Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, kể từ buổi đầu dựng nước đến nay, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân luôn giữ vị trí quan trọng hàng đầu. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân càng có tầm quan trọng đặc biệt không chỉ đối với phát triển kinh tếxã hội mà còn đối với việc ổn định chính trị đất nước.Sau gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đã tạo nên những biến đổi quan trọng đánh dấu một giai đoạn mới về vai trò vị trí của giai cấp nông dân và sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn nước ta. Đặc biệt, chủ trương đưa kinh tế nông nghiệp vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa nông nghiệp, nông thôn hội nhập nhanh chóng vào sự nghiệp CNH, HĐH kinh tếxã hội của cả nước, làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt kinh tếxã hội nông thôn. Cùng với những biến đổi ấy, còn đang diễn ra quá trình biến đổi tâm lý nông dân. Đây là một quá trình rất phức tạp với sự thay đổi về tình cảm, tâm trạng, xúc cảm, động cơ, thái độ, nhu cầu, xu hướng tâm lý, niềm tin, ý chí; là sự tự điều chỉnh lại những mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và cộng đồng... của nông dân. Nó trực tiếp tác động, chi phối hành vi của người nông dân trong sản xuất, trong sinh hoạt thường ngày.Những biến đổi trong tâm lý nông dân vừa là nhân tố tác động điều chỉnh hành vi hoạt động, quan hệ của người nông dân với tư cách là chủ thể của những biến đổi ấy vừa là sự phản ánh quá trình biến đổi kinh tế nông nghiệp và xã hội nông thôn. Thực tế, khi chúng ta đã xác định rõ, trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn bằng con đường CNH, HĐH thì nguồn lực lớn nhất vẫn là nội lực từ mỗi người nông dân và toàn thể giai cấp nông dân; và trong nguồn lực ấy, trước hết phải kể đến tâm lý, ý thức của nông dânđộng lực tinh thần trực tiếp nhất. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là những biến đổi tâm lý của nông dân rất cần quan tâm nghiên cứu để nhận diện chính xác, phát hiện những xu hướng chủ yếu và có dự báo đúng đắn, làm cơ sở khoa học cho những giải pháp tuyên truyền vận động có hiệu quả nhằm đưa nông thôn, nông nghiệp nông dân tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trong quá trình CNH, HĐH đất nước. Chính vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề: “Những biến đổi tâm lý của giai cấp nông dân hiện nay” làm đề tài tiểu luận.
Trang 1Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, kể từ buổi đầu dựng nước đến nay, vấn
đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân luôn giữ vị trí quan trọng hàng đầu Trong công cuộc đổi mới hiện nay, vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân càng có tầm quan trọng đặc biệt không chỉ đối với phát triển kinh tế-xã hội mà còn đối với việc ổn định chính trị đất nước
Sau gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đã tạo nên những biến đổi quan trọng đánh dấu một giai đoạn mới về vai trò vị trí của giai cấp nông dân và
sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn nước ta Đặc biệt, chủ trương đưa kinh tế nông nghiệp vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa nông nghiệp, nông thôn hội nhập nhanh chóng vào sự nghiệp CNH, HĐH kinh tế-xã hội của cả nước, làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt kinh tế-xã hội nông thôn Cùng với những biến đổi ấy, còn đang diễn ra quá trình biến đổi tâm lý nông dân Đây là một quá trình rất phức tạp với sự thay đổi về tình cảm, tâm trạng, xúc cảm, động cơ, thái độ, nhu cầu, xu hướng tâm lý, niềm tin, ý chí;
