1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khai thác di sản văn hoá phi vật thể hát bội, bài chòi phục vụ phát triển du lịch bình định

135 234 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 2,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ du lịch“Khai thác di sản văn hoá phi vật thể hát bội, bài chòi phục vụ phát triển du lịch Bình Định” là công trình nghiên cứu của riêng tô

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ du lịch“Khai thác di sản văn hoá phi vật thể hát bội, bài chòi phục vụ phát triển du lịch Bình Định” là công trình nghiên

cứu của riêng tôi

Các số liệu trong luận văn được thu thập từ thực tế và có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy, được xử lý trung thực khách quan và không sao chép của bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây

TP.Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 10 năm 2017

Người thực hiện luận văn

Huỳnh Thị Kim Bình

Trang 2

Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với TS.Nguyễn Quyết Thắng

đã trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông tin khoa học cần thiết cho luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Công nghệ TP.HCM, khoa

Du lịch– Nhà hàng – Khách sa ̣n đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của mình

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, đơn vị công tác đã giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn

TÁC GIẢ

Huỳnh Thị Kim Bình

Trang 3

TÓM TẮT

Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá việc khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” nhằm phục vụ phát triển du lịch Bình Định Thông qua luận văn này tác giả muốn có những giải pháp cụ thể hơn, thực tế hơn để đưa nghệ thuật “Hát bội”, “Bài chòi” Bình Định phục vụ du lịch hiệu quả hơn, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà

Căn cứ vào các nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước có liên quan Cùng với các số liệu từ các sở ban ngành, nghiên cứu tiến hành phân tích và đánh giá việc khai thác Di sản văn hóa phi vật thể “Hát bộ”, “Bài chòi” ở Bình Định

Nghiên cứ u sử du ̣ng các phương pháp: Phương pháp phân tích thống kê, phương pháp chuyên gia, phương pháp tham chiếu và suy diễn qui nạp, phương pháp so sánh

Bên cạnh việc phân tích, đánh giá thực trạng khai thác di sản văn hóa phi vật thể

“Hát bội”, “Bài chòi”, bài nghiên cứu cũng đưa ra một số giải pháp trong việc khai thác

di sản văn hóa phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” Bình Định gồm các giải pháp: (1) Chính sách về quản lý nhà nước trong khai thác hát bội, bài chòi, (2) Giải pháp về công tác nghiên cứu tiềm năng, (3) Giải pháp vềcông tác khai thác khách, (4) Nhóm giải pháp về

tổ chức đào tạo, (5) Giải pháp về tăng cường quảng bá cho hát bội, bài chòi

Trang 4

ABSTRACT

The objective of this study is to evaluate the exploitation of intangible cultural heritage “Hat boi”, “Bai choi”to development Binh Dinh Tourism Through this paper the author wants to have solutions more specific, more practical

to put art “Hat boi”, “Bai choi”of Binh Dinh tourism more effectively, contributing positively to economic development socio - society of the province

Based on relevant international as well as domestic studies Together with data from government departments, research analysis and evaluation of the mining heritage of the intangible cultural “Hat boi”, “Bai choi” in Binh Dinh

Research uses methods: statistical analysis methods, expert methods,inductive and inferential inference methods, comparative methods

Besides analyzing and assessing the situation to exploit cultural heritage intangible “Hat boi”, “Bai choi”, study also offer a number of solutions in the exploitation of the cultural heritage of the intangible “Hat boi”, “Bai choi”of Binh Dinh include some solutions: (1) policy on state management in “Hat boi”, “Bai choi” (2) solutions to research potential, (3 ) solution for operators, (4) solutions related to training organizations, (5) solutions to increase advertising for “Hat boi”, “Bai choi”

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN……….ii

TÓM TẮT……… iii

MỤC LỤC……… v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT xi

DANH MỤC BẢNG xii

DANH MỤC HÌNH xiii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1.Mục tiêu tổng quát 3

2.2.Mục tiêu cụ thể 3

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1.Đối tương nghiên cứu 3

3.2.Đối tương khảo sát 3

3.3.Phạm vi nghiên cứu 3

4.Phương pháp nghiên cứu 4

4.1.Nguồn số liệu sử dụng 4

4.2.Phương pháp nghiên cứu 4

5.Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5

5.1.Nghiên cứu nước ngoài 5

5.2.Nghiên cứu trong nước 6

6.Điểm mới của đề tài 8

6.1.Về lý luận 8

6.2.Thực tiễn 8

7.Kết cấu của luận văn 8

Trang 6

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ KHAI THÁC DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ DÂN CA, TRÒ CHƠI DÂN

GIAN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LI ̣CH 10

1.1 Một số khái niệm cơ bản về di sản văn hóa phi vật thể và du lịch dựa vào di sản 10

1.1.1 Di sản văn hoá 10

1.1.2 Di sản văn hoá phi vật thể 10

1.1.3 Khái niệm du lịch dựa vào di sản 12

1.2 Di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” 14

1.2.1 Di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội” 14

1.2.1.1 Lịch sử hình thành 14

1.2.1.2 Đặc trưng của “Hát bội” 17

1.2.2 Di sản văn hoá phi vật thể “Bài chòi” 19

1.2.2.1 Lịch sử hình thành 19

1.2.2.2 Đặc trưng của “Bài chòi” 21

1.3 Vai trò của việc khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ du lịch 23

1.3.1 Vai trò về mặt kinh tế 23

1.3.2 Vai trò về mặt xã hội 24

1.3.3 Vai trò về mặt văn hóa 25

1.4 Các nhân tốt ảnh hưởng đến khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ phát triển du lịch 27

1.4.1 Nhân tố thuộc về tài nguyên 27

1.4.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật 27

1.4.3 Nhân tố về nguồn nhân lực 28

1.4.4 Chính sách quy hoạch của địa phương 28

1.5 Một số vấn đề về khai thác di sản văn hóa phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ du lịch 29

1.5.1 Chính sách quy hoạch 30

Trang 7

1.5.1.1 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về quản lý khai thác di sản văn hoá

trong hoạt động du lịch 30

1.5.1.2 Đánh giá tài nguyên di sản văn hoá trong hoạt động du lịch 30

1.5.1.3 Bảo tồn và tôn tạo di sản văn hoá 30

1.5.1.4 Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về khai thác di sản văn hoá trong hoạt động du lịch 31

1.5.2 Công tác nghiên cứu tiềm năng 32

1.5.3 Công tác tổ chức khai thác 32

1.5.3.1 Nhà nước 32

1.5.3.2 Doanh nghiệp 32

1.5.3.3 Địa phương 33

1.5.4 Công tác đào tạo 33

1.5.5 Công tác đầu tư cơ sở hạ tầng, vật chất 34

1.5.6 Marketing 34

1.5.6.1 Du lịch 34

1.5.6.2 Văn hóa 35

1.6 Kinh nghiệm khai thác di sản văn hoá phi vật thể phục vụ phát triển du lịch trên thế giới và Việt Nam 35

1.6.1 Kinh nghiệm khai thác di sản văn hoá phi vật thể phục vụ phát triển du lịch trên thế giới 35

1.6.1.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản 35

1.6.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 37

1.6.1.3 Kinh nghiệm của Indonesia 38

1.6.2 Kinh nghiệm quản lý khai thác di sản văn hóa phi vật thể của các tỉnh ở Việt Nam 40

1.6.2.1 Kinh nghiệm khai thác di sản văn hóa phi vật thể tại Mai Châu-Hòa Bình………40

1.6.2.2 Kinh nghiệm phát huy di sản thế giới không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên 43

Trang 8

1.6.3 Bài học kinh nghiệm đối với du lịch di sản văn hóa “Hát bội”, “Bài

chòi” Bình Định 44

1.7 Phương pháp nghiên cứu 44

1.7.1 Phương pháp thu thập 44

1.7.1.1 Số liệu thứ cấp 44

1.7.1.2 Số liệu sơ cấp 44

1.7.2 Phương pháp xử lý số liệu 45

1.7.3 Phương pháp phân tích 45

1.7.3.1 Phương pháp thống kê mô tả 45

1.7.3.2 Phương pháp so sánh 46

1.7.3.3 Phương pháp chuyên gia 46

1.7.3.4 Phương pháp tham chiếu và suy diễn quy nạp 47

1.7.3.5 Phương pháp điều tra khảo sát 47

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ KHAI THÁC DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ “HÁT BỘI”, “BÀI CHÒI” PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH BÌNH ĐỊNH……….49

2.1 Tổng quan về tỉnh Bình Định 49

2.1.1 Về đặc điểm kinh tế - xã hội 50

2.1.1.1 Dân số 50

2.1.1.2 Diện tích 50

2.1.1.3 Đặc điểm kinh tế 50

2.1.2 Điều kiện về cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch Bình Định 51

2.1.2.1 Giao thông vận tải 51

2.1.2.2 Hệ thống điện nước 51

2.1.2.3 Hệ thống thông tin liên lạc 52

2.1.2.4 Hệ thống cơ sở lưu trú 52

2.1.3 Điều kiện về tài nguyên du lịch 52

2.1.3.1 Tài nguyên xã hội nhân văn 52

Trang 9

2.1.3.2 Tài nguyên thiên nhiên 54

2.1.3.3 Các lễ hội 56

2.2 Giới thiệu về tiềm năngvăn hóa phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” tại Bình Định 59 2.2.1 Tiềm năng “Hát Bội” 59

2.2.1.1 Lịch sử của hát bội Bịnh Định 59

2.2.1.2 Đặc trưng của hát bội Bình Định 60

2.2.1.3 Tiềm năng khai thác 61

2.2.2 Tiềm năng “Bài chòi” 62

2.2.2.1 Lịch sử bài chòi Bình Định 62

2.2.2.2 Đặc trưng của bài chòi Bình Định 64

2.2.2.3 Tiềm năng khai thác 66

2.3 Đánh giá thực trạng khai thác hát bội, bài chòi 666 2.3.1 Đánh giá về chính sách 666

