77 Biểu đồ 2.5: Thống kê trình độ học vấn khách du lịch đến các điểm du lịch cộng đồng tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc 79 Biểu đồ 2.6: Nghề nghiệp của khách du lịch đến các điểm du lịch cộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
Nguyễn Thị Như Tuyết
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp
đỡ của nhiều cá nhân và tập thể Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Trung Lương, thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình viết luận văn
Cảm ơn Ban quản lý Khu bảo tồn biển Phú Quốc, các chuyên gia Viện môi trường và phát triển bền vững đã tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ tôi thu thập dữ liệu
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những khóa học vừa qua
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học của trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù tôi cũng hết sức cố gắng để hoàn thành nghiên cứu, tham khảo nhiều tài liệu, trao đổi và tiếp thu nhiều ý kiến quý báu của thầy cô và bạn bè Song luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi mong nhận được ý kiến đóng góp xây dựng từ quý thầy cô và các bạn
TP Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 08 năm 2017
Học viên thực hiện Luận văn
Nguyễn Thị Như Tuyết
Trang 5TÓM TẮT
Khu bảo tồn biển Phú Quốc là vùng biển giàu tiềm năng về du lịch biển Cùng với hệ thống tài nguyên tự nhiên hoang sơ, hấp dẫn thì những đặc trưng về văn hóa truyền thống của cộng đồng dân cư sống ở các làng chài ven biển là những điểm thuận lợi thu hút lượng lớn du khách đến với Phú Quốc trong thời gian qua
Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về du lịch cộng đồng Bên cạnh đó, những tiền đề cho phát triển du lịch cộng đồng đã được làm rõ thông qua các vấn đề
về nguyên tắc, điều kiện, các thành phần quan trọng tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng và các yếu tố ảnh hưởng đến du lịch cộng đồng Về mặt thực tiễn, tác giả
đã nghiên cứu các mô hình phát triển du lịch cộng đồng trên thế giới và tại Việt Nam để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm phát triển mô hình du lịch cộng đồng phù hợp nhất để áp dụng cho Khu bảo tồn biển (KBTB) Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
Tác giả đã nghiên cứu một cách tổng quan nhất về các điều kiện cũng như thực trạng trong khai thác các yếu tố tài nguyên tự nhiên và xã hội phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế du lịch Tuy nhiên, do hoạt động du lịch cộng đồng (DLCĐ) tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc còn rất mới mẻ và mang tính tự phát nên chưa được quy hoạch một cách hợp lý - khoa học, hiệu quả về kinh tế - xã hội (KT-XH) và môi trường còn thấp, tài nguyên môi trường suy giảm Hoạt động kinh doanh thu hút khách của cộng đồng làng ven biển, đảo đang bộc lộ nhiều vấn đề như: môi trường
xả thải; giá cả hàng hóa tăng lên; tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ chưa được quan tâm; cách phân chia, đóng góp lợi nhuận về địa phương còn bị xem nhẹ
Như vậy, để phát triển du lịch cộng đồng tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc một cách đúng đắn thì rất cần những chính sách, giải pháp và việc đầu tư nghiên cứu nhằm đưa ra một mô hình du lịch cộng đồng phù hợp nhất trong điều kiện phát triển của địa phương
Tác giả đã trình bày sự cần thiết của phát triển du lịch cộng đồng tại các vùng ven biển và hải đảo với việc phân tích mô hình đã chỉ ra thực trạng các vấn đề của cộng đồng ven biển hải đảo, từ đó có làm cơ sở đưa ra các giải pháp cho việc xây
Trang 6dựng mô hình du lịch cộng đồng nhằm tạo ra một hướng sinh kế lâu dài và bền vững Cuối cùng để giải pháp được thực thi hiệu quả thì tác giả cũng đã có những kiến nghị lên các cấp quản lý nhà nước về du lịch cũng như với chính các đối tác từ công ty lữ hành và cho chính người dân sống tại các khu bảo tồn biển
Như vậy trong điều kiện cuộc sống của cộng đồng ven biển đảo ngày một khó khăn thì sự phát triển du lịch cộng đồng có thể là một hướng đi tốt rất đáng để xem xét và cũng phù hợp với xu hướng chung của du lịch Việt Nam và trên thế giới đó là phát triển du lịch bền vững
Trang 7ABSTRACT
Marine Protected Area, Is a sea of potential marine tourism Along with the wild and attractive natural resources system, the traditional cultural characteristics of the communities living in the coastal fishing villages are favorable for attracting large numbers of Visitors to Phu Quoc during the past
The author has systematized the theoretical basis of community tourism In addition, the prerequisites for community-based tourism development have been clarified through issues of principles, conditions and key stakeholders involved in community-based tourism and the influencing factors To community tourism In practical terms, the author has studied models of community-based tourism development in the world and in Vietnam to draw lessons to develop the most appropriate community-based tourism model to apply Used for Phu Quoc Marine Protected Area, Kien Giang province
The author has studied the most general overview of the conditions as well as the real situation in the exploitation of natural and social resources for the needs of economic development of tourism However, due to the fact that community-based tourism activities at Phu Quoc Marine Protected Area still new and spontaneous, they have not been properly planned - scientific, socio-economic and environmental The lower the environmental resources decline Business activities attracting guests of coastal village communities are exposed to many issues such as environmental discharge; Commodity prices rise; Service quality standards have not been paid attention; The way to divide, profit contribution to local are also overlooked
Thus, in order to develop community-based tourism in the Phu Quoc Marine Protected Area in a sound manner, policies, solutions, and research investments are needed to provide the best possible community-based model of community tourism Conditions of local development
The author presents the need for community-based tourism development in coastal and island areas, along with an analysis of the DPSIR model that identifies
Trang 8the current status of coastal island communities, the facility offers solutions for building a community-based tourism model that creates a long-term and sustainable path Finally, in order for the solution to be effectively implemented, the author also made recommendations to the state authorities in tourism as well as to the partners from the tour operator and the people living in the area Marine conservation
Thus, living conditions of coastal communities are becoming increasingly difficult., the development of community tourism can be a good way to consider and also in line with the general trend of tourism in Vietnam And in the world, it is sustainable tourism development
Trang 9MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Phương pháp thu thập số liệu 3
4.2 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 5
5.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 5
5.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu 5
6 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 7
1.1 Các vấn đề cơ bản về du lịch cộng đồng 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Vai trò của du lịch cộng đồng 10
1.1.3 Các thành phần tham gia vào mô hình du lịch cộng đồng 11
1.1.4 Nguyên tắc chủ yếu của du lịch cộng đồng 17
1.1.5 Các điều kiện cơ bản để phát triển du lịch cộng đồng 18
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến du lịch cộng đồng 20
1.3 Bài học kinh nghiệm trong phát triển du lịch cộng đồng ở một số nước Asian và tại Việt Nam 21
1.3.1 Các mô hình trong phát triển du lịch cộng đồng ở Indonesia và Malaysia 21 1.3.2 Một số mô hình trong phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam 26
Trang 101.3.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ các mô hình phát triển du lịch cộng đồng tại
các nước Asian và Việt Nam 31
1.4 Tổng quan các nghiên cứu liên quan trong nước và ngoài nước 33
Tóm tắt chương 1 36
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI KHU BẢO TỒN BIỂN PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG 37
2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu: Khu bảo tồn biển Phú Quốc 37
2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên 37
2.1.1.1 Khái quát chung 37
2.1.1.2 Khí hậu 39
2.1.1.3 Thủy văn 41
2.1.1.4 Đa dạng sinh học 42
2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 42
2.1.2.1 Khái quát chung 42
2.1.2.2 Đặc điểm về hạ tầng và cơ sở vật chất k thật 45
2.1.3 Khái quát về Ban quản lý Khu bảo tồn biển Phú Quốc 47
2.1.3.1 Nguồn nhân lực 47
2.1.3.2 Các yếu tố cơ sở vật chất k thuật 48
2.1.3.3 Nguồn lực về tài chính 49
2.2 Thực trạng phát triển du lịch cồng đồng ở Khu bảo tồn biển Phú Quốc 52
2.2.1 Tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng ở Khu bảo tồn biển Phú Quốc 52 2.2.2 Thực trạng hoạt động du lịch tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc 56
2.2.2.1 Về công tác quản lý nhà nước 56
2.2.2.2 Về hoạt động kinh doanh du lịch 57
2.2.2.3 Về hệ thống cơ sở vật chất k thuật du lịch 58
2.2.2.4 Về nguồn nhân lực du lịch 60
2.2.2.5 Về sinh kế của cộng đồng 60
2.2.2.6 Về hoạt động đầu tư phát triển du lịch 62
2.2.2.7 Về sự suy giảm tài nguyên, môi trường du lịch 63
Trang 112.2.2.8 Về hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch 68
2.2.3 Kết quả khảo sát điều tra 70
2.2.4 Đánh giá chung về hoạt động phát triển du lịch cộng đồng tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc 81
2.2.4.1 Thuận lợi 81
2.2.4.2 Khó khăn và tồn tại 82
Tóm tắt chương 2 84
Chương ĐỊNH HƯỚNG V GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI KHU BẢO TỒN BIỂN PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG 85 3.1 Cơ sở khoa học cho việc xây dựng mô hình phát triển du lịch cộng đồng ở Khu bảo tồn biển Phú Quốc 85
3.1.1 Sự cần thiết cho việc xây dựng mô hình du lịch cộng đồng 85
3.1.2 Phân tích mô hình DPSIR làm cơ sở khoa học trong việc đưa ra phương án phát triển du lịch cộng đồng tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc 86
3.2 Các giải pháp nhằm phát triển mô hình du lịch cộng đồng tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc 91
3.2.1 Giải pháp đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất k thuật du lịch 91
3.2.2 Giải pháp về công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng cùa du lịch cộng đồng 92
3.2.3 Giải pháp bảo vệ và tôn tạo nguồn tài nguyên du lịch 94
3.2.4 Giải pháp xúc tiến quảng bá du lịch cộng đồng tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc 96
3.2.5 Giải pháp về đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho du lịch cộng đồng
98
3.2.6 Giải pháp cho việc chia sẻ công bằng lợi ích giữa các bên tham gia 100
3.2.7 Giải pháp cơ chế, chính sách quản lý phù hợp 101 Một số kiến nghị ……… 103
Trang 12.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ……… 103
3.3.2 Đối với các doanh nghiệp lữ hành du lịch, các cơ sở cung ứng dịch vụ du lịch 104
3.3.3 Đối với cộng đồng dân cư vùng ven biển và hải đảo 104
Tóm tắt chương 3 105
PHẦN KẾT LUẬN 106
T I LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC
Trang 13DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU V CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tiếng Việt
LPMA
Sustainable Livelihoods in and around Marine Protected Areas (Hợp phần sinh kế bền vững bên trong và xung quanh các khu vực bảo tồn biển Việt Nam)
Trang 14DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH, BIỂU ĐỒ V SƠ ĐỒ A.DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tình hình hoạt động Homestay tại 5 Bang/ Tỉnh của Malaysia 24
Bảng 2.1: Báo cáo nguồn vốn ngân sách cấp cho hoạt động bảo tồn biển giai
Bảng 2.4: Báo cáo tình hình hoạt động du lịch giai đoạn 2006-2015 59
Bảng 2.6: Những vấn đề được cộng đồng dân cư quan tâm khi tham gia hoạt
Trang 15Biểu đồ 2.4: Các kênh thông tin ảnh hưởng đến việc lựa chọn các điểm
du lịch cộng đồng biển đảo tại Phú Quốc
77
Biểu đồ 2.5: Thống kê trình độ học vấn khách du lịch đến các điểm du
lịch cộng đồng tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc
79
Biểu đồ 2.6: Nghề nghiệp của khách du lịch đến các điểm du lịch cộng
đồng tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc
Sơ đổ 3.2: Sơ đồ mô hình DPSIR cho nghiên cứu phát triển du lịch
cộng đồng tại Khu bảo tồn biển Phú Quốc
87
Trang 16mà kinh tế khó có điều kiện phát triển
Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân mà cộng đồng địa phương sinh sống tại các điểm đến du lịch bị mất lợi thế về kinh tế, xã hội, chính trị trong các hoạt động phát triển du lịch Do vậy sự tham gia của cộng đồng địa phương như một bên tham gia, một đối tác của ngành du lịch là một yêu cầu phát triển mới nhằm đảm bảo những cân bằng về lợi ích giữa các bên tham gia: Nhà nước – Các doanh nghiệp – Cộng đồng – Du khách để hướng tới một sự phát triển bền vững trong tương lai Hoạt động bảo tồn thiên nhiên gắn với phát triển du lịch cộng đồng (DLCĐ) sẽ góp phần xoá đói giảm nghèo, giúp cho cộng đồng cư dân địa phương sống không lệ thuộc vào thiên nhiên Khi cuộc sống ổn định họ sẽ hạn chế khai thác (tác động) thiên nhiên, môi trường Thiên nhiên được bảo vệ với nhiều cảnh quan đẹp lại tạo ra sức thu hút đối với khách du lịch … và đó chính là cách tiếp cận để phát triển du lịch bền vững mà nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đã và đang hướng tới Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đã xác định Phú Quốc là trung tâm du lịch sinh thái chất lượng cao tầm cỡ khu vực và quốc tế (Chính phủ, 2010) Chính vì vậy việc bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đa dạng sinh học là rất quan trọng Vùng biển Phú Quốc được đánh giá là một ngư trường giàu có với trữ lượng lớn các loài thủy sản: Tôm, ghẹ, cua, trai ngọc, … Bên cạnh đó, vùng biển này còn có những rạn san hô và thảm cỏ biển, là những hệ sinh thái có tính đa dạng
Trang 17sinh học cao, có giá trị lớn về kinh tế, khoa học và môi trường Để bảo vệ tính đa dạng sinh học, nhất là những rạn san hô và thảm cỏ biển, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Kiên Giang đã thành lập Khu bảo tồn biển (KBTB) Phú Quốc nhằm bảo tồn, tổ chức khai thác giá trị tài nguyên và môi trường vùng biển này theo đúng quy định của pháp luật, gồm 2 khu vực: khu phía Đông Bắc đảo Phú Quốc và khu phía Nam quần đảo An Thới KBTB Phú Quốc là một trong hệ thống 12 khu bảo tồn biển hiện nay ở Việt Nam và là một trong những vùng lõi của Khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang với nhiều hệ sinh thái (HST) biển điển hình như rạn san hô, cỏ biển và tính
đa dạng sinh học cao, trong đó có nhiều loài sinh vật quý hiếm, đặc biệt là có loài Dugon (Bò biển) và rùa biển
Hiện nay đa dạng sinh học ở KBTB Phú Quốc đã và đang bị suy thoái bởi tác động của hoạt động phát triển kinh tế xã hội (KT-XH), trong đó có tác động sinh kế truyền thống của cộng đồng Tác động của chất thải sinh hoạt từ các khu dân cư, dư thừa thuốc trừ sâu và phân hoá học từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp, thức ăn
dư thả từ bè nuôi trồng thuỷ sản và đặc biệt là hoạt động đánh bắt thuỷ sản, khai thác rạn san hô, cỏ biển của dân cư sống ở vùng đệm KBTB đã đe doạ trực tiếp đến
đa dạng sinh học cũng như môi trường sống (sinh cảnh) của nhiều loài sinh vật quý hiếm, thậm chí là Bò biển (Dugon), rùa biển, … ở KBTB
Một nguyên nhân quan trọng của tình trạng trên được xác định là do cuộc sống của người dân ở vùng đệm KBTB Phú Quốc cho đến nay chủ yếu vẫn dựa vào sinh
kế truyền thống là nông nghiệp và đánh bắt thuỷ sản cho dù du lịch ở Phú Quốc nói chung và tại KBTB Phú Quốc nói riêng tương đối phát triển Nói một cách khác cho đến nay ở KBTB Phú Quốc vẫn chưa có được mô hình phát triển sinh kế mới, đặc biệt là sinh kế dựa vào du lịch cho cộng đồng, để cộng đồng có thể có được cơ hội chuyển đổi sinh kế và nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống và qua đó giảm sức ép đến môi trường và đa dạng sinh học Chính vì vậy cần thiết phải nghiên cứu và phát triển mô hình du lịch mà ở đó người dân có thể tham gia, chuyển đổi sinh kế và hưởng lợi từ du lịch
Trang 18Hiện nay đã có rất nhiều nghiên cứu ở cả trong nước và trên thế giới đã chứng minh được rằng cộng đồng địa phương đóng góp một phần không nhỏ vào phát triển các dịch vụ cung cấp cho khách du lịch, góp phần bảo vệ tài nguyên môi trường và là chủ thể để phát triển du lịch Tuy vậy, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể về mô hình DLCĐ tại KBTB Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Vì vậy để giải quyết các vấn đề nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài:
“Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở Khu Bảo tồn biển Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang” cho hướng nghiên cứu của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Phát triển du lịch cộng đồng ở Khu bảo tồn biển Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
2.2 Mục tiêu cụ thể
-Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về du lịch cộng đồng
-Đánh giá thực trạng của du lịch cộng đồng ở Khu bảo tồn biển Phú Quốc
-Đề xuất các giải pháp để phát triển du lịch cộng đồng
3 Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Từ nghiên cứu thực trạng để đưa ra các giải pháp phát triển du lịch cộng đồng
ở Khu bảo tồn biển Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Trang 19* Số liệu thứ cấp
Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát và thu thập tài liệu: Đây là phương pháp truyền thống nhằm thu thập các số liệu thứ cấp đáng tin cậy nhằm đánh giá các nguồn lực để phát triển du lịch nói chung và phát triển mô hình DLCĐ nói riêng tại địa bàn nghiên cứu Nguồn thông tin được thu thập từ các đề tài nghiên cứu, báo cáo khoa học của các sở, ban, ngành, địa phương, sách báo và các phương tiện truyền thông
* Số liệu sơ cấp:
Dựa trên kết quả của nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng sẽ được thực hiện bằng cách tiến hành thu thập số liệu nghiên cứu thông qua điều tra, khảo sát bằng bảng câu hỏi kèm theo thang đo Sau khi bảng câu hỏi khảo sát được tiến hành qua các bước:
- Thực hiện việc điều tra khảo sát
- Nhận kết quả điều tra khảo sát
- Xử lý số liệu khảo sát trên phần mềm Excel để tính toán tần suất làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng trong chương 2 và đề ra giải pháp ở chương 3
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra khảo sát và thu thập tài liệu:
Đây là phương pháp truyền thống nhằm thu thập các số liệu thứ cấp đáng tin cậy nhằm đánh giá các nguồn lực để phát triển du lịch nói chung và phát triển DLCĐ nói riêng tại địa bàn nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp và đánh giá:
Được sử dụng để thống kê, so sánh, đánh giá các số liệu thực trạng phát triển du lịch thông qua các chỉ tiêu thống kê ngành Thông qua việc phân tích, so sánh, tổng hợp, mô hình hoá và cân đối: các dữ liệu thu thập từ các phương pháp trên sẽ được
xử lý, sắp xếp một cách hợp lý, hệ thống nhằm đảm bảo tính chính xác, logic, xúc tích khoa học, giáo dục và thực tiễn nhằm xây dựng mô hình lý thuyết
Trang 20- Phương pháp chuyên gia:
Để thực hiện đề tài luận văn, tác giả có tham vấn ý kiến của nhiều chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực du lịch nói chung và DLCĐ nói riêng
- Phương pháp thực địa:
Nhằm mục đích kiểm tra chỉnh lý và bổ sung tư liệu; đối chiếu và lên danh mục
cụ thể các đối tượng nghiên cứu; sơ bộ đánh giá các thực trạng trong chương 2 Tác giả đã sử dụng phương pháp điều tra xã hội học dựa vào các bảng câu hỏi đóng/ mở nhằm khảo sát ý kiến của cộng đồng cư dân, du khách, công ty lữ hành về các vấn đề cho phát triển DLCĐ tại địa bàn nghiên cứu Sau đó xử lý các số liệu sơ cấp thu thập và thông qua các phần mềm Excel làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng trong chương 2 và đề ra giải pháp ở chương 3
5 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
5.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Việc xây dựng mô hình, các kiến nghị và tìm ra giải pháp phát triển DLCĐ nhằm giảm áp lực cho môi trường tự nhiên do chính cộng đồng tạo nên, tạo thêm sinh kế, cơ hội việc làm cho cộng đồng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong nghiên cứu khoa học, góp phần phát triển kinh tế xã hội
Đề tài góp phần củng cố những lý luận về DLCĐ cho việc phát triển DLCĐ các vùng ven biển, các KBTB
5.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu góp phần giúp KBTB Phú Quốc có cái nhìn nhận tổng quan
về công tác phát triển du lịch cộng đồng
Khảo sát về nhu cầu cho phát triển DLCĐ và khảo sát đánh giá nguồn lực thực tiễn phát triển DLCĐ tại KBTB Phú Quốc, các KBTB khác có thể tham khảo kết quả nghiên cứu của đề tài trong quá trình nghiên cứu nâng cao về mô hình du lịch cộng đồng tại địa phương mình
Trang 216 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận gồm ba chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch cộng đồng