là sự tự điều chỉnh lại những mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và cộng đồng của nông dân Nó trực tiếp tác động, chi phối hành vi của người nông dân trong sản xuất, trong sinh hoạt thường ngày
Những biến đổi trong tâm lý nông dân vừa là nhân tố tác động điều chỉnh hành vi hoạt động, quan hệ của người nông dân với tư cách là chủ thể của những biến đổi ấy vừa là sự phản ánh quá trình biến đổi kinh tế nông nghiệp và xã hội nông thôn
Thực tế, khi chúng ta đã xác định rõ, trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn bằng con đường CNH, HĐH thì nguồn lực lớn nhất vẫn là nội lực từ mỗi người nông dân và toàn thể giai cấp nông dân; và trong nguồn lực ấy, trước hết phải kể đến tâm lý, ý thức của nông dân-động lực tinh thần trực tiếp nhất Chính vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là những biến đổi tâm lý của nông dân rất cần quan tâm nghiên cứu để nhận diện chính xác, phát hiện những xu hướng chủ yếu và có dự báo đúng đắn, làm cơ sở khoa học cho những giải pháp tuyên truyền vận động có hiệu quả nhằm đưa nông thôn, nông nghiệp nông dân tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trong quá trình CNH, HĐH đất nước
Chính vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề: “Những biến đổi tâm lý của giai cấp nông dân hiện nay” làm đề tài tiểu luận
Trang 2NỘI DUNG
1 Khái niệm:
1.1 Khái niệm giai cấp nông dân
Theo Đại từ điển tiếng Việt nông dân được định nghĩa là: “người lao động sống bằng nghề làm ruộng”
Theo giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học của Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm giai cấp nông dân được diễn đạt như sau: “Là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp , trực tiếp sử dụng (canh tác) một tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên là đất, rừng, biển để sản xuất ra nông sản”
Bàn về đặc điểm của giai cấp nông dân, C.Mác và Ph Ăngghen cho rằng:
“nông dân là giai cấp những người tiểu nông” “Tiểu nông mà chúng ta nói tới ở đây chỉ là người chủ ruộng đất hoặc người tá điền và nhất là người chủ một mảnh ruộng không lớn hơn mảnh ruộng cần thiết để nuôi gia đình họ Như vậy, cũng như tiểu thủ công nghiệp, người tiểu nông này là người lao động, anh ta khác với người lao động vô sản hiện đại ở chỗ anh ta còn có tư liệu lao động, như vậy anh ta là tàn dư của một phương thức lỗi thời”
Bản chất xã hội và địa vị của nông dân trong xã hội là do phương thức sản xuất thống trị quy định và được thay đổi cùng với sự thay đổi của hình thái kinh tế-xã hội và các giai đoạn phát triển của nó
Xét về bản chất kinh tế-xã hội, giai cấp nông dân vừa là giai cấp những người lao động, vừa là giai cấp những người tư hữu Với tư cách là người lao động, nông dân là những người lao động cần cù, chịu khó và trong nhiều trường hợp họ rất sáng tạo Những phẩm chất này của họ cần phải được phát huy trong quá trình lao động sản xuất Song với tư cách là những người tư hữu và sản xuất nhỏ, tức là đại diện cho phương thức sản xuất nhỏ, họ là những người sở hữu những tư liệu sản xuất nhỏ lẻ, manh mún như đất đai, nông cụ và do đó không thể độc lập về kinh tế Chính “những điều kiện sinh hoạt kinh tế và chính trị của
