Bước vào thời kỳ phát triển, từ một nền sản xuất nhỏ, đất đai phân tán, manh mún với diện tích bình quân hộ nông nghiệp chỉ đạt khoảng 0,46 ha, trung bình được chia thành 2,83 mảnh/hộ, p
Trang 1TÔ NGỌC VŨ
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÍCH TỤ, TẬP TRUNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Hà Nội – Năm 2018
Trang 2TÔ NGỌC VŨ
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÍCH TỤ, TẬP TRUNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 8850103
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Nguyễn Thị Hải Yến
HÀ NỘI – Năm 2018
Trang 3CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Cán bộ hướng dẫn chính: TS Nguyễn Thị Hải Yến
Cán bộ chấm phản biện 1:TS Đào Đức Mẫn
Cán bộ chấm phản biện 2: TS Vũ Thị Thanh Thủy
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:
HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Ngày 15 tháng 09 năm 2018
Trang 4Tôi xin cam đoan:
Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn
trung thực, của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và
pháp luật Việt Nam Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2018
Tác giả Luận văn
Tô Ngọc Vũ
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã
nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ,
động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính
trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Hải Yến đã tận tình hướng dẫn,
dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình
học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo,
Khoa Quản lý đất đai –Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tận
tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng
thống kê huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình và huyện Phước Long, tỉnh Bạc
Liêu đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi
hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2018
Tác giả Luận văn
Tô Ngọc Vũ
Trang 6THÔNG TIN LUẬN VĂN
Họ và tên học viên: Tô Ngọc Vũ
Lớp: CH2B.QD Khoá: 2B
Cán bộ hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Hải Yến
Tên đề tài: Đánh giá thực trạng tích tụ, tập trung đất nông nghiệp tại một số địa phương ở Việt Nam
Thông tin luận văn:
Trong bối cảnh đóng góp của nông nghiệp vào GDP cùng với diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm dần đã và đang khiến cho nông nghiệp gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển trong khi diện tích đất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ đã đặt ra yêu cầu phải tiến hành tích tụ, tập trung đất nông nghiệp nhằm mục tiêu hiện đại hóa, cơ giới hóa nông nghiệp, nông thôn
Luận văn được thực hiện nhằm đánh giá tình hình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp tại hai địa phương đại diện cho hai vùng nông nghiệp phát triển nhất cả nước là Đông Hưng (Thái Bình) và Phước Long (Bạc Liêu) Sau quá trình nghiên cứu, có thể thấy rằng, Đông Hưng và Phước Long đều đã thực hiện thành công các hình thức tích tụ, tập trung đất đai khác nhau Đối với Đông Hưng, huyện đã thực hiện 2 đợt dồn điền đổi thửa với bình quân số thửa/hộ đã giảm từ 3,7 ha xuống còn 1,89 ha, cùng với đó là thu nhập của người dân đã được cải thiện nhờ quá trình mở rộng sản xuất trên quy mô diện tích lớn hơn Khác với Đông Hưng, Phước Long tiến hành tích tụ đất nông nghiệp dựa trên việc thực hiện triệt để mô hình cánh đồng mẫu lớn thông qua hai hình thức là trang trại và hợp tác xã kiểu mới Cả hai hình thức này đã thể hiện được tính ưu việt khi không chỉ bao tiêu sản phầm mà còn hướng dẫn người dân trong quá trình sản xuất, chế biến nông sản
Tích tụ, tập trung đất nông nghiệp là cần thiết, tuy nhiên các địa phương cần phải nhìn nhận rõ vai trò quan trọng của khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp cũng như sự tham gia của các doanh nghiệp đầu
tư vào nông nghiệp Bên cạnh đó, những chính sách về đất đai, nông nghiệp nông thôn cũng cần có sự thay đổi nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển nền nông nghiệp hiện đại dựa trên nền tảng đất đai quy mô lớn
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
DĐĐT Dồn điền đổi thửa UBND Ủy ban nhân dân QSD Quyền sử dụng
Trang 8MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
THÔNG TIN LUẬN VĂN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận về tập trung, tích tụ đất nông nghiệp 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.2 Mục tiêu của tập trung, tích tụ đất nông nghiệp 7
1.1.3 Các hình thức tập trung, tích tụ đất nông nghiệp 8
1.1.4 Sự cần thiết phải tiến hành tích tụ tập trung đất đai khi sản xuất nông nghiệp 15
1.2 Cơ sở pháp lý về tập trung, tích tụ đất nông nghiệp 21
1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng liên quan đến tập trung, tích tụ đất nông nghiệp 21
1.2.2 Một số quy định trong Pháp luật đất đai về tập trung, tích tụ đất nông nghiệp 23
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về tích tụ, tập trung đất nông nghiệp và bài học cho Việt Nam 26
1.3.1 Kinh nghiệm trong tích tụ, tập trung của các quốc gia châu Âu 27
1.3.2 Kinh nghiệm trong tích tụ, tập trung đất nông nghiệp của các quốc gia châu Á 32
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Đối tượng nghiên cứu 37
2.2 Phạm vi nghiên cứu 37
Trang 92.3 Nội dung nghiên cứu 37
2.3.1 Thực trạng sử dụng đất tại 2 huyện Đông Hưng (Thái Bình) và Phước Long (Bạc Liêu) 37
2.3.2 Thực trạng và hiệu quả tích tụ, tập trung tại địa bàn nghiên cứu 37
2.3.3 Phân tích những khó khăn, thuận lợi trong quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp 37
2.3.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác tích tụ, tập trung đất đai tại địa bàn nghiên cứu 38
2.4 Phương pháp nghiên cứu 38
2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp 38
2.4.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp 39
2.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 39
2.4.4 Phương pháp phân tích tổng hợp lý thuyết 39
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 40
3.1.1 Tổng quan về huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình 40
3.1.2 Tổng quan về huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu 45
3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu 48
3.2.1 Tình hình hiện trạng sử dụng đất của huyện Đông Hưng 48
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Phước Long 52
3.3 Thực trạng quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiêp tại địa bàn nghiên cứu 54
3.2.1 Thực trạng dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Đông Hưng 55
3.2.2 Thực trạng tích tụ, tập trung đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phước Long 66
3.2.2 Thực trạng tích tụ, tập trung đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phước Long 67
3.3 Đánh giá hiệu quả của quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp 77
3.3.1 Đánh giá hiệu quả của dồn điền đổi thửa 77
Trang 103.3.2 Đánh giá hiệu quả quá trình tích tụ, tập trung đất đai tại huyện Phước
Long 84
3.4.Phân tích những khó khăn, thuận lợi trong quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp 87
3.4.1 Đánh giá thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện dồn điền đổi thửa tại huyện Đông Hưng 87
3.4.2 Đánh giá thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện tích tụ, tập trung đất đai tại huyện Phước Long 89
