1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng quyết định tham gia bảo hiểm nông nghiệp đối với các hộ trồng lúa tại thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an

77 110 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 911,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên những kết quả nghiên cứu đó, đề tài đã đề xuất được một số hàm ý chính sách chủ yếu nhằm gia tăng số hộ mua bảo hiểm trên địa bàn gồm: i Tổ chức học tập, phổ biên kiến thức về b

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

HỒ SỸ TÙNG

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THAM GIA BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP CỦA CÁC HỘ TRỒNG LÚA TẠI THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

HỒ SỸ TÙNG

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THAM GIA BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP CỦA CÁC HỘ TRỒNG LÚA TẠI THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Quyết định giao đề tài: 678 QĐ/ĐHNT ngày 30/8/2018

Quyết định thành lập hội đồng: 1275 QĐ/ĐHNT, ngày 06/12/2017

Người hướng dẫn khoa học:

TS PHẠM THÀNH THÁI Chủ tịch Hội đồng:

TS NGUYỄN THỊ TRÂM ANH

Phòng Đào tạo Sau Đại học:

KHÁNH HÒA – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong luận văn là trung thực, và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Khánh Hòa, ngày 14 tháng 10 năm 2017

Tác giả

Hồ Sỹ Tùng

Trang 4

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy Phạm Thành Thái, người hướng dẫn tôi nghiên cứu Nếu không có những lời nhận xét, góp ý quý giá để xây dựng đề cương luận văn và sự hướng dẫn nhiệt tình, tận tâm của Thầy trong suốt quá trình nghiên cứu thì luận văn này đã không hoàn thành Tôi cũng học được rất nhiều từ Thầy về kiến thức chuyên môn, tác phong làm việc và những điều bổ ích khác

Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy, Cô giáo ở Khoa Kinh tế nói riêng và quý Thầy, Cô ở trường Đại học Nha Trang nói chung nơi tôi học tập và nghiên cứu đã giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt khóa học này

Sau cùng, lời cảm ơn đặc biệt nhất dành cho bố mẹ, anh chị em, vợ và các con tôi, cũng như những bạn bè, đồng nghiệp của tôi Những cố gắng của tôi để hoàn thành luận văn này là dành cho họ