Chương 2 Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại khu bảo tồn biển Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
Chương 3 Định hướng và giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở khu bảo tồn biển Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
Trang 22Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Theo Nicole Hausle và Wolffang Strasdas (2000): “Du lịch cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương”
Ở Thái Lan khái niệm Community Based Tourism - Du lịch dựa vào cộng đồng được định nghĩa: “DLCĐ là du lịch có tính đến tính bền vững về mặt môi trường, văn hóa và xã hội Nó do chính cộng đồng quản lý và làm chủ vì lợi ích của cộng đồng vì mục đích tạo cho du khách có khả năng nhận thức và tìm hiểu về cộng đồng
và lối sống của cộng đồng” (REST, 1997)
Còn Tổ chức mạng lưới du lịch cộng đồng vì người nghèo đã nêu: “DLCĐ là một loại hình du lịch bền vững thúc đẩy các chiến lược vì người nghèo trong môi trường cộng đồng Các sáng kiến của DLCĐ nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia của người dân địa phương vào việc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như một phương tiện giảm nghèo và mang lại thu nhập thay thế cho cộng đồng Các sáng kiến của DLCĐ còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phương cũng như các di sản thiên nhiên” (Dauglas Hainsworth, Walter Jamieson, 2007)
Trang 23Tại Việt Nam, cũng có nhiều nhà nghiên cứu đề cập về DLCĐ Tác giả Võ Quế (2006) đã nhìn nhận: “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên” Bên cạnh nội dung xem xét phát triển DLCĐ là phương thức góp phần đẩy mạnh tính hiệu quả trong công tác bảo tồn, tác giả Bùi Thị Hải Yến (2012) còn đề cập đến việc tham gia của cộng đồng địa phương như sau: “DLCĐ có thể hiểu là phương thức phát triển bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch Cộng đồng nhận được sự hợp tác, h trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế; của chính quyền địa phương cũng như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn khai thác tài nguyên môi trường du lịch bền vững, đáp ứng các nhu cầu du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách”
Ngoài ra còn nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau, tuy nhiên có thể thống nhất
và hiểu du lịch cộng đồng là loại hình du lịch bền vững dựa vào cộng đồng địa phương Du lịch cộng đồng là một cách tiếp cận nhằm tạo ra lợi nhuận cao nhất cho người dân địa phương, những người sử dụng du lịch như một công cụ tạo nguồn lợi kinh tế Du khách phải trả tiền khi họ đến tham quan khu vực và khoản tiền này được sử dụng để bảo vệ các di sản văn hoá và thiên nhiên và giúp phát triển KT-XH của địa phương đó
Căn cứ vào những nội hàm về du lịch cộng đồng kể trên, Phạm Trung Lương (2010) đã đưa ra khái niệm tổng quát:
“Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mang lại cho du khách những trải nghiệm về bản sắc cộng đồng địa phương, trong đó cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch, được hưởng lợi ích KT-XH từ hoạt động du lịch và
có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên, môi trường, bản sắc văn hóa của cộng đồng”
Trang 24Mức độ tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch khác nhau tùy thuộc vào vai trò của cộng đồng:
Mức độ thụ động: Đây là mức độ thấp nhất đối với sự tham gia của cộng đồng,
theo đó cộng đồng chỉ được xem là đối tượng du lịch (tài nguyên) và hầu như không
có vai trò gì đối với hoạt động phát triển du lịch Trong trường hợp này các công ty
du lịch sẽ đưa điểm quần cư cộng đồng với những yếu tố chính là con người, lối sống cộng đồng, văn hóa, tín ngưỡng, kiến trúc quần cư, .) vào chương trình du lịch và coi đó là một điểm đến để đưa khách đến tham quan, tìm hiểu, trải nghiệm
về con người, văn hóa, lối sống của cộng đồng Cộng đồng không có vai trò gì (tham gia thụ động) đối với kế hoạch phát triển du lịch và hầu như không được hưởng lợi ích từ hoạt động du lịch Hoạt động du lịch trong trường hợp cộng đồng tham gia một cách thụ động thường được gọi là “Du lịch tham quan cộng đồng”
Mức độ tham gia: theo đó cộng đồng tham gia cung cấp một số dịch vụ (bán
hàng lưu niệm, dịch vụ ăn uống, ) tại điểm du lịch nơi cộng đồng sinh sống và qua
đó được hưởng một số lợi ích về vật chất Trong trường hợp này, ngoài vai trò là
“tài nguyên” như trên, cộng đồng đã có vai trò nhất định trong hoạt động du lịch và được hưởng một phần lợi ích trong chu i giá trị du lịch Hoạt động du lịch trong trường hợp này thường được gọi là “Du lịch có sự tham gia của cộng đồng”
Mức độ chủ động: Đây là mức độ cao nhất đối với sự tham gia của cộng đồng,
theo đó cộng đồng là chủ thể tổ chức và cung cấp dịch vụ và qua đó sẽ đêm đến cho
du khách những trải nghiệm tốt về cộng đồng, về những giá trị tự nhiên và văn hóa nơi cộng đồng sinh sống Trong trường hợp này các công ty du lịch sẽ chỉ đóng vai trò là đối tác của cộng đồng Cộng đồng vừa có vai trò là “tài nguyên” vừa đóng vai trò là người tổ chức khai thác chính các giá trị “tài nguyên” đó Trong trường hợp này hoạt động du lịch thường được gọi là “Du lịch dựa vào cộng đồng” hay “Du lịch cộng đồng” Du lịch cộng đồng chính là hình thức nơi đảm bảo mức độ tham gia cao nhất của cộng đồng vào hoạt động du lịch Tên gọi “Du lịch dựa vào cộng đồng” thường được sử dụng trong trường hợp muốn nhấn mạnh đến hình thái tổ chức hoạt động du lịch, theo đó cộng đồng là chủ thể tổ chức và cung cấp dịch vụ
Trang 25du lịch; còn tên gọi “Du lịch cộng đồng” thường được sử dụng trong trường hợp chủ thể tổ chức và đối tượng du lịch trung tâm (tài nguyên chính tại điểm đến) là cộng đồng
Như vậy các nhà nghiên cứu dự án cần đảm bảo rằng, cộng đồng địa phương có thể phát huy được vai trò của mình vào công tác quản lý du lịch, đưa du lịch trở thành giải pháp đáp ứng nhu cầu phát triển địa phương Từ đó, có thể tiếp tục tạo ra những sản phẩm, dịch vụ du lịch tiêu biểu thông qua đặc điểm nổi bật của cộng đồng
Góp phần để cộng đồng, đặc biệt là những người dân chưa có điều kiện trực tiếp tham gia vào các dịch vụ du lịch, được hưởng lợi từ việc phát triển hạ tầng du lịch (giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông, ) Đây cũng sẽ là yếu tố tích cực để đảm bảo sự công bằng trong phát triển du lịch, một trong những nội dung quan trọng của phát triển du lịch bền vững;
Góp phần tạo cơ hội việc làm cho cộng đồng và qua đó sẽ góp phần làm thay đổi cơ cấu, nâng cao trình độ lao động khu vực này Đây sẽ là yếu tố quan trọng góp phần hạn chế được dòng di cư của cộng đồng từ khu vực nông thôn ra khu vực thành thị, ổn định xã hội đảm bảo cho phát triển bền vững chung;
Phát triển du lịch cộng đồng sẽ góp phần tích cực trọng việc phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nghề truyền thống, vì vậy có đóng góp cho phát triển du lịch bền vững từ góc độ tài nguyên, môi trường du lịch;
Phát triển du lịch cộng đồng sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh giao lưu văn hóa và kế đến là giao lưu kinh tế giữa các vùng miền, giữa Việt Nam với các dân tộc trên thế
Trang 26giới Đây cũng sẽ là yếu tố quan trọng trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam đồng thời tạo cơ hội để phát triển kinh tế ở những vùng còn khó khăn, đảm bảo sự phát triển bền vững nói chung, du lịch nói riêng
Với những tác động tích cực trên, việc đẩy mạnh phát triển du lịch nói chung,
du lịch cộng đồng nói riêng sẽ có vai trò rất quan trọng trong phát triển bền vững ở Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ người dân sống ở vùng nông thôn ở Việt Nam còn cao, chiếm tới hơn 70% dân số cả nước, và tỷ lệ hộ đói nghèo cũng còn khá cao
1.1 ác thành ph n tham gia vào m h nh du lịch cộng đồng
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, vì vậy các thành phần tham gia hoạt động phát triển du lịch, trong đó bao gồm cả du lịch cộng đồng, là khá đa dạng Để có thể xác định được đầy đủ và có tính hệ thống về các đối tác tham gia hoạt động du lịch cần được xem xét từ mối quan hệ cung - cầu, mối quan hệ nền tảng của ngành kinh tế trong cơ chế thị trường Theo Phạm Trung Lương (2010) các thành phần tham gia vào mô hình du lịch cộng
Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch: bao gồm các nhà quản lý nhà nước về
du lịch ở trung ương và địa phương
Các cơ quan/tổ chức tư vấn phát triển du lịch: bao gồm các tổ chức (viện, trường, ) nghiên cứu, tư vấn các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch (tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, thị trường - sản phẩm du lịch, đầu tư du
Trang 27lịch, ), quy hoạch phát triển du lịch, …; Các tổ chức này có thể là tổ chức nhà nước, tư nhân hoặc phi chính phủ;
Các doanh nghiệp du lịch: có thể là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp cổ phần/liên doanh trong các lĩnh vực dịch vụ du lịch như lưu trú, lữ hành, vận chuyển khách du lịch và các dịch vụ có liên quan khác Trong xu thế hội nhập hiện nay, doanh nghiệp du lịch có thể là doanh nghiệp liên doanh/cổ phần với đối tác nước ngoài hoặc 100% vốn nước ngoài theo những điều khoản mà Việt Nam cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO);
Các chủ sở hữu/chủ quản lý tài nguyên du lịch: là các tổ chức, cá nhân có quyền quản lý hoặc sở hữu các tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch
tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn (vật thể và phi vật thể) Trong thực tế
có những dạng tài nguyên rất có giá trị, hấp dẫn khách du lịch như các sinh hoạt (văn hóa hoặc đời sống) truyền thống, các lễ hội truyền thống, do cộng đồng tự quản lý (theo nghĩa duy trì và phát triển)
1.1.3.2 Các thành phần tham gia hoạt động du lịch từ góc độ “cầu” du lịch
Khách du lịch là thành phần tham gia hoạt động du lịch với tư cách là những người “tiêu thụ” sản phẩm du lịch tại những nơi những sản phẩm này được xây dựng và “bán” Điều 34, Luật Du lịch đã xác định rõ khách du lịch bao gồm:
+ Khách du lịch quốc tế: là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch
+ Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam (Quốc hội, 2005) Đây là thành phần tham gia có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động du lịch bởi nếu thiếu thành phần này, hoạt động du lịch sẽ không tồn tại
Ngoài những đối tác thuộc 2 nhóm đối tác chính tham gia hoạt động du lịch, một
số đối tác có liên quan:
Trang 28 Các cơ quan quản lý nhà nước ở các lĩnh vực có liên quan đến phát triển du lịch như giao thông vận tải, nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài nguyên
và môi trường, văn hóa,
Các tổ chức quốc tế như Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Chương trình Phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP), …
Các tổ chức phi chính phủ (NGO): thường là các tổ chức h trợ cho các nước đang phát triển các dịch vụ tư vấn về kinh nghiệm, phát triển các mô hình về phát triển du lịch bền vững Những tổ chức hiện đang có những đóng góp tích cực cho phát triển du lịch ở Việt Nam bao gồm: Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV), Tổ chức bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), Qu Bảo tồn Động vật Hoang dã (WWF), …
1.1.3.3 Vai trò của các thành phần tham gia hoạt động phát triển du lịch cộng đồng
Tùy thuộc vào vị trí của mình trong hoạt động phát triển du lịch, m i đối tác tham gia hoạt động phát triển du lịch cộng đồng đều có vai trò nhất định Vai trò này cũng có thể sẽ có những thay đổi phụ thuộc vào hoàn cảnh phát triển chung của
du lịch Việt Nam cũng như hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương
Vai trò cụ thể của từng thành phần bao gồm:
- Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch
Vai trò chủ yếu của thành phần này đối với phát triển du lịch cộng đồng là hoạch định chính sách, tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi cho du lịch cộng đồng phát triển Các chính sách này có thể là các chính sách ở tầm vĩ mô mang tính quốc gia, song cũng có thể là các chính sách đặc thù mang tính địa phương, phù hợp với chủ trương, định hướng chung của Đảng và Nhà Nước về phát triển KT-XH
và du lịch của đất nước
Vai trò này là rất quan trọng bởi nó tạo nền tảng cho du lịch cộng đồng phát triển, đặc biệt trong bối cảnh phần lớn những nơi cộng đồng sinh sống hiện đang còn nhiều khó khăn, hạn chế trong phát triển; khả năng thu hút đầu tư cho phát triển
du lịch cộng đồng còn nhiều hạn chế
Trang 29Bên cạnh vai trò xây dựng chính sách, môi trường pháp lý cho phát triển du lịch cộng đồng, thành phần này cũng sẽ thực hiện chức năng giám sát, quản lý đối với các hoạt động phát triển của du lịch cộng đồng, đảm bảo những hoạt động này phù hợp với những quy định hiện hành của nhà nước không chỉ trong lĩnh vực du lịch mà còn trong những lĩnh vực có liên quan khác mà hoạt động phát triển du lịch cộng đồng có khả năng gây ra những tác động như tài nguyên, môi trường, văn hóa,
xã hội, …
Vai trò của đối tác này còn được thể hiện ở trách nhiệm tạo dựng hình ảnh của
du lịch cộng đồng ở Việt Nam trên thị trường quốc tế Nói một cách khác cơ quan quản lý nhà nước về du lịch có vai trò rất quan trọng trong hoạt động xúc tiến điểm đến của du lịch Việt Nam, trong đó có du lịch cộng đồng, để thu hút khách
du lịch quốc tế
Tổng cục Du lịch trước đây và nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch là cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở cấp trung ương; sở quản lý nhà nước về du lịch
ở các địa phương chính là những thành phần này
- Các cơ quan/tổ chức tư vấn phát triển du lịch
Là thành phần có vai trò quan trọng đối với hoạt động phát triển du lịch cộng đồng bởi những đối tác này giúp cụ thể hóa các chính sách, định hướng phát triển thông qua việc xây dựng các đề án/dự án quy hoạch, phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng và tiếp cận với thị trường
Các cơ quan/tổ chức này luôn cập nhật những thông tin, quan điểm phát triển
để chuyển thành những phương án cụ thể trong phát triển du lịch cộng đồng đối với từng lãnh thổ địa lý, phù hợp với định hướng phát triển KT-XH của từng vùng miền, từng địa phương cụ thể
Trong nhiều trường hợp, những thành phần này sẽ giúp các nhà đầu tư phân tích lựa chọn các phương án phát triển mô hình hợp lý nhất để khai thác có hiệu quả những giá trị tài nguyên du lịch trên địa bàn nơi du lịch cộng đồng phát triển phục
vụ cho nhiều mục tiêu phát triển
Trang 30Các cơ quan/tổ chức tư vấn còn thực hiện các nghiên cứu đánh giá các giá trị tài nguyên, thực trạng môi trường và tác động môi trường cho từng phương án phát triển du lịch cộng đồng trên những địa bàn cụ thể, góp phần đảm bảo phát triển du lịch cộng đồng bền vững Đây là những vấn đề mà các đối tác tham gia khác ít có năng lực để thực hiện
- Các doanh nghiệp du lịch
Là thành phần quan trọng trong hoạt động đầu tư phát triển các sản phẩm du lịch cộng đồng, cung cấp các dịch vụ du lịch cộng đồng có liên quan nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của du khách
Tất nhiên việc xây dựng, phát triển các sản phẩm và các dịch vụ có liên quan
sẽ được dựa trên kết quả hoạt động của các thành phần đã phân tích trên Tuy nhiên các doanh nghiệp du lịch có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển du lịch nói chung và phát triển du lịch cộng đồng nói riêng bởi đối tác này trực tiếp tham gia vào quá trình “cung” các sản phẩm du lịch cộng đồng cụ thể
Các doanh nghiệp lữ hành, ngoài chức năng cung cấp các dịch vụ lữ hành còn
có chức năng quan trọng là quảng bá các sản phẩm du lịch cộng đồng tới khách hàng (khách du lịch) thông quan văn phòng đại diện, các đại lý lữ hành của mình Đây là vai trò quan trọng có tính “kết nối” giữa “cung” và “cầu” tạo ra một công đoạn liên tục trong hoạt động phát triển du lịch cộng đồng
- Các chủ sở hữu/chủ quản lý tài nguyên du lịch
Về bản chất đây chính là cộng đồng nơi phát triển loại hình du lịch cộng đồng Đây thực sự là các “đối tác” của các doanh nghiệp du lịch bởi việc xây dựng, phát triển các sản phẩm chỉ có thể thực hiện trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch
Hiện nay còn tồn tại những mâu thuẫn/xung đột trong hoạt động phát triển du lịch nói chung, phát triển du lịch cộng đồng nói riêng từ góc độ khai thác và bảo tồn các giá trị tài nguyên du lịch Những xung đột này hiện còn tồn tại ở cả tầm vĩ mô
và vi mô và ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển du lịch Chính vì vậy vai trò của
Trang 31những chủ thể này là rất quan trọng và cần được quan tâm thỏa đáng trong quá trình hoạt động phát triển du lịch cộng đồng ở bất cứ quy mô nào
- Khách du lịch
Được xem là một trong hai “vế” của hoạt động phát triển du lịch cộng đồng Vai trò chính của khách du lịch là “tiêu thụ” các sản phẩm du lịch được tạo ra phù hợp với nhu cầu của bản thân mình
Với vai trò này, có thể khẳng định du lịch nói chung, du lịch cộng đồng nói riêng không thể tồn tại nếu sự “tham gia” của đối tác này
Tuy nhiên một vấn đề quan trọng cần được đề cập bên cạnh vai trò trên là vai trò “phản biện” đối với các sản phẩm và các dịch vụ bổ sung có liên quan được tạo
ra trong quá trình hoạt động phát triển du lịch cộng đồng Nếu thiếu sự phản biện của đối tác này, các sản phẩm du lịch và các dich vụ có liên quan khác không thể hoàn thiện và tiệm cận với nhu cầu của thị trường và vì vậy sẽ không thể phát triển được như mong muốn Nói một cách khác khách du lịch có vai trò quan trọng trọng việc góp phần đảm bảo sự phát triển du lịch cộng đồng bền vững thông qua vai trò
“phản biện” của mình
- Các cơ quan quản lý nhà nước ở các lĩnh vực có liên quan đến phát triển
du lịch:
Hoạt động du lịch sẽ không thể phát triển nếu thiếu sự tham gia của các đối tác
có liên quan như giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, … Vai trò của các đối tác này lại càng trở nên quan trọng đối với hoạt động phát triển
du lịch cộng đồng bởi thông thường laọi hình này phát triển trên những địa bàn còn nhiều hạn chế, khó khăn trong phát triển
- Các tổ chức quốc tế
Hoạt động du lịch không thể thiếu sự hợp tác, h trợ và chia sẻ kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) Điều này là thực tế bởi hoạt động phát triển du lịch không thể “bó” trong một quốc gia, một vùng mà hoạt động này luôn có tính liên vùng, liên quốc gia Điều này sẽ còn
có ý nghĩa hơn khi du lịch Việt Nam đang hội nhập đầy đủ hơn với khu vực và quốc
Trang 32tế, khi hoạt động du lịch Việt Nam sẽ phải tuân thủ đầy đủ hơn những quy định mang tính quốc tế để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong hoạt động du lịch Hiện nhiều dự án quốc tế trong lĩnh vực du lịch do các tổ chức quốc tế như Công đồng Châu Âu (EU), Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), tài trợ trong lĩnh vực đào tạo phát triển nguồn nhân lực, gắn du lịch với xóa đói giảm nghèo, đã và đang phát huy có hiệu quả, góp phần tích cực vào phát triển du lịch nói chung, du lịch cộng đồng nói riêng ở Việt Nam Vai trò của các đối tác này không chỉ ở sự giúp đỡ về vật chất mà còn ở sự giúp đỡ trao đổi kinh nghiệm, xây dựng chính sách, cho phát triển du lịch ở Việt Nam
- Các tổ chức phi chính phủ
Cũng có vai trò rất quan trọng đối với phát triển du lịch Việt Nam Khác với vai trò mang tính vĩ mô của các tổ chức quốc tế đã đề cập, các tổ chức phi chính phủ thường giúp du lịch Việt Nam trong phát triển các mô hình cụ thể, thực hiện những vấn đề cụ thể mang tính vi mô Đặc biệt, các tổ chức này rất quan tâm h trợ phát triển du lịch ở những vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn với những
dự án về đào tạo, nâng cao nhận thức k năng của cộng đồng trong phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, bảo vệ môi trường du lịch,
Kết quả thực tế của các dự án như phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tại Vường Quốc Gia Xuân Thủy (Nam Định) do Tổ chức Bảo tồn sinh vật Biển và Phát triển Cộng Đồng tài trợ; dự án phát triển du lịch sinh thái ở khu bảo tồn biển Hòn Mun (Khánh Hòa) do Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế tài trợ; dự án phát triển
du lịch cộng đồng ở A Lưới (Thừa Thiên - Huế) do Tổ chức Phát triển Hà Lan tài trợ; đã minh chứng cho vai trò của các đối tác này với phát triển du lịch nói chung, phát triển du lịch cộng đồng nói riêng ở Việt Nam
1.1.4 Nguyên tắc chủ yếu của du lịch cộng đồng
Theo Phạm Trung Lương (2010) cho rằng một số nguyên tắc chủ yếu đối với phát triển du lịch cộng đồng được xác định dựa trên bản chất của du lịch cộng đồng bao gồm:
Trang 33Công bằng về mặt xã hội: các thành viên của cộng đồng sẽ tham gia vào việc lên
kế hoạch, triển khai, kiểm soát các hoạt động du lịch tại cộng đồng, ở đây cần nhấn mạnh sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào quá trình tổ chức và thực hiện các hoạt dộng du lịch Từ đó lợi ích kinh tế sẽ được chia sẻ công bằng và rộng khắp, không chỉ riêng cho các công ty du lịch mà còn dành cho các thành viên của cộng đồng
Tôn trọng các giá trị văn hoá của cộng đồng: thực tế cho thấy chương trình du
lịch nào cũng ảnh hưởng ít nhiều đến cộng đồng địa phương Điều quan trọng là các giá trị văn hoá của cộng đồng phải được bảo vệ và giữ gìn với sự đóng góp tích cực của tất cả các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch, đặc biệt là cư dân địa phương bởi không đối tượng nào có khả năng bảo vệ và duy trì các giá trị văn hoá tốt hơn chính họ Cộng đồng địa phương phải nhận thức được vai trò và vị trí của mình cũng như những lợi, hại mà việc phát triển du lịch mang đến
Chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng: Theo nguyên tắc này cộng đồng cùng
được hưởng lợi như các thành phần khác tham gia vào các hoạt động kinh doanh cung cấp các sản phẩm cho khách du lịch Nguồn thu từ hoạt động du lịch được phân chia công bằng cho mọi thành viên tham gia hoạt động, đồng thời lợi ích đó cũng được trích một phần thông qua “Qu cộng đồng” để sử dụng cho lợi ích chung của cộng đồng: tái đầu tư cho cộng đồng xây dựng đường sá, cầu cống, điện và chăm sóc sức khoẻ giáo dục
Xác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng đối với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hoá hướng tới sự phát triển bền vững
1.1.5 ác điều kiện cơ bản để phát triển du lịch cộng đồng
Với tư cách là một loại hình du lịch, việc phát triển du lịch cộng đồng cũng cần một số điều kiện cơ bản bên cạnh một số điều kiện đặc thù liên quan đến cộng đồng Theo PGS.TS Phạm Trung Lương (2010) những điều kiện cụ thể để phát triển loại hình du lịch này bao gồm:
Cần có nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn hấp dẫn có khả năng thu hút khách du lịch Đây là điều kiện cơ bản vì tài nguyên du lịch chính là tiền đề hay cơ
Trang 34sở để tổ chức các hoạt động du lịch Tuy nhiên mức độ thu hút khách của một điểm đến phụ thuộc rất nhiều vào số lượng, chủng loại, tính độc đáo của nguồn tài nguyên Đồng thời khả năng duy trì và phát triển nguồn khách phụ thuộc vào vai trò của cộng đồng dân cư ở địa phương trong việc bảo tồn, tôn tạo những giá trị của tài nguyên tại điểm đến
Cần có khả năng tiếp cận điểm đến du lịch cộng đồng Cũng tương tự như đối
với việc phát triển các loại hình du lịch khác, hoạt động phát triển du lịch không thể thực hiện được nếu không có hạ tầng tiếp cận điểm tài nguyên Đây là đặc điểm rất đặc trưng của du lịch khi sản phẩm du lịch được xây dựng và tiêu thụ tại ch Điều này khác với hoạt động sản xuất kinh doanh khác khi sản phẩm thương mại có thể được sản xuất ở một nơi rồi vận chuyển đến thị trường tiêu thụ ở nơi khác
Cần có sự hiện diện của cộng đồng dân cư sinh sống tại điểm đến hoặc tại khu vực liền kề phát triển du lịch Phong tục tập quán, lối sống, trình độ học vấn, quy
mô cộng đồng, cơ cấu nghề nghiệp là những yếu tố cần được xác định và đánh giá rõ ràng trước khi quyết định xây dựng điểm đến du lịch cộng đồng
Cần có sự tự nguyện của cộng đồng đối với đề xuất phát triển du lịch cộng đồng Đây là điều kiện đặc thù rất quan trọng để có thể phát triển du lịch cộng đồng
bởi loại hình du lịch này chỉ có thể phát triển cùng với sự nhận thức sâu sắc của cộng đồng về trách nhiệm và quyền lợi của họ khi tham gia vào hoạt động du lịch Cần có nhu cầu đối với sản phẩm du lịch cộng đồng: Phát triển du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng phải phù hợp với quy luật “Cung - Cầu” Thị truờng khách đủ lớn về số lượng và đảm bảo chất lượng (khả năng chi trả), ổn định cho vùng, từ đó đảm bảo khối lượng công ăn việc làm cho cộng đồng, thu nhập đều đặn cho họ
Điểm đến du lịch cộng đồng cần được quy hoạch và đưa vào hệ thống tuyến điểm du lịch của lãnh thổ Đây là điều kiện chung để phát triển bất kỳ một điểm đến
du lịch nào, trong đó có điểm đến du lịch cộng đồng Tuy nhiên trong trường hợp du lịch cộng đồng, điều kiện này trở nên quan trọng hơn bởi bản thân cộng đồng
Trang 35thường không có khả năng tự tổ chức quy hoạch và kết nối với hệ thống tuyến điểm
du lịch của lãnh thổ
1.2 Các yếu tố ảnh hư ng đến du lịch cộng đồng
Theo tác giả Chu Đức Tùng (2016) tính hiệu quả của hệ thống cơ chế chính sách
và các biện pháp khuyến khích hợp lý từ các cơ quan quản lý, các ngành liên quan
để tạo ra một môi trường thuận lợi cho du lịch cộng đồng phát triển Các cơ chế, chính sách này liên quan đến việc:
H trợ đào tạo nguồn nhân lực du lịch cho cộng đồng;
Ưu đãi và giá thuê đất lập dự án, thuế kinh doanh dịch vụ du lịch cộng đồng, ;
H trợ các doanh nghiệp lữ hành có hợp tác đưa khách đến các điểm du lịch cộng đồng;
Tính hấp dẫn và hình ảnh điểm đến: Có nguồn tài nguyên tại điểm đến du lịch cộng đồng là điều kiện tiên quyết để phát triển du lịch cộng đồng, tuy nhiên điểm đến đó có thu hút được nhiều khách không hay nói cách khác mức độ phát triển của điểm đến du lịch cộng đồng sẽ phụ thuộc nhiều vào mức độ hấp dẫn và hình ảnh điểm đến;
Năng lực của cộng đồng: bao gồm năng lực về tổ chức quản lý hoạt động du lịch; k năng cung cấp các dịch vụ du lịch cơ bản (dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ hướng dẫn), khả năng về tài chính để phát triển các sản phẩm
du lịch tại điểm đến;
Mức độ h trợ của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch đối với thực hiện quy hoạch điểm đến du lịch cộng đồng, đầu tư nâng cấp hạ tầng du lịch tại điểm
Trang 36đến, đào tạo k năng tổ chức quản lý và cung cấp dịch vụ, xúc tiến hình ảnh điểm đến;
Mức độ hợp tác của các công ty du lịch, đặc biệt là các công ty lữ hành trong việc quảng bá sản phẩm du lịch cộng đồng và đảm bảo nguồn khách;
Mức độ h trợ của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ về kinh nghiệm tổ chức du lịch cộng đồng cũng như tăng cường năng lực cho cộng
đồng tổ chức quản lý và tham gia hoạt động du lịch
1 Bài học kinh nghiệm trong phát triển du lịch cộng đồng một số nước Asian và tại Việt Nam
1.3.1 ác m h nh trong phát triển du lịch cộng đồng ở Indonesia và Malaysia
Kinh nghiệm du lịch cộng đồng của Indonesia: xây dựng thành công vùng du
lịch biển đảo Bali
Nét tương đồng: Trước đây, vùng biển đảo Bali còn rất hoang sơ và kém phát
triển, tài nguyên du lịch chủ yếu là biển đảo và văn hóa truyền thống, nhưng với những chính sách đúng đắn của quốc gia và sự năng động của chính quyền địa phương, cùng sự phối hợp với các doanh nghiệp du lịch - dịch vụ, các tổ chức phi chính phủ gắn với phát triển cộng đồng sở tại đã làm thay đổi một vùng biển đảo hoang sơ thành khu du lịch biển nổi tiếng thế giới
Indonesia được mệnh danh là đất nước “vạn đảo”, nơi có rừng nhiệt đới rộng
lớn nhất Đông Nam Á và có nhiều thiên đường biển đảo đẹp, nổi tiếng trên thế giới Chính phủ Indonesia đã định hướng cho việc phát triển du lịch bền vững bằng các chiến lược nhằm bảo tồn và duy trì đa dạng sinh học, phát huy bản sắc văn hóa độc đáo, nhờ vậy các năm qua tuy gặp nhiều thiên tai, khủng bố nhưng tốc độ phát triển của ngành kinh tế du lịch vẫn được duy trì Năm 2010 lượng khách du lịch quốc tế đạt khá cao khoảng 5,185 triệu lượt khách, thu nhập du lịch từ khách quốc tế đạt trung bình hàng năm từ 5,1 - 5,8 tỷ USD (Đinh Kiệm, 2013)
Trang 37Mô hình du lịch vùng biển đảo Bali:
Năm 1990, dưới sự h trợ của tổ chức UNDP, dự án quy hoạch tổng thể khu du lịch được chính phủ thông qua và tiến hành xây dựng
Dự án được quy hoạch phát triển trên một vùng địa lý kinh tế cụ thể nhằm tạo ra
