng manh mún đất nông nghiệp cũng như hướng tới nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa như điển hình một số tỉnh: Bắc Ninh, Thái Bình, Nghệ An, Nam Định, Hà Nội, Bắc Giang Thực tế, có nhiều mô hình thực hiện thành công với việc hình thành các trang trại quy mô lớn đạt tiêu chí mới và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại quy định tại Thông tư 27/2001/TT- BNNPTNT
c Các yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ, tập trung đất nông nghiệp
+Chủ trương,chính sách của Nhà nước
Nhóm các yếu tố này bao gồm các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước như: Luật đất đai, Luật HTX, các chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ sản phẩm, trợ giá nông sản phẩm, đào tạo lao động, chính sách cho vay vốn, giải quyết việc làm…
Yếu tố này có vai trò quan trọng trong việc tích tụ, tập trung đất đai, nó là yếu tố thúc đẩy hoặc ngược lại là yếu tố cản trở quá trình tập trung tích tụ đất nông nghiệp Khi chính sách nhà nước chưa cho phép chuyển nhượng (mua bán)
Trang 24đất đai thì không có thị trường đất đai hợp pháp Có chăng chỉ có thị trường ngầm, các hoạt động mua bán là bất hợp pháp, trái pháp luật, do vậy, nếu có giao dịch sẽ là bất hợp pháp và mang nhiều rủi ro
Tương tự, các hoạt động tập trung đất đai, hay các loại hình tổ chức sản xuất trong nông nghiệp là cần thiết trong điều kiện đất đai nhỏ lẻ, manh mún Tuy nhiên, nếu không có chính sách, những quy định khuyến khích, hỗ trợ, bảo
hộ của Nhà nước thì các loại hình dẫn tới tập trung đất sẽ không thể thực hiện được Để thực hiện được các hình thức tập trung đất trong nông nghiệp, đòi hỏi phải có chủ trương của Đảng, phải cho các văn bản pháp lý của Nhà nước, phải vào cuộc quyết liệt đồng bộ của các cấp, các ngành, từ trung ương tới địa phương mới có thể thực hiện được
Có thể nói, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới tích tụ, tập trung đất nông nghiệp hiện nay ở nước ta Yếu tố này sẽ thúc đẩy, hay kìm hãm quá trình tích tụ tập trung đất đai trong thời gian tới
+ Yếu tố thị trường
Yếu tố thị trường là yếu tố khá quan trọng của quá trình tích tụ đất đai Khi nền kinh tế là nền kinh tế tập trung bao cấp thì khi đó mọi nguồn lực, nhất là đất đai được tập trung hóa cao độ ở các HTX, khi đó đất đai được tập trung vào kinh
tế tập thể, không có chỗ cho tích tụ đất đai
Chỉ khi cơ chế tập trung bao cấp không còn phù hợp, các HTX không còn vai trò, đất đai được chia cho nông dân, nông dân được giao quyền sử dụng đất, trong đó có quyền chuyển nhượng, quyền thuê mướn, quyền góp đất là điều kiện để nông dân có thể tham gia thị trường quyền sử dụng đất, tham gia các quá trình tích tụ tập trung đất đai
Nền kinh tế chuyển dần từ bao cấp sang kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa,
và đang ngày càng hòa nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới; khi đó yêu cấp thiết là phải chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc, sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất tập trung, sản xuất hàng hóa, có quy mô lớn
Trang 25Thị trường đòi hỏi phải có nông sản hàng hóa tập trung, có chất lượng cao
và đồng đều thì đất đai nhỏ lẻ phân tán không còn phù hợp nữa Muốn có sản xuất hàng hóa tập trung thì buộc phải tích tụ đất đai thành các tranh trại, hoặc là tập trung đất đai trong các liên kết trong sản xuất
Như vậy nhu cầu của nền sản xuất hàng hóa tập trung đã đòi hỏi phải có tích tụ tập trung đất nông nghiệp, đây là yếu tố thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp
+ Các yếu tố về kinh tế -xã hội
- Sự phát triển của các ngành phi nông nghiệp (công nghiệp, dịch vụ .) không chỉ chiếm đất nông nghiệp, mà quan trọng hơn, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập, thu hút lao động từ nông nghiệp, làm cho nhiều hộ có quyền sử dụng đất nhưng không có lao động để làm sản xuất, là điều kiện cần thiết để các
hộ này chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác
- Sản xuất phát triển, kinh tế tăng trưởng, thu nhập của nông dân ngày càng cao là điều kiện quan trọng, không chỉ nâng cao về nhận thức mà còn giúp họ có tiền vốn để mua đất, thu đất cho tích tụ tập trung đất nông nghiệp
- Hiệu quả sản xuất nông nghiệp là yếu tố quan trọng, những người có nguồn vốn họ chỉ đầu tư khi có lãi, trong trường hợp này, họ bỏ vốn mua đất, thuê đất sản xuất nông nghiệp phải có lãi, nghĩa là sản xuất nông nghiệp phải mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với gửi lãi suất ngân hàng
