Trong những năm qua, vốn tín dụng và chất lượng tín dụng không chỉ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Huyện Đức Thọ mà còn tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh d
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN VĂN NGUYÊN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM,
CHI NHÁNH HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN VĂN NGUYÊN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM,
CHI NHÁNH HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Quyết định giao đề tài: 678/QĐ-ĐHNT ngày 30/8/2016
Quyết định thành lập hội đồng: 1275 QĐ/ĐHNT, ngày 06/12/2017 Ngày bảo vệ: 20/12/2017
Người hướng dẫn khoa học:
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài: “Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là
trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin và kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tôi tự tìm hiểu, đúc kết và phân tích một cách trung thực, phù hợp với tình hình thực tế Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đã được cảm ơn đầy đủ
Khánh Hòa, ngày 10 tháng 7 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Nguyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợp với kinh nghiệm trong quá trình thực tiễn công tác, với sự cố gắng nỗ lực của bản thân Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới quý thầy giáo, cô giáo, Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học Trường Đại học Nha Trang, các đồng chí đồng nghiệp và bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ cho tôi Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Thành Cường là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Lãnh đạo Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam, Chi nhánh huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn cũng như trong công tác
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn bên cạnh động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, cô giáo, đồng nghiệp
và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn
Thay lời cảm ơn, kính chúc quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc và thành công trong cuộc sống
Xin chân thành cảm ơn!
Khánh Hòa, ngày 10 tháng 7 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Nguyên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1 Cơ sở lý thuyết vê tín dụng tại ngân hàng thương mại 6
1.1.1 Khái niệm tín dụng 6
1.1.2 Khái niệm tín dụng ngân hàng 6
1.1.3 Bản chất của tín dụng ngân hàng 7
1.1.4 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường 8
1.1.5 Các hình thức tín dụng của Ngân hàng thương mại 11
1.2 chất lượng tín dụng Ngân Hàng Thương Mại 13
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng ngân hàng 13
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng của các NHTM 16
1.2.3 Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng tín dụng 17
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng 19
1.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng 23
Tóm lược Chương 1 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HUYỆN ĐỨC THỌ TỈNH HÀ TĨNH 28
2.1 Tổng quan về ngân hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Đức Thọ Tỉnh Hà Tĩnh 28
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NHNo&PTNT Huyện Đức Thọ 28
Trang 62.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của NHNo&PTNT- CN Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh 29
2.1.3 Các sản phẩm, dịch vụ chủ yếu của NHNo&PTNT- CN Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh 30
2.1.4 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý 34
2.1.5 Tình hình hoạt động của NHNo&PTNT- CN Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh 36
2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng NHNo&PTNT chi nhánh Huyện Đức Thọ, Tỉnh Hà Tĩnh 37
2.2.1 Công tác huy động vốn 38
2.2.2 Tình hình sử dụng vốn 43
2.2.3 Chất lượng tín dụng 46
2.3 PHÂN TÍCH CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG 50
2.3.1 Vốn huy động trên tổng nguồn vốn 50
2.3.2 Vốn huy động theo thời hạn trên tổng vốn huy động: 52
2.3.3 Tổng dư nợ trên tổng nguồn vốn 52
2.3.4 Tổng dư nợ trên vốn huy động 53
2.3.5 Dư nợ ngắn (trung, dài) hạn trên tổng dư nợ 53
2.3.6 Hệ số thu nợ (doanh số thu nợ trên doanh số cho vay) 54
2.3.7 Vòng quay vốn tín dụng 55
2.3.8 Nợ xấu trên tổng dư nợ (NX/TDN) 55
2.4 Đánh giá về chất lượng tín dụng tại NHNo&PTNT tỉnh hà tĩnh 56
2.4.1 Kết quả khảo sát khách hàng về chất lượng tín dụng tại NHNo& PTNT - CN Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh 56
2.4.2 Kết quả đạt được 58
2.4.3 Hạn chế và nguyên nhân 62
Tóm lược Chương 2 69
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HUYỆN ĐỨC THỌ, HÀ TĨNH 70
3.1 Đinh hướng chất lượng tín dụng Ngân Hàng Nông Thôn Việt Nam – Chi Nhánh Huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh 70
Trang 73.1.1 Chủ trương phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt
Nam đối với Chi nhánh tỉnh Hà Tĩnh 70
3.1.2 Định hướng đầu tư tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hà Tĩnh 71
3.2 Mục tiêu của Ngân Hàng Nông Thôn Việt Nam – Chi Nhánh Huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh 72
3.3 Giải pháp tín dụng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân Hàng Nông Thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Đức Thọ, Tỉnh Hà Tĩnh 72
3.3.1 Tăng cường năng lực tài chính của NHNo&PTNT- CN Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh 74
3.3.2 Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHNo& PTNT- CN Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh 75
3.3.3 Một số giải pháp mở rộng quy mô hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT- CN Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh 79
3.3.4 Hoàn thiện hệ thống đảm bảo chất lượng tín dụng 81
3.3.5 Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng theo thông lệ quốc tế 84
3.3.6 Xây dựng hệ thống thông tin tín dụng 87
3.3.7 Xây dựng chính sách đầu tư nguồn lực cho ngân hàng phù hợp với xu thế hội nhập 88
3.4 Kiến nghị đối với chính phủ - Ngân hàng nhà nước 94
3.4.1 Hoàn thiện hệ thống pháp lý và thị trường tài chính ổn định cho hoạt động của doanh nghiệp 94
3.4.2 Hoàn thiện hệ thống pháp lý trong quản lý nợ xấu và cơ chế phối hợp trong xử lý nợ xấu của ngân hàng 96
3.4.3 NHNN cần ban hành các quy định an toàn trong hoạt động đối với NHTM 96
TÓM LƯỢC CHƯƠNG 3 97
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Huy động nguồn vốn tại tỉnh Hà Tĩnh qua các năm 39
Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn 2014 – 2016 của NHNo&PTNT- CN Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh 43
Bảng 2.3: Tổng hợp tình hình sử dụng vốn NHNo&PTNT- CN Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh qua các năm 44
Bảng 2.4: Tình hình dư nợ của NHNo&PTNT- CN Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh qua các năm 46
Bảng 2.5: Tình hình nợ xấu của NHNo&PTNT- CN Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh 48
Bảng 2.6: Chỉ số tài chính của Ngân hàng trong 3 năm 2014 – 2016 51
Bảng 2.7: Bảng khảo sát ý kiến khách hàng về chất lượng của kênh phân phối 56
Bảng 2.8: Bảng khảo sát ý kiến khách hàng về mức độ đa dạng 57
của sản phẩm 57
Bảng 2.9: Bảng kết quả khảo sát khách hàng cá nhân về tính minh bạch,ổn định trong chính sách cho vay cá nhân 58
Bảng 2.10: Tổng hợp hoạt động kinh doanh của các TCTD trên địa bàn 61
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tình hình huy động vốn NHNo&PTNT Hà Tĩnh qua các năm 40
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nguồn vốn nội tệ theo thời gian 41
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu nguồn vốn nội tệ theo thành phần kinh tế 42
Biểu đồ 2.4: Tình hình sử dụng vốn qua các năm 45
Biểu đồ 2.5: Tỷ trọng dư nợ phân theo thời gian 47
Biểu đồ 2.6: Tỷ trọng nợ xấu nhóm 3, 4 và 5 qua các năm 49
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Trong nền kinh tế thị trường, trước những thời cơ và thách thức trong quá trình hội nhập, các Ngân hàng thương mại nói chung và NHNo&PTNT, chi nhánh huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh nói riêng, muốn tồn tại và phát triển thì điều tất yếu phải đảm bảo an toàn vốn, kinh doanh hiệu quả Có nghĩa là không ngừng tăng trưởng nguồn vốn và mở rộng đầu tư, thực hiện tốt các sản phẩm dịch vụ kinh doanh Ngân hàng Nhận thức được tầm quan trọng của hiệu quả vốn đầu tư, việc tìm ra những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của NHNo&PTNT, chi nhánh huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh chính là việc xác định hướng đi, cách làm mới nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn, phù hợp với sự phát triển khách quan của nền kinh tế địa phương
Trên cơ sở sử dụng hệ thống hóa những lý luận cơ bản về tín dụng Ngân hàng
và chất lượng tín dụng, từ sự phân tích những nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, từ đó NHNo&PTNT, chi nhánh huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh phải có biện pháp quản lý và nâng cao chất lượng tín dụng để góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngân hàng có hiệu quả Đồng thời thông qua việc đánh giá, phân tích thực trạng hoạt động tín dụng, chất lượng tín dụng của NHNo&PTNT-