sự phát triển cân bằng gồm 16 vùng hiện có, đồng thời bổ sung các vùng mới, vùng biển đảo, đất liền Ở 16 vùng được chia làm ba loại chính: vùng biển phía Nam Bali, các vùng biển khác, vùng đất liền Ba vùng có chính sách phát triển khác nhau dựa trên các đặc trưng cơ bản về thiên nhiên, cường độ phát triển, các loại hoạt động và đặc điểm nguồn khách
Chính phủ Indonesia đã thực hiện quy hoạch phát triển bền vững toàn vùng Bali rồi mới quy hoạch bền vững chi tiết ở địa phương và đảm bảo sự thống nhất từ vùng đến địa phương
* Kinh nghiệm quản lý trên tầm vi mô:
Chính là sự h trợ của chính quyền về mặt đất đai, cơ sở hạ tầng, chính sách xúc tiến quảng bá hướng dẫn lập quy hoạch … Các doanh nghiệp du lịch ở Indonesia đã phối hợp chặt chẽ với các ngành kinh doanh khác và các địa phương để khai thác các yếu tố văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, phối hợp hài hòa giữa các loại hình du lịch nhờ vậy nhiều vùng miền ở Indonesia luôn có những sản phẩm du lịch đặc thù
và đa dạng
Dưới sự h trợ của các cơ quan chính phủ, các doanh nghiệp du lịch, các hợp tác
xã, các tổ chức cộng đồng địa phương đã chủ động xây dựng nội dung quy hoạch phát triển cho các khu du lịch do mình quản lý dựa theo các tiêu chí thống nhất gồm:
i.Đánh giá sự giàu có và độc đáo của tài nguyên du lịch hiện có (Hệ sinh thái, thực, động vật đặc hữu và cảnh quan thiên nhiên, nền văn hóa truyền thống và các
di sản,…)
ii.Nền văn hóa truyền thống bản địa (yếu tố đa văn hóa kết hợp)
iii Nhu cầu của khách du lịch, các sản phẩm chủ lực
Trang 38iv Cung cấp các lợi ích kinh tế xã hội nhằm cải thiện cuộc sống cho cộng đồng địa phương trong quá trình hoạt động
v.Các mối đe dọa đến hệ sinh thái, ô nhiễm khi khai thác tài nguyên
vi Đầu tư cơ sở hạ tầng, gắn kết với hệ thống giao thông đến các khu du lịch vii Phạm vi đất đai được giao hoặc thuê
Một kinh nghiệm quan trọng được rút ra là việc tận dụng tối đa các nguồn tài nguyên du lịch nhân văn với sự tham gia chủ động của cộng đồng nhằm tạo ra sản phẩm du lịch văn hóa đáp ứng cho du khách (trùng tu chùa chiềng, đền đài, nhà cửa, khôi phục lễ hội văn hóa truyền thống) Phát triển du lịch dựa vào yếu tố văn hóa đã giúp người dân trong cộng đồng tự hào về bản sắc văn hóa của mình hơn, ý thức được du lịch không chỉ để cải thiện kinh tế mà còn là công cụ để bảo tồn, được sử dụng để quảng bá triết lý phát triển bền vững (vùng Ubud-Bali) (Đinh Kiệm, 2013)
Kinh nghiệm của Malaysia: phát triển loại hình Du lịch sinh thái văn hóa gắn kết với du lịch cộng đồng – Homestay
Nét tương đồng: Vùng Duyên hải Cực Nam Trung Bộ hiện có trên 1040 làng
bản, trong đó có khoảng 400 làng nông nghiệp, ngư nghiệp ven biển có điều kiện có thể triển khai loại hình du lịch homestay, nhưng việc khai thác còn nhiều bất cập vì địa phương và các công ty du lịch chưa có kinh nghiệm triển khai
Malaysia là một quốc gia rất coi trọng đến phát triển du lịch, theo thống kê của UNWTO trong vùng Châu Á – Thái Bình dương, lượng khách quốc tế đến Malaysia chiếm hàng thứ hai chỉ sau cường quốc du lịch là Trung Quốc Du khách khi đến Malaysia thường chọn các tour dạng du lịch sinh thái (DLST), và một trong các loại hình du lịch được ưa chuộng phải kể đến du lịch sinh thái văn hóa dựa vào cộng đồng – Homestay, đây là loại hình DLST văn hóa nông thôn dựa vào cộng đồng Với loại hình này, du khách sẽ được sinh hoạt chung nhà với người dân bản địa như một thành viên trong gia đình và trải nghiệm cuộc sống hằng ngày để biết về văn hóa của người dân nơi đó Bắt đầu được triển khai từ những năm 1980, đến nay loại hình du lịch homestay đã phát triển rộng rãi ở 13 bang trên toàn quốc với gần 3300
hộ dân từ 230 ngôi làng khắp cả nước Hàng năm đón hơn 160.000 lượt du khách
Trang 39trong đó có 30.000 khách quốc tế đến chủ yếu từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore,
Úc mang lại nguồn thu trên 16 triệu USD cho các hộ tham gia
Kết quả thu được tại 5 bang có loại hình homestay phát triển nhất năm 2009:
Bảng 1.1: Tình hình hoạt động Homestay tại 5 Bang/ Tỉnh của Malaysia
Bang/Tỉnh Số làng
tham gia
Tổng lượng khách đến (Lượt khách)
Khách quốc tế
Khách nội địa
Doanh thu (RM)
7.301 4.635 2.939 2.295 2.245
10.242 17.707 10.104 2.214 8.235
917.440 1.054.805 1.068.592 605.708 413.823
Nguồn: MOTOUR, 2010
Các bài học kinh nghiệm về triển khai homestay được nhìn nhận trên các góc độ gồm:
* Kinh nghiệm ở tầm vĩ mô:
Để thực hiện thành công các chương trình phát triển DLST Homestay, Bộ Du lịch Malaysia (MOTOUR-Ministry of tourism) đã chủ động yêu cầu có sự n lực gắn kết chung giữa các cấp độ khác nhau của chính quyền các cấp, của khu vực tư nhân, và các cộng đồng địa phương Một hiệp hội Homestay Malaysia chuyên trách được thành lập, trong đó bao gồm đại diện thành viên Chính phủ liên bang, chính quyền địa phương, đại diện khu vực tư nhân và tổ chức phi Chính phủ, Ủy ban này được MOTOUR mới tham vấn chính về kế hoạch chương trình Homestay quốc gia Hiệp hội Homestay đã đề xuất về phía chính quyền các cấp có trách nhiệm đóng góp để thực hiện chương trình với các nhiệm vụ cụ thể như:
+Đề xuất hướng dẫn, chính sách phát triển chương trình homestay cụ thể cho các bang, tỉnh
+Cấp phép cho các làng và các hộ thành viên tham gia chương trình
Trang 40+Cung cấp ngân qu ban đầu cho đầu tư hạ tầng, h trợ nâng cấp nhà cửa cho các hộ tham gia (ví dụ: h trợ m i hộ 5.000 RM để sửa sang hệ thống toilet, bếp…)
+Quảng bá chương trình homestay ở trong và ngoài nước
+Liên hệ với các đơn vị chức trách có liên quan
* Kinh nghiệm ở tầm vi mô:
Kinh nghiệm về chuẩn bị cho tổ chức Homestay: Địa phương cùng các doanh nghiệp đang hoạt động tại địa bàn, thành lập nhóm tư vấn trực thuộc Hiệp hội, tổ chức vận động, phát hiện giúp đỡ những hộ có điều kiện tham gia, lập thủ tục cấp phép, … Sự kết hợp này thật sự có kết quả đối với các vùng nông thôn nghèo ở Malaysia Khi xét chọn, nhóm tư vấn địa phương dựa vào 5 điều kiện mà các hộ cần hội đủ như: đường sá vào nhà thuận tiện, đầy đủ tiện nghi cho du khách như phòng ngủ, toilet, gia đình không có tiền sử về tội phạm, không bị mắc các bệnh xã hội có thể lây lan cho cộng đồng, đạt tiêu chuẩn cao về vệ sinh môi trường
Việc chuẩn bị cho triển khai Homestay bao gồm:
Thứ nhất: Về phía chính quyền các bang và vùng: tổ chức huấn luyện trong
vòng 7 ngày cho các hộ được cấp phép, theo các nội dung như hướng dẫn cách làm
vệ sinh ngôi nhà mình sạch sẽ, an ninh hơn, cách tiếp đón du khách, trang trí lại cho thẫm m hơn
Thứ hai: Về phía các doanh nghiệp du lịch, lữ hành, đại diện cộng đồng dân cư
địa phương: huấn luyện k năng về quản lý, phát triển về dịch vụ du lịch, tạo các sản phẩm du lịch đặc thù, hướng dẫn cách sử dụng các nguồn thu có hiệu quả … Các tiêu chuẩn chính để phát triển loại hình du lịch Homestay có 3 tiêu chuẩn chính đó là: sản phẩm, thành phần tham gia và nguyên tắc tham gia
Sản phẩm liên quan đến việc thu hút du khách như cảnh quan thiên nhiên, tập
quán truyền thống, kiến trúc bản địa, di tích lịch sử, nghệ thuật và thủ công m nghệ, âm nhạc và hoạt động văn hóa, ẩm thực, hoạt động sản xuất nông nghiệp cổ truyền và các lễ hội đặc biệt được tổ chức hàng năm …