- Yếu tố về lao động, vốn sản xuất và cơ sở hạ tầng: Người lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật về kinh nghiệm sản xuất tiên tiến Trong sản xuất phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật mới mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học vào sản xuất nhằm đem lại lợi nhuận cao Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, cũng như kinh nghiệm sản xuất của người chủ hộ có vị trí quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công và thất bại trong sản xuất hàng hoá của hộ nông dân
- Vốn là điều kiện không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh Nó
là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá Vốn là một
Trang 26trong những yếu tố quyết định sự hình thành quy mô sản xuất hàng hoá Khi có quy mô vốn đủ lớn kinh tế hộ mới chuyển thành kinh tế trang trại gia đình Muốn sản xuất có hiệu quả, năng suất lao động cao cần phải sử dụng một hệ thống công
cụ phù hợp Hiện nay với kỹ thuật canh tác tiên tiến, công cụ sản xuất nông nghiệp đã không ngừng được cải tiến và đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn cho các
hộ nông dân đã đưa năng suất cây trồng, vật nuôi không ngừng tăng lên, chất lượng sản phẩm được đảm bảo tốt hơn Do đó nó ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất hàng hoá của hộ nông dân
- Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn bao gồm: đường giao thông nông thôn, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống điện, trang thiết bị trong nông nghiệp Đây là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn Thực tế cho thấy, nơi nào cơ sở hạ tầng phát triển nơi đó sản xuất phát triển, thu nhập tăng, đời sống của các hộ nông dân được cải thiện
- Cách nghĩ, quan niệm của người nông dân về đất đai: Khi nông dân nghĩ quyền sử dụng đất nông nghiệp là một tài sản để dành cho bản thân và các thế hệ sau của họ thì họ sẽ tìm mọi cách giữ lại mà không muốn chuyển nhượng cho người khác mặc dù họ không có nhu cầu sử dụng Nếu người nông dân quan niệm quyền sử dụng đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất, là một hàng hóa có giá trị trên thị trường, thì họ sẵn sàng bán đi khi không có không sử dụng và ngược lại sẽ mua về khi có nhu cầu
+ Các nhân tố về khoa học kỹ thuật công nghệ
- Yếu tố kỹ thuật canh tác: Do điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi vùng có khác nhau, với yêu cầu giống cây, con khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau Trong nông nghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá
- Yếu tố ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ: Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹthuật, vì nó tạo ra cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt Thực tế cho thấy những hộ nhạy cảm với
Trang 27tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ sản xuất, hiểu biết thị trường, dám đầu tư lớn và chấp nhận những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, họ giầu lên rất nhanh Nhờ có công nghệ mà các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, sinh vật, máy móc và thời tiết khí hậu được kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm nông nghiệp Như vậy, việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất hàng hoá phát triển, thậm chí những tiến bộ kỹ thuật có thể làm thay đổi hẳn trình độ sản xuất hàng hoá của một vùng
- Yếu tố về hợp tác trong sản xuất kinh doanh: Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, để cạnh tranh có hiệu quả các hộ nông dân càng cần có sự hợp tác, liên doanh liên kết để có thêm nguồn vốn, nguồn nhân lực cũng như kinh nghiệm sản xuất để sản xuất nông nghiệp có hiệu quả cao hơn Nhờ có các hình thức liên kết hợp tác mà các hộ nông dân có điều kiện áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nông sản, kích thích quá trình tích tụ đất nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay
+Yếu tố điều kiện tự nhiên
Nông nghiệp là một ngành kinh tế đặc thù với những đặc điểm riêng biệt, vì vậy sản xuất nông nghiệp cũng có những nét đặc trưng riêng, không giống bất cứ một ngành sản xuất nào trong nền kinh tế Kết quả của sản xuất nông nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên như: vị trí địa lý, điều kiện thời tiết khí hậu, chế độ thổ nhưỡng và nền địa hình Đặc biệt, khi tích tụ đất nông nghiệp để sản xuất quy mô lớn thì điều kiện tiên quyết phải có những nghiên cứu, phân tích, đánh giá rất sâu sắc về các yếu tố điều kiện tự nhiên của vùng, chất lượng đất cũng như các đặc điểm của đất, địa hình của từng vùng miền Chất lượng đất tốt hay xấu ảnh hưởng rất lớn tới quá trình thực hiện đầu tư và thành quả thu được
Vị trí địa lý: Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp
và đến sự phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn Những vị trí thuận lợi như gần đường giao thông, gần cơ sở chế biến nông sản, gần thị trường tiêu thụ sản