họ đã không làm cho họ gần nhau, mà lại còn làm cho họ xa nhau, rời nhau, biến
họ thành hàng triệu người tiểu sở hữu riêng lẻ” và đã trói buộc tư duy của người nông dân trong giới hạn chật hẹp, phường hội, tạo nên tâm lý, cách sống bảo
Trang 3thủ, cục bộ, phân tán, biệt lập Trong các chế độ cũ, họ cũng bị áp bức, bóc lột nặng nề
Giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng độc lập, tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị đương thời Trong đấu tranh, họ không tự đại biểu cho lợi ích của mình với tư cách là một giai cấp xã hội, những người khác phải đại biểu cho họ
Từ những đặc điểm của giai cấp nông dân, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra rằng: giai cấp công nhân cần phải tăng cường liên minh với nông dân, dẫn dắt giai cấp nông dân qua các “mắt xích trung gian”, các
“bước trung gian”, “hình thức trung gian” để từng bước chuyển chế độ gia trưởng lên chủ nghĩa xã hội
Từ sự phân tích trên, có thể định nghĩa về giai cấp nông dân như sau: Giai cấp nông dân là giai cấp những người lao động sản xuất trong nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp), trực tiếp sử dụng một tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên là đất, rừng và biển
để sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp; lực lượng này ngày càng giảm cùng với
sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp hiện đại
1.2 Khái niệm tâm lý nông dân
Tâm lý là một bộ phận quan trọng của đời sống tinh thần con người Mặc
dù nó bị chi phối bởi các yếu tố sinh học, song ngay từ đầu, tâm lý con người đã
là sản phẩm của lịch sử, của xã hội Nó phản ánh một cách trực tiếp, phong phú điều kiện, hoàn cảnh sống và môi trường sống của con người, thông qua lăng kính chủ quan của cá nhân Mỗi con người, mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp người có hoàn cảnh sống, lao động, giao tiếp khác nhau nên tâm lý cũng khác nhau
Tâm lý nông dân thực chất là tâm lý xã hội nông dân Đó là các hiện tượng ý thức như tình cảm, tâm trạng, ước muốn, thói quen, tập quán, động
cơ, thái độ, hứng thú, sở thích, nhu cầu, xu hướng của tầng lớp nông dân, được hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của đời sống hàng ngày của họ và chi phối thái độ, hành vi, cách ứng xử của họ
Ở Việt Nam, do điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội, nền kinh tế tiểu nông,
tự cung, tự cấp, với tính chất công điền, công thổ về ruộng đất, là việc chống chọi với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, thiên tai, địch họa để lao động trồng trọt, chăn nuôi, làm ra sản phẩm nông nghiệp nuôi sống bản thân, gia đình,
Trang 4đồng thời họ tác động lẫn nhau hình thành nên các quan hệ xã hội, tạo nên tâm
lý của chính mình Chính điều này tạo nên nét khác biệt để phân biệt tâm lý của họ với tâm lý của các bộ phận cộng đồng dân cư khác như: công nhân, tư sản, địa chủ, trí thức Như vậy, tâm lý nông dân thực chất là các hiện tượng
ý thức như tình cảm, tâm trạng, ước muốn, thói quen, tập quán, hứng thú, sở thích, nhu cầu của nông dân được hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của nền kinh tế tiểu nông với tính chất công điền, công thổ về ruộng đất cùng những luật lệ quy định chặt chẽ về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, về mối quan hệ cá nhân và cộng đồng suốt bề dày lịch sử đấu tranh, vận lộn với thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm và chi phối hành vi, cách ứng xử của họ