CN Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh để thấy được những mặt tồn tại, những nguyên nhân chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
Kết quả phân tích cho thấy chất lượng tín dụng tuy đã có nhiều tiến bộ song chất lượng đầu tư vốn là vấn đề đòi hỏi chúng ta đặc biệt quan tâm, hiệu quả SXKD của khách hàng chưa thực sự bền vững còn chịu ảnh hưởng chi phối nhiều từ nhân tố khách quan Dư nợ trên cân đối chưa phản ánh đúng thực chất lượng tín dụng vì vậy rủi ro trong đầu tư cho vay vốn thường trực và là vấn đề chúng ta quan tâm Hiện tượng đảo nợ còn diễn ra nhiều Nợ kỳ hạn nhỏ, lãi đến hạn không trả kịp thời phải chuyển quá hạn Song đã sử dụng nguồn vốn vay nóng để tất toán hơp đồng tín dụng sau đó vay lại Tình trạng này để che giấu chất lượng đầu tư, sai lệch khả năng thanh toán của khách hàng, vi phạm qui chế cho vay làm giảm tác dụng biện pháp quản lý đối với các bộ tín dụng với đơn vị Chính vì đó tạo nên vòng quay vốn tín dụng tăng nhanh không bình thường Qua đó đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng tín dụng để góp phần đưa hoạt động kinh doanh ngày càng có hiệu quả
Từ khóa: Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Đức Thọ Hà Tĩnh
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với quá trình phát triển và đổi mới của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam cũng đang có những thay đổi sâu sắc Với vai trò to lớn của mình, trong những năm vừa qua đã đóng góp tích cực vào sự phát triển, ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Đức Thọ là một trong những huyện thuần nông của tỉnh Hà Tĩnh, công nghiệp hầu như không có, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển manh mún, tập trung ở một số tụ điểm dân cư như trung tâm huyện, xã và ven các trục đường chính Trong những năm qua, vốn tín dụng và chất lượng tín dụng không chỉ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Huyện Đức Thọ mà còn tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn trên địa bàn
Bên cạnh những thành quả đạt được, hoạt động ngân hàng còn tiềm ẩn nhiều rủi
ro do đặc thù ngành Đặc biệt là hoạt động tín dụng, đồng thời với việc tạo ra khoảng 80% thu nhập cho ngân hàng, nó cũng là lĩnh vực chứa nhiều rủi ro nhất Tổn thất do những hoạt động ngân hàng thường rất lớn, làm thất thoát vốn của nền kinh tế, làm mất khả năng thanh toán của ngân hàng, thậm chí có thể dẫn tới phá sản Chính vì vậy, đồng thời với việc mở rộng tín dụng, ngân hàng luôn luôn phải chú trọng đến vấn đề đảm bảo an toàn tín dụng và không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng không chỉ là mối quan tâm của các nhà quản trị ngân hàng
mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội vì đây là tín hiệu tổng hợp, vừa phản ánh trình
độ hoàn thiện của pháp luật theo cơ chế thị trường trong quản lý kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng, vừa phản ánh sự lớn mạnh và những điều còn bất cập trong quản lý và điều hành ngân hàng Làm thế nào để nâng cao chất lượng tín dụng luôn được đặt lên vị trí hàng đầu trong quản trị ngân hàng Để góp phần trả lời câu hỏi
trên, và mong muốn bày tỏ ý kiến của mình, tôi đã chọn đề tài “Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh” làm đề tài nghiên cứu
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu
Trong những năm trở lại đây đã có khá nhiều bài viết, tài liệu nghiên cứu về
vấn đề chất lượng tín dụng tại các tổ chức tài chính, ngân hàng Có một số công trình
nghiên cứu liên quan đến đề tài như sau:
Trang 13Luận án “Những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Việt Nam”, của Trần Thị Hồng Hạnh (1996) Đóng góp của luận án đã làm rõ thêm về CLTD và phân tích thực trạng tình hoạt động TD nói chung, chất lượng hoạt động TD nói riêng và cơ chế quản lý chất lượng hoạt động TD của các NHTM ở nước ta từ 2010 - 2015 Trên cơ sở phân tích những vấn đề còn tồn tại từ đó kiến nghị các biện pháp khả thi nhằm đổi mới cơ chế quản lý hoạt động TD Tuy nhiên, luận án đã nghiên cứu thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM thuộc
sở hữu nhà nước cách đây hơn 20 năm; trong giai đoạn hoạt động tín dụng ngân hàng chưa có luật NHNN, luật các tổ chức tín dụng, chưa cổ phần hóa các NHTM NN và chưa trong quá trình hội nhập quốc tế
Luận án, “Các giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng của ngân hàng thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Trầm Thị Xuân Hương (2004) -
tại trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đã xây dựng các hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả TD thông qua thực trạng TD của NHTM trong tiến trình hội nhập quốc tế; phân tích những tồn tại của TD do những nguyên nhân khách quan và chủ quan đã làm giảm khả năng cạnh tranh của NHTM trong khi hội nhập quốc tế diễn
ra với tốc độ ngày càng nhanh và từ đó đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả TD của NHTM
Luận án “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam”, Nguyễn Hữu Huấn (2005)- tại Học
Viện Ngân hàng Luận án của tác giả nghiên cứu làm rõ quan niệm chất lượng hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nội dung đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh của NHTM trên ba phương diện: khách hàng của ngân hàng; ngân hàng thương mại và kinh tế - xã hội và các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh ở hai mặt định tính và định lượng Trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng hoạt động kinh doanh của NHNo& PTNT VN, từ đò đề xuất các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của NHNo& PTNT VN
Luận văn “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM Nhà nước Việt Nam hiện nay” của tác giả Phạm Thị Bích Lương đã hoàn thành năm 2007 tại
trường Đại học Kinh tế quốc dân Tác giá đã hệ thống vấn đề lý thuyết cơ bản về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Trên cơ sở đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMNN Việt Nam giai đoạn 2000 - 2005 theo các chỉ tiêu
Trang 14phản ánh hiệu quả Từ đó, tác giả đã đề xuất giải pháp có tính đột phá như: xây dựng tập đoàn tài chính trên việc hợp nhất các NHTMNN, cổ phần hóa triệt để các NHTMNN; giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các NHTMNN nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTMNN Việt Nam cho giai đoạn
từ 2005 đến 2010
Luận văn “Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoài quốc doanh Việt Nam” của NCS
Nguyễn Tiền Phong hoàn thành năm 2008 Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng, đối với các doanh nghiệp vừa nhỏ tại NHTM; phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng đối với DN vừa và nhỏ tại NHTM cổ phần ngoài quốc doanh Việt Nam; tác giả đã đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHTM CP ngoài quốc doanh Việt Nam
Luận văn “Hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh Nghệ An”,
Lâm Quân (2014), Đại học Kinh tế, Đại học Quốc Gia Hà Nội Với đề tài này, tác giả
đã đề cập những ưu điểm và tồn tại trong các chính sách tín dụng đối với người nghèo tại NHCSXH tỉnh Nghệ An, qua đó đưa ra giải pháp khắc phục hạn chế và nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại ngân hàng
Trên cơ sở tiếp cận và kế thừa các đề tài nghiên cứu của các tác giả đã nghiên cứu trong nước trước đây, tác giả làm cơ sở để nghiên cứu hệ thống lý luận về CLTD tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
3 Mục tiêu nghiên cứu
4 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam, chi Nhánh Huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua như thế nào?
Trang 15 Các giải pháp nào có thể góp phần nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam, chi Nhánh Huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn chất lượng hoạt động tín dụng của
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam, chi nhánh Huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông Thôn Việt Nam, chi nhánh Huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn
2014-2016 và đề xuất những giải pháp trong những năm tới
6 Phương pháp nghiên cứu
(ii) Phương pháp thống kê và phân tích tổng hợp để giải thích, làm rõ lý luận và thực trạng công tác nâng cao CLTD tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam, chi nhánh Huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh một cách khách quan, khoa học
(iii) Phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng và phương pháp phân tích
dữ liệu: dùng Excel để liệt kê, tổng hợp, lựa chọn, so sánh thông tin để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến xếp hạng CLTD
* Dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu phân tích đánh giá bao gồm: Dữ liệu thứ
cấp và sơ cấp Dữ liệu thứ cấp bao gồm các báo cáo kết quả tài chính của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam, chi nhánh Huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2014 – 2016 Dữ liệu sơ cấp thu thập được thông qua tiếp cận điều tra chọn mẫu lấy ý kiến khách hàng có vay vốn phản hồi về tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam, chi Nhánh Huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh,
cụ thể là điều tra 240 hộ vay vốn tại địa bàn 6 xã (Đức La, Trường Sơn, Tùng Ảnh,
