ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM PHAN THỊ PHƯƠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHAN THỊ PHƯƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT
Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ
HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHAN THỊ PHƯƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT
Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ
HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Quản lý giáo dục
Mã ngành: 8.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Út Sáu
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 4 năm 2018
Tác giả
Phan Thị Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới Lãnh đạo trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các thầy giáo cô giáo đã tham gia giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc, tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại nhà trường Đặc biệt, với tấm lòng thành kính, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến
TS Nguyễn Thị Út Sáu, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình
giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn Lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Võ Nhai, các Trường Tiểu học Đông Bo, Trường Tiểu học Lũng Luông, Trường Tiểu học Liên Minh, Trường Tiểu học Sảng Mộc, Trường Tiểu học Thần
Sa, cùng bạn bè, người thân đã tạo điều kiện cả về thời gian, vật chất, tinh thần cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, mặc dù bản thân em đã luôn cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết Kính mong được sự góp ý, chỉ dẫn của các Thầy, các Cô và các bạn đồng nghiệp
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 4 năm 2018
Tác giả
Phan Thị Phương
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục viết tắt iv
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu đề tài 3
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc đề tài 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 6
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 6
1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 10
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục 10
1.2.2 Quản lý nhà trường - Quản lý hoạt động dạy học 13
1.2.3 Trường tiểu học và Trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số 14
1.2.4 Môn Tiếng Việt - dạy học môn Tiếng Việt 15
1.2.5 Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số 17
Trang 61.3 Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học 18
1.4 Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 20
1.4.1 Quan điểm xây dựng chương trình giáo dục phổ thông 20
1.4.2 Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 21
1.4.3 Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực 22
1.4.4 Kế hoạch giáo dục 23
1.4.5 Nội dung giáo dục 23
1.4.6 Giáo dục ngôn ngữ và văn học 24
1.5 Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số 25
1.5.1 Vai trò của người Hiệu trưởng trong quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học 25
1.5.2 Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh vùng dân tộc thiểu số 27
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số 33
1.6.1 Nhận thức đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số 33
1.6.2 Mục tiêu và nội dung chương trình quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số 34
1.6.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị và các điều kiện hỗ trợ dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số 35
Kết luận chương 1 36
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN VÕ NHAI 37
2.1 Vài nét khái quát về giáo dục tiểu học của huyện Võ Nhai 37
2.2 Tổ chức triển khai nghiên cứu 42
Trang 72.2.1 Mục đích khảo sát 42
2.2.2 Nội dung khảo sát 42
2.2.3 Khách thể khảo sát và địa bàn khảo sát 42
2.2.4 Phương pháp khảo sát 42
2.3 Kết quả khảo sát 42
2.3.1 Thực trạng hoạt động dạy học 42
2.3.2 Thực trạng hoạt động học môn Tiếng Việt của học sinh 45
2.3.3 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt 48
2.4 Đánh giá chung về thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học huyện Võ Nhai 62
2.4.1 Mặt mạnh 62
2.4.2 Hạn chế 63
2.4.3 Nguyên nhân những tồn tại 64
Kết luận chương 2 66
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN VÕ NHAI 67
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 67
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ của các biện pháp 67
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn của các biện pháp 67
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi của các biện pháp 68
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai 68
3.2.1 Chỉ đạo phát triển chương trình dạy học môn Tiếng Việt theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đáp ứng chương trình phát triển giáo dục tổng thể 68
3.2.2 Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường thực hành trải nghiệm cho học sinh 70
Trang 83.2.3 Đổi mới kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Tiếng Việt trong
trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số của huyện Võ Nhai 75
3.2.4 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị trong dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số của huyện Võ Nhai 80
3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất 82
3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 82
3.3.2 Nội dung khảo nghiệm 83
3.3.3 Phương pháp khảo nghiệm 83
3.3.4 Nội dung và cách tiến hành 83
Kết luận chương 3 87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 9
DANH MỤC VIẾT TẮT
CBQL : Cán bộ quản lý CSVC : Cơ sở vật chất DTTS : Dân tộc thiểu số GDĐT : Giáo dục và Đào tạo
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Quy mô mạng lưới trường, lớp, học sinh cấp tiểu học 37
Bảng 2.2: Kết quả xếp loại hai mặt giáo dục trong 3 năm học qua 38
Bảng 2.3: Đội ngũ giáo viên tiểu học 3 năm qua 39
Bảng 2.4: Thực trạng thực hiện nội dung, chương trình dạy học 43
Bảng 2.5: Thực trạng thực hiện giờ dạy trên lớp của giáo viên 44
Bảng 2.6: Kết quả học tập môn Tiếng Việt trong 3 năm học qua 45
Bảng 2.7: Kết quả điều tra về hoạt động học tập của học sinh 46
Bảng 2.8: Thực trạng quản lý việc thực hiện chương trình môn Tiếng Việt của các trường học 49
Bảng 2.9: Quản lý việc soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên 51
Bảng 2.10: Quản lý giờ dạy trên lớp của giáo viên 52
Bảng 2.11: Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trong các trường học 56
Bảng 2.12: Nội dung quản lý hoạt động học tập môn Tiếng Việt của học sinh 58
Bảng 2.13: Thực trạng quản lý phương tiện, các điều kiện phục vụ hoạt động giảng dạy 60
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi, tính cần thiết của các biện pháp đề xuất 84
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng dạy học môn Tiếng Việt nói riêng của đất nước ta đang là mối quan tâm rất lớn của toàn xã hội Nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của học sinh, trên tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng
(khoá XI, năm 2013) đã nhấn mạnh nhu cầu “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo về mục tiêu, nội dung và phương pháp” Một trong những nhiệm vụ của công cuộc cải cách giáo dục lần này là “Tổng kết, đánh giá chương trình và sách giáo khoa hiện hành để xác định rõ những ưu điểm cần thừa kế, phát huy và hạn chế bất cập cần khắc phục” [13] Dự thảo chương
trình phát triển tổng thể các môn học năm 2018 rất chú trong môn ngữ văn và trong đó việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đối với học sinh dân tộc thiểu số là vấn đề quan trọng nhằm nâng cao dân trí, góp phần ổn định cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số, rút ngắn khoảng cách chất lượng giữa học sinh dân tộc thiểu số vùng khó khăn với học sinh vùng thuận lợi, phát triển chất lượng đại trà, tăng tỷ lệ học sinh khá, giỏi, giảm tỷ lệ học sinh yếu kém, đào tạo
bồi dưỡng học sinh “mũi nhọn” trong các cấp học, nhằm góp phần đào tạo
nguồn nhân lực đáp ứng thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Bên cạnh sự phát triển của giáo dục cả nước, trong những năm qua, ngành giáo dục và đào tạo huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã ý thức được trách nhiệm, quán triệt sâu sắc các Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước nỗ lực vươn lên, khắc phục khó khăn, từng bước giành được những thành tựu đáng tự hào
Tuy nhiên, trong thời gian qua ngành giáo dục huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, trong đó có giáo dục tiểu học vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế Hoạt động giáo dục chuyển biến chậm, hiệu quả chưa cao, nổi bật là chất lượng giáo dục phổ thông nói chung và chất lượng giáo dục tiểu học nói riêng chưa đáp
Trang 12ứng yêu cầu và nhiệm vụ, đặc biệt là giáo dục ở vùng khó khăn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số
Khác với học sinh người Kinh, trước khi đến trường, một phần học sinh người dân tộc thiểu số chưa biết sử dụng Tiếng Việt, còn một số ít học sinh vào lớp 1 chưa qua lớp mẫu giáo vì các em là người dân tộc H’Mông có tục lệ du canh du cư chuyển từ những tỉnh khác đến sinh sống tại địa bàn huyện, do đó học sinh hạn chế về Tiếng Việt Học sinh dân tộc thiểu số cấp tiểu học học Tiếng Việt là học ngôn ngữ thứ hai, mặc dù một số ít học sinh đã trải qua các lớp ở bậc Mầm non, nhưng đối với các em trường Tiểu học vẫn là một môi trường hoàn toàn mới Sự tồn tại của tình trạng này trong đời sống các em là do điều kiện sử dụng ngôn ngữ trong đời sống sinh hoạt cộng đồng, do tâm lý sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ còn mang tính phổ biến, tự nhiên, bản năng Những buổi sinh hoạt cộng đồng, những cuộc hội họp, người địa phương chỉ sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, ngại sử dụng Tiếng Việt, không sử dụng Tiếng Việt có lẽ vì vốn kiến thức về Tiếng Việt ở họ quá ít ỏi, cũng có thể vì bản năng ngôn ngữ mẹ đẻ luôn thường trực trong họ Thói quen này trong sử dụng ngôn ngữ sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp trong đời sống gia đình của mỗi cá nhân, học sinh vẫn sử dụng tiếng mẹ đẻ khi rời trường, rời lớp Học sinh thường có những khó khăn tâm lý trong quá trình tiếp nhận kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt
Giáo viên dạy Tiếng Việt cho học sinh dân tộc còn một số hạn chế về chuyên môn và không thành thạo tiếng dân tộc
Từ những vấn đề trên dẫn đến hiện tượng “ngồi nhầm lớp” của học sinh
hiện nay rải rác vẫn tồn tại và đang là vấn đề bức xúc của ngành giáo dục, được các cấp lãnh đạo, những người làm công tác giáo dục của địa phương và dư luận xã hội hết sức quan tâm Xuất phát từ những lý do trên đòi hỏi chúng ta cần có những biện pháp thiết thực trong quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số phù hợp từng đơn vị, từng nhà trường trong hệ thống giáo dục
Vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”
Trang 132 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai, đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng
Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số
3.2 Đánh giá thực trạng hoạt động dạy học và thực trạng quản lý dạy
học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
3.3 Đề xuất các biện pháp quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các
trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt tại các
trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số
4.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt
ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
4.3 Khách thể điều tra
- Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng: 10 người
- Giáo viên: 35 người
- Nghiên cứu khảo sát tại 05 trường tiểu học: Trường Tiểu học Đông Bo, Trường Tiểu học Lũng Luông, Trường Tiểu học Liên Minh, Trường Tiểu học Sảng Mộc, Trường Tiểu học Thần Sa, với mong muốn quản lý tốt và nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
5 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong đề tài này chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng dạy học môn Tiếng Việt, Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt tại 05 trường tiểu học
từ năm học 2015 - 2016 đến nay và từ đó đề xuất biện pháp quản lý hoạt động
Trang 14dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
6 Giả thuyết khoa học
Việc quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên còn một số hạn chế bất cập Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hợp
lý và đồng bộ phù hợp với thực tế ở địa phương thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng dạy học môn Tiếng Việt trong các nhà trườngđáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp các tài liệu, tư liệu sách báo, công trình khoa học, văn bản, chỉ thị thể hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản
lý giáo dục, các văn bản pháp quy có tính pháp lý về giáo dục, luật giáo dục, điều lệ trường tiểu học, tài liệu liên quan đến quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học để có cơ sở khoa học xây dựng cơ sở lý luận của
đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng phiếu trưng cầu ý
kiến đối với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, GV của 5 trường tiểu học nhằm thu thập thông tin về thực trạng hoạt động dạy học, thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu: Lấy ý kiến của các nhà quản lý giáo dục, đội ngũ giáo viên nhằm làm rõ thực trạng hoạt động dạy, quản lý hoạt
động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số của huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Trang 157.2.3 Phương pháp quan sát: Quan sát cơ sở vật chất, trường lớp, các
hoạt động quản lý, những yếu tố ảnh hưởng đến việc dạy học môn tiếng việt cho học sinh
7.2.4 Phương pháp chuyên gia:
- Cán bộ quản lý các trường tiểu học, giáo viên giảng dạy
Xin ý kiến chuyên gia để đánh giá mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất
7.2.5 Phương pháp sử lý số liệu: Sử dụng phương pháp thống kê toán
học để xử lý và phân tích số liệu điều tra
8 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt
tại các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt tại các
trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt tại các
trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