Trang 28phẩm, gần trung tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn sẽ là những điều kiện tốt cho phát triển sản xuất hàng hoá Thực tế cho thấy,càng ở những vùng xa, do vị trí không thuận lợi nên sản xuất hàng hóa kém phát triển Sản xuất của hộ nông dân hiện nay chủ yếu là nông nghiệp, mà đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế được trong quá trình sản xuất nông nghiệp Do vậy quy mô đất đai, địa hình và tính chất nông hoá thổ nhưỡng có liên quan mật thiết tới từng loại nông sản phẩm, tới số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất ra, tới giá trị lợi nhuận và lợi nhuận thu được Những nhân tố về điều kiện tự nhiên phải kể đến là các ưu đãi của tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến mảnh đất mà người nông dân canh tác, như thời tiết khí hậu, quá trình hình thành đất có tác động quyết định đến độ phì tự nhiên, vị trí của mảnh đất đó Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, quỹ ruộng đất nhiều hay ít, tốt hay xấu đều có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất; đến khả năng sản xuất hàng hoá
Địa hình: Địa hình có ảnh hưởng rất lớn đến tích tụ đất nông nghiệp cho
sản xuất hàng hóa quy mô lớn, nếu địa hình bằng phẳng thì có thể đầu tư nhiều loại cây trồng, vật nuôi thích hợp cho vùng đồng bằng như trồng cây lương thực, nuôi trồng thủy sản, đỡ tốn công san lấp và thuận lợi về giao thông do vậy vận chuyển các nông sản mang ra thị trường nhanh, đảm bảo tươi sống và sản xuất được trên quy mô lớn Ngược lại, địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh, đất đai manh mún phù hợp cho sản xuất nhỏ lẻ Ở đây manh mún đất đai không phải là điều bất lợi do điều kiện tự nhiên ở vùng núi mà ở đó số mảnh ruộng nhiều phản ánh các loại đất và lựa chọn cây trồng khác nhau Khi đầu tư dựa vào điều kiện của địa hình để có những chính sách đầu tư phù hợp nhất
Khí hậu và môi trường sinh thái: Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp
đến sản xuất nông nghiệp Điều kiện thời tiết, khí hậu có lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng có mối quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất Những nơi có điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế được những bất lợi, những rủi ro do thiên nhiên gây ra và có cơ hội để phát triển nông nghiệp, tăng cường nông sản hàng hoá của các hộ nông
Trang 29dân Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân, nhất là nguồn nước, không khí Bởi vì, những cây trồng và con gia súc tồn tại và phát triển theo quy luật sinh học Nếu môi trường sinh thái thuận lợi thì cây trồng, con gia súc phát triển tốt, cho năng suất sản phẩm cao Nếu môi trường sinh thái không phù hợp dẫn đến cây trồng, con gia súc phát triển, năng suất, chất lượng sản phẩm giảm, từ đó sản xuất hiệu quả của hộ nông dân thấp
Do vậy, khi đầu tư vào nông nghiệp các nhà đầu tư phải nghiên cứu rất kĩ đặc điểm tự nhiên của từng vùng để có thể có những công cuộc đầu tư mang hiệu quả cao hoặc có những biện pháp phòng tránh ảnh hưởng xấu của tự nhiên hữu hiệu
d Quan hệ giữa quy mô đất nông nghiệp và sử dụng đất
+Tác động đến hình thức tổ chức sản xuất
Việc sản xuất nông nghiệp hiện nay được thực hiện khá đa dạng với các hình thức khác nhau như: hộ gia đình, gia trại, trang trại, công ty - doanh nghiệp… Để kinh doanh theo hướng trang trại và gia trại, hộ gia đình phải có quy
mô diện tích đất nông nghiệp đủ lớn (trang trại trên 2,1 ha) theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011) Để có diện tích đất nông nghiệp phục vụ sản xuất, ngoài diện tích của hộ được giao theo Nghị định 64/CP năm
1993, phần còn lại các hộ đã thực hiện tích tụ bằng nhiều hình thức khác nhau
Do vậy quy mô tích tụ có tác động trực tiếp đến hình thức tổ chức sản xuất của các hộ sản xuất nông nghiệp Nếu hộ tích tụ quy mô nhỏ (dưới 2,1 ha) chỉ là những gia trại vừa và nhỏ, nhưng nếu diện tích trên 2,1 ha có thể hình thành các trang trại trung bình và lớn
+Tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động và việc sử dụng lao động
Hiện nay, tích tụ đất nông nghiệp diễn ra song song với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giúp cho các hộ dân dần tiếp cận được các tiến
bộ khoa học kỹ thuật điển hình là sử dụng cơ giới hóa trong nông nghiệp và chuyển từ sản xuất theo cách tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa Nếu hộ tích tụ với quy mô lớn sẽ không chỉ sử dụng lao động của hộ mà còn có thể giải quyết
Trang 30việc làm cho người dân tại địa phương (thời điểm thu hoạch còn không có lao động)
Theo nghiên cứu tại đồng bằng sông Cửu Long, tích tụ đất nông nghiệp chưa gắn với phân công lại lao động trong nông nghiệp, nông thôn một cách chặt chẽ: các trang trại trồng trọt có quy mô trong mức hạn điền chỉ sử dụng lao động gia đình là chính, kết hợp với thuê máy móc làm đất, gặt đập hoặc sử dụng lao động chủ yếu của gia đình kết hợp với thuê lao động cấy, gặt theo thời vụ (ở vùng trung du miền núi và vùng đồng bằng Bắc Bộ) Một số trang trại trồng trọt, kinh doanh tổng hợp có quy mô lớn trên mức hạn điền thì thường kết hợp trang