2 Một số đặc điểm tâm lý của nông dân:
2.1 Đặc điểm nhận thức:
Vì được củng cố bởi những điều kiện kinh tế và xã hội ngưng đọng hàng nghìn năm nên tâm lý tiểu nông có tính bảo thủ và sức ỳ rất lớn Thể hiện trước hết ở đặc điểm người Việt ít có sự khẳng định về cái tôi cá nhân, về nhân cách độc lập của mình Người Việt ít khi xưng “tôi” mà luôn hòa tan mình vào các mối quan hệ cộng đồng, thường xác định vị thế và trách nhiệm của mình trong quan hệ cộng đồng để có xưng hô tương ứng: Là anh, là em, là con, là cháu, v.v Cái cá nhân gần như bị hòa tan, gần như bị che lấp bởi con người cộng đồng Đặc điểm văn hóa này có ở mỗi người dân, bám vào họ một cách bền chặt và dai dẳng trở thành một đặc điểm tâm lý Việt bền vững
Tâm lý này là một trong những nguồn gốc của thói dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể, không dám chịu trách nhiệm: “Cha chung không ai khóc"; tâm lý cầu
an, thụ động kiểu “nước nổi lo chi bèo chẳng nổi”, thiếu chí tiến thủ, “Ai sao tôi vậy” hay “Anh nhất thì tôi cũng nhì/ Ai hơn tôi nữa tôi thì thứ ba”, chỉ lo giữ mình và lo đối phó, thụ động, thiếu trách nhiệm xã hội, thiếu ý thức công dân Chính vì vậy, tư tưởng cả nể có cơ hội để phát triển, mọi người luôn nghĩ
“Đóng cửa bảo nhau”, “Rút dây động rừng” Do vậy, không khuyến khích được sự phát triển tính tích cực, năng động, sáng tạo của các cá nhân
Cần có sự phân biệt mặt trái của tâm lý cộng đồng với truyền thống coi trọng các giá trị cộng đồng-vốn là một trong những giá trị truyền thống của dân tộc đã được thử thách qua thời gian Nhờ thế con người không ngừng rèn luyện các phẩm chất cá nhân để hướng tới những giá trị cộng đồng cao đẹp Sự coi trọng tính cộng đồng là một giá trị truyền thống quý báu, là nguồn sức mạnh
Trang 5nội sinh của đất nước Điều này khác với mặt trái của nó, là tâm lý dựa dẫm, ỷ lại, trông chờ vào tập thể
Quá coi trọng đến mức phụ thuộc cái cộng đồng sẽ đẻ ra tính bình quân chủ nghĩa, cục bộ địa phương, đố kỵ, mất đoàn kết, không muốn người khác hơn mình, bảo thủ, trì trệ, Tính tự trị, tự quản tương đối hoàn chỉnh của
làng-xã và óc cục bộ địa phương của người nông dân xưa kia làm cho họ chỉ thấy lợi ích chật hẹp của làng mình, không thấy lợi ích của làng khác và của cả nước (trừ những lúc đất nước bị ngoại xâm và thiên tai đe dọa) Xuất phát từ tâm lý cục bộ địa phương, nhiều làng (nhất là những làng nghề), trong Lệ làng còn có những quy định khắt khe nhằm giấu nghề bằng cách không truyền nghề cho người làng khác
Làng xã Việt Nam truyền thống về cơ bản là làng xã nông nghiệp Nền kinh tế làng xã mang tính tự cung, tự cấp Mọi sinh hoạt đều bị bó hẹp bên trong lũy tre làng, ít có điều kiện giao lưu với bên ngoài, khép kín với thói quen sản xuất nhỏ, manh mún, phân tán Phương thức sản xuất này cùng với tính khép kín trong quan hệ dòng họ, thôn xóm dẫn đến tư duy của người tiểu nông không có tầm nhìn xa, không có tính chiến lược, bảo thủ trong sự tiếp nhận cái mới Cách tư duy ấy, cách nhìn ấy, cùng với sự rụt rè thiếu tự chủ của con người cá nhân trong cộng đồng là điều kiện để nảy sinh tâm lý bám làng;