MÔN TIẾNG VIỆT Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới không có quốc gia nào, không có dân tộc nào lại không quan tâm đến phát triển giáo dục vì vậy dạy học từ lâu đã được nhiều nhà triết học đồng thời là nhà giáo dục ở cả phương Đông và phương Tây đề cập đến
Có thể kể đến các tư tưởng và công trình chủ yếu dưới đây
Ở phương Đông, các nhà tư tưởng về giáo dục có cách đây hơn 2500 năm, một triết gia nổi tiếng, một nhà Giáo dục lỗi lạc của Trung Quốc là Khổng
Tử (551-479TCN) đã cho rằng: “Đất nước muốn phồn vinh, yên bình và thịnh vượng thì người quản lý cần chú trọng đến ba yếu tố là Thứ (dân đông), Phú (dân giàu), Giáo (dân được giáo dục) Khổng Tử cho rằng giáo dục là một thành
tố không thể thiếu được của mỗi dân tộc, của mỗi quốc gia Ông cho rằng việc giáo dục là cần thiết cho mỗi người “Hữu giáo vô loài” nghĩa là mọi người trong
xã hội đều có quyền được học, được giáo dục, không phân biệt giầu, nghèo, sang, hèn, thiện, ác Có đặt tư tưởng Khổng Tử vào thời điểm lịch sử bấy giờ chỉ tầng lớp thống trị có đặc quyền ấy mới thấy hết tính cách mạng của ngài
“Hữu giáo vô loại” như phát đại bác nã vào cái thành trì giáo dục đẳng cấp Ngài còn đặt nền móng cho đường lối giáo dục toàn dân tồn tại và phát triển đến ngày nay Về phương pháp giáo dục ông coi trọng việc tự học, tự rèn luyện,
tu thân, phát huy mặt tích cực, sáng tạo, năng lực nội sinh, dạy học sát đối tượng, cá biệt hóa đối tượng Kết hợp học với thực hành, lý thuyết với thực tiễn, phát triển động cơ học tập đúng đắn, tạo hứng thú và ý trí quyết tâm của người học Đến nay, phương pháp giáo dục của Khổng Tử vẫn còn nguyên giá trị, là bài học lớn cho các nhà trường trong công tác giáo dục và đào tạo của mình
Trang 17Các nhà nghiên cứu giáo dục Xô Viết trước đây thì khẳng định: “Kết quả toàn bộ hoạt động quản lý hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc
tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động dạy học của đội ngũ giáo viên”
Từ cuối thế kỷ XIV vấn đề dạy học và quản lý dạy học được nhiều nhà giáo dục quan tâm, nổi bật nhất trong thời kỳ đó là: Cômenxki (1592-1670), ông đưa ra quan điểm giáo dục phải thích ứng với tự nhiên
- M.I Kônđakôp, P.V Zimin, N.I Xaxenrđôtôp đi sâu nghiên cứu lãnh đạo công tác giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong hoạt động quản lý của Hiệu trưởng [24]
- V.A Xukhomlinki, V.P.Xtrezicondin, Jaxapob đã nghiên cứu và đề ra một số vấn đề quản lý của Hiệu trưởng trường phổ thông như phân công nhiệm
vụ của Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng để tìm ra cách quản tốt nhất Theo các tác giả, những cuộc trao đổi này như đòn bẩy, đã nảy sinh ra những dự định mà sau này trong công tác quản lý được phát triển trong lao động sáng tạo của tập thể sư phạm
Tác giả V.A Xukhomlinxki còn chỉ rõ tầm quan trọng của việc tổ chức dự giờ và phân tích sư phạm bài dạy Ông đã chỉ ra thực trạng yếu kém của việc phân tích sư phạm bài dạy cho dù hoạt động dự giờ và gióp ý với giáo viên sau giờ dự
và góp ý với giáo viên sau giờ dự của nhà quản lý diễn ra thường xuyên Từ đó ông đã đưa ra nhiều cách phân tích sư phạm bài dạy cho giáo viên
Trên thế giới cũng như trong nước có rất nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý hoạt động dạy học
Tuy nhiên, những nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học ở nước
ngoài vẫn chưa có công trình nào bàn luận, nghiên cứu sâu đến quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường tiểu học nói chung và quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường tiểu học lấy năng lực, phẩm chất của học sinh làm mục tiêu dạy học nói riêng
Trang 181.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Ngay từ những năm đầu mới thành lập, nhà nước ta rất chú trọng đến vấn
đề giáo dục, đặc biệt là vấn đề giáo dục, đặc biệt là vấn đề dạy học Năm 1945, Bác
Hồ đã có chỉ thị: “Sự học tập trong nhà trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai của thanh niên và thanh niên là tương lai của nước mình Vì vậy phải biết dạy cho học trò biết yêu nước thương nòi,… phải dạy cho họ có ý trí tự lập tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ” [dẫn theo 16, tr.25]
Tư tưởng trên của Bác gợi ý cho chủ thể quản lý dạy học một số vấn đề: Quản lý dạy học phải gắn liền với thể chế xã hội, nề nếp dạy học, trình độ người dạy, năng lực tự học, tinh thần độc lập suy nghĩ và tính sáng tạo của
người học
Đảng và Nhà nước ta coi giáo dục là “Quốc sách hàng đầu”, điều này đã được luật hóa trong Luật giáo dục: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [22, tr.3]
Sự phát triển kinh tế-xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và tạo nguồn nhân lực Đứng trước nhiệm vụ đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học nói riêng Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển
từ nền giáo dục mang tính thụ động, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy chủ động, sáng tạo của người học
Nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của người học sinh trên tinh thần về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục
và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách Thực hiện dân chủ
Trang 19hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo Vì vậy quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt ở các trường học vùng dân tộc thiểu số trở thành vấn đề quan tâm của toàn Đảng, toàn dân, nhằm quản lý tốt các hoạt động dạy học của cán bộ quản lý, giáo viên trong trường Chú trọng các kỹ năng: đọc, viết, nghe và nói, tập trung giáo dục kỹ năng đọc hiểu, kỹ năng tạo dựng các văn bản khác nhau cần thiết trong cuộc sống đọc, hiểu cho học sinh Để nâng cao chất lượng quản
lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu
là vô cùng quan trọng, đây là vấn đề luôn được các nhà khoa học giáo dục trong và ngoài nước quan tâm
Một số giáo trình, tài liệu như: Khoa học quản lý giáo dục, Một số vấn đề
về QLGD và Khoa học giáo dục, Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục, Quản lý và lãnh đạo nhà trường, Quản lý giáo dục,…đã được ứng dung rộng rãi và mang lại một số hiệu quả nhất định trong quản lý nói chung, quản lý giáo dục, quản lý trường học, nói riêng
Ngoài những tài liệu dưới dạng sách như đã nêu còn có thể kể đến rất nhiều luận văn thạc sỹ của các tác giả sau:
Trần Thị Sáu: Các biện pháp chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy bộ
môn Tiếng Việt bậc tiểu học ở quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Nguyễn Thanh Tịnh: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học đối với
trường tiểu học của Phòng giáo dục quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh
Đặng Minh Hằng: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiểu học của
phòng GDĐT quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng
Ma Vĩnh Tường: Tổ chức dạy học Tiếng Việt lớp 1 cho học sinh dân tộc
thiểu số vùng khó khăn của tỉnh Cao Bằng
Tuy nhiên, các đề tài trên chỉ đề cập đến mặt lý luận cũng như thực tiễn của vấn đề dạy học chương trình tiểu học hoặc phương pháp dạy học Tiếng Việt đại trà và chủ yếu tập trung vào đối tượng học sinh dân tộc Kinh học Tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ thứ nhất - tiếng mẹ đẻ Nhưng những công trình nghiên cứu được đề cập ở trên là những tư liệu cần thiết trong quá trình nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài này