Trang 16Đức An, Liên Minh, Đức Châu), mỗi xã điều tra 2 xóm và mỗi xóm là một mẫu (gồm10 khách hàng) Việc điều tra này chỉ nhằm phục vụ việc đánh giá một cách định tính, lấy thông tin phản hồi từ phía khách hàng về chất lượng khoản tín dụng và các dịch vụ do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam, chi Nhánh Huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh cung cấp
7 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở, tài liệu tham khảo cho các nhà quản
lý, lãnh đạo ngân hàng đưa ra phương hướng để phát huy thế mạnh, khắc phục điểm yếu còn tồn tại để giải quyết những khó khăn, trở ngại nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam, chi Nhánh Huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về chất lượng tín dụng ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông Thôn Việt Nam Chi Nhánh Huyện Đức Thọ Tỉnh Hà Tĩnh
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam Chi Nhánh Huyện Đức Thọ Tỉnh Hà Tĩnh
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÊ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1.1 Khái niệm tín dụng
Tín dụng ( Credit) xuất phát từ chữ la tinh Credo (tin tưởng, tín nhiệm), có thể
hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy theo góc độ ngiên cứu Bản chất của tín dụng là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định, là quan
hệ tạm thời chuyển quyền sủ dụng vốn, là quan hệ bình đẳng và hai bên cùng có lợi
Theo điều 20 Luật tín dụng quy định “ Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng”
Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính , bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác
Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng nói chung
Đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong việc vay và cho vay giữa các ngân hàng, các tổ chức, cá nhân, được thực hiện dưới hình thức tiền tệ và theo nguyên tắc hoàn trả vốn gốc và lãi
Khi xem xét tín dụng như một chức năng cơ bản của Ngân hàng thì tín dụng được
hiểu như sau “Tín dụng là một giao dịch về tài sản ( tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (thường là Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (doanh ngiệp, cá nhân và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
1.1.2 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Thuật ngữ tín dụng được xuất phát từ chữ La tinh: Credittum - tức là tin tưởng, tín nhiệm; dựa trên sự tin tưởng tín nhiệm Trong thực tế, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tuỳ vào góc độ nghiên cứu Xét trên một quan hệ tài chính
cụ thể thì tín dụng là một phạm trù kinh tế hàng hoá, có quá trình ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá
Theo góc độ nghiên cứu của đề tài thì tín dụng là một phạm trù kinh tế tài chính ngân hàng thì tín dụng chỉ mối quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn và lãi giữa người đi vay và người cho vay sau một thời gian nhất định
Trang 18Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất xã hội mà nhu cầu về vốn trọng mọi lĩnh vực đều rất lớn, cũng như lượng tiền nhàn rỗi không ngừng gia tăng Trong điều kiện đó, tín dụng thương mại đã không thể giải quyết được mọi hiện tượng thừa thiếu vốn phát sinh do chênh lệch về thời gian, số lượng giữa các khoản thu nhập và chi tiêu của tất cả các tổ chức, cá nhân trong quá trình tái sản xuất đòi hỏi phải được tiến hành một cách liên tục Nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết của nền kinh tế, ngân hàng đã ra đời với tư cách là một tổ chức tài chính trung gian kinh doanh tiền tệ và trở thành những tổ chức cho vay lớn nhất đối với nền kinh tế
Theo đó, tín dụng ngân hàng là một hình thức phát triển cao của tín dụng, và được định nghĩa như sau:
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay
Như vậy, tín dụng ngân hàng là một hình thức của tín dụng, theo thời gian quan
hệ tín dụng được biểu hiện qua các phương thức rất đa dạng và phong phú, nhưng nó phản ánh những đặc trưng sau:
Tín dụng thể hiện mối quan hệ chuyển nhượng vốn giữa bên vay và cho vay mang tính tạm thời và có quy định thời gian rõ ràng
Mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay dựa trên sự tin tưởng
Chủ sở hữu vốn được nhận lại một phần thu nhập dưới dạng lợi tức tín dụng
1.1.3 Bản chất của tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng mang bản chất chung của tín dụng vì TDNH là một hình thức của tín dụng Bản chất của tín dụng được thể hiện qua các giai đoạn của quá trình vận động và mối quan hệ của nó trong quá trình tái sản xuất:
Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay: Giai đoạn này vốn tiền tệ từ trung gian tài chính là các ngân hàng được chuyển sang người vay
Sử dụng vốn: Người đi vay sau khi nhận được quyền sử dụng lượng giá trị đó
sẽ sử dụng cho các mục đích khác nhau như tiêu dùng hay sản xuất Tuy nhiên tiền tệ
là một loại hàng hóa đặc biệt, do đó người đi vay chỉ có quyền sử dụng tạm thời trong một khoảng thời gian nhất định chứ không có quyền sở hữu nó
Trang 19Hoàn trả tín dụng: Đây là giai đoạn kết thúc để hoàn thành một chu trình quay vòng vốn, vốn tín dụng lại quay trở lại hình thức tín dụng ban đầu để có thêm phần giá trị tăng thêm, người vay phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng
Như vậy, hoàn trả là bản chất của tín dụng nói chung cũng như của TDNH nói riêng Hoàn trả tín dụng là sự quay trở về của giá trị Hoàn trả phải luôn được bảo tồn về mặt giá trị và có phần tăng thêm dưới hình thức lợi tức
1.1.4 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
1.1.4.1 Vai trò của tín dụng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Tín dụng là một trong các chức năng cơ bản của Ngân hàng thương mại (NHTM), là nghiệp vụ chủ yếu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, mang lại 80-90% thu nhập của mỗi ngân hàng, quyết định hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Đối với hoạt động của NHTM, tín dụng là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản và nguồn thu của Ngân hàng
Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thực thi các chính sách tiền tệ của nhà nước: Một trong những đặc điểm quan trọng của NHTM là khả năng tạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán Khi Nhà nước muốn tăng khối lượng tiền cung ứng thì Ngân hàng Nhà nước có thể tăng hạn mức tín dụng của các NHTM đối với nền kinh tế và ngược lại Do vậy thông qua hoạt động tín dụng Ngân hàng Nhà nước có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông
Mặt khác, để thực hiện mối quan hệ kinh tế giữa các tổ chức kinh tế với nhau, cũng như mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các tổ chức kinh tế thì các tổ chức kinh tế phải mở tài khoản tại ngân hàng Việc mở tài khoản tại ngân hàng tạo khả năng củng cố và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt
1.1.4.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế thị trường
Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển: Với chức năng là tổ chức tài chính trung gian, ngân hàng sẽ thu hút
và huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ các chủ thể khác của nền kinh tế đang nằm phân tán như: Ở các doanh nghiệp, Chính phủ hay các cá nhân tức là đã làm tăng hiệu quả đồng vốn nhàn rỗi Khi có đồng vốn trong tay thì ngân hàng phải tìm cách đem đầu tư
và để an toàn và phát triển vốn thì ngân hàng sẽ đầu tư vào những nơi có hiệu quả kinh
Trang 20tế cao có thể thu hồi được vốn điều này làm cho hiệu quả của đồng vốn ngày cao tạo điều kiện cho các ngành kinh tế phát triển
Tín dụng ngân hàng góp phần cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách thường xuyên liên tục: Để hoạt động SXKD diễn ra một cách thường xuyên liên tục, các doanh nghiệp ngoài lượng vốn mà mình có ra thì doanh nghiệp cần có những nguồn vốn khác để bổ sung cho quá trình SXKD của mình Vấn đề thiếu vốn tạm thời thường xuyên ở các doanh nghiệp và ngân hàng với chức năng trung gian tài chính của mình sẽ đáp ứng một cách nhanh nhất, kịp thời nhất nhu cầu thiếu vốn của các doanh nghiệp Đáp ứng nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp ngân hàng đã góp phần tích cực cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục
Tín dụng ngân hàng phục vụ sự phát triển của nền kinh tế nói chung và các đơn
vị kinh tế nói riêng: Thực hiện chức năng phân phối lại (cho vay ngắn hạn, trung hạn
và dài hạn) tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho các đơn vị kinh tế dự trữ vật tư, hàng hoá, thoả mãn những chi phí trong quá trình sản xuất cũng như lưu thông, tăng thêm giá trị tài sản cố định, tài sản lưu động mà đơn vị đã sử dụng Do vậy, tín dụng góp phần tăng nhanh tốc độ chu chuyển vật tư, hàng hoá trong nền kinh tế, rút ngắn thời gian lưu thông, giảm bởt chi phí, tạo điều kiện nâng cao lợi nhuận Qua các chức năng của mình, tín dụng ngân hàng tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của các ngành kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, văn hoá nghệ thuật bởi hoạt động tín dụng thoả mãn nhu cầu về vốn nhằm giúp đỡ các ngành nghề thực hiện thuận lợi nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, tăng cường quản lý, sử dụng có hiệu quả lao động, vật
tư, tiền vốn, cơ sở vật chất, kỹ thuật sẵn có, qua đó củng cố chế độ hạch toán kinh tế
Tín dụng ngân hàng làm tăng hiệu quả các phương án, dự án đầu tư kinh tế: Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thường xuyên cần đến nguồn vốn phục