dù đói, dù no cũng bám lấy làng mình, ở lại làng mình: “Ta về ta tắm ao ta ” Người nông dân thích sự ổn định, an phận, ngại đi xa để làm ăn mở mang tầm nhìn, họ chỉ muốn “an cư lạc nghiệp” nên nảy ra tâm lý cầu an Người tiểu nông Việt Nam vốn ưa cái thanh bình, tĩnh lặng, nhẹ nhàng, ngại sự thay đổi Nếu người phương Tây sống trong xã hội công nghiệp một năm có thể thay đổi chỗ ở vài lần thì ngược lại, người tiểu nông sống trong xã hội văn minh nông nghiệp cả đời có khi chỉ sống một nơi, một chốn
Mảnh đất làng xã Việt Nam cổ truyền được coi như mảnh đất màu mỡ để hạt giống ý thức hệ Nho giáo “cấy” vào Nho giáo đã có những mặt tích cực rất đáng kể đóng góp vào sự phát triển của xã hội phong kiến Việt Nam Ảnh hưởng của Nho giáo cùng chế độ đẳng cấp làng xã coi trọng tầng lớp “sĩ”, kết hợp với tâm lý trọng danh đã dẫn tới sự quá coi trọng việc học hành, khoa bảng Mặt tích cực là sản sinh ra truyền thống hiếu học Sự coi trọng danh tiếng, danh dự-kết quả của lối sống cộng đồng và đề cao sự thừa nhận của cộng đồng, ở mức độ hợp lý là điều đáng quý, đáng trân trọng, cần kế thừa Nhưng
Trang 6nếu coi trọng học vị khoa bảng một cách hình thức “một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”; coi thường thương nghiệp, kỹ nghệ, sẽ là sự lệch lạc nguy hiểm Mặt trái của tâm lý quá coi trọng danh tiếng còn được biểu hiện ở thói khoa trương hình thức và “bệnh sĩ diện” Người Việt rất giản dị và tiết kiệm,
“bóp mồm bóp miệng” trong sinh hoạt ngày thường thì trong những dịp lễ hội, đình đám, lại rất phung phí tiền của, “vung tay quá trán” Thời kỳ công xã nguyên thủy, việc tổ chức ăn uống cộng đồng là một hoạt động có mục đích thắt chặt tình cảm cộng đồng, thì đến thời phong kiến, ở nhiều nơi, truyền thống đó bị bóp méo thành hủ tục Trong các dịp ngày lễ, Tết, đám xá việc tổ chức ăn uống lại là dịp để người ta khoa trương thanh thế, để “trả nợ miệng” Những tiêu cực này không chỉ xảy ra trong các lễ tết, hiếu hỉ, mà còn xâm nhập
cả vào trong các dịp sinh hoạt hội họp, tổng kết, Dĩ nhiên chúng để lại những
di hại cả về kinh tế lẫn văn hóa-xã hội
Cũng do ảnh hưởng của Nho giáo mà trước kia xuất hiện tâm lý khinh thường hoạt động buôn bán, chỉ coi trọng: Văn, Đạo và Đạo đức Do vậy tâm
lý xem thường nghề buôn (họ mỉa “con buôn”: Thật thà cũng thể lái trâu ) đã bám rễ sâu vào suy nghĩ con người, khiến cho nghề buôn trong lịch sử Việt Nam không phát triển
2.2 Đặc điểm tình cảm:
Văn hóa Việt Nam về cơ bản là văn hóa làng xã, nghề nghiệp chính của người Việt từ cổ xưa cho đến nay vẫn là nông nghiệp Điều ấy đã quy định một nét ứng xử văn hóa Việt là lối sống tiểu nông, tâm lý tiểu nông
Từ xưa các giá trị cộng đồng luôn được đặt ở vị trí ưu tiên so với các giá trị cá nhân đã góp phần giữ cho làng quê sự ổn định, tạo điều kiện để mỗi người thực hiện tốt các chức năng gắn kết của mình trong những điều kiện khắc nghiệt (thiên tai, địch họa ) Các giá trị cộng đồng ẩn chứa trong các thiết chế và thể chế xã hội, từ vật chất đến tinh thần, từ hữu hình đến vô hình, kết tinh thành lối sống, thành chuẩn mực, thành phong tục, tập quán được các thế hệ con người Việt Nam bảo vệ, gìn giữ, phát triển Tính cộng đồng thể hiện rất rõ ở tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau Đây là một trong những đức tính tốt đẹp góp phần hun đúc nên lòng yêu nước mạnh mẽ, tinh thần nhân văn đậm