Trang 20Nghiên cứu “Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên” là vấn đề chưa có
công trình nào nghiên cứu
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục
1.2.1.1 Khái niệm về quản lý
Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người, xét từ những phạm vi cá nhân, tập đoàn đến quốc gia hoặc nhóm quốc gia Trong tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến một phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế đều phải thừa nhận và phải chịu sự quản
lý nào đó C Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều dẫn đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [6, tr.34] Như vậy,
C.Mác đã chỉ ra bản chất quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu và quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm một mục tiêu chung Xã hội ngày càng phát triển, các loại hình lao động ngày càng phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng Quản lý là đúng, dẫn đến thành công, tồn tại ổn định và phát triển bền vững, còn quản lý sai dẫn đến thất bại, suy thoái, lệ thuộc, biến chất
và đổ vỡ
Người ta có thể tiếp cận khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau đó là: Theo dõi, cai quản, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, theo góc độ tổ chức Điều khiển chỉnh lái theo góc độ điều khiển
Trang 21Theo cách tiếp cận hệ thống: Quản lý là tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay là đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong các quá trình sản xuất xã hội để đạt được mục đích nhất định
Các nhà khoa học cũng đưa ra nhiều định nghĩa quản lý từ các góc độ khác nhau
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [29, tr.35]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản
lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” Một định nghĩa khác:
“Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [7, tr.1]
Tác giả Trần Kiểm lại cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [20, tr.15] Còn tác giả Trần Quốc Thành lại định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có ý nghĩa của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn, các quán trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý trí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan” [33, tr.21]
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, song tựu chung lại các định nghĩa trên đầu nhấn mạnh đến các khía cạnh:
- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của một quá trình lao động xã hội Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển
- Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý
- Quản lý là một hoạt động được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội
Trang 22- Quản lý vừa là môn khoa học, vừa là môn nghệ thuật Vì vậy, trong hoạt động quản lý, người quản lý phải hết sức sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo để chỉ đạo hoạt động của tổ chức tới đích Bằng cách nào đó để người bị quản lý phải sẵn sàng tận tâm đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và xã hội
Từ những quan niệm trên có thể hiểu: “Quản lý là sự tác động có ý thức,
có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý để lãnh đạo, hướng dẫn, điều khiển đối tượng quản lý thực hiện nhằm đạt mục tiêu đã đề ra”
1.2.1.2 Khái niệm về quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một dạng của quản lý xã hội với mục tiêu đưa hệ thống giáo dục là một bộ phận của nó tiến đến mục tiêu đã xác định Quản lý giáo dục theo nghĩa rộng là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội Quá trình đó bao gồm các hoạt động giáo dục và có tính giáo dục của bộ máy nhà nước, của các tổ chức xã hội, của hệ thống giáo dục quốc dân Quản lý giáo dục theo nghĩa hẹp bao gồm: Quản lý các hoạt động giáo dục đào tạo diễn ra trong các đơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh, toàn quốc) và quản lý các hoạt động giáo dục đào tạo diễn ra trong các cơ sở giáo dục Các nhà nghiên cứu về quản
lý giáo dục đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục:
Quản lý giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục mà xã hội yêu cầu
Quản lý giáo dục là một hệ thống những tác động có mục đích, kế hoạch, hợp quy luật để vận hành cả một hệ thống hoạt động theo đúng yêu cầu đặt ra cho giáo dục
Quản lý giáo dục được thể hiện rõ nhất ở hoạt động giáo dục trong nhà trường Vì vậy quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của người quản lý giáo dục trong việc vận dụng những nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt được mục tiêu mà giáo dục đề ra Quản lý giáo dục không những là nhân tố quyết định đến sự phát triển của giáo dục mà còn là yếu tố quan trọng tác động đến chất lượng giáo dục và đào tạo
Trang 231.2.2 Quản lý nhà trường - Quản lý hoạt động dạy học
1.2.2.1 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là những hoạt động của chủ thể quản lý nhà trường (Hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
Trường học là đơn vị cơ sở nằm trong hệ thống giáo dục và để tiến hành quá trình giáo dục đào tạo nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội Thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân cho tương lai Trường học với tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính giáo dục vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, là tế bào quan trọng của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ trung ương đến địa phương
Như vậy “Quản lý nhà trường” chính là bộ phận của “Quản lý giáo dục” Có
thể thấy công tác quản lý trường học bao gồm xử lý các tác động qua lại giữa trường học và xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường Người ta có thể phân tích quá trình giáo dục của nhà trường như một hệ thống gồm 6 thành tố:
- Cơ sở vật chất và các phương tiện, thiết bị phục vụ cho giáo dục
Như vậy, quản lý nhà trường thực chất là quản lý lao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập tự giáo dục của trò, diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học, là quản lý tập thể giáo viên và học sinh để chính họ lại quản lý (đối với giáo viên) và tự quản lý (đối với học sinh) quá trình dạy học Đồng thời, quản
lý nhà trường bao gồm: Quản lý các công việc khác có tính chất điều kiện như: đội ngũ, tổ chức hoạt động của các đoàn thể trong trường, cơ sở vật chất, chăm
lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh nhằm thực hiện có chất lượng và có hiệu quả mục đích giáo dục Nói một cách khái quát: Quản lý nhà trường là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý
Trang 24và có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả
1.2.2.2 Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động dạy-học thực chất là những tác động của chủ thể quản
lý vào quá trình dạy học (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với
sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường
1.2.3 Trường tiểu học và Trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số
