1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phạm thái từ truyện thơ “sơ kính tân trang” đến tiểu thuyết “tiêu sơn tráng sĩ” của khái hưng

104 186 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới cái nhìn của Khái Hưng, Phạm Thái và các bạn đồng chí của ông những cựu thần trung thành của nhà Lê mang nét tráng sĩ với khát khao phục quốc cháy bỏng.. Qua các côn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

PHAN SỸ QUÝ

PHẠM THÁI - TỪ TRUYỆN THƠ

“SƠ KÍNH TÂN TRANG” ĐẾN TIỂU THUYẾT

“TIÊU SƠN TRÁNG SĨ” CỦA KHÁI HƯNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN – 2018

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2

2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về Phạm Thái 2

2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về “Tiêu Sơn tráng sĩ” của Khái Hưng 8

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 10

3.1 Đối tượng nghiên cứu 11

3.2 Mục tiêu nghiên cứu 11

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 11

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

4.2 Phương pháp nghiên cứu 11

5 Phạm vi nghiên cứu 12

5.1 Phạm vi tư liệu 12

5.2 Phạm vi vấn đề 12

6 Cấu trúc của luận văn 13

7 Đóng góp của luận văn 13

CHƯƠNG 1: BIẾN ĐỘNG LỊCH SỬ VÀ ĐỜI SỐNG VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII VỚI SỰ XUẤT HIỆN CỦA PHẠM THÁI 14

1.1 Những biến cố lịch sử Việt Nam thế kỷ XVIII 14

1.2 Đời sống văn chương Việt Nam thế kỷ XVIII 16

1.2.1 Sự xuất hiện của những nhân tố ngoài khuôn khổ 16

1.2.2 Dòng văn chương “chủ tình”, thể hiện tinh thần nhân đạo chủ nghĩa 20

1.2.3 Sự lên ngôi của các sáng tác bằng chữ Nôm và các thể loại văn học dân tộc 25

1.3 Tiểu sử Phạm Thái 29

CHƯƠNG 2: PHẠM THÁI – CHÂN DUNG TỰ HỌA GIỮA NHỮNG QUY PHẠM THỜI TRUNG ĐẠI 37

2.1 Phạm Thái - con người bổn phận 37

2.2 Phạm Thái - con người tự nhiên 45

2.2.1 Cảm xúc trong tình yêu nam nữ 45

2.2.2 Con người tài hoa, phong trần 55

2.3 Phạm Thái – tác giả văn chương 59

2.3.1 Quan niệm văn chương 59

2.3.2 Phạm Thái với việc viết truyện thơ Nôm 65

CHƯƠNG 3: PHẠM THÁI – TRÁNG SĨ TRONG HƯ CẤU VĂN CHƯƠNG THỜI KỲ THỰC DÂN 68

3.1 Thực tại xã hội Việt Nam những năm 1930 - 1940 68

3.2 Phạm Thái trong Tiêu Sơn tráng sĩ 72

3.2.1 Dấu vết của ba phương diện trong hình ảnh Phạm Thái thời trung đại ở “Tiêu Sơn tráng sĩ” 72

3.2.2 Những nét “phụ trội” của Phạm Thái trong “Tiêu Sơn tráng sĩ” 80

3.3 Nghệ thuật xây dựng hình tượng Phạm Thái của Khái Hưng 89

3.3.1 Nghệ thuật xây dựng bối cảnh 89

3.3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 91

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Phạm Thái (1777-1813) là một nhân vật “lạ” của đời sống xã hội, văn

hoá, văn chương Việt Nam thời trung đại Trong phận vị một kẻ sĩ, giữa biến cố Tây Sơn kéo quân ra Bắc phế truất chúa Trịnh rồi vua Lê, Phạm Thái chọn cách chống lại Tây Sơn Lựa chọn này đưa ông vào hàng ngũ “trung thần bất sự nhị quân” thường được chuẩn mực đạo đức Nho giáo đề cao, và bộc lộ sự cương ngạnh, cố chấp Thế nhưng trong nhiều sản phẩm văn chương do ông tạo tác (tiêu biểu là thơ văn khóc Trương Quỳnh Như, thơ Tự trào, Tự thuật, bài phú

Chiến tụng Tây Hồ, và đặc biệt là truyện thơ Nôm Sơ kính tân trang), Phạm

Thái lại tỏ ra là một con người đầy chất phá cách Nội dung thơ văn ấy cũng xếp ông vào số ít những người vừa là tác giả vừa là nhân vật của chính mình trong văn chương nghệ thuật thời trung đại

1.2 Hơn 100 năm sau khi Phạm Thái qua đời, cuộc đời của ông được Khái

Hưng tái hiện lại qua một cuốn tiểu thuyết dã sử mang màu sắc kiếm hiệp, Tiêu

Sơn tráng sĩ Dưới cái nhìn của Khái Hưng, Phạm Thái và các bạn đồng chí của

ông (những cựu thần trung thành của nhà Lê) mang nét tráng sĩ với khát khao phục quốc cháy bỏng Điều đặc biệt là trong cuốn tiểu thuyết này, người ta thấy hình bóng của Khái Hưng trong hình tượng Phạm Thái Tiểu thuyết này được coi là nơi Khái Hưng thể hiện “giấc mơ lãng mạn chống Pháp” [4, tr.716], thể hiện quan niệm chính trị trong hoàn cảnh vong quốc (cụ thể ở đây là đất nước bị thuộc địa hoá) Thực tế, tác phẩm dã sử này của Khái Hưng không phải là hiện tượng cá biệt, vì viết lại lịch sử, mượn lịch sử là một xu thế khá phổ biến trong giới cầm bút Việt Nam thời kỳ trước 1945 như một cách biểu hiện ngầm của tinh thần dân tộc ái quốc Nhưng việc đưa Phạm Thái - một người tự thể hiện tính cách ngông nghênh, chưa từng được bất kỳ sử liệu nào nhìn nhận ở phẩm cách anh hùng hay công tích với dân tộc - thành nhân vật phục quốc thì lại khiến

tác phẩm trở nên đáng chú ý

Trang 4

1.3 Một quan niệm từng ngự trị phê bình văn chương khá lâu là coi văn

chương là sự phản chiếu của thực tại/hiện thực, trong đó có lịch sử Nhưng gần đây, cái nhìn trên đã được bổ sung bằng quan niệm coi văn chương nghệ thuật như một cảm nhận hoặc nhận thức chủ quan về thực tại Như vậy, mối quan hệ văn chương - lịch sử đã không chỉ là lịch sử được tái hiện đúng hay sai mà còn là mỗi thời đại, mỗi tác giả có cách diễn giải lịch sử khác nhau Và câu hỏi nảy sinh từ trường hợp thứ hai là: vì sao lịch sử lại được diễn giải theo cách đó? Bên cạnh đó, quan niệm liên văn bản (intertext) cũng cung cấp cách nhìn thế giới văn bản không chỉ là văn bản này chịu ảnh hưởng của văn bản kia mà là mọi văn bản đều là liên văn bản, tức là mỗi văn bản đều là sản phẩm của sự tương tác giữa các văn bản Đây chính là những gợi dẫn thú vị cho việc nhìn lại hiện tượng

Phạm Thái - tác giả văn học trở thành Phạm Thái - nhân vật văn học

Trên đây là những lý do để chúng tôi chọn việc Phạm Thái - từ truyện thơ

“Sơ kính tân trang” đến tiểu thuyết “Tiêu Sơn tráng sĩ” của Khái Hưng làm

chủ đề nghiên cứu cho luận văn này

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về Phạm Thái

2.1.1 Về việc sưu tầm, giới thiệu thơ văn của Phạm Thái

Trong kho lưu trữ tư liệu Hán Nôm (tại Viện nghiên cứu Hán Nôm), di

sản của Phạm Thái chỉ còn duy nhất một văn bản mang tên Sơ kính tân trang ký hiệu A.1390 do Nguyễn Tử Mẫn chép năm 1883 Ngoài truyện thơ Sơ kính tân

trang viết bằng chữ Nôm, “đầu sách có bài Chiêu Tôn Sư tân trang truyện thuyết

và bài Trùng bạch đường thư thuyết của Nguyễn Tử Mẫn giới thiệu thân thế sự nghiệp Phạm Thái; các bài Mĩ nữ đề hồi văn cách thi, Tần sĩ lục và Từ Văn

Trường truyện của Phạm Thái”1

Chuyển sang thời kỳ hiện đại (Âu hoá), khi chữ quốc ngữ thay thế văn tự Hán Nôm, đã xuất hiện phong trào xây dựng nền quốc văn với mục đích bảo tồn văn hoá truyền thống của dân tộc Một trong những hoạt động của phong trào đó là biên khảo, phiên dịch các tác phẩm Hán Nôm sang chữ quốc ngữ Và vào năm

1 Nguồn dẫn http://www.hannom.org.vn/default.asp?catID=246&c=80

Trang 5

1932, Sở Cuồng Lê Dư đã công bố Phổ Chiêu thiền sư thi văn tập giới thiệu với

độc giả hiện đại di sản văn chương của Phạm Thái, với các hình thức văn thể: thơ, câu đối, văn vần, văn xuôi, truyện thơ - tổng cộng 38 đơn vị tác phẩm [7]

Cùng thời gian đó, Trần Trung Viên tiến hành tuyển chọn tác phẩm văn

chương truyền thống làm thành một ấn bản có tên Văn đàn bảo giám (biên soạn

từ năm 1926 đến 1938), trong đó tác phẩm của Phạm Thái được chia ra giới

thiệu ở các thể: Thơ thất ngôn bát cú (có các bài: Tự trào, Cảm thán, Gửi cho

tình nhân, Khóc cô Trương Quỳnh Như, Mơ tưởng Quỳnh Như), Thơ yết hậu

(có: Tự trào, Cha mắng con cờ bạc, Con trách cha nghiện rượu, Than nỗi chồng

con, Bợm rượu, Con lươn), Văn sách (Khóc cô Trương Quỳnh Như) - tổng cộng

Trương Quỳnh Như, Tự trào, Tự thuật [62]

Năm 1960, Lại Ngọc Cang giới thiệu tác phẩm Sơ kính tân trang Trong

cuốn sách này, Lại Ngọc Cang cung cấp thêm một dị bản của truyện thơ này Cuối sách có thêm phần phụ lục các tác phẩm của Phạm Thái và các bài thơ xướng họa của Trương Quỳnh Như Tuy nhiên nhà nghiên cứu cũng trình bày rõ

“Thơ văn ở phần phụ lục này đều chép trong “Phổ Chiêu thiền sư thi văn tập”

[3, tr.257]

Như vậy, cho đến thời điểm hiện nay, Phổ Chiêu thiền sư thi văn tập của

Sở Cuồng Lê Dư vẫn là sưu tập đầu tiên và đầy đủ nhất sáng tác của Phạm Thái,

và cùng với khảo cứu Sơ kính tân trang của Lại Ngọc Cang, đây là những cơ sở

tư liệu cho các nghiên cứu về Phạm Thái

2.1.2 Về việc nghiên cứu, đánh giá về Phạm Thái với tư cách một tác giả thời kì trung đại

Cũng có thể coi là một hiện tượng lạ khi Phạm Thái không bao giờ được coi là một tác giả lớn của văn chương trung đại nhưng ông lại là tác giả được

Trang 6

viết riêng thành mục trong gần như tất cả các bộ văn học sử ở các giai đoạn khác

nhau, như Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng Hàm, 1941) - trước 1945,

Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Lê Quý Đôn (1957), Sơ thảo lịch

sử văn học Việt Nam (1957, quyển IV), Nguyễn Lộc với Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX (1976), Hoàng Hữu Yên với phần viết về

Phạm Thái trong Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX (1990) - miền Bắc, sau 1945, Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1967) của Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ với Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1969) - miền

Nam, sau 1945

Bên cạnh đó, còn có nhiều bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, như:

Phạm Thái, một bộ diện đặc biệt trong văn học cuối Lê, đầu Nguyễn (Nguyễn

Văn Xung, Tạp chí Văn, Sài Gòn, số 167, ngày 1/12/1970), Trao đổi với ông

Nguyễn Văn Xung về chuyện “say mê” hay đánh giá lại cuộc đời Phạm Thái

(Trần Nghĩa, Tạp chí văn học, số 5, năm 1971), Phổ Chiêu thiền sư và những

sáng tác văn học đặc sắc của ông (Nguyễn Phạm Hùng, Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 4, năm 2007), Phạm Thái - tài hoa và bi kịch (Đặng Thị Hảo, Tạp chí văn học, số 9, năm 2009), Đường mơ về tự ngã trong thơ văn Phạm Thái

(Quang Huy, Tạp chí Sông Hương, năm 2013), và mục từ “Phạm Thái” (do

Nguyễn Huệ Chi biên soạn [4, tr.1368] trong Từ điển văn học bộ mới (2004)…

Có thể nhận thấy, tất cả các nghiên cứu trên đều đã dành những phần viết

đáng kể cho tác phẩm chính của Phạm Thái là Sơ kính tân trang Bên cạnh đó

còn có một số thực hành nghiên cứu thuộc các chương trình đào tạo cũng lấy tác

phẩm này làm đối tượng tìm hiểu, như: luận văn Thạc sĩ Ngữ văn Cảm hứng

lãng mạn trong Sơ kính tân trang của Phạm Nam Trung (Đại học Vinh, 2006), Con người Phạm Thái qua thơ văn của Nguyễn Thị Kim Liên (Đại học Sư phạm

Hà Nội, 2007) Và một số sách, bài viết đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành

như: Một số ý kiến về việc đánh giá Sơ kính tân trang (Triêu Dương, Nghiên cứu

văn học, số 2, năm 1960), Qua những ý kiến khác nhau về Sơ kính tân trang của Phạm Thái (Nguyễn Nghiệp, Nghiên cứu văn học, số 2, năm 1963), Phạm Thái