bị máy móc với lao động thường xuyên (ở mức khoảng 10 người) và lao động mùa vụ (Nguyễn Đình Bồng và Tạ Hữu Nghĩa, 2009)
+Tác động đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Năng suất là yếu tố đầu tiên thể hiện hiệu quả sản xuất Theo ý kiến của các nhà khoa học trên thế giới, hiện nay có nhiều tranh cãi quanh mối quan hệ giữa tích tụ đất nông nghiệp và năng suất Tích tụ đất nông nghiệp sẽ tạo ra các trang trại lớn có thể tận dụng các lợi thế của quy mô lớn như là thực hiện cơ giới hóa
để tăng năng suất Nếu quy mô diện tích đất nông nghiệp nhỏ thì khó khăn cho việc áp dụng cơ giới hóa, thay vào đó là phải sử dụng lao động thủ công Ngoài
ra nếu quy mô diện tích lớn, sẽ tiết kiệm được một số chi phí về phân bón và thuốc bảo vệ thực vật dư thừa trên đồng ruộng Bên cạnh đó, nếu trồng cây trên quy mô lớn (quy mô sản xuất lớn), thì đầu tư kỹ thuật sẽ sâu hơn và giảm được một số rủi ro cá biệt, giúp tăng năng suất cây trồng
+Tác động đến thị trường tiêu thụ sản phẩm
Sản lượng phụ thuộc nhiều vào quy mô sản xuất nông nghiệp Với những
hộ tích tụ quy mô nhỏ thì sản phẩm nông sản chủ yếu phục vụ cho gia đình hoặc bán tại chợ và thương lái Nhưng đối với những hộ quy mô sản xuất lớn, yếu tố thị trường đóng vai trò quan trọng, đặc biệt cần phải có thị trường tiêu thụ nông sản ổn định nhằm đảm bảo sự lưu thông giữa yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất nông nghiệp Theo nhận định của Võ Tòng Xuân (2015): Nếu ta
Trang 31không tạo được thị trường trong hoặc ngoài nước, nhất là thị trường quốc nội thì người nông dân không thể làm giàu được và do đó nông nghiệp nước nhà không thể tiến xa hơn nữa Do vậy để đảm bảo hiệu quả sản xuất nông nghiệp cần phải
có giải pháp đồng bộ, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phầm đặc biệt phải có giải pháp mở rộng trong liên kết tiêu thụ giữa các vùng miền và liên kết giữa chính quyền, doanh nghiệp và hộ dân trong việc tiêu thụ sản phẩm nông sản
e Vai trò, ý nghĩa của tích tụ, tập trung đất nông nghiệp
+Tích tụ, tập trung đất với các hình thức tổ chức sản xuất
Hiện nay, việc sản xuất nông nghiệp tại các địa phương được tổ chức sản xuất với nhiều hình thức khác nhau như: hộ gia đình, hợp tác xã, trang trại, doanh nghiệp…
Sản xuất, kinh doanh theo kiểu trang trại, gia trại có đặc điểm ruộng đất một phần là của hộ gia đình (chủ trang trại), phần còn lại có thể do hộ gia đình nhận chuyển nhượng, thuê lại, nhận góp ruộng đất từ người khác; còn tiền vốn cho quá trình sản xuất, kinh doanh nông nghiệp có thể do hộ gia đình tự có hoặc huy động
từ các nguồn vốn vay, huy động và sức lao động có thể thuê mướn và chủ yếu
là sử dụng sức lao động trong hộ gia đình, hơn nữa, lợi ích của tất cả các thành viên trong hộ gia đình phụ thuộc trực tiếp vào năng suất, chất lượng của cây trồng, vật nuôi Vì vậy, xét trong ngắn hạn, trang trại gia đình quy mô nhỏ có thể không đạt hiệu quả cao trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên hạn chế của cộng đồng cũng như phải gánh chịu những rủi ro lớn hơn Nhưng trong dài hạn, những trang trại gia đình quy mô nhỏ lại đạt được sự ổn định cao hơn và hiệu suất sản xuất lớn hơn trên mỗi đơn vị diện tích đất canh tác so với các trang trại quy mô lớn hoạt động trong điều kiện tương tự
Cả nước có khoảng 17.900 hợp tác xã, trong đó có khoảng 8.553 hợp tác xã nông nghiệp chiếm 47%, tiếp đến là hợp tác xã công nghiệp và xây dựng (16%), hợp tác xã điện nước (15%)và các loại hình hợp tác xã khác (Liên minh hợp tác
xã Việt Nam) Các HTX hoạt động chủ yếu tập trung ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ chiếm 47,1% số HTX nông nghiệp trong cả nước, tiếp đến là Bắc Trung bộ
Trang 32chiếm 21,1%, Tây Bắc 1,8%, Tây Nguyên 1,9%, Đông Nam bộ 2,7% Riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long nơi sản xuất nông nghiệp hàng hoá lớn nhất cả nước cũng chỉ có 496 hợp tác xã nông nghiệp
Nhìn chung, mô hình HTX hiện nay chưa phát huy được đúng vai trò và tiềm năng phát triển của loại hình kinh tế tập thể này Đối với các HTX kiểu cũ
đã chuyển đổi sang mô hình HTX mới theo luật HTX, song còn rất nhiều bất cập trong tổ chức và hoạt động và đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả hoạt động của HTX Đặc điểm chung của những hợp tác xã kiểu mới hiện nay là: Về tổ chức, quản lý: xã viên tham gia HTX chủ yếu là đại diện hộ gia đình, việc chuyển xã viên ở HTX cũ sang HTX mới còn mang tính hình thức, vốn góp xã viên được phân bổ từ giá trị tài sản, vốn của HTX cũ chuyển sang, xã viên không góp thêm vốn Do đó xã viên không có ý thức trách nhiệm xây dựng HTX