Khánh Hòa, ngày 14 tháng 10 năm 2017

Tác giả

Hồ Sỹ Tùng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC HÌNH x

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 4

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 5

1.5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu 5

1.5.1 Về lý thuyết khoa học 5

1.5.2 Thực tiễn 5

1.6 Kết cấu luận văn 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 7

2.1 Một số khái niệm 7

2.1.1 Khái niệm nông hộ 7

Trang 6

2.1.2 Kinh tế hộ và đặc điểm kinh tế nông hộ 8

2.1.3 Bảo hiểm nông nghiệp 10

2.1.4 Các loại hình bảo hiểm nông nghiệp 10

2.1.5 Bảo hiểm cây lúa 10

2.2 Cơ sở lý thuyết và các phương pháp tiếp cận bảo hiểm nông nghiệp 11

2.2.1 Lý thuyết về lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức 11

2.2.2 Bảo hiểm nông nghiệp và các rủi ro thường xẩy ra 12

2.2.3 Thái độ với rủi ro, nhận thức rủi ro và nhu cầu bảo hiểm 16

2.2.4 Thông tin chung về rủi ro và cách khắc phục rủi ro mà các hộ thường gặp 17

2.3 Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nông nghiệp 17

2.3.1 Nguồn nhân lực 17

2.3.2 Nguồn lực tài chính 18

2.3.3 Nguồn lực vật chất 19

2.3.4 Nguồn lực xã hội và nguồn lực tự nhiên 19

2.4 Tóm lược các nghiên cứu trước 20

2.5 Khung phân tích và giả thuyết nghiên cứu 24

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 31

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

3.1 Quy trình nghiên cứu 32

3.2 Cách tiếp cận nghiên cứu 33

3.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 34

3.3.1 Xác định cỡ mẫu 34

3.3.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 34

Trang 7

3.4 Loại dữ liệu và thu thập dữ liệu 35

3.4.1 Loại dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu 35

3.4.2 Thu thập dữ liệu 35

3.4.3 Các phương pháp phân tích dữ liệu 35

3.4.4 Các bước cơ bản để thực hiện phương pháp nghiên cứu 36

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 36

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

4.1 Khái quát về địa điểm nghiên cứu 37

4.1.1 Vị trí địa lý 37

4.1.2 Tình hình phát triển kinh tế 37

4.1.3 Hiện trạng phát triển ngành nông nghiệp 38

4.1.4 Tình hình sử dụng bảo hiểm nông nghiệp của hộ dân trồng lúa tại thị xã Hoàng Mai, Nghệ An 41

4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm nông nghiệp của các hộ trồng lúa tại thị xã Hoàng Mai, Nghệ An 45

4.2.1 Khái quát mẫu điều tra 45

4.2.2 Kết quả ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nông nghiệp của nông hộ tại Hoàng Mai 47

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 55

5.1 Kết luận 55

5.2 Khuyến nghị chính sách 56

5.2.1 Tổ chức học tập, phổ biên kiến thức về bảo hiểm nông nghiệp cho nông dân 56

5.2.2 Có chính sách hỗ trợ chi phí bảo hiểm cho các hộ nông dân 57

Trang 8

5.2.3 Hỗ trợ nâng cao nhận thức về vai trò và lợi ích của bảo hiểm nông nghiệp với cây trồng cho nông dân 58 5.2.4 Thay đổi nhận thức của các chủ hộ là nam giới để họ chấp nhân bảo hiểm .59 TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nông nghiệp 23

Bảng 3.1 Phân bổ mẫu trên địa bàn nghiên cứu 34

Bảng 4.1 Hiện trạng tăng trưởng kinh tế 38

Bảng 4.2 Cơ cấu kinh tế nội ngành nông nghiệp 39

Bảng 4.3 Doanh thu và bồi thường hoạt động bảo hiểm nông nghiệp tại thị xã Hoàng Mai 43

Bảng 4.4 Giới tính của lao động trong mẫu nghiên cứu 45

Bảng 4.5 Đặc điểm tuổi và học ván của lao động trong mẫu 45

Bảng 4.6 Đặc điểm diện tích, chi phí, thu nhập của hộ trồng lúa 46

Bảng 4.7 Kết quả ước lượng 47

Bảng 4.8 Tác động biên của các yếu tố đến sự thay đổi xác suất mua bảo hiểm 49

Bảng 4.9 Mô phỏng xác xuất mua bảo hiểm khi biến độc lập thay đổi 52

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm của nông hộ 28 Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 32

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Nghiên cứu này nhắm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến Quyết định tham gia bảo hiểm nông nghiệp của các hộ trồng lúa tại thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả và phân tích hồi quy tuyến tính bội với cỡ mẫu để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nông nghiệp của các hộ trồng lúa Kết quả phân tích cho thấy cho thấy, có 7 yếu tố tác động có ý nghĩa thống kê đến quyết định mua

bảo hiểm nông nghiệp gồm: (i) Giới tính chủ hộ, (ii) Trình độ học vấn chủ hộ,

(iii) Diện tích trồng lúa, (iv) Tập huấn, (v) Thông tin bảo hiểm, (vi) Hộ trợ phí bảo hiểm, (vii) Chi phí sản xuất Trong 7 yếu tố này, có 2 yếu tố có mới quan hệ

ngược lại với kỳ vọng của nghiên cứu gồm giới tính của chủ hộ và chi phí sản

xuất Tất cả các yếu tố còn lại đều có mối quan hệ với quyết định mua bảo hiểm

đúng như kỳ vọng của nghiên cứu Yếu tố duy nhất trong mô hình nghiên cứu

chưa cho thấy tác động có ý nghĩa thống kê đến quyết định mua bảo hiểm nông

nghiệp của nông hộ là vay vốn Các yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết

định mua bảo hiểm nông nghiệp của các hộ gia đình trồng lúa tại Hoàng Mai gồm: (1) Tập huấn về bảo hiểm nông nghiệp, (2) Hộ trợ phí bảo hiểm, (3) Thông tin bảo hiểm Nghiên cứu cũng đã phân tích các kịch bản dự báo khả năng mua bảo hiểm của nông hộ tại Hoàng Mai khi xác suất mua bảo hiểm ban đầu thay đổi dưới ảnh hưởng của 7 yếu tố tác động có ý nghĩa thống kê