2.3.2 Đánh giá về công tác nghiên cứu tiềm năng 68

2.3.3 Công tác tổ chức khai thác khách 69

2.3.3.1 Tổ chức bộ máy quản lý về khai thác Di sản văn hóa 69

2.3.3.2 Tổ chức khai thác khách 71

2.3.4 Đánh giá về tổ chức đào tạo 79

2.3.5 Đánh giá về đầu tư 86

2.3.5.1 Đầu tư cho du lịch 86

2.3.5.2 Đầu tư cho hát bội, bài chòi Bình Định 87

2.3.6 Marketing 88

2.4 Đánh giá chung về thực trạng khai thác Di sản văn hóa phi vật thể hát bội, bài chòi ở Bình Định 91

2.4.1 Những thành công trong viê ̣c khai thác di sản văn hoá phi vâ ̣t thể hát bội, bài chòi ở Bình Đi ̣nh 91

2.4.2 Những vấn đề còn ha ̣n chế 93

Trang 10

CHƯƠNG III CÁC KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ “HÁT BỘI”, “BÀI CHÒI” PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU

LỊCH TỈNH BÌNH ĐỊNH 96

3.1 Định hướng, mục tiêu khai thác hoạt động di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội, Bài chòi” phục vụ du lịch tỉnh Bình Định đến năm 2020 96

3.1.1 Mục tiêu tổng quát 96

3.1.2 Mục tiêu cụ thể 96

3.1.2.1 Mục tiêu về kinh tế 96

3.1.2.2 Mục tiêu về văn hóa xã hội 97

3.1.2.3 Mục tiêu về môi trường 97

3.1.2.4 Mục tiêu về quốc phòng, an ninh 97

3.1.2.5 Mục tiêu khai thác Di sản văn hóa phi vật thể hát bội, bài chòi 97

3.1.4 Dự báo một số chỉ tiêu chủ yếu về phát triển du lịch Bình Định đến năm 2020, tầm nhìn 2030 98

3.2 Kiến nghị và các giải pháp nhằm nâng cao việc khai thác hoạt động di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”,“Bài chòi” phục vụ du lịch tỉnh Bình Định 100

3.2.1 Kiến nghị với các cấp quản lý nhà nước về khai thác di sản văn hóa hát bội, bài chòi 100

3.2.1.2 Đối với trung ương 100

3.2.1.2 Đối với địa phương 100

3.2.2 Các giải pháp nhằm nâng cao việc khai thác hoạt động di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”,“Bài chòi” phục vụ du lịch tỉnh Bình Định 101

3.2.2.1 Nhóm giải pháp chính 101

3.2.2.2 Nhóm giải pháp phụ 109

KẾT LUẬN……….111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

PHỤ LỤC………116

PHỤ LỤC A PHIẾU ĐIỀU TRA DU KHÁCH 116

PHỤ LỤC B PHIẾU ĐIỀU TRA QUẢN LÝ KHAI THÁC DI SẢN 120

PHỤ LỤC C DANH SÁCH CHUYÊN GIA THAM GIA THẢO LUẬN 122

Trang 11

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADO: Asian Development Outlook (Triển vọng phát triển Châu Á) APB: Asia-Pacific Bank (Ngân hàng Châu Á – Thái Bình Dương)DLVH: Du lịch văn hóa

FDI: Foreign Direct Investment (Đầu tư trực tiếp nước ngoài)

UBND: Ủy ban nhân dân

UN: United Nations (Liên Hiệp Quốc)

UNESCO: United Nations Educational Scientific and CulturalOrganization (Tổ chứ c Giáo du ̣c, Khoa ho ̣c và Văn hoá Liên Hiê ̣p Quốc) UNWTO: World Tourism Organization (Tổ chứ c Du li ̣ch thế giới)

VHTT&DL: Văn hóa,Thể thao và Du lịch

VH-TT&TT: Văn hóa, Thông tin & Truyền thông

WTO: Word Trade Organization (Tổ chứ c Thương ma ̣i thế giới)

Trang 12

DANH MU ̣C BẢNG

Bảng 1 1 Các giai đoa ̣n phát triển của “hát bô ̣i” 15

Bảng 1 2 Quá trình hình thành khung chính sách về bảo vê ̣ di sản 36

Bảng 1 3 Mô ̣t số nguyên tắc tro ̣ng tâm trong phát triển du li ̣ch 40

Bảng 1 4 Dung lượng mẫu điều tra 45

Bảng 2 1 Một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của Bình Định 53

Bảng 2 2 Một số cảnh quang thiên nhiên tiêu biểu của Bình Định 54

Bảng 2 3 Các lễ hội tiêu biểu ở Bình Định 56

Bảng 2 4 Các lễ hội tiêu biểu ở Bình Định 58

Bảng 2 5 Danh sách các đoàn truyền thống ở Bình định 61

Bảng 2 6 Sự phân bố các đoàn hát bội ở Bình Định 62

Bảng 2 7 Đánh giá của các quản lý du lịch về công tác qui hoạch hát bội, bài chòi 70

Bảng 2 8 Số lượt khách đến Bình Định giai đoạn năm 2013 - 2016 71

Bảng 2 9 Doanh thu về du lịch của Bình Định giai đoạn năm 2014 - 2016 72

Bảng 2 10 Số lượng cơ sở lưu trú phục vụ du lịch tỉnh Bình Định giai đoạn 2013 – 2016 74

Bảng 2 11 Thống kê mô tả mẫu 75

Bảng 2 12 Đánh giá nhu cầu khách du lịch đối với bài chòi Bình Định 76

Bảng 2 13 Đánh giá nhu cầu khách du lịch đối với hát bội Bình Định 77

Bảng 2 14 Đánh giá nhu cầu tham gia các hoạt động khác của du khách khi đến Bình định 78

Bảng 2 15 Thống kê số lượng và trình độ nguồn nhân lực du lịch Bình Định giai đoạn 2013 - 2016 80

Bảng 2 16 Đánh giá của các chuyên gia về công tác đào tạo 82

Bảng 2 17 Nhân lực CLB bài chòi ở Bình Định 82

Bảng 2 18 Nhân lực Tuồng không chuyên ở Bình Định 84

Bảng 2 19 Nhân lực hát tuồng Bình Định 84

Bảng 2 20 Kinh phí cho hát bội, bài chòi chuyên nghiệp 87

Bảng 2 21 Kinh phí thực hiện đề án bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa di sản phi vật thể hát bội, bài chòi tỉnh Bình định đến năm 2020 877

Bảng 3 1 Một số chỉ tiêu dự báo du lịch Bình Định đến năm 2030 988

Bảng 3 2 Một số chỉ tiêu dự báo khai thác hát bội, bài chòi Bình Định đến năm 2030 99

Bảng 3 3 Chương trình các Tour du lịch có hát bội, bài chòi 104

Bảng 3 4 Bảng đề xuất các lớp học bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho nhân viên du lịch 107

Trang 13

DANH MỤC HÌNH

Hình 2 1 Bản đồ địa lý hành chính Bình Định 49 Hình 2 2 Sơ đồ bố trí hệ thống các chòi trong hội đánh bài chòi dân gian ở Bình Định 65 Hình 2 3 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về quản lý khai thác di sản văn hóa 69 Hình 2 4 Lượt khách du lịch đến Bình Định giai đoạn năm 2013 – 2016 72 Hình 2 5 Doanh thu ngành du lịch tỉnh Bình Định giai đoạn 2014 – 2016 73 Hình 2 6 Số lượng cơ sở lưu trú phục vụ du lịch tỉnh Bình Định giai đoạn 2013 –

2016 74 Hình 2 7 Số lượng và trình độ nguồn nhân lực du lịch Bình Định giai đoạn 2013 -

2016 80 Hình 2 8 Kênh thông tin đến với du khách 90 Hình 2 9 Công tác truyền thông từ hướng dẫn viên 91

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch Việt Nam ngày càng được biết đến nhiều hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước được bình chọn là địa chỉ yêu thích của du khách quốc tế Theo thống kê của tổng cục Du lịch Việt Nam, trong năm 2015 ngành du lịch Việt Nam thu hút hơn 8 triệu lượt khách quốc tế và hơn 35 triệu lượt khách du lịch trong nước Trong năm 2020, con số này có thể lên đến 11-12 triệu cho khách quốc tế và 45-48 triệu khách trong nước Điều đó dẫn đến ước doanh thu du lịch đạt 18-19 tỷ USD (Tổng cục Du lịch, 2016) Việc phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn được các cấp chính quyền địa phương trong cả nước quan tâm, đặc biệt là các vùng trọng điểm có nhiều tài nguyên du lịch

Bình Định là một tỉnh địa đầu của vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ, là miền đất giàu đẹp về thiên nhiên, phong phú về lịch sử văn hoá Nơi đây hội tụ đầy đủ tài nguyên, tiềm năng du lịch cơ bản và những lợi thế so sánh với các tỉnh lân cận để có thể tổ chức hầu hết các loại hình du lịch với quy mô lớn và hình thành hạt nhân phát triển và đóng vai trò là động lực của khu vực

Có lẽ hiếm có vùng quê nào như Bình Định khi cùng lúc sở hữu nhiều loại hình văn hóa truyền thống đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại Tại Bình Định, hát bội, võ cổ truyền

đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia Riêng bài chòi Bình Định, từ năm 2015 đã được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (Bộ VHTTDL) lựa chọn đại diện cho Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên …được xây dựng hồ sơ điền giã để trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (Bộ VHTT&DL, 2014)

Nhận thức rõ được những lợi thế này, Nghị quyết Đại hội Đảng Bộ tỉnh Bình

Định nhiệm kỳ (2010-2015) và (2016-2020) xác định:“Phát triển du lịch Bình Định thành ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của địa phương”(Sở

VHTT&DL, 2015) và trong những năm qua Du lịch Bình Định đã đạt được những kết quả bước đầu Cơ sở hạ tầng và dịch vụ du lịch được tăng cường, nhiều khu,

Trang 15

điểm du lịch, sản phẩm du lịch mới ra đời, hoạt động kinh doanh du lịch đã đạt được những thành tựu đáng kể, có những đóng góp nhất định trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, góp phần phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Bên cạnh việc khai thác các sản phẩm du lịch thuần túy, việc khai thác các sản phẩm du lịch văn hóa phi vật thể như: hát bội, võ cổ truyền, bài chòi, cũng được các cấp chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm Ngoài việc mang đến sự