vụ cho các phương án, dự án đầu tư của doanh nghiệp mình Vốn kinh doanh là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa quyết định đến quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngoài gồm: vốn vay ngân hàng và các tổ chức kinh tế khác, vốn liên doanh liên kết, vốn huy động từ phát hành trái phiếu, nợ người cung cấp và các khoản nợ khác Trong đó, tín dụng nh tếngân hàng là một trong những nguồn vốn tối ưu mà doanh nghiệp có thể khai thác
Để có thể vay vốn được từ ngân hàng thì các doanh nghiệp cần phải nâng cao uy tín của mình đối với ngân hàng, đảm bảo được các nguyên tắc tín dụng Muốn vậy,
Trang 21phương án, dự án đầu tư của doanh nghiệp phải mang tính khả thi và hiệu quả trong các dự án kinh doanh của mình, doanh nghiệp phải lựa chọn dự án có mức sinh lãi cao nhất Để các dự án khả thi và hiệu quả, doanh nghiệp phải tìm hiểu thị trường, khai thác thông tin, xem xét các kế hoạch tổ chức thực hiện, môi trường pháp lý của dự án, cũng như lựa chọn dự án có mức sinh lời cao nhất Điều đó làm tăng tính khả thi và hiệu quả kinh tế của dự án, phương án đầu tư
Tăng hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp: Quan hệ tín dụng là một quan hệ kinh tế dựa trên nguyên tắc hoàn trả nên ngân hàng phải xây dựng quy trình tín dụng chặt chẽ để nguyên tắc hoàn trả được đảm bảo, ngân hàng không bị mất vốn ban đầu Thuộc một trong những khâu căn bản của quy trình tín dụng ngân hàng là giám sát tín dụng Theo đó, cán bộ tín dụng kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế của khách hàng một cách thường xuyên, toàn diện và chặt chẽ trong suốt quá trình đơn vị kinh tế sử dụng vốn Từ đó, phản ánh tổng hợp và nhạy bén quá trình thực hiện các kế hoạch kinh tế, qua đó phát hiện những hiện tượng đầu tư tín dụng không đúng đối tượng, không có trọng điểm, gây lãng phí vốn Với việc giám sát này của ngân hàng, bắt buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn vay đúng mục đích, phải nhạy bén với những thay đổi của thị trường, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Bên cạnh đó, vai trò tư vấn của cán bộ tín dụng sẽ giúp cho doanh nghiệp lường trước được những thách thức, vượt qua khó khăn để đứng vững, điều này cũng góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế
Tạo cơ chế phân phối vốn một cách có hiệu quả: Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp luôn có sự không ăn khớp về thời gian và khối lượng giữa lượng tiền cần thiết để dự trữ vật tư hàng hoá cho quá trình sản xuất kinh doanh trước đó Vì vậy, luân chuyển tiền tệ của doanh nghiệp
có lúc thừa, có lúc thiếu vốn Nguồn vốn doanh nghiệp tạm thời nhàn rỗi cùng với các nguồn tiết kiệm từ dân cư, nguồn kết dư từ ngân sách được NHTM huy động và sử dụng để đầu tư cho các doanh nghiệp đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm thời vượt quá thu nhập của dân chúng, cũng như cho nhu cầu chi của ngân sách nhà nước khi chưa có nguồn thu Từ đó, góp phần vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế tạo cơ chế phân phối vốn một cách có hiệu quả Mặt khác, thông qua cơ chế sàng lọc của NHTM, chỉ cho vay các dự án có tính khả thi, hiệu quả cao, khả năng thu hồi vốn lớn cũng tạo nên một
cơ chế phân phối vốn hiệu quả
Trang 22Tín dụng ngân hàng góp phần cơ cấu lại nền kinh tế: Trong nền kinh tế thường tồn tại các ngành có trạng thái phát triển đối lập nhau, một số ngành do có điều kiện thuận lợi và có lịch sử lâu dài có thể phát triển tốt với nhiều thế mạnh và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, ngược lại một số ngành do nhiều nguyên nhân khác nhau nên kém phát triển Trong chiến lược phát triển kinh tế lâu dài, các quốc gia đã thực hiện phân loại ngành kinh tế để có kế hoạch đầu tư nhằm cân đối lại cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ Muốn thực hiện được kế hoạch đó cần phải có vốn đầu
tư và tín dụng ngân hàng trở thành công cụ để Nhà nước tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn hoặc các ngành kinh tế kém phát triển thông qua chính sách vay vốn ưu đãi,
từ đó thúc đẩy các ngành kinh tế cùng phát triển, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho việc phát triển quan hệ kinh tế quốc tế: Trước xu thế quốc tế hoá, các nước đều thực hiện nền kinh tế mở, sự giao lưu kinh tế giữa các nước trở thành nhu cầu tất yếu Trong nền kinh tế mở thì các doanh nghiệp không chỉ có quan hệ mua bán với các thành phần khác trong nền kinh tế mà còn có những quan hệ xuất nhập khẩu với các doanh nghiệp nước ngoài Ngân hàng thương mại có thể thúc đẩy mối quan hệ này thông qua hình thức bảo lãnh, cho vay đối với các doanh nghiệp để từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên trường quốc tế Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng là một phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau thông qua hoạt động đầu tư vốn xuyên quốc gia
Tín dụng ngân hàng có vai trò điều tiết vĩ mô: Hạn mức tín dụng là một trong những công cụ hết sức quan trọng của chính sách tiền tệ quốc gia để NHNN (một cơ quan của chính phủ) điều tiết nền kinh tế Thông qua việc tác động đến lãi suất, lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu… chính phủ sẽ tác động đến đầu tư, đến tổng sản phẩm quốc dân, đến tổng cầu theo định hướng của chính phủ, tạo điều kiện cho chính phủ điều tiết sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, phát triển nền kinh tế một cách cân đối hài hoà
Như vậy, tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế xã hội của một đất nước, nó thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng theo hướng ổn định và phát triển
1.1.5 Các hình thức tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.5.1 Theo mục đích vay vốn của khách hàng
Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng ra làm hai loại:
Tín dụng cho sản xuất và lưu thông hàng hóa: Đây là hoạt động cấp tín dụng cho các đơn vị kinh doanh để tiến hành sản xuất, lưu thông hàng hóa; bao gồm những
Trang 23loại hình như cho vay bất động sản, cho vay nông nghiệp, cho vay công nghiệp và thương mại, thuê mua… Nguồn trả nợ của hình thức này là kết quả từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Tín dụng tiêu dùng: Là hoạt động cấp tín dụng cho các cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, xe cộ, các loại hàng hóa lâu bền như máy giặt, điều hòa, tủ lạnh,… Nguồn trả nợ là thu nhập trong tương lai của người đi vay
1.1.5.2 Theo loại tiền vay
Hiện nay ngân hàng TMCP đang áp dụng cho vay theo 2 hình thức tiền vay: Tiền mặt : Là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho khách hàng bằng đồng tiền của quốc gia, với Việt Nam là tiền VND Nước ta quy định, cho vay để thanh toán trong nước thì chỉ được vay bằng VND
Ngoại tệ: Là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho khách hàng bằng đồng ngoại tệ Theo quy định cho vay bằng ngoại tệ, các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động ngoại tệ được cho vay bằng ngoại tệ đối với khách hàng vay là người cư trú
1.1.5.3 Theo tài sản bảo đảm tiền vay
Tín dụng có bảo đảm: là hình thức tín dụng dựa trên cơ sở ngân hàng nắm giữ các tài sản thuộc sở hữu trực tiếp của người đi vay hoặc thuộc sở hữu của người bảo lãnh Các hình thức bảo đảm thường gặp là: thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh Mục đích của việc này là khi có sự vi phạm hợp đồng tín dụng, ngân hàng có quyền xử lý các tài sản đó để thu hồi tiền cho vay Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn Các tài sản bảo đảm ở đây thường là các bất động sản, động sản thuộc quyền sở hữu của bên
đi vay, được phép giao dịch, không có tranh chấp và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật
Tín dụng không bảo đảm: là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của người thứ ba, việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng Ngân hàng không nắm giữ một loại tài sản nào của người vay để thanh lý nhằm thu hồi khoản vay khi có vi phạm hợp đồng mà thay vào đó là những điều kiện như: phương
án kinh doanh được ngân hàng đánh giá có tính khả thi, có khả năng đem lại lợi nhuận cao; doanh nghiệp phải kinh doanh có lãi trong ba năm liền kề thời điểm vay vốn
Trang 24Khách hàng là những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả, khi đó ngân hàng dựa vào uy tín của khách hàng mà không cần nguồn thu nợ bổ sung
Tín dụng có đảm bảo tuy mức độ rủi ro ít hơn nhưng các khoản nợ không có gì đảm bảo sẽ mang lại hiệu quả cao hơn nếu thu hồi đúng hạn cả gốc và lãi vì lãi suất của loại hình tín dụng này thường cao hơn, đồng thời nó cũng thể hiện uy tín, tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng quản lý của người vay tốt Về phía ngân hàng, điều đó cũng chứng tỏ ngân hàng có khả năng trong việc nhận định, đánh gía tình hình khách hàng cũng như khả năng quản lý, giám sát hoạt động tín dụng Do đó, cho vay có đảm bảo là cần thiết nhưng không nên lấy đó làm mục tiêu chính của hoạt động tín dụng
1.1.5.4 Theo thời hạn sử dụng vốn vay
Phân loại tín dụng theo thời hạn có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng
Tín dụng ngắn hạn: những khoản cho vay có kỳ hạn tối đa đến 12 tháng, để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp và phục vụ các nhu cầu về sinh hoạt cá nhân Với loại tín dụng này, ít có rủi ro cho ngân hàng vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra và nếu có xảy ra thì ngân hàng có thể dự tính được