Các HTX thành lập mới xuất phát từ nhu cầu của xã viên và phát huy được tính tự nguyện, dân chủ trong HTX, song do năng lực quản lý yếu kém, vốn tài sản nhỏ bé do đó hoạt động cầm chừng hiệu quả chưa cao Phần lớn các HTX mới được thành lập trong những năm gần đây trên cơ sở tập đoàn, liên tập đoàn,
tổ hợp tác, tổ, nhóm nông dân… Trong lĩnh vực nông nghiệp: Quy mô nhiều HTX còn nhỏ, chưa được sắp xếp lại Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuất kinh doanh còn thiếu Tỷ lệ lãi trên doanh thu đạt thấp, đặc biệt là các HTX dịch vụ thủy nông, bảo vệ thực vật, cung ứng vật tư và làm đất Hình thức HTX hiện nay khả năng thu hút lao động và giải quyết việc làm cho người lao động ở khu vực nông thôn thấp Trình độ cán bộ quản lý của nhiều HTX còn yếu, phần lớn chưa qua đào tạo nghiệp vụ chuyên môn
Do vậy, mục đích của chính sách tích tụ đất nông nghiệp ở nước ta là nhằm tạo điều kiện để hộ gia đình, cá nhân phát huy lợi thế quy mô trong nông nghiệp Tuy nhiên, chúng ta cần phải chọn ra được các hình thức tích tụ và quy mô diện tích đất đai phù hợp cho các hộ gia đình, cá nhân để vừa đạt được mục trên nhưng đồng thời cũng vừa giúp họ ngăn ngừa được những rủi ro do đầu tư quá mức gây ra
Trang 33Việc pháp luật quy định các quyền chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng giá trị QSDĐ đối với hộ gia đình, cá nhân đã tạo điều kiện để hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp có năng lực về vốn, lao động và quản lý tổ chức sản xuất tốt mở rộng quy mô đất canh tác nông nghiệp tận dụng được lợi thế kinh tế theo qui mô để phát triển kinh tế hộ Đây cũng chính là quá trình đưa
hộ gia đình và các thành viên trong hộ từ địa vị làm thuê trong các doanh nghiệp nông nghiệp qui mô lớn, có nhiều cấp quản lý trung gian, trở thành người chủ trang trại gia đình thực thụ; đưa kinh tế hộ gia đình trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong nền nông nghiệp sản xuất lớn XHCN Tuy nhiên, mức tích tụ hiện nay theo quy định của pháp luật đã phù hợp với điều kiện cụ thể ở nước ta hay chưa Đây là một vấn đề không dễ và rất khó được sự đồng thuận cao trong nghiên cứu cũng như trong xã hội
Thực tiễn trong hơn một thế kỷ qua cho thấy, các lý thuyết kinh tế chủ đạo
ở cả các nước tư bản lẫn các nước XHCN đều tin tưởng và sốt sắng dự báo cho
sự thất bại của mô hình trang trại gia đình quy mô nhỏ Các nhà kinh tế luôn cho
rằng trang trại nhỏ là “không sinh lợi” và “không có hiệu quả”; rằng năng suất
đất đai của các trang trại lớn cao hơn của các trang trại nhỏ, vì thế cần phải hợp nhất đất đai của các trang trại nhỏ lại để phát huy lợi thế của sản xuất quy mô lớn
có hiệu quả hơn, hơn nữa họ còn dự báo trang trại nhỏ khó có thể tồn tại trong điều kiện nền kinh tế tự do cạnh tranh Sở dĩ có tình trạng này là vì các trang trại nhỏ có xu hướng đi vào sản xuất các loại nông sản quy mô nhỏ nhưng giá trị cao
và kinh doanh tổng hợp Họ kết hợp hoặc quay vòng cây trồng và vật nuôi, với việc sử dụng nhiều lao động và các yếu tố đầu vào hơn cho một đơn vị diện tích
và sử dụng đa dạng hơn các hệ thống canh tác Vì vậy, mặc dù năng suất trên một đơn vị diện tích gieo trồng trong trang trại nhỏ có thể thấp hơn so với trang trại lớn chuyên canh, nhưng giá trị tổng sản lượng trên một đơn vị diện tích canh tác được xác định thông qua nhiều loại sản phẩm khác nhau có thể có sự khác biệt rất lớn và thường cao hơn so với trang trại có quy mô lớn
Những lợi thế của trang trại quy mô lớn được tìm thấy bởi một số phân tích
Trang 34trước đây đã biến mất, đó là bằng chứng của tính phi hiệu quả khi quy mô trang trại tăng lên Hơn nữa các nghiên cứu cũng cho thấy: Các trang trại quy mô rất nhỏ thường hoạt động không hiệu quả bởi vì chúng không có khả năng sử dụng hết công suất các máy móc thiết bị đắt tiền, trong khi đó các trang trại quy mô rất lớn cũng không hiệu quả vì những vấn đề quản lý và lao động cố hữu trong những hoạt động lớn Hiệu quả có vẻ tập trung ở các trang trại ở nhóm giữa, thường có từ 01 đến 02 lao động làm thuê
Tóm lại, chính sách tích tụ đất nông nghiệp áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân không chỉ tác động trực tiếp tới sự phát triển của riêng ngành nông nghiệp - khu vực có trên 10 triệu hộ gia đình nông dân, với gần 80% dân số cả nước có thu nhập chính từ nông nghiệp - mà còn tác động chung tới cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế đất nước Một chính sách tích tụ đất nông nghiệp đúng đắn sẽ tạo đà cho tăng trưởng kinh tế mạnh và ngược lại sẽ đẩy đất nước vào tình trạng trì trệ, kém phát triển Tuy nhiên, Nhà nước thông qua việc tổng kết thực tiễn cũng cần