Trang 7

và “Sơ kính tân trang” (Nguyễn Văn Xung, Lửa thiêng xb, Sài Gòn, năm 1972),

Mô hình kết cấu truyện Sơ kính tân trang của Phạm Thái (Nguyễn Thị Nhàn, Tạp chí văn học, số 8, năm 2000)…, mục từ “Sơ kính tân trang” (do Nguyễn

Lộc biên soạn) [4, tr.1561-1562] trong Từ điển văn học bộ mới (2004)

Qua các công trình, bài viết trên, các nhà nghiên cứu trên đã tập trung vào hai phương diện chính: về cuộc đời và di sản thơ văn của Phạm Thái với tâm

điểm là truyện thơ Nôm Sơ kính tân trang

2.1.2.1 Đánh giá về cuộc đời Phạm Thái hầu hết các tác giả đều thống

nhất với các chi tiết tiểu sử Phạm Thái Trong đó, Nguyễn Lộc là người đề cập một cách kĩ lưỡng nhất Theo tác giả, Phạm Thái vốn xuất thân trong một gia đình võ quan dưới thời Lê Cảnh Hưng Khi nhà Tây Sơn thành lập, cha Phạm Thái là Thạch Trung hầu Phạm Đạt từng cất quân chống lại nhưng không thành rồi mất Phạm Thái khi ấy mới mười chín tuổi, nối chí cha, đã tìm đến với Nguyễn Đoàn để tham gia cuộc khởi nghĩa chống Tây Sơn nhưng rồi Nguyễn Đoàn cũng thất bại Phạm Thái bị truy nã, phải ẩn náu nhiều nơi, giả dạng đi tu, lấy đạo hiệu là Phổ Chiêu thiền sư Sau đó, Phạm Thái vẫn còn tìm cách chống Tây Sơn, bôn ba nhiều nơi nhưng rút cục đều không thành công Cuối cùng

“Phạm Thái mất ở Thanh Hóa, mới ba mươi sáu tuổi, kết thúc cuộc đời đầy bi kịch chua chát của một con người tài hoa nhưng đi ngược dòng lịch sử” [35,

tr.309]

Thống nhất về chi tiết, song các nhà nghiên cứu lại khác biệt trong đánh giá về thái độ chính trị này của Phạm Thái Nhóm các nhà nghiên cứu coi trọng lập trường giai cấp (như Văn Tân, Lại Ngọc Cang, Nguyễn Lộc, Triêu Dương, Trần Nghĩa, Nguyễn Nghiệp,…) cho đó là thái độ “cực kỳ phản động”, “đặt lợi ích đẳng cấp lên trên lợi ích dân tộc” [54, tr.196], hay Lại Ngọc Cang cho rằng Phạm Thái mang tư trưởng trung quân đến cực đoan [3, tr.15-16], Nguyễn Lộc cũng đánh giá đó là thái độ “phản động về chính trị” [35, tr.322] Còn nhóm kia (bao gồm Dương Quảng Hàm, Lê Trí Viễn, Hoàng Hữu Yên - tại miền Bắc, hay Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Văn Xung - ở miền Nam,…) lại có cái

Trang 8

nhìn khoan hòa hơn về vấn đề này, đặc biệt là học giới miền Nam trước 19751 Tác giả Nguyễn Văn Xung cho là “Phạm Thái say mê giấc mộng anh hùng của thời đại” [73, tr.35] Còn trong các bộ lịch sử văn học hầu như không bình luận, đánh giá gì về thái độ chính trị này của Phạm Thái: Thanh Lãng chỉ giới thiệu vắn tắt rằng “Phạm Thái định nối chí cha, đi tìm đồng chí để lo sự khôi phục Bị truy nã, ông phải trá hình đi tu ở chùa Tiêu Sơn, lấy hiệu là Phổ Chiêu thiền sư” [31, tr.569], Phạm Thế Ngũ thì xếp Phạm Thái vào các tác giả có khuynh hướng chống Tây Sơn cùng với Nguyễn Hữu Chỉnh, Lê Huy Dao, Lê Quýnh [44, tr.303] nhưng không đưa ra bất kỳ bình luận nào Hai quan điểm khác biệt đó sẽ dẫn đến những nhận định khác nhau về giá trị thơ văn của Phạm Thái, đặc biệt là

bài phú Chiến tụng Tây Hồ

Ngoài tư tưởng chính trị chống Tây Sơn, các nhà nghiên cứu khi viết về cuộc đời Phạm Thái còn đặc biệt chú ý tới mối tình của ông với Trương Quỳnh Như Chính mối tình này là nguồn cảm hứng lớn chi phối sự nghiệp thơ văn

Phạm Thái Thậm chí, Hoàng Hữu Yên còn nhấn mạnh “Sự kiện quan trọng

nhất chi phối cuộc đời tài hoa của Phạm Thái không phải là chí phò Lê - Trịnh, dấn thân cho sự nghiệp Cần vương mà là mối tình hận giữa ông và nữ sĩ Quỳnh Như nổi tiếng” [75, tr.147]

2.1.2.2 Như trên đã nói, Sơ kính tân trang là tác phẩm đặc sắc nhất trong

di sản thơ văn của Phạm Thái nên đã thu hút nhiều nhất sự chú ý của giới nghiên cứu Vì mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu con người Phạm Thái được thể hiện như thế nào qua chính thơ văn của ông, nên chúng tôi chỉ tập trung lược thuật những ý kiến đánh giá về nội dung của tác phẩm Về vấn đề này, tư liệu nghiên cứu cho thấy có hai luồng ý kiến chính như sau:

Luồng ý kiến thứ nhất phủ nhận giá trị nội dung của Sơ kính tân trang Các tác giả Văn Tân (trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam), Triêu Dương (trong bài “Một số ý kiến về việc đánh giá Sơ kính tân trang”), Nguyễn Nghiệp

1 Hai bài viết: Phạm Thái, một bộ diện đặc biệt trong văn học cuối Lê, đầu Nguyễn của Nguyễn Văn Xung công bố tại miền Nam năm 1970 và bài Trao đổi với ông Nguyễn Văn

Xung về chuyện “say mê” hay đánh giá lại cuộc đời Phạm Thái do Trần Nghĩa thực hiện tại

miền Bắc năm 1971 có thể coi là đại diện cho hai quan niệm khác biệt đó

Trang 9

(trong bài viết “Qua những ý kiến khác nhau về Sơ kính tân trang của Phạm

Thái”), Trần Nghĩa (Trong bài “Trao đổi với ông Nguyễn Văn Xung về chuyện

“say mê” hay đánh giá lại cuộc đời Phạm Thái”)… đều cho rằng tác phẩm còn nhiều hạn chế về mặt tư tưởng Theo Văn Tân thì cuốn truyện cơ hồ không còn chút giá trị gì, thậm chí chứa đựng cả “một sự dụng tâm nằm trong hệ thống tư tưởng chống lại triều đại Tây Sơn, chống khởi nghĩa nông dân” [54, tr.199] Nguyễn Nghiệp còn cực đoan hơn khi đem áp đặt quan điểm chính trị của Phạm Thái vào việc đánh giá tác phẩm, từ đó ông cho rằng “cái phần chủ yếu, cái

khuynh hướng quán triệt trong Sơ kính tân trang vẫn là cái phần tiêu cực của

nó” Nhà nghiên cứu này không phủ nhận đóng góp của tác phẩm là “tiếng nói của tình yêu say sưa và chung thủy, phần yêu thiên nhiên, cảnh vật của đất nước chúng ta” nhưng “xét về toàn bộ tác phẩm mà nói, thử hỏi tác dụng giáo dục của

Sơ kính tân trang đối với thế hệ chúng ta phỏng được bao nhiêu Một con người

với một tư tưởng căn bản là phản động và tiêu cực như Phạm Thái làm sao có thể tạo ra những giá trị nhân đạo cao cả, có tác dụng giáo dục lớn cho các thế hệ được” [47, tr.57]

Luồng ý kiến thứ hai đề cao giá trị của Sơ kính tân trang Ngoài các bộ

lịch sử văn học của nhóm Lê Quý Đôn, Hoàng Hữu Yên thì Lại Ngọc Cang

trong tập khảo thích và giới thiệu Sơ kính tân trang, Nguyễn Văn Xung (trong

“Phạm Thái và Sơ kính tân trang”)… đều thống nhất cho rằng tác phẩm ngợi ca

tình yêu tự do, vượt lên mọi sự kiềm tỏa khắt khe của lễ giáo phong kiến Tác

giả Hoàng Hữu Yên đánh giá Sơ kính tân trang là “một bản tình ca độc đáo”,

“những mối tình trong tác phẩm không có sự phân biệt sang hèn, là những bông hoa hàm tiếu, hễ gặp tiết lành thì tỏa sắc ngát hương” [75, tr.155]

2.1.2.3 Nhận định về tài năng của Phạm Thái: Qua di sản văn học mà

Phạm Thái để lại các nhà nghiên cứu nhìn chung đều đánh giá ông là một cây bút tài hoa, phóng túng, có nhiều sáng tạo nghệ thuật độc đáo, tác phẩm mang yếu tố trữ tình đậm nét

Truyện thơ Sơ kính tân trang được Lại Ngọc Cang chỉ ra rất nhiều thiếu

sót của tác phẩm như kết cấu lỏng lẻo, “có nhiều đoạn rời rạc đến mức có thể

Trang 10

nói là chắp vá” [3, tr.45] Đồng tình với quan niệm này, Nguyễn Lộc cho rằng

“Sơ kính tân trang là truyện thơ nhưng hình như tác giả của nó không sành lắm

về thể loại văn học này” [35, tr.327] Tuy nhiên, lại có ý kiến cho rằng đó là chỗ sáng tạo độc đáo của tác giả Hoàng Hữu Yên cho rằng chính việc kết cấu truyện không diễn biến như các truyện thơ khác lại “tạo nên nét mới của nghệ thuật tả tình ít thấy trong loại truyện thơ tình yêu” [75, tr.161] Đặc biệt, chất tự truyện của truyện thơ Nôm này đã được tất cả các nghiên cứu thừa nhận, trong đó Lê Trí Viễn và Hoàng Hữu Yên là những người đưa ra những đánh giá cao nhất Lê Trí Viễn coi chất tự truyện này là một trong những “sáng kiến mới lạ” [32, tr.99] của tác giả Phạm Thái Đến Hoàng Hữu Yên, “thiên tự truyện” này được đánh giá “vừa là sự thách thức của tác giả đối với hiện thực xã hội tàn bạo, vừa là tuyên ngôn về lẽ sống của tác giả: đeo đuổi tình yêu đắm say, chân thật và tự do

là lý tưởng, là khát vọng của con người” [75, tr.151]

2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về “Tiêu Sơn tráng sĩ” của Khái Hưng

Khái Hưng là một trong những nhà văn chủ chốt của Tự lực văn đoàn, viết về ông đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều điều chưa minh bạch Thực chất cái chết và tư tưởng chính trị của Khái Hưng hiện vẫn chỉ được bàn luận một cách phi chính thức Sự nghiệp văn chương của ông cũng được định hướng tìm hiểu vào các chủ đề chống lễ giáo,

giải phóng cá nhân Chính vì vậy, tiểu thuyết dã sử duy nhất của ông là Tiêu Sơn

tráng sĩ tuy được tất cả các bộ văn học sử nhắc đến trong những lời giới thiệu,

trong những bài nghiên cứu về sự nghiệp văn học của Khái Hưng song hầu như chưa có một công trình nghiên cứu độc lập nào quan tâm

Phan Cự Đệ có lẽ là nhà nghiên cứu đầu tiên công khai bày tỏ quan điểm

của mình về Tiêu Sơn tráng sĩ Trong bài “Góp ý về việc tái bản Tiêu Sơn tráng

sĩ” viết năm 1957 ông cho rằng đây là tác phẩm đã “bôi nhọ một phong trào

quần chúng nông dân khởi nghĩa, đã đề cao tầng lớp phong kiến suy tàn, đề cao những con người phiêu lưu anh hùng, những con người thất bại chạy trốn thực tế” Về tư tưởng của Khái Hưng bộc lộ trong tác phẩm, Phan Cự Đệ cho rằng:

Trang 11

“Càng nhìn về trước chúng ta càng thấy rõ hơn tư tưởng bảo thủ lạc hậu của Khái Hưng Từ năm 1933, sau cao trào Xô Viết Nghệ An, Khái Hưng đã ru ngủ

thanh niên vào đạo phật và tình yêu (…) Cho đến 1940, Tiêu sơn tráng sĩ ra đời

với một tác dụng phản động sâu sắc, trắng trợn hơn” Từ đó, nhà nghiên cứu kết

luận “việc xuất bản và phổ biến rộng rãi Tiêu sơn tráng sĩ trong giai đoạn hiện

nay là một việc không có lợi Nó không đóng góp gì vào việc xây dựng đời sống tình cảm và tư tưởng cho thanh niên mà còn gây tác hại là đàng khác” [9, tr.5-6] Ý kiến này có rất nhiều tương đồng với quan điểm của Văn Tân (và một số

người khác) khi nhận định về Sơ kính tân trang mà chúng tôi đã lược thuật ở

trên, bởi cùng đứng trên điểm nhìn giai cấp cực đoan

Năm 1988, sau 31 năm, Phan Cự Đệ lại viết lời giới thiệu cho cuốn Tiêu

Sơn tráng sĩ của Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp Mặc dù vẫn

giữ quan điểm phê phán khuynh hướng tư tưởng của Khái Hưng trong tác phẩm nhưng cách đánh giá của Phan Cự Đệ ở lời giới thiệu sách lần này đã nhẹ nhàng hơn Ông thừa nhận: “Công bằng mà nói thì những đảng viên Tiêu Sơn như Phạm Thái, Trịnh Đản cũng có tinh thần dân tộc khi họ lên án triều đình Mãn Thanh làm nhục vua Lê, khi họ vạch trần âm mưu xâm lược của bọn phong kiến

Trung Quốc” [10, tr.7-8] Ông cũng chỉ ra chỗ hấp dẫn của Tiêu Sơn tráng sĩ

chính là vẻ đẹp của “những người anh hùng chiến bại” và lí giải cho vấn đề Khái Hưng không phản ánh được không khí cách mạng của đất nước ta lúc bấy giờ

bằng đặc trưng thể loại của tác phẩm; Tiêu Sơn tráng sĩ là một cuốn tiểu thuyết

lãng mạn nên nhà văn tôn thờ chủ trương “nghệ thuật vị nghệ thuật”, “đem đối lập cái Đẹp với cái Hữu ích, cái Đẹp với tính mục đích Cho nên người anh hùng phải chiến bại, tình yêu phải đổ vỡ, tan tác, chia li mới là đẹp” [10, tr.9-10]

Từ góc nhìn trung đại, Nguyễn Lộc dường như là nhà nghiên cứu duy nhất chỉ ra sự tiếp nối của hình ảnh Phạm Thái ở thời hiện đại Ông đánh giá việc Khái Hưng viết về Phạm Thái “như tìm đến một người bạn tâm tình”, tuy nhiên trong thời kì phong trào đấu tranh cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo thì việc ngợi ca Phạm Thái chỉ là “biểu hiện của một thái độ tiêu cực quay lưng lại cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc lúc bấy giờ” [36, tr.323]

Trang 12

Nhà văn Thụy Khê trong bài nghiên cứu về tác giả Khái Hưng (năm

2009) đã đánh giá “Tiêu Sơn tráng sĩ là cuốn tiểu thuyết lịch sử hay nhất của văn học Việt Nam từ Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm (1659–1736), Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái đến ngày nay” Bà cũng đã chỉ ra mục đích của Khái Hưng khi viết Tiêu Sơn tráng sĩ là để “kiện

toàn một đời người, một đời văn, một cuộc đấu tranh giành độc lập, thất bại”, theo đó các nhân vật chính trong truyện chính là hình ảnh của các nhà văn trong Tự lực văn đoàn: “Trần Quang Ngọc phải là Nhất Linh, Khái Hưng phải là Phạm Thái” [29] và đảng Tiêu Sơn chính là Việt Nam quốc dân đảng

Như vậy, qua khảo sát các công trình nghiên cứu về di sản thơ văn Phạm

Thái và tiểu thuyết Tiêu Sơn tráng sĩ của Khái Hưng có thể thấy các nhà nghiên

cứu đã có những tìm tòi, phát hiện về thơ văn Phạm Thái, về con người ông; đã nhận ra chất tự thuật/tự truyện trong các tác phẩm của ông; đã công nhận sự “tái sinh” của Phạm Thái ở thời hiện đại nhưng chưa có một công trình nào có cái nhìn xuyên thời gian1 để thấy được từ một tác giả thời trung đại đến một nhân vật trong tiểu thuyết thời hiện đại Phạm Thái đã diễn ra như thế nào? Khái Hưng đã kế thừa và sáng tạo, hư cấu thêm điều gì về con người ấy? Bản thân những luận bàn về tư tưởng chính trị của Phạm Thái, về giá trị tác phẩm mang tính tự

thuật của ông là Sơ kính tân trang cũng bị nhiều giới hạn lịch sử, cần được điều

chỉnh hoặc bổ sung cách hiểu Và việc Phạm Thái tái sinh trong bối cảnh vong quốc, xã hội bị thực dân hoá qua ngòi bút của một thành viên Tự lực văn đoàn

cũng là những tình huống có ý nghĩa Đây chính là những vấn đề cần được

nghiên cứu sâu hơn

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

1 Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn của Nguyễn Thị Kim Liên với đề tài Con người Phạm Thái qua

thơ văn là nghiên cứu khá gần với hướng quan tâm của chúng tôi, song tác giả luận văn đã

dừng lại ở Phạm Thái thời trung đại Thêm nữa, trong luận văn này tác giả Nguyễn Thị Kim Liên đã đặc biệt đi sâu vào phân tích các phương diện nghệ thuật trong sáng tác của Phạm Thái - đây là đóng góp riêng của luận văn, còn lại những nhận định, kiến giải về cuộc đời, tư tưởng, giá trị thơ văn của Phạm Thái, tuy có mềm mỏng hơn, song về căn bản chưa có đóng góp mới

Trang 13

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn sẽ tìm hiểu Phạm Thái với tư cách là một nhân vật tự họa dưới những ước thúc của thời kì trung đại và Phạm Thái với tư cách là nhân vật văn học tái tạo trong bối cảnh thuộc địa thời kì hiện đại Đồng thời, việc xây dựng hình ảnh Phạm Thái ở giai đoạn thứ hai (hiện đại) cũng sẽ được phân tích như một kiểu liên văn bản

3.2 Mục tiêu nghiên cứu

Từ việc khảo sát Phạm Thái như một nhân vật văn học ở cả hai thời trung đại, hiện đại đã được thể hiện ra sao, tiểu luận sẽ tìm hiểu và thử lý giải những yếu tố lịch sử, xã hội, tư tưởng, văn chương… nào đã tác động đến cách tự thể hiện của tác giả Phạm Thái thành nhân vật văn chương trong thể loại truyện thơ Nôm và cách Khái Hưng tái tạo nhân vật Phạm Thái

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn sẽ:

- Dựng lại chân dung Phạm Thái qua tác phẩm của chính ông và qua những ước thúc (tư tưởng, văn hóa, văn chương) thời trung đại Đây là phần viết

sẽ có những đối thoại với một số định giá trước đây về Sơ kính tân trang và chất

tự thuật ở một số sáng tác khác của Phạm Thái

- Đối sánh chân dung tự họa đó với hình tượng hư cấu trong Tiêu Sơn

tráng sĩ

- Chỉ ra tính kế thừa và những điểm sáng tạo của Khái Hưng khi xây dựng lại hình tượng Phạm Thái Trả lời câu hỏi: Vì sao có sự tái sinh của Phạm Thái trong thời kỳ Việt Nam là một xứ thuộc địa (những năm 1930-1940), và sự tái sinh đó có ý nghĩa gì đối với tư tưởng và văn chương đương thời

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Do vấn đề quan tâm thuộc lĩnh vực văn học sử nên luận văn sẽ đặt đối tượng nghiên cứu vào bối cảnh của nó, đó là cái nhìn lịch sử (tức phương pháp văn học sử) Đây là một phương pháp rất quan trọng để xác định mối quan hệ giữa hoàn cảnh với sáng tác của tác giả, thấy được những tác động của hoàn

Trang 14

cảnh tới tư tưởng, quan điểm sáng tác và quan điểm nghệ thuật của tác giả trong quá trình sáng tác văn chương

Bên cạnh đó luận văn cũng sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để xử lý vấn đề Bởi vì luận văn có đối tượng nghiên cứu là văn chương nhưng định hướng triển khai liên quan đến nhiều vấn đề về tư tưởng, lịch sử, xã hội, văn hóa, nên sẽ đòi hỏi phải kết hợp nhiều tri thức và điểm nhìn để có thể tiếp cận, nhận diện vấn đề một cách phù hợp và giải quyết thỏa đáng

Các hướng tiếp cận trên sẽ được cụ thể hoá trong một số thao tác như hệ thống hóa, so sánh, phân tích

5 Phạm vi nghiên cứu

5.1 Phạm vi tư liệu

Toàn bộ tác phẩm của Phạm Thái do các nhà nghiên cứu trước đây giới thiệu sẽ được chúng tôi tham khảo, là:

- Phổ Chiêu htiền sư thi văn tập của Sở Cuồng Lê Dư

- Truyện thơ Sơ kính tân trang (bản của Lại Ngọc Cang)

- Tiểu thuyết Tiêu Sơn tráng sĩ (1936) của Khái Hưng Trên thực tế, sau Tiêu Sơn tráng sĩ của Khái Hưng, Phan Khắc Khoan đã dựa theo đó soạn hai vở kịch thơ mang tên Phạm Thái (1942), Quỳnh Như

(1943) Nhưng trong nghiên cứu này, chúng tôi tạm gác lại kịch thơ của Phan Khắc Khoan, vì 2 lý do: 1/Khuôn khổ hạn chế của luận văn bậc cao học, 2/Vở kịch thơ về căn bản dựa theo tiểu thuyết của Khái Hưng

Phạm Thái trong tác phẩm Tiêu Sơn tráng sĩ của Khái Hưng, những sáng tác

thơ văn khác (thể hiện quan niệm tình yêu và lí tưởng chính trị, thể hiện tài năng nghệ thuật) của Phạm Thái - tác giả văn chương - sẽ được sử dụng phụ trợ cho việc tìm hiểu nội dung chính của luận văn

Trang 15

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần MỞ ĐẦU, KẾT LUẬN, và TÀI LIỆU THAM KHẢO, luận

văn có 3 chương chính:

Chương 1 Biến động lịch sử và đời sống văn chương Việt Nam thế kỷ

XVIII với sự xuất hiện của Phạm Thái

Chương 2 Phạm Thái - chân dung tự họa giữa những quy phạm thời trung

đại

Chương 3 Phạm Thái - tráng sĩ trong hư cấu văn chương thời kỳ thuộc

địa

7 Đóng góp của luận văn

- Dựa trên những tư liệu mới, luận văn sẽ cung cấp một tổng thuật tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến luận văn, với những đánh giá riêng

- Thiết lập sự liên kết và chuyển động của tác giả Phạm Thái với nhân vật Phạm Thái từ văn chương trung đại đến hiện đại

- Lý giải các hiện tượng đó từ khuôn khổ của lịch sử, văn hóa của mỗi giai đoạn

Tóm lại, luận văn sẽ là sự kế thừa các nghiên cứu trước đây, liên kết đối tượng quan tâm trong dòng thời gian, đồng thời cố gắng có những lý giải mới

hoặc thảo luận lại một số nhận định do các nhà nghiên cứu đưa ra trước đây

Trang 16

CHƯƠNG 1 BIẾN ĐỘNG LỊCH SỬ VÀ ĐỜI SỐNG VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM

THẾ KỈ XVIII VỚI SỰ XUẤT HIỆN CỦA PHẠM THÁI

1.1 Những biến cố lịch sử Việt Nam thế kỷ XVIII

Bước vào thế kỉ XVIII nội chiến diễn ra trong các thế kỉ XVI, XVII tạm chấm dứt nhưng loạn lạc vẫn xảy ra khắp nơi Ở Đàng Ngoài, quyền lực rơi vào tay chúa Trịnh, vua Lê chỉ là bù nhìn

Trong giai đoạn đầu nắm quyền, các chúa Trịnh có nhiều chính sách phát triển kinh tế, văn hóa xã hội Các khoa thi tuyển chọn nhân tài được tổ chức khá đều đặn đã tạo nên nhiều trường thi, nhiều nhà văn hóa lớn của đất nước thời kỳ này để lại dấu ấn đáng kể như Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú… Song, những vị chúa cuối cùng như Trịnh Cán, Trịnh Tông (Khải), Trịnh Bồng càng ngày càng tham lam về quyền lực khiến bộ máy chính quyền cuối thời Lê - Trịnh vừa chuyên chế lại vừa sâu mọt Các vua Lê thì chỉ biết khoanh tay rũ áo, trong khi các chúa cũng không còn oai phong lẫm liệt như Trịnh Kiểm ngày nào giúp vua khôi phục cơ nghiệp

Sự tồn tại song song cả cung vua và phủ chúa, nhất là sự bất lực của vua

Lê trước chúa Trịnh khiến việc duy trì các thiết chế văn hóa xã hội không còn được như trước, trong đó có đạo đức phong kiến Tính chính thống của quyền lực bị xâm phạm dẫn đến sự đảo lộn tôn ti và kỷ cương, sự lung lay các chuẩn

mực đạo đức Nho giáo như tam cương ngũ thường Từ năm Cảnh Hưng thứ 11

(1750) đời vua Lê Hiển Tông và chúa Trịnh Sâm, ngân khố kiệt quệ, triều đình

thiếu tiền nên có lệ mua quan bán tước Họ Trịnh đặt ra lệ “cứ từ tứ phẩm trở

xuống, ai nộp 600 quan thì được thăng chức một bậc Còn những người chân trắng mà nộp 2800 quan thì được bổ làm tri phủ, 1800 quan thì được bổ tri huyện” [30, tr.55], do đó lúc bấy giờ người đi làm ruộng, đi buôn bán đều được

quyền vào thi Lịch triều hiến chương loại chí có ghi rõ: “người làm ruộng,

người đi buôn cho chí người hàng thịt, người buôn bán vặt cũng đều làm đơn

Trang 17

nộp tiền xin đi thi cả Ngày vào thi đông đến nỗi giày xéo lẫn nhau, có người bị giẫm chết ngay cửa trường thi Trong trường thi, nào mang sách, nào hỏi chữ, nào mượn người thi hộ, công nhiên làm bậy, không còn biết phép thi là gì,

những người có thực tài mười phần không đậu một ” [6, tr.31] Tuy nhiên,

hoàn cảnh tao loạn lại cũng là cơ hội cho tư tưởng vượt khỏi khuôn khổ xã hội nảy sinh Điều đó hết sức có ý nghĩa đối với sự phát triển của văn học

Tình hình kinh tế và chính trị như thế dẫn đến kết quả tất yếu là sự phẫn nộ của quần chúng nhân dân và sự bùng nổ của phong trào nông dân khởi nghĩa Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam, chỉ một thời gian ngắn mà lại diễn ra nhiều phong trào nông dân sôi nổi và rầm rộ như vậy1 Đặc biệt, năm 1771, ở Đàng Trong đã nổ ra một cuộc khởi nghĩa lớn nhất trong lịch sử nước ta, đó là cuộc khởi nghĩa của quân Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo Không những thế, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ Quang Trung, lực lượng này còn buộc quân xâm lược phương Bắc phải rút khỏi lãnh thổ Như vậy, ý nghĩa lớn lao của cuộc khởi nghĩa này không phải ở chỗ nó lan rộng toàn quốc hay đã thực hiện một số yêu cầu bức thiết của nông dân mà ở chỗ phong trào đã thực hiện được nhiều nhiệm vụ dân tộc trọng đại:

- Chấm dứt tình trạng “lưỡng đầu chế” Lê – Trịnh, xoá bỏ ranh giới chia cắt lãnh thổ Trịnh (Đàng Ngoài) - Nguyễn (Đàng Trong)

- Đánh đuổi hai đội quân xâm lược: quân Xiêm ở Đàng Trong và quân Thanh ở Đàng Ngoài, bảo vệ độc lập dân tộc

Trong cuộc khởi nghĩa này nổi lên vai trò của người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ Sau khi lên ngôi, vua Quang Trung đã có nhiều chính sách phát triển kinh tế, công thương nghiệp; chính trị, ngoại giao cũng có nhiều tiến bộ tích cực Đặc biệt về văn hóa, tư tưởng, triều đại Tây Sơn rất có ý thức xây dựng một nền văn hóa mang tinh thần tự chủ Chữ Nôm được khuyến

1 Năm 1737 nhà sư Nguyễn Dương Hưng nổi dậy ở Tam Đảo Năm 1738, Lê Duy Mật đảo chính ở Thăng Long nhưng thất bại, sau đó chạy vào miền núi Thanh Hóa xây dựng lực lượng đối đầu với triều đình Năm 1739, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Ngô Trác Oánh nổi dậy ở Hải Dương Sau khi Nguyễn Cừ thua trận, Nguyễn Hữu Cầu (Quận He) đã lãnh đạo nghĩa quân, lực lượng trải rộng trên địa bàn rộng lớn suốt từ miền đồng bằng Sơn Nam đến tận Tây Bắc, đối địch với triều đình suốt 30 năm liền (1739–1769).

Trang 18

khích phát triển Năm 1791, nhà vua cho thành lập viện Sùng chính, mời La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp làm viện trưởng để dịch các sách chữ Hán ra chữ Nôm Quang Trung cũng có chính sách cầu hiền rộng mở nên trong một thời gian ngắn, đã thu hút được nhiều nhân tài ra giúp triều đại mới như: Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp…

Tuy nhiên, khi vương triều Tây Sơn xuất hiện cũng đặt các sĩ phu Bắc Hà vào một tình huống phải lựa chọn: sẽ phụng sự cho triều đại nào? Bên cạnh những trí sĩ thức thời đi theo nhà Tây Sơn như đã kể trên thì cũng còn nhiều trí sĩ vì tư tưởng trung quân mà chọn con đường bất hợp tác, thậm chí chống đối nhà Tây Sơn như Phạm Thái, Nguyễn Bá Xuyến… Điều đó thể hiện tính chất phức tạp trong tư tưởng và cách ứng xử trước thời cuộc của các nhà nho thời kì này

1.2 Đời sống văn chương Việt Nam thế kỷ XVIII

1.2.1 Sự xuất hiện của những nhân tố ngoài khuôn khổ

Loạn lạc bắt đầu từ thế kỉ XVI kéo dài qua thế kỷ XVII, XVIII đã khiến thiết chế phong kiến lấy Nho giáo làm nền tảng bị lay chuyển Các vua nhà Lê mất vai trò “minh quân”, sự lấn lướt quyền lực và tiếm vị của nhà Mạc, nhà Trịnh… đã khiến nhiều kẻ sĩ và các nhân vật tài năng phân hoá trong lựa chọn xuất - xử, thay vì một kiểu tích cực nhập thế ở thời kì thịnh trị

1.2.1.1 Cái tôi cá thể ở các tác giả nhà nho ẩn dật, tài tử

Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu khi nghiên cứu về vấn đề xuất - xử của các nhà Nho thời trung đại đã chỉ rõ: “Nho giáo vốn là học phái chủ trương con người sống có trách nhiệm với đời, nhập thế cứu thế, thế nhưng … xuất hay xử thì phải có điều kiện… Nếu nước trị, vua biết đến, nếu được tin dùng thì xuất, nếu ngược lại thì xử” [25, tr.81] Như vậy, ẩn dật chính là mặt thứ hai của nhà nho hành đạo Trong thời đại loạn lạc của thế kỉ XVIII, nhiều nhà nho đã lựa chọn con đường ẩn dật, lánh đời Đó là những con người chán ghét chốn quan trường nhiều thị phi nên tìm về nơi thôn dã hoặc vùng núi non, sống cùng thiên nhiên, di dưỡng tinh thần Ở thế kỉ XVI, Nguyễn Dữ chính là hình mẫu tiêu biểu cho loại hình nhà nho ẩn dật Sau khi đậu Hương tiến (tức Cử nhân), ông làm

Trang 19

quan với nhà Mạc, rồi về với nhà Lê làm Tri huyện Thanh Tuyền (nay là Bình Xuyên, Vĩnh Phú); nhưng mới được một năm, vì bất mãn với thời cuộc, lấy cớ

nuôi mẹ, xin về ở núi rừng Thanh Hóa Từ đó trải mấy năm dư, chân không

bước đến thị thành rồi mất tại Thanh Hóa Sang thế kỉ XVIII, có các tác giả:

Nguyễn Huy Vinh (1770-1818), Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác 1791); La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp (1723-1804)… Khác với các nhà nho hành đạo, các nhà nho ẩn dật không đề cao khát vọng lập công danh Với họ tránh xa chốn quan trường, coi thường danh lợi là một cách thể hiện thái độ với thời thế Nguyễn Huy Vinh sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học, văn học, đỗ đạt kể cả bên nội lẫn bên ngoại (cha ông là chí sĩ Nguyễn Huy Tự) Ông thừa hưởng được những tố chất văn chương của hai dòng họ nổi tiếng, nhưng hoàn cảnh lịch sử không tạo điều kiện cho ông tiến thân trên con đường khoa bảng Nguyễn Huy Vinh chưa một lần tham gia chốn quan trường Năm Kỷ Tỵ (1809) ông chuyển lên vùng núi Chung Sơn (Nam Đàn, Nghệ An) để dựng nhà dạy học, sống cuộc đời thanh cao của một nhà giáo mẫu mực, nhiệt thành Nguyễn Thiếp dù có tài năng văn chương và quân sự hơn người, được vua Quang Trung nhiều lần cho mời ra làm quan nhưng ông đều từ chối Đến năm 1971, nhà vua lập điện Sùng Chính, mời ông ra làm viện trưởng, ông mới nhận lời Lê Hữu Trác thì tự nhận mình là Hải Thượng Lãn Ông (Ông già lười trên bến Thượng Hồng) với ngụ ý coi thường danh lợi, suốt đời chuyên tâm với nghề y, bốc thuốc, chữa bệnh cho dân

(1720-Bên cạnh các nhà nho ẩn dật, thời kì này cũng xuất hiện nhiều nhà nho tài

tử Nhà nho tài tử vẫn là nhà nho kể từ nguồn gốc xuất thân, học vấn và nhân sinh quan, thế giới quan Tuy nhiên họ là những người luôn có ý thức về tài năng cá nhân và không chịu ép mình trong khuôn khổ chật hẹp của lễ giáo phong kiến Chính điều kiện kinh tế, lịch sử của xã hội Việt Nam giai đoạn này đã là tiền để loại hình nhà nho tài tử xuất hiện và phát triển mạnh mẽ “Tư tưởng thị dân đòi hưởng lạc, đòi hỏi hạnh phúc, chống lại thói an bần lạc đạo xuất hiện,

và trở thành xu thế chính Các tài tử ra đời để thay thế các quân tử, các trượng

phu, là những người độc chiếm văn đàn trước đây” [41, tr.45] Sau khi bàn sâu

Trang 20

về kiểu nhà nho này, nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu đúc kết: “Nhà nho tài tử khác với nhà nho chính thống là người cẩn trọng tu thân, giữ lễ, an bần lạc đạo… Nhà nho tài tử đề cao tài và tình - chứ không phải đức và tính - sống thị tài và đa tình, say mê nghệ thuật, cuộc sống phóng khoáng, mong ước lập sự nghiệp hơn đời và cuộc gặp gỡ đẹp đẽ trai tài gái sắc Họ bắt đầu ý thức về cá nhân, hạnh phúc cá nhân, bất mãn với số mệnh không cưng chiều người tài sắc, không quý trọng tài tình Nhưng họ cũng không chống thể chế chuyên chế về mặt chính trị và Nho giáo về mặt ý thức hệ” [26, tr.175]

Từ nhận định trên đây, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương trong công trình

Loại hình học tác gia văn học: Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam đã có một

thống kê cụ thể về kiểu nhà nho này trong văn chương, bao gồm: Nguyễn Hữu Chỉnh (1741–1787), Đặng Trần Thường (1759–1816), Nguyễn Du (1765–1820), Phạm Quý Thích (1760–1825), Phạm Thái (1777–1813)… Trần Ngọc Vương

cũng cho rằng đặc điểm chung của các nhà nho tài tử này là: thị tài (đề cao tài năng của mình), liên tài (biết đến và cảm thông với tài năng của người khác), đa

tình (đề cao chuyện tình cảm, đặc biệt là tình yêu nam nữ, những tình cảm yêu

đương ngoài khuôn khổ lễ giáo và cảm thông với nỗi khổ về thể xác và tinh thần của người khác) Trong đó, gương mặt tiêu biểu nhất chính là Phạm Thái

1.2.1.2 Các nhân vật nổi loạn, ngoài vòng cương tỏa

Nho giáo chủ trương khuyến khích con người nhập thế, cống hiến tài năng cho xã tắc nên hình tượng nhân vật thường thấy trong các sáng tác của các nhà

nho là những con người có chí lớn, có khát vọng công danh Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão, Cảm hoài của Đặng Dung, các sáng tác của Nguyễn Trãi… là

những tác phẩm rất tiêu biểu cho đặc điểm này

Tuy nhiên, từ thế kỷ XVIII trở đi, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân không ngừng nổ ra khắp nơi trong nước, lôi cuốn hàng vạn người Hình ảnh về những người anh hùng nông dân và những cao trào ấy đã được ghi nhận trong nhiều sáng tác dân gian hoặc khuyết danh Nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân rất nổi tiếng như Quận He, Hoàng Công Chất có thể ước đoán đã từng là đề tài của nhiều bài vè, truyền thuyết, truyện cổ tích

Trang 21

Tiêu biểu như câu chuyện về chàng Lía đã trở thành đề tài cho nhiều sáng

tác dân gian như: truyện cổ tích Chàng Lía, vè Chàng Lía, ca dao về chàng

Lía… được lưu hành rộng rãi ở miền Trung và miền Nam Trung Bộ

Ai vào Bình Định mà nghe Nghe thơ chàng Lía, vè về Quảng Nam

Chiều chiều én liệng Truông Mây, Cảm thương chú Lía bị vây trong thành

Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu ở Hải Dương (1739 - 1769) cũng

được dân gian ghi lại bằng câu chuyện cổ tích Quận He Nguyễn Hữu Cầu Phong trào Tây Sơn, có bài vè Bà Thiếu Phó kể chuyện bà Bùi Thị Xuân…

Nếu trong các sáng tác dân gian có mô hình các anh hùng, thủ lĩnh khởi

nghĩa thì trong văn học viết giai đoạn này xuất hiện nhiều nhân vật sống ngoài

vòng cương tỏa Từ thế kỉ XVI, trong Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ đã thể hiện

quan niệm “lánh đục về trong” qua nhân vật người tiều phu trong truyện Người

tiều phu núi Nưa Người tiều phu đã thể hiện rất rõ quan niệm sống của mình

qua bài thơ Thích ngủ và Thích cờ đề trên vách am Thích ngủ, nghĩa là muốn

yên ổn, thư thái tâm hồn, thích hợp với bản tính tự nhiên Thích cờ vì thế sự chẳng khác chi cuộc cờ, biến hóa khôn lường như mây với gió Đến thế kỉ

XVIII, trong tác phẩm Thượng kinh kí sự, lí tưởng mà Lê Hữu Trác hướng đến

là cuộc sống an nhàn, tránh xa danh lợi phù hoa Khi nhận được thánh chỉ vào cung chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán, lòng ông dằng dặc tâm sự: “Nơi tôi ở hiện nay là núi non hẻo lánh, nhưng đã từng quen thuộc mây non trăng biển, một vị u nhàn, nỗi niềm vấn vương, quyến luyến không sao rời bỏ đi được Chuyến này

ra đi thì chẳng biết bao giờ mới được trở lại chốn xưa, để chiều chiều lại được rong chơi cùng hươu nai, trò chuyện cùng bạn bè quăng chài, kiếm củi” [65, tr.21] Khi được Quận Huy khen về y thuật trước mặt chúa thì “lông tóc bỗng dựng ngược lên, ngầm kêu khổ một mình rằng: Kiểu này thì mình đúng vào cái

cảnh bị dầu mỡ ngấm sâu vào bột bánh rồi, không còn lối nào thoát nữa” [65,

tr.168] Đến khi có cơ hội trở về núi thì ông mau chóng lên đường, lòng vui

Trang 22

khấp khởi vì lại được “về núi” Tiêu biểu nhất cho khuynh hướng này phải kể đến bài Chim trong lồng của Nguyễn Hữu Cầu:

Mặc ai Đông ngữ Tây đàm Chờ khi phong tiện dứt giàm vân lung Bay thẳng cánh muôn trùng Tiêu Hán Phá vòng vây làm bạn với kim ô Giang sơn khách diệc tri hồ!

Tương truyền bài thơ được làm trước khi Nguyễn Hữu Cầu bị hành hình Có thể coi đây như một bản tổng kết những hoạt động của tác giả đồng thời cũng là tuyên ngôn về hành động, khao khát tạo dựng một sự nghiệp riêng,

không chịu cảnh sống cá chậu chim lồng Lời thơ bay bổng, cảm hứng thơ hào

hùng cho thấy chí khí ngút trời của người anh hùng thời loạn

Bên cạnh bài Chim trong lồng của Nguyễn Hữu Cầu, bài phú nổi tiếng

Trương Lưu hầu của Nguyễn Hữu Chỉnh cũng đã tái hiện hình tượng người anh

hùng Trương Lương sau khi giúp Hán Cao Tổ giành được giang sơn, dù có công lớn nhưng đã nhanh chóng rút lui khỏi sự ràng buộc của triều đình, trở thành một ẩn sĩ, không hề luyến tiếc

1.2.2 Dòng văn chương “chủ tình”, thể hiện tinh thần nhân đạo chủ nghĩa

Nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá về văn học Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX đều thống nhất cho rằng đây là giai đoạn phát triển rực

rỡ và đạt được nhiều thành tựu đỉnh cao nhất trong văn học trung đại Nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc khẳng định: “Giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX trong văn học Việt Nam, chủ nghĩa nhân đạo xuất hiện không phải như một yếu tố hay tính chất mà như một trào lưu” [35, tr.57], còn nhà nghiên

cứu Trần Nho Thìn thì định danh đó là “trào lưu chủ tình”, tức là nhấn mạnh

hơn vào tính chất đề cao cảm xúc, tình cảm một cách có ý thức, có cơ sở triết học của văn học giai đoạn này Quả vậy, việc đề cao con người với những tình yêu tự do và khát vọng hạnh phúc là một đặc điểm nổi bật, mang đến một chuyển biến cơ bản cho lịch sử văn học dân tộc

Trang 23

1.2.2.1 Thể hiện thái độ cảm thông, xót thương những bất hạnh của nhân sinh

Thực ra thái độ cảm thông, thương xót với những số phận bất hạnh, bị đọa đày không phải đến thời kì này mới xuất hiện trong văn học mà nó đã trở thành

một nội dung lớn, xuyên suốt từ văn học dân gian đến văn học viết Truyền kì

mạn lục của Nguyễn Dữ có thể coi là một trong những tác phẩm mở đầu của văn

học trung đại về nỗi bất hạnh của người phụ nữ như một kiểu thân phận Tuy nhiên, khuynh hướng của Nguyễn Dữ là khẳng định những chuẩn mực đạo đức của Nho giáo hơn là sự chia sẻ

Đến thế kỉ XVIII, sự bất hạnh của người phụ nữ được hàng loạt nhà văn, nhà thơ phản ánh trong sáng tác Vì là những người có thân phận nhỏ bé, nên đây là những người chịu nhiều thiệt thòi, áp bức bất công nhất trong xã hội Các

tác phẩm lớn như: Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), Cung oán ngâm (Nguyễn Gia Thiều)… đều thể hiện thái độ cảm

thông, thương xót trước nỗi đau khổ, bất hạnh của người phụ nữ

Truyền kì tân phả của Đoàn Thị Điểm xây dựng từ những nhân vật có thật

trong lịch sử hoặc theo truyền thuyết dân gian, hầu hết các nhân vật đều là nữ

Tiêu biểu nhất trong tập truyện này phải kể đến Hải khẩu linh từ Truyện kể về

tấn bi kịch của một nàng cung phi đời vua Trần Duệ Tông tên là Nguyễn Cơ, tự Bích Châu Với tài hư cấu nghệ thuật của mình, tác giả đã khéo léo dẫn dắt và nâng cao tính cách nhân vật lên, làm cho câu chuyện có sức truyền cảm sâu sắc Cái chết tự nguyện của nàng Bích Châu là kết quả của một sự suy nghĩ lâu dài về vận mệnh đất nước, dân tộc; và hình tượng của nàng còn có ý nghĩa tố cáo cuộc chiến tranh phi nghĩa Đây được coi là một tác phẩm văn xuôi báo hiệu bước mở đầu của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học Việt Nam ở thế kỷ XVIII

Trong Chinh phụ ngâm, Đặng Trần Côn gửi gắm tâm sự về thời cuộc qua

hình tượng người vợ trẻ ôm nỗi sầu muộn chờ chồng đi chinh chiến trở về, chịu thiệt thòi vì tuổi xuân đang dần trôi qua, qua đó mà tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã làm tan vỡ hạnh phúc của tuổi trẻ, để đôi lứa phải chia lìa

Trang 24

Kìa loài sâu hai đầu cùng sánh Nọ loài chim liền cánh cùng bay Liễu sen là thứ cỏ cây

Đôi hoa cùng sánh đôi dây cùng liền

Ấy loài vật tình duyên còn thế Sao kiếp người nỡ để đấy, đây

Nguyễn Gia Thiều qua Cung oán ngâm lại xót xa trước tình cảnh người

cung nữ bị ghẻ lạnh, phải chôn vùi tuổi xuân nơi lãnh cung lạnh lẽo Cũng có

hẳn một thi tập về chủ đề này, Cung oán thi nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh để lại những cảm xúc chân thành hơn qua tiếng khóc chị: Thương thay chị, mới hai

mươi chín tuổi, cũng là kiếp hoá sinh Gửi mình vào tài tử mười ba năm, đã dốc một lời nguyền, song cay đắng có nhau, mà vinh hiển bao giờ chưa được thấy Rơi máu ở nơi nhân gian năm bảy bận, chỉn còn hai chút gái, và sữa măng dường ấy, dù trưởng thành ngày khác cũng rằng không Và nếu công chúa Ngọc

Hân có nỗi đau xa xót khi mất chồng qua Ai tư vãn thì Ngô Thì Sĩ lại thành thi nhân đầu tiên thời trung đại có cả một thi tập khóc vợ, Khuê ai lục, với những

tình cảm yêu thương chân thành hiếm thấy giữa các ước thúc của thi pháp thời

trung đại Sau Ngô Thì Sĩ, có thêm Phạm Nguyễn Du (viết Đoạn trường lục),

Phan Huy Ích và một số tác gia thuộc dòng Ngô gia không ngần ngại bày tỏ tình cảm gắn bó, luyến nhớ vợ hết sức chân thực Những ví dụ trên cho thấy, tình cảm tự nhiên trong đời sống con người đã trở thành một chủ đề quan trọng của nhiều tác giả lớn của thế kỷ XVIII, đem lại cho văn học thời kỳ này một đường nét mới mẻ Xu hướng này sẽ còn tiếp tục và được đẩy lên cao hơn ở thế kỷ

XIX, với Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh… của Nguyễn Du, tiếng nói

bi phẫn về thân phận nhỏ bé, bị đối xử bất công của người phụ nữ qua thơ Hồ

Xuân Hương…

1.2.2.2 Khẳng định và đề cao xúc cảm tự nhiên, cuộc sống trần thế

Lấy con người làm trung tâm để phản ánh, các nhà văn, nhà thơ của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII không chỉ cảm thông với những bất hạnh của con người mà đề cao những cảm xúc tự nhiên và

Trang 25

cuộc sống trần tục của con người Trong văn học những giai đoạn trước, dưới sự chi phối của tư tưởng Nho giáo vốn đề cao bổn phận của con người nên những cảm xúc tự nhiên của con người ít khi được đề cập đến Tuy nhiên, đến giai đoạn này, với những biến động lịch sử - xã hội như đã trình bày ở trên làm cho những tư tưởng đạo đức Nho giáo bị lung lay, văn học cất lên tiếng nói đề cao

con người với tinh thần nhân bản sâu sắc

Nội dung bao trùm trong sáng tác của các nhà văn, nhà thơ thuộc trào lưu nhân đạo chủ nghĩa là đấu tranh cho những khát vọng của con người Trước hết đó là khát vọng giải phóng tình cảm, tự do yêu đương Đây là chủ đề chính của

nhiều truyện thơ Nôm như Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự, Sơ kính tân trang của

Phạm Thái… Trong xã hội phong kiến, tình yêu và hôn nhân phải dựa trên nhiều

lễ giáo khắt khe như: phải môn đăng hộ đối, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy nhưng

các nhân vật nữ như Dao Tiên, Quỳnh Thư trong các sáng tác trên đều có khát vọng tình yêu mãnh liệt và dám vượt qua nhiều trở ngại để đến với người yêu, sẵn sàng dùng cái chết khi tình yêu của mình không thành

Các khúc ngâm như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Ai tư vãn lại đề

cao khát vọng về hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc gia đình, khát vọng ái ân Tính nhân văn được biểu hiện sâu sắc ở chỗ các nhà thơ đã ý thức được tuổi thanh xuân của con người rất hữu hạn, hạnh phúc là ngay ở trần gian này chứ không

cần đợi đến kiếp sau Nàng chinh phụ trong Chinh phụ ngâm ban đầu mong

chồng đi chiến trận để kiếm tước phong hầu nhưng rồi thời gian chia cách chồng, phải sống trong cảnh cô đơn vò võ nàng dần nhận ra vinh hoa phú quý chỉ là phù phiếm, hạnh phúc lớn nhất là được ở cạnh chồng, được hưởng niềm lạc thú của cuộc sống trần tục Vì thế, xuyên suốt cả khúc ngâm là nỗi lòng

mong ngóng chồng của người vợ trẻ Trong Cung oán ngâm người cung nữ

muốn vùng dậy để thoát khỏi cảnh sống mòn mỏi vô vọng của mình:

Dang tay muốn dứt tơ hồng Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra

Rõ ràng tinh thần hướng tới cuộc sống trần tục, khích lệ con người hãy biết hưởng thụ niềm hạnh phúc thực sự của đời sống gia đình, của tình yêu lứa

Trang 26

đôi, tinh thần chống lại những giáo điều cứng nhắc của chủ nghĩa khổ hạnh mang màu sắc tôn giáo của Nho giáo và các phong tục tập quán trói buộc con người,… là một trong những nội dung quan trọng của văn học giai đoạn này

Bài Văn tế chị của Nguyễn Hữu Chỉnh lại thể hiện một tình cảm rất chân

thành, tha thiết với người chị gái của mình Chị ông lấy Phạm Nguyễn Du (tức Phạm Huy Khiêm), đỗ Hoàng giáp năm 1779, cùng khoa với Phạm Quý Thích, vào cuối đời Hậu Lê Bà theo chồng và chết nơi quê người, sau rước linh cữu về quê Cảm thương trước cuộc đời ngắn ngủi của chị mình, Nguyễn Hữu Chỉnh đã viết nên một áng văn đẫm nước mắt về tình chị em Đây vốn là một đề tài chưa được nhắc đến trong văn học giai đoạn trước đây Bài văn tế được viết theo dòng cảm xúc tự nhiên Ông không ngại ngần bộc bạch nỗi đau mất chị, sự chia cách vĩnh viễn tình chị em; ông khóc cho sự bât shạnh đona rmệnh của người chị mà cũng khóc cho sự cô lẻ của chính mình: “ Ôi! tạo vật làm sao, con người mà đến điều đau đớn thế! Bên trời góc bể, thân cố có ai, đất khách quê người, bui một

chị một em, đã hình đơn bóng chếch”

Như nhiều nghiên cứu đã đúc kết, có một hiện tượng đặc biệt trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XVIII là xuất hiện rất nhiều tiếng khóc: Nguyễn Kiều (1694-1771) có bài văn tế khóc vợ bằng chữ Hán, lời lẽ rất thống thiết

Ngô Thì Sĩ (1726-1780) có tập Khuê ai lục khóc người vợ thứ chứa chan tình cảm Phạm Nguyễn Du (1739-1786) có Đoạn trường lục khóc người vợ chết lúc

29 tuổi, Ai tư vãn là tiếng khóc chồng của Ngọc Hân (1770-1799), và Phạm Thái (1777-1813) khóc mối tình dang dở trong Văn tế Trương Quỳnh Như Sự

xuất hiện của rất nhiều các tác phẩm văn tế như trên cho chúng ta thấy một điều: thời đại ấy, xã hội ấy tồn tại quá nhiều nỗi đau thương, mất mát cho con người và văn học đã không còn né tránh những tình cảm tự nhiên ấy như các giai đoạn trước nữa

Có thể nói, sự xuất hiện của dòng văn chương “chủ tình” là một đặc điểm mới mẻ trong văn học nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX Trong các giai đoạn văn học trước, do đề cao tư tưởng đạo đức Nho giáo nên các tác giả

thường chú trọng tới tính chất nói chí, tải đạo của văn học, những vấn đề cá

Trang 27

nhân của con người rất ít khi được đề cập đến Sự xuất hiện hàng loạt các tác phẩm văn học có nội dung đề cao quyền sống của con người, đấu tranh cho tình yêu tự do… ở thế kỉ XVIII đã cho thấy một quan niệm nghệ thuật về con người khác hẳn các giai đoạn trước đó Lần đầu tiên trong văn học, con người được quan tâm miêu tả với những cảm xúc tự nhiên và cuộc sống thế tục

1.2.3 Sự lên ngôi của các sáng tác bằng chữ Nôm và các thể loại văn học dân tộc

Đến thế kỉ XVIII, chữ Nôm được sử dụng nhiều hơn trước Có lẽ đó là một trong những tiền đề để văn học chữ Nôm phát triển mạnh mẽ Các tác giả thời kì trước không phải không dùng chữ Nôm để sáng tác tuy nhiên dù đã có ý thức sử dụng văn tự riêng của dân tộc nhưng các tác giả vẫn phải mượn các thể loại của văn học Trung Quốc: thơ Nôm Đường luật, phú chữ Nôm Đến thế kỉ XVIII chữ Nôm được các tác giả dùng để sáng tác các thể loại văn học dân tộc như: ngâm khúc, truyện thơ Nôm và hát nói Đây là ba thể loại có mối quan hệ gắn bó với văn hóa, văn học dân gian Ngâm khúc sử dụng thể thơ song thất lục bát, truyện thơ chủ yếu sử dụng thể lục bát, và đây đều là các thể thơ có nguồn gốc dân tộc Bên cạnh đó, nếu các tác phẩm văn học viết bằng chữ Nôm giai đoạn trước

vẫn chưa thoát ra được chủ đề nói chí, tải đạo thì văn học chữ Nôm từ thế kỉ

XVIII đã cất lên tiếng nói về tình yêu lứa đôi tự do, về nỗi xót xa trước cuộc sống bất hạnh của con người… Nghĩa là, văn học chữ Nôm đã dần dần thoát khỏi những chủ đề khô cứng, nặng nề để gần gũi với cuộc sống của con người hơn

1.2.3.1 Truyện thơ Nôm

Lục bát là thể thơ dân gian, có thế mạnh trong việc thể hiện đời sống tình cảm của con người, đồng thời cũng có thể phản ánh những sự kiện lịch sử hoành tráng, có thể kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và trữ tình; thậm chí, lục bát còn là hình thức “gắn chặt với xu hướng “diễn Nôm”, diễn ca”, tức là có khả năng mở rộng giới hạn ra cả ngoài văn học” [1] Sự xuất hiện của truyện thơ Nôm cho thấy sau nhiều thế kỷ viết theo các hình thức của văn chương Trung Hoa, kỹ năng viết của các tác giả Việt đã trưởng thành, bao gồm cả kỹ năng kể chuyện

Trang 28

bằng văn xuôi chữ Hán (truyện truyền kỳ), đến lúc này người viết muốn tìm tòi một hình thức kể chuyện khác, có thể xoá đi sự cách biệt giữa văn tự và nội dung truyền tải Nói khác đi, nhu cầu kể chuyện của người Việt bằng tiếng Việt đã dẫn đến những thể nghiệm diễn ca hay kể các tích truyện bằng thơ lục bát và ký tự bằng chữ Nôm

Như nhiều nghiên cứu đã tổng kết, trong kho tàng truyện thơ Nôm, bên

cạnh những truyện thơ Nôm bác học có thể xác định được tác giả như: Hoa tiên (Nguyễn Huy Tự), Sơ kính tân trang (Phạm Thái), Truyện Kiều (Nguyễn Du),

… còn rất nhiều các truyện thơ khuyết danh khác như: Phan Trần, Nhị độ mai,

Tống Trân – Cúc Hoa, Bích câu kì ngộ… Truyện thơ Nôm nói chung có nội

dung khá phong phú, song có hai nội dung nổi bật, là: khát vọng bảo vệ quyền sống, nhân phẩm con người, đồng thời cũng là khát vọng bảo vệ công lý; khẳng

định khát vọng tình yêu lứa đôi tự do của tuổi trẻ Đây chính là nội dung gắn

liền với loại tác giả nhà nho tài tử

Về cốt truyện, truyện thơ Nôm có thể dùng các tích truyện dân gian như

Trương Chi, Tấm Cám, Thạch Sanh, Tống Trân - Cúc Hoa… Nguồn thứ hai là

lấy cốt truyện của văn học Trung Quốc mà tiêu biểu là kiệt tác Truyện Kiều Trường hợp Sơ kính tân trang của Phạm Thái là một hiện tượng đặc biệt khi cốt

truyện được nhà thơ lấy từ chính cuộc tình của mình

Nhìn chung, sự xuất hiện của truyện thơ Nôm đã mang đến một diện mạo mới cho nền văn học dân tộc, mở ra một con đường “có ý nghĩa lớn trong đời sống tinh thần của xã hội phong kiến nước ta lúc đó” [26, tr.177]

1.2.3.2 Ngâm khúc

Lê Bán Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi cho rằng: ngâm khúc

là “Thể thơ trữ tình dài hơi, thường được làm theo thể song thất lục bát để ngâm

nga, than vãn nhằm bộc lộ những tâm trạng, tình cảm buồn phiền đau xót triền miên day dứt Vì thế ngâm khúc còn được gọi là khúc, vãn hay thán Trong văn học Việt Nam, ngâm khúc giữ một vị trí quan trọng và đặc biệt phát triển từ giữa thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX [dẫn theo 61] Như vậy, chức năng của

Trang 29

ngâm khúc nhằm bộc lộ những tâm trạng, tình cảm buồn phiền đau xót triền miên day dứt trong đời sống tình cảm con người

Phần lớn các khúc ngâm đều được làm theo thể thơ song thất lục bát Nếu như lục bát có khả năng lợi dụng cấu trúc vần nhịp để kéo dãn bài thơ đến vô cùng nhằm thích ứng với việc kể chuyện, thì song thất lục bát lại khai thác ưu thế của mình về các yếu tố vần, điệu, nhịp cũng như tổ hợp các dòng để thể hiện nội dung của khúc ngâm Về điểm này nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra khá cụ

thể Đặng Thai Mai qua việc phân tích một cách toàn diện tác phẩm Chinh phụ

ngâm đã quả quyết rằng “lối song thất lục bát có những khả năng quý báu để mô

tả đời sống nội tâm” [dẫn theo 61]; Phạm Thế Ngũ cũng rất tâm đắc về giá trị của mỗi thể thơ trong vai trò chức năng của chúng: “thể ngâm (tức thể song thất lục bát) rất thích hợp để diễn tả những tình cảm ảo não triền miên, nhịp nhàng quấn quýt, … Gọi song thất lục bát là thể ngâm, ấy là nói lên khả năng dồi dào nhạc chất của thể đó, thích hợp với công dụng ngâm vịnh” [45,tr.188] Trong khi đi tìm cái dân tộc và cái cổ điển làm cơ sở để phân kỳ lịch sử văn học dân tộc, Trần Đình Hượu đã cho rằng “người dịch “Chinh phụ ngâm” và người viết “Cung oán ngâm” đã phát hiện ra một cách diễn tả những nỗi đau xót thầm kín, những nỗi buồn triền miên, thành công của họ là tấm gương cho nhiều người dùng thể song thất lục bát hoặc để nói nỗi lòng mình… hoặc để nói nỗi lòng nhân vật” [dẫn theo 61]

Về phương diện biểu hiện tình cảm: nếu thơ Đường luật diễn tả một khoảnh khắc của tâm trạng, một cảm xúc trước cảnh vật, một nỗi buồn thoáng qua thì ngâm khúc lại diễn tả một quá trình tâm trạng phong phú, phức tạp

nhưng nói chung là “ngưng đọng lại trên một khối sầu” Con người trong ngâm

khúc vì thế cũng khác với con người trong truyện Nôm và thơ trữ tình, đó là con người với nỗi niềm hồi tưởng mong nhớ, sầu muộn, suy tư, ai oán, xót thương,

bi phẫn cho số phận, tài năng của mình Trong bối cảnh xã hội thế kỉ XVIII, ngâm khúc thường diễn tả con người buồn đau, cô độc, vỡ mộng trước hoàn cảnh

1.2.3.3 Hát nói

Trang 30

Hát nói là một thể thơ trữ tình có dung lượng lớn và cách luật cởi mở, câu dài câu ngắn, có câu dài tới 12, 13 chữ, giọng điệu phóng túng tùy theo hứng thú của người sáng tác Nội dung của hát nói có thể nhằm diễn tả khát vọng của

kẻ làm trai, chí nam nhi nhưng thường để diễn đạt những tình cảm phóng khoáng ngoài khuôn khổ, nói chuyện chơi bời hưởng lạc [58, tr.40] Như vậy,

hát nói là một thể thơ không cố định số chữ trong câu, số câu trong bài – tức là một hình thức thơ mở, lại được diễn xướng kèm nhạc, nên có khả năng dùng trong sinh hoạt nghi lễ (nghi lễ thờ cúng, nghi lễ giáng bút…), hoặc để giải trí (ở dinh thự, ca quán,…), nghĩa là hát nói mang những khả năng biểu cảm đa dạng Chính những đặc tính này đã khiến cho hát nói rất hợp với kiểu tác giả nhà nho tài tử Qua các tác phẩm hát nói người đọc nhận ra một nội dung rất mới mẻ của văn học giai đoạn này đó là xu hướng thoát ly khỏi dòng văn học chính thống,

đề cao lạc thú Ngoài bài hát nói nổi tiếng Chim trong lồng tương truyền của

Nguyễn Hữu Cầu, ở giai đoạn này còn có một số tác phẩm của Nguyễn Bá Xuyến (1759-1823) với nội dung bắt đầu nói đến tài, tình, sắc, đã có nét ngông nghênh, tài tử Nguyễn Bá Xuyến có khoảng 23 bài mà ông gọi là “ca”, không thật chặt chẽ về nguyên tắc vận luật, lượng câu chữ tự do nên có thể xem đây là

“thể hát nói nhưng chưa thuần thục”, và “hầu hết các bài ca đều thể hiện tinh thần phóng nhiệm hào sảng” [55, tr.34] Đây là những tiền đề để sang thế kỉ XIX, thể loại này đạt tới đỉnh cao với tên tuổi của Cao Bá Quát và Nguyễn Công Trứ

Khi đánh giá ý nghĩa của truyện thơ Nôm tài tử (qua trường hợp truyện

Hoa tiên), nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu cho rằng “Một thể loại mới ra đời

thường do một nhu cầu nói một nội dung mới và đồng thời cũng thả rộng tự do cho người viết trước sức ràng buộc của truyền thống” [26, tr.163] Thế kỷ XVIII lại là thời điểm xuất hiện đồng thời bộ ba thể loại - truyện thơ Nôm, ngâm khúc, hát nói – tạo nên tính dân tộc đặc sắc nhất của văn chương Việt Nam - điều đó càng chứng tỏ đây là thời điểm hội tụ nhiều đòi hỏi, đặt ra nhiều vấn đề và cũng là thời điểm xuất hiện nhiều tài năng giải quyết những đòi hỏi đó Bên cạnh đó, sự xuất hiện đồng thời cả ba hình thức mới mẻ này cũng cho thấy đây là thời

Trang 31

điểm mở đầu cho hàng loạt những sáng tạo lớn của văn chương dân tộc ở thế kỷ tiếp sau

1.3 Tiểu sử Phạm Thái

Như phần lịch sử vấn đề đã trình bày, khi tìm hiểu về tiểu sử Phạm Thái,

chúng tôi nhận thấy trong Từ điển văn học (bộ mới), các bộ lịch sử văn học, các

bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành… đều có viết về Phạm Thái trong đó nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc có lẽ là người đã trình bày một cách đầy đủ nhất về tiểu sử, cuộc đời Phạm Thái Dựa vào các nguồn tài liệu đã sưu tầm được, nhất

là phần viết về Sơ kính tân trang trong Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII

– nửa đầu thế kỉ XIX của Nguyễn Lộc ta có thể phác họa về tiểu sử, cuộc đời

Phạm Thái như sau:

- Phạm Thái còn gọi là Phạm Phụng, hay Phạm Đan Phượng, hiệu là Chiêu Lỳ, sinh ngày 19 tháng 9 năm Đinh Dậu, tức ngày 19 tháng 10 năm 1777 Quê quán: thôn Yên thị, xã Yên Thường, tổng Xuân Dục, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)

- Hoàn cảnh xuất thân: trong một gia đình quan lại dưới thời Lê Cảnh Hưng, cha là võ tướng Thạch Trung hầu Phạm Đạt Phạm Thái mồ côi mẹ từ năm lên 4 tuổi

- Cuộc đời: Khi triều đại Tây Sơn được thành lập, cha Phạm Thái từng khởi binh chống lại nhưng không thành rồi mất (năm 1796) Phạm Thái nối chí cha, quyết tâm chống Tây Sơn Ông tìm đến Nguyễn Đoàn lúc ấy đang tụ binh chống Tây Sơn, dâng bài “Quân yếu” nhưng không được dùng Sau đó Nguyễn Đoàn cũng thất bại và bị giết Phạm Thái bị truy nã gắt gao, phải ẩn náu nhiều nơi, giả dạng đi tu, lấy đạo hiệu là Phổ Chiêu thiền sư, kết giao với một nhà sư trụ trì ở chùa Tiêu Sơn – Hà Bắc

Bấy giờ có một người bạn của Phạm Thái là Thanh Xuyên hầu Trương Đăng Thụ ra làm quan cho Tây Sơn, giữ chức trấn thủ Lạng Sơn đang có âm mưu khôi phục nhà Lê Trương Đăng Thụ viết thư mời Phạm Thái lên Lạng Sơn tham gia với mình Công việc chưa kịp tiến hành thì Trương Đăng Thụ đột ngột qua đời Gia đình đưa thi hài về an táng tại quê nhà thuộc làng Thanh Nê, huyện

Trang 32

Chân Định, phủ Kiến Xương, trấn Sơn Nam (nay là làng Thanh Nê, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình) Phạm Thái trên đường về quê nghe tin bạn mất, vội vàng đến Thanh Nê viếng bạn Cha Trương Đăng Thụ là Kiến Xuyên hầu Trương Đăng Quỹ thấy Phạm Thái là một thanh niên tài hoa, tuấn tú, ông rất mến, liền lưu Phạm Thái ở lại nhà mình

Trong thời gian ở lại nhà Kiến Xuyên hầu, Phạm Thái gặp và yêu Trương Quỳnh Như, em gái của Trương Đăng Thụ Quỳnh Như là mộ cô gái có nhan sắc, giỏi thơ văn, đã yêu Phạm Thái bằng một tình yêu say đắm Nhiều lần Quỳnh Như làm thơ xướng họa với Phạm Thái, hiện còn mười hai bài Quỳnh Như làm về tình yêu và nỗi nhớ của nàng với Phạm Thái trong mười hai giờ của một ngày Chính mối tình này là nguồn cảm hứng cho rất nhiều thơ văn của

Phạm Thái, đặc biệt là Sơ kính tân trang

Về sau, tình yêu không thành, Quỳnh Như bị ép lấy người khác, nàng không chịu đã tự vẫn Sau cái chết của người yêu, Phạm Thái chán nản chìm vào men rượu, lang bạt khắp nơi

Năm 1802, sau khi chiếm lại toàn bộ Bắc Hà, Nguyễn Ánh lên ngôi, lập ra triều đại mới Giấc mộng phù Lê của Phạm Thái thế là tan thành mây khói Sự nghiệp, tình yêu, tất cả đều tan vỡ Đau buồn đến thành tuyệt vọng, Phạm Thái sống lang thang như một kẻ điên dại, suốt ngày uống rượu và làm những vần thơ ngông nghênh đượm buồn

Năm 1813 ông mất ở Thanh Hóa, mới ba mươi sáu tuổi, kết thúc cuộc đời của một con người tài hoa nhưng đầy bi kịch

Thống nhất về các chi tiết tiểu sử như trên nhưng hầu như tất cả các công trình nghiên cứu đều không đưa ra những cứ liệu minh chứng cho những ghi chép, đánh giá của mình Thông thường với các nhân vật lịch sử của thời trước

việc tìm hiểu về tiểu sử, cuộc đời họ thường dựa vào phả hoặc những ghi chép

của những người cùng thời Thế nhưng ngoài Nguyễn Lộc, Lại Ngọc Cang trong các công trình của mình có chú thích đôi chút về tư liệu các ông tham khảo thì hầu hết các nhà nghiên cứu khác không nêu căn cứ để xây dựng tiểu sử Phạm Thái Nhìn lại các công trình nghiên cứu đề cập đến tiểu sử Phạm Thái thì chủ

Trang 33

yếu các tác giả đều căn cứ vào chính sáng tác của Phạm Thái để tạo lập tiểu sử của ông Có lẽ bởi vì các tác phẩm của Phạm Thái đều có tính chất tự thuật

Năm sinh của Phạm Thái đến nay cũng còn nhiều điểm nghi vấn Trong

Thi văn bình chú Ngô Tất Tố chép: “Phạm Thái sinh năm 1757, chết năm 1793,

thọ 37 tuổi (tuổi ta)” [dẫn theo 3, tr.7] Lê Dư trong Phổ Chiêu thiền sư thi văn

tập và các tác giả Dương Quảng Hàm (trong Việt Nam văn học sử yếu), Hoài

Thanh (trong Bài giảng văn ở trường đại học – Tổng hợp năm thứ hai, niên khóa 1957 – 1958), Lê Trí Viễn (trong Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam), Văn Tân (trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam), Nguyễn Lộc (trong Văn học

Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX, 1976) đều chép Phạm Thái

sinh năm 1777, chết năm 1813, thọ 37 tuổi Tuy nhiên, Lại Ngọc Cang lại đưa ra một căn cứ khác: “Trong một bài thơ tự thuật, tôi đọc thấy mấy câu:

Năm bảy năm nay những loạn ly, Cũng thì duyên phận, cũng thì thì

Ba mươi tuổi lẻ là bao nả?

Theo câu 1, bài thơ phải viết trước 1802, lúc đang còn xẩy ra cuộc xung đột giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn Theo câu 3, năm ấy Phạm Thái phải ngoài 30 tuổi Thế mà nếu quả sinh năm 1777 thì năm 1802, Phạm Thái mới có 26 tuổi Phạm Thái từng chống Tây Sơn trong khoảng 1787 (năm nhà Lê mất) –

1802 (năm nhà Tây Sơn mất) Việc ông bị truy nã chứng tỏ ông là người có địa vị khá cao trong đám cựu thần nhà Lê Thật khó có thể tin rằng người ấy lại chỉ mới vào khoảng từ 11 đến 26 tuổi

Rất nhiều bài thơ văn uẩn súc của Phạm Thái chứng tỏ rằng ông đã có thời

kì được học tập lối văn cử nghiệp rất chu đáo, thời kì ấy phải chấm dứt muộn nhất vào năm 1787 Nếu quả sinh năm 1777, năm ấy Phạm Thái mới có 11 tuổi Bởi những lí do ấy, tôi muốn tin rằng Phạm Thái sinh trước năm 1770, mất trước năm 1810, vài năm sau khi viết “Sơ kính tân trang” (1804), thọ dưới 40 tuổi” [3, tr.7-8]

Tuy tỏ ra nghi ngờ về năm sinh của Phạm Thái nhưng Lại Ngọc Cang cũng không đưa ra được chứng cứ thuyết phục nào ngoài việc dựa vào những vần thơ

Trang 34

của chính Phạm Thái Cuối cùng nhà nghiên cứu này cũng chỉ kết luận là “tôi muốn tin rằng” chứ không có một kết luận chính thức nào Nhận định của Lại Ngọc Cang chỉ mới căn cứ vào tác phẩm của Phạm Thái để kết luận, mà tác phẩm văn chương dù có tính tự thuật nhưng vẫn là một tác phẩm có ít nhiều hư cấu Bởi thế kết luận này, theo tôi chưa đủ sức thuyết phục

Trong trường hợp này, chúng ta không tìm được tài liệu phả của dòng họ

Phạm Thái Hiện chỉ có những ghi chép của Nguyễn Tử Mẫn (1810-1901) trong

bài Chiêu tôn sư Tân trang truyện thuyết viết năm Đinh Hợi, Đồng Khánh thứ 2

(1887) có sức thuyết phục hơn bởi vì ông là người sống gần như cùng thời với Phạm Thái Nguyễn Tử Mẫn còn nói thêm: “Thân phụ tôi sinh năm Ất mùi (1775), hơn ông (tức Phạm Thái) hai tuổi” Các nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc, Lê

Dư, Dương Quảng Hàm, Hoài Thanh… đã dựa theo tư liệu này để xác định thời điểm ra đời của Phạm Thái

Một trong những điểm gây tranh cãi nữa khi nghiên cứu về Phạm Thái đó là thái độ của ông với nhà Tây Sơn Dù tất cả đều thừa nhận rằng Phạm Thái có

tư tưởng chống Tây Sơn nhưng cách đánh giá lại khác nhau Nguyễn Văn Xung

trong bài viết Phạm Thái, một mộ diện đặc biệt trong văn học cuối Lê, đầu

Nguyễn (1970) cho rằng Phạm Thái là hiện thân của những “đam mê cao cả”

Trần Nghĩa [43] phản bác lại quan điểm này, ông cho rằng: đó là tư tưởng “vừa phản động lại vừa hèn” Căn cứ để Trần Nghĩa đưa ra kết luận này là dựa vào các tác phẩm của Phạm Thái:

- Trong Văn bia mộ Thanh Xuyên hầu Phạm Thái khúm núm nhắc tới ân

huệ của quân Thanh xâm lược đối với họ Trương:

Đại Thanh xảy tiếp binh vào Vâng nhung chức cũ lại trao tiếp quyền

- Trong Chiến tụng Tây Hồ phú Phạm Thái đã nhắc tới những kỉ niệm

vàng son của thời nhà Lê, “đã quay lưng lại với tất cả cái gì là mới mẻ, là tiến bộ của Tây Sơn”

- Trong Sơ kính tân trang vì thù ghét nhà Tây Sơn mà Phạm Thái đã “đổi

trắng thay đen, vu khống với một thái độ hằn học bỉ ổi” khi ông miêu tả nguyên

Trang 35

nhân gây nên cái chết của Quỳnh Thư là sự cưỡng hôn của một viên quan Đô đốc nói rặt tiếng Đàng Trong

Bàn về thái độ chống Tây Sơn của Phạm Thái, Nguyễn Nghiệp trong bài

Qua những ý kiến khác nhau về “Sơ kính tân trang” của Phạm Thái lại cho rằng

nguyên nhân của cách ứng xử này là vì quyền lợi cá nhân: “Cái tước hầu của gia đình Phạm bị tan tác sau khi Trạch trung hầu (cha Phạm Thái) thất bại trong mưu đồ phò Lê, diệt Tây Sơn đã nói lên nhiều hơn thế Nó nói rằng tư tưởng Phạm Thái căn bản là tư tưởng của một con người của tập đoàn phong kiến thống trị đã bị cuộc khởi nghĩa nông dân đạp đổ, nhưng vẫn không chịu từ bỏ

địa vị thống trị và những đặc quyền đặc lợi của mình” [47] Tuy nhiên, suy luận

này cũng chỉ mang tính chất cá nhân cảm tính, thiếu thuyết phục!

Qua những ý kiến tranh luận trên, ta thấy các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng: Phạm Thái có thái độ chống nhà Tây Sơn Điều này có lẽ không phải bàn cãi nữa bởi vì thực tế lịch sử cũng như trong các sáng tác văn chương

của mình Phạm Thái đều nêu rõ quan điểm chống Tây Sơn (tiêu biểu là Chiến

tụng Tây Hồ phú) Tuy nhiên, nếu dựa vào đó mà quy kết Phạm Thái có “một

thái độ hằn học bỉ ổi” như Trần Nghĩa thì có phần nặng nề, áp đặt Thực chất vấn đề ở đây là thái độ của Phạm Thái trong lẽ xuất - xử Trong một xã hội loạn lạc như thế kỉ XVIII, khi vua Lê không còn giữ được uy quyền của mình, các tập đoàn phong kiến tranh đoạt quyền lực, các cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp nơi… thì vấn đề đặt ra cho các nhà nho là sẽ chọn con đường nào? Phò tá cho ai? Như đã trình bày ở trên, có nhiều người chọn con đường ẩn dật, đứng ngoài thời cuộc nhưng cũng có nhiều nhà nho vẫn hăm hở chí trai thời loạn Gần như cùng thời với Phạm Thái, Nguyễn Bá Xuyến chính là “mẫu” người khá điển hình của số đông trai thời loạn bấy giờ Trong tình thế xã hội rối ren, mọi chuẩn mực đạo lí gần như bị đảo lộn, Nguyễn Bá Xuyến băn khoăn chọn con đường thực hiện

công danh: “Ta năm nay 28 tuổi, sắp đến tuổi nhi lập mà chưa nên một việc gì

Há phải trời sinh ra ta chỉ để ăn và ngủ trên cõi phù sinh này hay sao?” [dẫn theo

55, tr.14] Trong vòng 6 năm sau đó là những cuộc chọn đường và thử nghiệm của Nguyễn Bá Xuyến: ông đã từng theo nhiều thủ lĩnh chống lại nhà Tây Sơn,

Trang 36

cũng có lúc đã tìm đến muốn hợp tác với nhà Tây Sơn nhưng đều thất vọng vì nhận thấy họ đều là những người không đáng tin, “không hợp” với mình nên ra

đi Nhận ra sự vô dụng của tập đoàn Lê – Trịnh, cũng không tìm được chỗ đứng trong triều đại Tây Sơn, Nguyễn Bá Xuyến đã vào Nam, theo Nguyễn Ánh và được tin dùng Kể từ đó ông đã có nhiều đóng góp cho nhà Nguyễn trong công cuộc chống Tây Sơn Sau khi cuộc chiến thành công, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, Nguyễn Bá Xuyến được phong làm Án phủ sứ Hoài Đức Như vậy, rõ ràng, việc lựa chọn con đường thực hiện lí tưởng, hoài bão của các nhà nho thời bấy giờ là một câu chuyện rất phức tạp, tùy vào hoàn cảnh riêng mà mỗi người lại có một hướng đi khác nhau Con đường phù Lê, chống Tây Sơn của Phạm Thái rồi cuối cùng thất bại cũng là một cách lựa chọn của nhà nho trước thời cuộc lúc bấy giờ

Về mối tình của Phạm Thái và Trương Quỳnh Như hầu hết các tác giả đều

dựa vào truyện thơ Sơ kính tân trang cùng một số bài thơ khác của Phạm Thái

để mô tả lại Nguyên nhân dẫn đến kết thúc bi thảm của mối tình này cũng có nhiều ý kiến chưa thống nhất Hiện có hai luồng ý kiến chính Luồng ý kiến thứ nhất của Ngô Tất Tố cho rằng nguyên nhân dẫn đến sự tan vỡ của mối tình này

là do “Quỳnh Như bị ép gả làm vợ lẽ một viên quan võ” Luồng ý kiến thứ hai của Lê Dư cho rằng: “mẹ Quỳnh Như muốn gả nàng cho một kẻ nhà giàu là Trịnh Nhị”

Các học giả khác như Lại Ngọc Cang, Hoàng Hữu Yên, Nguyễn Lộc… đều không đưa ra một đánh giá cụ thể nào về những lực lượng ngáng trở cuộc hôn nhân này mà chỉ viết chung chung: “Hai bên yêu nhau tha thiết song việc nhân duyên không thành, Quỳnh Như tự tử Phạm Thái đau khổ bỏ ra đi” [3, tr.10; học viên nhấn mạnh]; “về sau tình yêu không thành, Quỳnh Như bị ép lấy người khác, nàng không chịu đã tự vẫn Cái chết của Quỳnh Như khắc sâu thêm nhữnh đau khổ làm nát lòng Phạm Thái” [35, tr.309]…

Trong Sơ kính tân trang Phạm Thái lí giải nguyên nhân dẫn đến cái chết

đau đớn của Quỳnh Thư và sự tan vỡ mối tình này là do một viên đô đốc nói tiếng Đàng trong dùng quyền lực để ép buộc Quỳnh Thư phải cưới hắn Có lẽ Ngô Tất Tố dựa vào chi tiết này để cho rằng “Quỳnh Như bị ép gả làm vợ lẽ một

Trang 37

viên quan võ” Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào một chi tiết trong tác phẩm văn chương lãng mạn này để kết luận thì có lẽ chưa đủ sức thuyết phục Trong trường hợp này tôi tán thành cách lí giải của Lê Dư Bởi lẽ thực tế khi ấy Phạm Thái đang là đối tượng bị triều đình nhà Lê truy nã, cha mẹ Quỳnh Như dẫu có quý mến tài của Phạm Thái đến đâu chăng nữa cũng không liều lĩnh để gả con gái mình cho một người không sự nghiệp công danh, lại đang là tội phạm lẩn trốn Rồi mẹ nàng ép gả nàng cho một kẻ giàu có trong vùng là Trịnh Nhị Có lẽ đây là nguyên nhân chính ngáng trở mối tình này Việc Phạm Thái đã sáng tạo

nên một viên đô đốc nói tiếng Đàng Trong trong Sơ kính tân trang là để thể hiện

thái độ chống Tây Sơn mà thôi

Tiểu kết

Thế kỉ XVIII là một thế kỉ có nhiều biến động lớn: sự khủng hoảng, bế tắc của nhà nước phong kiến và sự rạn nứt của ý thức hệ thống trị, sự vùng dậy của quần chúng nông dân bị áp bức mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn với vai trò của Nguyễn Huệ Việc Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc tiêu diệt chúa Trịnh, sau đó đánh tan cả quân Thanh xâm lược và lật đổ ngai vàng của ông vua bù nhìn Lê Chiêu Thống, lập nên triều đại mới thực sự đã tạo nên một biến động lớn trong đời sống văn hóa, tư tưởng xã hội lúc bấy giờ: sĩ phu Bắc Hà phải đứng thực hiện một lựa chọn sống khá nghiệt ngã với nguyên tắc ứng xử Nho gia “trung thần bất sự nhị quân”, sẽ có người vì nặng lòng với nhà Lê mà chống đối triều đại Tây Sơn, và cũng có không ít người nhiệt huyết với triều đại mới,

vì họ nhận ra luồng sinh khí trong những chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa… của Tây Sơn hoặc đơn giản vì họ tán thưởng lực lượng đã kết thúc cuộc nội chiến 200 năm, đã đánh đuổi giặc ngoại xâm đem lại cuộc sống thanh bình Trong một hoàn cảnh xã hội như thế, cùng với những yếu tố phát triển tự thân từ trước đó, văn chương giai đoạn này đã có những chuyển biến đặc biệt Chữ Nôm được nhiều tác giả lựa chọn viết, vì nhu cầu thể hiện cảm xúc đa dạng, có chiều sâu hơn trước cũng như vì nhu cầu biểu đạt những hiện thực cuộc sống cụ thể hơn… những nhu cầu đó cần đến một ngôn từ bản địa, máu thịt,… Về nội dung, văn học càng ngày càng quan tâm đến con người bình thường, thể

Trang 38

hiện nhiều hơn khát vọng sống rất nhân bản là tình yêu, hạnh phúc đời thường mà những giai đoạn trước do văn chương tập trung vào con người lý trí hoặc các mẫu hình cần thiết cho việc kiến tạo dân tộc, bảo vệ giang sơn đã bỏ qua Đây cũng là giai đoạn các thể loại văn học dân tộc và chữ Nôm đạt được những thành tựu đỉnh cao với nhiều tác giả, tác phẩm lớn Và nhắc đến những điểm độc đáo, nổi bật của giai đoạn này không thể không kể đến sự góp mặt đặc biệt của tác giả nhà nho tài tử - những con người ít chịu ép mình trong khuôn khổ của lễ giáo phong kiến, họ đã mang vào đời sống văn chương đương thời những đóng góp khác lạ cả về nội dung và hình thức

Đấy chính là bối cảnh xuất hiện nhân vật Phạm Thái Với những chi tiết tiểu sử, cuộc đời còn gây tranh cãi nhưng đến lúc này chúng ta có thể khẳng định: về ứng xử xã hội, ông đã chọn cách phản ứng với thời cuộc mới là chống lại nhà Tây Sơn, nhưng thất bại; trong đời sống văn chương, chất tài tử phóng túng đã thúc đẩy ông đưa vào sáng tác của mình những tâm tư chân thật, những xúc cảm của tình yêu nam nữ đắm say khác thường và đây cũng là một trường hợp ít ỏi của văn chương thời trung đại: tác giả tự hoạ và tự kể câu chuyện tình

yêu với độc giả, trong đó nổi bật là truyện thơ Sơ kính tân trang

Trang 39

CHƯƠNG 2 PHẠM THÁI – CHÂN DUNG TỰ HỌA GIỮA NHỮNG QUY PHẠM THỜI TRUNG ĐẠI

Chương này sẽ đặt việc tác giả tự họa mình thành nhân vật của Sơ kính

tân trang giữa những quy ước của thời trung đại (về tư tưởng, đạo đức, sáng tạo)

để: 1/ tìm hiểu việc “tự họa” của tác giả Phạm Thái đã tuân thủ và phá cách những gì trong các quy ước của thời đại; 2/ tìm hiểu ý nghĩa hiện hữu của nhân vật Phạm Kim trong văn hoá văn chương đương thời Những sáng tác khác của

Phạm Thái sẽ được dùng làm tư liệu bổ trợ khi cần thiết

2.1 Phạm Thái – con người bổn phận

Văn học trung đại hình thành và phát triển dưới ảnh hưởng của nhiều hệ

tư tưởng khác nhau: Nho - Phật - Lão, trong đó Nho giáo có ảnh hưởng mạnh

mẽ nhất Là học thuyết đạo đức, Nho giáo vốn là những quy ước ứng xử cho con người trong gia đình; đến khi được mở rộng thành nguyên tắc tổ chức xã hội, Nho giáo quy định các bổn phận của con người xã hội Theo Nho giáo, con người từ trong gia đình ra ngoài xã hội luôn ở trong những ước thúc: trong gia đình là con, là cha, là chồng vợ, anh em; ngoài đời là bề tôi, là bằng hữu… Tóm lại, với Nho giáo con người có một phận vị trong những thang bậc cụ thể và phải

hành xử theo tôn ti Cụ thể là: con người (nhất là đấng nam nhi) phải có hiếu với cha mẹ, phải trung với vua và có trách nhiệm với chính mình (người con trai phải có chí khí lớn lao tề gia, trị quốc, bình thiên hạ)

Trong quan niệm của Nho giáo, sợi dây thiêng liêng ràng buộc con người từ khi mới sinh ra chính là tình cảm giữa cha mẹ và con cái Do đó, Nho giáo đặt

ra yêu cầu đầu tiên, cơ bản đối nhất với mỗi người trong cuộc sống là: con cái

phải hiếu thảo với cha mẹ Theo Nho giáo, hiếu là nết đầu trong trăm nết, là gốc rễ của tất cả đức hạnh Hiếu là cái đức cao cả nhất mà cả vua tôi, kẻ sĩ và thứ dân đều phải đề cao và thi hành Trong Luận ngữ, Khổng Tử đã khẳng định rằng: “Hiếu đễ là cái gốc của đạo làm người” Tuy nhiên, trong Sơ kính tân

Trang 40

trang, chỉ hai lần Phạm Thái thể hiện quan niệm về chữ hiếu Lần thứ nhất là khi

cha mẹ qua đời vì việc cần vương bất thành, Phạm Kim đau đớn khôn xiết:

Kim Lang ngao ngán gia tình, Huỳnh lòe soi oán, dế quanh gảy sầu

Gió ngô, trăng hạnh, đêm thâu, Địch đâu thổi sớm, chuông đâu nện chiều?

Giọng buồn, điệu thảm dập dìu, Chim năn nỉ tiếng, ve hiu hắt hình

Lần thứ hai, Phạm Thái đã thông qua lời của Thụy Châu, thể hiện quan

niệm về chữ hiếu của con cái đối với cha mẹ: dù đã đến tuổi trưởng thành, có

nhan sắc xinh đẹp nhưng Thụy Châu vẫn chưa dám nghĩ đến hạnh phúc lứa đôi của mình bởi vì trước đây cha mẹ đã có lời giao ước kết nối thông gia với nhà họ Phạm Vì giữ gìn lời giao ước của cha mẹ, vì đạo hiếu mà dẫu có phải ở vậy suốt đời Thụy Châu cũng cam lòng:

Phạm, Trương kia nghĩa tương giao, Thề nguyền hai họ, ước ao một lời

Kính Sơ, đôi chiếc, đôi người, Bỗng phong trần khiến cách vời non sông

Dễ mà nhạn cá cho thông?

Băn khoăn dạ bác, não nùng duyên con

Ngậm ngùi kẻ khuất, người còn,

Mà lời bể cạn, non mòn làm sao?

(…) Kẻo mà duyên phận long đong, Đành rằng một kiếp má hồng mà thôi!

Như vậy, dù không trực tiếp thể hiện quan niệm của mình về chữ hiếu

nhưng qua cách hành xử của các nhân vật trong tác phẩm, Phạm Thái đã cho

thấy ông là người coi trọng chữ hiếu của con cái đối với cha mẹ

Trong Văn bia mộ Thanh Xuyên hầu Phạm Thái viết về việc Trương Đăng

Thụ sau khi Lê Chiêu Thống bỏ trốn sang Trung Quốc đã muốn đi theo nhà vua

để tròn đạo trung nhưng không qua được biên ải, muốn tìm miền non nước tiêu

Ngày đăng: 18/10/2018, 16:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân, Truyện Nôm, vài khía cạnh văn học sử. Truy cập tại http://lainguyenan.free.fr/DLNX/TruyenNom.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Nôm, vài khía cạnh văn học sử
Tác giả: Lại Nguyên Ân
2. Nguyễn Tường Bách (1999), Việt Nam qua một thế kỷ (hồi ký). Truy cập tạihttp://vnthuquan.org/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1nnnmn31n343tq83a3q3m3237nvn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam qua một thế kỷ (hồi ký)
Tác giả: Nguyễn Tường Bách
Năm: 1999
3. Lại Ngọc Cang (1960), Sơ kính tân trang (khảo thích và giới thiệu), Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ kính tân trang
Tác giả: Lại Ngọc Cang
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1960
4. Nguyễn Huệ Chi (2004), “Phạm Thái” (mục từ), trong Từ điển văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Thái” (mục từ), trong "Từ điển văn học
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
5. Trương Chính (1957), Nhân đọc “Tiêu Sơn tráng sĩ” của Khái Hưng, Độc lập, số 8, ngày 8 tháng 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân đọc “Tiêu Sơn tráng sĩ” của Khái Hưng
Tác giả: Trương Chính
Năm: 1957
6. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
7. Sở Cuồng Lê Dư (1932), Phổ Chiêu Thiền sư thi văn tập, Nam Ký thư quán xb, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phổ Chiêu Thiền sư thi văn tập
Tác giả: Sở Cuồng Lê Dư
Năm: 1932
8. Triêu Dương (1960), Một số ý kiến về việc đánh giá “Sơ kính tân trang”, Nghiên cứu văn học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về việc đánh giá “Sơ kính tân trang”
Tác giả: Triêu Dương
Nhà XB: Nghiên cứu văn học
Năm: 1960
9. Phan Cự Đệ (1957), Góp ý về việc tái bản “Tiêu Sơn tráng sĩ ”, báo Hà Nội hàng ngày, số 675, ngày 12/6/1957 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp ý về việc tái bản “Tiêu Sơn tráng sĩ ”
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 1957
10. Phan Cự Đệ (1989), “Lời giới thiệu” cho Tiêu Sơn tráng sĩ (tái bản), Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lời giới thiệu” cho Tiêu Sơn tráng sĩ
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1989
11. Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức (2009), Văn học Việt Nam 1900-1945, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1900-1945
Tác giả: Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
12. Đỗ Hồng Đức (2010), Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng
Tác giả: Đỗ Hồng Đức
Năm: 2010
13. Hà Minh Đức (2007), Tự lực văn đoàn: Trào lưu - tác giả: Khảo luận và tuyển chọn bài viết về Tự lực văn đoàn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự lực văn đoàn: Trào lưu - tác giả: Khảo luận và tuyển chọn bài viết về Tự lực văn đoàn
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
14. Vu Gia (1993), Khái Hưng nhà tiểu thuyết, Nxb Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái Hưng nhà tiểu thuyết
Tác giả: Vu Gia
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1993
15. Đoàn Lê Giang, Nhà Nho tài tử: Nguồn gốc, nội dung và ý nghĩa đối với việc nghiên cứu văn học trung cận đại Việt Nam, http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà Nho tài tử: Nguồn gốc, nội dung và ý nghĩa đối với việc nghiên cứu văn học trung cận đại Việt Nam
Tác giả: Đoàn Lê Giang
16. Hoàng Xuân Hãn (2016), La Sơn phu tử, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: La Sơn phu tử
Tác giả: Hoàng Xuân Hãn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2016
17. Đặng Thị Hảo (2009), Phạm Thái – tài hoa và bi kịch, Tạp chí văn học, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Thái – tài hoa và bi kịch
Tác giả: Đặng Thị Hảo
Năm: 2009
19. Chan Hing Ho (Trần Khánh Hạo, 1994), Bước đầu tìm hiểu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam, Tạp chí Hán Nôm, số 3. Truy cập tại http://hannom.org.vn/web/tchn/data/9403.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
Tác giả: Chan Hing Ho, Trần Khánh Hạo
Nhà XB: Tạp chí Hán Nôm
Năm: 1994
20. Nguyễn Phạm Hùng (2007), Phổ Chiêu thiền sư và những sáng tác văn học đặc sắc của ông, Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phổ Chiêu thiền sư và những sáng tác văn học đặc sắc của ông
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Năm: 2007
23. Khái Hưng (1989), Tiêu Sơn tráng sĩ, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu Sơn tráng sĩ
Tác giả: Khái Hưng
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1989

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w