Dựa trên những kết quả nghiên cứu đó, đề tài đã đề xuất được một số hàm

ý chính sách chủ yếu nhằm gia tăng số hộ mua bảo hiểm trên địa bàn gồm: (i)

Tổ chức học tập, phổ biên kiến thức về bảo hiểm nông nghiệp cho nông dân; (ii)

Có chính sách hỗ trợ chi phí bảo hiểm cho các hộ nông dân; (iii) Hỗ trợ nâng cao nhận thức về vai trò và lợi ích của bảo hiểm nông nghiệp với cây trồng cho nông dân; (iv) Thay đổi nhận thức của các chủ hộ là nam giới để họ chấp nhân bảo hiểm

Từ khóa: Nhân tố ảnh hưởng, Bảo hiểm nông nghiệp, thị xã Hoàng Mai, Nghệ An

Trang 12

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Chỉ thị 100 của Ban Bí thư khóa IV, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khoá

VI và Nghị quyết lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương khóa X về Nông nghiệp, Nông thôn và Nông dân được coi là 3 dấu mốc lớn tạo ra bước ngoặt trên con đường phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Nhờ có sự đổi mới cơ chế, chính sách mà Việt Nam đã thu được rất nhiều thành tựu trong sản xuất nông nghiệp Với mức tăng trưởng bình quân trên 4% năm, đến nay sản xuất nông nghiệp nói chung đã đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và đóng góp một phần vào giá trị kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế Sản xuất lương thực, đặc biệt là lúa gạo tăng lên liên tục cả về diện tích gieo trồng và năng suất, đã đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, ổn định an ninh lương thực đã tạo ra nền tảng vững chắc cho nền kinh tế vượt qua khủng hoảng, phục hồi và phát triển mạnh mẽ trong suốt 30 năm qua

Nông nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và ổn định

xã hội Nó không chỉ cung cấp lương thực, thực phẩm, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người, mà còn cung cấp các yếu tố đầu vào cho sản xuất công nghiệp Là một trong 5 quốc gia chịu tác động mạnh của bão, lũ và biến đổi khí hậu, Việt Nam đã và đang gánh chịu những hậu quả do bão, lũ gây ra đối với sản xuất nông nghiệp Thêm vào đó, những rủi ro từ nền kinh tế vĩ mô cũng tác động không nhỏ tới kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng Những tác động đó đang đặt ra yêu cầu tìm kiếm các giải pháp hỗ trợ cho nông nghiệp để ổn định sản xuất và phát triển bền vững

Kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, bảo hiểm nông nghiệp là một công cụ khá hiệu quả, là lá chắn cho nông nghiệp, nhằm giảm thiểu những rủi ro trong sản xuất, góp phần đảm bảo an sinh xã hội Triển khai

Trang 13

bảo hiểm nông nghiệp là cần thiết, một mặt nó tạo ra khuôn khổ pháp lý đối với nông dân khi có thiệt hại, mặt khác tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo hiểm

đa dạng hóa các sản phẩm và hoạt động của doanh nghiệp, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội

Như vậy bảo hiểm nông nghiệp là một biện pháp hiệu quả trong việc xử lý các rủi ro nhằm giảm thiểu thiệt hại cho nông dân Người dân tham gia bảo hiểm chỉ cần đóng một khoản phí nhỏ thay vì tự tích lũy để có thể chủ động đối phó với các rủi ro nếu xảy ra Tham gia bảo hiểm nông nghiệp, các rủi ro từ phía người nông dân được chuyển giao cho các công ty bảo hiểm Bảo hiểm nông nghiệp mang lại sự ổn định tài chính cho nông dân; tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận được với các hình thức bảo hiểm theo nguyên tắc tự nguyện, theo đó nông dân sẽ được đền bù tổn thất khi thiên tai, dịch bệnh xảy ra, góp phần tích cực trong việc khắc phục các thiệt hại về tài chính; giúp Chính phủ bảo đảm ngân sách ổn định, góp phần giảm bớt gánh nặng chi tiêu từ ngân sách Nhà nước; nâng cao nhận thức cho người nông dân trong sản xuất