có các điều tiết, hướng dẫn hoặc khuyến cáo việc tích tụ đất nông nghiệp của nông dân theo một lộ trình nhất định, phù hợp với xu thế phát triển chung của nền kinh tế thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, để nông dân tránh những tổn thất, mất mát do sự thái quá trong đầu tư mở rộng quy mô sản xuất gây ra
+Tích tụ tập trung đất với chuyển dịch dân cư, cơ cấu lao động
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước các hộ gia đình sẽ được tiếp thu cơ giới hóa, điện khí hóa và tin học hóa, chuyển dần từ tiểu nông tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa trên cơ sở tích tụ đất đai, tiến tới kinh tế trang trại hộ gia đình Tích tụ đất nông nghiệp sẽ là phương án khả thi khi chúng ta giải quyết tốt vấn đề chuyển bớt lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp, tham gia vào khu vực kinh tế phi nông nghiệp Tuy nhiên, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo ở khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng vẫn còn khá lớn Do vậy, Việt Nam đang phải giải quyết một nghịch lý đã và đang diễn ra trong thời gian qua với công nghiệp tăng trưởng trên hai con số, một diện tích đất sản xuất nông nghiệp không nhỏ bị chuyển sang phát triển công nghiệp và mục đích phi nông nghiệp khác trong khi
Trang 35điều kiện chưa có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp dẫn đến lao động nông nghiệp thiếu việc làm, dịch chuyển lao động tự do từ các vùng nông thôn ra các thành phố lớn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội hiện nay Một hiện tượng đáng chú ý hiện nay là mối liên kết giữa thị trường đất đai và thị trường lao động
còn chưa tốt
Vấn đề hiện nay chúng ta chưa quan tâm nhiều đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ thương mại nên sự mất cân đối về lao động được bộc lộ rõ nhất trong khi công nghiệp không đủ nguồn lao động có chất lượng, tay nghề đã qua đào tạo thì lao động nông nghiệp chiếm đa
số nhưng là lao động thủ công Đây là một xu thế tất yếu và phù hợp với quy luật khách quan, tuy nhiên, Nhà nước cần đầu tư cho đào tạo nghề để người lao động đáp ứng trước yêu cầu dịch chuyển đó
+Tích tụ và tập trung đất ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Đất đai là một trong bốn yếu tố đầu vào quan trọng cho phát triển nông nghiệp Áp lực của gia tăng dân số, sự phát triển của ngành công nghiệp và dịch
vụ cùng với quá trình đô thị hóa làm giảm quỹ đất Đặc biệt ở những nước đang phát triển, diện tích canh tác giảm trở thành yếu tố cản trở sự phát triển bền vững của khu vực nông nghiệp
Có thể nhận thấy hệ thống quản lý và phương thức trồng trọt là những yếu
tố quan trọng trong việc đẩy mạnh năng suất ở các nước đang phát triển Cơ cấu của ngành nông nghiệp của mỗi nước đều rất khác nhau, nguyên nhân chính do lịch sử phát triển, tuy nhiên, cơ cấu cũng có sự giống nhau ở chỗ hạn chế tăng năng suất Ở nhiều nước, quy mô canh tác rất nhỏ và đất đai manh mún Tình trạng này có thể thấy rõ ở các quốc gia Châu Á nơi có mật độ dân số cao với nhiều mảnh đất bị chia nhỏ; khi số hộ gia tăng, đất đai sẽ được tiếp tục chia và điều này dẫn đến kém hiệu quả trong sử dụng đất Trái ngược với các quốc gia ở Châu Á, các nước Mỹ Latin lại có chủ trương tập trung đất Nhiều trang trại lớn được quản lý bởi một nhóm các nông dân giàu có Ở Brazil 90% đất thuộc về
Trang 3615% dân số Trong trường hợp này, đất đai cũng được sử dụng kém hiệu quả Hiện nay, có nhiều tranh cãi quanh mối quan hệ giữa tập trung ruộng đất và năng suất Tập trung ruộng đất sẽ tạo ra các trang trại lớn có thể tận dụng các lợi thế của quy mô lớn như là thực hiện cơ giới hóa để tăng năng suất Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng càng tăng lương trong khu vực phi nông nghiệp thì càng nhiều lao động chuyển từ khu vực nông nghiệp sang phi nông nghiệp Điều này cho thấy các nước đang phát triển không cần phải lo lắng về vấn đề bất bình đẳng trong phân phối đất đai nếu thị trường bất động sản ổn định và kiểm soát được Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới, tập trung ruộng đất cho sản xuất phụ thuộc vào khả năng dịch chuyển lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp cũng như phụ thuộc vào thị trường bất động sản và hệ thống pháp luật liên quan đến đất đai Một trong những thách thức lớn nhất trong việc giải quyết vấn đề tăng trưởng nông nghiệp ở các quốc gia có tình trạng manh mún và phân tán đất đai cao là đẩy mạnh tích tụ và tập trung ruộng đất Quá trình này bị ngăn chặn bởi một nền nông nghiệp kém phát triển nơi mà sản xuất thực hiện bởi hiệu ứng đám đông không phải bởi sản xuất hàng loạt Nếu ngành nông nghiệp muốn bắt kịp các ngành khác thì nó phải có ảnh hưởng đến phần còn lại của nền kinh tế Như vậy để có thêm đất nông nghiệp, lao động phải bị đấy ra khỏi khu vực nông nghiệp
