LỜI CẢM ƠN Được sự nhất trí của trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Khoa Quản lý đất đai, tôi đã tiến hành làm luận văn “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hi
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
ĐẶNG NGỌC ĐIỆP
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Hà Nội, 2018
Trang 2BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
ĐẶNG NGỌC ĐIỆP
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 8850103
NGƯỜI HƯỚNG DẪN : TS ĐÀO ĐỨC MẪN
Hà Nội, 2018
Trang 3CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Cán bộ hướng dẫn chính: TS Đào Đức Mẫn
Cán bộ chấm phản biện 1: TS Lưu Văn Năng
Cán bộ chấm phản biện 2: TS Nguyễn Thị Khuy
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:
HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Ngày 15 tháng 9 năm 2018
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan:
Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và pháp luật Việt Nam Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Tác giả Luận văn
Đặng Ngọc Điệp
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội,
Khoa Quản lý đất đai, tôi đã tiến hành làm luận văn “Đánh giá thực trạng và
đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư tại một số dự án trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội”
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các cán bộ tại nơi thực tập cùng gia đình và bạn bè
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu; Ban Chủ nhiệm Khoa Quản
lý đất đai trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cùng toàn thể các thầy cô giáo đã dạy dỗ, quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường thời gian qua
Đặc biệt để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi nhận được sự quan tâm của giáo viên hướng dẫn – TS Đào Đức Mẫn Thầy đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo, các cán bộ Trung tâm Phát triển quỹ đất quận Cầu Giấy - Thành phố Hà Nội, các cơ quan ban ngành có liên quan đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên thực hiện
Đặng Ngọc Điệp
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN iii
THÔNG TIN LUẬN VĂN vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC BẢNG BIỂU x
DANH MỤC HÌNH xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận của công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 4
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 4
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 5
1.1.3 Cơ sở lý luận về xác định giá bồi thường thiệt hại về đất và tài sản gắn liền với đất 8
1.2 Cơ sở pháp lý của công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 12
1.2.1 Hệ thống cơ sở pháp lý 12
1.2.2 Quy định hiện hành về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam 16
1.3 Cơ sở thực tiễn của công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 24
1.3.1 Chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở một số nước trên thế giới 24
1.3.2 Thực trạng thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam 28
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 34
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 34
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 34
Trang 72.2 Nội dung nghiên cứu 34
2.2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 34
2.2.2 Đánh giá việc thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư qua một số dự án trên địa bàn quận Cầu Giấy 34
2.2.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại một số dự án trên địa bàn quận Cầu Giấy 35
2.3 Phương pháp nghiên cứu 35
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu, tài liệu 35
2.3.2 Phương pháp thống kê, phân tích số liệu 36
2.3.3 Phương pháp kế thừa 36
2.3.4 Phương pháp chuyên gia 36
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Cầu Giấy 37
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 37
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 39
3.1.3 Đánh giá chung 41
3.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất trên địa bàn 43
3.2.1 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai 43
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất và biến động diện tích theo mục đích sử dụng 52 3.2.3 Một số dự án lớn được triển khai trên địa bàn những năm gần đây 61
3.3 Tình hình chung về công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn quận Cầu Giấy 63
3.3.1 Các văn bản pháp lý 63
3.3.2 Tình hình và kết quả thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo Luật Đất đai năm 2013 65
3.3.3 Bộ máy tổ chức và nhân sự thực hiện công tác giải phóng mặt bằng 67
3.3.4 Trách nhiệm của UBND các cấp và tình hình tổ chức thực hiện và sự phối hợp giữa các ban ngành thuộc UBND quận Cầu Giấy 69
3.3.5 Thực trạng công tác thanh tra và đơn thư khiếu nại liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 71
Trang 83.4 Đánh giá việc thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư qua một số dự án trên địa bàn quận Cầu Giấy 72
3.4.1 Khái quát về các dự án nghiên cứu 72
3.4.2 Trình tự, thủ tục thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại các dự án 78
3.4.3 Kết quả thực hiện công tác thu hồi đất 80
3.4.4 Kết quả thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ về đất 81
3.4.5 Kết quả thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ về tài sản trên đất 81
3.4.6 Các chính sách hỗ trợ khác 92
3.4.7 Chính sách tái định cư 96
3.4.8 Đánh giá của người dân bị thu hồi đất tại dự án về công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 99
3.4.9 Đánh giá chung 105
3.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại một số dự án trên địa bàn quận Cầu Giấy 108 3.5.1 Giải pháp hoàn thiện về chính sách, pháp luật 108
3.5.2 Giải pháp hoàn thiện về tổ chức thực hiện 109
3.5.3 Giải pháp tăng cường về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực 110
3.5.4 Giải pháp về tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật 110
3.5.5 Các giải pháp khác 111
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116 PHỤ LỤC ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED
Trang 9THÔNG TIN LUẬN VĂN
Họ và tên: Đặng Ngọc Điệp
Lớp: CH2B.QĐ Khóa: 2B (2016 – 2018)
Khoa: Quản lý đất đai Mã số: 8850103
Trường: Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Cán bộ hướng dẫn: TS Đào Đức Mẫn
Tên đề tài: Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả
công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại một số dự án trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Nội dung nghiên cứu:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
- Tình hình quản lý sử dụng đất quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
- Tình hình chung về công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
- Đánh giá việc thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư qua một số dự án trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại một số dự án trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Kết quả đạt được:
Quận Cầu Giấy là một quận nội thành của thành phố Hà Nội với hệ thống giao thông cũng như hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị được đầu tư phát triển đồng
bộ và ngày càng hoàn thiện Trong những năm qua, kinh tế - xã hội của quận
có những bước phát triển mạnh mẽ và ảnh hưởng nhiều tới tình hình sử dụng đất của quận
Theo số liệu thống kê đất đai năm 2017, quận Cầu Giấy có tổng diện tích đất tự nhiên là 1.231,70 ha, bao gồm: 16,80 ha đất nông nghiệp (chiếm 1,36%), 1.134,04 ha đất phi nông nghiệp (chiếm 92,07%) và 80,86 ha đất chưa sử dụng (chiếm 6,57%) Trong những năm qua, công tác quản lý nhà nước về đất đai được quận thực hiện tốt và đồng bộ
Trang 10Từ năm 2014 đến nay, quận Cầu Giấy đã thực hiện thu hồi đất, bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư nhiều dự án, trong đó có cả những dự án trọng điểm của Thành phố Việc lập và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục quy định Quá trình triển khai thực hiện các dự án thu hồi đất trên địa bàn quận Cầu Giấy ngoài các dự án đảm bảo đúng tiến độ bàn giao mặt bằng thì vẫn còn một số dự án chậm tiến độ bàn giao mặt bằng do nhiều nguyên nhân
Luận văn tiến hành nghiên cứu 02 dự án trên địa bàn quận Cầu Giấy, đó là: Dự án Đường Vành đai 2 (đoạn Nhật Tân – Cầu Giấy) với diện tích cần thu hồi là 56.075 m2, thời gian thực hiện dự án từ năm 2008 đến năm 2015 và Dự
án Đường Trần Đăng Ninh kéo dài với diện tích cần thu hồi là 8.123,2 m2, thời gian thực hiện dự án từ năm 2014 đến năm 2017 Bên cạnh những kết quả khả quan đạt được thì công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại các
dự án trên còn một số mặt tồn tại, hạn chế cả về khách quan cũng như chủ quan Nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại một số dự án trên địa bàn quận Cầu Giấy cũng như toàn thành phố thì cần đẩy mạnh thực hiện các nhóm giải pháp về chế độ chính sách và tổ chức thực hiện một cách chính xác và linh hoạt, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật cũng như lợi ích của người dân và tiến độ của dự án
Trang 11DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT STT
: Giải phóng mặt bằng : Hội đồng nhân dân : Luật Đất đai
: Nhà xuất bản : Tái định cư : Tài nguyên và Môi trường : Uỷ ban nhân dân
Trang 12DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp năm 2017 của quận Cầu Giấy 52
Bảng 3.2 Diện tích, cơ cấu đất phi nông nghiệp năm 2017 của quận Cầu
Giấy 53
Bảng 3.3 Diện tích đất thu hồi tại 2 dự án 80
Bảng 3.4 Các mức hỗ trợ về đất nông nghiệp 82
Bảng 3.5 Giá đất ở bồi thường cho dự án Đường vành đai 2 tại các vị trí trên các con đường thuộc phường Nghĩa Đô 84
Bảng 3.6 Giá đất ở và hệ số điều chỉnh giá đất cụ thể tại các vị trí đường Trần Đăng Ninh 85
Bảng 3.7 Giá đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp đường Trần Đăng Ninh 86
Bảng 3.8 Kết quả bồi thường, hỗ trợ về đất 86
Bảng 3.9 Kết quả bồi thường, hỗ trợ về tài sản trên đất 91
Bảng 3.10 Kết quả thực hiện các loại hỗ trợ khác 95
Bảng 3.11 Kết quả thực hiện chính sách tái định cư dự án đường Vành đai 2 97
Bảng 3.12 Kết quả thực hiện chính sách tái định cư dự án đường Trần Đăng Ninh kéo dài 99
Bảng 3.13 Đánh giá của người dân trong việc xác định đối tượng được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 100
Bảng 3.14 Đánh giá của người dân về giá bồi thường, hỗ trợ 101
Bảng 3.15 Đánh giá của người dân về chính sách hỗ trợ và tái định cư 102
Bảng 3.16 Đánh giá của người dân về trình tự thực hiện và trách nhiệm của các cấp, các ngành 104
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, có vai trò, ý nghĩa đặc biệt đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hoạt động sống của con người Sự phát triển của các ngành kinh tế cùng với áp lực gia tăng dân số làm cho nhu cầu sử dụng đất vào các mục đích phi nông nghiệp ngày càng tăng, nhất là khi quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước diễn ra mạnh mẽ Để có mặt bằng thực hiện các dự án phát triển các khu đô thị, khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng… việc thu hồi đất là một quá trình tất yếu, có tính quy luật
Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là một trong những nội dung của công tác quản lý nhà nước về đất đai, được quy định cụ thể trong Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Hoạt động này được thực hiện thường xuyên hàng năm trên địa bàn cả nước, nhất là các địa phương có quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ Trong những năm qua, công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã có những đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, song trong thực tiễn triển khai cũng còn gặp nhiều khó khăn làm ảnh hưởng đến tiến độ và thời gian thi công của các công trình, gây nhiều thiệt hại cũng như ảnh hưởng đời sống người dân có đất bị thu hồi; một số địa phương tổ chức thực hiện công tác thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chưa tốt, dẫn đến khiếu kiện, khiếu nại, gây bức xúc trong dư luận
Luật Đất đai năm 2013 ra đời, UBND Thành phố Hà Nội đã ban hành các Quyết định về các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố Hà Nội
về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Từ khi triển khai Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 15/9/2016 của Ban
Thường vụ Thành ủy về "Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai
Trang 15đoạn 2016-2020 và những năm tiếp theo", công tác giải phóng mặt bằng trên
địa bàn Thành phố Hà Nội đã có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khiến công tác này còn bộc lộ hạn chế, bất cập và cần sự chủ động, tích cực tháo gỡ từ nhiều cấp, ngành
Từ năm 2014 đến nay, quận Cầu Giấy đã thực hiện thu hồi đất, bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư nhiều dự án, trong đó có cả những dự án trọng điểm của Thành phố Việc lập và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục quy định Quá trình triển khai thực hiện các dự án thu hồi đất trên địa bàn quận Cầu Giấy ngoài các dự án đảm bảo đúng tiến độ bàn giao mặt bằng thì vẫn còn một số dự án chậm tiến độ bàn giao mặt bằng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, việc thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại một số dự án trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội” là rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá việc thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại một số dự án trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại một số dự án trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa khoa học
Việc đánh giá công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư qua một số dự án trên địa bàn quận Cầu Giấy có ý nghĩa thiết thực góp phần tìm ra giải pháp nhằm hỗ trợ giải quyết các vấn đề tồn tại, đảm bảo lợi ích của người dân có đất bị thu hồi và đẩy nhanh tiến độ các công tác này tại dự án
Trang 16* Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở thực tiễn, có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên cao học cũng như những nhà quản lý, đơn vị thi công trong việc học tập, nghiên cứu, ban hành và thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
Theo Khoản 1 Điều 16 Luật Đất đai 2013, Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp:
- Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng;
- Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai;
- Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người
b Bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “bồi thường” là trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác.[23]
Còn theo Khoản 12 Điều 3 Luật Đất đai 2013: “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất” Và “giải phóng mặt bằng” là quá trình thu hồi đất của Nhà nước từ
các chủ thể sử dụng đất để lấy mặt bằng thi công xây dựng các công trình Việc bồi thường thiệt hại này có thể vô hình hoặc hữu hình (bồi thường bằng tiền, bằng vật chất khác,…) có thể do các quy định của pháp luật điều tiết, hoặc do thỏa thuận giữa các chủ thể
Trang 18c Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Trên thực tế, ngoài các khoản bồi thường thiệt hại nói trên thì còn có một hình thức bồi thường khác gọi là hỗ trợ, việc hỗ trợ tương xứng với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác
Theo Khoản 14 Điều 3 Luật Đất đai 2013: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển”
Hiện nay ở nước ta, khi nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau:
- Bồi thường bằng nhà ở
- Bồi thường bằng giao đất ở
- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
a Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai
và tổ chức thực hiện các văn bản đó
Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đòi hỏi các văn bản pháp luật mang tính ổn định cao và phù hợp với tình hình thực tế.[2]
Trang 19Ở nước ta, sau khi ban hành Luật Đất đai 1987, 1993, 2003 đã ba lần Quốc hội ban hành luật sửa đổi, bổ sung các quy đinh của Luật Đất đai vào các năm
1998, 2001, 2009 và Nhà nước ban hành Luật Đất đai 2013 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Theo đó, chính sách bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư cũng luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế triển khai.Với những đổi mới về pháp Luật Đất đai, thời gian qua công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã đạt được kết quả đáng khích lệ, cơ bản đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng cho việc phát triển các dự án đầu tư Tuy nhiên, do tính chưa ổn định, chưa thống nhất của pháp Luật Đất đai qua các thời kỳ mà công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
đã gặp nhiều khó khăn và cản trở Thực tiễn triển khai cho thấy việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai có sức ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Bên cạnh đó ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dung đất đai, việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò quan trọng Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy UBND các cấp đều có ý thức quán triệt việc thực thi pháp luật đất đai nhưng nhận thức
về các quy định của pháp luật nói chung còn yếu, ở cấp cơ sở còn rất yếu Từ
đó dẫn đến tình trạng có nhầm lẫn việc áp dụng pháp luật trong giải quyết giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, giải quyết tranh chấp, khiếu nạn,
tố cáo Trong khi đó việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, quy định của các cơ quan có trách nhiệm chưa thật sát sao Tại nhiều địa phương, đang tồn tại tình trạng nể nang, trọng tình hơn chấp hành quy định pháp luật trong giải quyết các mỗi quan hệ về đất đai Cán bộ, công chức địa chính, Chủ tịch UBND cấp xã nói chung chưa làm tốt nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai trên địa bàn Đó là nguyên nhân làm giảm
Trang 20hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin ở người dân cũng như các nhà đầu
tư và đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.[2]
b Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Đất đai nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam, nhưng lại là điều kiện không thể thiếu được trong mọi quá trình phát triển Vì vậy, việc sử dụng thật tốt nguồn tài nguyên đất không chỉ quyết định tương lại của nền kinh
tế đất nước mà còn là sự đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị và phát triển
xã hội Quy hoạch sử dụng đất được xem là một giải pháp tổng thể định hướng cho quá trình phái triển và quyết định tương lai của nền kinh tế Thông qua quy hoạch sử dụng đất, nhà nước can thiệp vào các quan hệ đất đai, khắc phục những nhược điểm do lịch sử để lại hay giải quyết những vấn đề mà quá trình phát triển đang đặt ra.[16]
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường đất đai trên hai khía cạnh:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng nhất để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất mà theo quy định của Luật Đất đai, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi đã có quyết định thu hồi đất đối với người đang sử dụng đất đó
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới giá đất chuyển nhượng từ đó tác động đến giá đất bồi thường
c Đăng ký đất đai và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất
Theo quy định của nước ta, đất đai là một trong các tài sản phải đăng ký quyền sử dụng; người sử dụng đất phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (GCN) Trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư GCN là căn cứ để xác định đối tượng được bồi thường, loại đất và diện
Trang 21tích đất tính bồi thường Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta vẫn còn kém, đặc biệt là đăng ký biến động về sử dụng đất, việc cấp GCN vẫn chưa hoàn tất, chính vì vậy mà công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã gặp rất nhiều khó khăn
d Yếu tố giá đất và định giá đất
Theo quy định của Luật Đất đai 2013 nguyên tắc xác định giá đất là phải sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường, tuy nhiên tình hình phổ biến hiện nay là giá đất Nhà nước ban hành còn thấp so với giá thị trường dẫn đến nhiều trường hợp ách tắc về bồi thường đất đai, phát sinh khiếu kiện
án (do người đầu tư có thể đáp ứng nhu cầu đất đai thông qua các giao dịch trên thị trường); đồng thời người bị thu hồi đất có thể tự mua hoặc thuê đất đai, nhà cửa mà không cần phải thông qua Nhà nước thực hiện chính sách tái định cư Giá cả của bất động sản được hình thành trên thị trường và nó tác động đến giá đất tính bồi thường.[3]
1.1.3 Cơ sở lý luận về xác định giá bồi thường thiệt hại về đất và tài sản gắn liền với đất
Dưới bất kỳ chế độ sở hữu ruộng đất nào, người sử dụng đất cũng được trả một khoản tiền bồi thường khi bị thu hồi đất Trong điều kiện sở hữu ruộng đất là sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu thì việc người sử dụng
Trang 22đất được Nhà nước trả tiền bồi thường khi bị thu hồi đất là điều hiển nhiên, với điều kiện người sử dụng đất phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình Để xây dựng các công trình vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng tất yếu dẫn đến việc Nhà nước phải thu hồi đất Vì vậy việc bồi thường thiệt hại cho người bị thu hồi đất và các tài sản gắn liền với đất cũng là vấn đề tất yếu, để giải quyết mối quan hệ này là giải quyết mối quan hệ giữa người được giao quyền sử dụng đất mới và người sử dụng đất bị thu hồi
Trong điều kiện Nhà nước thu hồi đất cho mục đích công cộng, lợi ích quốc gia thì trường hợp này giống như là hành vi chuyển quyền sử dụng đất và chuyển mục đích sử dụng đất nhưng là hành vi chuyển quyền sử dụng đất đặc biệt, nó không phải là tự nguyện mà là một sự bắt buộc Bởi vậy, việc giải quyết thoả đáng lợi ích của người bị thu hồi đất là hết sức cần thiết và quan trọng, thể hiện ở việc bồi thường thiệt hại về đất và tài sản trên đất bị thu hồi
Đây là vấn đề chủ yếu cần được xem xét nhằm giải quyết thoả đáng lợi ích cho người bị thu hồi đất Lý luận địa tô Các Mác vẫn có giá trị lý luận và thực tiễn để giải quyết vấn đề trên
- Tiền bồi thường thiệt hại về đất và tài sản gắn liền với đất cho người có đất bị thu hồi được lấy từ người sử dụng đất mới Khoản tiền mà người sử dụng đất mới phải trả ít nhất là bằng với số tiền bồi thường cho người bị thu hồi cả
về đất và tài sản gắn liền với đất
- Cơ sở và mức tính bồi thường: theo lý luận địa tô của Các Mác thì độ phì nhiêu và vị trí của đất đai là cơ sở cho việc tính toán mức phải trả cho người sử dụng đất Độ phì nhiêu và vị trí đất đai ở đây bao gồm cả các yếu tố tự nhiên
và nhân tạo, tức là các chi phí đầu tư của con người làm thay đổi độ phì nhiêu
và vị trí của mảnh đất được sử dụng cũng được tính đến Bởi vậy, để tính mức đền bù cho người sử dụng đất bị thu hồi, nên căn cứ vào các yếu tố sau đây:
Trang 23+ Loại đất bị thu hồi: dựa vào phân loại đất theo quy định của pháp luật hiện hành như đất nông nghiệp, đất ở, đất chuyên dùng, cần lưu ý tới yếu tố nhân tạo, tức là vai trò của con người tác động vào đất đai Ví dụ đối với đất nông nghiệp thì ngoài yếu tố độ phì tự nhiên, cần chủ ý đến độ phì nhân tạo, tức là địa tô chênh lệch II Với những yếu tố nhân tạo cần xem xét đến vai trò đầu tư của Nhà nước cũng như của người sử dụng đất
+ Căn cứ vào loại công trình gắn liền với đất: mức đền bù được tính toán phù hợp với giá trị công trình gắn liền với đất theo mục đích sử dụng đất được pháp luật quy định Việc căn cứ vào loại công trình để tính toán mức bồi thường thiệt hại phải trả cho người bị thu hồi đất sẽ làm cho các chủ dự án tính toán kỹ lưỡng nhằm tiết kiệm chi phí
Ủy ban nhân dân các cấp và chủ dự án là những người trực tiếp xem xét các yếu tố, điều kiện liên quan tới việc quy định mức giá bồi thường thiệt hại
về đất và tài sản gắn liền với đất khi nhà nước thu hồi đất
a Về tái định cư
Tái định cư là quá trình bồi thường các thiệt hại về đất và tài sản gắn liền với đất, chi phí di chuyển, ổn định và khôi phục cuộc sống cho những người dân bị thu hồi đất để xây dựng các dự án Tái định cư còn bao gồm hàng loạt các hoạt động nhằm hỗ trợ cho người bị ảnh hưởng do việc thực hiện dự án gây
ra, nhằm khôi phục và cải thiện mức sống, tạo điều kiện phát triển những cơ sở kinh tế và văn hoá - xã hội Tái định cư nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - văn hoá - xã hội đối với một bộ phận dân cư phải di chuyển nơi ở vì
sự phát triển chung Vì vậy, các dự án TĐC cũng được coi là dự án phát triển
và phải được thực hiện như các dự án phát triển khác Ngân hàng và các Nhà nước đang phát triển cần nhìn nhận vấn đề này như cơ hội chứ không phải là trở ngại, cần thực hiện một chính sách TĐC bắt buộc sẽ tạo nên một môi trường pháp chế lành mạnh khi Nhà nước cần thu hồi đất phục vụ cho các mục đích
Trang 24công cộng của quốc gia Mặt khác cần cải tiến cách hiểu và lập kế hoạch thực hiện, sao cho các dự án luôn hướng tới sự phát triển, không chỉ mang lại lợi ích
về kinh tế mà còn về môi trường, xã hội, phương thức này phù hợp với hai mục tiêu là xoá đói giảm nghèo và phát triển bền vững
b Vấn đề ổn định nơi ở
- Một số khu TĐC không đảm bảo điều kiện cơ sở hạ tầng tối thiểu như:
hệ thống điện, nước, đường giao thông, trường hoặc trạm xá, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của những người TĐC
- Bố trí TĐC chưa quan tâm tới các yếu tố cộng đồng dân cư, tập quán sinh hoạt, sản xuất Ví dụ người sản xuất nông nghiệp bị chuyển đến khu TĐC cao tầng không có tư liệu sản xuất trong khi việc hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm chưa có chế tài chặt chẽ
- Việc xây dựng khu TĐC còn chậm, nhiều khi có quyết định thu hồi đất hoặc thậm chí khi tiến hành bồi thường mới quan tâm đến vấn đề TĐC
Từ khâu chuẩn bị không được kỹ do sự bức bách về thời gian dẫn đến thiếu các điều kiện tối thiểu
- Chưa có quy định tối thiểu về quyền và nghĩa vụ của người bị thu hồi đất khi được bồi thường ở khu TĐC, nên người dân không biết mình có quyền và nghĩa vụ gì Họ không vào các khu TĐC mà yêu cầu bồi thường bằng tiền để
tự lo chỗ ở mới dẫn đến tình trạng thừa chỗ trong các khu TĐC
- Chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm của các bên có liên quan trong việc xây dựng khu TĐC, nên có tình trạng khoán trắng cho chủ dự án dẫn đến
có những công trình TĐC chất lượng không đảm bảo ổn định đời sống và phong tục tập quán của người dân: phải xây dựng khu TĐC với điều kiện sống cao hơn so với trước khi di dời Mặt khác, phải quan tâm đến phong tục, tập quán trong nhóm người, quan hệ họ hàng, cộng đồng Đối với khu TĐC cần xây
Trang 25dựng các quy định về lối sống, an ninh trật tự, tạo sự yên tâm cho người mới chuyển đến
Những tồn tại trên đây khó tránh khỏi trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển đất nước, một khi các chính sách của Nhà nước chưa đồng bộ, nhận thức của các cấp, các ngành về TĐC chưa đầy đủ
c Vấn đề chuyển đổi nghề nghiệp
Rất nhiều hộ bị thu hồi đất sống bằng nghề buôn bán nhỏ và sản xuất nông nghiệp, không có khả năng nghề nghiệp nhất định do đó thu nhập không ổn định Việc chuyển đổi nghề nghiệp cho những người bị thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn Trong những năm trước đây, việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp không được các chủ dự án quan tâm đã gây bất lợi cho đời sống của những người dân bị thu hồi đất mà kế sinh nhai của họ là gắn liền với đất, nhiều dự án thực hiện công tác hỗ trợ việc làm thông qua viện trợ bằng cách là cấp một khoản tiền nhất định Khoản tiền này sẽ phát huy tác dụng khác nhau: với người năng động hoặc có khả năng thì nó được đầu tư sinh lợi, ngược lại với một số người khác thì khoản tiền đó được tiêu dùng cho sinh hoạt cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó dẫn đến hết tiền, thất nghiệp, ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình và đã có những người mắc các tệ nạn xã hội Vì vậy, tạo công ăn việc làm để người dân bị thu hồi đất có thu nhập ổn định là trách nhiệm của chủ dự án cũng như của cả người dân được hỗ trợ việc làm trong thời kỳ phát triển, tạo điều kiện ổn định cuộc sống gia đình, ổn định xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
1.2 Cơ sở pháp lý của công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1.2.1 Hệ thống cơ sở pháp lý
- Luật Đất đai năm 2003 số 13/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc Hội;
- Luật Đất đai năm 2013 số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013 của Quốc Hội;
Trang 26- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc đền
bù thiệt hại khi Nhà nước nước thu hồi để sử dụng vào mục đích quốc phòng,
an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng;
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định
bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
- Nghị định số 181/2009/NĐ-CP ngày 23/10/2009 của Chính phủ về việc quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định
bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;
- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định
Trang 27- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất;
- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 02/7/2007 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường hướng dẫn Nghị định 84/2007/NĐ-CP bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đât, trình
tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
- Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất;
- Thông tư số 35/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định việc điều tra, đánh giá đất đai;
- Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định chi tiết phương pháp xác định giá đất; xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất;
- Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày 28/8/2014 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường - Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27/01/2015 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định số
43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 44/2014/NĐ-43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014;
Trang 28- Thông tư liên tịch số 16/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 04/4/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường - Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Trung tâm phát triển quỹ đất trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường;
- Thông tư số 60/2015/TT-BTNMT ngày 15/12/2015 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định kỹ thuật về điều tra, đánh giá đất đai;
- Thông tư số 74/2015/TT-BTC ngày 15/5/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn lập dự toán, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Thông tư số 49/2016/TT-BTNMT ngày 28/12/2016 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về công tác giám sát, kiểm tra, thẩm định và nghiệm thu công trình, sản phẩm trong lĩnh vực quản lý đất đai;
- Thông tư số 80/2017/TT-BTC ngày 02/8/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc xác định giá trị quyền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản gắn liền với đất được hoàn trả khi Nhà nước thu hồi đất và việc quản lý, sử dụng số tiền bồi thường tài sản do Nhà nước giao quản lý sử dụng, số tiền hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nhưng không được bồi thường về đất;
- Quyết định số 74/2005/QĐ-TTg ngày 06/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc sử dụng tiền chuyển quyền sử dụng đất , tiền bán nhà xưởng và các công trình khác khi tổ chức kinh tế phải di dời trụ sở, cơ sở sản xuất, kinh doanh theo quy hoạch;
- Quyết định số 52/2012/QĐ-TTg ngày 16/11/2012 của Thủ tướng Chính phủvề chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho người lao động
bị thu hồi đất nông nghiệp;
- Quyết định số 63/2015/QĐ-TTg ngày 10/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất
Trang 291.2.2 Quy định hiện hành về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam
Luật Đất đai năm 2003 ra đời là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, cũng như phục vụ hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai Tuy vậy, sau gần 10 năm áp dụng, những quy định của Luật Đất đai năm 2003 nói chung đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập, đặc biệt là trong lĩnh vực về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến những khiếu nại, khiếu kiện, tranh chấp về đất đai Việc sửa đổi toàn diện Luật Đất đai năm 2003
là yêu cầu cấp thiết, nhằm thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng trong lĩnh vực đất đai và công cuộc đổi mới đất nước Trước yêu cầu đó, ngày 29/11/2013, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai năm 2013, có hiệu lực từ ngày 01/7/2014
So với Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 có nhiều điểm đổi mới về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Cụ thể như sau:
a Về thu hồi đất
* Các trường hợp thu hồi đất
Từ 12 trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 38 của Luật Đất đai năm
2003, Luật Đất đai năm 2013 bổ sung trường hợp thu hồi đất do có nguy cơ đe dọa tính mạng con người Theo đó, việc thu hồi đất được chia thành 04 nhóm như sau:
- Nhóm 1: Thu hồi đất vì mu ̣c đích quốc phòng, an ninh
- Nhóm 2: Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hô ̣i vì lợi ích quốc gia, công cô ̣ng Luật Đất đai năm 2013 thu he ̣p hơn các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lơ ̣i ích quốc gia, công cô ̣ng Nhà nước
Trang 30chỉ thu hồi đất đối với các dự án đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư; dự án được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư và mô ̣t số trường hợp đươ ̣c Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét thông qua chủ trương thu hồi đất
- Nhóm 3: Thu hồi đất do vi phạm pháp luật; đặc biệt đối với trường hợp không đưa đất đã được giao, cho thuê vào sử du ̣ng hoă ̣c châ ̣m đưa đất vào sử
du ̣ng Luật Đất đai năm 2013 quy đi ̣nh chế tài ma ̣nh để xử lý đối với các trường
hơ ̣p này: “Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng”
- Nhóm 4: Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người
* Thẩm quyền thu hồi đất
Luật Đất đai năm 2013 có sửa đổi thẩm quyền thu hồi đất để cải cách hành chính khi thực hiện các dự án, trong đó quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho UBND cấp huyện thu hồi đối với trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất Đây là lần đầu tiên trong Luật Đất đai có quy định UBND cấp tỉnh được
ủy quyền cho UBND cấp huyện thực hiện thu hồi đất
* Thông báo thu hồi đất và chấp hành quyết định thu hồi đất
Trang 31Luật đã quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc thông báo thu hồi đất: Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết Nội dung thông báo thu hồi đất gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất mà không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất
Đồng thời, Luật cũng quy định: Người có đất thu hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong quá trình điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xây dựng phương án bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư; khi quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành và phương
án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt được công bố công khai, người có đất thu hồi phải chấp hành quyết định thu hồi đất
Trong các bước công việc này, người sử dụng đất được tiếp cận thông tin bằng nhiều hình thức (gửi đến từng người có đất thu hồi, họp trực tiếp, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân
Trang 32cư ) về thông báo thu hồi đất, kế hoạch thu hồi đất; tham gia góp ý kiến cụ thể
về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
b Về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Luật Đất đai năm 2003 đã có những bước tiến trong việc bảo đảm tốt hơn quyền lợi cho người có đất thu hồi Tuy nhiên, đây vẫn là một trong những vấn
đề nổi cộm, làm chậm tiến độ bồi thường giải phóng mặt bằng, ảnh hưởng đến môi trường và hiệu quả đầu tư, gây khiếu kiện kéo dài trong thời gian qua
Để khắc phục những bất cập trên, Luật Đất đai năm 2013 đã có những điểm đổi mới rất quan trọng từ nguyên tắc bồi thường về đất, cho đến việc chi trả bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Cụ thể:
* Quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
Các chế định bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong Luâ ̣t Đất đai năm 2003 trên thực tế đã không thể thể chế, truyền tải hết các quy định mang tính nguyên tắc để thực hiện thống nhất khi xử lý những vấn đề phức tạp phát sinh trong thực tiễn thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại các địa phương, các bộ, ngành Khắc phục hạn chế này, Luâ ̣t Đất đai năm 2013 đã tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành
02 điều riêng biệt Trong đó, quy định cụ thể các nguyên tắc bồi thường về đất
và các nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất để các bộ, ngành, địa phương và người thu hồi đất căn cứ vào đó thống nhất thực hiện
Trong đó, Luật bổ sung thêm 02 trường hợp được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Điều 75, cụ thể: (i) Bồi thường đối với các trường hợp sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; (ii) trường hợp cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất mà không phải
là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện
Trang 33để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
* Thể chế hóa cơ chế, chính sách bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại thông qua các quy định chi tiết đối với từng loại đất (gồm: Đất nông nghiệp, đất ở, đất phi nông nghiệp không phải đất ở và theo từng loại đối tượng sử dụng đất)
Trong đó, theo quy định của Luâ ̣t Đất đai năm 2013 việc xác định mức bồi thường cho người có đất thu hồi đối với đất sử dụng có thời hạn không chỉ căn cứ loại đất, đối tượng sử dụng đất mà còn phải căn cứ thời hạn sử dụng đất còn lại của người sử dụng đất đối với đất đó, trừ trường hợp đất nông nghiê ̣p có nguồn gốc do Nhà nước giao đất đối với hô ̣ gia đình, cá nhân
* Quy định cụ thể về bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, cho một
số trường hợp không được bồi thường về đất
Những trường hợp được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất, bao gồm:
- Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản
có công với cách mạng;
- Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn;
- Đất nhận khoán để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối
Trang 34Đối với người dân mất đất nông nghiệp, đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ, UBND cấp tỉnh phải có phương án đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm cho người dân Với những người dân bị thu hồi đất, mục tiêu an sinh phải đặt lên cao nhất Việc bồi thường bằng tiền được xác định theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND câp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi
* Về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Một số quy định được bổ sung trong Luâ ̣t Đất đai năm 2013 so với Luâ ̣t đất đai năm 2003 như sau:
Quy định về nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất (khoản 1 Điều 83 Luâ ̣t Đất đai năm 2013): (i) Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ; (ii) Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật
* Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho
hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường
- Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm
Trường hợp người được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm trong độ tuổi lao động có nhu cầu được đào tạo nghề thì được nhận vào các
cơ sở đào tạo nghề; được tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh
- Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho
hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà nguồn thu nhập chính từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ khi Nhà nước thu hồi đất ở mà
Trang 35phải di chuyển chỗ ở như sau: Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà nguồn thu nhập chính là từ hoạt động kinh doanh dịch vụ, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh; trường hợp người có đất thu hồi còn trong độ tuổi lao động thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm
* Về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Nhằm khắc phục tình trạng một số khu tái định cư chất lượng còn thấp, không đồng bộ về hạ tầng, chưa đảm bảo có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ, Luâ ̣t Đất đai năm 2013 đã có những quy định mới như sau:
- Bổ sung quy định cụ thể về lập và thực hiện dự án tái định cư theo hướng:
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất Quy định khu tái định
cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền Quy định việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư
- Sửa đổi và bổ sung quy định về bố trí tái định cư cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở:
+ Người có đất thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc có điều kiện bố trí tái định cư Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi
là người có công với cách mạng
+ Giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư, giá bán nhà ở tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định
+ Quy định trường hợp người có đất thu hồi được bố trí tái định cư mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu thì được
Trang 36Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu Chính phủ quy định cụ thể suất tái định cư tối thiểu phù hợp với điều kiện từng vùng, miền và địa phương
* Về viê ̣c chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái đi ̣nh cư
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất, cơ quan, tổ chức
có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi Trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả Trường hợp người có đất thu hồi không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tạm giữ của Kho bạc nhà nước
Trên đây là những quy định mới về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 Những nội dung này được hướng dẫn cụ thể tại Nghị định số 47/2014/NĐ- CP ngày 1/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 30/6/2014 về quy định chi tiết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Với những quy định bổ sung trình tự, thủ tu ̣c, phương
án bồi thường, hỗ trợ, tái đi ̣nh cư, Luật Đất đai năm 2013 đã bảo vệ quyền lợi của người có đất thu hồi; tăng cường hơn sự tham gia trực tiếp của nhân dân; trách nhiê ̣m đối thoa ̣i và giải trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người dân chưa có ý kiến đồng thuâ ̣n trong viê ̣c thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái đi ̣nh cư Đây là một trong những bước đột phá của Luật Đất đai năm 2013
Trang 371.3 Cơ sở thực tiễn của công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1.3.1 Chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở một số nước trên thế giới
a Tại Trung Quốc
Pháp luật đất đai của Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với pháp luật đất đai của Việt Nam Tuy nhiên nhìn về tổng thể việc chấp hành pháp luật của người Trung Quốc rất cao, việc sử dụng đất đai tại Trung Quốc thực sự tiết kiệm, Nhà nước Trung Quốc hoàn toàn cấm việc mua bán chuyển nhượng đất đai Do vậy thị trường đất đai gần như không tồn tại mà chỉ có thị trường nhà cửa
Ở Trung Quốc, có thể nói, mục tiêu bao trùm lên chính sách bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư là hạn chế đến mức tối đa việc thu hồi đất cũng như số lượng người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư Nếu như việc thu hồi đất là không thể tránh khỏi thì có sự chuẩn bị cẩn thận phương án bồi thường, trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của Nhà nước, tập thể và cá nhân, đảm bảo cho những người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so với trước khi bị thu hồi đất
Về bồi thường thiệt hại về đất đai, do đất đai thuộc sở hữu nhà nước nên không có chính sách bồi thường thiệt hại Khi nhà nước thu hồi đất, kể cả đất nông nghiệp, tuỳ trường hợp cụ thể, nhà nước sẽ cấp đất mới cho các chủ sử dụng bị thu hồi đất
Về phương thức bồi thường thiệt hại, Nhà nước thông báo cho người sử dụng đất biết trước việc sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm Người dân có quyền lựa chọn các hình thức bồi thường bằng tiền hoặc bằng nhà tại khu ở mới Tại thủ đô Bắc kinh và thành phố Thượng Hải, người dân thường lựa chọn bồi thường thiệt hại bằng tiền và tự tìm chỗ ở mới phù hợp với công việc, nơi làm việc của mình
Trang 38Về giá bồi thường thiệt hại, tiêu chuẩn là giá thị trường, mức giá này cũng được Nhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà, đồng thời được điều chỉnh rất linh hoạt cho phù hợp với thực tế, vừa được coi là Nhà nước tác động điều chỉnh tại thị trường đó Đối với đất nông nghiệp việc bồi thường thiệt hại theo tính chất của đất và loại đất (tốt, xấu)
Về tái định cư, các khu tái định cư và các khu nhà ở được xây dựng đồng
bộ và kịp thời, thường xuyên đáp ứng yêu cầu nhiều loại căn hộ với các nhu cầu sử dụng khác nhau Các chủ sử dụng phải di chuyển đều được chính quyền quan tâm đến điều kiện về việc làm, đối với các đối tượng chính sách xã hội được nhà nước chú ý và có chính sách xã hội riêng
Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cư, sở dĩ Trung Quốc có những thành công nhất định trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do:
- Thứ nhất, đã xây dựng các chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đối với các hoạt động tái định cư, đảm bảo mục tiêu tạo cơ hội phát triển cho người dân tái định cư, tạo các nguồn lực sản xuất cho những người TĐC
- Thứ hai, năng lực thể chế của các chính quyền địa phương khá mạnh Chính quyền cấp Tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực hiện chương trình bồi thường hỗ trợ tái định cư
- Thứ ba, quyền sở hữu đất tập thể làm cho việc thực hiện bồi thường hỗ trợ tái định cư có nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn Tiền đền bù cho đất đai bị mất không trả cho từng hộ gia đình mà được cộng đồng sử dụng để tìm kiếm, phát triển đất mới hoặc mua của các cộng đồng sở tại hay dùng để phát triển kết cấu hạ tầng Chính quyền thôn, xã chịu trách nhiệm phân chia cho các
hộ bị ảnh hưởng
Bên cạnh những thành công, thì chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc
Trang 39làm; tốc độ tái định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện GPMB trước khi xây xong nhà tái định cư.[30]
b Tại Thái Lan
Thái Lan chưa có chính sách bồi thường TĐC quốc gia, nhưng Hiến Pháp năm 1982 quy định việc trưng dụng đất cho các mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên cho đất nước, phát triển đô thị cải tạo đất đai và mục đích công cộng khác phải theo thời giá thị trường cho những người hợp pháp về tất cả thiệt hại do việc trưng dụng gây ra và quy định việc bồi thường phải khách quan cho người chủ mảnh đất và người có quyền thừa kế tài sản đó Dựa trên quy định này, các ngành có quy định chi tiết cho việc thực hiện trưng dụng đất của ngành mình
Năm 1987, Thái Lan ban hành Luật về trưng dụng bất động sản áp dụng cho việc trưng dụng đất sử dụng vào mục đích xây dựng tiện ích công cộng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên hoặc có lợi ích khác cho đất nước phát triển đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai vào các mục đích công cộng Luật quy định những nguyên tắc trưng dụng đất, nguyên tắc tính giá trị bồi thường các loại tài sản bị thiệt hại Căn cứ vào đó, từng ngành đưa ra các quy định cụ thể về trình tự tiến hành bồi thường TĐC, nguyên tắc cụ thể xác định giá bồi thường, các bước lập và phê duyệt dự án bồi thường thủ tục thành lập các cơ quan, ủy ban tính toán bồi thường TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền bồi thường quyền khiếu nại, quyền khởi kiện đưa tòa án Ví dụ: Trong ngành điện năng thì cơ quan điện lực Thái Lan là nơi có nhiều dự án bồi thường TĐC lớn nhất nước, họ đã xây dựng chính sách riêng với mục tiêu: "Đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng và đặt một mức sống tốt hơn" thông qua việc cung cấp cơ sở hạ tầng có chất lượng và đạt mức tối đa nhu cầu, đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng có thu nhập cao hơn và được tham gia nhiều hơn vào quá
Trang 40trình phát triển xã hội, vì vậy thực tế đã tỏ ra hiệu quả khi cần thu hồi đất trong nhiều dự án.[6]
c Tại Indonexia
Ở Indonexia, vấn đề di dân, bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được coi là sự “hy sinh” mà một số người dân phải chấp nhận vì lợi ích cộng đồng Các chương trình bồi thường, tái định cư chỉ giới hạn trong phạm
vi bồi thường theo luật cho đất bị dự án chiếm dụng hoặc một số ít trường hợp
bị thu hồi đất được xây dựng khu tái định cư Theo chính sách của Chính phủ Indonexia thì vấn đề tái định cư được thực hiện dựa trên 3 tiêu chí cơ bản sau: + Bồi thường đối với tài sản bị thiệt hại, nghề nghiệp và thu nhập bị mất trong quá trình thu hồi đất;
+ Hỗ trợ di chuyển, bố trí nơi ở mới với các dịch vụ và phương tiện phù hợp với cuộc sống của người dân;
+ Trợ cấp khôi phục lại thu nhập cho người dân để đảm bảo ít nhất người
bị ảnh hưởng có được mức sống gần bằng hước khi có dự án
Cũng theo quy định của Chính phủ thì việc lập kế hoạch là yếu tố không thể thiếu trong việc lập dự án đầu tư mà ở đó phải giải quyết vấn đề di dân, TĐC cho người dân trên cơ sở đó phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản sau: + Nghiên cứu kỹ phương án khả thi của dự án để giảm thiểu việc di dân bắt buộc khi triển khai dự án;
+ Người bị ảnh hưởng phải được bồi thường, hỗ trợ để triển vọng về kinh
tế - xã hội của họ được thuận lợi bằng trước khi có dự án;
+ Các dự án về tái định cư phải đạt hiệu quả càng cao càng tốt;
+ Người bị ảnh hưởng được thông báo đầy đủ, được tham khảo ý kiến chi tiết về các phương án bồi thường;