- Trường tiểu học gồm các loại hình trường:
+ Trường tiểu học công lập do nhà nước tổ chức và quản lý
+ Trường tiểu học dân lập do một cơ quan hoặc một tổ chức nhà nước, một đoàn thể quần chúng hoặc tổ chức xã hội đứng ra thành lập và bảo trợ, chịu
sự quản lý nhà nước của Phòng Giáo dục và Đào tạo
+ Trường tiểu học tư thục do một cá nhân đứng ra thành lập và tổ chức hoạt động, chịu sự quản lý nhà nước của Phòng Giáo dục và Đào tạo
Trường tiểu học có thể tổ chức nội trú hoặc bán trú cho một phần hoặc toàn bộ học sinh, tuỳ theo yêu cầu của cha mẹ học sinh, địa phương
và khả năng của nhà trường
- Trường tiểu học có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
+ Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, huy động trẻ em trong độ tuổi tiểu học vào học lớp 1, vận động trẻ em trong độ tuổi đi học tiểu học đang bỏ học đến trường trở lại, tham gia thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi
Trang 25+ Phối hợp với cha mẹ, người nuôi dưỡng học sinh, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện các hoạt động giáo dục
+ Tổ chức cho giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động
xã hội trong phạm vi cộng đồng
+ Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
1.2.3.2 Trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số
Trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số là trường tiểu học có đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của một trường tiểu học đã nêu ở trên Ngoài
ra, trường có một số đặc điểm riêng mà các trường tiểu học bình thường khác không có, đó là:
- Học sinh trong trường hầu hết là người dân tộc thiểu số, có thể chỉ là một dân tộc thiểu số hoặc nhiều dân tộc thiểu số khác nhau cùng học với nhau
- Môi trường giáo dục không thuận lợi, trình độ dân trí thấp, cộng đồng dân cư quan tâm đến công tác giáo dục ở mức thấp, điều kiện kinh tế xã hội kém phát triển, giao thông khó khăn, cơ sở hạ tầng kém Một số phong tục tập quán lạc hậu còn ảnh hưởng đến sự phát triển giáo dục
- Cán bộ quản lý và giáo viên hầu hết là người Kinh từ các nơi khác đến công tác, ngôn ngữ giao tiếp giữa thầy và trò bất đồng, thầy không nghe, không nói được tiếng của học sinh, vốn Tiếng Việt của học sinh kém
- Quy mô trường nhỏ, gắn liền với các thôn, bản Trường chính đóng tại trung tâm xã tuy nhiên mỗi trường có nhiều điểm trường cách xa nhau đi lại khó khăn Các trường đều là trường công lập, một số trường có tổ chức cho học sinh ăn bán trú
1.2.4 Môn Tiếng Việt - dạy học môn Tiếng Việt
1.2.4.1.Môn Tiếng Việt
Tiếng Việt là môn học nền tảng của bậc tiểu học, rèn luyện khả năng ngôn ngữ cho học sinh, qua đó cung cấp kiến thức về văn hoá- xã hội, khoa học- kỹ thuật, đồng thời giáo dục đạo đức, thẩm mỹ cho học sinh Môn Tiếng Việt được chia thành nhiều phân môn như: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện, Tập viết
Trang 261.2.4.2 Dạy học môn Tiếng Việt
Dạy học môn Tiếng Việt cấp tiểu học bao gồm các thành tố sau:
- Mục đích, nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học (Chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học-ban hành kèm theo Quyết định số 16/2016/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2016
+ Thầy và hoạt động dạy
kỹ năng đã hình thành ở trẻ trước khi đến trường là nghe và nói Việc dạy Tiếng Việt góp phần rèn luyện tư duy cho học sinh, có thể khẳng định rằng trong chương trình phổ thông, mỗi môn học đều góp phần hình thành và phát triển tư duy cho học sinh thông qua việc hướng dẫn các em khám phá đối tượng học tập, diễn giải những điều mới thu nhận của mình ra thành lời và vận dụng những hiểu biết đó vào các bài thực hành, các tình huống của đời sống
Việc dạy Tiếng Việt cho học sinh trường tiểu học nhằm trang bị kiến thức cho các em, giúp các em hình thành và phát triển nhân cách, thông qua các văn bản có nội dung lành mạnh được thể hiện qua các ngôn từ có tính chính xác, có tính thẩm mỹ cao, bồi dưỡng cho học sinh có tình yêu đối với người thân, đồng bào và đồng loại, với thiên nhiên, quê hương đất nước, …
Do đó, dạy học môn Tiếng Việt là một hoạt động tổng hợp thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều bộ môn khác nhau
- Phân môn Tập đọc: Là phân môn mang tính tổng hợp, ngoài nhiệm vụ
dạy đọc còn có nhiệm vụ trau dồi khả năng Tiếng Việt cho học sinh, luyện câu, tạo cảm xúc cảm nhận văn học cho học sinh
Trang 27- Phân môn Tập làm văn: Mỗi khối lớp có yêu cầu khác nhau, nhưng đều
tập trung luyện khả năng viết đúng từ, đúng câu, đúng ngữ pháp; tạo cho học sinh khả năng diễn đạt ý tưởng cá nhân, cảm xúc trước sự vật, hiện tượng, con người, thiên nhiên
- Phân môn Luyện từ và câu: Rèn luyện kỹ năng phát âm, cấu trúc tiếng,
câu, cung cấp lý thuyết Tiếng Việt cho học sinh Đối với học sinh là người dân tộc thiểu số, Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai trong giao tiếp hàng ngày thì phân môn này đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong quá trình học Tiếng Việt nói riêng và trong quá trình học tập trong trường phổ thông nói chung
- Phân môn Kể chuyện: Thông qua các câu chuyện trong các bài tập đọc,
giúp học sinh dựng lại dưới hình thức hoạt cảnh Qua đó, luyện khả năng nói, diễn đạt Tiếng Việt cho học sinh, giúp học sinh mạnh dạn hơn trong giao tiếp
- Phân môn Chính tả: Luyện tập thực hành ở các kỹ năng nghe, viết và các
kỹ năng khác trong quá trình học Tiếng Việt, củng cố kiến thức về Tiếng Việt
- Phân môn Tập viết (đối với học sinh lớp 1,2): Rèn kỹ năng viết chữ cho
học sinh, cung cấp cho học sinh một số kiến thức về chữ viết và kỹ thuật viết chữ: điểm đặt bút, điểm dừng bút, cấu tạo chữ cái và các chữ số Tiếng Việt, vị trí dấu, dấu thanh, quy trình viết liền mạch, Rèn cho học sinh tính cẩn thận, kiên trì, tính
kỷ luật, khiếu thẩm mỹ
Vì vậy dạy học Tiếng Việt là quá trình dưới vai trò chủ đạo của giáo viên, học sinh tự giác, chủ động, tích cực nhận thức về những đặc trưng cơ bản của Tiếng Việt, cách sử dụng Tiếng Việt trong nghe, nói, đọc, viết trên cơ sở
đó phát triển năng lực tư duy, rèn luyện cho học sinh các kỹ năng cơ bản của Tiếng Việt đó là nghe, nói, đọc, viết và trình bày văn bản giúp các em có thái
độ tích cực trong việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt và hình thành tình cảm đối với quê hương, đất nước, con người Việt Nam
1.2.5 Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số
Công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiếu số khác với các vùng dân tộc khác, ở đây khác về năng
Trang 28lực của học sinh, của giáo viên, khác nhau về điều kiện Vì vậy trong công tác quản lý sẽ giặp khó khăn hơn, từ đặc thù đó trong biện pháp nhà quản lý cần chỉ đạo hoạt động dạy học theo hướng tiếp cận năng lực, phương pháp dạy học phải tăng cường trải nghiệm và chú trọng đầu tư cơ sở vật chất
1.3 Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học
1.3.1 Mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài
- Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
1.3.2 Nội dung dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học
+ Đối với học sinh lớp 1, 2, 3 nội dung của môn Tiếng Việt tập trung hình thành những cơ sở ban đầu cho việc học đọc, học viết, định hướng cho việc học nghe, học nói dựa trên vốn Tiếng Việt mà học sinh đã có Các bài học
ở giai đoạn này chủ yếu là bài học thực hành, được thấm vào học sinh một cách
tự nhiên qua các bài học thực tế Những tri thức về câu trong đoạn hội thoại (câu hỏi, đáp và dấu câu) cũng không được dạy qua bài lý thuyết mà học sinh được hình dung cụ thể trong một văn bản cụ thể Học sinh sẽ nhận diện được và
sử dụng được các đơn vị của Tiếng Việt, các quy tắc sử dụng Tiếng Việt trong
lúc đọc, viết, nghe, nói Vậy nên, việc học Tiếng Việt ở bậc tiểu học sẽ tạo nền
tảng cho học sinh trong việc phát triển tư duy ngôn ngữ, biểu hiện qua việc học sinh đọc thông thạo và hiểu đúng ý nghĩa một văn bản ngắn, viết rõ ràng, đúng chính tả, nghe chủ động, nói chủ động, rành mạch
Trang 29+ Đối với học sinh lớp 4, 5 về nội dung môn học cho học sinh ở giai đoạn này đã được cung cấp những khái niệm cơ bản về một số đơn vị ngôn ngữ
và quy tắc sử dụng Tiếng Việt làm nền móng cho việc phát triển kỹ năng Bên cạnh những bài học thực hành (ở giai đoạn trước), học sinh được học các bài về trí thức Tiếng Việt (từ vựng, ngữ pháp, văn bản, phong cách,…) Những bài học này cũng không phải là lý thuyết đơn thuần, được tiếp nhận hoàn toàn bằng con đường tư duy trừu tượng, mà chủ yếu vẫn bằng con đường nhận diện, phát hiện trên những ngữ liệu đã đọc, viết, nghe, nói, rồi sau đó mới khái quát thành những khái niệm nhằm phát triển các kỹ năng đọc, viết, nghe, nói lên một mức
độ cao hơn, hoàn thiện hơn Ngoài ra, tầm quan trọng của Tiếng Việt ở bậc tiểu
học còn hướng đến việc hình thành các kỹ năng mềm, kỹ năng sống cần thiết cho học sinh Nội dung kỹ năng sống được thể hiên ở tất cả các nội dung của môn học Những kỹ năng đó chủ yếu là: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng suy nghĩ sáng tạo, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng làm chủ bản thân, Thông qua các kỹ năng này sẽ giúp học sinh nhận biết được những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, biết tự nhìn nhận đánh giá đúng về bản thân để tự tin,
tự trọng và không ngừng vươn lên trong học tập cũng như cuộc sống Tiếng Việt sẽ dạy trẻ biết cách giao tiếp, ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ với người thân, với cộng đồng và với môi trường tự nhiên, biết sống tích cực, chủ động trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh
1.3.3 Chương trình dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học
Chương trình dạy học môn Tiếng Việt của bậc tiểu học mỗi năm học 35 tuần Số tiết học/tuần trong từng phân môn của các lớp được phân bố trong chương trình khung như sau:
Phân
Luyện
từ và câu
Tập làm văn
Tổng cộng
Trang 301.4 Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018
1.4.1 Quan điểm xây dựng chương trình giáo dục phổ thông
Chương trình giáo dục phổ thông là văn bản của Nhà nước thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, quy định các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục, làm căn cứ quản lý chất lượng giáo dục phổ thông, đồng thời là cam kết của Nhà nước nhằm bảo đảm chất lượng của cả hệ thống
và từng cơ sở giáo dục phổ thông
Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, kế thừa
và phát triển những ưu điểm của các chương trình giáo dục phổ thông đã có của Việt Nam, đồng thời tiếp thu thành tựu nghiên cứu về khoa học giáo dục và kinh nghiệm xây dựng chương trình theo mô hình phát triển năng lực của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới gắn với nhu cầu phát triển của đất nước, những tiến bộ của thời đại về khoa học-công nghệ và xã hội phù hợp với đặc điểm con người, văn hóa Việt Nam, các giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị chung của nhân loại cũng như các sáng kiến và định hướng phát triển chung của UNESCO về giáo dục, tạo cơ hội bình đẳng về quyền được bảo
vệ, chăm sóc, học tập và phát triển, quyền được lắng nghe, tôn trọng và được tham gia của học sinh, đặt nền tảng cho một xã hội nhân văn, phát triển bền vững và phồn vinh
Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại, hài hòa đức, trí, thể, mỹ, chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống, tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hóa dần ở các lớp học trên, thông qua các phương pháp, hình thức
tổ chức giáo dục phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh, các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục và phương pháp giáo dục để đạt được mục tiêu đó
Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm kết nối chặt chẽ giữa các lớp học, cấp học với nhau và liên thông với chương trình giáo dục mầm non, chương trình giáo dục nghề nghiệp và chương trình giáo dục đại học
Trang 31Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng theo hướng mở, cụ thể là: + Chương trình bảo đảm định hướng thống nhất và những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động
và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một
số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội
+ Chương trình chỉ quy định những nguyên tắc, định hướng chung về yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục, không quy định quá chi tiết, để tạo điều kiện cho tác giả sách giáo khoa và giáo viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương trình
+ Chương trình bảo đảm tính ổn định và khả năng phát triển trong quá trình thực hiện cho phù hợp với tiến bộ khoa học - công nghệ và yêu cầu của thực tế
1.4.2 Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông
Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hóa mục tiêu giáo dục phổ thông, giúp người học làm chủ kiến thức phổ thông Biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp Biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại
Chương trình giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực, định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt
Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và
Trang 32nhân cách công dân, khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động, khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới
1.4.3 Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực
Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu sau: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm
Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi sau:
+ Những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
+ Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất
+ Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của học sinh
Nội dung cụ thể của các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực nói trên được nêu tại phần phụ lục của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và các chương trình môn học, hoạt động giáo dục
Các yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi là căn cứ
để xây dựng chương trình môn học và hoạt động giáo dục, biên soạn sách giáo khoa và tài liệu hướng dẫn dạy học, đánh giá kết quả giáo dục học sinh và chất lượng giáo dục phổ thông
Hệ thống môn học và hoạt động giáo dục của chương trình giáo dục phổ thông gồm các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, các môn học tự chọn
Trang 331.4.5 Nội dung giáo dục
Các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc: Tiếng Việt; Toán; Đạo đức; Ngoại ngữ 1 (ở lớp 3, lớp 4, lớp 5); Tự nhiên và xã hội (ở lớp 1, lớp 2, lớp 3); Lịch sử và Địa lý (ở lớp 4, lớp 5); Khoa học (ở lớp 4, lớp 5); Tin học và Công nghệ (ở lớp 3, lớp 4, lớp 5); Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm (trong đó có nội dung giáo dục của địa phương) Nội dung môn học Giáo dục thể chất được thiết kế thành các học phần (mô-đun); nội dung Hoạt động trải nghiệm được thiết kế thành các chủ đề; học sinh được lựa chọn học phần, chủ đề phù hợp với nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường
Thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, mỗi ngày bố trí không quá 7 tiết học Mỗi tiết học từ 35 phút đến 40 phút; giữa các tiết học có thời gian nghỉ
BẢNG TỔNG HỢP KẾ HOẠCH GIÁO DỤC CẤP TIỂU HỌC
2 Hoạt động giáo dục bắt buộc
Trang 341.4.6 Giáo dục ngôn ngữ và văn học
Giáo dục ngôn ngữ và văn học có vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng tình cảm, tư tưởng cho thế hệ trẻ Thông qua ngôn ngữ và hình tượng nghệ thuật, giáo dục ngôn ngữ và văn học bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất chủ yếu, đặc biệt là tinh thần yêu nước, lòng nhân ái, tính trung thực và ý
thức trách nhiệm Hình thành, phát triển cho học sinh các năng lực chung và
năng lực chuyên môn như năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mỹ, năng lực tìm hiểu xã hội
Ngoài nhiệm vụ hình thành, phát triển năng lực giao tiếp bằng Tiếng Việt, ngoại ngữ và tiếng dân tộc thiểu số, giáo dục ngôn ngữ và văn học còn giúp học sinh sử dụng hiệu quả những phương tiện giao tiếp khác như hình ảnh, biểu tượng, ký hiệu, sơ đồ, đồ thị, bảng biểu, Giáo dục ngôn ngữ được thực hiện ở tất cả các môn học, trong đó Ngữ văn, Ngoại ngữ và Tiếng dân tộc thiểu
số có vai trò chủ đạo Giáo dục văn học được thực hiện chủ yếu ở môn học
Ngữ văn
Ngữ văn là môn học bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12 Nội dung cốt lõi của môn học bao gồm các mạch kiến thức và kỹ năng cơ bản, thiết yếu về Tiếng Việt và văn học dựa trên ngữ liệu là các kiểu loại văn bản và phương thức thể hiện đa dạng, nhằm hình thành, phát triển các phẩm chất và năng lực của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở từng cấp học
Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung môn Ngữ văn được
phân chia theo hai giai đoạn Giai đoạn giáo dục cơ bản môn học có tên là
Tiếng Việt ở cấp tiểu học và Ngữ văn ở cấp trung học cơ sở
Chương trình được thiết kế theo các mạch kỹ năng đọc, viết, nói và nghe Kiến thức văn học, giao tiếp và Tiếng Việt được tích hợp trong quá trình dạy học đọc, viết, nói và nghe Các ngữ liệu được lựa chọn và sắp xếp phù hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh ở mỗi cấp học Kết thúc giai đoạn giáo dục cơ bản, học sinh có thể đọc, viết, nói và nghe hiểu các loại văn bản phổ biến và thiết yếu, gồm văn bản văn học, văn bản nghị luận và văn bản thông tin Sử dụng Tiếng Việt thành thạo để giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống hằng ngày và học tập tốt các môn học khác đồng thời qua môn học, học sinh được bồi dưỡng
và phát triển về tâm hồn và nhân cách hình thành và phát triển cho học sinh
những phẩm chất cao đẹp: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách
Trang 35nhiệm Qua những văn bản ngôn từ, đặc biệt là các văn bản văn học đặc sắc, môn ngữ văn tạo cho học sinh cơ hội khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người, biết đồng cảm, sẻ chia, có cá tính và đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu đối với Tiếng Việt và văn học, ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc, góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị văn hoá Việt Nam, giúp học sinh thấy rõ vai trò và tác dụng của môn học đối với đời sống con người, có thói quen và nhu cầu đọc sách, có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại, có khả năng hội nhập quốc tế, có ý thức và tác phong của một công dân
toàn cầu
Góp phần giúp học sinh phát triển các năng lực chung như năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Đặc biệt, chương trình môn Ngữ văn giúp học sinh phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực thẩm mĩ thông qua các hoạt động đọc, viết, nói và nghe Cung cấp hệ thống kiến thức phổ thông nền tảng về văn học và Tiếng Việt, để góp phần phát triển vốn học vấn căn bản của một người có văn hoá, hình thành
và phát triển con người nhân văn, biết tiếp nhận, cảm thụ, thưởng thức, đánh
giá các sản phẩm ngôn từ và các giá trị cao đẹp trong cuộc sống
1.5 Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số
1.5.1 Vai trò của người Hiệu trưởng trong quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học
Trong nhà trường Hiệu trưởng là người đại diện cho cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục-đào tạo chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của nhà trường Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng trường tiểu học được quy định tại Khoản 5 Điều 20 Thông tư 41/2010/TT-BGDĐT về Điều lệ Trường tiểu học
do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, cụ thể như sau:
- Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường, lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, giáo dục, báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền
Trang 36- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường, bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó
- Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại, tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên chuyển, khen thưởng, thi hành kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định
- Quản lý hành chính, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường
- Quản lý học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường, tiếp nhận, giới thiệu học sinh chuyển trường, quyết định khen thưởng, kỉ luật, phê duyệt kết quả đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp, tổ chức kiểm tra, xác nhận việc hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và các đối tượng khác trên địa bàn trường phụ trách
- Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý, tham gia giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần, được hưởng chế độ phụ cấp
và các chính sách ưu đãi theo quy định
- Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
- Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phối hợp tổ chức, huy động các lực lượng xã hội cùng tham gia hoạt động giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng
Trong thực tế đất nước ta đang có những chuyển biến sâu sắc theo hướng
mở cửa hội nhập về kinh tế trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay, công việc quản lý nhà trường có vai trò tổ chức, quản lý của hiệu trưởng càng trở nên quan trọng, có ý nghĩa quyết định chất lượng, hiệu quả giáo dục của mỗi cơ
sở Giáo dục- Đào tạo
Hiệu trưởng đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh vùng dân tộc thiểu số, việc tổ chức các tiết dạy của giáo viên, việc thường xuyên nhận xét đánh giá đối với từng học sinh