Để giảm thiểu thiệt hại do rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, Chính phủ ban hành Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 về thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013, trong đó thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ

An được được chọn một trong những địa phương triển khai chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp đối với cây lúa Mục tiêu của chương trình thí điểm

là nhằm tạo một khuôn khổ pháp lý để triển khai rộng rãi hoạt động bảo hiểm trong nông nghiệp Nội dung chương trình thí điểm của bảo hiểm là cơ sở để tiến tới xác định cơ chế hoạt động của bảo hiểm cây lúa và chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với người trồng lúa, đồng thời chương trình hướng tới tạo điều kiện cho người dân tiếp cận với các hình thức bảo hiểm theo nguyên tắc tự nguyện, nông dân tham gia thông qua việc đóng phí bảo hiểm và được bồi thường thiệt hại khi thiên tai hoặc dịch bệnh xẩy ra

Trang 14

Theo số liệu báo cáo của Công ty Bảo việt Nghệ An và Chi cục thống kê thị xã Hoàng Mai về đánh giá tổng kết chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa trên địa bàn thị xã Hoàng Mai đạt tỷ lệ rất thấp, cụ thể vụ Đông Xuân năm 2012

có 1.717 hộ tham gia mua bảo hiểm đạt 16,4%, vụ hè thu có 3.113 hộ tham gia mua bảo hiểm đạt 29,8% trên tổng số hộ sản xuất lúa toàn thị xã là 10.439 hộ Năm 2013 vụ Đông xuân có 1.914 hộ tham gia bảo hiểm đạt 18,3%; vụ Hè Thu

có 2.663 hộ tham gia đạt 25,5% trên tổng số hộ trồng lúa trên địa bàn Tuy nhiên cũng theo số liệu báo báo này lại cho ta thấy tỷ lệ tham gia bảo hiểm nông nghiệp đối với cây lúa trong 2 năm 2012 và 2013 chủ yếu là hộ nghèo và cận nghèo chiếm tỷ lệ 98% trong năm 2012 và 85,4% trong năm 2013, số hộ khác chiếm tỷ lệ rất ít chỉ đạt từ 2% đến 25% Trong đó các hộ nông dân sản xuất lúa đều được nhà nước hỗ trợ phí mua bảo hiểm ở các mức độ khác nhau, trong đó các hộ dân thuộc diện hộ nghèo hỗ trợ 100% phí mua bảo hiểm, hộ cận nghèo được hỗ trợ 90% phí mua bảo hiểm, số hộ thuộc diện khác được hỗ trợ 60% phí bảo hiểm Trong lúc đó mức bồi thường thiệt hại tương đối cao, cụ thể mức 2.600.000đồng/1000m2 đối với loại thiệt hại do rủi ro thiên tai, dịch bệnh từ 70% đến 100% và mức 1.600.000đồng/1000m2 đối với những diện tích lúa bị thiệt hại do rủi ro thiên tai, dịch bệnh từ 30% đến 70% , với mức bồi thường này có thể tương đương với chi phí sản xuất trung bình bỏ ra của các hộ dân khoảng 2.200.000đ/1000m2 (UBND thị xã Hoàng Mai, 2012, 2013)

Vấn đề đặt ra là tại sao bảo hiểm cây lúa chưa thực sự đi sâu vào hoạt động sản xuất của người nông dân Vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm nông nghiệp đối với các hộ trồng lúa tại thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An là cần thiết và hữu ích nhằm cung cấp những bằng chứng thực tiễn, khoa học và các hàm ý chính sách cho các nhà quản lý, nhà kinh doanh bảo hiểm trong việc hoạch định và thực thi các chính sách thúc đẩy nông dân tham gia hơn nữa bảo hiểm cây lúa

Trang 15

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nông nghiệp đối với các hộ nông dân trồng lúa tại thị xã Hoàng Mai, trên cơ sở đó đề xuất các hàm ý chính sách giúp người dân, nhà quản lý và các công ty kinh doanh bảo hiểm thực thi tốt hơn bảo hiểm nông nghiệp, khắc phục tốt các rủi ro trong sản xuất