Tín dụng trung hạn: những khoản cho vay có kỳ hạn từ 12 tháng đến 60 tháng, được xác định chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có thời gian thu hồi vốn nhanh Loại tín dụng này có mức độ rủi ro không cao vì ngân hàng có khả năng dự đoán được những biến động có thể xảy ra
Tín dụng dài hạn: những khoản cho vay có kỳ hạn từ 60 tháng trở lên, được dùng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc về cơ sở hạ tầng (đường xá, bến cảng,…), cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn Loại tín dụng này có mức độ rủi ro rất lớn vì trong thời gian dài thì có những biến động xảy ra không lường trước được
1.2 CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng ngân hàng
Mọi doanh nghiệp, muốn tồn tại và phát triển lâu dài thì yếu tố chất lượng sản phẩm luôn phải được đặt hàng đầu Chính vì thế, chất lượng tín dụng là vấn đề quan trọng, sống còn đối với ngành Ngân hàng
Trang 25Theo quan điểm chung: chất lượng của một sản phẩm hay một dịch vụ đều
đư-ợc biểu hiện ở mức độ thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng và lợi ích về mặt tài chính cho người cung cấp Đối với nhành tài chính nhân hàng thì chất lượng sản phẩm hay chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng và làm thoả mãn nhu cầu vay vốn của khách hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đồng thời vừa phải đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng
Chất lượng tín dụng được hình thành và bảo đảm từ hai phía là Ngân hàng và khách hàng Bởi vậy, chất lượng hoạt động Ngân hàng không những phụ thuộc vào bản thân của Ngân hàng mà còn phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của khách hàng
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, tỷ lệ và cơ cấu tài sản đảm bảo”
Như vậy, chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng trong quan hệ tín dụng, đảm bảo an toàn hay hạn chế rủi ro về vốn, tăng lợi nhuận của ngân hàng, phù hợp và phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội Với cách định nghĩa như trên, chất lượng tín dụng ở đây sẽ được đánh giá trên ba góc độ: ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế
Nhìn từ góc độ khách hàng: Khách hàng là đối tượng sử dụng các dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tín dụng vì nó là một nguồn tài trợ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp Mục tiêu của họ là tối đa hoá giá trị tài sản của mình hay nói cụ thể hơn là tối
đa hoá giá trị sử dụng của khoản vốn vay Với khách hàng chất lượng tín dụng thể hiện
ở thủ tục cho vay đơn giản, mức vốn cung cấp được cho khách hàng, lãi suất, các loại phí phải phù hợp, thái độ và phong cách làm việc của cán bộ cho vay phải chuyên nghiệp, nhiệt tình Nếu tất cả các yếu tố này đều đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì khoản tín dụng đó được coi là có chất lượng tốt và ngược lại
Trang 26Theo quan điểm của khách hàng thì chất lượng tín dụng là: Sự thoả mãn nhu cầu về khoản tín dụng trên yếu tố như: lãi suất, quy mô, thời hạn, phương thức giải ngân, phương thức thu nợ
Dưới góc độ NHTM: Chất lượng tín dụng tạo điều kiện cho Ngân hàng làm tốt chức năng trung gian tín dụng trong nền kinh tế quốc dân (KTQD) Chất lượng tín dụng thể hiện ở khả năng thu lợi nhuận, ở khả năng thu hồi gốc, lãi đúng hạn, ở mức
độ trong phạm vi nhất định để thoả mãn một cách tốt nhất khách hàng của mình.Với tư cách là trung gian tài chính trong nền kinh tế, việc nâng cao chất lượng tín dụng là điều kiện để Ngân hàng bảo toàn và tăng cường nguồn vốn của mình và của khách hàng Nếu chất lượng tín dụng tốt, biểu hiện bằng việc áp dụng linh hoạt và hiệu quả công tác huy động vốn thì sẽ tạo được nguồn vốn phong phú, đa dạng làm cơ sở cho việc tạo ra cơ cấu tài sản Có phù hợp với cơ cấu tài sản Nợ, giúp Ngân hàng có chính sách cạnh tranh giá tốt hơn các đối thủ cạnh tranh Mặt khác, nâng cao chất lượng tín dụng là cơ sở để Ngân hàng tăng lợi nhuận cho mình vì phần lớn lợi nhuận thu được hàng năm của Ngân hàng chủ yếu được hình thành từ việc thu lãi cho vay; góp phần nâng cao năng lực kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng trong môi trường hội nhập kinh tế toàn cầu Đối với Ngân hàng, một khoản tín dụng có khả năng sinh lời cao khi khoản tín dụng đó đến hạn thanh toán và hoàn trả đầy đủ vốn gốc
Để nâng cao chất lượng tín dụng, ngoài nỗ lực của Ngân hàng đòi hỏi nền kinh
tế phải ổn định và có một cơ chế phù hợp về chính sách, chế độ, sự phối hợp nhịp nhàng có hiệu quả giữa các ngành, các cấp, tạo môi trường thuận lợi cho sự hoạt động
Trang 27của tín dụng Tín dụng có mối quan hệ mật thiết với nền kinh tế, xã hội Thiết lập một
cơ chế chính sách tín dụng đồng bộ, có hiệu quả sẽ có tác động tích cực tới mọi mặt của nền KTXH, điều đó cũng thể hiện chất lượng hoạt động tín dụng trong nền kinh tế thị trường (KTTT)
Như vậy, chất lượng tín dụng là một phạm trù rộng lớn Để có được chất lượng tín dụng thì hoạt động tín dụng phải có hiệu quả và quan hệ tín dụng phải được thiết lập trên cơ sở tin cậy và uy tín trong hoạt động Hay nói một cách khác, chất lượng tín dụng tỷ lệ thuận với hiệu quả và độ tin cậy trong hoạt động tín dụng
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng của các NHTM
Ngân hàng là ngành dịch vụ đã có lịch sử tồn tại và phát triển hàng trăm năm
Nó là ngành mang lại cho giới Ngân hàng siêu lợi nhuận song đồng thời nó cũng là ngành chịu nhiều rủi ro Một trong những rủi ro đáng sợ đối với Ngân hàng là rủi ro tín dụng và nó cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng mất khả năng thanh toán của Ngân hàng, bằng chứng là đã xảy ra những cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới Có thể nói bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng có thể lâm và tình trạng đó, vì thế vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng không chỉ đối là cần thiết đối với Ngân hàng, với khách hàng mà còn đối với toàn xã hội nữa
Về phía Ngân hàng: Ngân hàng thương mại giống như các nhà kinh doanh: bỏ vốn của mình ra và mong muốn thu được lợi nhuận và thu hồi vốn Như vậy đảm bảo chất lượng cho các khoản vay và cho vay bản thân nó đối với Ngân hàng đã là một nhu cầu cấp thiết Đặc biệt đối với các Ngân hàng thương mại ở Việt nam hiện nay không còn là cái bóng của Ngân hàng Trung Ương mà đã và đang dần trở thành một chủ thể kinh doanh độc lập, tự kiếm lợi nhuận lời ăn lỗ chịu, chịu trách nhiệm với khách hàng, với Ngân hàng Trung Ương Do vậy mà Ngân hàng không thể không cần đến sự an toàn với các khoản vay
Nền kinh tế nước ta hiện nay đang trong thời kỳ quá độ để chuyển sang một nền kinh tế thị trường Bản thân mỗi doanh nghiệp, tổ chức kinh tế chưa thoát khỏi tư tưởng bao cấp, tư duy về nền kinh tế thị trường còn nhiều hạn chế, do đó việc làm ăn của các doanh nghiệp có nguy cơ dẫn đến rủi ro là rất lớn Vì thế để nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng không chỉ là người cung cấp vốn cho các doanh nghiệp mà Ngân hàng còn phải là người hiểu rõ hơn ai hết về lĩnh vực kinh doanh của doanh
Trang 28nghiệp, có như thế thì Ngân hàng mới mở rộng được các dịch vụ của mình như dịch vụ
tư vấn giúp doanh nghiệp tránh khỏi được những rủi ro không đáng có
Như vậy, có thể thấy mục tiêu nâng cao chất lượng cho vay là điều kiện tối ưu cần thiết cho mỗi Ngân hàng, nó vừa là yếu tố không những đảm bảo cho Ngân hàng duy trì hoạt động mà còn giúp Ngân hàng phát triển Nếu đi ngược lại mục tiêu trên, Ngân hàng sẽ đi đến chỗ tự huỷ diệt chính mình
Về phía nhà đầu tư: Khách hàng của Ngân hàng có hai loại: Người gửi tiền và người vay tiền Người gửi tiền thì họ quan tâm đến khả năng thanh toán của Ngân hàng mà khả năng thanh toán của Ngân hàng lại có mối quan hệ mật thiết với chất lượng của các khoản tín dụng vì vậy đối với họ nâng cao chất lượng tín dụng là vấn đề cần thiết vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến những khoản tiền gửi của họ vào Ngân hàng Người vay tiền là người trực tiếp sử dụng giá trị sử dụng của các khoản vốn vay Ngân hàng, mà đối với họ chất lượng tín dụng chính là sự thoả mãn của họ về khoản tín dụng đó Cuối cùng phải làm sao cho khoản tín dụng đó đem lại lợi nhuận cho họ để
họ có thể trang trải chi phí và có lãi Bởi thế bản thân người vay tiền coi vấn đề chất lượng tín dụng là vấn đề cần thiết và ngày càng phải được nâng cao
Nếu xét trên quan điểm toàn xã hội thì vấn đề chất lượng tín dụng cũng là vấn
đề cần thiết Bởi một đồng vốn của Ngân hàng cho vay nó là đầu mối trong tất cả các mối quan hệ kinh tế, nếu người sử dụng vốn đó hiệu quả thì cũng đồng nghĩa với việc
nó co hiệu quả đối với Ngân hàng và xã hội bởi nó sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, đóng góp phát triển các công trình phúc lợi xã hội Hơn nữa sự xụp đổ của hệ thống Ngân hàng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế nó có thể làm cho nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái trầm trọng và sẽ ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ xã hội Do
đó vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng cũng được cả xã hội quan tâm
1.2.3 Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng tín dụng
1.2.3.1 Đối với NHTM
Đảm bảo chất lượng tín dụng đem đến lợi ích cho cả các NHTM, các doanh nghiệp nói riêng và tổng thể nền kinh tế nói chung Xét riêng về phía ngân hàng, nâng cao chất lượng tín dụng có thể đem lại một số kết quả tích cực sau:
Thứ nhất, việc nâng cao chất lượng tín dụng sẽ góp phần đảm bảo và làm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng, bởi tín dụng là nghiệp vụ mang lại doanh lợi chủ yếu cho ngân hàng
Trang 29Thứ hai, nâng cao chất lượng tín dụng đồng nghĩa với việc ngân hàng có khả năng thu hồi nợ đầy đủ và đúng hạn Nhờ đó, ngân hàng có điều kiện mở rộng khả năng cung cấp tín dụng cũng như các dịch vụ ngân hàng khác do tạo được thêm nguồn vốn từ việc tăng vòng quay vốn tín dụng
Thứ ba, nâng cao chất lượng tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng thu hút được nhiều khách hàng hơn bằng các hình thức và chất lượng của sản phẩm, dịch vụ, qua đó tạo ra một hình ảnh tốt về biểu tượng và uy tín của ngân hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường
Thứ tư, nâng cao chất lượng tín dụng cũng sẽ làm tăng khả năng sinh lợi của các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý và các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn đã cho vay
Các kết quả thu được từ việc nâng cao chất lượng tín dụng kể trên sẽ góp phần cải thiện tình hình tài chính của ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong quá trình cạnh tranh Vì vậy, việc nâng cao chất lượng tín dụng là một tất yếu khách quan
vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của bản thân các NHTM
1.2.3.2 Đối với nền kinh tế
Đảm bảo chất lượng tín dụng là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai trò trung tâm thanh toán: khi chất lượng tín dụng được đảm bảo sẽ tăng vòng quay vốn tín dụng, với một số lượng tiền như cũ có thể thực hiện số lần giao dịch lớn hơn, tạo điều kiện tiết kiệm tiền trong lưu thông và củng cố sức mua của đồng tiền
Chất lượng tín dụng tạo điều kiện cho ngân hàng làm tốt chức năng trung gian tín dụng trong nền kinh tế: Doanh nghiệp là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, góp phần điều hòa vốn trong nền kinh tế Nâng cao chất lượng tín dụng đồng nghĩa với việc giảm thiểu lãng phí vốn do không sử dụng hết lượng tiền trong lưu thông giải quyết mối quan hệ về cung cầu vốn trên thị trường, điều hòa và ổn định lưu thông tiền tệ
Chất lượng tín dụng góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế và nâng cao uy tín quốc gia: Điều này là do hoạt động tín dụng của các NHTM
có quan hệ chặt chẽ với khối lượng tiền mặt trong lưu thông, thông qua cho vay chuyển khoản thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, các NHTM có khả năng mở rộng tiền ghi sổ gấp nhiều lần so với thực tế có Đó là nhờ khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng, khối lượng tiền được mở rộng và đưa vào lưu thông có quyền thanh toán và chi trả như các phương tiện khác và có thể được chuyển thành tiền mặt-
Trang 30phương tiện lưu thông có tính lỏng cao nhất Chính bởi lẽ đó tín dụng là nơi tiềm ẩn lạm phát Đảm bảo chất lượng tín dụng tạo điều kiện cho NHTM cung cấp tổng phương tiện thanh toán phù hợp với yêu cầu của nền kinh tếtạo khả năng giảm bớt lượng tiền thừa, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ và tăng uy tín quốc gia bằng việc phát huy tác dụng của sản phẩm dịch vụ trong tương lai của các công trình đầu tư
Tín dụng là công cụ để thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội theo ngành, theo lĩnh vực, theo địa phương Bằng việc phân tích, đánh giá khả năng phát triển của các đối tượng kinh tế, khu vực kinh tế, kết hợp với nguồn tín dụng các quyết định đầu tư đúng đắn sẽ khai thác được khả năng tiềm tàng
về tài nguyên, lao động … để tăng cường năng lực sản xuất,cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Nâng cao chất lượng tín dụng là góp phần tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các ngành các vùng trong cả nước, ổn định và phát triển nền kinh tế
Chất lượng tín dụng góp phần lành mạnh hóa quan hệ tín dụng: hoạt động tín dụng được mở rộng với các thủ tục đơn giản, thuận tiện, đảm bảo nguyên tắc tín dụng góp phần cho vay đúng các đối tượng cần thiết, giảm thiểu và xóa bỏ tình trạng cho vay nặng lãi chủ yếu hiện nay ở khu vực nông thôn và miền núi xa xôi
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng
1.2.4.1 Nhóm nhân tố thuộc về môi trường kinh tế - chính trị, xã hội
Môi trường kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các chủ thể kinh tế nói chung và của Ngân hàng nói riêng Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế và chính sách kinh tế của quốc gia luôn có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường Một nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Ngân hàng trong đó có hoạt động tín dụng và hoạt động của các doanh nghiệp sẽ có hiệu quả hơn: doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận cao, có nhu cầu mở rộng thị trường, tăng năng suất lao động và tính thanh khoản cao, từ đó góp phần tạo nên sự thành công trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Do đó, về phía Ngân hàng sẽ có điều kiện dễ dàng mở rộng hoạt động tín dụng Về phía các doanh nghiệp, họ sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận vốn từ Ngân hàng và ngược lại nếu nền kinh tế bật ổn định sẽ dẫn tới nền
Trang 31kinh tế sẽ bị suy thoái, SXKD trì trệ, hoạt động tín dụng gặp khó khăn, chất lượng cho vay không đảm bảo, vốn sử dụng không hiệu quả hoặc gây rủi ro cao trong việc trả nợ làm cho hoạt động mở rộng tín dụng khó có thể thực hiện
Môi trường chính trị- xã hội đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh, đặc biệt đối với các hoạt động kinh doanh ngân hàng Tính ổn định về chính trị- xã hội trong nước sẽ là một trong những nhân tố thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả Nếu xảy ra các diễn biến gây bất ổn chính trị như: chiến tranh, xung đột đảng phái, cấm vận, bạo động, biểu tình, bãi công,…có thể dẫn đến những thiệt hại cho doanh nghiệp và cả nền kinh tế nói chung (làm tê liệt sản xuất, lưu thông hàng hoá đình trệ,…) Và như vậy, những món tiền doanh nghiệp vay ngân hàng sẽ khó được hoàn trả đầy đủ và đúng hạn, ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng
1.2.4.2 Nhóm nhân tố thuộc về môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý phù hợp, ốn định là tiên đề cho sự bảo lãnh an toan cho mối quan hệ tín dụng: Môi trường pháp lý là tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tính đầy
đủ thống nhất của các văn bản dưới luật, hướng tới thông lệ quốc tế, gắn liền với quá trình thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật Thực tế đã cho thấy pháp luật đã là một bộ phận không thể thiếu được trong nền KTTT có sự điều tiết của Nhà nước Vì vậy, một hành lang pháp lý đầy đủ, đồng bộ, vững chắc, được phổ biến rộng rãi thì mọi hoạt động trong nền kinh tế nói chung và trong hoạt động tín dụng nói riêng
sẽ diễn ra trôi chảy và hiệu quả Nói đến môi trường pháp lý là nói đến sự đồng bộ của
hệ thống pháp luật và thống nhất của các văn bản dưới luật, đồng thời gắn liền với quá trình chấp hành pháp luật và trình độ dân trí Việc hoàn chỉnh cơ chế, thể hiện tín dụng của ngành đúng với Luật các TCTD, phù hợp với thực tiễn là một điều quan trọng để nâng cao chất lượng tín dụng
Hoạt động Ngân hàng là một trong những hoạt động kinh tế trong tổng thể nền kinh tế vì vậy nó cũng chịu ảnh hưởng của hệ thống Pháp luật nhất là Luật các tổ chức tín dụng Một môi trường pháp lý đồng bộ, đầy đủ, thống nhất và ổn định sẽ tạo điều kiện cho Ngân hàng trong việc xét duyệt cho vay đồng thời là cơ sở đảm bảo quyền lợi cho hai bên trong mối quan hệ tín dụng một cách hợp pháp và lành mạnh về kinh tế, phù hợp với chủ trương của Ngân hàng, nhà nước và quy định của pháp luật
1.2.4.3 Nhóm nhân tố thuộc về phía ngân hàng
Chính sách tín dụng của ngân hàng
Chính sách tín dụng của một ngân hàng là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của ngân hàng đó Nó phản ánh định hướng cơ bản cho hoạt động tín dụng, có ý nghĩa
Trang 32quyết định sự thành công hay thất bại của ngân hàng Bên cạnh việc phải phù hợp với đường lối phát triển của nhà nước thì chính sách tín dụng cũng phải đảm bảo kết hợp hài hoà quyền lợi của người gửi tiền, người đi vay và quyền lợi của chính bản thân ngân hàng Chính sách tín dụng phải tạo ra sự công bằng, không những phải đảm bảo
an toàn cho hoạt động của ngân hàng mà cũn phải đảm bảo đủ sức hấp dẫn đối với khách hàng
Trong đó, chính sách lãi suất đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chính sách tín dụng của ngân hàng và phải đảm bảo các điều kiện sau đây:
Bảo vệ lợi ích của người gửi tiền, ngoài tiền lãi còn có các lợi ích khác như sự
an toàn, thanh toán lợi nhuận
Lãi suất cho vay phải bù đắp được chi phí về huy động vốn chi phí về nghiệp kinh doanh của ngân hàng có dự phòng bù đắp rủi ro và bảo đảm mức thu nhập ròng hợp lý cho ngân hàng
Lãi suất phải được thay đổi theo cung- cầu thị trường nhưng sự biến động của
nó luôn trong giới hạn
Lãi suất cho vay phải phù hợp với đối tượng của tín dụng có nghĩa là lãi suất cho vay dài hạn phải lớn hơn lãi suất ngắn hạn bởi cho vay dài hạn có mức độ rủi ro cao hơn
Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là trình tự tổ chức thực hiện các bước kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản, chỉ rõ cách làm, trình tự các bước từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một giao dịch thuộc chức năng, nhiệm vụ của cán bộ tín dụng và lãnh đạo ngân hàng có liên quan Quy trình tín dụng là yếu tố quan trọng, nếu nó được tổ chức khoa học, hợp lý sẽ cho phép bảo đảm thực hiện các khoản vay có chất lượng