đa dạng trong sản phẩm du lịch cho du khách, việc giới thiệu nét văn hoá truyền thống đặc trưng quốc gia, vùng miền, địa phương cũng góp phần truyền bá văn hóa địa phương đến cho các du khách

Đầu năm 2017, UBND tỉnh Bình định đã phê duyệt Quyết định số UBND về Đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Hát bội và Bài chòi trên địa bàn tỉnh Bình Định đến năm 2020 (UBND tỉnh Bình Định, 2017) Trong đó gồm 7 nhiệm vụ, giải pháp đặt ra là: Nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo tồn những giá trị tiêu biểu của Hát bộ, Bài chòi; Truyền dạy nghệ thuật Hát bội, Bài chòi trong cộng đồng và trong trường học; Phục hồi, bảo tồn các vở tuồng cổ về Hát bội, xây dựng các trích đoạn tuồng, bảo tồn, phát huy hội đánh bài chòi dân gian, các vở Bài chòi dân gian; Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù liên quan đến bao tồn và phát huy giá trị di sản Hát bội, Bài chòi; Tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu

4850/QĐ-di sản Hát bội, Bài chòi; Đầu tư, quy hoạch xây dựng cơ sở vật chất thiết chế khai thác sử dụng, phát huy giá trị di sản tuồng, bài chòi; Gắn kết Nghệ thuật Hát bội, Bài chòi với hoạt động du lịch nhằm phát huy hiệu quả giá trị di sản

Tuy nhiên, việc khai thác chưa lột tả được hết giá trị của các sản phẩm du lịch văn hóa này Các chương trình hỗ trợ duy trì và phát triển cũng như khai thác

để phục vụ du lịch chưa đồng bộ, chưa khai thác hết tiềm năng của sản phẩm Đặc biệt là cho đến thời điểm hiện nay còn rất ít nghiên cứu có liên quan đến đánh giá việc khai thác sản phẩm văn hóa phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” nhằm phát triển

du lịch tỉnh Bình Định Vì các lý do trên, tác giả chọn đề tài“Khai thác di sản văn hoá phi vật thể hát bội, bài chòi phục vụ phát triển du lịch Bình Định” thông qua

Trang 16

luận văn này tác giả mong muốn có những giải pháp cụ thể hơn, thực tế hơn để đưa nghệ thuật “Hát bội”, “Bài chòi” Bình Định phục vụ du lịch hiệu quả hơn, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà

2 Mục tiêu nghiên cứu

(2) Đánh giá tiềm năng và thực trạng việc khai thác di sản văn hoá phi vật thể

“Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ phát triển du lịch Tỉnh Bình Định

(3) Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ phát triển du lịch Tỉnh Bình Định

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tươ ̣ng nghiên cứu

Luận văn tập trung đi vào giải pháp thực trạng khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội” và“Bài chòi” Bình Định phục vụ phát triển du lịch

3.2 Đối tươ ̣ng khảo sát

Các lãnh đạo, chuyên gia, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, du lịch…và các du khách

Số liệu thứ cấp lấy từ năm 2013 đến 2016

Số liệu sơ cấp được điều tra từ tháng 2 đến tháng 5/2017

Trang 17

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, luận văn sử dụng các

phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

4.1 Nguồn số liệu sử dụng

Số liệu thứ cấp:Bao gồm các tài liệu, sách báo, tạp chí, công trình nghiên

cứu, niên giám thống kê… đã được công bố Nguồn dữ liệu, số liệu của Tổng cu ̣c thống kê; Bộ VH - TT - DL; Hiệp hội Du lịch Việt Nam; UBND Tỉnh Bình Định;

Sở VH - TT- DL Tỉnh Bình Định, các sở ban ngành liên quan và các nguồn khác

Số liệu sơ cấp:Số liệu sơ cấp thu được thông qua việc tiến hành điều tra,

phỏng vấn các lãnh đạo, chuyên gia, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, du lịch…và các du khách về những vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu Việc điều tra, phỏng vấn thông qua các phiếu điều tra khảo sát được thiết kế theo mẫu với nội dung là những tiêu chí đã được lựa

chọn để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu gồm:

Phương pháp thống kê mô ta ̉

Sử dụng các nguồn dữ liệu thứ cấp tin cậy của Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Tổng cục Thống kê, UBND Tỉnh Bình Định; Sở VH-TT-DL Tỉnh Bình Định, các sở, ban, ngành, địa phương có liên quan, các doanh nghiệp chuyên về văn hóa, du lịch trên địa bàn tỉnh Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các số liệu chính thức được công bố của các tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), Hiệp hội

Du lịch Bình Định, … Từ các nguồn số liệu trên, tác giả sử dụng phương pháp phân tích thống kê để đánh giá khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ phát triển du lịch Tỉnh Bình Định

Phương pháp chuyên gia

Tiếp cận và làm việc với các chuyên gia, cán bộ quản lý văn hóa, du lịch, một số lãnh đạo doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch để phỏng vấn, điều tra, có thêm

Trang 18

dữ liệu nhằm bổ sung cho các nghiên cứu, cũng như phân tích chính xác hơn về thực trạng, đề xuất các giải pháp khoa học, phù hợp với thực tiễn của địa phương

Phương pháp tham chiếu và suy diễn quy nạp

Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu, các công trình khoa học đã được công bố, những mô hình, cách làm hiệu quả trong khai thác di sản văn hoá phi vật thể phục vụ phát triển du lịch, tác giả áp dụng để suy diễn, hệ thống lại các nội dung

từ lý luận cũng như thực tiễn khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ phát triển du lịch

Phương pháp so sánh

Thông qua các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương đối để so sánh cho thấy được

sự thay đổi của hiện tượng nghiên cứu

5 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu nước ngoài

Các nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến việc đánh giá khai thác các sản phẩm phi vật thể nhằm định giá sản phẩm du lịch, đánh giá giá trị khai thác sản phẩm du lịch nhằm định hướng phát triển du lịch cũng như phát triển du lịch bền vững tại các quốc gia khác nhau trên thế giới

Nghiên cứu của Rodzi và các cộng sự (2013) về “Du lịch và di sản văn hoá phi vật thể” (Between Tourism and Intangible Cultural Heritage), việc khai thác di

sản văn hóa Melaka có thể có mặt tiêu cực và tích cực Mục tiêu của bài nghiên cứu

là giới thiệu các nghiên cứu trước đây về du lịch trong mối quan hệ với di sản văn hoá phi vật thể và xem xét các quan điểm tích cực và tiêu cực về tầm quan trọng của

du lịch và di sản văn hoá Kết quả của bài nghiên cứu không chỉ định hướng khai thác về du lịch và di sản văn hoá phi vật thể ở Malacca mà còn phát triển một bản

đồ văn hoá trong những nỗ lực ban đầu để bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể

Nghiên cứu “Tăng trưởng du lịch tài nguyên thiên nhiên của thành phố Lazarevac” của Malinic và công sự (2015) Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu các

yếu tố tác động đến việc bình ổn giá du lịch ở Lazarevac thông qua tiến hành khảo sát du khách các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá của du khách như: Khía cạnh du

Trang 19

lịch và khía cạnh quản lý Đối với khía cạnh du lịch, các tác giả tiến hành đo lường các yếu tố như: sự hấp dẫn của thị trường, các yếu tố quan trọng khi thiết kế sản phẩm du lịch Khía cạnh quản lý, các yếu tố được đo lường là: Tầm quan trọng của văn hóa, sự bền vững Kết quả nghiên cứu cho thấy: Du lịch, văn hoá và mối quan

hệ lẫn nhau ngày càng trở nên quan trọng hơn khi lập kế hoạch phát triển bền vững

Để cải thiện đô thị du lịch Lazarevac và để sử dụng tốt hơn các nguồn lực du lịch điều cần thiết là phải đầu tư lớn hơn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, cơ

sở hạ tầng công cộng và du lịch; Các đơn vị lưu trú nhỏ và các dịch vụ phụ trợ

Nghiên cứu “Lễ hội và hội chợ của người La Mã - Các yếu tố chính trong việc thúc đẩy di sản văn hoá phi vật thể” của Georgiana và cộng sự (2016) Hội

chợ và lễ hội trong việc quảng bá sản phẩm văn hóa phi vật thể của Rumani ảnh hưởng lớn lao đối với nền kinh tế của đất nước Nghiên cứu đã được tiến hành để hiểu được hành vi của khách du lịch ở Rumani liên quan đến việc tham dự và ý định của họ để đi du lịch tại một địa điểm chỉ để tham dự hội chợ hoặc các lễ hội Bài nghiên cứu này dựa trên những phát hiện của cuộc điều tra định lượng được thực hiện vào năm 2016 Mục tiêu chính của nghiên cứu này là xác định xem người Rumani có quan tâm đến việc tham dự các hội chợ và lễ hội và liệu họ sẵn sàng đi

du lịch cho mục đích này Những phát hiện của nghiên cứu phản ánh rằng những người trả lời là có quan tâm đến việc tham dự các sự kiện chiếm phần lớn (84%), có nghĩa là người dân Rumani vẫn quan tâm đến việc tìm kiếm nhiều điều về truyền thống, giá trị văn hóa khi lựa chọn điểm đến du lịch của họ

5.2 Nghiên cứu trong nước

Lê Thị Minh Huế (2009) với đề tài:“Khai thác di sản văn hóa quan họ Bắc Ninh phục vụ phát triển du lịch”.Nghiên cứu đã hệ thống hóa những vấn đề của di

sản văn hóa Quan họ, bao gồm: khái niệm, lịch sử hình thành phát triển, phân bố các làng Quan họ, hình thức tổ chức, diễn xướng, làn điệu, ca từ Quan họ, không gian Quan họ tồn tại, phát triển Phân tích vai trò ý nghĩa của di sản văn hóa Quan

họ với hoạt động du lịch, và đánh giá vai trò của di sản văn hóa Quan họ trong phát triển du lịch của tỉnh Bắc Ninh nói riêng và của cả nước nói chung Nghiên cứu

Trang 20

công tác tổ chức, quản lý khai thác di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh phục vụ du lịch Phân tích, đánh giá thực trạng khai thác Quan họ trong hoạt động du lịch hiện nay của Bắc Ninh, từ đó chỉ ra những tồn tại, bất cập, hạn chế cần giải quyết Đưa

ra một số định hướng và đề xuất các giải pháp, kiến nghị về tổ chức, quản lý; nguồn nhân lực; đầu tư cho khách du lịch Quan họ; thị trường khách du lịch; xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch; xúc tiến du lịch Quan họ