đà ở người Việt: “Chị ngã em nâng”, “Tay đứt ruột xót”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng”… Truyền thuyết Sự tích trăm trứng hay truyện Quả bầu mẹ là sự minh họa sinh động, tiêu biểu cho
Trang 7tính cộng đồng rất cao của các tộc người trên mảnh đất Việt Nó nhắc nhở: Dù
là ai, nhưng hễ là người Việt Nam thì đều là anh em một nhà Duy nhất trên thế giới này một đất nước có ngày Giỗ Tổ là nước Việt Nam yêu dấu: “Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba”
Tâm lý trọng tình, lối sống trọng tình nghĩa, trọng nghĩa vụ, tôn trọng các quy tắc cộng đồng của cư dân làng xã chính là một trong những nguyên nhân cơ bản để xã hội ổn định, ít khi có những xung đột xã hội lớn
Nền văn hóa tiểu nông phú cho người Việt một đức tính cần cù, nhẫn nại, chịu thương chịu khó Vào ngày chủ nhật, dù có được trả lương cao gấp đôi ngày thường thì người lao động phương Tây vẫn không làm, thì ở người Việt lại khác, làm quanh năm suốt tháng, bền bỉ, dẻo dai mà không nghĩ đến việc đi chơi Người Việt có khái niệm “tham công tiếc việc” có từ nguồn gốc của văn hóa tiểu nông… Điều này tạo ra ở tính cách Việt một nét tâm lý hay lo
xa, cả nghĩ Hệ quả của nó là tính hiếu học
2.3 Đặc điểm hành vi:
Quan hệ họ hàng, làng xóm và dư luận xã hội lên án, phê phán những thói hư, tật xấu vừa có tác động đến việc xây dựng tâm lý pháp luật theo hướng tích cực, góp phần nâng cao hiểu biết, nhận thức về pháp luật của nhân dân, vừa ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm, giữ vững trật tự, an toàn xã hội
ở cơ sở
Tâm lý “phép vua thua lệ làng”, sống theo “lệ làng”, không thích, thậm chí coi thường pháp luật của Nhà nước trong xã hội cũ vẫn còn hiện diện trong đời sống xã hội hiện nay Nét tâm lý này đã tác động tiêu cực, dẫn đến dễ có những phản ứng tiêu cực mỗi khi nhà nước thi hành một chính sách nào đó đụng chạm, liên quan tới lợi ích của người dân
Đây là tâm lý cục bộ nguy hiểm vì nó chỉ biết đến bộ phận, vi mô, mà không biết tới tính toàn thể, hệ thống, vĩ mô
Tâm lý coi trọng địa vị ngôi thứ, vị lợi cùng với óc cục bộ địa phương đã ngự trị trong tiềm thức từ bao đời đã để lại những hậu quả, trở thành sức ỳ, vật cản rất lớn, ảnh hưởng tới việc xây dựng ý thức pháp luật
Tâm lý coi trọng người cao tuổi, mặt tích cực là tạo ra sự kính trọng người già, đề cao trách nhiệm của mọi người đối với người cao tuổi
Trang 8Tâm lý “trọng tình hơn trọng lý” đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc xây dựng lối sống và sự ứng xử theo pháp luật Tình cảm dòng họ là một loại tình cảm tự nhiên và thiêng liêng nảy sinh từ quan hệ máu thịt “chim có tổ, người
có tông” ở người Việt Bởi thế, cách ứng xử của người trong họ bao giờ cũng khác biệt với cách ứng xử với “người ngoài”, “người dưng” Tình cảm dòng
họ, một mặt đã tạo nên tinh thần đoàn kết “máu chảy ruột mềm” giữa các thành viên; mặt khác, nó nảy sinh tính chất hẹp hòi, cục bộ, gia đình chủ nghĩa
3 Những biến đổi tâm lý của nông dân hiện nay:
3.1 Biến đổi về nhận thức:
Tư duy biện chứng của người phương Đông nói chung mang đặc trưng trực quan, trực giác, có sự mềm dẻo, chú ý nhiều đến định tính, và cũng là đặc trưng của tư duy người Việt Trong đó, tư duy kinh nghiệm, trực quan có sự ưu trội hơn so với tư duy lý luận, trừu tượng Nhà nghiên cứu văn hóa làng xã Phan Đại Doãn khi viết về người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ đã nhận định:
“Phương thức tư duy của người Việt-đặc biệt ở đồng bằng Bắc Bộ là trọng thực tiễn, thực dụng, kinh nghiệm và bình quân, cuộc sống của dân làng luôn luôn gặp khó khăn, bởi vậy họ chỉ nghĩ đến hiện tại, giản dị, cần cù, không có suy tư phức tạp, tránh thử thách, mạo hiểm’ (Phan Huy Lê -Vũ Minh Giang chủ biên,
1999, tập 1, tr.320) Lối tư duy này vẫn còn lưu tồn khá rõ, song không còn nguyên vẹn đối với người nông dân hiện nay Trong lao động, sản xuất, việc áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại ngày càng trở nên phổ biến, thay thế cho nguyên tắc lao động dựa vào kinh nghiệm, vào “trăm hay không bằng tay quen” Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên đã tạo nên thái
độ thụ động và sự ổn định trong cuộc sống và tư duy hướng nội của người nông dân Điều này có sự thay đổi căn bản bởi sự phát triển và tác động của kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa đã buộc người nông dân phải năng động hơn, tính toán nhiều hơn trong việc sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng Sự phát triển của khoa học và ảnh hưởng của nó trong đời sống đã dẫn đến tư duy khoa học (lý luận) đang dần thay cho tư duy kinh nghiệm của người nông dân xưa
Có thể khẳng định, tư duy của nông dân Việt Nam đang bước đầu chuyển
từ tư duy theo phương thức canh tác, lối sống văn hóa nông nghiệp sang tư duy theo lối sống văn minh công nghiệp Và trong quá trình tiếp biến này, vừa có sự
kế thừa, chọn lọc những giá trị tiến bộ đồng thời cũng mạnh dạn bỏ qua những yếu tố mang tính cản trở, không phù hợp của tư duy truyền thống Tuy nhiên,
Trang 9cũng có những biểu hiện của xu hướng đề cao một cách thái quá những yếu tố truyền thống hoặc yếu tố mới Chẳng hạn, khi cái tôi-cá nhân được khẳng định,
đề cao, đôi khi trở nên lấn át tinh thần cộng đồng Khi nhận xét về hiện tượng này, nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Hà nêu rõ mặt trái trong tư duy, lối sống người Việt Nam hiện nay: “Quan điểm thực dụng, văn hóa tiêu dùng gia tăng nhanh chóng trong xã hội hiện nay Tư tưởng, tâm lý thực dụng không hoàn toàn xấu, nó khiến cho người ta có động lực làm việc, sáng tạo Song lại đẻ ra các hành vi làm phá hoại đạo đức truyền thống, hình thành nên kiểu sống cá nhân chủ nghĩa, sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi, kiểu sống hờ hững và ích kỷ với những người xung quanh Thanh niên là tầng lớp chịu tác động quá nhiều và cũng thể hiện rất rõ lối sống phương Tây” (Nguyễn Ngọc Hà, 2011, tr.177) Hoặc cũng có khi, tính cộng đồng, tính tập thể được đề cao quá mức dẫn đến mờ nhạt cái tôi-cá nhân và triệt tiêu động lực cho sự phát triển
3.2 Biến đổi trong tình cảm:
Quan hệ ứng xử của người nông dân thể hiện trên hai phương diện: ứng
xử với tự nhiên và xã hội Với tự nhiên, trong truyền thống, người nông dân gắn kết với nó theo duy lý “thuận”, “hòa đồng” và thậm chí “sùng bái” Tín ngưỡng dân gian, lễ hội truyền thống và phương thức canh tác của người Việt đã phản ảnh đặc điểm trên