Quy trình kiểm soát nội bộ
Đây là hoạt động mang tính thường xuyên và cần thiết đối với mọi ngân hàng Công tác kiểm tra nội bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng thường xuyên, chặt chẽ sẽ càng làm cho hoạt động tín dụng đúng hướng, thực hiện đúng các nguyên tắc, yêu cầu thể lệ trong qui chế tín dụng cũng như qui trình tín dụng Kiểm soát nội bộ
là biện pháp mang tính chất ngăn ngừa, hạn chế những sai sót của cán bộ tín dụng, giúp cho hoạt động tín dụng kịp thời sửa chữa, tạo điều kiện thuận lợi nâng cao chất lượng tín dụng
Trang 33Trình độ chuyên môn môn, nghiệp vụ của cán bộ tín dụng
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong mọi hoạt động kinh doanh nói chung và tất nhiên nó cũng không loại trừ khỏi hoạt động của một ngân hàng Muốn nâng cao được hiệu quả trong kinh doanh, chất lượng trong hoạt động tín dụng, ngân hàng cần phải có một đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi, được đào tạo có hệ thống, am hiểu rộng và có kiến thức phong phú về thị trường đặc biệt trong lĩnh vực tham gia đầu tư vốn, nắm vững những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động tín dụng Trong bố trí sử dụng, người cán bộ tín dụng cần phải được sàng lọc kỹ càng
và phải có kế hoạch thường xuyên bồi dưỡng những kiến thức cần thiết để bắt kịp với nhịp độ phát triển và biến đổi của nền kinh tế thị trường Nhờ đó, ngân hàng có thể ngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy ra khi thực hiện chu kì khép kín của một khoản tín dụng Trên thực tế trình độ cán bộ tín dụng nói chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng phát triển cao của công việc Do vậy, dễ dẫn đến tình trạng cấp tín dụng kém hiệu quả
Hiện nay, ngoài trình độ và kinh nghiệm, người ta thường hay đề cập đến vấn
đề đạo đức của cán bộ tín dụng Cho vay là một công việc phức tạp liên quan đến tài chính và không phải ai cũng có thể không dao động trước những cám dỗ Vì vậy, ngoài năng lực chuyên môn, cán bộ tín dụng đòi hỏi phải có đạo đức nghề nghiệp tốt, cùng tinh thần trách nhiệm và tâm huyết với nghề
1.2.4.4 Nhóm nhân tố thuộc về phía khách hàng
Phẩm chất đạo đức của khách hàng
Trong qui trình tín dụng các ngân hàng thường chỉ đưa ra quyết định cho vay sau khi đã phân tích cẩn thận các yếu tố có liên quan đến uy tín và khả năng trả nợ của người vay nhằm hạn chế thấp nhất các rủi ro do chủ quan của người vay có thể gây nên
Đạo đức của người vay là một yếu tố quan trọng của qui trình thẩm định, tính cách của người vay không chỉ được đánh giá bằng phẩm chất đạo đức chung mà còn phải kiểm nghiệm qua những kết quả hoạt động trong quá khứ, hiện tại và chiến lược phát triển trong tương lai Thực tế kinh doanh đã cho thấy, tính chân thật và khả năng chi trả của người vay có thể thay đổi sau khi món vay được thực hiện Khách hàng có thể lừa đảo ngân hàng thông qua việc gian lận về số liệu, giấy tờ, quyền sở hữu tài sản,
sử dụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, phương án kinh doanh,…Việc khách hàng gian lận tất yếu sẽ dẫn đến những rủi ro cho ngân hàng
Trang 34Uy tín của khách hàng là tiêu chí để đáng giá sự sẵn sàng trả nợ và kiên quyết thực hiện các nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng từ phía khách hàng Uy tín của khách hàng được thể hiện dưới nhiều khía cạnh đa dạng như: chất lượng, giá cả hàng hoá, dịch vụ, sản phẩm, mức độ chiếm lĩnh thị trường, chu kỳ sống của sản phẩm, các quan
hệ kinh tế tài chính, vay vốn, trả nợ với khách hàng, bạn hàng và ngân hàng Uy tín được khẳng định và kiểm nghiệm bằng kết quả thực tế trên thị trường qua thời gian càng dài càng chính xác Do đó, ngân hàng cần phân tích các số liệu và tình hình trong suốt quá trình phát triển của khách hàng với những thời gian khác nhau mới có kết luận chính xác
Năng lực, hiệu quả hoạt động quản lý, kinh doanh của khách hàng
Chất lượng tín dụng phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức, kinh nghiệm quản
lý kinh doanh của người vay Đây chính là tiền đề tạo ra khả năng kinh doanh có hiệu quả của khách hàng, là cơ sở cho khách hàng thực hiện cam kết hoàn trả đúng hạn nợ ngân hàng cả gốc lẫn lãi Nếu trình độ của người quản lý còn bị hạn chế về nhiều mặt như học vấn, kinh nghiệm thực tế,…thì doanh nghiệp rất dễ bị gục ngã trong cạnh tranh, dẫn đến thua lỗ, khó có thể hoàn trả tiền vay cho ngân hàng, gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng của ngân hàng
1.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng
1.2.5.1 Các chỉ tiêu định tính
Chấp hành quy trình tín dụng: Cán bộ tín dụng (CBTD) cần phải tuân thủ một
số nguyên tắc tín dụng để nhìn nhận khách hàng một cách đầy đủ và khái quát nhất từ
đó có thể đánh giá nên cho khách hàng nào vay và vay bao nhiêu, thời hạn tín dụng như thế nào Mặc dù đánh giá chất lượng quản lý của một khách hàng là rất khó nhưng lại rất quan trọng Việc chấp hành quy trình tín dụng sẽ nâng cao an toàn cho khoản vay Quy trình tín dụng là quy phạm nghiệp vụ bắt buộc thực hiện của các tổ chức tín dụng Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định trong việc cấp tín dụng Trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự nhất định từ khi chuẩn bị hồ sơ đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng với khách hàng Đây là một quá trình gồm nhiều giai đoạn mang tính chất liên hoàn, theo một trình tự nhất định, đồng thời có quan hệ chặt chẽ và gắn bó với nhau Phụ thuộc vào quy mô, cấu trúc các loại cho vay, mà quy trình tín dụng khác nhau đối với từng tổ chức tín dụng
Trang 35Mức độ hài lòng của khách hàng với dịch vụ tín dụng: Theo NHTM các chi tiêu đánh giá về mặt định tính được coi là tốt khi khả năng đáp ứng kịp thời và đầy đủ nhu cầu vay vốn hợp lý của khách hàng Nếu khách hàng vay vốn hài lòng với cách thức vay vốn, lãi suất, các mức phí dịch vụ và thời gian xử lý hồ sơ của CBTD thì chất lượng tín dụng của Ngân hàng được đánh giá là cao Mức độ hài lòng của khách hàng được thể hiện qua các chỉ tiêu đó là uy tín của ngân hàng đối với khách hàng, sự hài lòng của khách hàng đối với các sản phẩm tín dụng mà ngân hàng cung cấp về quy
mô, lãi suất, phí, thời gian phục vụ, cùng với đó là trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng, khả năng ứng dụng công nghệ và phối hợp tốt với các cơ quan chức năng như công chứng, trung tâm giao dịch đảm bảo, … Các chỉ tiêu này rất khó xác định và chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của cán bộ tín dụng và người quản lý cũng như các mối quan hệ của họ với khách hàng
1.2.5.2 Các chỉ tiêu định lượng
Tuỳ theo mục đích, phạm vi và góc độ khác nhau, người ta có thể đánh giá chất lượng tín dụng theo các tiêu thức khác nhau Thông thường người ta đánh giá chất lượng tín dụng theo các tiêu thức sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn: là tỷ lệ phần trăm giữa số dư nợ quá hạn và tổng số dư nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn = Số dư nợ quá hạn x 100
Tổng dư nợ Cho vay về nguyên tắc là phải dựa trên sự tin tưởng và hoàn trả cả gốc và lãi đây là cơ sở để đánh giá chất lượng cho vay Một khi món vay không thể hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn như trong hợp đồng mà không đưa ra lý do chính đáng thì phải chuyển sang nợ quá hạn Những khoản nợ quá hạn không được hưởng lãi suất bình thường như ghi trong hợp đồng mà phải chịu phạt với lãi suất cao hơn
Những khoản nợ bị quá hạn do nhiều nguyên nhân khác nhau như do làm ân thua lỗ, sử dụng vốn sai mục đích đã ghi trong hợp đồng tín dụng,hay cung có thể do chây lỳ… vì những nguyên nhân này đã làm cho ngân hàng có thể bị mất vốn, bị chiếm dụng vốn như vậy nợ quá hạn phát sinh là khách quan không tránh khỏi trong nền kinh tế thị trường Để đánh giá chất lượng tín dụng của một ngân hàng thương mại người ta thường dùng chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn, và nếu chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng tín dụng càng kém và ngược lại nếu tỷ lệ này càng thấp thì chất lượng tín dụng tại ngân hàng đó là tốt
Trang 36Vấn đề đáng lo ngại hiện nay ở nhiều ngân hàng là khi bị chuyển sang nợ quá hạn thì doanh nghịêp lại càng chịu mức lãi suất cao hơn, vì thế doanh nghiệp sẽ càng khó khăn hơn trong việc trả nợ và hiện nay tình hình nợ quá hạn cao đang là tình trạng khá phổ biến, tỷ lệ nợ quá hạn cao đang trở nên phổ biến
Để phân tích chất lượng cho vay thì người ta chia nợ quá hạn theo các tiêu thức khác nhau để phân chia:
Nợ quá hạn theo thời gian nợ quá hạn được tính từ thời điểm chuyển sang tài khoản nợ quá hạn Cách thông thường được sử dụng để phân chia nợ quá hạn theo thời gian hiện nay theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN về Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của Tổ chức tín dụng do Thống đốc NHNN ban hành ngày 22/4/2005 là: Nợ quá hạn đến 180 ngày, nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày, nợ quá hạn trên 360 ngày Tuỳ theo thời gian cụ thể mà người ta đánh giá mức độ khó đòi khác nhau;
Nợ quá hạn theo nguyên nhân: thường được các NHTM sử dụng để đánh giá chất lượng cho vay của chính ngân hàng mình, nợ quá hạn được chia theo các nguyên nhân sau đây:
Do chủ quan ngân hàng: Do vi phạm quy trình tín dụng, không chấp hành đúng quy chế, do cán bộ tín dụng có hành vi tiêu cực…
Do các nguyên nhân khách quan như do cơ chế chính sách của nhà nước thay đổi, do thiên tai lũ lụt, do chiến tranh…
Nợ quá hạn theo khả năng thu hồi: nợ quá hạn có khả năng thu hồi và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi Cách này rhường được tổng hợp từ hai cách đã trình bày ở trên để đánh giá Song mỗi ngân hàng,mỗi quốc gia có cách đán giá mà cụ thể hoá bằng các chính sách khác nhau;
Nợ quá hạn theo thành phần kinh tế: nợ quá hạn ở đây được phân chia theo các thành phần kinh tế đó là thành phần kinh tế là doanh nghiệp hay hộ kinh doanh hay cá nhân
Tổng dư nợ: Chỉ tiêu này cũng là một trong những chỉ tiêu đo lường chất
lượng tín dụng
Tổng dư nợ tín dụng = Dư nợ tín dụng đầu kỳ + Doanh số cho vay trong kỳ -
Doanh số thu nợ trong kỳ
Doanh số cho vay trong kỳ phản ánh lượng vốn mà ngân hàng giúp cho doanh nghiệp trong việc đầu tư,cải tiến xây dựng công nghệ mới, mở rộng sản xuất hay nâng
Trang 37cao chất lượng sản phẩm con số và tốc độ cho vay qua các năm phản ánh quy mô và
xu hướng của việc đầu tư của ngân hàng mở rộng hay thu hẹp trong kỳ Tuy nhiên không phải bất cứ thời điểm nào việc tăng doanh số cho vay là tốt và việc giảm doanh
số cho vay là xấu Bời vì trong mỗi thời kỳ khác nhau tốc độ phát triển kinh tế, định hướng phát triển các ngành nghề cũng khác nhau… vì thế ngân hàng phải nhạy bén để thay đổi hướng đầu tư cho phù hợp và hỉệu quả
Doanh số thu nợ trong kỳ phản ánh lượng vốn đã được hoàn trả cho ngân hàng trong kỳ Doanh số thu nợ phản ánh hai trạng thái trái ngược nhau có thể khách hàng đúng thời hạn do khách hàng có nguồn để trả nợ đúng hợp đồng hoặc có thể ngân hàng nhận thấy những dấu hiệu khách hàng không thực hiện đúng hợp đồng hay làm ăn thua
lỗ không có khả năng thanh toán vì thế để tránh tinh trạng mất vốn thì ngân hàng đẩy nhanh công tác thu hồi và trong cả hai trường hợp này thì doanh số thu nợ càng cao càng tốt
Khi ngân hàng tăng dư nợ tín dụng thì buộc phải cân nhắc kỹ lưỡng và cũng không phải tăng quy mô bằng mọi giá vì tăng quy mô tín dụng đồng nghĩa với rủi ro cao hơn
Tính đa dạng hoá của tài sản và sự phù hợp giữa cơ cấu vốn huy động và cho vay Trong danh mục đầu tư của ngân hàng thì phải đảm bảo nguyên tắc phân tán rủi
ro đồng thời phải xây dựng một cơ cấu kỳ hạn hợp lý Trên cơ sở đó tạo ra lợi nhuận tối ưu cho ngân hàng NHTM ngoài xây dựng cấu trúc hợp lý cho riêng mình còn phải thực hiện yêu cầu của NHNN đề ra như theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 thì ngân hàng được sử dụng không quá 40% vốn ngắn hạn để cho vay trung
và dài hạn, hay NHNN yêu cầu phải dự trử 10% tổng vốn kinh doanh tại NHNN, hay
để hoạt động thì ngân hàng phải có một số vốn nhất định, mức cho vay tối đa của một ngân hàng đối với khách hàng đều được NHNN đề ra để bảo đảm cho các ngân hàng hoạt động tốt
Thu nhập ròng từ lãi cho vay
Thu nhập ròng từ lãi cho vay = Lãi thu từ cho vay – Chi từ lãi cho vay
Chênh lệch này phản ánh quy mô sinh lời từ hoạt động cơ bản của ngân hàng: Huy động vốn cho vay và đầu tư Chênh lệch càng lớn, thu nhập ròng của ngân hàng càng cao Ở đây chi từ lãi cho vay bao gồm cả chi từ huy động vốn và các khoản chi khác liên quan đến công tác huy động vốn, còn thu từ lãi cho vay chỉ bao gồm thu từ hoạt động cho vay đó
Trang 38Thu nhập từ lãi cho vay/ Tổng dư nợ
Là chỉ tiêu phản ánh mức độ sinh lời của ngân hàng từ hoạt động cho vay Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ ngân hàng đó làm ăn có hiệu quả Khi đánh giá chỉ tiêu này thì các ngân hàng sẽ so sánh đánh giá tỷ lệ này qua các tháng, các kỳ, các năm khác nhau để đánh giá mức độ tăng trưởng cũng như so sánh với các ngân hàng trong cùng
hệ thống, ngoài hệ thống và tỷ lệ trung bình của toàn hệ thống ngân hàng để đánh giá tốc độ phát triển của ngân hàng mình với ngân hàng khác và sự phát triển của ngân hàng mình so với toàn hệ thống ngân hàng Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì các dịch vụ của ngân hàng cũng phát triển theo, tỷ trọng thu lãi cho vay của các ngân hàng có xu hướng giảm và thu từ các dịch vụ khác tăng lên Tuy nhiên, tỷ trọng thu từ lãi cho vay vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của ngân hàng nhất
là đối với các ngân hàng ở Việt Nam
TÓM LƯỢC CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả đã hệ thống cơ sở lý luận về tín dụng và hoạt động nâng cao chất lượng tín dụng Qua đó việc quan tâm đến chất lượng của các khoản tín dụng là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng được tối đa nhu cầu của khách hàng, đảm bảo hiệu quả hoạt động của ngân hàng và góp phần phát triển kinh tế Điều này đòi hỏi các NHTM phải có cơ chế, chính sách quản lý hoạt động tín dụng thích hợp và hiệu quả phù hợp với các quy định của NHNN và thông lệ quốc tế
Trang 39CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM –
CHI NHÁNH HUYỆN ĐỨC THỌ TỈNH HÀ TĨNH 2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HUYỆN ĐỨC THỌ TỈNH HÀ TĨNH
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NHNo&PTNT Huyện Đức Thọ
2.1.1 1 Vài nét khái quát về NHNo&PTNT Huyện Đức Thọ
Là một trong nhiều chi nhánh của NHNo&PTNT Tỉnh Hà Tĩnh, NHNo&PTNT Huyện Đức Thọ là chi nhánh cấp 2 chịu sự giám sát quản lý của NHNo&PTNT Tỉnh
Hà Tĩnh
NHNo&PTNT Huyện Đức Thọ là một trong những chi nhánh của NHNo&PTNT Tỉnh Hà Tĩnh, có con dấu riêng và bảng cân đối tài khoản riêng
- Tên giao dịch: Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Huyện Đức Thọ
- Tên giao dịch quốc tế: VietNam bank for agriculture and rulal development Duc Tho Town
- Trụ sở chính: Khối 5- Thị trấn Đức Thọ - Hà Tĩnh
- Điện thoại: (0383) 821109
- Giấy phép kinh doanh: 0100686174-130
- Ngày hoạt động: 12/07/2013
- Giám đốc: Phan Trọng Hiền
NHNo&PTNT Huyện Đức Thọ gồm có các cơ sở:
- Chi nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Huyện Đức Thọ
- Phòng giao dịch Đức Trung đóng tại xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
- Phòng giao dịch Đức Lạc đóng tại xã Đức Lạc, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
2.1.1.2 Quá trình phát triển của NHNo&PTNT Huyện Đức Thọ
Đức Thọ là một huyện nông thôn có vị trí địa lí trọng điểm của tỉnh Hà Tĩnh, nền kinh tế chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp Mặc dù vậy năm 2016 kinh tế huyện nhà vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng đạt 10.45% trên tăng trưởng bình quân của Tỉnh Kinh
tế chuyển dịch đúng hướng, tích cực, sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ đều tăng Do đặc điểm về kinh tế ở huyện nhà, hoạt động của ngân hàng nói chung và công tác huy động nguồn vốn cũng như việc cung ứng các SPDV của ngân
Trang 40hàng cũng có những đặc thù nhất định.Với vai trò là ngân hàng thương mại tại Đức Thọ, ngân hàng hoạt động với mục đích đáp ứng nhu cầu về vốn của hoạt động sản xuất tại huyện nhà bằng nguồn vốn huy động từ các tầng lớp dân cư trong và ngoài huyện Ngân hàng chủ yếu tập trung đầu tư trực tiếp trên địa bàn 27 xã và 1 thị trấn.Trong những năm gần đây dưới sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của huyện nhà và trước đòi hỏi của nền kinh tế thị trường hoạt động cung ứng SPDV ngân hàng như: tiền gửi tiết kiệm, chuyển tiền, kinh doanh ngoại hối, phát hành thẻ ATM….không ngừng nâng cao và phát triển
Cùng với sự khởi sắc của nền kinh tế đất nước nói chung và huyện nhà nói riêng, NHNo&PTNT- CN Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh đã đạt được những thành quả đáng khích lệ trong hoạt động kinh doanh và ngày càng khẳng định được vị trí của mình
Nhận thức được những khó khăn, thuận lợi nên ngay từ đầu năm ban giám đốc
đã bám sát mục tiêu, định hướng, chỉ đạo của ngân hàng cấp trên; quán triệt đầy đủ từng phòng ban, cán bộ công nhân viên; kịp thời xử lí các biến động thất thường, đảm bảo hiệu quả kinh doanh Bên cạnh đó là sự hỗ trợ có hiệu quả của các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt là sự chỉ đạo của NHNo&PTNT Tỉnh Hà Tĩnh Nhờ đó NHNo&PTNT- CN Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh đã đạt được những kết quả kinh doanh quan trọng
Trải qua chặng đường 4 năm hình thành và phát triển, từ một ngân hàng có rất nhiều khó khăn: thiếu vốn, chi phí kinh doanh cao, công nghệ lạc hậu,… Nhưng nhờ
sự kiên trì khắc phục, quyết tâm đổi mới cùng với sự giúp đỡ của các cấp ủy Đảng, Chính quyền địa phương, sự quan tâm của NHNo&PTNT Tỉnh Hà Tĩnh, chi nhánh Đức Thọ không những đã khẳng định mình mà còn vươn lên trong cơ chế thị trường, hoạt động kinh doanh ngày càng có hiệu quả góp phần nâng cao mức sống người lao động đưa kinh tế huyện nhà ngày càng một đi lên góp phần vào công cuộc xây dựng
và đổi mới đất nước
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của NHNo&PTNT- CN Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
Được sự uỷ quyền của Chính phủ, HĐQT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, NHNo&PTNT- CN Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh có nhiệm vụ và chức
năng như sau:
2.1.2.1 Chức năng
- Thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh trên địa bàn quản lý theo sự phân cấp của
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam