1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

111 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

II- Nhiệm vụ và nội dung: Vận dụng lý thuyết về giá cổ phiếu và mô hình chiết khấu cổ tức, dòng tiền với công cụ hồi quy bội FEM, REM để phát triển và xây dựng mô hình các yếu tố tác độ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

Trang 3

CÔNG TRÌNH ĐƢỢC HOÀN THÀNH TẠI

Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:

(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)

3 PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Linh Phản biện 2

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã đƣợc

sửa chữa (nếu có)

Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV

Trang 4

TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHỆ TP HCM

PHÒNG QLKH – ĐTSĐH

CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TP HCM, ngày 08 tháng 10 năm 2017

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: Bùi Như Quỳnh Giới tính: Nữ

Ngày, tháng, năm sinh: 08/03/1990 Nơi sinh: Hải Dương

Chuyên ngành: Kế Toán MSHV: 1541850039

I- Tên đề tài: Các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam II- Nhiệm vụ và nội dung: Vận dụng lý thuyết về giá cổ phiếu và mô hình chiết khấu cổ tức, dòng tiền với công cụ hồi quy bội FEM, REM để phát triển và xây dựng mô hình các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam III- Ngày giao nhiệm vụ: IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ:

V- Cán bộ hướng dẫn:

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)

TS.Nguyễn Trần Phúc

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu của các

doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là công trình

nghiên cứu độc lập của tôi, do chính tôi hoàn thành, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Học viên thực hiện luận văn

Bùi Nhƣ Quỳnh

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, trước hết tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới chồng cùng bố mẹ đã luôn động viên giúp đỡ tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tác giả hoàn thành nghiên cứu này

Đặc biệt tác giả xin gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Trần Phúc đã luôn giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành nghiên cứu này

Nhân dịp này tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, các cô và ban lãnh đạo trường Đại học Công Nghệ TP Hồ Chí Minh đã luôn động viên và tận tình hỗ trợ, hướng dẫn tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành nghiên cứu theo đúng tiến

độ

Cuối cùng tác giả kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong

sự nghiệp cao quý

Xin chân thành cảm ơn

Tác giả luận văn

Bùi Như Quỳnh

Trang 7

TÓM TẮT

Luận văn đã xây dựng và kiểm định được các giả thuyết nghiên cứu của đề tài không chỉ bằng mô hình hồi quy đa tuyến tính bình phương nhỏ nhất (OLS) mà sử dụng thêm mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM) và mô hình tác động cố định (FEM) để ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến giá chứng khoán của 27 doanh nghiệp vận tải đang giao dịch trên hai sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội Dựa trên mô hình nghiên cứu của Al-Tamimi và cộng sự (2007) và phân tích trên phần mềm Stata12 cho thấy kết quả mô hình: giá chứng khoán của các doanh nghiệp vận tải chịu ảnh hưởng cùng chiều với tỷ lệ tăng trưởng (GDP), giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu và ngược chiều với lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng Từ những kết quả trên đề tài cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp vận tải trong giai đoạn hiện nay

Trang 8

ABSTRACT

The thesis built and inspected the research hypothesis of subject not only by the Ordinary least squares (OLS) but also sue random effect model (REM) and fix effect model (FEM) to estimate the factors affecting the stock price of 27 Transport companies which are trading on Ho Chi Minh and Ha Noi Stock Exchange Based on the research model of Al-Tamimi et al (2007) and analysis on Stata12 software the results derived from this study show that growth rate (GDP), Net Asset Value Per Value and Earnings Per Share have positive effects on stock price while interest rate volatility have a negative impact on stock price Finally, from the empirical results a number of solutions have also proposed to improve the performance of the transport companies in the current period

Trang 9

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II TÓM TẮT III ABSTRACT IV MỤC LỤC V DANH MỤC CÁC BẢNG IX DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH X

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Phương pháp nghiên cứu 5

1.6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 6

1.7 Bố cục đề tài 6

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 8

2.1 Giới thiệu 8

2.2 Cơ sở lý luận về giá cổ phiếu và các yếu tố tác động 8

Trang 10

2.2.1 Giá cổ phiếu 8

2.2.2 Các mô hình định giá cổ phiếu 10

2.2.2.1.Mô hình chiết khấu cổ tức (Dividend discount model-DDM) 10

2.2.2.2.Mô hình chiết khấu dòng tiền (Discounted Cash Flows Model-DCF) 12

2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá chứng khoán 14

2.2.3.1.Nhóm yếu tố bên trong 16

2.2.3.2.Nhóm các yếu tố bên ngoài 17

2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu 19

2.3.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới 19

2.3.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước 27

2.4 Khoảng trống nghiên cứu 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 35

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

3.1 Giới thiệu 36

3.2 Mô hình hồi quy 36

3.3 Giả thuyết về sự tác động của các biến 39

3.4 Đo lường biến và nguồn dữ liệu 48

3.5 Phương pháp ước lượng và lựa chọn phương pháp phù hợp 49

3.5.1 Giới thiệu các phương pháp ước lượng đối với dữ liệu bảng 49

Trang 11

3.5.2 Kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp 52

3.6 Các kiểm định để chuẩn đoán lỗi 53

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56

4.1 Giới thiệu 56

4.2 Mô tả các biến 56

4.3 Kết quả phân tích mô hình hồi quy đa tuyến tính 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 69

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

5.1 Kết luận 70

5.2 Các khuyến nghị đề xuất 71

5.3 Một số hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai 73

5.3.1 Một số hạn chế của luận văn 73

5.3.2 Hướng nghiên cứu trong tương lai 74

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 75

KẾT LUẬN CHUNG 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 1 86

PHỤ LỤC 2 88

PHỤ LỤC 3 92

Trang 12

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

EPS Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu

FE Phương pháp ảnh hưởng cố định (Fixed Effects) FEM Mô hình hồi quy FEM (Fixed Effects Model)

HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

HOSE Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh INT Lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng

NAVPS Giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu

OLS Phương pháp bình phương nhỏ nhất

OLS Mô hình hồi quy OLS (Pooled Model)

RE Phương pháp ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effects) REM Mô hình hồi quy REM (Random Effects Model)

TTCKVN Thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 13

DANH MỤC CÁC BẢNG Phụ lục 1: Danh sách các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên TTCK Việt Nam

Phụ lục 2: Tổng hợp dữ liệu sử dụng

Phụ lục 3: Phân tích mô hình hồi quy đa biến về các yếu tố ảnh hưởng đến giá chứng

khoán của các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 14

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH

Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trước ở nước ngoài

Bảng 2.2: Tóm tắt các nghiên cứu trước ở Việt Nam

Bảng 3.1 Mô tả quan hệ giữa các biến trong mô hình

Bảng 3.2 Tổng hợp các biến sử dụng trong mô hình

Bảng 4.1 Bảng mô tả thống kê chỉ tiêu MPS, NAVPS, EPS, SIZE, OIL,INT,CPI,GDP giai đoạn 2010 -2014

Bảng 4.2 Ma trận tương quan giữa các biến

Bảng 4.3: Kết quả lựa chọn giữa mô hình REM và Pooled OLS

Bảng 4.4 Kết quả kiểm định mô hình theo phương pháp Random Effects

Bảng 4.5: Kiểm định hausman lựa chọn mô hình FE và RE

Bảng 4.6 Kết quả sau khi phân tích mô hình hồi quy đa tuyến tính trên sàn chứng khoán Việt Nam theo mô hình FE

Bảng 4.7: Kết quả kiểm định tương quan phần dư giữa các cá thể

Bảng 4.8: Kết quả kiểm định tương quan chuỗi cho FEM

Bảng 4.9: Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi cho FEM

Bảng 4.10 Kết quả mô hình sau khi khắc phục lỗi phương sai sai số thay đổi

Bảng 4.11 Giả thuyết và kết quả phân tích thực nghiệm sự ảnh hưởng của các yếu tố trong mô hình đến giá chứng khoán doanh nghiệp vận tải niêm yết trên 2 sàn chứng khoán

Mô hình 4.1 Kết quả nghiên cứu mức độ tác động của 4 yếu tố đến giá chứng khoán

Trang 15

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế đã và đang phát triển vô cùng mạnh mẽ trong nền kinh tế thế giới hiện nay Một trong những biểu hiện cụ thể của sự hội nhập là thương mại quốc tế đang diễn ra với khối lượng và cường độ ngày càng nhiều Kéo theo sự phát triển đó là sự ra đời của các ngành công nghiệp phụ trợ cho hoạt động thương mại quốc tế: vận tải biển, vận tải hàng không, dịch vụ bảo hiểm, …Ở Việt Nam ,xét về vận tải nội địa, cơ cấu các loại hình vận tải nhìn chung vẫn mất cân đối so với cơ cấu vận tải nội địa bình quân của thế giới khi vận tải đường

bộ và đường thủy nội địa chiếm tỷ trọng rất lớn (gần 93% sản lượng vận tải năm 2014) Trong khi đó, do đặc điểm địa hình với đường bờ biển dài và diện tích quốc gia trải dài từ Bắc xuống Nam, vận đường biển và đường hàng không có cơ hội phát triển mạnh trong nội địa, nhưng thực tế lại chiếm tỷ trọng rất thấp (chỉ khoảng 6% sản lượng vận tải năm 2014) Sự mất cân đối này đã làm giảm hiệu quả vận tải hàng hóa của Việt Nam, khiến sản lượng vận tải không đạt tối ưu và chi phí vận tải bình quân bị “đội” lên cao (Lâm Trần Tấn Sĩ và Phan Nguyễn Trung Hưng ,2015) Ngoài

ra ngày càng có nhiều các doanh nghiệp mạnh hơn về vốn, về công nghệ, khôn ngoan hơn trong việc sử dụng vốn, cách thức quản lý gia nhập vào ngành này, tạo nên sự cạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt Trong bối cảnh như vậy muốn xây dựng được hệ thống doanh nghiệp vận tải vững mạnh, kinh doanh hiệu quả, có sức cạnh tranh thành công trong khu vực và quốc tế thì một trong những điều kiện quan trọng

là phải tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao tiềm lực tài chính, mở rộng sản xuất kinh doanh, nắm bắt được cơ hội trên thị trường Tại các nước phát triển, sự thành công của những doanh nghiệp hùng mạnh tầm cỡ thế giới luôn gắn bó chặt chẽ với việc huy động vốn trên TTCK nhằm không ngừng gia tăng tiềm lực tài chính, quản trị và thương hiệu Những biến động trên thị trường chứng khoán đều được phản ánh khá đầy đủ qua biến động giá cổ phiếu

Giá cổ phiếu chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố cơ bản bên trong của doanh nghiệp (thông tin kế toán trên các báo cáo tài chính, tính minh bạch

Trang 16

báo cáo tài chính hay gia tăng tính hữu ích cho thông tin báo cáo tài chính, phòng chống gian lận báo cáo tài chính và các giải pháp…) như nghiên cứu của Bùi Kim Yến (2012); Nguyễn Thị Ái Nhiên (2012); Nguyễn Thị Mỹ Dung (2013); Nguyễn Thị Khánh Phương (2016);… Ở các nước phát triển, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để nghiên cứu mối quan hệ giữa yếu tố cơ bản bên trong của doanh nghiệp và giá cổ phiếu sử dụng mô hình định giá khác nhau Một số tập trung vào thị trường

Mỹ như Collins và cộng sự (1997), và một số nghiên cứu khác xem xét vấn đề này trên thị trường toàn cầu như Ohson (1995) Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng thông tin kế toán như lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu, giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu hay quy mô doanh nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến giá thị trường của cổ phiếu

Ngoài ra còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như thông tin về nền kinh tế vĩ mô

(lãi suất,cung tiền, lạm phát ,biến động giá dầu thế giới ,tăng trưởng kinh tế…) tuy nhiên khi đi sâu vào sự tác động của các yếu tố đến giá thị trường của cổ phiếu thì các nghiên cứu lại có kết luận không nhất quán theo phân tích của mô hình được xác

định bởi Al-Tamimi (2007) các yếu tố như lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu; cổ tức trên mỗi cổ phiếu; giá dầu; tỷ lệ tăng tưởng GDP; tỷ lệ lạm phát; lãi suất; cung tiền ảnh hưởng đến giá cổ phiếu tại thị trường tài chính UAE dựa phương pháp bình phương tối thiểu, mẫu bao gồm 17 công ty dựa trên sự sẵn có của dữ liệu từ năm 1990 đến năm 2005, Kết quả nghiên cứu cho thấy biến lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu , tỷ lệ tăng tưởng GDP; tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Còn các biến còn lại không

có ý nghĩa thống kê, đặc biệt biến cổ tức trên mỗi cổ phiếu bị loại khỏi mô hình vì có hiện tượng đa cộng tuyến với biến lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu Kết quả nghiên cứu đồng ý với các nghiên cứu trước đây của Zhao (1999) Tuy nhiên theo nghiên cứu khác của Faris Nasif AL- Shubiri (2010) các mẫu nghiên cứu bao gồm các ngân hàng thương mại 14 của sở giao dịch chứng khoán Amman trong thời gian 2005-2008 Phân tích hồi qui được tiến hành để tìm hiểu mối quan hệ giữa giá trị thị trường của

cổ phiếu với các yếu tố, kết quả cho thấy mối quan hệ cùng chiều NAVPS, DIV (tỷ lệ phần trăm cổ tức), tỷ lệ tăng trưởng và mối quan hệ ngược chiều lạm phát nhưng lãi vay ngân hàng nhưng không đúng trong một số năm ở thị trường chứng khoán

Trang 17

Jordan Hay Kandir, S Y (2008) cho rằng có mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ suất sinh lợi của chứng khoán và lạm phát bởi vì khi lạm phát gia tăng thì thị trường vốn có xu hướng chống lại tác động của lạm phát… Từ những kết quả không thống nhất của các nghiên cứu trên thế giới về sự tác động của các yếu tố đến giá cổ phiếu của doanh nghiệp, thêm vào đó bối cảnh kinh tế của thế giới và Việt Nam có nhiều khác biệt, vì vậy kết quả của các nghiên cứu trên thế giới nếu có đạt được sự thống nhất thì cũng không đảm bảo tính khả thi khi ứng dụng vào thực trạng của Việt Nam

Và việc nghiên cứu định lượng về những yếu tố tác động tới giá cổ phiếu có sử dụng mô hình kinh tế lượng ở Việt Nam vào từng ngành cụ thể còn ở mức khiêm tốn

Vì vậy việc vận dụng mô hình để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến giá chứng khoán tại thị trường ngành này là hết sức cần thiết nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp giúp các doanh nghiệp kịp thời có những chính sách phù hợp với hoạt động kinh doanh của mình tránh được nguy cơ phá sản, đồng thời tạo điều kiện để ổn định và phát triển kinh tế, phát triển thị trường chứng khoán,

ổn định và kiềm chế lạm phát, liên kết các nền kinh tế, rút ngắn khoảng cách về không gian địa lý nhằm giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm, thúc đẩy thương mại phát triển và giúp các nhà đầu tư đạt được lợi nhuận mong muốn đồng thời giảm thiểu được rủi ro khi đầu tư mua cổ phiếu của các doanh nghiệp ngành này Với

những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu của

các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm

luận văn thạc sĩ

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận văn

Mục tiêu chính của nghiên cứu này là nghiên cứu các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu

của các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Mục tiêu cụ thể của luận văn

Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, luận văn ra một số mục tiêu cụ thể như sau:

Trang 18

Thứ nhất: từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, nhận diện được các yếu tố tác động

đến giá cổ phiếu và đo lường sự tác động của chúng tới giá cổ phiếu của ngành vận tải niêm yết trên TTCK VN

Thứ hai: Từ mô hình và kết quả phân tích định lượng để đề xuất các gợi ý đối với việc

hoạch định chính sách của bản thân doanh nghiệp làm tăng giá trị của doanh nghiệp trên thị trường, đối với nhà đầu tư để giảm thiểu rủi ro khi ra quyết định lựa chọn cổ phiếu trong ngành này

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu nêu trên luận văn đưa ra câu hỏi nghiên cứu cụ thể sau:

(1) Các yếu tố nào có thể tác động đến giá cổ phiếu ngành vận tải niêm yết trên TTCK Việt Nam?

(2) Các yếu tố đó tác động ở mức độ như thế nào đến giá cổ phiếu ngành vận tải niêm yết trên TTCK Việt Nam ?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Thông qua lý thuyết cũng như các nghiên cứu thực nghiệm, các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu sẽ được xem xét và xác định

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về mặt nội dung: trong bài luận văn nghiên cứu các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam với các nội dung cụ thể sau: hệ thống hóa những vấn đề lý luận về các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu; đánh giá,luận giải các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước

Trang 19

trước đây liên quan đến đề tài nghiên cứu; đưa ra giả thuyết nghiên cứu, định hướng

về mô hình lý thuyết; kiểm định giả thuyết nghiên cứu các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu ngành vận tải và đưa ra những gợi ý, khuyến nghị tới các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà đầu tư trên TTCK VN

Phạm vi về mặt thời gian: tác giả sử dụng mẫu dữ liệu được lấy từ các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên trị trường chứng khoán Việt Nam trong 5 năm: 2010,2011, 2012, 2013, và 2014

Phạm vi về mặt không gian: tác giả nghiên cứu các doanh nghiệp vận tải (có tổng số 41 doanh nghiệp) niêm yết trên Sở GDCK Hà Nội và Sở GDCK thành phố Hồ Chí Minh Luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu, tiến hành làm sạch số liệu, loại

bỏ những doanh nghiệp thiếu nhiều dữ liệu cần thiết phục vụ cho nghiên cứu và bên cạnh đó, luận văn lựa chọn những công ty có niên độ kế toán trùng với năm tài chính (bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm) Do đó, mẫu nghiên cứu hợp lệ được lựa chọn là 27 doanh nghiệp vận tải cung cấp đầy đủ số liệu thu thập từ báo cáo tài chính đã tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đủ 5 năm liên tiếp từ 2010 đến 2014 (Phụ lục 1)

Số lượng doanh nghiệp vận

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các vấn đề đặt ra, luận văn sử dụng số liệu được thu thập từ nguồn dữ liệu thứ cấp của tổng cục thống kê, dữ liệu về biến động giá cổ phiếu, các báo cáo tài chính và các nguồn dữ liệu thứ cấp khác, sau đó tiến hành chọn mẫu nghiên cứu và sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, không chỉ sử dụng mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) mà còn sử dụng mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM) và mô hình hồi quy tác động cố định (FEM) Từ đó,

Trang 20

thực hiện kiểm chứng với biến phụ thuộc là giá cổ phiếu của các doanh nghiệp vận tải

và biến độc lập là các yếu tố bên trong doanh nghiệp (lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu,giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu và quy mô doanh nghiệp), yếu tố bên ngoài doanh nghiệp (lãi suất,tỷ lệ tăng trưởng ,giá dầu thế giới, tỷ lệ lạm phát ) phân tích mô hình với phần mềm STATA 12

1.6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Về mặt lý luận, luận văn đã hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài này

Về mặt thực tiễn, luận văn cung cấp những bằng chứng thực nghiệm về những yếu tố tác động đến giá cổ phiều của các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường

chứng khoán Việt Nam, là cơ sở giúp cho các nhà quản trị ở các doanh nghiệp vận tải

hướng đến việc hoạch định các chính sách của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp điều chỉnh chính sách nhất định để tăng giá trị doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán

và các nhà đầu tư tham khảo ra quyết định đầu tư, đạt được lợi nhuận mong muốn đồng thời giảm thiểu rủi ro

1.7 Bố cục đề tài

Luận văn được kết cấu thành 5 chương Ngoài chương 1, các chương còn lại được cấu trúc cụ thể như sau:

Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước

Trong chương 2 tác giả trình bày các cơ sở lý thuyết, lý luận về mối quan

hệ giữa các yếu tố vi mô và vĩ mô và giá cổ phiếu của các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán đã được sử dụng trong luận văn Tập trung vào phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước liên quan mật thiết đến đề tài; nêu những vấn đề còn tồn tại; chỉ ra những vấn đề mà đề tài cần tập trung nghiên cứu, giải quyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Trang 21

Thông qua những cơ sở lý thuyết, lý luận và những công trình nghiên cứu

ở chương 2, trong chương này tác giả sẽ trình bày tiến trình nghiên cứu để thu thập dữ liệu và chuẩn bị đưa dữ liệu vào phân tích, đưa ra những giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố vi mô, vĩ mô và giá cổ phiếu của các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán đồng thời nêu những phương pháp áp dụng lựa chọn mô hình phù hợp

Chương 4: Trình bày, đánh giá, bàn luận các kết quả

Từ phương pháp nghiên cứu thực nghiệm ở chương 3 trong chương này tác giả tập trung vào việc mô tả ngắn gọn công việc nghiên cứu khoa học đã tiến hành, các số liệu thực nghiệm Phần bàn luận căn cứ vào các dữ liệu khoa học thu được trong quá trình nghiên cứu của đề tài và đối chiếu với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác thông qua các tài liệu tham khảo

Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu các khuyến nghị đề xuất và kết luận

Chương 5 chủ yếu tập trung vào thảo luận kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong chương 4 Từ đó đưa ra nhận xét, khuyến nghị đề xuất, các đóng góp của luận văn và kết luận về mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên TTCKVN

Trang 22

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN

CỨU TRƯỚC 2.1 Giới thiệu

Giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán thay đổi liên tục và điều này có thể xảy ra nhiều lần trong một ngày đối với một số cổ phiếu, có nghĩa là giá cổ phiếu đang được điều chỉnh bởi lực lượng cung và cầu Không có hệ thống nào chứng minh được

sự chuyển động chính xác của giá cổ phiếu Tuy nhiên, các yếu tố làm tăng hoặc giảm

có thể bao gồm các yếu tố cơ bản của công ty, các yếu tố bên ngoài và hành vi thị trường Để tìm hiểu xem yếu tố nào ảnh hưởng đến giá chứng khoán thì trong chương

2 này tác giả sẽ sơ lược tổng quan các công trình nghiên cứu và cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán đồng thời nêu những vấn đề còn tồn tại; chỉ ra những vấn đề mà đề tài cần tập trung nghiên cứu, giải quyết

2.2 Cơ sở lý luận về giá cổ phiếu và các yếu tố tác động

2.2.1 Giá cổ phiếu

Giá cổ phiếu của công ty niêm yết gồm có: mệnh giá cổ phiếu, giá trị sổ sách

và giá trị thị trường của cổ phiếu

Mệnh giá (giá trị danh nghĩa) là giá trị mà công ty cổ phần ấn định cho một cổ

phiếu và được ghi trên cổ phiếu Mệnh giá cổ phiếu thường được sử dụng để ghi sổ sách kế toán của doanh nghiệp Mệnh giá cổ phiếu không có giá trị thực tế đối với NĐT khi đã đầu tư, nên nó không liên quan đến giá thị trường của cổ phiếu đó Mệnh giá cổ phiếu chỉ có ý nghĩa quan trọng vào thời điểm doanh nghiệp phát hành cổ phiếu thường lần đầu huy động vốn thành lập doanh nghiệp Mệnh giá thể hiện số tiến tối

thiểu doanh nghiệp phải nhận được trên mỗi cổ phiếu mà doanh nghiệp phát hành ra

Mệnh giá cổ phiếu là quy ước của mỗi sở giao dịch chứng khoán ở mỗi một thị trường, làm cơ sở để tính giá trị vốn cổ phần và cổ tức bằng tiền mặt trên mỗi cổ

Trang 23

phiếu Ngoài vai trò làm cơ sở tính giá cổ phần và tính cổ tức thì mệnh giá cổ phiếu không có giá trị thực tế đối với NĐT chứng khoán Bởi vì khi tham gia đầu tư vào cổ phiếu, NĐT thường quan tâm đến giá trị thị trường của cổ phiếu

Giá trị sổ sách của cổ phiếu thường là giá trị của cổ phiếu được xác định dựa

trên cơ sở số liệu sổ sách kế toán của doanh nghiệp

Trường hợp doanh nghiệp chi phát hành cổ phiếu thường thì giá trị sổ sách của một cổ phiếu thường được xác định bằng cách lấy vốn chủ sở hữu hoặc tổng giá trị tài sản thuần của công ty chia cho tổng số cổ phiếu thướng đang lưu hành

Trong trường hợp công ty phát hành cả cổ phiếu ưu đãi, thì phải lấy tổng giá trị tài sản thuần trừ đi phần giá trị thuộc cổ phiếu ưu đãi rồi mới chia cho số cổ phiếu thường đang lưu hành

Phần giá trị của cổ phiếu ưu đãi được tính theo mệnh giá hoặc giá mua lại tùy thuộc loại cổ phiếu ưu đãi doanh nghiệp phát hành và cộng với phần cổ tức doanh nghiệp còn khất lại chưa trả cho cổ đông ưu đãi trong các kỳ trước đó (nếu có) Việc xem xét giá trị sổ sách, cho phép cổ đông thấy được số giá trị tăng thêm của cổ phiếu thường sau một thời gian doanh nghiệp hoạt động so với vốn góp ban đầu

Giá trị thị trường: Giá trị thị trường hay còn gọi là giá thị trường (thị giá)

Thực tế, giá thị trường của cổ phiếu không phải do doanh nghiệp ấn định và cũng không do người nào khác quyết định, mà giá thị trường của cổ phiếu được xác định bởi giá thống nhất mà người bán sẵn sàng bán và giá cao nhất mà người mua sẵn sàng mua

Giá thị trường của cổ phiếu của cổ phiếu được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường Giá trị thị trường cổ phiếu của một doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều yếu tố như thông tin về bản thân doanh nghiệp, thông tin về ngành và thông tin về nền kinh tế vĩ mô, do vậy nó thường xuyên biến động

Trang 24

Đối với doanh nghiệp niêm yết, thị giá cổ phiếu có ý nghĩa quan trọng nó phản ánh tình hình hoạt động của chính doanh nghiệp đó và có ý nghĩa trong việc khẳng định vị thế và quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp khi có thị giá cao, và ngược lại

Bên cạnh đó, thị giá cổ phiếu cao cũng giúp cho doanh nghiệp dễ dàng huy động vốn hơn trên thị trường chứng khoán so với các doanh nghiệp có thị giá thấp

Đối với nhà đầu tư: thị giá là cơ sở để đánh giá và so sánh doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Thị giá ảnh hưởng trực tiếp tới các chỉ số cơ bản trong việc đánh giá doanh nghiệp và ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của NĐT

2.2.2 Các mô hình định giá cổ phiếu

Thông qua lý thuyết về giá cổ phiếu, đối với doanh nghiệp và NĐT thì giá trị thị trường của cổ phiếu được quan tâm hơn Vì mỗi một doanh nghiệp là một chủ thể riêng biệt, có một đặc điểm và cấu trúc khác nhau, hơn nữa tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi quốc gia, mỗi khu vực, cũng như tuỳ thuộc vào ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp và trình độ của đội ngũ chuyên viên định giá mà người ta có thể chọn và sử dụng các mô hình định giá khác nhau sao cho phù hợp Có hai mô hình hay được sử dụng đó là mô hình chiết khấu cổ tức, mô hình chiết khấu dòng tiền để làm cơ sở lý thuyết căn bản cùng với việc tập trung vào giá trị của các cổ phiếu

2.2.2.1 Mô hình chiết khấu cổ tức (dividend discount model-DDM)

Khi định giá cổ phiếu theo phương pháp tiếp cận trực tiếp thì giá bán cổ phiếu xác định bằng cách chiết khấu các dòng tiền trong tương lai mà người mua kỳ vọng nhận được trong thời gian họ nắm giữ cổ phiếu Do vậy, giả sử thị trường vốn hiệu quả thì giá trị hiện tại của cổ phiếu Po được tính bằng cách chiết khấu các dòng tiền cổ tức trong tương lai theo công thức sau:

(2.1)

Trang 25

Trong đó, Eo là giá trị kỳ vọng của biến số liên quan tại thời điểm 0; là tiền thanh toán cổ tức, là chi phí cơ hội của dòng tiền tại thời điểm t Nhược điểm của công thức (2.1) này là mang nặng tính lý thuyết, khó có thể áp dụng vào thực tiễn vì cần phải ước tính dòng tiền cổ tức và tỷ lệ chiết khấu cho từng giai đoạn Do đó, các nghiên cứu thực nghiệm và các ứng dụng trong thực tế thường giả thuyết công ty có tỷ

lệ tăng trưởng cổ tức và tỷ suất chiết khấu là cố định Khi đó, giá cổ phiếu được tính bằng công thức sau :

(2.2)

Theo Walker (1997) điều kiện áp dụng công thức (2.2) đó là giả thuyết rằng các công

ty có tỷ lệ tăng trưởng là cố định và tỷ lệ tăng trưởng g nhỏ hơn tỷ suất chiết khấu r Đây cũng là nhược điểm của công thức (2.2)

Để khắc phục nhược điểm trên, Damadaran (1996) đã định giá cổ phiếu mà không cần dựa trên giả định công ty có tỷ lệ tăng trưởng cố định vĩnh viễn bằng cách chia tuổi thọ công ty thành hai hoặc ba giai đoạn với tỷ lệ tăng trường khác nhau Bằng cách này việc định giá cổ phiếu của Damadaran có tính thực tiễn cao hơn Tuy nhiên với cách làm này vẫn có nhược điểm là việc ước tính cổ tức mà một công ty sẽ trả cho các cổ đông trong tương lai là rất khó xác định vì công ty có nhiều cơ hội đẩy mạnh tỷ

lệ tăng trưởng cao nhưng có thể không trả cổ tức cho các cổ đông

Ưu điểm của mô hình chiết khấu cổ tức là mô hình đầu tiên tiếp cận trực tiếp các khoản thu nhập dưới hình thức lợi tức cổ phần và phù hợp với quan điểm nhìn nhận và đánh giá giá trị doanh nghiệp của các NĐT thiểu số Nhưng nhược điểm của mô hình

chiết khấu cổ tức là chỉ có thể áp dụng trong trường hợp công ty có trả cổ tức Trong

trường hợp công ty giữ lại toàn bộ lợi nhuận cho tái đầu tư và không trả cổ tức cho cổ đông, có nghĩa là khi cổ tức bằng 0, mô hình sẽ không thể định giá chính xác giá trị nội tại của cổ phiếu, việc dự báo lợi ích cổ phần không phải dễ dàng và bên cạnh đó

còn phụ thuộc vào chính sách phân chia lợi tức cổ phần trong tương lai

Trang 26

2.2.2.2 Mô hình chiết khấu dòng tiền (Discounted Cash Flows Model-DCF)

Bên cạnh định giá cổ phiếu bằng phương pháp chiết khấu cổ tức thì phương pháp chiết khấu dòng tiền được khá nhiều người ủng hộ và thậm chí phương pháp này còn được giới phân tích tài chính ưa dùng hơn vì mô hình DCF có thể ứng dụng rộng rãi trong nhiều loại quyết định tài chính công ty, đặc biệt là quyết định đầu tư Dựa trên cơ sở khái niệm chiết khấu tiền tệ, mô hình chiết khấu dòng tiền được xây dựng như là một công cụ phân tích căn bản theo Modigliani và Miller (1958) Dòng tiền là một chuỗi các khoản thu hoặc chi xảy ra qua một số thời đoạn nào đó Giá trị hiện tại hay gọi tắt là hiện giá là giá trị của một số tiền hay một dòng tiền được quy về thời điểm hiện tại bằng cách nhân giá trị của nó với thừa số chiết khấu Mô hình được xây dựng dựa trên nền tảng của khái niệm thời giá tiền tệ và quan hệ giữa lợi nhuận và rủi

ro Mô hình DCF có thể biểu diễn dưới dạng biểu thức toán học như sau:

(2.3) CF(1 n) = dòng tiền kỳ vọng sẽ có được trong tương lai

r = suất chiết khấu dùng để chiết khấu dòng tiền về hiện giá, n là số thời đoạn của thời

kỳ hoạch định

Về mặt lý thuyết thì đây thực sự là một phương pháp khá tuyệt vời, tuy nhiên trên thực tế, chúng ta có thể gặp vài khó khăn khi dùng phương pháp chiết khấu dòng tiền để định giá cổ phiếu Các vấn đề thường gặp với phương pháp chiết khấu dòng tiền: Yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố quan trọng nhất trong việc dùng mô hình chiết khấu dòng tiền để định giá cổ phần chính là ước đoán chuỗi các kế hoạch tạo ra dòng tiền hoạt động cho doanh nghiệp Có rất nhiều rủi ro tiềm ẩn đối với thu nhập và dòng tiền được dự báo Đó chính là nguyên nhân gặp vấn đề khi sử dụng phương pháp DCF Dễ thấy nhất là tính không chắc chắn của các dự án về dòng tiền tăng lên qua từng năm dự báo trong khi mô hình DCF thường phải sử dụng từ 5 đến 10 năm để có được một dự đoán có giá trị Các nhà phân tích có thể dự báo khá chính xác dòng tiền hoạt động trong năm nay và năm sau nhưng cũng không thể có đủ khả năng để dự báo

Trang 27

chính xác cho những năm xa hơn của tương lai Thu nhập và dòng tiền có thể bị giảm một cách nhanh chóng bởi vì các yếu tố bất ngờ nào đó Ngoài việc ước lượng dòng tiền như vừa trình bày, để có thể ứng dụng được mô hình DCF còn phải ước lượng được suất chiết khấu r làm cơ sở để xác định hiện giá của dòng tiền Suất chiết khấu r

ở đây chính là tỷ suất lợi nhuận mà nhà đầu tư đòi hỏi khi đầu tư vào tài sản hoặc dự

án mà chúng ta đang xem xét Về lý thuyết, có ba cách ước lượng suất chiết khấu r bao gồm:

• Sử dụng mô hình định giá tài sản vốn

• Sử dụng mô hình tăng trưởng cổ tức

• Sử dụng tỷ suất lợi nhuận phi rủi ro cộng thêm phần bù rủi ro của dự án

Trong ba cách này, cách thứ nhất và cách thứ hai cho phép xác định r chính xác hơn cách thứ ba, nhưng lại không thể áp dụng trong điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển (Nguyễn Minh Kiều, 2007) Vì thế, thực tế ít khi cách thứ nhất và thứ hai được áp dụng mà thay vào đó là sử dụng lãi suất ngân hàng làm suất chiết khấu

Sự thay thế này vô tình bỏ qua việc xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro, một mối quan hệ quan trọng trong nền tảng lý luận căn bản của tài chính công ty Mâu thuẫn lớn khi ước lượng suất chiết khấu trên thực tế là những phương pháp có cơ sở khoa học thì không đủ điều kiện áp dụng ở Việt Nam, trong khi những phương pháp

có thể áp dụng thì lại thiếu cơ sở khoa học Để dung hoà và giải quyết mâu thuẩn này thì có thể sử dụng cách thứ ba, tức là ước lượng suất chiết khấu bằng cách sử dụng tỷ suất lợi nhuận phi rủi ro có gia tăng thêm phần bù rủi ro xét cụ thể cho từng loại tài sản hay dự án Cách này rõ ràng là có xem xét đến quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro Mặt khác, nó khả thi vì trên thực tế chúng ta có thể sử dụng lãi suất tín phiếu kho bạc, được xác định thông qua đấu thầu, như là tỷ suất lợi nhuận phi rủi ro làm căn cứ xác định suất chiết khấu r Vấn đề còn lại là dựa vào kinh nghiệm của nhà quản lý để ước lượng phần bù rủi ro thích hợp cho từng loại tài sản hoặc dự án

Bên cạnh đó vấn đề lớn nhất đối với giả định về tỷ lệ tăng trưởng chính là khi chúng được sử dụng như một giả định về tốc độ tăng trưởng liên tục Giả định rằng

Trang 28

một doanh nghiệp có thể giữ mức tăng trưởng liên tục là một giả định rất lý thuyết Các nhà phân tích đã tranh luận rằng tất cả các công ty lớn mạnh đang hoạt động với mức tăng trưởng liên tục như giả định sẽ có khuynh hướng chỉ đạt ở mức tăng trưởng chung của nền kinh tế trong dài hạn Và để ứng dụng mô hình chiết khấu dòng tiền thì điều cốt lõi là thu thập thông tin đầy đủ và chính xác để có thể ước lượng được dòng tiền và suất chiết khấu trước khi nhập dữ liệu vào mô hình tính toán

2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá chứng khoán

Sự định giá nói chung là việc các nhà đầu tư xác định giá trị kinh tế hay giá trị thực của một tài sản, được xác định tương đương với giá trị hiện tại của những luồng tiền trong tương lai dự tính thu được từ tài sản đó Những luồng tiền này được chiết khấu trở lại hiện tại bằng việc sử dụng tỷ lệ lợi tức yêu cầu của NĐT Định giá cổ phiếu cũng không nằm ngoài qua điểm chung này, cụ thể hơn thì tài sản mà chúng ta nói ở trên đây chính là cổ phiếu của một doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Vì vậy phương pháp định giá theo mô hình chiết khấu cổ tức và mô hình chiết khấu dòng tiền DCF đều được xây dựng dựa trên một nguyên lý cơ bản đó

Mục đích chính của hầu hết các doanh nghiệp niêm yết là tạo ra sự giàu có cho các cổ đông và các doanh nghiệp này có những chính sách khác nhau trong việc phân phối lợi nhuận nhưng nếu họ thất bại trong việc tạo ra lợi nhuận, họ dường như chắc chắn gặp khó khăn trong việc huy động vốn cần thiết để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của họ (Nguyễn Thị Khánh Phương, 2016) Do đó việc tạo ra giá trị hay lợi nhuận không chỉ quan trong đối với các NĐT mà đối với cả các nhà quản trị doanh nghiệp Giá trị tạo ra cho các cổ đông của doanh nghiệp niêm yết có thể được xác định trực tiếp từ giá cổ phiếu, tuy nhiên giá cổ phiếu luôn luôn thay đổi vì sự xuất hiện của các thông tin mới mà chúng ta có thể được hoặc không được các nhà quản lý kiểm soát Vì vậy, các nhà quản trị thường dựa một phần vào thông tin cơ bản của doanh nghiệp để giúp họ ra quyết định về đầu tư cổ phiếu

Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) là một trong những chỉ tiêu được trích dẫn thường xuyên nhất trong phân tích tài chính vì chỉ số P/E được sử dụng rộng rãi như một tiêu chuẩn so sánh cho các quyết định đầu tư (Al-tamimi.và công sự ,2007)

Trang 29

.Ngoài tập trung vào thông tin lợi nhuận kế toán ,các nghiên cứu tiếp theo nghiên cứu đến giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu , đây là thước đo bảo thủ nhất để nhà đầu tư quyết định mua cổ phiếu của doanh nghiệp theo giá trị thực của doanh nghiệp.Theo lý thuyết giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu càng cao chứng tỏ quy mô công ty càng lớn, giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu tăng khi giá cổ phiếu tăng và ngược lại ( Faris Nasif AL- Shubiri ,2010) Nghiên cứu của Pervan, M & Visic, J (2012) cho thấy tác động cùng chiều của quy mô công ty đến lợi nhuận doanh nghiệp

Bên cạnh những yếu tố nội tại ảnh hưởng đến dòng tiền thu nhập hàng năm hay định giá cổ phiếu của doanh nghiệp còn phải dựa vào những yếu tố của thị trường như: tỷ lệ tăng trưởng, giá cả, lạm phát, sự biến động của thị trường nguyên vật liệu đầu vào…đều ảnh hưởng tới kết quả định giá cổ phiếu của doanh nghiệp Đối với tác động của lạm phát và lãi suất liên quan đến giá cổ phiếu, khi tăng tỷ lệ lạm phát kỳ vọng sẽ dẫn đến các chính sách thắt chặt kinh tế điều đó sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu theo Maysami và Koh (2000) Ngoài ra, trong mô hình định giá dòng tiền mặt, sự gia tăng tỷ lệ lạm phát làm tăng tỷ lệ rủi ro danh nghĩa và tăng tỷ lệ thanh toán Theo Defina (1991) dòng chảy tiền mặt không tăng cùng với tốc độ lạm phát, và

sự gia tăng tỷ lệ chiết khấu dẫn đến giảm giá cổ phiếu Mặt khác, sự thay đổi cả lãi suất ngắn hạn và dài hạn dự kiến sẽ ảnh hưởng đến tỷ suất chiết khấu theo cùng một hướng như Mukherjee và Naka (1995) Hơn nữa, sự gia tăng tỷ lệ lãi suất làm tăng chi phí cơ hội nắm giữ tiền mặt và có khả năng dẫn đến ảnh hưởng thay thế giữa cổ phiếu

và các chứng khoán có lãi khác Maysami and Koh (2000)

Khi nền kinh tế lành mạnh giúp cho tình trạng thất nghiệp giảm xuống và lương cơ bản tăng khi các doanh nghiệp có nhu cầu lao động để đáp ứng các nền kinh

tế đang phát triển Một sự thay đổi đáng kể trong tổng sản phẩm nội địa, cho dù lên hay xuống, thường tác động mạnh đến thị trường chứng khoán và tiền tệ Một nền kinh tế xấu thường dẫn đến lợi nhuận thấp hơn cho các công ty, từ đó khiến giá cổ phiếu sụt giảm Kết quả này hoàn toàn phù hợp với bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm của Al-Tamimi và cộng sự (2007)

Trang 30

Giá dầu là một yếu tố đầu vào trong tiến trình sản xuất Một sự tăng lên trong giá dầu sẽ làm tăng chi phí sản xuất tạo áp lực lên toàn bộ giá chứng khoán Kỳ vọng

từ giá dầu còn ảnh hưởng lên thu nhập chứng khoán gián tiếp qua lãi suất chiết khấu bởi tỷ lệ lạm phát kỳ vọng và lãi suất thực kỳ vọng Theo đó, lạm phát kỳ vọng và lãi suất đều bị ảnh hưởng bởi giá dầu, đối với một quốc gia nhập khẩu dầu ròng, một gia tăng trong giá dầu sẽ tạo ra áp lực làm tăng lạm phát kỳ vọng, một tỷ lệ lạm phát kỳ vọng cao hơn sẽ làm tăng lãi suất chiết khấu, tạo ảnh hưởng nghịch biến lên thu nhập chứng khoán Khi giá dầu đã trở nên không ổn định, chiến lược năng lượng mới thường được đề nghị Trong thời kì sốt dầu, nhà đầu tư bắt đầu xem xét các khoản đầu

tư dầu, cả trực tiếp và gián tiếp, như là một cách phòng ngừa rủi ro nghịch đảo với sự chuyển biến của TTCK Nói cách khác, khi giá dầu tăng, các nhà đầu tư quan sát thấy rằng những lo lắng về kinh tế sẽ làm giá cổ phiếu rớt xuống Mặt khác, các nhà đầu tư xem việc giảm giá dầu như là có lợi cho nền kinh tế và giá chứng khoán Điều này tương đồng với nghiên cứu của Tunah (2010)

Từ những yếu tố tác động đến giá cổ phiếu tác giả tổng hợp và đưa ra khái niệm cơ bản của hai nhóm yếu tố tiêu biểu (nhóm yếu tố bên trong và nhóm yếu tố bên ngoài)

2.2.3.1 Nhóm yếu tố bên trong

Nhóm các yếu tố bên trong có ảnh hưởng trực tiếp tới giá cổ phiếu của doanh nghiệp trên nền tảng các nghiên cứu trước bao gồm: lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu, giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu, quy mô của doanh nghiệp

Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS): được xác định là tỷ suất sinh lời, đo

lường lợi nhuận thu được từ số tiền đầu tư của các cổ đông vào doanh nghiệp theo định nghĩa của Malik và Ali (2013) Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu là một trong các chỉ tiêu chứa đựng nhiều thông tin kế toán hữu ích để xác định giá cổ phiếu và được sử dụng thường xuyên nhất đối với các nhà đầu tư và có ảnh hưởng lớn đối với giá cổ phiếu doanh nghiệp Việc tính toán và trình bày EPS có thể ảnh hưởng quan trọng đến giá cổ phiếu của doanh nghiệp.EPS còn được dùng như một công cụ để đánh giá việc thực hiện của ban điều hành doanh nghiệp

Trang 31

Giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu: NAVPS được tính bằng tỷ số giữa giá trị

tài sản ròng của quỹ (hoặc công ty) với tổng số chứng chỉ quỹ hay cổ phiếu đã phát hành Giá trị tài sản thuần NAV bao gồm: Vốn cổ đông (vốn điều lệ), vốn hình thành

từ lợi nhuận để lại, vốn chênh lệch do phát hành cổ phiếu ra công chúng cao hơn mệnh giá và các quỹ dự trữ phát triển dự phòng Hoặc NAV còn được tính bằng cách lấy tổng tài sản trừ cho bất cứ tài sản vô hình nào, trừ tất cả nợ và chứng khoán, trái

phiếu có quyền ưu tiên

Trên báo cáo tài chính của các công ty đại chúng, NAVPS thường được nhắc tới như giá trị sổ sách với mỗ cổ phiếu và thường thấp hơn giá thị trường của mỗi cổ phiếu Nguyên tắc hạch toán chi phí lịch sử có xu hướng xác định thấp giá trị của tài sản Các lực lượng cung cầu trên thị trường chứng khoán có xu hướng đẩy giá chứng

cổ phiếu cao hơn giá trị ghi sổ

Quy mô doanh nghiệp biểu hiện ở quy mô tài sản và nguồn nhân lực hay đó là

tổng giá trị tài sản, vốn chủ sở hữu hoặc số lượng lao động hiện hành Theo nghiên cứu của R Zeitun và G G Tian (2007) chỉ ra rằng quy mô của doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dẫn tới tác động đến giá cổ phiếu doanh nghiệp

2.2.3.2 Nhóm các yếu tố bên ngoài

Nhóm các yếu tố bên ngoài tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đánh giá thông qua :tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng GDP, lãi suất ,giá dầu thế giới,

- Tỷ lệ lạm phát: là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương

đối của giá hàng tiêu dùng theo thời gian Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối vì chỉ số này chỉ dựa vào một giỏ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá và sự thay đổi của mức giá chính là lạm phát (một chỉ tiêu khác để phản ánh mức giá chung là chỉ số giảm phát tổng sản phẩm trong nước hay chỉ số điều chỉnh GDP) Lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác Thông

Trang 32

thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm

vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô Ngược lại với lạm phát là giảm phát Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự "ổn định giá cả" Đo lường lạm phát thông qua chỉ số CPI:

đo giá cả các hàng hóa hay được mua bởi "người tiêu dùng thông thường" một cách có lựa chọn Trong nhiều quốc gia công nghiệp, những sự thay đổi theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này là con số lạm phát thông thường hay được nhắc tới

- Tỷ lệ tăng trưởng GDP: Tỷ tăng trưởng GDP trong nghiên cứu này đo lường

bằng tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product), đây là một trong những chỉ số chính được sử dụng để đánh giá sức khỏe của nền kinh tế của một quốc gia Nó đại diện cho tổng giá trị đồng đô la của tất cả các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong một thời gian cụ thể Mọi người có thể xem nó như là thước đo kích cỡ của nền kinh

tế Cần nắm rõ tầm quan trọng của chỉ số kinh tế GDP này vì nó ảnh hưởng hầu như toàn chính sách của một quốc gia về lãi suất, tiền tệ, kinh tế Ví dụ, khi nền kinh tế lành mạnh giúp cho tình trạng thất nghiệp giảm xuống và lương cơ bản tăng khi các doanh nghiệp có nhu cầu lao động để đáp ứng các nền kinh tế đang phát triển Một sự thay đổi đáng kể trong GDP, cho dù lên hay xuống, thường tác động mạnh đến thị trường chứng khoán và tiền tệ Một nền kinh tế xấu thường dẫn đến lợi nhuận thấp hơn cho các công ty, từ đó khiến giá cổ phiếu sụt giảm Hoặc một nền kinh tế suy thoái khiến lạm phát thấp làm cho các ngân hàng trung ương sẽ phải điều chỉnh các chính sách về lãi suất để thúc đẩy quốc gia phát triển trở lại Các nhà đầu tư thường thực sự lo lắng về tăng trưởng GDP âm, vì đây là dấu hiệu của một nền kinh tế đang suy thoái Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế (GDP) là một trong các yếu tố vĩ mô có tác động mạnh mẽ tới hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Một nền kinh tế tăng trưởng bền vững là môi trường lý tưởng mà hầu hết doanh nghiệp nào cũng mong muốn (Hoàng Thị Thắm, 2015)

Lãi suất: Là giá cả của tín dụng, vì nó là giá của quyền được sử dụng vốn vay

trong một khoảng thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người cho vay;

Trang 33

là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu Trên tầm

vĩ mô, lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô rất có hiệu quả của chính phủ thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất định, làm ảnh hướng đến nền kinh tế của 1 quốc gia Trên tầm vi mô, lãi suất là cơ sở để cho cá nhân cũng như doanh nghiệp đưa ra các quyết định của mình như chi tiêu hay để dành gửi tiết kiệm, đầu tư, mua sắm trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh hay cho vay hoặc gửi tiền vào ngân hàng

Giá dầu thế giới: Chúng ta thấy rằng dầu là một trong những nguyên liệu chính

cho tất cả các hoạt động kinh tế Một sự tăng lên trong giá dầu sẽ làm tăng chi phí sản xuất tạo áp lực lên toàn bộ giá chứng khoán Giá dầu thay đổi có tác dụng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp vận tải, vì chi phí nguyên vật liệu chiếm 30 -35% tổng chi phí nên khi tăng giá dầu tăng có thể là nguyên nhân làm tăng chi phí, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận cho các doanh nghiệp vận tải kéo theo sự tăng lên giá nguyên liệu đầu vào của các ngành khác (Tống Trang Châu,2012)

2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu

Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu được tìm thấy trong các nghiên cứu thực nghiệm đã công bố bao gồm các yếu tố vĩ mô và yếu tố cơ bản liên quan đến tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của các công ty Do không thể liệt kê tất cả các nghiên cứu có liên quan nên trong phần này tác giả chỉ liệt kê một vài nghiên cứu tiêu biểu làm cơ sở cho nghiên cứu của mình (Bảng 2.1 và bảng 2.2)

2.3.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới

Đầu tiên là các nghiên cứu chỉ ra rằng lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) có mối quan hệ với giá cổ phiếu Kế thừa khung lý thuyết của các học giả đi trước và các

nghiên cứu thực nghiệm đo lường mối quan hệ giữa lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS)

và giá cổ phiếu, Al-Qenae và ctv (2002) kiểm tra sự liên quan giữa giá trị của thông

Trang 34

tin kế toán như lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu và lợi tức thu nhập của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại thị trường chứng khoán Kuwait từ năm 1981 đến năm 1997 cho thấy EPS là yếu tố có tác động mạnh và cùng chiều đến giá của các cổ phiếu Al-Tamimi và cộng sự (2007) đã sử dụng dữ liệu giá của 17 cổ phiếu thu thập trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2005 trên thị trường chứng khoán UAE cũng cho kết quả tương tự

Tuy nhiên các nghiên cứu tiếp theo đã chỉ ra rằng nếu như những nghiên cứu ban đầu tập chung chủ yếu vào thông tin lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu thì những năm sau đó các nghiên cứu bắt đầu tập trung vào tác động của yếu tố giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu (NAVPS) Faris Nasif AL- Shubiri (2010) đã tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và hai thông tin quan trọng là giữa EPS, NAVPS của các ngân hàng khu vực công được niêm yết trên sàn chứng khoán Bombay Dựa trên

dữ liệu thứ cấp, mô hình tác động cố định và mô hình tác động ngẫu nhiên được sử dụng để kiểm tra tính phù hợp của thông tin kế toán đối với giá cổ phiếu ngân hàng khu vực công Kết quả cũng cho thấy lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu và giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu có mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa thống kê với giá cổ phiếu Một nghiên cứu khác với 129 doanh nghiệp được lựa chọn từ 6 ngành chính được liệt kê trong CSE được sử dụng bởi Pathirawasam, C (2010) kiểm tra sự phù hợp về giá trị của EPS, NAVPS thì cho kết quả là cả 2 biến kế toán này đều có mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa thống kê với giá cổ phiếu Uddin và cộng sự (2013) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến giá của các cổ phiếu thuộc ngành tài chính ở Bangladesh Số liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính của

67 doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Dhaka trong giai đoạn từ

2005 đến 2011 cũng cho kết quả tương tự Hay nghiên cứu của Mial và cộng sự (2012) cũng cho thấy rằng EPS và NAVPS có tác động đáng kể…

Tiếp theo là nghiên cứu tác động của quy mô doanh nghiệp (SIZE) đến giá cổ phiếu Theo nghiên cứu của R Zeitun và G G Tian (2007) chỉ ra rằng quy mô của

doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dẫn tới tác động đến giá cổ phiếu doanh nghiệp.Hay nghiên cứu ảnh hưởng của các chỉ tiêu tài chính công ty và các yếu tố vĩ mô đến giá của các cổ phiếu niêm yết trên TTCK

Trang 35

Karachi (Pakistan) ở Bangladesh của Mehr-un-Nisa và Nishat (2012),nghiên cứu sử dụng dữ liệu thu thập từ báo cáo tài chính của 67 công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Dhaka trong giai đoạn từ 2005 đến 2011 cũng cho kết quả tương tự Nghiên cứu của tác giả Abdullah Al Masum (2014) số liệu sơ cấp được thu thập từ 55 NĐT có liên quan đến DN bằng cách sử dụng các câu hỏi cấu trúc cũng đã chỉ ra tác động của các yếu tố vi mô đến giá cổ phiếu như tính thanh khoản, lợi nhuận, quy mô của các công ty, và cổ tức ảnh hưởng tới giá cổ phiếu Qua những nghiên cứu trên cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, quy mô càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động càng có hiệu quả

Vì vậy chỉ số SIZE được tác giả đưa vào mô hình nghiên cứu

Qua quá trình nghiên cứu, các học giả đã nhận định rằng EPS và NAVPS kết hợp với nhau sẽ có giá trị hơn khi các thông tin đó đứng một mình.Bên cạnh đó yếu tố quy mô doanh nghiệp cũng là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vận tải từ đó NĐT sẽ có cơ sở quyết định đầu tư vào cổ phiếu của doanh nghiệp đó hay không Vì vậy kết luận EPS, NAVPS,SIZE là chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến giá cổ phiếu

Tiếp theo là nghiên cứu các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, trước tiên là yếu tố về tỷ lệ lạm phát Theo nghiên cứu của Leeb và Conrad (1996) đã thống

kê tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ tăng trưởng của TTCK Mỹ trong giai đoạn từ năm 1929 đến năm 1981 và nêu mối liên hệ: “Lạm phát tăng cao luôn là kẻ thù của thị trường cổ phiếu” Al-Qenae và cộng sự (2002) đã có một đóng góp quan trọng bằng cách thu thập điều tra hiệu quả của các biến số kinh tế vĩ mô lên giá cổ phiếu của tập đoàn Kuwait trong thời gian 1981-1997 Nghiên cứu cho kết quả cả lạm phát và lãi suất đều ngược chiều và có ý nghĩa thống kê trong hầu hết các trường hợp với giá cổ phiếu Điều này có thể sẽ làm cho giá chứng khoán giảm mạnh do một đợt thoát khỏi thị trường như nhận định của nhà nghiên cứu Faris Nasif AL- Shubiri (2010) cũng cho thấy giá của mỗi cổ phiếu cho có mối quan hệ ngược chiều với lạm phát và lãi suất cho vay nhưng không phải luôn luôn đáng kể vào những năm 2005, 2006 tại thị

Trang 36

trường Chứng khoán Amman ở Jordan Những phát hiện của bài báo này có ý nghĩa quan trọng đối với các nước đang phát triển

Nghiên cứu của Zhao (1999) ở thị trường chứng khoán Trung Quốc lại cho kết quả lạm phát tương quan dương với thị trường chứng khoán nhưng có ý nghĩa thống

kê thấp, không phản ánh chính xác tác động thực sự của yếu tố lạm phát đến TTCK Bên cạnh đó một cái nhìn khác trong nghiên cứu của Gjerde và Saettem (1999) cho thấy không có mối quan hệ nào giữa giá cổ phiếu và tỷ lệ lạm phát Khi lạm phát gia tăng, nhà đầu tư tin rằng lợi nhuận của cổ phiếu đem lại cho họ có thể bù đắp lạm phát, khiến cho thu nhập của họ không thay đổi khi có lạm phát xảy ra điều này dẫn tới giá cổ phiếu vẫn như cũ khi có lạm phát diễn ra Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát

và giá chứng khoán có thể dương hoặc âm tùy thuộc vào khoảng thời gian nghiên cứu còn cụ thể mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát với giá cổ phiếu là âm hay dương thì vấn

đề cần được giải quyết trong nghiên cứu này

Bên cạnh biến tỷ lệ lạm phát thì biến lãi suất cũng là một trong những biến quan trọng liên quan đến giá cổ phiếu Nghiên cứu của Al-Tamimi và ctv (2007)

(2009) cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa lãi suất và giá cổ phiếu ở TTCK Kuwait.Liu và Shrestha (2008) kiểm định mối quan hệ giữa giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Trung Quốc với các yếu tố vĩ mô, bao gồm giá trị sản xuất công nghiệp, tỷ giá, tỷ lệ lạm phát, cung tiền và lãi suất Nghiên cứu này sử dụng số liệu thứ cấp cho tất cả các biến số trong giai đoạn từ 01/1992 đến 12/2001 và kiểm định đồng kết hợp (cointegration test), các tác giả đã tìm thấy mối tương quan thuận giữa giá cổ phiếu với giá trị sản xuất công nghiệp và cung tiền và mối tương quan nghịch giữa giá

cổ phiếu với tỷ lệ lạm phát, lãi suất và tỷ giá

Aurangzeb (2012) xác định các yếu tố ảnh hưởng đến giá của các cổ phiếu trên

ba thị trường chứng khoán ở khu vực Nam Á, đó là Pakistan, Ấn độ và Sri Lanka Số liệu sử dụng cho nghiên cứu này được thu thập cho giai đoạn từ 1997 đến 2010 Kết quả phân tích hồi quy cho thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tỷ giá hối đoái có tương quan thuận, trong khi đó lãi suất lại có tương quan nghịch với giá của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán ở khu vực Nam Á Ngoài ra, kết quả

Trang 37

nghiên cứu còn cho thấy lạm phát có tương quan nghịch với giá của các cổ phiếu nhưng lại không có ý nghĩa về mặt thống kê Trong nghiên cứu này tác giả đưa biến INT vào mô hình và kỳ vọng yếu tố này sẽ có mối quan hệ ngược chiều với giá cổ phiếu

Tiếp theo là nghiên cứu tác động biến động tỷ lệ tăng trưởng (GDP) đến giá chứng khoán Theo nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện bởi Ralph và Eriki (2001)

trên thị trường chứng khoán Nigeria nghiên cứu cho thấy rằng giá cổ phiếu cũng được thúc đẩy bởi hoạt động kinh tế được đo bằng GDP, lãi suất, chứng khoán và tài chính Mehr-un-Nisa và Nishat (2012) nghiên cứu ảnh hưởng của các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp và các yếu tố vĩ mô đến giá của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Karachi (Pakistan) Sử dụng phương pháp GMM (Generalized Method of Moments) trên dữ liệu của 221 doanh nghiệp trong giai đoạn 1995-2006, khi tăng trưởng GDP tăng lên 1% thì giá cổ phiếu sẽ tăng 0.870 điểm điều này có nghĩa GDP tác động cùng chiều và rất mạnh mẽ lên giá cổ phiếu Tác động của tăng trưởng GDP làm tăng thu nhập, tiết kiệm và đầu tư ở Pakistan Tiếp theo, Al-Tamimi và cộng sự (2007) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến giá của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán UAE (United Arab Emirates) Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu giá của 17 cổ phiếu được thu thập trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2005 Các yếu

tố cung tiền và GDP cũng có tương quan thuận với giá của các cổ phiếu nhưng lại không có ý nghĩa về mặt thống kê

Eita (2012) nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến giá của các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Namibia Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu thời gian với tần suất quý của giá cổ phiếu, cung tiền, lạm phát, tỷ lệ tăng trưởng GDP, lãi suất

và tỷ giá trong giai đoạn 1998 – 2009 Thống nhất với kết quả của các nghiên cứu trước đó, nghiên cứu này chỉ ra các yếu tố GDP, tỷ giá và cung tiền có mối tương quan thuận với giá của các cổ phiếu Trong nghiên cứu này tác giả đưa biến GDP vào

mô hình với kỳ vọng tác động cùng chiều với giá chứng khoán của các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên TTCKVN

Trang 38

Cuối cùng là nghiên cứu tác động biến động giá dầu thế giới đến giá chứng khoán Theo như kết quả nghiên cứu về chỉ số chứng khoán Châu Á Thái Bình Dương

(MSCI) của Tunah (2010) cho thấy giá dầu có những biến động khá tương đồng đối với giá chứng khoán, kết quả này cũng giống với kết luận trong nghiên cứu của Husainey và le (2009) Nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện bởi Ralph và Eriki (2001) trên thị trường chứng khoán Nigeria cho thấy sự biến động giá dầu không có ảnh hưởng đáng kể đến giá cổ phiếu Trong nghiên cứu này tác giả đưa biến giá dầu thế giới (OIL) vào mô hình và kỳ vọng yếu tố này sẽ có mối quan hệ ngược chiều với giá chứng khoán

Như vậy thì tỷ lệ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, giá dầu thế giới, lãi suất cũng

là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến giá cổ phiếu Vì vậy trong luận văn này tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm trên ngành vận tải để xem xét yếu tố tỷ lệ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, giá dầu thế giới, lãi suất có tác động như thế nào đối với giá cổ phiếu của các doanh nghiệp vận tải trên TTCKVN

Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trước ở nước ngoài

Mô hình Tác giả Các biến sử

Cú sốc giá dầu ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm phát (chỉ có ở thị trường Mỹ US); Giá dầu ảnh hưởng tích cực đến GDP ở Norway

ARIMA Al-Qenae và

ctv (2002)

EPS, Tổng sản phẩm quốc dân (GNP), Lãi suất

và lạm phát

1981-1997

Kết quả nghiên cứu cho thấy giá cổ phiếu

có tương quan thuận với biến EPS và GNP nhưng lại có tương quan nghịch với các biến lãi suất và lạm phát

FEM Al-Tamimi

và ctv (2007)

EPS, cung tiền

và GDP, chỉ số giá tiêu dùng và lãi

và cùng chiều với giá cổ phiếu Các nhân

tố cung tiền và GDP cũng có tương quan thuận với giá cổ phiếu nhưng lại không có

ý nghĩa về mặt thống kê Ngoài ra nghiên cứu này còn chỉ ra rằng chỉ số giá tiêu dùng và lãi suất có tương quan nghịch với giá của các cổ phiếu (có ý nghĩa thống kê),OIL cũng tác động đáng kể trong 1

số năm,DPS bị loại khỏi mô hình vì đa cộng tuyến với EPS

Generali Mehr-un- Cấu trúc vốn,tỷ 2005- Kết quả có mối tương quan thuận giữa giá

Trang 39

sách,EPS,quy

mô công ty, tốc

độ tăng trưởng GDP, cung tiền , độ sâu tài chính, lãi suất

và tỷ lệ lạm phát

2010 cổ phiếu với cấu trúc vốn, tỷ số giá trị thị

trường trên giá trị sổ sách, EPS và quy

mô công ty,tốc độ tăng trưởng GDP, cung tiền và độ sâu tài chính, ngược lại giá cổ phiếu có tương quan nghịch với lãi suất

2005-2011

EPS ,giá trị tài sản ròng NAV , lợi nhuận trước thuế, tỷ số P/E (giá thị trường trên lợi nhuận) có tương quan thuận với giá cổ phiếu

OLS Tsoukalas(20

03)

Giá trị sản xuất công nghiệp, cpi,cung tiền và

tỷ giá hối đoái

1975-1998

Kết quả nghiên cứu cho thấy giá của cổ phiếu niêm yết trên TTCK Cyprus có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố vĩ mô được chọn nghiên cứu

01/199212/2001

Kết quả cho thấy mối tương quan thuận giữa giá cổ phiếu với giá trị sản xuất công nghiệp và cung tiền , mối tương quan nghịch với tỷ lệ lạm phát, lãi suất và tỷ giá

VAR Eita(2012)

Cung tiền, lạm phát,GDP,lãi suất và tỷ giá

1998-2009

Nghiên cứu này chỉ ra rằng giá của các cổ phiếu tương quan nghịch với lãi suất và lạm phát Ngược lại, các nhân tố GDP ,

Tỷ giá và cung tiền có mối tương quan thuận với giá của các cổ phiếu

VAR Aurangzeb(2

012)

Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI,

Tỷ giá hối đoái, lãi suất,lạm phát

2005-2008

Kết quả tìm thấy mối tương quan dương giữa giá cổ phiếu và NAVPS,tỷ lệ tăng trưởng GDP, EPS và mối tương quan âm với tỷ lệ lạm phát và lãi suất nhưng trong một vài năm ở thị trường ck amman lại không có ý nghĩa thống kê

1993-2009

Kết quả nghiên cứu cho thấy lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu,cổ tức trên mỗi cổ phiếu và giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu

có ảnh hưởng lớn đến giá thị trường của

cô phiếu

Trang 40

trên mỗi cổ phiếu,tỷ suất cổ tức,

OLS Ralph và

Eriki (2001)

Tổng sản phẩm quốc nội, giá tiêu dùng, cung tiền, Lãi suất,

đo bằng GDP, lãi suất Mặt khác, những phát hiện của nghiên cứu cho thấy sự biến động giá dầu không có ảnh hưởng đáng

kể đến giá cổ phiếu

VAR Zhao (1999)

Lạm phát, đầu

ra (công nghiệp Sản xuất)

1/1993 3/1998

Kết quả cho thấy một Và mối quan hệ tiêu cực giữa giá chứng khoán và lạm phát Các phát hiện cũng chỉ ra rằng Tăng trưởng sản lượng tiêu cực và ảnh hưởng đáng kể đến giá cổ phiếu

và Giá tiêu dùng phản ánh các chính sách kinh tế vĩ mô được thực hiện bằng tiền tệ Síp và Cơ quan tài chính

Mỹ và New Zealand Ảnh hưởng đáng kể tới phong trào hồi hương của Úc

và mức giá trong nước, cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận Kết quả cho thấy chỉ số Thị trường chứng khoán UAE đại diện cho đất nước có liên kết cao nhất tiếp theo cùng với Bahrain sau thị trường Saudi Arabia

(nguồn : tổng hợp của tác giả)

Ngày đăng: 17/10/2018, 23:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w