+Tích tụ, tập trung đất ảnh hưởng đến khác biệt xã hội ở nông thôn
Các nước đang phải đối mặt với những thách thức khi tích tụ và tập trung đất chủ yếu là các nước có sự mất cân bằng lớn trong thu nhập Rủi ro trong thị trường kinh tế buộc người dân phải hứng chịu khoản nợ khổng lồ và phải thế chấp hoặc bán đất của họ và trở thành người làm thuê Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và hạn chế của quyền sở hữu đất sẽ dễ dàng thay đổi mục đích sử dụng đất Nông dân bị thu hồi đất và không có cơ hội tham gia vào các khu vực khác và do đó khoảng cách nông thôn và thành thị ngày càng lớn Một trong những yếu tố làm giảm tác động của tích tụ và tập trung đất về sự khác biệt xã hội là thu nhập từ khu vực phi nông nghiệp Báo cáo của Ngân hàng
Trang 37thế giới cho rằng thu nhập từ khu vực phi nông nghiệp cao hơn khu vực nông nghiệp
Di cư đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tập trung ruộng đất và giảm bất bình đẳng ở khu vực nông thôn Nghiên cứu cho rằng quá trình chuyển đổi đô thị hóa tạo ra thu nhập tốt hơn là cách để xóa đói giảm nghèo Những người trẻ
và có trình độ dễ dàng di cư và tạo ra sự khác biệt hơn đối với người nông dân bị mất đất và không có cơ hội tham giá vào các hoạt động phi nông nghiệp Bởi vậy, vai trò của giáo dục trong đẩy mạnh tập trung ruộng đất là tạo ra cơ hội để thay đổi nghề nghiệp và cải thiện thu nhập
Benerjee và Iyer (2005) giả định rằng các nước có sự bất bình đẳng cao trong vấn đề sở hữu đất đai, cơ cấu và phân bổ lại đất là giải pháp thiết yếu để giải quyết vấn đề Tuy nhiên, ở một số trường hợp, phân bổ lại đất đai không cẩn thận gây ra ảnh hưởng tiêu cực Đẩy chủ sở hữu đất ra khỏi mảnh đất của họ hoặc thay đổi mục đích sử dụng trước khi có một khuôn khổ pháp lý tốt cho người sử dụng đất hoặc quốc hữu hóa đất đai là nguyên nhân khiến cho người dân nghèo
đi Nếu đất đai được phân bổ lại thông qua cải cách ruộng đất qua đó nâng cao kĩ năng quản lý, áp dụng công nghệ cao, tiếp cận tín dụng là điều kiện cần thiết để đảm bảo khả năng cạnh tranh của chủ sở hữu đất mới
1.2 Chính sách pháp luật liên quan đến tích tụ đất nông nghiệp
1.2.1 Chính sách đất đai liên quan đến tích tụ đất nông nghiệp
a Cải cách ruộng đất, xóa bỏ chế độ ruộng đất thực dân phong kiến, thực hiện
“Người cày có ruộng” Năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã đưa ra
cương lĩnh chính trị với nhiệm vụ chiến lược của Cách mạng Việt Nam như sau:
“Đánh đổ đế quốc xâm lược giành độc lập dân tộc và xóa bỏ chế độ phong kiến giành ruộng đất cho nông dân” (Đảng Cộng sản Đông Dương, 1930) Cách mạng tháng Tám thành công đã tạo một bước ngoặt trong lịch sử của Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành sắc lệnh bãi bỏ thuế thân, thuế môn bài, giảm tô, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp, Việt gian phản động chia cho nông dân nghèo, chia lại công điền công thổ; Hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II tổ chức vào tháng 11/195 đã thông qua
Trang 38cương lĩnh ruộng đất Ngảy 4/10/1953 Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thông qua Luật cải cách ruộng đất
Cải cách ruộng đất được tiến hành trong thời kỳ đất nước đang chiến tranh, chia cách 2 miền Nam Bắc và được đã tiến hành 5 đợt giảm tô và bắt đầu cải cách ruộng đất đợt 1 ở 53 xã thuộc vùng tự do của các tỉnh: Thái Nguyên, Bắc Giang, Thanh Hóa
b Hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế nông nghiệp, thí điểm xây dựng hợp tác xã nông nghiệp (1955 - 1957)
Kê hoạch 3 năm khôi phục kinh tế đất nước từ 1955- 1957 Bộ Chính Trị ra quyết định thực hiện vào tháng 9/1954.); Sau đó Tháng 5/1955 Quốc hội ban hành 8 chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp nhằm khôi phục kinh tế sau chiến tranh; Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp là cách thức tổ chức tích tụ đất nông nghiệp đầu tiên và được xây dựng thí điểm sau chủ trương của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II tại hội nghị lần thứ 8 (Tháng 8/1955) Kết quả thực hiện chủ trường có 6 HTX sản xuất nông nghiệp được thành lập (1955) ở tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên, Thanh Hóa Năm 1956 có 26 HTX sản xuất nông nghiệp được thành lập và có 42 HTX sản xuất nông nghiệp (tháng 10/1957)
c Hợp tác hóa nông nghiệp
* Cải cách xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thí điểm xây dựng HTX nông nghiệp bậc thấp (1958-1960) Hội nghị lần thứ
4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II họp vào tháng 11/1958 đã đề ra kế hoạch 3 năm cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế miền Bắc trong giai đoạn 1958-1960: Hợp tác hóa nông nghiệp là khâu chính trong toàn bộ dây chuyền cải tạo Xã hội Chủ Nghĩa ở miền Bắc nước ta Mục tiêu là đến năm 1960 phải căn bản hoàn thành HTX bậc thấp, tức là phải thu hút được tuyệt đại bộ phận nông dân cá thể vào HTX