Trần Thị Huyền (2012) với đề tài: “Khai thác các giá trị văn hóa của nghệ thuật ca trù ở đồng bằng Bắc bộ Việt Nam phục vụ phát triển du lịch” Nghiên cứu

trình bày những vấn đề cơ bản về ca trù, lịch sử phát triển của nghệ thuật ca trù, nghệ thuật ca trù tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng và giá trị văn hoá của nghệ thuật ca trù Nghiên cứu thực trạng khai thác các giá trị văn hoá của nghệ thuật ca trù vào hoạt động kinh doanh du lịch hiện nay ở Việt Nam Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác sản phẩm du lịch của nghệ thuật ca trù

Phan Văn Ngoạn (2015), nghiên cứu “Khai thác nghệ thuật cải lương ở Đồng bằng sông Cửu Long phát triển du lịch”.Khi nói đến miền Nam là nói Đờn ca

Tài tử - một thể loại âm nhạc kết hợp hòa quyện hai tính chất bác học và dân gian, hay sân khấu Cải lương năng động, luôn thích ứng với đời sống xã hội hiện đại Cùng với các thành tố văn hóa khác, nghệ thuật dân tộc - truyền thống ở các vùng miền đã tạo thành diện mạo văn hóa Việt Nam, khẳng định được bản sắc dân tộc trong quá trình giữ nước và dựng nước Nghiên cứu trình bày những vấn đề về Cải lương, lịch sử hình thành và phát triển của loại hình nghệ thuật dân gian đậm chất Nam bộ, đồng thời cũng phân tích thực trạng khai thác để đưa ra các giải pháp nhằm khai thác nghệ thuật Cải lương phục vụ phát triển du lịch hiệu quả

Nghiên cứu “Tiếp thị di sản văn hoá để thúc đẩy tăng trưởng du lịch ở các vùng ngoại vi của Việt Nam để phát triển kinh tế bền vững” của Nguyễn Quỳnh

Hoa (2016) Để thu hút khách du lịch đến từ các thị trường quốc tế khác có thu nhập cao, nhu cầu của các doanh nghiệp du lịch Việt Nam cần phải hiểu được hành vi của khách hàng, ý định mua, thái độ và các yếu tố ảnh hưởng khác để nhà tiếp thị du lịch có thể làm nổi bật và tăng cường hình ảnh du lịch Việt Nam trong nhận thức

Trang 21

của du khách quốc tế, đặc biệt là các di sản văn hóa vô giá của mình Bên cạnh đó, người dân địa phương cũng nhận thấy những ưu điểm của việc du lịch, họ sẽ nhận thấy sự cần thiết phải duy trì các truyền thống, phong tục văn hoá và môi trường tự nhiên vì lợi ích lâu dài Đây sẽ là nền tảng cho chính quyền địa phương lập kế hoạch chiến lược chung cho phát triển bền vững, đặc biệt là đối với các vùng nông thôn và miền núi

6 Điểm mới của đề tài

7 Kết cấu của luận văn

Bố cục của luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 03 chương như sau:

Phần mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiê ̣m trong và ngoài nước về khai thác di

sản văn hoá phi vâ ̣t thể dân ca, trò chơi dân gian phục vụ phát triển du lịch:

Trình bày các khái niệm có liên quan và các nghiên cứu có liên quan trên thế giới cũng như trong nước

Chương 2: Thực trạng về đánh giá giá trị khai thác di sản văn hoá phi vật thể

“Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ phát triển du lịch Tỉnh Bình Định: Trình bày khái quát về di sản văn hóa hát bội, bài chòi của Bình Định đồng thời những

Trang 22

khóa khăn, thuận lợi trong việc khai thác sản phẩm du lịch văn hóa phục vụ

du lịch tại Bình Định

Chương 3: Các giải pháp khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài

chòi” phục vụ phát triển du lịch Tỉnh Bình Định: Đánh giá chung tình hình khai thác Di sản văn hóa phi vật thể hát bội, bài chòi Bình Định và đưa ra các giải pháp cho việc khai thác nhằm phát triển du lịch Bình Định

Trang 23

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ KHAI THÁC DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ DÂN CA, TRÒ CHƠI DÂN GIAN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LI ̣CH

1.1 Một số khái niệm cơ bản về di sản văn hóa phi vật thể và du lịch dựa vào

di sản

1.1.1 Di sản văn hoá

Prentice (1993) đã định nghĩa thuật ngữ "di sản" không chỉ là các cảnh quan, lịch sử tự nhiên, các tòa nhà, hiện vật, truyền thống văn hoá và những thứ tương tự theo nghĩa đen hay ẩn dụ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Những sản phẩm này có thể được quảng bá là sản phẩm du lịch Ông cũng gợi ý rằng, các di sản nên được phân biệt theo các loại di sản: di sản xây dựng, di sản tự nhiên và di sản văn hoá

Định nghĩa về di sản văn hoá có ý nghĩa rộng và mối quan hệ giữa tự nhiên

và con người (UNESCO, 2011) vì di sản văn hoá không chỉ có nghĩa là những vật hữu hình như các di tích cổ và các công trình kiến trúc (Di sản văn hóa hữu hình)

mà còn vô hình như kỹ năng, kiến thức, khả năng của con người và nhóm người, cũng như cách thể hiện lối sống, tín ngưỡng, truyền thống,…gọi là “Di sản văn hoá phi vật thể”

Theo luật của Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số

28/2001/QH10 về di sản văn hoá, tại chương 1, điều 1 có ghi rõ: “Di sản văn hoá quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể,

là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

(Quốc hội, 2001)

Như vậy, di sản văn hóa là khái niệm chung bao gồm các di sản hữu hình và

cả các di sản vô hình hiện hữu trên một quốc gia, lãnh thổ hay trên toàn thế giới

1.1.2 Di sản văn hoá phi vật thể

Năm 2003, UNESCO đã chia di sản văn hóa phi vật thể thành 5 loại (UNESCO, 2003: (Điều 2.1)):

Trang 24

1 Truyền thống miệng và các biểu thức bao gồm ngôn ngữ như một phương tiện di sản văn hoá phi vật thể

2 Nghệ thuật biểu diễn

3 Thực tiễn xã hội, nghi lễ và các sự kiện lễ hội

4 Kiến thức và thực tiễn liên quan đến tự nhiên và vũ trụ

5 Thủ công truyền thống

Trong Chương Tổng quát, Điều 2 của Công ước UNESCO về Bảo vệ Di sản văn hoá phi vật thể năm 2003 cũng tuyên bố rằng "Di sản văn hoá phi vật thể" có nghĩa là thực hành, đại diện và biểu hiện kiến thức, kỹ năng, công cụ, tài liệu, phát minh và các lĩnh vực văn hoá Từ những vấn đề mà cộng đồng và trong một số trường hợp cá nhân chấp nhận chúng như là một phần của di sản văn hoá của họ

Trước đây, do nhận thức chưa đầy đủ về di sản văn hóa phi vật thể, coi nó chỉ là một bộ phận mang tính chức năng của di sản văn hóa vật thể mà không phải

là một dạng di sản có tính độc lập tương đối Vì thế, việc bảo vệ và phát huy giá trị chưa được quan tâm thỏa đáng, dẫn đến tình trạng nhiều giá trị văn hóa phi vật thể

bị biến dạng và thậm chí còn bị mai một, thất truyền Chỉ sau cuộc họp Đại hội đồng lần thứ 32, UNESCO đã thông qua Công ước bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể, chúng ta mới có cách tiếp cận tương đối toàn diện về loại hình di sản văn hóa này Tuy nhiên, trong thực tế từng quốc gia vẫn có cách định nghĩa và phân loại riêng, phù hợp với điều kiện lịch sử và văn hóa của mình

Theo Điều 4, Chương 1 Luật Di sản văn hóa được ban hành tại Việt Nam

(2013) “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc

cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” (Quốc hội, 2013)

Ở Việt Nam, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được coi là hai bộ phận hữu cơ cấu thành kho tàng di sản văn hóa dân tộc Chúng luôn gắn bó mật thiết, có tác động tương hỗ và tôn vinh lẫn nhau, nhưng vẫn có tính độc lập tương đối: Di

Trang 25

sản văn hóa vật thể là cái hữu hình, tồn tại dưới dạng vật chất, chứa đựng những hồi

ức sống động của loài người, là bằng chứng vật chất của các nền văn hóa, văn minh nhân loại; Di sản văn hóa phi vật thể là cái vô hình, chỉ được lưu truyền và biểu hiện bằng hình thức truyền miệng, truyền nghề và các dạng bí quyết nghề nghiệp khác

1.1.3 Khái niệm du lịch dựa vào di sản

Du lịch di sản văn hóa có nghĩa là đi du lịch để giải trí và học hỏi kiến thức trong môi trường xung quanh bao gồm những thứ do con người tạo ra như là kết quả của cuộc sống xã hội hiện tại trong hệ sinh thái (Feilden và Jokilehto, 1993)

Hall và Zeppel (1990) đề xuất các định nghĩa cho du lịch văn hoá và du lịch

di sản Trước đây, du lịch văn hóa gắn liền với những điểm thu hút trực quan, nghệ thuật trình diễn và các lễ hội, trong khi gần đây thì di sản văn hóa lại liên quan đến các di tích lịch sử, tòa nhà và đài kỷ niệm Du lịch di sản được gọi là du lịch trải nghiệm vì du khách thường muốn đắm mình trong môi trường lịch sử và trải nghiệm

Du lịch di sản được mô tả là một hoạt động kinh tế liên quan đến việc sử dụng các tài sản di truyền và văn hoá xã hội để thu hút khách du lịch (Fyall và Garrod, 1998) Du khách hài lòng với các điểm đến di sản văn hoá có xu hướng mở rộng thời gian lưu lại và quay trở lại