Còn trong quan hệ xã hội, lối ứng xử giữa người nông dân với nhau trong cộng đồng mang nặng và đậm tính làng xã, tính cộng đồng khu vực Các yếu tố gia đình, làng, xã đã quyện vào nhau trong mỗi cá thể vào cộng đồng lao động, sinh sống của nông dân Việt Nam Lối sống trọng tình, trọng đức, trọng sự hòa hiếu được hình thành trên cơ sở đó Họ nhắc nhở nhau: “sống vì tình vì nghĩa chứ không ai sống vì đĩa xôi đầy”, hay “lời nói chẳng mất tiền mua/lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”… Tính cộng đồng là cơ sở, nguồn gốc hình thành và vun đắp giá trị yêu nước, tinh thần dân tộc và giá trị nhân văn của người nông dân và cũng là những yếu tố tạo nên sức mạnh nội sinh của con người, của dân tộc Việt Nam
Lối ứng xử với tự nhiên và xã hội của người nông dân Việt Nam được nảy sinh, phát triển trên cơ sở nền kinh tế nông nghiệp, phụ thuộc thiều vào sự biến đổi thuận/nghịch từ tự nhiên, lại bị ràng buộc trong khuôn khổ làng xã Bởi vậy, nhận thức và hành động thân thiện với tự nhiên, trọng tình trong lao động và môi trường sống gắn bó gọn trong “lũy tre làng” đã trở thành thuộc tính, giá trị
Trang 10ứng xử truyền thống của người nông dân Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước
Đến nay, trước những biến đổi về cách thức lao động, tiêu dùng, những giá trị ứng xử của lối sống truyền thống vẫn còn lưu đậm, đặc biệt là trong cộng đồng nông dân ở các vùng đồng bằng Bắc Bộ Nhưng, xen vào đó đã có những tiếp biến không nhẹ trong lối sống Từ thái độ thuận theo tự nhiên để tồn tại dần chuyển sang khai thác sự ưu đãi của tự nhiên, cải biến tự nhiên theo sự đòi hỏi
“gấp gáp” của con người và mong muốn “làm chủ” nó một cách vô thức Con người, với sức mạnh của trí tuệ và tính cộng đồng không chỉ dừng ở việc thích ứng và chống đỡ tự nhiên, mà đã chủ động gây ra các “hành vi ngược” đối với
tự nhiên, cản trở sự vận động theo quy luật của tự nhiên theo lối nghĩ “nghiêng đồng đổ nước ra sông” và rồi lại “nghiêng sông đổ nước vào đồng”
Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, ở khu vực nông thôn, tính cộng đồng, thái độ trọng tình, thân hữu vẫn được coi là gốc để xây dựng sự phát triển bền vững trong môi trường xã hội, đang được khai thác và phát huy sức mạnh nhằm xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên, để thích ứng được môi trường
“nóng”, “lạnh” do tác động của đô thị hóa, công nghiệp hóa, du lịch hóa,…thì chính nội tại của các hiện tượng văn hóa trong lối sống cổ truyền trên nảy nở những hạn chế, bất cập trong cuộc sống hiện đại Mặt khác, ở một bộ phận nông dân, nhất là nhóm người thuộc thế hệ trẻ đang có sự suy giảm về tính trách nhiệm cộng đồng và lối sống mang nhiều biểu hiện của văn hóa ngoại Tính cá nhân đang có nhiều cơ hội phát triển, thậm chí trở thành chủ nghĩa cá nhân và lối sống thực dụng Điều này thể hiện ở sự thờ ơ, vô cảm, thiếu nhiệt tình của lớp trẻ với những hoạt động tập thể, cộng đồng
Như vậy trong quan hệ ứng xử với tự nhiên, con người đã vươn lên làm chủ tự nhiên và đồng thời cũng tàn phá môi trường tự nhiên Hàng loạt nhà máy, khu công nghiệp, làng nghề dồn chất thải ra môi trường, làm ô nhiễm hệ thống sông ngòi và nguồn nước Các loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ và kích thích khác đã làm cho không ít các loài động thực vật có ích cho con người biến mất
Trong quan hệ xã hội, ở một chừng mực nào đó, con người cũng đã làm chủ xã hội, làm chủ bản thân Tính cá nhân, tính thực dụng dần được khẳng định trong ứng xử Xong, điều này lại dẫn đến hiện tượng sùng bái cái tôi, biến nó thành chủ nghĩa cá nhân Dường như tính cộng đồng, tinh thần tập thể đã trở thành thứ xa xỉ, nhất là với lớp trẻ