Trang 371.5.2 Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh vùng dân tộc thiểu số
1.5.2.1 Quản lý việc thực hiện mục tiêu, chương trình giáo dục
Nghị quyết TW2, khóa VIII của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông các nước phát triển trong khu vực và thế giới” [12]
Mục tiêu giáo dục của mỗi cấp học, ngành học được quy định tại Luật Giáo dục và các quy định của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương Nhà quản
lý căn cứ sự chỉ đạo thực hiện mục tiêu của các cấp lãnh đạo, căn cứ đặc điểm tình hình của đơn vị mình để xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu, quản lý kế hoạch thực hiện mục tiêu, điều chỉnh kế hoạch thực hiện mục tiêu khi cần thiết, đánh giá sơ kết, tổng kết thực hiện mục tiêu theo từng giai đoạn Thực hiện chương trình dạy học là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo kế hoạch đào tạo theo đúng mục tiêu, đó là pháp lệnh của nhà nước do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Hiệu trưởng trước hết phải nắm vững chương trình môn học theo quy định của Bộ, quán triệt cho mọi giáo viên thực hiện nghiêm túc, không được tùy tiện thay đổi, cắt xén, làm sai lệch chương trình Để làm được điều này Hiệu trưởng phải yêu cầu giáo viên lập kế hoạch giảng dạy bộ môn thường xuyên theo dõi việc thực hiệc chương trình hàng tuần, hàng tháng
Cụ thể:
+ Giáo viên phải hiểu nguyên tắc, cấu tạo chương trình môn học
+ Nắm vững tính đặc thù bộ môn để lựa chọn phương pháp và phương tiện dạy học phù hợp
+ Tăng cường trao đổi với đồng nghiệp những vấn đề nảy sinh trong thực tế giảng dạy để bổ sung tri thức mới vào bài dạy
+ Kịp thời nắm vững những thay đổi về nội dung chương trình SGK, phương pháp giảng dạy bộ môn
+ Tự kiểm tra đánh giá hoạt động giảng dạy của bản thân, tăng cường dự giờ để trao đổi, góp ý chuyên môn cùng đồng nghiệp
Trang 38+ Hiệu trưởng phải xây dựng kế hoạch điều hành chung để đảm bảo cân đối các hoạt động, trong đó có việc thực hiện chương trình môn học
+ Chương trình giáo dục tiểu học tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học
1.5.2.2 Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động của tổ chuyên môn
Hoạt động giảng dạy của thầy cô là hoạt động chủ đạo trong qúa trình dạy học môn Tiếng Việt bao gồm: Quản lý việc soạn bài, giảng bài trên lớp và quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá của giáo viên đối với kết quả học tập của học sinh Ngoài ra còn phải quản lý các hoạt động của tổ chuyên môn như: sinh hoạt chuyên môn, dự giờ thăm lớp, kế hoạch (thời khóa biểu) giảng dạy,…cụ thể như:
* Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên
Chuẩn bị bài lên lớp là khâu rất quan trọng, nó được ví như khâu lập kế hoạch trong quản lý Thông qua soạn bài, giáo viên có thể lường trước được những tình huống xảy ra bất ngờ trong tiết dạy và các tình huống ứng sử phù hợp khi có thông tin phản hồi từ phía học sinh
Chương trình dạy học cần đảm bảo nội dung, phương pháp giảng dạy sát với đối tượng học sinh, đúng với yêu cầu của chương trình dạy học là thực hiện
kế hoạch đào tạo theo mục tiêu đào tạo của nhà trường Về nguyên tắc, chương trình dạy học là pháp lệnh của nhà nước do Bộ GDĐT ban hành
Giáo viên không được tùy tiện cắt xén thêm bớt chương trình, đảm bảo
số tiết học theo đúng quy định về số lượng và thời lượng, không dạy trước hay dạy sau thời gian quy định của chương trình Do đó hiệu trưởng phải nắm vững chương trình đồng thời tổ chức cho giáo viên nghiên cứu cùng nắm vững mục tiêu, chương trình dạy học của cả cấp học, của từng khối lớp và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc
+ Đảm bảo đúng mục tiêu bài dạy
Trang 39+ Thực hiện việc soạn bài phải đúng quy chế, soạn bài, chuẩn bị đồ dùng, thiết bị dạy học chu đáo trước khi lên lớp, tránh soạn bài hình thức, mang tính chất đối phó,…
+ Nội dung phải thể hiện rõ ràng, cụ thể, xây dựng bài soạn phù hợp với khả năng của học sinh về tâm sinh lý theo đối tượng học sinh, đặc biệt là không được quá tải
+ Khi soạn bài cần tránh rập khuân, máy móc Đảm bảo tính hệ thống, phải phát huy được tính sáng tạo, chủ động của học sinh
+ Có kế hoạch kiểm tra công tác soạn giảng của giáo viên thường xuyên, liên tục đảm bảo 100% giáo viên khi lên bục giảng phải có giáo án
+ Phổ biến hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch soạn bài và chế độ ký duyệt giáo án thông qua tổ trưởng chuyên môn đúng thời gian quy định
- Quán triệt giáo viên không nên lạm dụng sách thiết kế bài giảng như một giáo án chuẩn mà chỉ nên coi đó là một tài liệu tham khảo
- Chỉ đạo, tổ chức rút kinh nghiệm trong tổ chuyên môn, nhóm chuyên môn và cải tiến công tác soạn bài một cách cụ thể sáng tạo
- Phân công trách nhiệm cụ thể cho phó hiệu trưởng, tổ chuyên môn thường xuyên kiểm tra theo dõi, đôn đốc,…nắm tình hình công tác chuẩn bị bài dạy của giáo viên, thường xuyên kiểm tra, đối chiếu phân phối chương trình với giáo án và sổ đầu bài, chú trọng kiểm tra trực tiếp những tiết dạy thông qua
dự giờ trong đó cần đến việc sử dụng đồ dùng dạy học, thí nghiệm Tiến hành rút kinh nghiệm giờ dạy từ đó cần khen ngợi những giáo viên tiêu biểu kịp thời phê bình những giáo viên chưa hoàn thành nhiệm vụ
* Quản lý hoạt động giảng dạy trên lớp của giáo viên
Giờ lên lớp giữ vai trò quyết định chất lượng dạy học, vì vậy cả hiệu trưởng và giáo viên phải tập trung để nâng cao chất lượng toàn diện giờ lên lớp Kết quả của giáo viên có vai trò trực tiếp còn việc quản lý thế nào để giờ lên lớp của giáo viên có kết quả tốt là trách nhiệm của hiệu trưởng Hiệu trưởng phải có những biện pháp phù hợp giúp phát huy hết khả năng, tạo mọi điều
Trang 40kiện thuận lợi nhất cho giáo viên trong công tác soạn bài và chuẩn bị, mặt khác hiệu trưởng cùng với phó hiệu trưởng và các bộ phận chức năng tìm ra biện pháp phù hợp nhất có tác động tích cực đến giờ lên lớp của giáo viên Đó là tư tưởng chỉ đạo trong việc quản lý giờ lên lớp của giáo viên
Có thể nói giờ lên lớp là một khâu trong quá trình dạy học được kết thúc toàn vẹn trong khuân khổ nhất định về thời gian theo quy định của kế hoạch dạy học Do đó, trong mỗi giờ lên lớp, hoạt động dạy học của giáo viên và hoạt động học của học sinh đều thực hiện dưới sự tác động của các yếu tố cơ bản của quý trình dạy học như mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học
- Về nội dung: Đảm bảo tính hệ thống của một tiết dạy, truyền đạt đủ nội
dung, làm rõ được trọng tâm của tiết dạy và liên hệ với thực tế
- Về phương pháp: Sử dụng phương pháp phù hợp với đặc trựng của bộ
môn, sử dụng và kết hợp linh hoạt các phương pháp trong hoạt động dạy và học
- Về phương tiện giảng dạy:
+ Giáo viên cần sử dụng và kết hợp tốt các phương tiện, thiết bị dạy học phù hợp với nội dung của bài dạy
+ Trình bày bảng hợp lý, khoa học, chữ viết, hình vẽ, lời nói rõ ràng, chuẩn mực
* Quản lý hoạt động tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
- Quản lý việc giáo viên thực hiện kiểm tra, đánh giá gồm những nội dung: + Quản lý khâu ra đề kiểm tra: Nội dung kiểm tra phải sát chương trình, phù hợp với đối tượng học sinh, phát huy tính sáng tạo của học sinh