Thời xa vắng là một trong những tiểu thuyết viết về nông thôn xuất sắc của văn học Việt Nam tiền đổi mới.. Những ý kiến bàn riêng về tiểu thuyết Thời xa vắng Năm 1986, cuốn tiểu thuyết
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHAN THỊ QUYÊN
NÔNG THÔN VIỆT NAM QUA TIỂU THUYẾT
THỜI XA VẮNG CỦA LÊ LỰU
Ngành: Văn học Việt Nam
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phan Thị Quyên
Xác nhận của khoa chuyên môn Xác nhận của người hướng dẫn
GS Phong Lê
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn
là GS Phong Lê - người đã tận tình hướng dẫn, động viên, tạo điều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy khoá 24 chuyên ngành Văn học Việt Nam, các cán bộ Khoa Sau đại học trường Đại học Sư phạm- Đại học Thái Nguyên đã dạy dỗ, tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập
Tôi vô cùng cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình, bạn bè Đó chính
là nguồn động viên tinh thần rất lớn để tôi theo đuổi và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Phan Thị Quyên
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1: THỜI XA VẮNG TRONG BỐI CẢNH CHUNG CỦA TIỂU THUYẾT THỜI KỲ ĐỔI MỚI 8
1.1 Tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới 8
1.1.1 Cơ sở thực tiễn của công cuộc đổi mới văn học nghệ thuật 8
1.1.2 Tiểu thuyết nông thôn trong bức tranh chung của tiểu thuyết thời kì đổi mới 10 1.2 Quan điểm nghệ thuật, con đường sáng tạo của Lê Lựu và vị trí của tiểu thuyết Thời xa vắng 20
1.2.1 Quan niệm nghệ thuật 20
1.2.2 Con đường sáng tạo của Lê Lựu 21
1.2.3 Vị trí của tiểu thuyết Thời xa vắng 23
Tiểu kết chương 1 26
Chương 2: NÔNG THÔN TRONG THỜI XA VẮNG - NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 27
2.1 Bức tranh hiện thực cuộc sống nông thôn 27
2.1.1 Vùng quê nghèo khó 28
2.1.2 Vùng quê “Đất lề quê thói” 31
Trang 52.1.3 Vùng quê chuyển mình 35
2.2 Người nông dân với những bị kịch và khát vọng cá nhân 39
2.2.1 Bi kịch của con người không được sống là chính mình 40
2.2.2 Bi kịch của con người được sống là mình nhưng lại đánh mất chính mình 46
2.2.3 Con người với khát vọng trong tình yêu, hôn nhân 49
Tiểu kết chương 2 54
Chương 3: NÔNG THÔN TRONG THỜI XA VẮNG - NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 55
3.1 Không gian và thời gian nghệ thuật 55
3.1.1 Không gian nghệ thuật 55
3.1.2 Thời gian nghệ thuật 58
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 61
3.2.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình và hành động 61
3.2.2 Nghệ thuật biểu hiện nội tâm 66
3.3 Giọng điệu trần thuật 69
3.3.1 Giọng giễu nhại, mỉa mai 70
3.3.2 Giọng chiêm nghiệm, suy ngẫm 72
3.4 Ngôn ngữ 74
3.4.1 Ngôn ngữ đời thường, cá tính 75
3.4.2 Ngôn ngữ đậm chất triết lý 77
Tiểu kết chương 3 78
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Việt Nam từ sau Cách mạng tháng 8 cho đến thời kỳ Đổi mới- thập
niên 1980, cơ bản vẫn là một nước thuần nông nghiệp, nông dân vẫn là lực lượng cơ bản trong cấu trúc dân cư Bởi vậy trong văn học, đề tài nông thôn bao giờ cũng là một đề tài lớn, luôn có nhiều khoảng trống hứa hẹn và thu hút
sự quan tâm của nhiều thế hệ cầm bút Với sự phản ánh hiện thực nông thôn, từ lâu các nhà văn đã thể hiện được phần quan trọng cuộc sống, con người Việt Nam qua các chặng đường phát triển của dân tộc Tuy nhiên ở mỗi thời kì cũng
có những đặc trưng và ràng buộc lịch sử nhất định Lịch sử đã ghi danh nhiều tác giả, tác phẩm tiêu biểu về mảng đề tài này Vấn đề nông thôn và cuộc sống của người nông dân cũng luôn được Đảng và Chính phủ quan tâm đặt lên hàng đầu, đã và đang là vấn đề thuộc định hướng An sinh xã hội
1.2 Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) đáp ứng nhu cầu đổi mới toàn
diện đất nước Tinh thần đổi mới của Đại hội như một luồng gió mới thổi vào đời sống văn học nghệ thuật, mở ra thời kì Đổi mới của văn học Việt Nam trên tinh thần đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật Văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng viết về nông thôn vì thế cũng có những bước chuyển biến quan trọng trong việc đổi mới tư duy và nghệ thuật biểu hiện Đào sâu vào vấn đề nhận thức và đánh giá lại lịch sử dân tộc, với cái nhìn thế sự, vấn đề nông thôn
và cuộc sống của người nông dân đã xuất hiện trên trang văn với những cung bậc tình cảm, tâm trạng khác nhau Nhà văn, nhà biên kịch Phạm Ngọc Tiến là người có nhiều say mê, tâm huyết ở mảng đề tài này, cho rằng: “Đất nước ta là nông thôn Chất dân dã của người nông dân tạo nên diện mạo cho nhân vật có những tính chất riêng biệt, điển hình, sinh sắc Hình thái sinh hoạt nông thôn dễ đưa vào tác phẩm Đề tài nông thôn chứa đựng nhiều vấn đề về nhân sinh, đổi đời, băng hoại đạo đức ” [75] Cùng với đó là cuộc sống riêng tư, số phận con người được quan tâm- chú ý trong nhiều chiều đã tạo ra ấn tượng tốt, được độc giả tích cực đón nhận với thái độ trân trọng và chia sẻ
Trang 71.3 Lê Lựu là một trong số những nhà văn trưởng thành trong cách mạng
và cũng là một trong số những nhà văn quan tâm đến bước chuyển mình của đời sống nhân dân, đặc biệt là đời sống người nông dân Nói đến nhà văn Lê
Lựu người ta thường nghĩ ngay đến Thời xa vắng, tác phẩm đưa ông trở thành
“sĩ quan” trong làng văn Thời xa vắng là một trong những tiểu thuyết viết về nông thôn xuất sắc của văn học Việt Nam tiền đổi mới Tác phẩm đặt ra một
cách sáng rõ cái nhìn mới về nông thôn trong sự soi chiếu nhiều chiều, đưa đến
cho người đọc những khám phá, trải nghiệm riêng rất đáng ghi nhận Tìm hiểu
Thời xa vắng của Lê Lựu, ta không chỉ hiểu thêm về bộ mặt của nông thôn Việt
Nam mà còn khẳng định vị trí, sự đóng góp của nhà văn cho sự phát triển nền văn xuôi Việt Nam trong những năm đổi mới
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trên bình diện nghiên cứu, phê bình văn học đã có nhiều công trình, bài viết trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến sáng tác của Lê Lựu nói chung và tiểu
thuyết Thời xa vắng nói riêng Chúng tôi tạm chia các ý kiến thành hai loại:
những đánh giá chung về nhà văn Lê Lựu và sáng tác của ông, và những ý kiến
bàn riêng đến tiểu thuyết Thời xa vắng
2.1 Những ý kiến chung về Lê Lựu và các sáng tác của ông
Trong sự phát triển không ngừng của văn học đương đại, Lê Lựu ngày càng khẳng định được vị trí chắc chắn của mình trong lòng độc giả và thu hút
sự quan tâm của giới nghiên cứu phê bình
Nhà thơ Trần Đăng Khoa có những nhận xét độc đáo, tinh tường, khi cho rằng: “Lê Lựu biết cuốn hút người đọc bằng một thứ văn đọc không nhạt Ngay
ở những chuyện xoàng xoàng, người đọc vẫn thu lượm được một cái gì đó ( ) nghĩa là đọc anh không bị lỗ trắng, cũng bởi Lê Lựu là nhà văn không chấp nhận sự nhạt nhẽo, tầm thường Ở bất kì tác phẩm nào dù lớn hay nhỏ, Lê Lựu cũng có vấn đề gì đấy gửi gắm” [56, tr 669]
Trang 8Nhận xét về tiểu thuyết Lê Lựu, tác giả Lê Hồng Lâm cho thấy: Sở dĩ tác
phẩm của Lê Lựu như Thời xa vắng, Sóng ở đáy sông, Hai nhà… gây được dư
luận và có chỗ đứng riêng trên văn đàn là “bởi ông luôn viết hết mình như ông sống, yêu ghét rạch ròi và đặc biệt là đi đến tận cùng tính cách nhân vật (…) Ở mức độ nào đó, nhà văn đã tạo ra những nhân vật điển hình trong những hoàn cảnh điển hình” [56, tr.703]
Trần Bảo Hưng cho rằng “Thô mộc hồn nhiên và đầy ắp chất sống - ngay
cả khi nghĩ ngợi triết lí cũng rất hồn nhiên, cũng là triết lí bật lên trực tiếp từ đời sống” Ông đánh giá “Tất cả dường như đã trở thành phong cách, thành cá tính của Lê Lựu” [28]
Ngô Thảo trong một bài viết Về truyện ngắn Lê Lựu đã nhận định: “Lê
Lựu là một người đang tìm tòi Truyện nào của anh cũng tìm được những nét tính cách mới, những hướng khai thác vấn đề mới” [63, 227]
Đinh Quang Tốn đưa ra nhận định về vị trí của nhà văn Lê Lựu “Nếu trong tổng số sáu trăm hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, cứ mười người chọn lấy một người tiêu biểu, thì Lê Lựu là một trong số sáu mươi nhà văn ấy" [56, tr 663]
Những ý kiến trên đều thống nhất đề cao tâm huyết của Lê Lựu trong sáng tạo nghệ thuật, khẳng định được vị trí, phong cách trong những sáng tác của ông, góp phần tạo nên diện mạo của văn học Việt Nam thời kì đổi mới
2.2 Những ý kiến bàn riêng về tiểu thuyết Thời xa vắng
Năm 1986, cuốn tiểu thuyết Thời xa vắng “trình làng” đã thu hút được
sự chú ý trong dư luận và được đánh giá là một “cọc tiêu tiền trạm” của công cuộc đổi mới văn học Tác phẩm này nhanh chóng thu nhận nhiều ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình Cuốn Lê Lựu Tạp ăn (2002) là một công trình tổng hợp những bài viết, những bài phê bình văn học của Lê Lựu đối với các nhà văn, nghề văn Đặc biệt ở phần 4 cuốn sách đã tập hợp khá nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình liên quan đến tiểu thuyết
Thời xa vắng Đó là Phong Vũ với “Tiểu thuyết đầu tiên của một cây bút viết
Trang 9truyện ngắn”, là Lê Thành Nghị với “Thời xa vắng - một tâm sự nóng bỏng”,
là Thiếu Mai “nghĩ về một “Thời xa vắng chưa xa”, Nguyễn Hòa “Suy tư từ
một “Thời xa vắng”,…