Fyall và Garrod (1998) tin rằng du lịch văn hoá là một loại hình hoạt động kinh tế, nhờ di sản văn hóa, nhằm kích thích nhu cầu du lịch Tuy nhiên, Poria và các cộng sự (2001) tuyên bố rằng đó là một hiện tượng dựa trên động lực và nhận thức của du khách hơn là do các thuộc tính thu hút đó Hơn nữa, Kowalczyk (2008,

trang 13) chorằng du lịch văn hoá là "tất cả các hành vi du lịch gắn liền với sự quan tâm thực sự của họ đến các di sản văn hoá (tượng đài, văn hoá dân gian, địa điểm các sự kiện quan trọng ) và sự tham gia của họ vào cuộc sống văn hoá đương đại được hiểu rộng rãi "

Trong nghiên cứu của Peterson (1994) về mối liên hệ giữa di sản và du lịch,

đã cho thấy ba lý do chính để thăm các di tích lịch sử: Trải nghiệm thời gian và địa

Trang 26

điểm khác nhau, học cách thưởng thức trải nghiệm về tâm trí, chia sẻ với người khác hoặc dạy cho trẻ biết lịch sử của di tích Du lịch di sản cũng được miêu tả như

là một phân khúc khách du lịch được đánh giá cao về nghệ thuật biểu diễn, triển lãm văn hoá và các điểm tham quan khác có liên quan

Sở Tài nguyên Lịch sử Virginia (1998) đã thống kê một số lợi ích của Du lịch văn hoá / di sản cung cấp cho du khách và người dân, cũng như các chính phủ:

Một là, du lịch văn hóa / di sản bảo vệ các nguồn tài nguyên lịch sử, văn hoá

và tài nguyên thiên nhiên trong các cộng đồng, thị xã và thành phố Mọi người tham gia vào cộng đồng khi họ có thể liên quan đến di sản cá nhân, gia đình, cộng đồng, khu vực hoặc quốc gia Sự liên kết này thúc đẩy cư dân bảo vệ tài nguyên đã chia sẻ của họ và thực hiện việc quản lý tốt

Hai là, du lịch văn hoá / di sản giáo dục người dân và khách du lịch về lịch

sử và truyền thống địa phương / khu vực Thông qua nghiên cứu và phát triển các điểm di sản / văn hoá, người dân sẽ được thông tin tốt hơn về lịch sử và truyền thống địa phương / khu vực có thể được chia sẻ với khách du lịch

Ba là, du lịch văn hoá / di sản xây dựng các cộng đồng gần gũi, mạnh hơn

Kiến thức về di sản cung cấp sự liên tục và bối cảnh cho các cộng đồng, nâng cao

sự tôn trọng của người dân, tăng cường giá trị công dân, xây dựng niềm tự hào của cộng đồng, và cải thiện chất lượng cuộc sống

Bốn là, du lịch văn hóa / di sản thúc đẩy sức sống kinh tế và công dân của

một cộng đồng hoặc khu vực Lợi ích kinh tế bao gồm: việc tạo ra các công việc mới trong ngành du lịch, tại các điểm tham quan văn hoá và trong các cơ sở liên quan đến du lịch; Đa dạng hóa kinh tế trong ngành dịch vụ (nhà hàng, khách sạn / nhà nghỉ, giường ngủ, dịch vụ hướng dẫn viên du lịch), sản xuất (nghệ thuật và hàng thủ công, quà lưu niệm, ấn phẩm) và nông nghiệp (vườn đặc sản hoặc chợ nông dân); Khuyến khích sở hữu địa phương của các doanh nghiệp nhỏ; giá trị tài sản cao hơn; tăng doanh số bán lẻ; Và thu nhập thuế đáng kể

Trang 27

1.2 Di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi”

1.2.1 Di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”

về mọi mặt từ kịch bản văn học đến nghệ thuật biểu diễn Trong thế kỷ 19, Tuồng

đã có một giai đoạn phát triển cực thịnh trong lịch sử hình thành và phát triển của loại hình nghệ thuật này

Theo quyển “Sự tích và nghệ thuật hát bộ” của Đoàn Nông (1943), tác giả cho rằng hát bộ phát triển từ thời kỳ thôn ổ đến thời kỳ vương cung

Còn theo ông Diệp Văn Ký thì một số người Bình Định qua Tàu học hát bộ

về lập gánh hát tại tỉnh nhà vì thế cho nên khắp Trung Kỳ các con hát đều hát theo giọng Bình Định

Trong quyển "Nghệ thuật Tuồng Bắc” tác giả Hoàng Chương khẳng định:

“Tuồng là của Việt Nam, bắt nguồn từ những trò diễn xướng dân gian trên miền Bắc rồi lan dần vào Nam tiếp thu nhiều yếu tố nghệ thuật khác mới hình thành rõ nét là hát bội (có nơi gọi là hát bộ) và hát bội phổ biến rất mạnh ở Bình Định (quê hương hậu tổ Đào Tấn) và khắp miền Trung, sau lan dần vào Nam Bộ Và cũng từ miền Nam quay trở lại miền Bắc thành bộ môn tuồng mang phong cách Bắc”

(Nghệ thuâ ̣t tuồng Bắc, NXB Sân khấu, 2000)

Tuồng ra đời thế kỷ XVIII, năm 1792 tại Huế (theo tư liêu ảnh Baraw đăng lại trên Tạp chi Sử địa Sài Gòn, số 9-10 năm 1968 Ông Lê Văn Chiêu minh họa ảnh cảnh diễn Tuồng tại Huế, trong cuốn Nghệ thuật sân khấu Hát bội NXB Trẻ-2007) Tuy nhiên, trước phát hiện của Baraw nhiều nơi đã diễn Tuồng, nhưng bằng chứng mới xác định hình ảnh ghi nhận sớm nhất tại Huế Tuồng Nam Bộ xuất hiện năm 1801, phát triển vào Nam Bộ cuối thế kỷ XIX, đầu XX, xuất hiện một số tác giả soạn Tuồng, ban hát mạnh Tuồng Bắc Bộ lên chuyên nghiệp năm 1807, tại

Trang 28

Nghệ An Hiện còn kịch bản Tuồng của Trần Cao Khải, Phan Bội Châu, một số cá nhân giữ tư liệu Tuồng Bắc Đầu thế kỷ XX, Tuồng phát triển ra Bắc, xuất hiện một

số ban hát diễn ở làng quê Bắc Bộ: Hải Dương, Nam Định, Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An Sách cổ ghi Tuồng xuất hiện đầu tiên ở xứ Bắc diễn các vở: Vương mẫu hiếu bàn đào, Mười hai vị thần thánh, Sơn hậu, Giác Oan Qua nhiều nguồn tư liệu sát thực, chứng minh: Tuồng hình thành từ một trò diễn xướng dân gian tiến lên sân khấu, ra đời cuối thế kỷ XVIII, với các mốc thời gian như sau:

- Tuồng ra đời đầu tiên 1792 tại Huế

- Tuồng Nam Bộ xuất hiện năm 1801

- Tuồng Bắc Bộ lên chuyên nghiệp năm 1807

- Tuồng Bình Định năm 1867, khởi nghiệp từ Đào Tấn

Tuồng Chèo Xứ Bắc cùng trên cả nước, chỉ xuất hiện khi hoàn chỉnh nền thơ ca, văn học Việt Nam rực rỡ khoảng cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX Đây là điều kiện tiên quyết đặt lời vào bài ca: làn, điệu Tuồng Chèo bằng nhiều thể thơ, văn (Tuấn Giang, 2013)

Chúng ta biết rằng trong cùng thời kỳ này tại vùng đồng bằng Bắc Bộ còn có Chèo và Múa Rối Tuy nhiên, hai loại hình nghệ thuật kể trên chỉ tồn tại trong khu vực nông thôn ở miền Bắc Việt Nam, không phổ biến trên quy mô toàn quốc như Tuồng Ngày nay môn nghệ thuật này vẫn được coi là “quốc hồn, quốc túy” của người Việt, sánh như Kinh kịch của Trung Quốc hay kịch Noh của Nhật Bản

Bảng 1 1 Các giai đoạn phát triển của “Hát bội”

Giai đoạn Hát bội miền Bắc Hát bội miền

Ra đời phát triển mạnh, theo nhiều nhà nghiên cứu, sử sách chép do

Tuồng độc tôn, rực

rỡ trên mảnh đất Phương Nam, phát triển mạnh ở Sài Gòn – Gia Định

Trang 29

Giai đoạn Hát bội miền Bắc Hát bội miền

Trung

Hát bội miền Nam

Tuồng mạnh, nhưng thiếu tác giả tên tuổi

Đào Duy Từ soạn ra truyền dậy vào thế kỷ XVII

xuống một số tỉnh đồng bằng Nam Bộ

Tuồng Miền Trung phát triển mạnh ngay từ đầu cuộc kháng chiến

Có hai loại nghệ thuật phát triển: Ca nhạc tài tử và Tuồng

1945 đến 1954

(Dưới chế độ

Pháp)

Tuồng vùng tạm chiếm khó tồn tại, có

lẽ thuộc loại nghệ thuật cổ, nên Cải lương, kịch nói, Chèo phát triển hơn

do cuộc chiến ác liệt nên tuồng không phát triển

Thời 1945 – 1954 Tuồng tồn tại nhiều nơi diễn doanh thu, chuyên nghiệp

1955 đến 1975 Nhà nước luôn chăm

lo văn hóa nghệ thuật, cải tạo những đoàn: Kịch nói, Chèo, Tuồng, Cải lương tư nhân sang các đoàn nửa tư nhân, dần tiến đến Nhà nước hóa

Gần cuối cuộc chiến tranh, Tuồng đi xuống

Sân khấu sơ lược, ít hào hoa, lộng lẫy Trang trí sân khấu gắn với tả thực ước

lệ, tượng trưng

Sài Gòn gần cuối cuộc chiến, lòng người bất an, sân khấu khủng hoảng

đổ vỡ, chỉ còn những ban lớn: Tân Thành, Ba Ngoạn, Tám Dọi, Khánh Hồng

1975 - 2011 Phía Bắc còn hai

đoàn Tuồng : Nhà hát Tuồng Việt

Nghệ thuật Tuồng từng bước xã hội hoá,

Sài Gòn hậu chiến như mới bắt đầu, nhiều ban Tuồng tan

Trang 30

Giai đoạn Hát bội miền Bắc Hát bội miền

Trung

Hát bội miền Nam

Nam, Đoàn Tuồng Thanh Hoá, diễn doanh thu theo hợp đồng, bán vé thất thu Nhà hát Tuồng Việt Nam thường diễn về nông thôn theo hợp đồng, đôi khi bán vé doanh thu vào dịp lễ hội cùng

sự hỗ trợ địa phương

tiếp thị sân khấu Tuồng sau đổi mới suy giảm công chúng, suy giảm

số đoàn, diễn viên giảm đến mức tối thiểu

Sân khấu xuất hiện nhiều xu hướng mới, các đoàn tư nhân phát triển trở lại ngày một gia tăng

rã, chỉ còn một số đoàn Tuồng: Minh

Tơ ( Sài Gòn).Nhà nước đầu tư kinh phí cao.Tuồng,sân khấu dân tộc quan tâm động viên khích lệ dựng vở hoành tráng