Sau thời gian thực hiện, cuối năm 1960 toàn miền Bắc đã căn bản hoàn thành xây dựng HTX với 41.400 HTX, thu hút 2.400.000 hộ nông dân với 85,8%
số hộ và 76% diện tích ruộng đất tập thể Ngoài ra, trong 2 năm (1957 – 1958),
Trang 39Nhà nước đã thành lập 6 tập đoàn sản xuất nông nghiệp, đến cuối năm 1959 đã thành lập 48 nông trường quốc doanh (Nguyễn Đình Bồng và cs., 2012)
* Xây dựng HTX nông nghiệp bậc thấp (1960 - 1975)
Tháng 9/1960, Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ III đã đề ra đường lối xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc: “Đối với nông nghiệp, phương hướng là tiếp tục thu hút nông dân cá thể vào HTX bậc thấp, từng bước chuyển lên bậc cao;
mở rộng quy mô HTX, kết hợp hoàn thiện quan hệ sản xuất với phát triển lực lượng sản xuất” (Đảng Lao Động Việt Nam, 1960) Với sự tập trung cao độ ruộng đất, lao động và các tư liệu sản xuất kết quả là quá trình hợp tác hóa nông nghiệp đã diễn ra nhanh chóng cụ thể từ HTX bậc thấp chuyển lên HTX bậc cao, ruộng đất đã được tập thể hóa triệt để, chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất đã được hình thành
* Xây dựng HTX nông nghiệp bậc cao (1960-1975)
Hội nghị lần thứ 11, 12 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa III (1965)
đề ra Nghị quyết chuyển hướng về tư tưởng, tổ chức kinh tế, quốc phòng tiếp tục xây dựng Chủ nghĩa Xã hội trong điều kiện cả nước đang có chiến tranh; chủ trương tiếp tục củng cố HTX nông nghiệp Quy mô HTX ngày càng mở rộng với
mô hình HTX liên thôn, HTX quy mô toàn xã; trong đó HTX là đơn vị quản lý, đội sản xuất là đơn vị nhận khoán với phương thức 3 khoán: khoán sản lượng, khoán lao động, khoán chi phí phân phối bình quân Cuối năm 1974 Ban Bí thư
ra Chỉ thị 208/CT/TW về tổ chức lại sản xuất, cải tiến quản lý nông nghiệp; Nghị quyết 24 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa III tháng 9/1974 đã xác định chủ trương: “Triệt để xóa bỏ tàn dư chế độ phong kiến về ruộng đất” (Ban chấp hành Trung ương Đảng, 1974)
Với việc xóa bỏ chế độ phong kiến về ruộng đất, các mô hình tập thể hóa nông nghiệp đã được thực hiện và đạt kết quả tốt, đặc biệt đã hoàn chỉnh và phân công lao động trong HTX nông nghiệp theo hướng chuyên môn hóa Năm 1975
cả nước đã có 17.000 HTX, trong đó 90% là HTX bậc cao, số hộ xã viên chiếm 95,6% số hộ nông dân miền Bắc, trong đó hộ xã viên HTX bậc cao chiếm 96,4%; bình quân mỗi HTX có diện tích canh tác là 115 ha, 199 hộ và 337 lao động
Trang 40trong độ tuổi lao động Trên thực tế HTX có quy mô càng lớn, quản lý tập trung thống nhất, hiệu quả kinh tế càng thấp Do đó, tổ chức sản xuất theo hình thức HTX ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế
* Hoàn thiện HTX quy mô toàn xã, tổ chức nông nghiệp sản xuất lớn (1976
- 1980)
Ngày 20/12/1976 Đảng Cộng Sản Việt Nam đã họp Đại hội lần thứ IV quyết định đường lối xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội trên phạm vi cả nước Chủ trương xây dựng cấp huyện, hoàn thiện xây dựng HTX quy mô toàn xã, tổ chức nông nghiệp sản xuất lớn được tiếp tục khẳng định: “Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng tập trung, xóa bỏ kiểu tổ chức nông nghiệp theo hướng tập trung, xóa bỏ kiểu tổ chức sản xuất và ăn chia theo đội Thực hiện việc quản lý
và sử dụng ruộng đất tập trung, thống nhất trên quy mô HTX” (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 1976) Kết quả đến năm 1979 toàn miền Bắc có 4.164 HTX quy mô toàn xã, một số nơi hợp nhất 2 – 3 xã thành HTX liên xã với quy mô trên 1000
ha Ngoài ra, thực hiện Chỉ thị 57 CT- TƯ ngày 14/3/1978 của Bộ Chính Trị về
“việc nắm vững và đẩy mạnh công tác cải tạo nông nghiệp miền Nam„ và Chỉ thị
43 CT – TƯ ngày 15/11/1978 của Bộ Chính Trị về “việc xóa bỏ hình thức bóc lột của phú nông, tư sản nông thôn và tàn dư bóc lột phong kiến, thực sự phát huy quyền làm chủ của nông dân lao động, đẩy mạnh cải cách XHCN đối với nông nghiệp ở các tỉnh phía Nam” đến tháng 7/1980 toàn miền Nam đã xây dựng 1.518 HTX, 9.350 tập đoàn sản xuất, thu hút 35,6% số hộ nông dân vào HTX, tập đoàn, tư liệu sản xuất tập thể hóa đạt 50 - 95% (Nguyễn Đình Bồng và cs., 2012)
* Cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp (1981 - 1985)
Ngày 13/1/1981 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 100 về
“Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp” (Ban Bí thư Trung ương Đảng, 1981) Với việc ban hành chỉ Chỉ thị 100 đã tạo cho xã viên được quyền sử dụng đất Đây là chính sách đất nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong thời kỳ này
Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 56 vào ngày 29/1/1985 về