Giáo sư Phong Lê cho rằng: “Giang Minh Sài thất bại, nhưng cả xã hội thì thắng lợi, cả xã hội đang vật vã trong những chuẩn bị cho cái “thời xa vắng” ấy qua đi Không còn bi kịch của Giang Minh Sài, cho những Giang Minh Sài
khác được sống là mình ngay từ đầu…Thời xa vắng là “sự đón nhận trước yêu
cầu nhìn thẳng vào sự thật và nhận thức lại lịch sử được đề ra với Đại hội VI, cuối năm 1986” [38]
Tác giả Nguyễn Hòa nhận thấy Thời xa vắng là sự: “đi tìm lại những chân giá từng bị đánh mất, từng bị lãng quên” “Viên đại bác Thời xa vắng khoan
thủng các tấm màn vô hình che giấu nhiều điều lâu nay chúng ta không rõ tới Quá khứ đâu chỉ là chiếc bánh ngọt ngào mà có cả vị đắng cay” [27]
Bàn về vấn đề nông thôn trong sáng tác của Lê Lựu, Trần Đăng Khoa- người vô cùng quý mến Lê Lựu đã có những nhận xét xác đáng về cuốn tiểu thuyết này: “Lê Lựu đã dựng lên một loạt bức tranh nông thôn đặc sắc Có nhiều trang đạt chuẩn Nam Cao Có thể nói tắt từ Nam Cao qua một chút Kim Lân đến Nguyễn Khắc Trường và Lê Lựu, chúng ta mới lại có nhà văn nông thôn thứ thiệt” [56, tr 677]
Hoàng Ngọc Hiến trong bài “Đọc Thời xa vắng của Lê Lựu” đăng trên
Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 4, năm 1987 đã nhận định vấn đề số phận cá nhân, số phận người nhà quê trước những biến động của xã hội, cụ thể là cuộc đời, số phận của nhân vật Giang Minh Sài Theo ông thì anh nông dân Giang Minh Sài “người nhà quê” của Lê Lựu phải chịu hai lần khốn khổ, vừa xung đột với hệ tư tưởng gia trưởng, vừa xung đột với thành phố ở bộ phân phức tạp nhất của nó là đàn bà, con gái” [26, tr 119]; vậy nên cuộc sống của Sài mới bế tắc, vướng vào hết bi kịch này đến bi kịch khác Và từ câu chuyện trên, Hoàng Ngọc Hiến đặt ra những vấn đề bức xúc của xã hội:
“Lê Lựu chỉ đụng đến đề tài “người nhà quê và đô thị” một cách ngẫu nhiên: chỉ là câu chuyện thương tâm một “anh nhà quê” chơi trèo với thành phố bị hại Trên đất nước ta sau khi thống nhất, không phải cán bộ tiếp quản nào
Trang 10cũng trở thành chủ của thành phố, không ít “người nhà quê” khi tiếp xúc với
đô thị đã bị hại hoàn toàn, sống dỡ chết dở, điêu đứng bi thảm, sự thất bại của họ mang ý nghĩa xã hội sâu sắc [26, tr 119]
Đề tài hậu phương nông thôn miền Bắc trong chiến tranh chống Mỹ có nhiều người viết, nhưng theo đánh giá của Đinh Quang Tốn thì “Lê Lựu là
người viết thành công nhất” [76, tr 22] “Thời xa vắng viết về hậu phương
chống Mỹ cứu nước với cả cái vui và cái buồn, cái nông nhiệt và sự non nớt, những quầng sáng và bóng mờ, có cả nụ cười và nước mắt” [76, tr.18]
Tìm hiểu tiểu thuyết Thời xa vắng, Thiếu Mai khẳng định tài năng xây dựng
nhân vật của Lê Lựu: “Lê Lựu tỏ ra hiểu nhân vật của mình đến chân tơ, kẽ tóc, đến tận những ngọn ngành, sâu thẳm nhất của tình cảm, suy nghĩ” [48, tr 577]
Vương Trí Nhàn trong bài viết Một đóng góp vào việc nhận dạng con
người Việt Nam hôm nay cho rằng: “Lê Lựu chỉ nói riêng về con người,
những mối quan hệ giữa người với người Một vấn đề muôn thủa mà cũng là vấn đề chúng ta nói đi nói lại rất nhiều (…) làm thế nào để giúp con người nhận thức về chính mình đầy đủ hơn từ đó tìm được cách sống hợp lí hơn, đấy là nhiệm vụ thiêng liêng mà mọi nền văn học chân chính xưa nay muốn đảm nhận” [53]
Bên cạnh các nhận định khẳng định thành công về mặt nội dung cũng như
nghệ thuật của Thời xa vắng, một số ý kiến khác chỉ ra nhược điểm của Lê Lựu về kết cấu yếu, câu chữ rối, rậm… Theo Thiếu Mai “Thời xa vắng tuy vẫn
còn những nhược điểm, còn thiếu một sự chặt chẽ, nhất quán cần thiết, nhưng với ưu điểm rất trội của nó, nó là một thành công, nó đóng góp vào nền văn học đang có đà phát triển khởi sắc” [48, tr 125]
Ngoài ra tiểu thuyết Thời xa vắng nói riêng và những sáng tác của Lê
Lựu nói chung đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều khóa luận và luận văn tốt nghiệp Các công trình đã tiếp cận tiểu thuyết Lê Lựu trên các bình diện như: không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật; nghệ thuật trần thuật; yêu cầu nhận thức lại; các bi kịch cá nhân… Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về Lê Lựu đều có tiếng nói khá thống nhất, khẳng định tài năng và tinh thần lao động miệt mài của nhà văn trên con đường tìm tòi,
Trang 11sáng tạo một hướng đi mới cho tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu hình ảnh nông thôn Việt Nam thể hiện trong tác phẩm, mà chỉ chạm tới hoặc chỉ nói qua Vì vậy, trên cơ sở những công trình đã nghiên cứu, chúng tôi cố gắng tìm ra những khoảng trống để tiếp cận, tìm hiểu và xử lý đề tài với mong mỏi góp thêm tiếng nói khẳng định hơn nữa giá trị văn chương Lê Lựu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là nông thôn Việt Nam qua
tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu Luận văn sẽ khảo sát toàn bộ cuốn
tiểu thuyết Thời xa vắng, và trong một chừng mực nhất định sẽ so sánh, đối
chiếu với những cuốn tiếu thuyết của các nhà văn viết cùng về đề tài nông thôn trước và sau đó
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Người viết đi sâu tìm hiểu nông thôn Việt Nam qua tiểu thuyết Thời xa
vắng của Lê Lựu
4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Khẳng định vị trí của nhà văn Lê Lựu - một tác giả tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam thời kì tiền đổi mới, nhất là từ những năm đầu thập niên 1980 và những đóng góp của nhà văn cho tiểu thuyết thời kì này
Cảm thụ toàn diện hơn về hiện thực cuộc sống nông thôn Việt Nam thời kì đổi mới, đồng thời chỉ ra những nét đặc sắc trong phương thức nghệ thuật thể
hiện hình ảnh nông thôn của tiểu thuyết Thời xa vắng so với những cuốn tiểu
thuyết trước và sau đó
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận giải những vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến luận văn
Làm rõ những giá trị của tác phẩm trên phương diện nội dung và nghệ thuật Đánh giá, đối sánh với một số tác phẩm trước và sau thời kì đổi mới cùng viết về nông thôn Việt Nam
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận văn, người viết kết hợp vận dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau:
Phương pháp thống kê: Thao tác thống kê mang lại rất nhiều tác phẩm viết
về đề tài nông thông qua các giai đoạn, làm cơ sở cho bước so sánh trong quá trình triển khai nội dung Thao tác phân loại rất quan trọng để lựa chọn ra một nhóm tác phẩm phù hợp với đối tượng và mục đích của đề tài
Phương pháp phân tích tổng hợp: Nắm vững đặc trưng, phương pháp luận loại hình thể loại tiểu thuyết để khái quát bức tranh nông thôn, tìm ra và phân tích những vấn đề chung, những biến đổi của xã hội, của con người và những bi kịch mà con người phải chịu đựng sau luỹ tre làng
Phương pháp so sánh: Việc sử dụng phương pháp so sánh giúp chúng tôi
có điều kiện so sánh sự chuyển hướng nghệ thuật của Lê Lựu trong thời kỳ đổi mới cũng như những điểm nổi trội đặc sắc của tiểu thuyết Lê Lựu so với tiểu thuyết của các tác giả cùng thời
6 Đóng góp của luận văn
Về mặt lí luận, với luận văn này, người viết gắng làm nổi bật nét đặc sắc
về phương thức thể hiện hình ảnh nông thôn Việt Nam trong tiểu thuyết Thời
xa vắng của Lê Lựu
Về mặt thực tiễn, người viết muốn tìm hiểu những đóng góp mới, riêng
của Lê Lựu về nội dung phản ánh và hình thức thể hiện qua tiểu thuyết Thời
xa vắng Thông qua đó góp phần khẳng định tài năng, vị trí của Lê Lựu trong
văn học thời kì đổi mới, đồng thời giúp người đọc có những kiến giải sâu sắc
về nhà văn này
7 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo Phần Nội
dung của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Thời xa vắng trong bối cảnh chung của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới Chương 2: Nông thôn trong Thời xa vắng- nhìn từ phương diện nội dung Chương 3: Nông thôn trong Thời xa vắng- nhìn từ phương diện biểu hiện
Trang 13Chương 1
THỜI XA VẮNG TRONG BỐI CẢNH CHUNG
CỦA TIỂU THUYẾT THỜI KỲ ĐỔI MỚI 1.1 Tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới
1.1.1 Cơ sở thực tiễn của công cuộc đổi mới văn học nghệ thuật
Sau Đại thắng mùa xuân 1975, lịch sử dân tộc ta đã sang một trang mới, cuộc sống thời bình đã mở ra với vô số những biến động của đời thường Quá trình đổi mới của đất nước mở ra những cơ hội, thuận lợi mới cùng những thách thức, khó khăn cho sự phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật Yêu cầu mới của đất nước, nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn học, nghệ thuật của nhân dân thay đổi, trong đó có những mặt cao hơn; sự thay đổi nhanh chóng, sâu sắc trong mọi mặt đời sống xã hội tác động trực tiếp đến chính quá trình sáng tạo, tiếp nhận văn học, nghệ thuật
Trước những biến chuyển đó của thời đại, văn học tự bản thân cũng xuất hiện những nhu cầu đổi mới Được cổ vũ bởi tinh thần dân chủ của Đại hội Đảng VI, các cây bút sau 1975 đã có nhiều nỗ lực trong lao động nghệ thuật, tạo được những hướng đi mới táo bạo, độc đáo nhằm đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của văn học và độc giả hiện thời Có thể nói “chưa bao giờ văn xuôi phát triển mạnh mẽ như bây giờ và cũng chưa bao giờ nhà văn được thành
thật như bây giờ” Sự đổi mới của văn học được thể hiện trên nhiều phương
diện và trong nhiều thể loại
Văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng từ sau Đổi mới đã có những thay đổi đáng kể, với định hướng của Đảng “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, văn chương nói chung không còn e ngại hướng về phản ánh và biểu hiện mặt “suồng sã, thô thám, xô lệch của hiện thực” Bức tranh đời sống với mọi góc khuất sâu kín được đưa vào trong văn học đầy trăn trở, phức tạp Những sáng tạo văn học trở về với qui luật vĩnh hằng của đời sống, coi tính chân thật là phẩm chất quan trọng của văn chương nghệ thuật
Trang 14Mỗi trang văn không chỉ có không khí hào hùng của những cuộc đấu tranh, với những chiến sĩ anh dũng hi sinh hoặc chiến thắng vẻ vang; mà có cả những ngõ cùng xóm nhỏ, những làng quê nghèo khó với những cuộc vật lộn sinh tồn, ghen ghét đố kị, những con người rất bình thường với suy nghĩ, những khao khát đời thường Có những điều nhỏ bé tưởng chừng chẳng có gì để nói, chẳng có gì đáng nói lại được những ngòi bút tài năng tái hiện trên những trang viết đầy sinh động và ám ảnh
Các nhà văn đón nhận nhu cầu này như một thách thức trong quá trình sáng tạo Không ít nhà văn trăn trở, tìm cách đổi mới tư duy nghệ thuật trong việc phản ánh hiện thực để đáp ứng nhu cầu đổi mới văn học Nguyễn Minh Châu được coi là nhà văn tiên phong, người mở đầu tinh anh trong công cuộc đổi mới văn học Ông kêu gọi “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa, các nhà văn phải tự “cởi trói” trong sáng tác” [10] Nhà văn Nguyên Ngọc đề nghị “Phát huy đầy đủ chức năng xã hội của văn học nghệ thuật” khắc phục tình trạng văn nghệ chỉ làm nhiệm vụ “minh họa chính trị” [50], vì cuộc sống đâu phải phẳng lì, đơn điệu, nó phức tạp, xù xì, gai góc và đó mới là khuôn mặt đích thực của nó Nhiều nhà văn đánh giá lại sáng tác của chính mình trên quan điểm đổi mới Nguyễn Khải gọi các sáng tác của mình trong giai đoạn 1945 - 1975 là “cái thời lãng mạn”; còn nhà văn Lê Lựu cho rằng các
sáng tác của ông trước Thời xa vắng là “văn học sự vụ”, văn học công việc”; và
tuyên bố: “Tôi tự bảo không thể viết như trước được nữa” [59]
Như vậy, những quan niệm mới mẻ về văn hóa, văn nghệ của Đảng làm thay đổi quan điểm, nhận thức về văn học và nhận thức lại thực tại không còn là nhu cầu của cá nhân nghệ sĩ mà còn là nhu cầu của thời đại Sự nhận thức lại ở đây không phải là sự phủ nhận hoàn toàn quá khứ, gạt bỏ hết những thành quả mà chúng ta đã đạt được Yêu cầu của sự nhận thức lại là phải khám phá sâu hơn, toàn diện hơn về những mảng hiện thực mà trước đây văn học chưa hoặc ít được đề cập
Trang 151.1.2 Tiểu thuyết nông thôn trong bức tranh chung của tiểu thuyết thời kì đổi mới
Chặng đường phát triển của văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng đều trải qua những quy luật phát triển nội tại trước những tác động của bối cảnh xã hội Đánh giá sự chuyển động đó, nhiều nhà nghiên cứu văn học như Phong Lê, Nguyên Ngọc, Vũ Tuấn Anh, Bùi Việt Thắng đều thống nhất nhận định: văn xuôi nước ta từ năm 1975 đến những năm 1980 vẫn vận động và phát triển theo “quán tính” cũ, “vẫn nghiêng về sự kiện, về sự bao quát hiện thực trong một diện rộng”; và “cảm hứng sử thi vẫn chiếm một vị trí đáng kể trong tư duy nghệ thuật” [70] Một số nhà văn đã trình làng một
số sáng tác ngay sau chiến tranh như: Trong cơn lốc (Khuất Quang Thụy),
Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Nắng đồng bằng (Chu Lai), Mở rừng (Lê Lựu) Tuy nhiên, những tác phẩm trên
cơ bản vẫn chưa thoát ra được âm hưởng, dấu ấn quen thuộc của văn học thời kỳ trước Đến đầu những năm 1980 mới xuất hiện một vài tiểu thuyết với những dấu hiệu đổi mới khá rõ rệt trong cách nhìn nhận và miêu tả hiện
thực như: Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Gặp gỡ cuối năm
(Nguyễn Khải) Nhưng phải từ năm 1986, dưới sự tác động của bối cảnh xã hội mới và trên cơ sở kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống, tiểu thuyết Việt Nam mới có những đổi mới thực sự trong quan niệm nghệ thuật
về hiện thực, về con người và những cách tân trong kỹ thuật tiểu thuyết
Hiện thực cuộc sống những năm đổi mới với tất cả tính đa dạng, phức tạp của nó đều là chất liệu cho sự sáng tạo của tiểu thuyết Nửa sau thập niên
1980, thập niên 1990 của thế kỷ XX, đời sống văn học xuất hiện một loạt tiểu thuyết “làm cho văn đàn sôi động và sóng gió” Và một trong những điểm nhấn lớn nhất của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới vẫn là đề tài chiến tranh
và người lính Khi chiến tranh đã lùi xa, con người bắt đầu làm quen với cuộc sống đời thường, thì một số nhà văn vẫn hồi ức về chiến tranh, về
Trang 16những năm tháng ác liệt đã qua Quả thực, trong chiến tranh “tất cả để chiến thắng” song không phải “tất cả là chiến thắng”, đằng sau “tấm huy chương” còn là bi kịch, là thảm kịch; còn là máu, là nước mắt mà “máu thấm vào lòng đất đã sâu, sao trang giấy lòng anh suy nghĩ cạn?” (Chế Lan Viên)
Một loạt tác phẩm như Thân phận tình yêu của Bảo Ninh, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân, Nước mắt đỏ của Trần Huy Quang, Ăn mày dĩ vãng của
Chu Lai, Không phải trò đùa của Khuất Quang Thụy, Bến không chồng của
Dương Hướng đã xoáy vào “mặt trái của tấm huy chương” với những “di họa chiến tranh” còn ám ảnh, đeo đẳng bao số phận con người Chiến tranh đã lùi xa nhưng vẫn còn để lại bao hậu quả nghiệt ngã cho con người, nó vẫn là một “siêu đề tài” cho văn học khám phá, biểu hiện Nói như Giáo sư Phong Lê thì “còn lâu về sau, chiến tranh vẫn cứ là một đề tài lớn, một kho chất liệu không thể nào vơi cạn còn nằm sâu trong ký ức của con người” [46]
Hiện thực trong văn học thời kì đổi mới được nới rộng phạm vi thể hiện Không chỉ có hiện thực cách mạng, các biến cố trong đời sống cộng đồng mà còn có hiện thực của cuộc sống ngày thường, đời thường với các quan hệ thế sự phức tạp Đó là các vấn đề về văn hoá, phong tục, hủ tục ở nông thôn; vấn đề sản xuất, quản lý kinh tế- xã hội trong thời kỳ đổi mới; những mặt trái của đời sống đô thị, của cơ chế thị trường; đó còn là vấn đề hôn nhân gia đình, tâm lý xã hội Viết về chủ đề gia đình - nơi gìn giữ những giá trị thiêng của con người, các nhà văn thời kỳ Đổi mới lại cho thấy gia đình nhiều khi không còn là nơi “nghỉ ngơi tuyệt đối an toàn” của con
người Thời xa vắng (Lê Lựu), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng),
Phố (Chu Lai) Thời xa vắng (Lê Lựu) làm nổi bật bi kịch trong mối quan
hệ giữa cá nhân và cộng đồng Sự nhu nhược, thiếu bản lĩnh cá nhân là nguyên nhân chủ yếu đẩy cuộc đời Sài vào bi kịch Nhưng nguyên nhân sâu
xa hơn là sự áp đặt của cộng đồng lên cá nhân Chính gia đình, họ hàng, đơn vị đã đè bẹp ý thức cá nhân của Giang Minh Sài
Trang 17Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới còn gia tăng những chủ đề thời sự Một số tác phẩm đã “áp sát” cuộc sống đời thường, đã bắt chạm đến nhiều góc khuất
của đời sống hiện đại Một thế giới không có đàn bà (Bùi Anh Tấn), Cuộc đời
dài lắm (Chu Lai), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Cơ hội của chúa
(Nguyễn Việt Hà) Một số tác giả lại có xu hướng “lật lại quá khứ, soi sáng lịch
sử” Chẳng hạn, Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh) tái hiện khoảnh khắc lịch sử đầy biến động, phức tạp cuối đời Trần An lạc dưới trời (Nguyễn Xuân Hưng)
cũng đặt lại những vấn đề xã hội trong các thời đoạn phức tạp nhất của lịch sử
Sau năm 1986, đất nước đổi mới toàn diện đã từng bước đem lại những biến chuyển lớn trong đời sống vật chất và trong nếp nghĩ, hành động của mỗi người nông dân Nhà văn từ đó cũng có điều kiện thuận lợi để thể hiện những trăn trở, suy tư về những vấn đề cốt lõi của nông thôn và nông dân một cách trực diện, thấu đáo Viết về nông thôn, các nhà văn vốn đã có thành tựu trước đó, nay có cơ hội thể nghiệm nghệ thuật mới
Điểm qua các chặng đường phát triển của văn học viết về nông thôn có thế thấy, ngay ở giai đoạn 1930-1945, một số sáng tác của nhóm Tự lực văn
đoàn đã quan tâm đến đời sống nông thôn như tập truyện Gió lạnh đầu mùa của Thạch Lam, phóng sự Bùn lầy nước đọng của Hoàng Đạo Tuy nhiên, tác
phẩm của họ mới chỉ dừng lại ở sự cảm thông với cảnh sống nghèo khổ, tối tăm, do những thói quen, hoặc do trình độ thấp kém
Đến văn học hiện thực phê phán, đề tài nông thôn được khai thác có chiều sâu và gặt hái nhiều thành tựu Các nhà văn hiện thực phê phán như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao… đã tái hiện bức tranh hiện thực nông thôn hiện lên với sự khắc nghiệt của sưu cao thuế nặng, của những thủ
đoạn bóc lột tàn nhẫn, trắng trợn (Tắt đèn, Bước đường cùng) Đó là nông
thôn của những hủ tục nhiêu khê, rườm rà; của những mâu thuẫn, chèn ép
giữa các phe cánh tranh nhau quyền lợi, địa vị (Việc làng) Đó là nông thôn
của những người cùng khổ bị dồn tới chân tường, của những cảnh lầm than,
Trang 18cơ cực (chị Dậu, anh Pha), của những kiếp sống đau đớn quằn quại (Lão Hạc), hoặc liều lĩnh biến chất (Chí Phèo)… Ở những tác phẩm này, ngoài giá trị hiện thực còn chứa đựng giá trị nhân đạo hết sức sâu sắc Đó là những đòi hỏi
về quyền sống, quyền làm người Đó là sự quan tâm đến số phận của những người bé nhỏ, đầy bất hạnh Đó là ý thức phản kháng của nhân vật khi bị dồn vào những bước đường không còn lối thoát
Sau Cách mạng tháng 8 - 1945, đề tài nông thôn chủ yếu được viết với cảm hứng ngợi ca, khẳng định, người nông dân không còn là nạn nhân đáng thương như trước mà xuất hiện với tư thế là chủ nhân chân chính của xã hội Trong kháng
chiến chống Pháp, Làng của Kim Lân, Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, Đánh
trận giặc lúa của Bùi Hiển tái hiện hình ảnh người nông dân gắn bó với quê
hương, bám đất giữ làng Tiếp đó, sau 1954, Xung đột của Nguyễn Khải là sự mở
đầu cho các sáng tác về nông thôn thời kỳ hòa bình ở miền Bắc Sau năm 1960,
các tác phẩm Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm của Đào Vũ, với Cái hom giỏ và
Gánh vác của Vũ Thị Thường, Đồng tháng năm của Nguyễn Kiên, Mùa lạc, Tầm nhìn xa và Hãy đi xa hơn nữa của Nguyễn Khải…, một nông thôn mới
trong hoàn cảnh mới, con người mới phải tự đấu tranh để điều chỉnh lại mình cho phù hợp với sự vận động và phát triển của xã hội đang trên đường tiến lên chủ nghĩa xã hội Nhìn chung, những sáng tác viết về nông thôn giai đoạn này ngoài những phát hiện mới về bản chất tư hữu ở người nông dân còn những điều kiện và hoàn cảnh mới còn xuất hiện những trang miêu tả khung cảnh lao động sản xuất, những phong tục tập quán cùng những quan hệ làng xóm khá sinh động
Tiểu thuyết viết về nông thôn trong chiến tranh chống Mỹ (1964-1975) mang âm hưởng sử thi anh hùng Đây là thời kỳ tiểu thuyết viết về nông thôn đạt được nhiều thành tựu cả về tác phẩm cũng như đội ngũ sáng tác Có thể kể tới các
tác giả: Chu Văn với Bão biển và Đất mặn, Nguyễn Thị Ngọc Tú với Đất làng
và Buổi sáng, Nguyễn Minh Châu với Cửa sông, Nguyễn Khải với Chủ tịch
huyện, Nguyễn Kiên với Vùng quê yên tĩnh, Vụ mùa chưa gặt, Ngô Ngọc Bội
Trang 19với Ao làng , Vũ Thị Thường với Bông hoa súng và Vợ chồng ông lão chăn
vịt… Các tác phẩm này đã bao quát được một khung cảnh hiện thực rộng lớn
với những sự kiện và con người của một thời đáng nhớ, phản ánh được hiện thực một nông thôn sống động dưới sự lãnh đạo của Đảng
Giai đoạn từ 1975 đến 1985 là giai đoạn xã hội có sự chuyển động lớn lao Bản thân các nhà văn lúc này đã có sự trăn trở, suy nghĩ để cho ra được những tác phẩm thực sự có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu của xã hội và thời đại Văn xuôi viết về nông thôn đã có sự chuyển mình Các tác phẩm là lời tuyên cáo đối với cung cách làm ăn và quản lý nông thôn kiểu cũ, đồng thời đề cập đến lối làm
ăn và quản lý nông thôn kiểu mới
Từ sau năm 1986, đề tài nông thôn thời kỳ Đổi mới có sự chuyển mình, đổi mới trong không khí chung của đất nước Tiểu thuyết có sự đổi mới cả về nội dung và phương thức biểu hiện Đề tài nông thôn một lần nữa được khắc họa rõ nét, chân thực ở tất cả các phương diện, trong sự đa dạng, phức tạp, xấu tốt lẫn lộn, đan xen Đề tài nông thôn hấp dẫn đối với nhiều cây bút và thu được nhiều
thành tựu: Lê Lựu với Thời xa vắng (1986), Chuyện làng Cuội (1991), Sóng ở
đáy sông (1994), Nguyễn Khắc Trường với Mảnh đất lắm người nhiều ma
(1990), Dương Hướng với Bến không chồng (1990), Ngô Ngọc Bội với Ác
mộng (1990), Tạ Duy Anh với Lão Khổ (1992), Hoàng Minh Tường với Thủy hỏa đạo tặc, Đáng chú ý là Thời xa vắng của Lê Lựu Tác phẩm ra đời
trúng thời điểm Đổi mới Vừa ra mắt bạn đọc, tác phẩm nhanh chóng phổ biến rộng rãi, chỉ trong mấy tháng đầu đã tái bản 4 lần với số lượng lên đến
80 nghìn bản Thời xa vắng trở thành sự kiện nổi bật trong đời sống văn học
lúc bấy giờ Nó đã tạo đà, khởi hứng và phát triển mạnh mẽ cho một khuynh hướng nhận thức lại lịch sử nông thôn với cảm hứng phê phán Tác phẩm đã xoáy sâu vào những vấn đề có tính thời sự, nhạy cảm; điều chỉnh lại những quan điểm, cách nhìn không còn phù hợp với thời cuộc Qua sự sàng lọc của thời gian, những vấn đề đặt ra trong tác phẩm được coi là bước đột phá
Trang 20đầy mới mẻ trong cách nhìn về quá khứ nông thôn, về người nông dân, trả lại những giá trị đích thực mà tác giả đã miệt mài sáng tạo
Bến không chồng của Dương Hướng là một bức tranh về nông thôn,
song những hoạt động sản xuất và đấu tranh ở nông thôn, sự hình thành cuộc sống mới và con người mới chỉ là “phông nền” mà cái chính vẫn là số phận bi thương của Nguyễn Vạn, của Nghĩa, của Hạnh; là sự phá sản của
dòng họ Nguyễn và những người cùng trong tộc họ ở làng Đông Mảnh đất
lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường cũng đi sâu vào vấn đề họ
tộc- một trong những vấn đề rắc rối nhất ở nông thôn Nhưng nếu Bến
không chồng là “cuốn gia phả” thì Mảnh đất lắm người nhiều ma chỉ “cắt
lấy một khoảnh khắc nhỏ” của cuốn gia phả đó để quan sát Đó là cuộc xung đột có tính chất “truyền kiếp” giữa hai dòng họ Vũ và Trịnh ở xóm Giếng Chùa Tuy nhiên, xung đột cơ bản ở xóm Giếng Chùa “không phải là cuộc đấu tranh “ai thắng ai”, giữa chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa tư bản, mà là
“dòng họ nào thắng, người của họ nào sẽ nhân danh Đảng nắm quyền lãnh đạo trong làng” [78] Qua những pha tranh chấp, giành giật gay cấn, nhà văn cho bạn đọc thấy: mảnh đất Giếng Chùa không chỉ lắm người nhiều ma
mà còn lắm ma ngay trong bản thân con người
Tạ Duy Anh với Lão Khổ nổi lên với phong cách độc đáo, với những thể
nghiệm mạnh bạo trong cách viết, góp phần tạo nên diện mạo mới cho tiểu thuyết viết về nông thôn Ở tác phẩm này, nhà văn đã thể hiện được sự từng trải hơn, già dặn hơn, kỹ thuật hơn và cũng táo bạo hơn trong việc chiếm lĩnh hiện thực nông thôn Tác phẩm đã tái hiện được bức tranh toàn cảnh của làng quê Bắc Bộ trong những năm 1950-1970 đầy máu và nước mắt
Một số tác phấm khác như Gia phả để lại (Đoàn Lê), Những thiên đường
mù (Dương Thu Hương), Ly thân (Trần Mạnh Hảo), Lời nguyền hai trăm năm
(Khôi Vũ), Ác mộng (Điển Y) đều ánh chiếu vào một thời đau thương của
quá khứ nhằm lật xới những mảng tối, những mặt trái, mặt tiêu cực đã bị lờ đi,
Trang 21bị gác lại Nếu như trước đây văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn chỉ đi vào phản ánh những mặt tốt đẹp của đời sống xã hội nông thôn và nông dân, thì nay, những mặt trái của quá khứ nông thôn như cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp đã được nhìn nhận, đánh giá lại Vấn đề dòng họ, bè phái, phe giáp trong nội bộ, sự ấu trĩ trong việc ngăn cấm làm giàu cá nhân cũng được phanh phui, mổ xẻ
Nhìn chung, văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn ở chặng này đã thể hiện được sự mẫm cảm, tinh nhạy trước công cuộc đổi mới của nông thôn Tiểu thuyết nông thôn bước đầu đánh dấu một mốc son trong hành trình tìm về nông thôn và nông dân, góp phần tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ ở chặng sau
Đến những năm đầu của thế kỷ XXI, đời sống nông thôn trên con đường đổi mới vẫn được các nhà văn “thám hiểm” và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Mốt số cây bút thực sự bứt phá và đi vào hội nhập cùng với dòng chảy của văn học đương đại Ở chặng này, quy tụ nhiều thế hệ sáng tạo Với một đội ngũ hùng hậu (trải qua bốn thế hệ) nhà văn, kể cả những cây bút lão thành thuộc thời chống Pháp, Mỹ như Tô Hoài, Lê Lựu, Ngô Ngọc Bội, Vũ Huy Anh, Cao Năm, Trịnh Thanh Phong, Trần Quang Vinh, Dương Hướng, Nguyễn Hữu Nhàn vẫn dẻo dai, sắc bén trên từng trang viết Tiểu thuyết viết
về nông thôn giai đoạn này đã gặt hái được nhiều thành tựu Nhiều tác phẩm được nhận giải thưởng từ các cuộc thi hoặc giải thường niên của Hội nhà văn,
có một số tác phẩm không đạt giải nhưng lại được dư luận quan tâm, gây tiếng vang lớn đối với bạn đọc và giới nghiên cứu, phê bình văn học, tạo nên sự sống
động, tươi mới như Cuồng phong (Nguyễn Phan Hách), Thời của thánh thần (Hoàng Minh Tường), Thần thánh và bươm bướm (Đỗ Minh Tuấn), Ba người
khác (Tô Hoài), Ma làng (Trịnh Thanh Phong)
Ba cuộc thi tiểu thuyết do Hội nhà văn tổ chức bốn năm một lần (từ năm 1998 - 2010) đã ghi nhận giá trị của mảng tiểu thuyết nông thôn trước và sau thập niên đầu của thế kỷ XXI Nhiều giải thưởng đã được trao tặng cho
Trang 22các tác giả viết về đề tài này Qua mỗi cuộc thi, mảng tiểu thuyết nông thôn đều có tác phẩm đoạt giải cao như Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ hai (2002 - 2006) có 14 tác phẩm đoạt giải, trong đó có 3 tác phẩm viết về nông thôn:
Dòng sông Mía (ĐàoThắng) đoạt giải A, Cánh đồng lưu lạc (Hoàng Đình
Quang) đoạt giải B, Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Anh) đoạt giải C Cuộc
thi tiểu thuyết lần 3 (2006 - 2010), trong tổng số 51 tác phẩm lọt vào vòng chung khảo, mảng tiểu thuyết viết về nông thôn chiếm một số lượng lớn:
Cách trở âm dương (Vũ Huy Anh), Cuồng phong (Nguyễn Phan Hách), Dưới chín tầng trời (Dương Hướng), Sấp ngửa bàn tay (Nguyễn Tam Mỹ), Màu rừng ruộng (Đỗ Tiến Thụy) Thần thánh và bươm bướm của Đỗ Minh Tuấn
đạt giải C, những đóng góp của một số tiểu thuyết viết về nông thôn dự giải
đã góp phần làm phong phú hơn mảng văn học này nói riêng và văn xuôi đương đại nói chung
Tiểu thuyết nông thôn năm đầu thế kỉ XXI tiếp tục có những tìm tòi, thể nghiệm, đổi mới Trong sự mở rộng về chủ đề, nhiều tác phẩm đã tái hiện bộ mặt nông thôn và nông dân ở chiều rộng lẫn bề sâu Nông thôn trong các cuộc đấu tranh dành quyền lực nhằm toan tính tư lợi cá nhân, gia đình, dòng tộc; những định kiến cổ hủ, lạc hậu tồn tại dai dẳng trong đời sống nông thôn như
một định mệnh nghiệt ngã (Dòng sông Mía- Đào Thắng, Ma làng-Trịnh Thanh Phong) Những mánh khóe nhằm chiếm dụng của nhà nước, bòn rút
của nhân dân, làm giàu bất chính của một bộ phận cán bộ cấp xã, thôn Nguy
cơ xuống cấp về tư tưởng, đạo đức cũng như lối sống của bộ máy lãnh đạo ở nông thôn, dĩ nhiên một số người nông dân cũng cùng chung guồng máy đó
(Chuyện làng Cuội- Lê Lựu, Cuồng phong- Nguyễn Phan Hách, Đồng sau bão- Hoàng Minh Tường) Nông thôn thời đổi mới với những khởi sắc và cả
sự bất ổn, đặc biệt là quá trình biển đổi sâu sắc trong sự tiếp diễn văn hóa, trong đó khả năng và năng lực hành động của người nông dân trước sự đổi
thay của nông thôn trên con đường hiện đại hóa (Dòng chảy đất đai- Nguyễn
Trang 23Uyển, Dưới chín tầng trời- Dương Hướng, Dòng sông chở kiếp- Nguyễn Quốc Hùng) Khoảng cách giữa hai thế hệ là một vấn đề đang ngày càng trở nên nhức nhối trong xã hội nông thôn cũng được các nhà văn phản ánh (Lão
Khổ- Tạ Duy Anh, Dòng sông Mía- Đào Thắng, Giời cao đất dày- Bùi Thanh
Minh) Chủ đề ngợi ca những nông dân điển hình, những cán bộ xã, thôn tâm
huyết, có tầm nhìn xa, có ý thức tự lực, có lòng tự trọng, khát khao dân chủ và nhân văn và có sự đột phá trong quản lí, trong kinh tế đã góp phần mang lại cho nông thôn một bình diện mới như Lại Tiến Thịnh, Nguyễn Mạnh Quang
trong Dòng chảy đất đai, Thương Huyền trong Dưới chín tầng trời
Những chủ đề đã được quan tâm trước đó như nông thôn thời chiến
tranh, cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp cũng đã quay trở lại Nông thôn với những cảnh tượng kinh hoàng, long trời lở đất, với những năm đầu cách mạng và những năm chiến tranh chống Mỹ đầy gian khổ, đẫm máu và cả
sự hi sinh cao cả của những người nông dân chân lấm tay bùn được hiện ra chân thực Nhà văn đề cao sức sống, bản lĩnh và tình đoàn kết, sự tương thân tương ái của người nông dân trong việc bảo vệ làng xóm và trong cuộc sống
đời thường (Chuyện làng Cuội - Lê Lựu, Nước mắt một thời - Nguyễn Khoa Đăng, Ba người khác - Tô Hoài, Thời của thánh thần - Hoàng Minh Tường,
Giời cao đất dày - Bùi Thanh Minh) Ngoài ra, với sự xuất hiện hai chủ đề về
số phận con người và hạnh phúc cá nhân, đặc biệt là số phận của những người phụ nữ yếu duối, bất hạnh trong cuộc sống hôn nhân gia đình đã đưa tiểu thuyết nông thôn ở chặng đường này lên ngôi ở chiều sâu và chiều rộng trong phản
ánh hiện thực (Chuyện làng Cuội - Lê Lựu, Dòng sông Mía - Đào Thắng)
Như vậy, tiểu thuyết nông thôn những năm đầu thế kỷ XXI có sự đa dạng và phong phú về chủ đề Những vấn đề bức xúc, phức tạp trong đời sống nông thôn đương đại được các nhà văn phản ánh, nhận thức lại một cách chân thực, đầy đủ và sâu sắc Mọi vấn đề có tính cội rễ của đời sống xã hội nông thôn được đặt ra một cách ráo riết, nhằm hướng tới sự quan tâm
Trang 24của người đọc, giúp mọi người nhận rõ được bộ mặt của nông thôn Việt Nam đương đại vừa thanh bình vừa hiện đại, vừa yên ả vừa sóng gió để bạn đọc không ngừng suy tư, trăn trở
Tiểu thuyết nông thôn những năm dầu thế kỷ XXI có nhiều tìm tòi, thể nghiệm và cách tân trong hình thức nghệ thuật Hàng loạt cách viết mới của chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại được khai mở như bút pháp nhại, huyền thoại,
kì ảo, nghịch dị, vô thức, những kĩ thuật phân tâm học, kỹ thuật độc thoại nội tâm, dòng ý thức, lắp ghép điện ảnh, nghệ thuật giãn cách, đa giọng điệu, liên văn bản; hình tượng được kiến tạo theo nguyên tắc lạ hóa, sự xáo trộn giữa thực và hư, giữa siêu nhiên, huyền bí và đời thường đã được các nhà văn thể nghiệm, vận dụng nhuần nhuyễn trong tác phẩm của mình Sự đổi mới đó, trước hết thể hiện ở ý hướng giã từ lối viết theo chủ nghĩa hiện thực và hiện thực xã hội chủ nghĩa Yếu tố kỳ ảo, huyền thoại được sử dụng dày C h ẳ n g
h ạ n , Dòng sông Mía là huyền thoại về Cá thần ở dòng sông Châu Giang vừa
hiền lành vừa hung dữ trừng trị những kẻ phạm đạo Lão Khổ, Dòng chảy đất
đai… ôm chứa nhiều thể loại khác như thơ, tục ngữ, thư từ, chuyện kể, nhật ký,
tham luận khoa học, cổ tích, huyền thoại, điển tích Điểm nhìn trần thuật không còn đơn tuyến, (không đơn điệu, duy nhất một điểm nhìn), mà có sự luân phiên
phối hợp các điểm nhìn khác nhau Trong Giã biệt bóng tối, Ba người khác…
điểm nhìn trần thuật được phân tán về mọi phía, mọi góc độ Những đổi mới trong ngôn ngữ trần thuật cũng là nỗ lực sáng tạo đáng ghi nhận của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới Nổi bật là mô thức trần thuật ở ngôi thứ nhất và sự đan xen giữa các ngôi, là độc thoại, độc thoại nội tâm, hay kỹ thuật phân tích tâm lý
Trong bức tranh toàn cảnh tiểu thuyết thời kì đổi mới, tiểu thuyết nông thôn đã hòa vào dòng chảy chung để phán ánh trọn vẹn bức tranh nông thôn đương đại với nhiều cung bậc cảm xúc, đường nét độc đáo hơn Khi khai thác về một đối tượng không mới trong truyền thống văn học, các nhà văn vẫn khẳng định được tài năng sáng tạo của mình bằng việc đổi mới tư duy nghệ thuật thông
Trang 25qua việc lựa chọn đề tài, xây dựng cốt truyện, nhân vật và cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật Nông thôn Việt Nam vừa truyền thống vừa hiện đại, vừa cũ vừa mới, vừa bình yên vừa phức tạp hiện lên sinh động, hấp dẫn trong từng trang viết Sự đóng góp đó đã mang lại sức sống mới, chiều sâu mới cho nền tiểu thuyết Việt Nam bằng những trang văn rất riêng, Nó khẳng định tiếng nói, tâm hồn, bản lĩnh của dân tộc mà các nhà văn đã và đang miệt mài sáng tạo
1.2 Quan điểm nghệ thuật, con đường sáng tạo của Lê Lựu và vị trí của
tiểu thuyết Thời xa vắng
1.2.1 Quan niệm nghệ thuật
Quan niệm nghệ thuật chính là một phương tiện thiết yếu của sáng tạo nghệ thuật Do vậy, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật chính là bước đi thiết thực
để đến với chiều sâu của các tác phẩm, của giá trị văn học Nhà văn Lê Lựu bộc lộ quan điểm nghệ thuật thông qua những trang viết và chính lời nói của mình Ông nói: “Tôi là người ít học, ít đọc vì lười nghĩ ngợi Toàn bộ những trang viết của tôi chỉ theo đuổi một nguyên tắc là sự thật Tôi không thể viết được nếu không bám vào sự thật Tôi chỉ là người kể chuyện, có gì viết nấy” [56, tr.501] Trong một lần “Hỏi chuyện tác giả, tìm hiểu tác phẩm”, ông tiếp tục khẳng định với bạn đọc: “Tôi nghĩ, văn chương phải đối thoại được với cuộc sống, viết thật lòng không nói dối - nhờ cái thật mà đối thoại được với cuộc đời và người đang sống” [56, tr 547]
Như vậy, chúng ta nên hiểu "sự thật" đó như thế nào Cái thật trong văn học, theo quan niệm của Lê Lựu, nó bắt nguồn từ cái thật trong cuộc sống mà cuộc sống thời bấy giờ có nhiều sự đổi thay to lớn Người đọc thích nhìn thẳng vào sự thật, nói thật và làm thật Qua văn chương, người đọc muốn hiểu thời đại lúc bấy giờ ra sao, muốn nhận thức đúng thực chất các mối quan hệ xã hội của con người trong một xã hội đầy biến động Ông ý thức rằng, văn học không thể tách rời hiện thực mà phải bám sát hiện thực Vậy là đã rõ, “sự thật” chính
là nguyên tắc của Lê Lựu trong việc xây dựng tác phẩm, “Tôi không thể viết
Trang 26được nếu không bám vào sự thật” Đấy là lời thổ lộ chân thành nhất của người cầm bút Và điều này không phải là lời nói suông mà trên hầu hết những trang viết, sự thật hiện lên như nó vốn có Không một chút màu mè Không một chút
tô vẽ Trên hành trình kiếm tìm sự thật ấy, nhà văn đã mạnh dạn phơi bày tất cả những gì đang diễn ra, những gì trước nay bị che dấu, bị lờ đi Vì vậy, sự thật
về đời sống, về con người hiện lên rõ nét hơn trong tác phẩm của ông
Là một người nông dân mặc áo lính, Lê Lựu luôn luôn nghĩ về quê hương, ông chú ý đến tất cả mọi điều liên quan đến người nông dân Nông thôn và người nông dân là mảng đề tài bất tận mà ông khai phá Cho nên, viết về đề tài gì đi chăng nữa thì hình ảnh làng quê với những nhân vật
"người nhà quê" vẫn hiển hiện trên từng trang viết Theo nhà nghiên cứu Đinh Quang Tốn: “Đề tài hậu phương nông thôn miền Bắc trong chiến tranh chống Mỹ có nhiều người viết, nhưng Lê Lựu là người viết thành công hơn cả” [56, tr 663] Hơn thế nữa, Lê Lựu đi nhiều, biết nhiều, vốn sống của ông căng tràn Bản thân là một người lính nên ông rất dễ hoà đồng với họ Ông hiểu tâm tư tình cảm của họ một cách tự nhiên Họ chính là ông mà ông cũng chính là họ Ông đã viết những gì mình biết, mình hiểu một cách sâu sắc và tất cả những điều ấy đều xuất phát từ quan niệm nghệ thuật "tôn trọng sự thật" Do vậy, khi nghiên cứu tác phẩm, chúng ta không thể không đề cập đến quan điểm nghệ thuật của nhà văn
1.2.2 Con đường sáng tạo của Lê Lựu
Lê Lựu sinh vào ngày 12/12/1942 tại một làng ngoài đê sông Hồng, thôn Mẫn Hoà, xã Tân Châu, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình nông dân bình thường như bao gia đình nông dân đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam Làng quê mà ông sinh ra và lớn lên là một vùng quê nghèo đói, một vùng chiêm trũng ngập lụt Ông lớn lên giữa lúc miền Bắc được hoàn toàn giải phóng Người nông dân bước vào công cuộc xây dựng xã hội mới, người cày có ruộng
Trang 27Lê Lựu rời ghế nhà trường từ đầu những năm 1960, lúc đó phong trào “ba nhất” trong quân đội đang hừng hực khí thế Lúc đầu, ông làm báo ở Quân khu III Tiếp đến là phóng viên báo, công tác tại Mặt trận đường dây 559 Trường Sơn thời
kỳ chiến tranh, với tư cách một người lính văn hóa
Đến những năm 1970, ông chuyển về tạp chí Văn nghệ quân đội, từng là
biên tập viên văn xuôi, phụ trách thư kí tòa soạn Ở đấy, ông không chỉ làm công việc của một biên tập viên mà còn sáng tác Trong đời thường Lê Lựu chân thật, hồn nhiên, đôi lúc có phần “lôi thôi lếch thếch”, “luộm thuộm” nhưng bên cạnh đó, ông sống rất gần gũi, chân thật, cởi mở… đó chính là nguồn lực khiến ông không khô khan trong sáng tác văn chương
Khởi đầu sự nghiệp viết văn từ những năm 1960 của thế kỷ XX, Lê Lựu thuộc số ít những nhà văn thế hệ chống Mỹ tiếp tục có những thành tựu nổi bật trong lao động nghệ thuật từ sau 1975, nhất là từ công cuộc đổi mới văn học từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI tới nay Gần 40 năm cầm bút với hơn 20 tập sách, số lượng tác phẩm của Lê Lựu thuộc loại trung bình Lê Lựu vốn khởi nghiệp từ nghề báo nhưng lại thành công trong lĩnh
vực văn chương Truyện ngắn đầu tay của ông là Tết làng Mục (1964), tiếp đến là Người cầm súng (1967), rồi sau đó là tiểu thuyết Mở rừng (1977),
Thời xa vắng (1986), Chuyện làng Cuội (1993), Sóng ở đáy sông (1994), Hai nhà (2000),… Ngoài hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết ra, Lê Lựu còn
có hai tác phẩm kí gây tiếng vang một thời: Một thời lầm lỗi (1988) và Trở
lại nước Mỹ (1989)
So với các nhà văn khác như Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Minh Châu… thì sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu chưa lớn, số lượng tác phẩm không nhiều nhưng Lê Lựu lại được độc giả chú ý không chỉ một hoặc hai tác phẩm Đây chính là điểm thành công ở ông, một nhà văn có được một tác phẩm được đông đảo bạn đọc và giới phê bình văn học quan tâm thì đã được xem là thành công và Lê Lựu đã không chỉ có một mà còn nhiều hơn một, ông viết không khỏe nhưng những tác phẩm đều nặng về giá trị
Trang 28Trong quá trình lao động nghệ thuật miệt mài, nghiêm túc, Lê Lựu đã khẳng định mình ở nhiều thể loại như: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, ký, tạp văn,… và thành quả nghệ thuật của ông được khẳng định trong một loạt giải
thưởng như: Giải nhì hội thi Truyện ngắn báo Văn nghệ 1967 - 1968 (không có giải nhất) với truyện ngắn Người cầm súng Giải A cuộc thi viết về thương binh của Hội Nhà văn, Bộ Thương binh với truyện Người về từ đồng cói Đặc biệt với giải thưởng của Hội Nhà văn dành cho Thời xa vắng, đã có hàng loạt bài
phát biểu về tiểu thuyết của ông Có thể nói Lê Lựu đã trở thành một cây bút của văn chương đương đại được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Thành công hơn cả đối với Lê Lựu chính là thể loại tiểu thuyết Chính
thể loại này đã làm nên tên tuổi Lê Lựu với một loạt tác phẩm như Thời xa
vắng, Sóng ở đáy sông, Chuyện làng Cuội, Hai nhà…Tác phẩm của ông khai
thác những vấn đề thuộc chiều sâu của xã hội, ông không ngại nói lên những sai lầm của cải cách ruộng đất, không ngại khi nói về những vấn đề của cuộc sống hôn nhân, không ngại nói về lối sống của người thành thị… Tất cả được ông đưa ra và thêm một lần nữa khẳng định những vấn đề được xem là những vấn đề nóng của xã hội đương đại
Có thể nói, Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội, Sóng ở đáy sông không
những cho bạn đọc biết đến một nhà tiểu thuyết Lê Lựu mà còn khẳng định phong cách nghệ thuật cũng như in dấu đậm nét tên tuổi nhà văn trong quá trình vận động của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
1.2.3 Vị trí của tiểu thuyết Thời xa vắng
Lê Lựu là một trong số những nhà văn trưởng thành trong cách mạng và cũng là một trong số những nhà văn quan tâm đến bước chuyển mình của đời sống nhân dân, đặc biệt là đời sống người nông dân
Sự trình làng của tiểu thuyết Thời xa vắng vào năm 1986 đã làm khuấy
động bầu không khí văn học nước nhà Tác phẩm này thực sự trở thành một hiện tượng văn học, làm tốn không ít giấy mực của giới phê bình và nghiên
Trang 29cứu văn học Đây là tác phẩm có ý nghĩa bước ngoặt trong văn nghiệp của Lê Lựu, tác phẩm giúp nhà văn xác định vị thế chắc chắn của mình trong hàng ngũ những nhà văn tiêu biểu của thời kỳ Đổi mới, đồng thời là tác phẩm có ý nghĩa như một dấu mốc quan trọng trong tiến trình vận động và phát triển của văn xuôi nước nhà từ sau 1975
Khi Thời xa vắng xuất hiện trên văn đàn lập tức tác phẩm đã được đánh giá
như một cọc tiêu tiền trạm của công tác đổi mới văn học Theo Giáo sư Phong Lê
“Thời điểm 1984 khi cuốn sách được viết ra quá muộn so với sự chuyển giai đoạn cách mạng diễn ra từ 1975, nhưng vẫn cứ là đóng góp, là sự đón nhận trước cái yêu cầu “nhìn thẳng vào sự thật” và nhận thức lại lịch sử được đề ra với Đại hội
VI, cuối năm 1986 Cuốn sách có giá trị một đóng góp tiền trạm là thế” [38]
Vấn đề đặt ra ở tác phẩm có một ý nghĩa sâu sắc: nhu cầu nhận thức lại
thực tại Về vấn đề này, Nguyễn Văn Lưu cho rằng: "Tiểu thuyết Thời xa vắng
của Lê Lựu phản ánh sinh động và chân thực quá trình chuyển biến trong nhìn nhận, đánh giá thực tại" [41] Ông cũng đánh giá cao về sức lao động của tác giả bởi những trang viết xúc động, chân thực về tình cảnh làm thuê của người dân làng Hạ Vị và của Sài Nhà văn phản ánh một cách sắc bén, hàm súc, những hoàn cảnh, những thói quen, những tập quán, di sản của xã hội cũ Những trang
tả tuổi thơ của Sài và cuộc sống làm thuê của gia đình anh, của cả dân làng Hạ
Vị là những trang chân thực và hết sức sinh động, Ông cũng khẳng định tài năng của Lê Lựu: "Phải là người dân nghèo khổ mới viết được những câu văn ứa lệ như vậy, đó là những trang văn hay của văn xuôi Việt Nam" [41]
Nói đến nhà văn Lê Lựu mọi người thường nghĩ ngay đến Thời xa vắng,
tác phẩm đã đưa ông trở thành “sỹ quan” trong làng văn Không phải là khó
hiểu khi mọi người lại giành cho Thời xa vắng quá nhiều lời khen chê, lẽ giản
đơn bởi tác phẩm này đã khơi dậy sứ mênh thiêng liêng mà mọi nền văn học chân chính xưa nay muốn đảm nhiệm Theo nghĩa này, Vương Trí Nhàn đã
khẳng định: "Thời xa vắng nên được xem là cuốn sách biết làm đúng nhiệm vụ
một tác phẩm văn học cần làm” [53]
Trang 30Thời xa vắng trở thành sự kiện nổi bật trong đời sống văn học lúc bấy
giờ Nó đã tạo đà, khởi hứng và phát triển mạnh mẽ cho một khuynh hướng
nhận thức lại lịch sử nông thôn với cảm hứng phê phán Cuốn gia phả để lại,
Những thiên đường mù, Ly thân, Pháp trường trắng, Lời nguyền hai trăm năm, và Ác mộng… đều ánh chiếu vào quá khứ của một thời đau thương nhằm
lật xới những mảng tối, những mặt trái, mặt tiêu cực đã bị lờ đi, hoặc gác lại Nếu như trước đây văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn chỉ đi vào phản ánh những mặt tốt đẹp của đời sống xã hội nông thôn và nông dân, thì nay, những mặt trái của quá khứ nông thôn như cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp đã được nhìn nhận, đánh giá lại Vấn đề dòng họ, bè phái, phe giáp trong nội bộ, sự ấu trĩ trong việc ngăn cấm làm giàu cá nhân cũng được phanh phui, mổ xẻ
Trong so sánh với văn xuôi Việt Nam trước và sau 1975, Thời xa vắng
của Lê Lựu vừa như rất cũ, rất gần gũi với văn xuôi thời kỳ chiến tranh, vừa như rất mới với những yếu tố cách tân trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Điều đó xác định tính chất quá độ của tác phẩm trên hành trình đổi mới của văn xuôi Việt Nam sau 1975 Tuy không phải là sự cách tân toàn diện
như các tác phẩm của một số tác giả khác trong giai đoạn sau, nhưng Thời xa
vắng của Lê Lựu vẫn là tác phẩm có ý nghĩa mở đường, tác phẩm đã đặt dấu
mốc quan trọng trong tiến trình vận động và phát triển của văn xuôi nước nhà, tác phẩm đã đưa nhà văn Lê Lựu lên vị trí danh dự của những nhà văn xuất sắc thời kỳ Đổi mới Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với đánh giá sau đây của một nhà nghiên cứu văn học: “Nếu trong tổng số sáu trăm hội viên Hội nhà văn Việt Nam (thời điểm 1986), cứ mười người chọn lấy một người tiêu biểu, thì Lê Lựu
là một trong số 60 nhà văn ấy Nếu về văn xuối hiện đại Việt Nam, chọn lấy 50
tác phẩm, thì có mặt Thời xa vắng Nói thế để thấy, trong văn học Việt Nam
hiện đại, Lê Lựu đã có một vị trí đáng kể” [76]
Trang 31Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, luận văn đã khái quát đặc điểm tiểu thuyết Việt Nam trước thời kỳ Đổi mới và tiểu thuyết nông thôn trong bức tranh chung của tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới để từ đó thấy được sự vận động và phát triển của thể loại tiểu thuyết qua các thời kỳ Cũng trong chương này, chúng tôi đi sâu, tìm hiểu về Lê Lựu qua cuộc đời, sự nghiệp sáng tác và những đóng góp của tác giả đối với thể loại tiểu thuyết và đối với nền Văn học đương đại Với những nỗ lực sáng tạo nghệ thuật, cộng với những thay đổi trong quan niệm về hiện thực
và con người, Lê Lựu đã khẳng định vai trò tiên phong trong việc đổi mới tư
duy tiểu thuyết, đặc biệt là trong tiểu thuyết Thời xa vắng Tác phẩm đã đưa
ông lên vị trí của những nhà văn xuất sắc thời kỳ Đổi mới
Trang 32Chương 2
NÔNG THÔN TRONG THỜI XA VẮNG - NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN
NỘI DUNG 2.1 Bức tranh hiện thực cuộc sống nông thôn
Hiện thực cuộc sống luôn đa dạng và phức tạp, là “vùng trời, vùng đất thênh thang” (Lý Hoài Thu), thích hợp cho sự sáng tạo của tiểu thuyết Mảng
đề tài viết về người nông dân có mặt trong các thời kì khác nhau của văn học Việt Nam Nhiều nhà văn xuất thân từ nông dân, vốn dĩ đã mang trong mình hiểu biết và trải nghiệm sâu sắc về cuộc sống ở nông thôn Có tác giả được tôn vinh là nhà văn của nông dân như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Kim Lân… Họ có các sáng tác thể hiện được cái hồn của đời sống người nông dân Bức tranh nông thôn trước Cách mạng tháng 8 hiện lên ảm đạm, thê thiết Người nông
dân bị bóc lột, bần cùng bởi sưu cao thuế nặng (Tắt đèn - Ngô Tất Tố); đời sống xã hội ngột ngạt, con người bị tước đoạt nhân hình, nhân tính (Chí Phèo -
Nam Cao) Cách mạng tháng 8 mang đến cho người nông dân quyền làm chủ
đất nước, cuộc sống bừng lên ánh sáng của niềm tin Tác phẩm Cái sân gạch,
Vụ lúa chiêm (Đào Vũ), Anh Keng (Nguyễn Kiên), Đất làng (Nguyễn Thị Ngọc
Tú)… hướng về ca ngợi nông thôn mới, mô hình hợp tác xã, quyền làm chủ lao động sản xuất của người nông dân… Bức tranh nông thôn có nhiều đổi mới nhưng đời sống của người nông dân vẫn chưa thoát khỏi đói nghèo
Văn xuôi Việt Nam thời kì Đổi mới nhìn nhận nông thôn với xu hướng
nhận thức lại các vấn đề của nó Tiểu thuyết Thời xa vắng, Chuyện làng
Cuội, Sóng ở đáy sông của Lê Lựu cùng với các tác phẩm khác như Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng (Dương
Hướng) Phiên chợ Giát, Khách ở quê ra (Nguyễn Minh Châu)… thể hiện
một cách nhìn khác về nông thôn và người nông dân Giáo sư Phong Lê
trong bài viết Nông thôn và ngươi nông dân trong văn học Việt Nam thế kỷ
XX đã ghi nhận sự chuyển mình và sáng tạo ở mảng đề tài này: "Đó là nông
Trang 33thôn thời hậu chiến; nông thôn trong và sau sự thực thi một mô hình sai lạc
về phát triển xã hội; nông thôn trong các quan hệ làng xã, gia tộc, giòng họ; nông thôn với sự bảo lưu hoặc thay đổi các tập quán, phong tục Cuối cùng, hoặc bao trùm, đó là nông thôn trong guồng chuyển đô thị hóa khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập, mở cửa"
2.1.1 Vùng quê nghèo khó
Sinh ra ở một làng quê nghèo khó, ở Lê Lựu có “ngấm chất bùn đất của thôn quê”, ông viết về đề tài nông thôn như món nợ canh cánh với mảnh đất quê hương quanh năm lụt lội, đói nghèo: “Nông thôn và người nông dân
là cội nguồn, là quê hương văn học của anh” [56, tr.656] Thời xa vắng dựng
lên bức tranh sống động về đất nước trước và trong thời kỳ Đổi mới Nhà văn gây ấn tượng mạnh mẽ cho bạn đọc ngay ở trang đầu tiên viết về cuộc sống làng quê: “Làng bập bềnh như trôi trong đêm sương muối Những cây cau thẳng đuột cao vóng như chỉ chực lao thẳng đến tận trời chìm ngập giữa
âm thầm giá lạnh” [42, tr.5] Không gian lặng lẽ, âm thầm trong đói nghèo
Dù đã được giải phóng, được làm chủ những “tầng tầng phù sa trông ngon như những tảng thịt nạc” nhưng “nạn đói đang có nguy cơ loang bùng khắp xã” [42, tr.21] Làng Hạ Vị năm nào cũng phải chạy lụt, nước sông ăn lên
“lem lém nuốt chửng cả bãi xanh non mênh mông lúa lốc và vừng” “Những ngày mưa ngâu ào đến, ào đi như một trò đùa dai dẳng…” Cảnh chạy lụt hối
hả “Tiếng trống thúc ngũ liên, tiếng loa hối hả suốt ngày đêm gọi người lớn
đi hộ quai đê, giục trẻ con, người già, trâu bò, lợn gà chạy vào đê chính”,
“Làng quay cuồng mù mịt trong nỗi hoảng loạn” Thiên tai đẩy cuộc sống của người dân Hạ Vị vào cảnh khốn đốn, màn trời chiếu đất khi đê vỡ “nước
đã tràn về ào ạt như gió, trong chốc lát cánh đồng lởm chởm mấp mô đã trắng băng” Năm nào cũng gồng mình trước lụt lội, thiên tai, người dân xem cái nghèo như vốn dĩ cuộc sống phải thế: “gia đình phong lưu nhất mới giữ được ngày hai bữa: bữa sáng rong riềng non tèo tẽo và bữa chiều cháo nấu
Trang 34Nam Cao từng miêu tả cảnh khốn đốn vì miếng ăn của người nông dân trong các truyện ngắn của mình Kim Lân viết về bữa ăn ngày đói với cháo loãng, rau chuối, cháo cám Cùng viết về đề tài nông thôn, nhà văn Nguyễn Khắc Trường miêu tả cảnh đói giáp hạt ở xóm Chùa Cái đói làm nhiều người đứt bữa:
“Nồi niêu lúc nào cũng há cái miệng rỗng, nhẵn như đầu bụt! Những mặt người hao gầy, nhớn nhác hớt hải cứ tưởng vội vã đi đâu, nhưng kì thực chẳng có việc
gì hết, cứ ra vào quanh quẩn với cái bụng sôi èo èo…” Cái đói đã trở thành vấn nạn đe dọa cuộc sống người nông dân và là vấn đề đặt ra bức thiết
Nhà văn Lê Lựu thấu hiểu những cơ cực của người nông dân, đau xót trước thực trạng nghèo đói ở nông thôn, nhưng ông cũng mạnh dạn chỉ ra nguyên nhân không chỉ ở thiên tai, mất mùa… mà còn nằm ở chính thói chây
ì, dựa dẫm vào việc đi làm thuê của dân làng Hạ Vị Sự nghèo khó hằn vào nếp nghĩ khiến hình thành những cung cách làm ăn không giống ở đâu:
“Không hiểu từ đời nào làng chỉ quen đi làm thuê Miếng cơm thiên hạ bao giờ cũng ngon Những người khỏe mạnh có nghề trong tay, dường như mục đích cao cả và sự sung sướng hồi hộp của họ cũng chỉ là kiếm được miếng
ăn giữa tháng ba ngày tám, sau đấy vợ chồng con cái lại dắt díu nhau về cày bừa vội vã để lại bồng bế ra đi Đến mùa thu hoạch lại về Hết mùa lại đi
Cứ thế Khi về lại nhớ cơm thiên hạ Khi đi lại cồn cào thương nhớ từ gốc cau, bụi chuối Họ không yêu thiết tha đồng ruộng nhưng không đủ sức dứt
bỏ những gì quen thuộc từ thuở cha sinh mẹ đẻ ở cái nơi mà ai cũng gọi là quê hương” [42, tr 22] Người ta tranh giành nhau để có được công việc Cu Sài đã biết đi làm thuê từ bé, biết len đến, luồn lách, kiễng lên án ngữ trước mặt chủ để xin việc, đắc ý được người ta thuê làm, nhưng miếng cơm của thiên hạ không dễ kiếm: “Cái phút ấy thằng Sài muốn ứa nước mắt vì bị khinh rẻ, nó hiểu thế nào là thân phận của kẻ đi làm cốt chỉ để kiếm lấy một bữa cơm” [42, tr 29] Suốt một thời gian dài, các mô hình làm ăn đã thay đổi từ “tổ đổi công lên hợp tác thấp, hợp tác cao”, từ “khoán trắng, khoán
Trang 35đen đến năm ba khâu quản” [42, tr 30] nhưng rút cuộc người nông dân vẫn khổ sở, đói khát, cuộc sống cơ cực không khác trước kia là mấy
Bởi thế, khi có chủ trương thay đổi cung cách làm ăn, buộc người dân không được đi làm thuê mà phải canh tác trên chính mảnh đất quê hương mình thì họ lại “ấm ức”, họ sợ “gia đình chết đói thì ai chịu trách nhiệm” Cuộc sống đã thay đổi, đã độc lập tự do nhưng người dân làng Hạ Vị dường như chưa thấy đó là cơ hội cho sự đổi đời Căn nguyên của tất cả những lo
sợ ấy là để duy trì miếng cơm manh áo cho mỗi người trong gia đình, bởi thế thay đổi họ cũng thật đơn giản: “Thành ra đầu cuộc họp là nỗi khổ, ấm ức, cuối cuộc họp đã là sự sung sướng thỏa mãn Nếu được một lẻ gạo người nông dân có thể cho một thúng lời khen, huống hồ ngày mai mỗi nhân khẩu
ít nhất cũng được mười cân thóc thì có thức suốt đêm nay mà khen ông chủ tịch có thấm gì” [42, tr 35] Người nông dân với những tính toán rất chân thật như thế thật đáng thương, đáng trọng
Làng Hạ Vị của Lê Lựu cũng như bao làng quê khác trên mảnh đất Việt Nam nhiều nhọc nhằn này còn thật nhiều gian khó, vất vả chưa dám nghĩ đến chuyện “ăn no mặc đẹp” Nghèo đói cũng là một trong những nguyên nhân khiến con người trở nên hèn hạ hơn, bần tiện hơn Người nông dân làng Hạ Vị - những người vốn tắt lửa tối đèn có nhau vậy mà vì tranh nhau kiếm việc mà xúc phạm cả đến tình làng nghĩa xóm Và đôi khi “bớt xén ăn xin, ăn nài nắm xôi, quả chuối, vốc lạc, nắm cháy, củ khoai lang mang về cho bố hoặc mẹ, vợ hoặc chồng và con cái ở nhà là tất cả tươi vui bừng sáng ” [42, tr 23] Đó là những mặt trái của công cuộc đổi mới mà nhà văn Lê Lựu muốn nhìn nhận lại một cách trung thực
Trước 1945, Nam Cao viết Lão Hạc cũng để thể hiện một niềm tin sâu sắc vào phẩm giá con người Truyện ngắn Lão Hạc không miêu tả không
gian thiên nhiên, làng xóm mà tập trung tái hiện tâm trạng, day dứt của Lão Hạc khi mỗi ngày đi qua Và con người ấy đã lựa chọn cái chết để giữ gìn
Trang 36phẩm giá, giữ gìn trọn vẹn tình yêu với đứa con trai khốn khổ của mình Ngô
Tất Tố viết Tắt đèn giúp người đọc hiểu được nỗi bi kịch khốn khổ của con
người Vì nghèo mà người mẹ hết lòng yêu thương con phải “bán con, bán chó" để cứu sự sống của cả gia đình trong cơn hoạn nạn Song chị Dậu không vì đói khổ mà đánh mất nhân cách cao đẹp của mình Với tấm lòng nhân đạo sâu sắc, các nhà hiện thực trước 1945 đã thể hiện niềm tin vững chắc vào nhân cách con người trong cơn lốc của hoàn cảnh
Cùng với những tác phẩm viết nông thôn và cuộc sống của người
nông dân trước Cách mạng, Thời xa vắng của Lê Lựu cũng có sự kế thừa
những sáng tác viết ở thời kì trước đó trong cách tiếp cận hiện thực Tác phẩm chưa phải đã tái hiện hết cái phức tạp bề bộn của hiện thực nông thôn Nhưng làng quê Việt Nam với những vẻ đẹp, cùng cả những tồn tại vốn thuộc về bản chất nhất cũng được nhà văn tái hiện cả bề rộng cùng chiều sâu trong những trang văn đầy ám ảnh
2.1.2 Vùng quê “Đất lề quê thói”
Nền văn hoá truyền thống Việt Nam được hình thành trên cơ sở của nền văn hoá nông nghiệp Cuộc sống của mỗi người Việt Nam đều gắn bó mật thiết với xóm làng, quê hương Chính bởi vậy, nói đến văn hoá làng quê là đề cập đến một bức tranh nhiều màu sắc của sự đa dạng phong phú những phong tục tập quán Trong văn hoá Việt Nam, phong tục có thứ trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân rất bền chặt, có sức mạnh hơn cả những đạo luật Làng không chỉ là những truyền thuyết, cuộc sống thực của các làng quê với sự đa dạng, phong phú về các quan niệm, về đời sống tín ngưỡng, về những mối quan
hệ giữa con người với làng, giữa người với người trong đời sống thường nhật cũng là một cái mỏ vô tận cho ta khai thác, thưởng thức
Lê Lựu viết Thời xa vắng đã làm sống lại một thời xa xưa của làng quê
Việt Nam Chuyện ngày hôm qua chưa xa nhưng những lề thói ở đó khiến quê hương của Giang Minh Sài như thuộc về một “thời xa vắng” thực Tục tảo hôn
Trang 37ở nông thôn khiến bao đứa trẻ vừa lớn dậy đã phải gánh những trọng trách thiêng liêng và quan trọng quá khả năng của chúng Sài không thể ý thức được
là nó đã có vợ nên khi vợ vô tình giã trẹo vào tay thì ông chồng con đã “thụi vào mặt vợ nó” rồi giở giọng đầy hống hách của một đứa trẻ “Bố mày đến đây cũng đếch sợ, ông huých chó nó cắn lồi mắt bố mày ra” Người chồng trẻ con
ấy đã đối xử với “vợ” với tất cả những bực dọc, ấm ức biến thành lời nói, hành động rất trẻ con mà đầy thô bạo Sài chỉ biết rằng nó không thích, nó ghét, nó khó chịu Người ấy là người mà bố mẹ ép phải “cưới”, nhưng nó không hề thấy nảy sinh trong lòng một tia tình cảm nào kể cả là lòng thương Đó là một cuộc hôn nhân không xuất phát từ tình yêu mà là sự giao ước của hai gia đình; và sau bao năm chung sống người vợ vẫn là người con gái trong trắng Đáng sợ nhất
là vì danh dự gia đình, dòng họ mà Sài phải tỏ ra “yêu thương vợ” trước mặt mọi người Gia đình ông đồ Khang xưa nay vẫn được người dân người làng kính nể “Dăm bẩy tháng nay hòa bình được lập lại có ai khinh rẻ những người
cổ hủ phong kiến thì vẫn phải nể ông” Sài là con trai trong gia đình, và chàng trai ấy từ nhỏ đến lớn phải giữ gìn sự đẹp đẽ cao cả cho gia phong của gia đình
tổ tiên Lúc nhỏ thì giữ gìn trong đoàn thể ở xã, huyện; lớn lên đi công tác nó buộc phải “yêu vợ mới được vào Đảng”
Cuộc hôn nhân như một trò đùa của con trẻ - mặc dù được sự tác hợp đầy nghiêm túc của hai gia đình, đã bám riết lấy số phận hai con người, hủy diệt hạnh phúc và tương lai của họ Lê Lựu bằng bi kịch của cuộc đời Sài đã chỉ
ra một “lề thói” ở làng quê xưa: Hôn nhân của con cái phụ thuộc vào sự sắp đặt của cha mẹ Họ không tính đến nhu cầu về tình cảm và mong muốn thực sự của các con “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” là câu tục ngữ đúc kết hủ tục ấy Không phải ông bà đồ Khang không thương con, chú Hiền, anh Hà cũng vậy- luôn rất mực lo cho sự thành bại về sự nghiệp danh dự của Sài nhưng do sự cứng nhắc lạc hậu trong nhận thức, do sự chi phối của tư tưởng gia trưởng phong kiến mà vô tình họ đã làm khổ Sài suốt cuộc đời
Trang 38Tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam thời kì đổi mới được sáng tác trong xu hướng “nhận thức lại thực tại”, tái hiện hiện thực nơi những làng quê còn nặng nề định kiến- những định kiến vô hình nhưng là gông cùm mà mỗi người nông dân lại tự nguyện chịu sự trói buộc Đó là quan niệm về đạo đức con người gắn với gia thế dòng tộc, con người ta chỉ được coi là tốt khi biết chấp nhận và sống theo qui tắc của dòng họ Vì sự ép mình đó mà không ít người đã phải sống cuộc đời đầy bi kịch, đầy những ấm ức, khổ đau Nhân vật Giang Minh Sài của nhà văn Lê Lựu đã luôn vì danh dự dòng họ gia đình mà chấp nhận cuộc hôn nhân cười ra nước mắt, bởi gia đình nề nếp ấy không bao giờ chấp nhận việc Sài ruồng rẫy vợ Anh mất đi tuổi thơ bởi những lo âu và hậm hực Anh đánh rơi tình yêu, hạnh phúc với Hương, đi nhập ngũ như một
sự trốn chạy vì tai tiếng “trăng hoa” với người khác khi đã có vợ
Cùng viết về chủ đề này, ta cũng thấy số phận của Vạn trong Bến không
chồng (Dương Hướng), những kiếp người như cô Bé, bà Mến, cô Bê lớn trong Dòng sông mía (Đào Thắng) hay cô Luyến trong Thủy hỏa đạo tặc (Hoàng
Minh Tường) Họ đều là những người nông dân, quân nhân, họ sống thuần phác và khao khát hạnh phúc như bất cứ ai, nhưng định kiến về dòng họ đã đày
ải họ đến những bi kịch của cuộc đời
Cũng như một số nước phương Đông khác, phần đông người dân Việt theo tín ngưỡng Phật giáo, có tập tục thờ cúng người chết vì họ tin rằng con người có phần hồn, phần xác, có kiếp trước, kiếp sau Cái quan niệm ấy có thể khiến người
ta sống tốt hơn, lương thiện hơn để tu nhân tích đức cho hậu thế, tránh quả báo ở đời Thế nhưng, cái suy nghĩ ấy cũng làm hình thành trong nhân dân biết bao điều
mê tín, bao hành động ngây thơ, mù quáng đến là tức cười
Bà đồ Khang thấy con trai bị cảm lạnh, mê man bất tỉnh, không đi kiếm thầy thuốc mà vội vàng ra sân để “gọi hồn, gọi vía” con về Quan niệm dân gian cho rằng con người ta, con trai có “ba hồn bảy vía”, con gái có “ba hồn chín vía” Hồn, vía có thể thoát khỏi xác khi giật mình, khi sợ hãi quá, khi ngủ
Trang 39hoặc là khi ngất xỉu Thằng Sài sợ đòn, trốn cha ngoài cánh đồng trong một đêm sương giá nên bị cảm đến mức hôn mê Với niềm tin như thế, bà đồ Khang
và mọi người hốt hoảng cầu gọi: “Ba hồn bẩy vía thằng Sài đâu thì về, bẩy vía
ba hồn Sài ơi về với mẹ đi con”, “Bẩy vía ba hồn thằng Sài ở đâu tthì về với bố, với mẹ Sài ơi” Cũng may, ngoài gọi hồn, gọi vía, người ta còn kết hợp với những cách giải cảm dân gian khác nên thằng Sài mới thoát chết
Những định chế của làng cùng lối sống thuần nông khiến cho cuộc sống của người nông thôn vừa đa dạng vừa vô cùng phức tạp Mối quan hệ giữa những con người trong làng trong xã cũng vì thế mà mang nhiều sắc thái, vừa
cả nể vừa du di, vừa dễ dãi vừa khe khắt, vừa tình cảm, khắng khít vừa tọc mạch, ti tiện, vừa tự ti vừa tự tôn
Một trong những “lề thói” của người nông thôn là rất thích phô trương cuộc sống sung túc của mình cho làng xóm thấy Bởi vì, trong tâm thức của
họ luôn quan niệm rằng: “Con công hơn con quạ cũng là ở bộ lông, chứ vặt trụi đi thì ông quyền cao cũng như anh nhọ đít” [31, tr.75] Chính vì thế, người ta thích mua sắm, tích cóp được chút tiền nào là lo sắm sửa đồ đạc Thậm chí, đói cũng bóp bụng sắm
Nhà anh Tính ở trong cái làng Hạ Vị lụt lội và cũng chẳng giàu có gì, nhưng trong căn nhà của anh vẫn bầy biện và có cung cách ăn ở như bất cứ một nhà khá giả lịch sự nào trên tỉnh Khi có khách quý đến nhà anh, họ sẽ được đón tiếp một cách khá long trọng, bài bản, đến nỗi, khách dù ăn cơm hay chỉ uống một cốc nước bột sắn cũng không có cảm giác làng Hạ Vị úi xùi Sở dĩ như vậy là vì, trong khi cả làng Hạ Vị người ta không thể chấm thịt gà bằng thứ nước chấm gì khác ngoài món tiết luộc thì nhà Tính, dưới sự cố vấn của thằng cháu đã được đi tập huấn, tham quan cửa hàng ăn trên huyện, đã có đầy đủ những nguyên liệu bếp núc cần thiết như: hành, tỏi, hồ tiêu, ca ri, ớt khô, chanh, dấm, dâu ngâm, sắn dây, rượu thuốc Khách đến sẽ được hưởng những mâm cỗ thịnh soạn, thức nào ra thức ấy, chứa chan tình cảm và kiến
Trang 40thức ẩm thực của chủ nhà ; Khách sẽ không thể biết được cái cảnh vợ con Tính sau đấy, đằng sau cánh cửa bếp, xì xụp bên những bát đĩa thừa thãi đã được dồn lại, cùng với bát bánh đúc ngô, một món ăn quen thuộc hàng ngày
Thích phô trương, xét nét, tính câu nệ, cả nể , những đặc điểm chung
về tính cách của người nông thôn khiến cho họ đối xử với nhau trong cuộc sống thường nhật rất tình cảm nhưng cũng rất khách sáo theo kiểu “hòn đất ném đi, hòn chì ném lại” Vợ chồng anh Tính đã xúc động đến run người khi Châu - vợ Sài về ra mắt đã sắm sửa một mâm cỗ nhỏ để cúng bàn thờ tổ gia đình chồng, mua mấy gói kẹo đưa chị dâu chia cho các cháu Anh chị thích
sự quan tâm chu đáo của Châu Sự chu đáo ấy khiến cho anh chị yên tâm là
cô em dâu người Hà Nội không hề xem thường gia đình chồng quê mùa lam
lũ Và với niềm xúc động chân thành đó, bao khó khăn, vất vả vì phải chạy đôn chạy đáo lo đồ cưới cho thằng em đều tiêu tan Anh chị còn cố gắng hết sức, kể cả việc cắt phần ăn của các con để lo cho được một đám cưới “không
hề có sự cách biệt giữa quê và tỉnh” Những bữa ăn như vậy vừa là để chứng
tỏ uy thế, sự sung túc của chủ nhà; vừa là để anh em trong gia đình thêm tình cảm; vừa là sự trả ơn tế nhị của chủ nhà
Qua bức tranh hiện thực Thời xa vắng, chúng ta có thể hình dung ra một
nông thôn ngột ngạt bức bối không chỉ vì khó khăn, nghèo đói mà còn vì những
hủ tục lạc hậu, định kiến cứng nhắc, hẹp hòi Tìm hiểu những bức tranh văn hoá này, ta sẽ phần nào hình dung được các quan niệm, lối sống, tính cách của con người ở vùng quê này Chính điều ấy sẽ là chiếc chìa khoá mở cánh cửa khám phá những vấn đề nông thôn mà tác phẩm trên đã thể hiện