Xuất hiện nhiều CLB, nhiều hình thức biểu diễn, tự đào tạo diễn viên

(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Tuấn Giang, 2013)

1.2.1.2 Đặc trưng của “Hát bội”

Trong những ngày hội hè, tế, lễ, nhân dân thường tổ chức những trò diễn xướng dân gian, nội dung thoả mãn tình cảm, nguyên vọng của dân chúng Mối quan hệ giữa sân khấu với người xem gần gũi, thân thiết, khán giả cùng giao lưu, tưởng tượng, khích lệ diễn viên sáng tạo làm cho buổi biểu diễn phong phú, hấp dẫn

và hoàn chỉnh khung cảnh nghệ thuật

Sân khấu “Hát bội” biến không thành có, biến cái hạn chế thành cái vô hạn Cùng với người diễn viên, cảnh tượng sân khấu hiện dần lên, địa điểm, thời gian vở

“Hát bội” được xác định Bằng các phương tiện hát, múa và nhạc đệm, nghệ thuật biểu diễn của diễn viên hát bội làm sáng tỏ ý nghĩa của câu chuyện, tạo ra sự khoái cảm về thẩm mỹ của trí tuệ

Trang 31

Hát bội là nghệ thuật có tính tổng hợp cao, nó là sự phối hợp một cách nhuần nhuyễn giữa văn học, âm nhạc, vũ đạo, hội họa và các trò diễn xướng dân gian Mỗi một vở hay một tiết mục hát bội đều phải dựng trên một kịch bản văn học Trong đó lời thoại và lời hát đều sử dụng các thể thơ Những kịch bản của hát bội cung đình luôn khẳng định, ca ngợi sự tất thắng của chính nghĩa, của cái thiện và đạo lý của con người Chất bi hùng đã tạo nên đặc trưng thẩm mỹ độc đáo nhất của vở Mỗi vở hát bội, mỗi nhân vật trình diễn đều là những bài học, những tấm gương về đạo lý, đặc biệt là đạo trung quân ái quốc.Trong nghiên cứu của mình, tác giả Bùi Xuân Mỹ (2017) đã nêu các đặc trưng của “Hát bội” như sau:

Âm nhạc:Gồm hai bộ phận chủ đạo là khí nhạc và thanh nhạc Khí nhạc về

cơ bản gồm các nhạc cụ dân tộc như trống chầu, trống chiến, trống lệnh, thanh la, cồng, mõ và kèn Thanh nhạc là phần hát, hát bội là sự kết hợp của: nói lối (hình thức nói cách điệu có tiết tấu, có giai điệu, thường được viết bằng chữ Nôm), nhịp phách và làn điệu Sự kết hợp đa dạng khác nhau của các yếu tố này sẽ tạo ra những nhân vật khác với tính cách, tâm trạng và hoàn cảnh khác nhau

Yếu tố hội họa: Hát bội cổ thể hiện rõ nhất trong mặt nạ và trang phục Mỗi

một nhân vật khi xuất hiện trên sân khấu đều được vẽ mặt nạ kỹ lưỡng thể hiện rõ đặc trưng của vai diễn, ví dụ tướng trung hậu có nền mặt đỏ, kẻ gian thần có nền mặt trắng, nền mặt xanh cho các vai quỷ quái hay các linh hồn, các nét vằn vện trên mặt cho các vai hung tợn bạo tàn… Vẽ mặt nạ trong hát bội có thể nói là một nghệ thuật hội họa độc đáo mang lại nhiều mỹ cảm cho người xem

Diễn xuất:Hát bội mang đậm lối diễn xướng có tính cách điệu và biểu trưng

của diễn xướng dân gian, nhưng tính cách điệu ở đây không tùy tiện mà có chuẩn mực

Tính cách điệu, tính biểu trưng:Là đặc trưng quan trọng của hát bội Tính

cách và thần thái của nhân vật được lột tả và khắc họa bằng thủ pháp khoa trương, cách điệu, từ lối đi đứng, vũ đạo, lời ca, giai điệu và các động tác hình thể khác, đặc biệt hỗ trợ cho diễn xuất của nhân vật còn có mặt nạ Mặt nạ là cách để diễn tả sâu sắc cái thần thái của nhân vật Với tính cách điển hình, nhất quán từ khi bắt đầu cho

Trang 32

đến cuối vở diễn, nhân vật luôn luôn được vẽ một mặt nạ mà chỉ cần nhìn nó người xem có hiểu biết đã dễ dàng nhận ra nhân vật ấy là tốt hay xấu, thiện hay ác

Không gian và thời gian: Được tái hiện trên sân khấu bằng thủ pháp cách

điệu một cách tài tình Hát bội không quan tâm đến việc bài trí sân khấu để tạo ra không gian như các môn kịch nghệ khác Không gian và thời gian kịch sẽ xuất hiện cùng nhân vật Ví dụ nếu nhân vật diễn những động tác trèo đèo lội suối vất vả thì khán giả sẽ tưởng tượng sân khấu lúc ấy là rừng núi, suối đèo; ánh đèn sân khấu mờ

đi, rồi sáng lên ba lần tức là anh ta đã trèo đèo, lội suối ba ngày đêm rồi Thủ pháp tái hiện không gian và thời gian độc đáo này nó làm cho vở diễn có sự tham gia tích cực của người xem Chính trí tưởng tượng của người xem đã hoàn thiện câu chuyện

mà diễn viên đang kể trên sân khấu Đặc trưng này đã tạo cho Tuồng có những khán giả say mê đến cuồng nhiệt, nếu họ xem và hiểu kỹ được vở diễn

Sự dẫn dắtngười xem: Vai trò dẫn dắt này được giao cho người cầm trống

chầu Đó là một quan chức hay một người am hiểu về hát bội Người này còn đóng vai trò như một giám khảo của đêm diễn Nếu diễn viên nào diễn hay, ông ta sẽ đánh lên mặt trống dể khen Trống thúc dồn thì tức diễn rất hay, người xem theo đó

vỗ tay nhiệt liệt; diễn dở ông ta đánh lên cạnh trống để chê Nhờ có sự dẫn dắt của

vị cầm chầu mà người xem được giáo dục cách cảm thụ vở diễn một cách gián tiếp, nhưng thường xuyên

Hát bội có nhiều vở kinh điển như Sơn Hậu, Nữ tướng Đào Tam Xuân, Triệu Đình Long cứu chúa, Nghêu Sò Ốc Hến… Một số hoạt cảnh nổi tiếng như Ông già cõng vợ chơi xuân, Hồ Nguyệt Cô hóa Cáo, Ngũ biến… đã từng là niềm say mê của nhiều thế hệ người Việt Nam

1.2.2 Di sản văn hoá phi vật thể “Bài chòi”

1.2.2.1 Lịch sử hình thành

Bài Chòi là một sản phẩm văn hóa rất độc đáo của các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và đến Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai Cho đến nay, Bài Chòi vẫn tồn tại mạnh mẽ, sâu rộng trong làng xã khắp nơi trong tỉnh Bình Định

Trang 33

Theo Ông Phan Đình Lang, tức Bốn Trang, còn gọi là Bốn Que, sinh năm

1910, ở xã Nhơn Thành, An Nhơn, Bình Định đã nói rằng hồi còn nhỏ ông đã nghe ông nội và bà con kể là Bài Chòi do ông Đào Duy Từ (1571 - 1634) ở ngoài Bắc vào Bình Định khai khẩn đất hoang, sinh cơ lập nghiệp, xây làng lập ấp Ông còn lập gánh hát Bội, dạy hát, múa Tuồng, vui trong các ngày lễ, ngày Tết và bày ra chơi Bài Chòi Từ việc làm các chòi giữ hoa màu khỏi bị heo, nai, thú rừng ăn phá, khi có thú về họ gõ mõ, gõ các dụng cụ để xua đuổi, các chòi làm gần nhau để hỗ trợ, canh gác, họ căng dây nối vào 2 ống tre, có bịt da ếch, nói vào ống, người phía

đầu ống ở chòi bên kia để tai vào ống nghe được, "Hát ống" có từ đó, ông Đào Duy

Từ mới sáng kiến bày ra trò chơi Bài Chòi trong các ngày Tết (Trần Hồng, 2003)

Nhà Âm nhạc học người Pháp tên là G.L.Bouvier đã đến Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX để nghiên cứu về các thể loại âm nhạc ở nước ta, ông Bouvier

cho rằng: “Bài Chòi được hình thành và phát triển sau những năm 1470 Nam tiến, người Việt ra sức khẩn hoang từ vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định cho tới Bình Thuận, đặc biệt đã thành công trong việc xây dựng kinh tế, văn hóa và đời sống vùng châu thổ ở Bình Định và Phú Yên rất phì nhiêu Trong số đó, có nhiều người từ nhiều địa phương có truyền thống văn hóa lâu đời, phong phú và đa dạng,

có điều kiện kết hợp nhanh chóng với nền văn hóa dân gian của địa phương, một số làn điệu dân ca, Hò, Lý, Hò chèo thuyền, Hò giã gạo, Hò đi cấy còn giữ được bản sắc ban đầu, đồng thời phát triển, sáng tạo ra các làn điệu mới”(Trần Hồng, 2003); (“Quê hương điệu hát Bài Chòi, Sài Gòn”(1974)

Đánh Bài Chòi là trò diễn xướng dân gian rất thịnh hành ở Miền Trung từ những năm đầu thập kỷ 20 cho đến sau những năm kháng chiến chống Pháp, ở các vùng tự do còn tổ chức Hát Bài Chòi, Nói Vè, Hô Lô Tô, Hát Dân ca được đưa vào các chương trình văn nghệ quần chúng để động viên, tuyên truyền các chính sách của Đảng rất đắc lực (Trần Hồng, 2003)

Trước năm 1945, hội chơi Bài chòi phát triển, nhất là ở vùng Nam Trung Bộ Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nghệ thuật Bài chòi được sử dụng khá nhiều, tham gia tích cực vào việc động viên đồng bào, chiến sỹ, đả kích kẻ

Trang 34

thù, ca ngợi những tấm gương đã góp phần vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc; trong thời gian này có người còn gọi là Bài chòi kháng chiến

Sau ngày Hòa bình được lập lại, Đoàn Văn công Liên Khu Năm tập kết ra Bắc, đã được Trung ương Đảng, Bộ Văn hóa thành lập Đoàn Ca kịch Liên Khu Năm từ năm 1956 là thành viên đứng trong đại gia đình Sân khấu Việt Nam

Ở Miền Nam, với truyền thống lấy Văn nghệ Dân gian, các điệu Hò, Vè, Bài Chòi, Dân ca để sáng tác tiết mục Văn nghệ phục vụ nhân dân và bộ đội đánh Mỹ - Ngụy cũng rất có hiệu quả, được Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng Trung Trung

Bộ, Ban Tuyên huấn khu và các Tỉnh đã thành lập các Đoàn Văn Công giải phóng phục vụ ở chiến trường Các Đoàn Văn Công giải phóng các Tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa đều có Đoàn Kịch dân

ca Bài Chòi hoạt động suốt mấy chục năm chống Mỹ - Ngụy và khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam thống nhất Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các ngành Văn hóa nghệ thuật, Các Đoàn văn công được phát huy và bảo tồn vốn văn nghệ dân gian, đậm đà bản sắc dân tộc có khoa học hiện đại và tiến bộ không ngừng (Trần Hồng, 2003)

Giai đoạn từ sau năm 1975 đến 1990, nghệ thuật Bài chòi bị mai một và đứng trước nguy cơ bị lãng quên Vào cuối năm 1990, nghệ thuật Bài chòi dần được phục hồi và đặc biệt từ năm 2010 trở lại đây, khi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

có chủ trương phục hồi thì loại hình nghệ thuật này đã nhanh chóng được vực dậy, được đông đảo người dân 9 tỉnh, thành ở Trung Bộ tổ chức hội chơi Bài chòi vào các dịp lễ Tết, đầu năm mới

1.2.2.2 Đặc trưng của “Bài chòi”

“Bài chòi” là hình thức chơi bài nhưng không mang tính sát phạt, ăn thua như ở sòng bài, mà chỉ để giải trí bằng hình thức đối đáp vui xuân Người ta đến chơi “Bài chòi” cốt để nghe hô “Bài chòi”, thưởng thức giọng hô, hát, tài ứng đối và lối diễn trò của “Hiệu” (người hô, hát chính)

Khảo sát về tập quán người Việt xưa ở vùng Trung du, miền núi, hai ông P

Huard và M Durand, các nhà nghiên cứu âm nhạc học người Pháp đã mô tả: "Thôn

Trang 35

dân ngủ đêm trên Chòi để canh heo rừng và thú dữ ra phá hoại hoa màu Trên một chòi cao của mỗi rẫy, họ làm liên hoàn các rẫy và có nhiều chòi quanh nhau, khi có thú rừng về, các chòi đều đánh mõ, khua phèng la và xua đuổi vang động khắp vùng

để hỗ trợ cho nhau Những đêm thanh vắng họ nghĩ ra các trò chơi, hát ống để giải trí và tâm tình với nhau từ chòi này qua chòi kia Từ đó họ sáng tạo ra Hô Bài Chòi, "Đánh Bài Chòi" được hình thành Qua một thời gian dài Bài Chòi đã trở thành một nhu cầu giải trí lành mạnh trong kho tàng Văn nghệ dân gian Miền Trung" (Trần Hồng, 2003)

G.L.Bôviơ, một học giả, người Ba Lan gốc Pháp từng có mặt trong nhóm nghiên cứu văn hóa Phương Đông của Bồ Đào Nha, Italia đến Việt Nam từ trước đại chiến thế giới lần thứ nhất Năm 1902, Bôviơ hoàn thành tập sách: về Hát Bài Chòi– “Voici quelques pièces Hat Bai choi tireés du Phong trao Can Vuong”, 1902.Trong tập sách của mình ông đã miêu tả “Bài chòi” như sau:

Hát Bài chòi xuất hiện ở những tụ dân cư vùng rừng núi xa xôi Tại những nơi này, từ việc xây cất nhà cửa đến việc làm ruộng, làm rẫy, săn thú đều dựa theo kinh nghiệm lâu đời của người địa phương Theo đó, nhà được dựng lên bằng hình thức “dã chiến”, có thể tháo - gỡ - lắp ráp dễ dàng mỗi khi cần chuyển vùng canh tác (du canh - du cư) Nhà càng gần rừng núi, gần dã thú càng cất thu hẹp lại và càng cao hơn ở phần chân trụ (dạng nhà sàn - ngày nay vẫn còn) Dựa vào phương tiện nhà ở và nhà chòi giữ rẫy sẵn có, người ta bày ra trò chơi Giải trí là chủ yếu, nhưng để “sát phạt - hơn thua” nhau cũng thường xảy ra Trò chơi này về sau người

ta quen gọi là “đánh Bài chòi”

Về sau, càng có nhiều ca dao, câu vè, câu thơ được lượm lặt, sưu tầm, rộng rãi hơn dành cho những dịp cạnh tranh tổ chức giữa các nhóm hò hát bài chòi với nhau Trong sự cạnh tranh nghề nghiệp đó "hát bài chòi" có lúc đã trở thành “diễn đàn văn nghệ” có tác dụng phê phán những thói hư tật xấu, ca ngợi những nét đẹp, cái hay trong xã hội lúc bấy giờ Họ làm được việc ấy dù ngẫu nhiên, song đối với các vị khoa bảng, những nhà yêu nước trong lớp người đi khai hoang - lập ấp đã chú ý và triển khai để đưa tác phẩm văn học đại chúng của mình vào “lợi thế”

Trang 36

diễn đàn này Cho tới giai đoạn hát bài chòi đã được rất nhiều người yêu chuộng, kể

cả các nhân vật quý tộc, nó không còn đơn độc với giọng hò trước đó chỉ có phần đệm bằng “bộ gõ” đơn giản (đệm bằng cặp sanh - Sanh là 2 thanh gỗ chuốt tròn giống như 2 con găng cỡ lớn) mà còn có cả đàn nhị (đàn cò) và kèn lưỡi tre Kèn này có lần người Pháp đã gọi đùa bằng tên một loại kèn xưa nhất của xứ Ả Rập (Cotarisiplet) (phát âm qua lưỡi gà, tương tự như chiếc Ascsê của Clarinét ngày nay) Phần nhạc đệm tất nhiên có trống tum (trống con) và xụp xòa làm nòng cốt

Cũng trong tập sách của mình, G.L Bôviơ có so sánh “Bài chòi” với dân ca Angêri Ở đất nước nhỏ bé đó cũng có một thể loại dân ca xuất xứ từ một trò chơi kiểu như “đánh bài chòi” của Việt Nam Nếu có khác, chỉ khác ở chỗ họ dùng những chiếc bàn con xếp vòng quanh một chiếc bàn lớn, thay vì ở Việt Nam dựng lên những chiếc chòi.Điểm giống nhất giữa hai trò chơi của hai nước này là đều dùng “hệ chu kỳ 12 con giáp” (cycle Décimal + Cycle Doudécimal) vào trong danh sách những con bài (Nguyễn Xuân Đà, 1998)

Tại Hội thảo quốc tế “Nghệ thuật bài chòi dân gian Việt Nam và những hình thức nghệ thuật tương đồng trên thế giới” tại Quy Nhơn năm 2015, GS.TS Yves Defrance (Pháp) (2015) đã so sánh bài chòi với những loại hình nghệ thuật khác

trên thế giới như sau: “Bài chòi có nhiều nét tương đồng với nghệ thuật truyền thống Âsiklik của những người hát thơ cổ ở Thổ Nhĩ Kỳ, nghệ thuật truyền thống Pansori, nghệ thuật hát kể độc diễn của Hàn Quốc hay loại hình Kutiyattam (Ấn Độ) Nhưng bài chòi là loại hình truyền thống có nguồn gốc từ một loại hình chơi bài giải trí”

1.3 Vai trò của việc khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” phục vụ du lịch

1.3.1 Vai trò về mặt kinh tế

Theo báo cáo Triển vọng Phát triển châu Á (ADO) (2017) do ngân hàng Châu Á- Thái Bình Dương (APB), dự báo nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 6,5% trong năm 2017 và 6,7% trong năm 2018, nhờ sự gia tăng hoạt động trong các lĩnh vực chế tạo, xây dựng, thương mại bán buôn và bán lẻ, ngân hàng và du lịch

Trang 37

Năm 2016, ngành dịch vụ đạt thành tích tốt, tăng trưởng đến 7,0% so với mức 6,3% năm 2015 Thành tích này là nhờ số lượng khách du lịch đến Việt Nam tăng cao đến 26.0% trong năm 2016, làm cho các dịch vụ liên quan đến du lịch tăng trưởng 6,7%

Về triển vọng kinh tế mà báo cáo này đưa ra, tăng trưởng GDP được dự báo sẽ tăng lên 6,5% trong năm 2017 và 6,7% trong năm 2018 Với tăng trưởng mạnh trong ngành công nghiệp và dịch vụ dự kiến sẽ tiếp tục được duy trì, sản lượng nông nghiệp và khai khoáng tăng nhẹ cũng đóng góp thêm vào tăng trưởng kinh tế

Đặc biệt, báo cáo chỉ rõ, tăng trưởng ngành dịch vụ vốn khá mạnh trong năm

2016 được dự báo sẽ tiếp tục xu hướng này trong năm 2017 và 2018, lượng khách

du lịch sẽ tiếp tục gia tăng nhờ có chiến dịch quảng bá du lịch điện tử mà Chính phủ Việt Nam mới triển khai gần đây

Hoạt động du lịch góp phần khơi dậy các tiềm năng nghệ thuật hát bội, bài chòi vốn giàu có và phong phú đang còn tiềm ẩn chưa được sử dụng để nâng cao giá trị văn hoá địa phương đã được Nhà nước công nhận, cần phải quảng bá cho du khách trong và ngoài nước biết Nhờ có du lịch, hằng năm trung bình từ 2 đến 3 triệu du khách quốc tế đến nước ta tham quan, họ được hiểu sâu hơn về đất nước, con người Việt Nam

1.3.2 Vai trò về mặt xã hội

Tạo môi trường giao tiếp cộng đồng lành mạnh: Không chỉ là một hình thức

sinh hoạt văn nghệ dân gian đơn thuần mà đánh “Bài chòi” còn là dịp các nghệ nhân trổ tài ứng tác và biểu diễn, vừa hát hô, đối đáp Và đặc biệt, đây còn là môi trường giao tiếp cộng đồng và là nơi nam thanh, nữ tú đến gặp gỡ, giải trí, tìm hiểu, trao duyên Hội “Bài chòi” cổ thường được tổ chức ở những nơi công cộng rộng rãi, thoáng mát như ở quảng trường phường xã,hoặc ở ngã ba đầu làng, sân đình

Giáo dục về tính thẩm mỹ, lòng yêu quê hướng đất nước, hướng con người đến với chân - thịện - mỹ: Do cả những yếu tố chủ quan và khách quan mà “Hát

bội” có những xu hướng thay đổi tương đối rõ rệt Ở các vùng quê, kinh tế kém phát triển, các đình làng không có bề dày lịch sử, diễn xướng hát bội gần như bị quên lãng, chỉ còn lại những hình thức cơ bản như thắp nhang và dâng đồ thờ cúng Ở các

Trang 38

lễ hội lớn, thu hút khách thập phương, lễ xây chầu đại bội được đầu tư rất lớn, diễn xướng chuyên nghiệp, vừa là nghi lễ, vừa là một cách thức quảng bá đầy tự hào của con người về danh tiếng của địa phương (Tuấn giang, 2013) Việc gìn giữ và nâng dần tầm vóc nghệ thuật “Bài chòi” nhằm vào mục đích tối thượng là đưa đến cho người xem những giá trị thẩm mỹ, những món ăn tinh thần quen thuộc và sự chân thiện mỹ Thông qua đó, cái hay, cái đẹp của nghệ thuật dân gian “Bài chòi” đậm chất trữ tình sâu lắng được trở về tính nguyên gốc, giữ cho được tính hồn nhiên, dân

dã Bên cạnh những giá trị về văn hóa, nghệ thuật, hát bài chòi còn mang đậm tính nhân văn, tính giáo dục về tình yêu quê hương, đất nước, yêu con người thông qua những câu hô hát (còn gọi là câu Thai)

Nâng cao thu nhập, tạo công ăn việc làm cho người dân: Việc khai thác sản

phẩm du lịch văn hóa “Hát bội”, “Bài chòi” góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp.Đóng góp của du lịch vào việc tạo ra việc làm cũng không thể

bị xem nhẹ Lao động trong ngành du lịch ngày càng tăng, đầu tư vào du lịch có

xu hướng tạo ra việc làm nhiều hơn và nhanh hơn so với đầu tư vào cáchoạt động kinh tế khác (NETO, 2003)

Để phát triển được tài nguyên du lịch ở những vùng, thường là xa xôi, hẻo lánh thì đòi hỏi phải đầu tư cơ sở hạ tầng và các dịch vụ đi kèm thiết yếu khác

Do vậy việc phát triển dẫn đến phân phối lại thu nhập và làm giảm bớt nghèo đói; đóng góp vào việc khôi phục các nghề thủ công, lễ hội và truyền thống; và cải thiện

cơ sở hạ tầng, nâng cao phúc lợi chung của xã hội (UN, 1999) Nói chung, du lịch được tin tưởng là sẽ làm giảm quá trình đô thị hóa ở các nước kinh tế phát triển

1.3.3 Vai trò về mặt văn hóa

Tính đại diện: “Hát bộ”, “Bài chòi” mang được tính đại diện cho văn hóa

vùng miền đặc sắc của miền Trung mà không phải loại hình biểu diễn nào khác có được Hội “Bài chòi” luôn được người dân miền Trung đưa vào hàng đầu danh sách những trò chơi lễ hội Xuân tại các tỉnh Nam Trung Bộ Mỗi khi có hội chơi bài chòi

là người dân trong vùng lại nô nức kéo nhau đến tham gia Và hô bài chòi cũng là thể loại dân ca độc đáo của người dân khu vực Nam Trung Bộ và riêng Bình Định

Trang 39

có Đoàn Ca ki ̣ch Bài chòi và nhà hát tuồng Đào Tấn chuyên nghiệp đại diện,nghệ thuật “Bài chòi” cũng được giao cho Bình Định đại diện lập hồ sơ trình UNESCO công nhận di sản văn hoá phi vật thể nhân loại Bình Định đã đề xuất di sản “Hát bội”, “Bài chòi” cho Bộ Vă hoá, Thể thao và Du lịch công nhận di sản phi vật thể cấp quốc gia và đã được công nhận năm 2014 (UBND tỉnh Bình Định, 2016)

Giá trị thẩm mỹ: Nghệ thuật trang điểm, trang trí cho các vai diễn của “Hát

bội” cũng mang yếu tố đặc sắc, tạo nên nét riêng cho từng nhân vật, mỗi khuôn mặt thể hiện một tính cách hết sức đặc trưng Với “Hát bội”, giá trị thẩm mỹ là sự đặc sắc của trang phục, nét hóa trang cũng như từng điệu bộ, cử chỉ trong biểu diễn Giá trị thẩm mỹ của “Bài chòi” lại là sự mộc mạc, thân quen của từng câu thơ, bài vè cũng như sự giao lưu với khán giả trong quá trình biểu diễn

Giá trị lịch sử: Trải qua hàng trăm năm dâu bể, hát bội đã ngày càng cắm rễ

trong đời sống tinh thần của người dân Không những thế, sự giao lưu, kết hợp của nghệ thuật tuồng và võ Bình Định đã đưa tuồng Bình Định lên một tầm cao mới khác lạ hơn so với các đoàn tuồng của các địa phương khác.Sinh hoạt “Bài chòi” là môi trường thực hành và sáng tạo nghệ thuật, đồng thời giúp bảo tồn vốn văn nghệ dân gian, phong cách trình diễn và các giá trị văn hóa vùng miền Các thành tố văn hóa nghệ thuật: thơ ca, âm nhạc, hội họa, ngôn ngữ, tập tục… trong “Bài chòi” được chuyển tải một cách giản dị, tự nhiên, tạo sức hấp dẫn với công chúng, trở thành sinh hoạt tinh thần thiết yếu và phổ biến khắp các huyện, thị của Bình Định Rất nhiều tục ngữ, ca dao, bài vè… liên tục được biến tấu một cách linh hoạt, diễn tả sinh động mọi cảnh đời, từ tình yêu đôi lứa đến những khúc mắc nhân tình thế thái, tạo nên sự hấp dẫn và riêng biệt của “Bài chòi” và cũng góp phần lưu giữ, phổ biến một phần của kho tàng văn học Việt Nam

Bảo tồn tài sản văn hóa của vùng miền, của cả quốc gia: Du lịch không chỉ

khai thác những giá trị văn hóa, di sản văn hóa, lịch sử của nghệ thuật hát bội, bài chòi mà còn gìn giữ, bảo tồn cho những thế hệ mai sau Điều này được thể hiện trong việc sử dụng nguồn vốn của chương trình mục tiêu văn hóa dành cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử rất hạn hẹp, thì ngành Du lịch đã hỗ trợ kinh phí đầu

Trang 40

tư, tu bổ, nâng cấp một số di tích trọng điểm tại các địa phương, góp phần làm cho những di tích ấy trường tồn với thời gian và trở thành “điểm sáng” văn hóa tại địa phương, được nhân dân mến mộ, cảm kích Ngoài ra, bằng các hoạt động của mình,

du lịch đã góp phần hỗ trợ và mở ra biên độ rộng lớn cho nghệ thuật hát bội, bài chòi hoạt động giao lưu hợp tác kinh tế, văn hóa quốc tế, nâng cao giá trị cuộc sống

từ tinh thần đến vật chất cho xã hội, cho nghệ sĩ cống hiến hết mình vì nghệ thuật

được tôn vinh, trân trọng

Giao lưu văn hóa giữa các vùng miền cũng như các khu vực: Du lịch văn

hoá làm tăng thêm tình đoàn kết, hữu nghị, mối quan hệ hiểu biết của nhân dân giữa các vùng với nhau và của nhân dân của các nước góp phần giới thiệu truyền thống

lịch sử, văn hóa dân tộc, đất nước và con người Việt Nam với bạn bè năm châu

1.4 Các nhân tốt ảnh hưởng đến khai thác di sản văn hoá phi vật thể “Hát

bội”, “Bài chòi” phục vụ phát triển du lịch

1.4.1 Nhân tố thuộc về tài nguyên

Nhân tố thuộc về tài nguyên có ảnh hưởng rất quan trọng đến việc khai thác phát triển du lịch Đối với di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi”, ở nơi nào có tài nguyên phong phú, có nguồn gốc lâu đời, dòng nhạc dân gian dễ cảm nhận, điệu bộ, hình ảnh thể hiện tích tuồng cao v.v… sẽ dễ khai thác để phát triển

và ngược lại

1.4.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật

Hệ thống cơ sở hạ tầng: Đây là nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến việc khai

thác sản phẩm du lịch Cơ sở hạ tầng có kết cấu tốt, đồng bộ sẽ thúc đẩy việc khai thác sản phẩm du lịch tốt và ngược lại Hệ thống cơ sở hạ tầng gồm các thành phần như: Hệ thống mạng lưới giao thông, các cơ sở kinh doanh phục vụ lưu trú, các cơ

sở kinh doanh phục vụ ăn uống, mạng lưới thông tin liên lạc, các dịch vụ y tế, các dịch vụ phụ trợ khác…

Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật: Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò

hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng của sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu của du

Ngày đăng: 18/10/2018, 23:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w