3.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy tích tụ, tập trung đất nông nghiệp 92
3.5.1 Giải pháp về chính sách pháp luật 92
3.5.2 Giải pháp về thị trường 93
3.5.3 Chính sách đối với các chủ thể tích tụ ruộng đất 94
3.5.4 Giải pháp về các vấn đề xã hội 96
3.5.5 Giải pháp hỗ trợ đầu tư 98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
1 KẾT LUẬN 99
2 KIẾN NGHỊ 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 102
Trang 11
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Một số chủ thể sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay 17 Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Đông Hưng năm 2017 48 Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp theo đối tượng sử dụng của huyện Đông Hưng năm 2017 50 Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Phước Long 52 Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp theo đối tượng sử dụng của huyện Phước Long năm 2016 53 Bảng 3.5 Kết quả thực hiện công tác DĐĐT đợt 1 tại huyện Đông Hưng 63 Bảng 3.6 Kết quả thực hiện công tác DĐĐT đợt 2 giai đoạn 2009 – 2016 tại huyện Đông Hưng 65 Bảng 3.7 So sánh kết quả dồn điền đổi thửa của một số huyện và toàn bộ tỉnh Thái Bình (số liệu tính đến năm 2016) 66 Bảng 3.8 Số lượng các trang trại và phân loại chủ sở hữu trang trại trên địa bàn huyện Phước Long (tính đến năm 2016) 71 Bảng 3.9 Số lượng trang trại trên địa bàn huyện Phước Long giai đoạn 2006 -
2016 72 Bảng 3.10 Một số điển hình trong việc tích tụ đất nông nghiệp thông qua mô hình trang trại tại huyện Phước Long 74 Bảng 3.11 Số lượng các hợp tác xã trên địa bàn huyện Phước Long giai đoạn
2010 - 2016 75 Bảng 3.12 So sánh quy mô của HTX Phú Mỹ giai đoạn 2009 - 2016 76 Bảng 3.13 So sánh hiệu quả kinh tế của kiểu sử dụng đất 2 lúa tại các huyện Đông Hưng trước và sau dồn điền đổi thửa (tính theo thời giá năm 2016) 78 Bảng 3.14 Hiệu quả kinh tế của một số cây trồng chính/ha sau dồn điền đổi thửa (tính theo thời giá năm 2016) 81 Bảng 3.15 So sánh hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất trước và sau dồn điền đổi thửa 83
Trang 12Bảng 3.16 Giá trị sản xuất nông nghiệp sau khi thực hiện tích tụ đất nông nghiệp theo mô hình cánh đồng mẫu lớn (tính theo giá năm 2010) 85 Bảng 3.17: So sánh hiệu quả kinh tế trước và sau khi thực hiện tích tụ đất nông nghiệp theo mô hình trang trại (áp dụng với mô hình lúa – cá) 86
Trang 13DANH MỤC HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ
Hình 1.1 Số lượng trang trại theo quy mô đất đai ở nước ta 20 Hình 1.2 Thu nhập trong lĩnh vực nông nghiệp Ba Lan giai đoạn 2002 - 2014 28 Hình 1.3 Số lượng trang trại nông nghiệp Ba Lan giai đoạn 2002 - 2011 30 Hình 3.1 Sơ đồ vị trí huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình 40 Hình 3.2 Sơ đồ hành chính của tỉnh Bạc Liêu 45 Hình 3.3 Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp của huyện Đông Hưng năm 2017 của huyện Đông Hưng năm 2017 50 Hình 3.4 Cơ cấu sử dụng đất của huyện Phước Long năm 2016 52 Hình 3.5 Quy mô trung bình một trang trại tại huyện Phước Long giai đoạn 2006-2016 73
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, không chỉ trong sản xuất nông nghiệp mà là của tất cả các ngành, lĩnh vực, là tài sản mà những người đi trước giữ gìn, bảo vệ để làm cơ sở phát triển cho các thế hệ sau Do đó, chính sách đối với đất đai luôn là vấn đề lớn, đặc biệt quan trọng đối với tất cả các quốc gia Đối với nước ta, nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu, có tính truyền thống, góp phần đưa Việt Nam vào danh sách những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới, đất nông nghiệp đối với đất nước, nhân dân
ta càng có ý nghĩa hết sức đặc biệt Bước vào thời kỳ phát triển, từ một nền sản xuất nhỏ, đất đai phân tán, manh mún với diện tích bình quân hộ nông nghiệp chỉ đạt khoảng 0,46 ha, trung bình được chia thành 2,83 mảnh/hộ, phương pháp canh tác cổ truyền, lạc hậu, để thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, hình thành và phát triển một nền sản xuất lớn, công nghệ cao thì tích tụ tập trung đất đai là yêu cầu khách quan, tất yếu, là tiền đề để nâng cao giá trị, sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế Tuy nhiên, khi thực hiện tích tụ, tập trung đất đai, vướng mắc lớn nhất nằm ở các quy định của pháp luật về hạn mức sử dụng, hạn mức chuyển quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, quy hoạch sử dụng đất hay thiếu những cơ chế ưu đãi nhằm thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp
Huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình và huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu là hai địa phương có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đai bằng phẳng, màu mỡ, phì nhiêu do được bồi đắp bởi phù sa của hai hệ thống sông lớn là sông Hồng và sông Cửu Long, nên rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp theo hướng thâm canh và nông nghiệp công nghệ cao, đóng góp lớn vào tổng sản lượng nông nghiệp của cả nước Hiện nay cả hai địa phương đều đang có
Trang 15những nỗ lực trong việc tiến hành xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, quy
mô lớn bằng những hình thức tích tụ, tập trung khác nhau (hình thức thuê đất,chuyển nhượng quyền sử dụng đất, góp đất và mượn đất để sản xuất) Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, địa phương còn gặp nhiều những khó khăn mang tính khách quan, đặc biệt là vướng mắc liên quan đến các quy định trong Luật hiện hành như hạn mức giao đất, hạn mức chuyển quyền đất nông nghiệp, thời hạn sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp Hệ quả là tỷ lệ doanh nghiệp, nông hộ tham gia tích tụ, tập trung đất đai còn thấp trong khi mô hình sản xuất nhỏ lẻ, manh mún theo quy mô hộ gia đình vẫn đang chiếm ưu thế
Điều này đòi hỏi cần phải có một nghiên cứu cụ thể về thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của từng tỉnh, có sự đối chiếu, so sánh sự khác biệt trong phương thức canh tác, cách thức thực hiện tích tụ, tập trung cũng như điểm ra những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện tích tụ, tập trung đất đai tại từng địa phương, từ đó có những giải pháp giúp cho nông nghiệp phát triển theo mô hình quy mô lớn, áp dụng công nghệ cao Xuất phát
từ những lý do nêu trên, việc nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng tích tụ,
tập trung đất nông nghiệp tại một số địa phương ở Việt Nam” rất cần thiết
trong bối cảnh hiện nay và đó cũng chính là chủ đề nghiên cứu được tác giả lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sỹ
2 Mục tiêu nghiên cứu
+ Đánh giá thực trạng tích tụ, tập trung đất nông nghiệp tại huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình và huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy tích tụ, tập trung đất nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu và một số địa phương có điều kiện tương tự
Trang 162.1 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học
- Luận văn đã góp phần hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về
t í c h tụ, tập trung đất nông nghiệp
Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu trong luận văn đã đánh giá được thực trạng và hiệu quả trong quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp tại huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình và huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu
- Luận văn cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cho các hộ dân tích tụ, tập trung đất đai Kết quả nghiên cứu của đề tài
có thể áp dụng cho các vùng có điều kiện tương đồng
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho học viên cao học và sinh viên cũng như những nhà quản lý đất đai về tích
tụ, tập trung đất nông nghiệp
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về tập trung, tích tụ đất nông nghiệp
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm tích tụ đất nông nghiệp
Theo quan điểm đầu tiên, Tích tụ đất nông nghiệp là sự mở rộng quy
mô diện tích đất đai do hợp nhất nhiều thửa lại, đây được xem là tiền đề phát triển kinh tế hộ gia đình trong quá độ chuyển từ sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp lên sản xuất hàng hóa quy mô lớn Quá trình này vận động theo cơ chế thị trường, thông qua các hình thức giao dịch dân sự [8] (chuyển nhượng quyền
sử dụng đất (QSDĐ), thừa kế, cho, tặng QSDĐ nông nghiệp).Có thể hiểu đơn giản hơn là quá trình mua đất để sở hữu đất đai ở quy mô lớn hơn Một bộ phận hộ gia đình nông dân có kinh nghiệm sản xuất, sử dụng đất hiệu quả, có thu nhập, có nguồn vốn để nhận chuyển QSDĐ, mở rộng quy mô sử dụng đất nông nghiệp
Theo quan điểm thứ hai, tích tụ đất nông nghiệp là một dạng tích tụ tư
bản dưới hình thức hiện vật trong nông nghiệp, vì ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được của nông nghiệp Nhưng do đặc điểm
sản xuất mang tính sinh học, nên tích tụ đất nông nghiệp nói riêng và tích tụ
tư bản nói chung trong nông nghiệp khác hẳn với tích tụ tư bản trong công nghiệp [8]
Hiện này, trong khuôn khổ pháp lý cho phép, tích tụ đất nông nghiệp có thể được tiến hành theo các phương thức như sau:
- Nông dân bán đất của mình cho doanh nghiệp
- Nông dân góp vốn vào doanh nghiệp là pháp nhân bằng quyền sử dụng đất mà theo đó, quyền sử dụng đất cũng sẽ được chuyển cho doanh nghiệp và khi đó, nông dân trở thành một bên đồng sở hữu doanh nghiệp
Trang 18- Nhà Nước thu hồi đất của nông dân rồi cho doanh nghiệp thuê
Tích tụ ruộng đất có ưu điểm là đảm bảo sự ổn định kinh doanh của nhà đầu tư nhưng cũng có những băn khoăn, lo ngại đến từ phía của những người nông dân khi không còn đất, họ sẽ bị đẩy ra bên lề cuộc sống, thậm chí có thể rơi vào cảnh bần cùng, dẫn đến sự phân hóa giàu – nghèo ngày càng lớn Hiện nay, pháp luật cũng chưa có quy định đầy đủ, rõ ràng đối với việc mua bán quyền sử dụng đất để đảm bảo an toàn trong quan hệ mua bán trước pháp luật Thực tế, chi phí đầu tư tích tụ ruộng đất để canh tác với kỹ thuật hiện đại cũng rất lớn, trong khi khả năng sinh lời chưa cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro nên hình thức này hiện nay chưa thực sự phổ biến
Khái niệm tập trung đất nông nghiệp
Tập trung đất nông nghiệp (một số tài liệu gọi là tập trung ruộng đất) là liên kết nhiều mảnh ruộng của nhiều chủ sở hữu khác nhau lại thành một cánh đồng lớn Tập trung đất nông nghiệp luôn được coi là một công cụ hoặc điểm xuất phát cho phát triển nông thôn Khái niệm ban đầu về phát triển nông thôn hầu như đồng nhất với phát triển nông nghiệp do vai trò chủ đạo của nông nghiệp ở nông thôn vào thời kỳ đầu phát triển Sản xuất hàng hóa quy mô lớn, tập trung, cần đầu tư khoa học - công nghệ (giống cây con, phân bón, bảo vệ thực vật, thú y, kỹ thuật canh tác, chăn nuôi, máy móc, thiết bị, chế biến, bảo quản nông sản, tiêu thụ hàng hóa) Sản xuất riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân không đáp ứng được yêu cầu này tất yếu có nhu cầu hợp tác sản xuất, kinh doanh dưới các hình thức thích hợp: hợp tác sản xuất, kinh doanh (từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm), góp vốn với các doanh nghiệp (DN) nông nghiệp [9]
Tập trung đất nông nghiệp có ưu điểm là người nông dân tham gia liên kết vẫn còn quyền sử dụng đất, không lo rơi vào cảnh bần cùng khi “thất nghiệp” ở lĩnh vực phi nông nghiệp, phù hợp với tâm lý của người nông dân là
Trang 19vẫn muốn giữ ruộng đất, ngay cả khi cuộc sống đã được đảm bảo ở lĩnh vực phi nông nghiệp Nhưng cũng có lo ngại rất thực tế rằng, tập trung ruộng đất trên cơ sở hợp đồng cũng dễ có rủi ro, phá vỡ quy trình sản xuất kinh doanh nếu như người nông dân “bỗng nhiên” phá vỡ hợp đồng do nhu cầu cá nhân, đồng thời cũng gặp không ít khó khăn để có thể vận động hàng trăm, hàng ngàn hộ nông dân tham gia một chuỗi liên kết và phải “không được phá vỡ hợp đồng đã ký” [11]
Sự phân biệt giữa tích tụ và tập trung đất nông nghiệp được thể hiện qua hai tiêu chí (i) Về việc chuyển giao quyền sử dụng đất và (ii) Về tính ổn định của chủ thể có quyền sử dụng đất Về việc chuyển giao quyền sử dụng đất, tích tụ đất nông nghiệp là quá trình nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để sở hữu đất đai ở quy mô lớn hơn, còn tập trung đất nông nghiệp là liên kết nhiều mảnh đất của nhiều chủ sở hữu khác nhau lại thành mảnh đất lớn hơn Do đó, tích tụ đất nông nghiệp làm thay đổi chủ thể có quyền sử dụng đất từ nhiều người thành một người duy nhất, còn tập trung đất nông nghiệp thì quyền sử dụng đất của các chủ hộ vẫn không thay đổi Về tính ổn định của chủ thể có quyền sử dụng đất, tích tụ đất nông nghiệp giúp người tích tụ có quyền sử dụng đất lâu dài nên sẽ yên tâm hơn khi tập trung đầu tư và phát triển nông nghiệp vì có đủ quyền năng của chủ sở hữu, nhưng sẽ làm phát sinh bài toán về xã hội và dân cư khi một bộ phận nông dân sẽ mất quyền sử dụng đất do ông cha để lại Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhà nước phải ban hành các chính sách và pháp luật về hạn điền để hạn chế tình trạng nêu trên Còn đối với tập trung đất nông nghiệp người nông dân cho thuê đất sẽ không còn đất canh tác riêng, nhưng họ có thể vừa nhận được tiền thuê đất vừa làm thuê để lãnh lương trên chính mảnh đất của mình Do đó, họ vẫn còn chứ không bị mất quyền sử dụng đất Việc phân biệt rõ tích tụ và tập trung đất nông nghiệp giúp nhà nước có những chính sách phù hợp hơn để
Trang 20phục vụ sản xuất nông nghiệp
Khác với tích tụ đất nông nghiệp, tập trung đất nông nghiệp có thể được tiến hành theo những cách thức như:
- Dồn điền đổi thửa
- Nông dân cho doanh nghiệp thuê đất
- Nông dân tham gia vào hợp tác xã nông nghiệp khi góp vốn bằng đất nông nghiệp hoặc các hình thức liên kết sản xuất kinh doanh nông nghiệp lấy việc góp đất làm nền tảng mà không hình thành pháp nhân mới
Có thể nói, tích tụ, tập trung ruộng đất cho sản xuất nông nghiệp quy mô lớn là giải pháp để phát triển nền nông nghiệp hiện đại, tăng hiệu quả sử dụng đất với những quy mô và hình thức sản xuất phù hợp, gắn chặt với quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động trong nông nghiệp nông thôn ở nước ta hiện nay
1.1.2 Mục tiêu của tập trung, tích tụ đất nông nghiệp
Mục tiêu của chủ trương khuyến khích tích tụ, tập trung ruộng đất là nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, thông qua mở rộng quy mô sản xuất phù hợp, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ và hình thành khu vực chuyên canh theo hướng sản xuất nông nghiệp hiện đại, chuyên môn hóa gắn với thị trường
Mục tiêu chính của quá trình tập trung, tích tụ đất nông nghiệp bao gồm:
Thứ nhất, thực hiện tập trung, tích tụ đất nông nghiệp phải trên cơ sở
đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, của nhà đầu tư và đặc biệt là lợi ích của người nông dân; tập trung, tích tụ đất nông nghiệp phải đi đôi với phát triển công nghiệp, dịch vụ nói chung, phát triển ngành nghề ở nông thôn nói riêng, tạo công ăn, việc làm để từng bước giảm lao động trong nông nghiệp, đồng thời đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ và cơ giới hóa nhằm
tăng năng suất trong sản xuất nông nghiệp
Thứ hai, tập trung, tích tụ đất nông nghiệp phải dựa trên cơ sở quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trong đó quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải
Trang 21gắn với việc cơ cấu các ngành kinh tế nói chung, tái cơ cấu ngành nông nghiệp nói riêng; gắn với nhu cầu của thị trường và năng lực sản xuất
Thứ ba, việc tập trung, tích tụ đất nông nghiệp phải phù hợp với đặc
điểm về đất đai, địa hình, khí hậu, văn hóa và điều kiện thực tế của từng vùng, từng khu vực, từng địa phương
Sau khi đề ra được mục tiêu cụ thể, vai trò của các cơ quan quản lý trong việc hiện thực hóa chính sách sẽ được thể hiện thông qua các giải pháp thực hiện, đặc biệt là các giải pháp khoa học công nghệ vì sẽ thật lãng phí nếu như những diện tích đất sau quá trình tích tụ, tập trung lại đi theo vết xe đổ của nền nông nghiệp trước đây, tiến hành canh tác theo kiểu “con trâu đi trước cái cày theo sau” [10]
1.1.3 Các hình thức tập trung, tích tụ đất nông nghiệp
Thực tế hiện nay, nhiều địa phương đã tiến hành tích tụ, tập trung đất nông nghiệp dưới nhiều hình thức như:
Tại các địa phương, các hình thức tích tụ và tập trung ruộng đất cũng khá đa dạng, từ hình thức đơn giản nhất là tập trung ruộng đất thông qua dồn điền, đổi thửa cho liền vùng liền thửa cho tới tích tụ thông qua hình thức thuê đất hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất Cụ thể như sau:
1.1.3.1 Hình thức tập trung đất thông qua dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp
Dồn điền, đổi thửa là một hình thức tập trung ruộng đất trong nông nghiệp thông qua việc thực hiện quyền chuyển đổi đất nông nghiệp giữa các hộ nông dân trong cùng một địa bàn sản xuất từ các mảnh ruộng nằm phân tán ở các vị trí khác nhau thành các ô, thửa lớn tập trung tại một vị trí Khi thực hiện chủ trương giao cho hộ gia đình quyền sử dụng đất ổn định lâu dài, để đảm bảo công bằng, ruộng đất giao cho hộ gia đình sẽ luôn trong tình trạng “có gần, có
xa, có tốt, có xấu”, làm cho mỗi họ có nhiều mảnh nhỏ, lẻ ảnh hưởng xấu đến
Trang 22sản xuất Với sợ giúp đỡ, hỗ trợ từ hợp tác xã, chính quyền các thôn, xã và các
hộ đã tự nguyện hoán đổi các thửa ruộng đất với nhau (có hoặc không trả tiền chênh lệch) để giảm số thửa, tăng diện tích mỗi thửa của hộ, giúp cho số thửa
từ 5-7 thửa giảm xuống còn 2-3 thửa tùy từng địa phương
Có thể thấy răng, dù tổng diện tích đất của hộ không tăng lên nhưng việc dồn điền đổi thửa đã góp phần giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất của các hộ gia đình Hình thức tập trung đất nông nghiệp này phổ biến ở khu vực Đồng Bằng sông Hồng và thường được thực hiện theo đợt, phụ thuộc vào chủ trương của từng địa phương Bước đầu, hình thức này đã đem lại nhiều hiệu quả, tuy vậy, theo nhiều chuyên gia, dồn điền đổi thửa là hình thức tập trung đất nông nghiệp chưa triệt để, số thửa/hộ tuy có giảm nhưng quy mô diện tích vẫn còn rất nhỏ lẻ, hình thức canh tác chưa có sự đột phá Do vậy, hiện nay nhiều địa phương ở khu vực này đã chuyển hướng sang nhiều hình thức tích tụ, tập trung đất nông nghiệp khác [9]
1.1.3.2 Hình thức tập trung, tích tụ đất nông nghiệp thông qua việc cho thuê đất nông nghiệp, chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các hộ gia đình
Trong loại hình này, có 2 hình thức chủ yếu bao gồm:
- Các hộ mua, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các hộ khác
để mở rộng sản xuất, trở thành trang trại hoặc các hộ quy mô lớn Hình thức mua, nhận chuyển quyền sử dụng đất diễn ra nhiều ở các tỉnh phía Nam, nhất
là ở Đồng Bằng sông Cửu Long Một số hộ có năng lực tài chính, kinh nghiệm sản xuất mua loại quyền sử dụng đất của những hộ có ít ruộng đất (1-2ha) đang ở trong tình trạng “làm không đủ ăn”, cần vốn để chuyển đổi nghề nghiệp, hay những hộ đang nợ nần, phải bán đất để trả nợ và những hộ không
có nhu cầu sản xuất nông nghiệp do con cái đã lên thành phố làm việc, sinh sống Tuy vậy, khi triển khai thực hiện, hình thức này đã gặp tương đối nhiều trở ngại khi số hộ muốn bán đất không nhiều (đặc biệt là tại các tỉnh phía Bắc)
Trang 23do tâm lý lo ngại công việc không ổn định, không đảm bảo khi chuyển đổi nghề nghiệp Bên cạnh đó, nhiều hộ coi đất đai là cứu cánh khi gặp khó khăn hay nếu như không canh tác thì có thể làm “của để dành” cho con cái về sau Gía đất ngày càng tăng lên cũng là trở ngại cho các hộ muốn mua đất để mở rộng sản xuất vì phải bỏ ra chi phí ngày càng lớn Việc mua bán, chuyển nhượng quyển sử dụng đất giữa các hộ nhiều trường hợp chỉ được xác nhận bằng giấy tờ viết tay giữa các hộ, cơ sở pháp lý không vững chắc Một trở ngại khác đối với hình thức này là quy định hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không được quá 10 lần hạn mức giao đất(như vậy là không quá 30 ha đối với các hộ ở miền Nam và tối đa không quá 20 ha đối với các
hộ ở miền Bắc) Hiện nay, một số hộ có đất vượt quá hạn mức được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã phải nhờ nhiều người khác đứng tên một phần diện tích đất của mình
- Hình thức hộ thuê đất của các hộ khác để mở rộng sản xuất diễn ra ngày càng phổ biến trong thời gian trở lại đây Giá cả, thời hạn thuê, phương thức thanh toán do hai bên thỏa thuận (giá cho thuê thường căn cứ vào thu nhập đem lại cho các hộ gia đình ở địa phương khi canh tác trên đất đó) Người đi thuê thường muốn thuê thời hạn dài đê yên tâm đầu tư, ổn định sản xuất trong khi người cho thuê thường muốn cho thuê thời hạn ngắn để điêu chỉnh giá Qua khảo sát cho thấy thời hạn cho thuê thường là 10 đến 20 năm hoặc dài hơn tùy theo từng vùng, từng điều kiện sản xuất (cây hàng năm, cây lâu năm…) và sau 5 năm thương lượng lại để phù hợp hơn với tình hình thực
tế Hình thức thuê đất để canh tác dễ được cả hai phía hộ đi thuê và hộ cho thuê chấp nhận vì hộ đi thuê có đất để mở rộng sản xuất với ci phí thấp hơn nhiều khi mua đất, không bị giới hạn bởi hạn mức nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất Đối với hộ cho thuê, việc cho thuê vừa có thu nhập từ cho thuê
Trang 24vừa có tiền công từ việc làm thuê trên đất đó hoặc bằng một công việc khác, hết thời hạn thuê thì quyền sử dụng đất lại thuộc về họ
1.1.3.3 Hình thức tập trung, tích tụ đất nông nghiệp thông qua liên kết giữa các hộ gia đình với các doanh nghiệp thông qua thuê đất hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Hình thức này cũng được chia thành 3 loại:
- Doanh nghiệp liên kết sản xuất với hộ gia đình
Trong những năm gần đây, hình thức doanh nghiệp ký hợp đồng liên kết sản xuất với hộ gia đình phát triển ngày càng nhiều Các hộ gia đình vẫn canh tác trên diện tích đất của mình theo sự hướng dẫn kỹ thuật của doanh nghiệp; doanh nghiệp bỏ vốn mua, cung ứng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và sản phẩm do hộ sản xuất ra Các hộ không cần có vốn vẫn có giống mới, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đảm bảo về chất lượng với giá rẻ hơn khi tự mua, canh tác theo quy trình kỹ thuật tiên tiến nên đạt năng suất cao hơn tự mình canh tác và không lo tiêu thụ sản phẩm Doanh nghiệp có được lượng sản phẩm hàng hóa lớn, ổn định, chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm để cung ứng ngay cho thị trường hay phục vụ chế biến, xuất khẩu Tuy nhiên, trong hình thức này cũng có một số những khó khăn, trở ngại như đất của các hộ gia đình tham gia liên kết với doanh nghiệp nằm xen kẽ với đất của các hộ không tham gia, dẫn đến ảnh hưởng trong quá trình xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi, cải tạo đồng ruộng để nâng cao sản xuất của hộ và giống lúa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật của các hộ xung quanh không tham gia liên kết sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm của hộ liên kết Bên cạnh
đó, các doanh nghiệp cũng lo ngại khi giá sản phẩm trên thị trường cao, một số
hộ gia đình bán sản phẩm cho các đối tượng khác mà không bán cho doanh nghiệp theo hợp đồng (trên thực tế đã xảy ra trường hợp này)
Trang 25- Hình thức doanh nghiệp mua, nhận quyền chuyển nhượng sử dụng đất
của hộ để mở rộng sản xuất có trong thực tế nhưng hiện nay còn chưa nhiều
Lý do là vì doanh nghiệp thường cần nhiều đất nhưng có ít người bán và vướng mắc do quy định về mục đích sử dụng đất, nên doanh nghiệp chỉ có thể mua được thêm một số diện tích ở gần diện tích doanh nghiệp đã có để mở rộng sản xuất
- Hình thức phổ biến hơn là doanh nghiệp thuê đất của hộ nông dân để sản xuất Đây là hình thức phù hợp, đáp ứng được cả yêu cầu của doanh nghiệp và hộ gia đình Doanh nghiệp có đất để sản xuất với chi phí thấp hơn nhiều khi mua quyền sử dụng đất, hộ gia đình tăng thêm thu nhập và vẫn là người có quyền sử dụng đất khi hết thời hạn cho thuê Hiện nay, số doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp còn ít (chưa đến 1% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động) trong khi tiềm năng ở ngành nông nghiệp còn rất lớn Do vậy, đây là một xu hướng cần hỗ trợ, khuyến khích để phát triển nông nghiệp sản xuất lớn, công nghệ cao, bảo đảo vệ sinh
an toàn thực phẩm, cung cấp cho thị trường và xuất khẩu Hiện nay, ở các địa phương, nhiều doanh nghiệp đã thuê đất của hộ gia đình, đất công ích của thôn, xã để trồng lúa, rau, màu và các loại cây lâu năm cũng như chăn nuôi gia súc, gia cầm rất đa dạng, phong phú Một số doanh nghiệp lớn như Vingroup hay TH Trua milk cũng đang có nhu cầu thuê hàng ngàn ha đất để tiến hành sản xuất
Trở ngại đối với doanh nghiệp thuê đất hiện nay là phải tiến hành vận động, thương lượng với từng hộ gia đình, khi cần có một diện tích đất lớn phải làm việc với hàng trăm, hàng ngàn hộ, mặc dù đã có sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính quyền thôn, xã và hợp tác xã Bên cạnh đó, một số hộ có ruộng đất nằm xen kẽ trong vùng đất doanh nghiệp đã thuê, dù được doanh nghiệp, hợp tác xã, chính quyền địa phương vận động nhưng vẫn kiên quyết không cho
Trang 26doanh nghiệp thuê, gây khó khăn cho doanh nghiệp, nhưng vẫn chưa có hướng giải quyết triệt để Trước thực trạng này, để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, chính quyền của một số địa phương đã đứng ra ký hợp đồng thuê đất của hộ gia đình rồi ký hợp đồng cho doanh nghiệp thuê lại Tuy vậy, một số ý kiến cho rằng, theo chức năng của mình, chính quyền chỉ có thẩm quyền chứng thực, xác nhận hợp đồng kinh tế chứ không thể trở thành một bên ký kết hợp đồng Bên cạnh đó, việc đầu tư cũng mang lại nhiều rủi ro về kinh doanh cho các doanh nghiệp trong khi Nhà nước chưa có những chính sách hỗ trợ Một trở ngại khác đối với doanh nghiệp theo hình thức này khi thuê đất là quy định về mục đích sử dụng đất, đặc biêt là đối với đất trồng lúa khu có một
số diện tích đất này cho năng suất, hiệu quả thấp nhưng không thể cho thuê để trồng cây ăn quả hay loại cây lâu năm khác dù hiệu quả cao hơn vì đã được ghi trong quy hoạch là đất trồng lúa
1.1.3.4 Hình thức tập trung, tích tụ đất nông nghiệp thông qua góp quyền sử dụng đất
Đây là hình thức tập trung, tích tụ đất nông nghiệp thông qua việc những người nông dân tự nguyện góp đất cùng tiến hành tổ chức sản xuất, kinh doanh
và cùng hưởng lợi thành quả sản xuất Cũng có thể là người nông dân góp đất, góp vốn, công sức vào hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc doanh nghiệp và được hưởng lợi nhuận theo quy chế thỏa thuận Hình thức này có 2 dạng cơ bản:
- Người có đất liên kết, hợp tác với người sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh: Trong mô hình này, doanh nghiệp, hợp tác xã đóng vai trò đầu mối cung cấp vật tư, giống, khoa học công nghệ và bao tiêu đầu ra Nông dân vẫn sản xuất trên ruộng đất của mình nhưng tự hình thành nhóm hộ sản xuất, áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật từ giống, canh tác, cơ giới hóa…tập trung ruộng đất để tạo thành các vùng sản xuất lớn, chuyên canh, áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất
Trang 27Cụ thể, ở nhiều địa phương, các hộ gia đình đã tự nguyện liên kết thành tập đoàn sản xuất hay mô hình hợp tác xã nông nghiệp Việc tham gia tập đoàn hay hợp tác xã nông nghiệp, nhưng các hộ vẫn tự chủ canh tác trên ruộng đất của mình Tập đoàn, hợp tác xã có trách nhiệm thực hiện những công việc như làm đất, thủy lợi, phun thuốc bảo vệ thực vật, thu hoạch, cung cấp các loại giống cây trồng, phân bón vừa đảm bảo chất lượng vừa với chi phí thấp (do hợp tác xã, tập đoàn mua số lượng lớn, giảm khả năng mua phải hàng kém chất lượng hơn) Sự ra đời của các tập đoàn, hợp tác xã này sẽ hình thành nên các vùng sản xuất tập trung với một loại sản phẩm, tạo nên khối lượng hàng hóa lớn, đồng đều về chất lượng, kiểm soát được an toàn thực phẩm và tạo thuận lợi cho quá tình tiêu thụ sản phẩm Nhưng tình hình thực tế hiện nay, các tập đoàn, hợp tác xã đã và đang hoạt động không hiệu quả do cơ sở vật chất nghèo nàn, thiếu vốn hoạt động, năng lực cán bộ quản lý hạn chế, thiếu sự quan tâm
hỗ trợ của Nhà nước nên phạm vi và hiệu quả hoạt động còn thấp, hạn chế sự
hỗ trợ các hộ gia đình Tuy vậy, một điều cần thừa nhận là mô hình này khá phù hợp do các bên tham gia mô hình đều có lợi ích cũng như đã được thực hiện từ rất lâu, đem lại cảm giác thân thuộc cho các hộ nông dân
- Hình thức hộ gia đình góp đất, chuyển giá trị đất thành cổ phần của
doanh nghiệp
Với hình thức này, hộ gia đình sẽ trở thành cổ đông, đồng chủ sở hữu doanh nghiệp, đồng thời là người lao động trong doanh nghiệp Hình thức này tạo nên mối quan hệ gắn bó, gắn kết lợi ích của hộ gia đình với doanh nghiệp, còn doanh nghiệp giảm bớt chi phí mua, thuê quyền sử dụng đất Tuy vậy, hình thức này cũng tiềm ẩn những khó khăn, rủi ro đối với hộ gia đình góp đất là doanh nghiệp tròng cây công nghiệp dài ngày, một số năm đầu sẽ chưa
có thu nhập, lợi nhuận để chia cổ tức cho hộ gia đình hay nếu như doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, các hộ vừa chưa có được tiền mà lại mất đất Do vậy,
Trang 28tuy đã có một số doanh nghiệp đã thành công trong việc nâng cao mức sống, đem lại thu nhập ổn định cho các hộ gia đình nhưng về cơ bản, số lượng các doanh nghiệp này vẫn còn rất ít
Tóm lại, việc tập trung, tích tụ đất nông nghiệp để mở rộng quy mô sản xuất, từng bước hình thành sản xuất lớn trong nông nghiệp đã và đang diễn ra dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng Có những hình thức đã đem lại những kết quả tích vực tuy nhiên nhiều hình thức dặp phải nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện, thành công hay thất bài tùy thuộc vào nhiều yếu tố như chính sách, tư duy, cách thức thực hiện hay do thói quen canh tác, tâm lý vùng miền Do đó, việc đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp hiện nay
và tính hiệu quả khi thực hiện tập trung, tích tụ đất nông nghiệp tại các địa phương có diện tích đất nông nghiệp lớn sẽ là sự so sánh chính xác nhất và cũng là câu trả lời cho câu hỏi về mô hình sử dụng đất nông nghiệp trong thời
kỳ công nghiệp hóa Tích tụ hay tập trung đất nông nghiệp có thể không phải
là giải pháp duy nhất để đưa nông nghiệp đi lên theo hướng hiện đại nhưng nếu chúng ta không thực hiện thì thật khó để có sự kết nối giữa Nhà Nước – Doanh nghiệp và người nông dân
1.1.4 Sự cần thiết phải tiến hành tích tụ tập trung đất nông nghiệp khi sản xuất nông nghiệp
Trong ba mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới, lĩnh vực nông nghiệp
và quản lý đất đai ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, đặc biệt là từ một nước nghèo đói thì nước ta đã vươn lên, trở thành “cường quốc” trong xuất khẩu nông sản, được dư luận quốc tế đánh giá cao Cụ thể, Giá trị sản xuất nông nghiệp của Việt Nam tăng trưởng trung bình với tốc độ 4,06%/năm giai đoạn (1986-2015) Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, mặc dù kinh tế vĩ
mô gặp nhiều khó khăn nhưng nông nghiệp vẫn là Ngành giữ được tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định, bảo đảm cân bằng cho nền kinh tế Việt Nam
Trang 29hiện nay đã có 10 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, bao gồm: gạo, cà phê, cao su, điều, tiêu, sắn, rau quả, tôm, cá tra, lâm sản Trong khi, các ngành kinh tế khác còn bị tác động bởi suy thoái kinh tế, ngành Nông nghiệp đã vượt qua nhiều khó khăn, đạt kết quả khá toàn diện, tăng trưởng với tốc độ khá cao Giá trị sản phẩm thu được trên 1ha đất trồng trọt đã tăng từ 54,6 triệu đồng/ha năm 2010 lên 79,3 triệu đồng/ha năm 2014 và khoảng 82-83 triệu đồng/ha năm 2015; cứ mỗi ha mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng từ 103,8 triệu đồng/ha (2013) lên 177,4 triệu đồng/ha (2014) và khoảng 183 triệu đồng/ha (2015) Thu nhập của người dân nông thôn năm 2015 tăng khoảng 2 lần so với năm 2010 (đạt mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng XI đề ra)
Tuy nhiên, đứng trước những thách thức trong thời kỳ kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, nông nghiệp nước ta đang đứng trước những khó khăn, thách thức trong bối cảnh nền nông nghiệp đang có xu hướng tăng trưởng chậm lại, đời sống của nhiều vùng chậm được cải thiện và đặc biệt khó khăn Do vậy, như cách đây hơn 30 năm, nền kinh tế Việt Nam nói chung và nền nông nghiệp nói riêng phải tiếp tục công cuộc “đổi mới”, đặc biệt là đổi mới tư duy nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người nông dân, góp phần vào sự tăng trưởng của đất nước
Một trong những vướng mắc khiến cho ngành nông nghiệp đã và đang loay hoay trong quá trình đổi mới, đó là sự manh mún trong sản xuất, quy mô
sử dụng đất còn nhỏ và chủ thể sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu là các hộ gia đình, cá nhân thay vì các doanh nghiệp lớn
Theo Niên giám thống kê được Tổng Cục Thống Kê công bố năm
2016, diện tích đất sản xuất nông nghiệp (bao gồm đất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản) đã và đang giao cho hộ gia đình cá nhân sử dụng chiếm khoảng 60% trong tổng diện tích đất nông nghiệp (khoảng 9,3 triệu hộ) Trong khi diện tích đất này được giao cho các tổ chức kinh tế sử dụng chỉ
Trang 30khoảng 10% (khoảng 10 nghìn HTX và 4 nghìn doanh nghiệp tham gia sản xuất nông nghiệp) Dù đã có những sự chuyển biến trong những năm trở lại đây, tuy nhiên có thể thấy dù cho số lượng doanh nghiệp và hợp tác xã có tăng lên về số lượng , nhưng diện tích đất mà hai chủ thể này sở hữu và sử dụng vẫn chỉ là thiểu số
Bảng 1.1 Một số chủ thể sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay
- Thứ nhất, có nhiều hộ gia đình không chuyên sản xuất nông nghiệp nhưng vẫn sử dụng đất nông nghiệp (năm 2016, theo thống kê của Tổng cục Thống kê, cả nước có 9,5 triệu hộ nông nghiệp nhưng lại có đến 11,9 triệu hộ
có đất sản xuất nông nghiệp)
- Thứ hai, số lượng đất nông nghiệp trong một hộ bị chia thành nhiều mảnh, phân tán Nước ta có 9,58 triệu ha đất nông nghiệp được chia thành khoảng 70 triệu thửa đất, giao cho hơn 11,9 triệu hộ có đất sản xuất nông nghiệp sử dụng, trung bình mỗi hộ sẽ có khoảng 6 thửa đất, mỗi thửa chỉ có diện tích bình quân khoảng 0,14 ha và như vậy, mỗi hộ sẽ có trung bình
Trang 31khoảng 0,8 ha đất nông nghiệp Quy mô diện tích của hộ nông dân Việt Nam thấp hơn Trung Quốc và thấp hơn nhiều so với các nước khác ở châu Á
- Hiện tượng người nông dân bỏ ruộng đã diễn ra thường xuyên trong những năm trở lại đây, số lượng hộ gia đình sản xuất nông nghiệp ngày một giảm (giảm 1,1 triệu hộ theo Bảng) mà nguyên nhân chủ yếu là do đó là giá lúa, rau màu thấp trong khi đầu vào như vật tư phân bón, dịch vụ bảo vệ thực vật, công chăm sóc ngày càng tăng cao… dẫn tới thu chẳng đủ chi, bên cạnh
đó, mỗi hộ sản xuất quy mô nhỏ, đơn lẻ, chưa đủ khả năng sản xuất lớn để tham gia vào chuỗi giá trị ngành hàng nên người dân chọn cách kiếm tiền từ các công việc khác Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2012 trở về trước, việc bỏ hoang ruộng đất mới xảy ra ở các tỉnh miền Bắc, đến nay đang xuất hiện ở 25 tỉnh thành Ước tính từ năm 2010 đến
2016, khoảng 500.000ha đất trồng lúa 2 vụ và độ phì nhiêu cao, dễ đi lại và gần những nơi tập trung đông dân cư đã bị giảm. Trong số các hộ bỏ ruộng, có nhiều hộ không giao lại cho Nhà Nước mà đã bỏ hoang 4-5 năm, cùng lúc đó, một xu hướng ngược lại đang diễn ra, đó là các doanh nghiệp, các hộ gia đình
có tiềm lực kinh tế ngày càng đầu tư nhiều hơn vào sản xuất nông nghiệp quy
mô lớn khi số doanh nghiệp này ngày càng tăng cùng với sự phát triển số lượng hợp tác xã trên quy mô cả nước
Cuối cùng, một trong những điều đã được nói đến trong những năm qua chính là năng suất lao động nông nghiệp còn thấp (Năng suất lao động bình quân trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 33 triệu đồng/lao động, thấp hơn nhiều so với khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 112 triệu đồng/lao động; khu vực dịch vụ đạt 103,5 triệu đồng/lao động), đặc biệt là giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích chỉ đạt ở mức trung bình Dù cho có nhiều sản phẩm xuất khẩu ra thị trường quốc tế như gạo, cao su, cà phê, tiêu, điều, hoa quả, tôm, cá….nhưng chủ yếu là sản phẩm thô, không có thương hiệu
Trang 32quốc tế cũng như giá trị kinh tế thấp Thực tế đã chứng minh, ruộng đất manh mún ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng và năng suất, cản trở cơ giới hóa, lãng phí thời gian lao động, đất đai đồng thời làm tăng các loại chi phí trung gian, giảm năng lực chống chọi với rủi ro Hơn nữa, ruộng đất manh mún sẽ
đi kèm với quy hoạch sử dụng đất chưa hợp lý, thiếu tính ổn định, cản trở người dân và doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào nông nghiệp
Do vậy, nhằm đón đầu xu hướng phát triển mới trong nông nghiệp, việc thúc đẩy tập trung, tích tụ đất nông nghiệp là điều cần thiết, là nhiệm vụ trọng tâm trong quản lý và điều hành nền nông nghiệp của nước ta Trong bối cảnh nước ta đang trong quá trình thực hiện hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN với mục tiêu là hội nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh
tế khu vực và thế giới, nền nông nghiệp không chỉ dựa vào những ưu thế sẵn
có như thiên nhiên hay con người mà cần có những chính sách hợp lý cũng như nền tảng khoa học, công nghệ nông nghiệp phát triển Với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, điều kiện tiên quyết là cần có quy mô diện tích đủ lớn
để tạo ra số lượng hàng hóa nông nghiệp đảm bảo cung ứng cho thị trường và giá cả cạnh tranh, ngay cả khi đầu tư công nghệ cao cho sản xuất nông nghiệp cũng không thể dựa trên những mảnh đất manh mún vì quy mô nhà xưởng, diện tích canh tác, máy móc….phải có sự đồng nhất, điều này đỏi hỏi phải tiến hành tích tụ tập trung đất nông nghiệp phù hợp
Trong khi đó, hạt nhân của quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp
là kinh tế trang trại, tuy vậy hiện nay số lượng trang trại vẫn còn ít (năm 2015,
cả nước có khoảng 29.500 trang trại, chỉ chiếm 0,3% so với tổng số hộ nông nghiệp) và phân bố không đồng đều trên cả nước
Trang 338665 8800
6348
109744522
5268443
402850
Hình 1.1 Số lượng trang trại theo quy mô đất đai ở nước ta
Để thúc đẩy quá trình tích tụ - tập trung đất nông nghiệp cho phát triển nông nghiệp hàng hóa đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ, hệ thống cả ở tầm quốc gia, tầm khu vực, địa phương, trực tiếp đối với hộ nông dân, HTX
và các doanh nghiệp nhằm tháo gỡ các nút thắt trên, tạo điều kiện thuận lợi cho sự vận động của quan hệ ruộng đất trong phát triển nền nông nghiệp hàng hóa nước ta Bước phát triển mạnh chỉ có thể đạt được nếu đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ… nhằm rút bớt lao động và giảm số hộ trong lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn, tích tụ - tập trung ruộng đất cho phát triển nông nghiệp hàng hóa Nhưng vấn đề quan trọng cần phải xử lý là tích tụ - tập trung ruộng đất cho phát triển nông nghiệp hàng hóa phải gắn và đảm bảo hài hòa lợi ích, nhất là lợi ích của hàng triệu hộ nông dân, chứ không chỉ vì lợi ích của những chủ thể và doanh nghiệp được tích tụ - tập trung ruộng đất với quy mô lớn
Trang 341.2 Cơ sở pháp lý về tập trung, tích tụ đất nông nghiệp
1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng liên quan đến tập trung, tích
tụ đất nông nghiệp
Chính sách đất đai đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã được các nghị quyết của Đại hội VI và các nghị quyết của Bộ Chính trị khóa VI nhấn mạnh theo hướng coi trọng vị trí đặc biệt của nông nghiệp, chủ trương đổi mới cơ chế quản lý trong các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp, phát huy
triệt để vai trò chủ động của hộ nông dân Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội VII
và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VII (ngày 29 tháng 6 năm
1992) đã đề ra chủ trương: “Ruộng đất thuộc quyền sở hữu toàn dân, giao cho
nông dân quyền sử dụng lâu dài” và “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho
thuê, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng đất phải được quy định cụ thể theo hướng khuyến khích nông dân an tâm đầu tư kinh doanh, nâng cao hiệu quả
sử dụng đất, tạo điều kiện từng bước tích tụ ruộng đất trong giới hạn hợp lý
để phát triển hàng hóa, đi đôi với mở dộng phân công lao động và phân bố lao động gắn với quá trình công nghiệp hóa”
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VII (năm 1993) khẳng
định: “Kiên trì và nhất quán thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều
thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII (năm 1997) cũng đã
xác định: “Thực hiện chính sách ruộng đất phù hợp với sự phát triển nông
nghiệp hàng hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn…Vừa khuyến khích
sử dụng ruộng đất có hiệu quả thông qua tích tụ ở những nơi có điều kiện bằng hình thức hạn điền theo quy định cụ thể, vừa bảo vệ quyền lợi chính đáng của người nông dân có đất canh tác, không bị bần cùng hóa và nghiêm cấm hành vi mua bán đất để kiếm lời”
Trang 35- Nghị quyết số 06 của Bộ Chính Trị khóa VIII (ngày 10 tháng 11
năm 1998) về một số vấn đề nông nghiệp nông thôn đã xác định: “Về tích tụ
ruộng đất, việc chuyển quyền sử dụng, tích tụ và tập trung ruộng đất là hiện tượng sẽ diễn ra trong quá trình phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn…Việc tích tụ và tập trung ruộng đất phải được kiểm soát, quản lý chặt chẽ của Nhà Nước, không để quá trình này diễn ra tự phát làm cho người nông dân mất ruộng, không tim được việc làm và trở nên bần cùng hóa” Có
thể nói, đây là chính sách đầu tiên đề cập thẳng đến vấn đề tích tụ và tập trung đất thông quá chuyển nhượng quyền sử dụng đất [1]
- Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, đã ban hành
Nghị quyết số 26-NQ/TW (ngày 5-8-2008) về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn, xác định: “Sửa đổi Luật Đất đai theo hướng: tiếp tục khẳng định đất đai
là sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch, kế hoạch để
sử dụng có hiệu quả; giao đất cho hộ gia đình sử dụng lâu dài; mở rộng hạn mức sử dụng đất; thúc đẩy quá trình tích tụ đất nông nghiệp; công nhận quyền sử dụng đất được vận động theo cơ chế thị trường, trở thành một nguồn vốn trong sản xuất, kinh doanh”[1]
- Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 31-10-2012, của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XI, về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện
đại, xác định: “Tiếp tục giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình,
cá nhân sử dụng có thời hạn theo hướng kéo dài hơn quy định hiện hành để khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đất và yên tâm đầu tư sản xuất Đồng thời, mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể từng vùng, từng giai đoạn để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tập trung, tích tụ đất nông nghiệp, từng bước hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn trong nông nghiệp Sớm có giải pháp đáp ứng nhu cầu đất sản xuất và việc làm cho bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số đang không có đất sản xuất”[2]
Trang 361.2.2 Một số quy định trong Pháp luật đất đai về tập trung, tích tụ đất nông nghiệp
1.2.2.1 Hạn mức, thời hạn sử dụng đất nông nghiệp
Luật đất đai năm 2013 cho phép hộ gia đình, cá nhân được tích tụ đất nông nghiệp nhiều hơn Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối của mỗi hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nông nghiệp được áp dụng đối với các hình thức nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, xử lý nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 44 Nghị định số
Khu vực
Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc khu vực Đông Nam bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu
Long
Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương còn lại
Các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng
Các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền
Trang 37vốn, trình độ sản xuất của hộ gia đình cá nhân, đồng thời thúc đẩy quá trình tập trung, tích tụ ruộng đất
Luật Đất đai năm 2013 cũng tăng thời hạn sử dụng đất nông nghiệp Cụ thể là: Thời hạn giao đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với
hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp là 50 năm; Thời hạn cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân không quá 50 năm Thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được xem xét, quyết định trên cơ sở dự án đầu tư hoặc đơn xin giao đất, thuê đất nhưng không quá
50 năm Với thời hạn sử dụng đất nông nghiệp như vậy, đã góp phần cho các chủ sử dụng đất ổn định sản xuất, yên tâm đầu tư vào phần diện tích đất của mình
1.2.2.2 Chính sách ưu đãi về đất đai trong lĩnh vực nông nghiệp
Để lĩnh vực nông nghiệp phát triển xứng tầm với vai trò của nó, ngoài tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, Nhà nước đã ban hành các chính sách
ưu đãi về đào tạo nhân lực, phát triển thị trường, phát triển các dịch vụ tư vấn, cước phí vận tải, kinh phí cho tiếp cận thị trường, đồng thời có chính sách đặc biệt ưu đãi cho người sử dụng đất nông nghiệp tại Nghị định số 61/2010/NĐ-
CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn Cụ thể như sau:
a) Miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp
- Hộ nghèo sẽ được miễn toàn bộ thuế sử dụng đất nông nghiệp; hộ gia đình, cá nhân không phải hộ nghèo được miễn thuế trong phần hạn mức; Giảm 50% thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với diện tích đất nông nghiệp mà Nhà nước giao cho một số các tổ chức đang trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp
Trang 38b) Miễn, giảm tiền sử dụng đất
- Nhà đầu tư có dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư nếu được Nhà nước giao đất thì được miễn tiền sử dụng đất đối với dự án đầu tư đó; Nhà đầu tư có dự án nông nghiệp ưu đãi đầu tư thì được giảm 70% tiền sử dụng đất phải nộp ngân sách Nhà nước; Nhà đầu tư có dự án nông nghiệp khuyến khích đầu tư nếu được Nhà nước giao đất thì được giảm 50% tiền sử dụng đất phải nộp ngân sách Nhà nước
c) Miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước của Nhà nước
- Nhà đầu tư được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước (dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư), được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong
15 năm đầu (dự án nông nghiệp ưu đãi đầu tư), được miễn 11 năm đầu (dự án nông nghiệp khuyến khích đầu tư) kể từ ngày xây dựng hoàn thành đưa dự án vào hoạt động, đơn giá cho thuê là mức giá thấp nhất theo khung giá thuê đất
do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định
- Nhà đầu tư có dự án nông nghiệp được miễn tiền thuê đất đối với diện tích đất xây dựng nhà ở tập thể cho công nhân, đất trồng cây xanh và đất phục
vụ phúc lợi công cộng
d) Hỗ trợ thuê đất, thuê mặt nước của hộ gia đình, cá nhân
Nhà đầu tư có dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư nếu thuê đất, thuê mặt nước của hộ gia đình, cá nhân để tiến hành dự án đầu tư đó thì được Nhà nước hỗ trợ 20% tiền thuê đất, thuê mặt nước theo khung giá đất, mặt nước của địa phương cho 5 năm đầu tiên kể từ khi hoàn thành xây dựng cơ bản
đ) Miễn, giảm tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất
- Được miễn nộp tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất (dự
án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư); được giảm 50% tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất (dự án nông nghiệp ưu đãi đầu tư)
1.2.2.3 Quyền của người sử dụng đất nông nghiệp
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao trong hạn mức; đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất
Trang 39trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất; đất nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế thì ngoài các quyền chung của người sử dụng đất còn có thêm các quyền sau đây: Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật
Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật thì ngoài quyền chung của người sử dụng đất còn có các quyền chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về tích tụ, tập trung đất nông nghiệp và bài học cho Việt Nam
Vấn đề tập trung, tích tụ đất nông nghiệp cho phát triển nông nghiệp trên thế giới đã xuất hiện từ cách đây khoảng ba thế kỷ, bắt đầu từ những hoạt động tích tụ ở Đan Mạch khoảng đầu những năm 1750 rồi lan sang các quốc gia Bắc Âu khác từ khoảng cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 và khắp châu âu vào đầu thế kỷ 20 Hình thức tích tụ chủ yếu là các chủ đất tự nguyện trao đổi với nhau Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các hình thức tích tụ được nâng tầm lên trở thành những chính sách nông nghiệp hiện đại của các Chính phủ, do vậy hoạt động tích tụ tập trung ở Châu Âu thực sự bắt đầu vào giữa thế kỷ thứ 20 Tại các quốc gia có nền nông nghiệp hiện đại, phát triển như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan hay trong khối ASEAN có Philippines thì những chính sách về cải cách ruộng đất cũng đã được khởi động từ những năm giữa thế kỷ 20 Những kinh nghiệm từ các quốc gia nói trên sẽ đem lại cho Việt Nam nhiều bài học trong công cuộc tái cấu trúc nền nông nghiệp với chính sách tập trung, tích tụ đất nông nghiệp
Trang 401.3.1 Kinh nghiệm trong tích tụ, tập trung của các quốc gia châu Âu
- Thực trạng tích tụ, tập trung của các quốc gia châu Âu
Tại Châu Âu hiện nay, đất nông nghiệp tập trung hẩu hết trong tay những trang trại có quy mô lớn, cùng với đó là số lượng các trang trại nhỏ giảm đi đáng kể Theo Eurostat, các trang trại nông nghiệp lớn (>100 ha) chỉ chiếm khoảng 3,1% số trang trại của Liên Minh Châu Âu (EU) nhưng kiểm soát đến hơn 50% tổng diện tích đất nông nghiệp Các trang trại nhỏ (<10 ha) chiếm ¾ trong tổng số trang trại chỉ kiểm soát có 11% tổng diện tích đất Đặc biệt, mức độ tập trung đất nông nghiệp tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Âu, nơi giá đất nông nghiệp được đánh giá là rất rẻ Chỉ trong giai đoạn 10 năm (2003-2013), số lượng các trang trại nhỏ tại Bulgaria, Séc và Slovakia đã giảm 1/3, trong khi tổng diện tích đất các trang trại lớn lại tăng đến 15%, kiểm soát đến 80% diện tích đất nông nghiệp Trong giai đoạn 1990-2013, số lượng các trang trại nhỏ ở Đức giảm đến 79%, ở Slovakia giảm 77%, ở Italia
và Séc giảm 68% và ở Pháp giảm 56% Hệ quả tất yếu là sự bất bình đẳng trong đất đai ở EU ở mức rất cao
- Thực trạng tích tụ, tập trung tại Ba Lan
Ba Lan có diện tích lãnh thổ rộng 312,7 nghìn km2, tương đương với Việt Nam, nước này là một trong những quốc gia nghèo nhất trong EU với GDP đầu người chỉ ở mức 49,7% so với mức trung bình của EU Trong quá trình chuyển đổi và hội nhập, lĩnh vực nông nghiệp của nông thôn của Ba Lan cũng gặp nhiều vấn đề khi năng suất lao động thấp (chỉ khoảng 14% nếu so với mức trung bình của EU) Nguyên nhân chủ yếu là do đất đai bị phân tán, manh mún, các nông trại quy mô nhỏ, trình độ học vấn thấp cùng với máy móc, thiết bị, phương thức canh tác quá lạc hậu
Nhằm mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp, Ba Lan đã có những nỗ lực chuyển đổi, đưa nhiều nhiều chính sách phát triển nông nghiệp, đóng góp