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

(1) Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nông nghiệp đối với các hộ nông dân trồng lúa tại thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An? (2) Các nhân tố đó có tác động như thế nào đến quyết định mua bảo hiểm nông nghiệp đối với các hộ nông dân trồng lúa tại thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An? (3) Các hàm ý chính sách nào nhằm giúp các hộ nông dân trồng lúa tham gia tốt hơn bảo hiểm nông nghiệp để khắc phục rủi ro trong sản xuất?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động tham gia bảo hiểm nông nghiệp của các hộ nông dân trồng lúa;

các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cảu các nông hộ đó

Trang 16

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Nội dung: Đánh giá các nguồn lực tham gia bảo hiểm, chính sách bảo hiểm nông nghiệp, thị trường bảo hiểm, những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nông nghiệp

+ Không gian: các hộ trồng lúa trên toàn địa bàn thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

+ Thời gian: Dữ liệu thống kê trong 5 năm gần đây (2011-2015) và dữ liệu

do tác giả thu thập trong năm 2017

1.5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu

1.6 Kết cấu luận văn

Kết cấu luận văn gồm năm chương như sau:

Chương 1: Giới thiệu Chương này trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, cũng như

ý nghĩa việc nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này trình bày cơ

sở lý thuyết về nông hộ, thu nhập, lý thuyết bảo hiểm, các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm nông nghiệp; tổng quan các công trình nghiên cứu trước liên quan nhằm đúc kết thành khung phân tích phù hợp cho nghiên cứu của luận văn và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu

Trang 17

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này giới thiệu các phương pháp nghiên cứu được sử dụng nghiên cứu trong luận văn như quy mô nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu chọn mẫu, các công cụ dùng để phân tích số liệu…

Chương 4: Phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu Nội dung chương này phân tích và thảo luận các kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và các hàm ý chính sách Chương này trình bày các kết luận rút ra từ nghiên cứu, cũng như đề xuất các hàm ý chính sách

Trang 18

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm

2.1.1 Khái niệm nông hộ

Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp

và phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp

ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân (Đào Thế Tuấn và cộng sự, 1995) Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời kỳ lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội Nông hộ là hộ gia đình mà hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là nông nghiệp Ngoài ra họ còn thực hiện một số hoạt động khác để tăng thu nhập tuy nhiên đó chỉ là hoạt động phụ Có nhiều định nghĩa khác nhau về nông hộ:

Hộ nông dân còn được định nghĩa là nông dân, là các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng lớn hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao (Ellis, 1993)

Theo Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn Còn theo Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn FAO (2007) định nghĩa nông hộ là những hộ có các hoạt động trong nghề trồng trọt, nghề rừng, nghề cá, nghề chăn nuôi và nghề nuôi trồng thủy sản Các sản phẩm nông nghiệp được hình thành thông qua quá trình quản lý và tổ chức sản xuất bởi các thành viên trong gia đình và phần lớn chủ yếu dựa vào lao động nhà, bao gồm cả nam lẫn nữ

Trang 19

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về nông hộ nhưng khái niệm nông

hộ có những điểm sau đây: Là những hộ gia đình sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp; nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông; là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng

2.1.2 Kinh tế hộ và đặc điểm kinh tế nông hộ

Kinh tế nông hộ là một hình thức kinh tế cơ bản có hiệu quả và tự chủ trong nông nghiệp Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài, dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng và tồn tại phát triển trong mọi chế độ kinh tế xã hội (Phạm Anh Ngọc, 2008)

Theo Tchayanov (1924), kinh tế hộ nông dân là một phương thức sản xuất tồn tại trong mọi chế độ xã hội Mỗi phương thức sản xuất có quy luật phát triển riêng của nó, và trong mỗi chế độ, nó tìm cách thích ứng với cơ chế kinh tế hiện hành Mục tiêu của hộ nông dân là có thu nhập cao không kể thu nhập ấy có nguồn gốc nào, trồng trọt, chăn nuôi hay ngành nghề đó là kết quả chung của lao động gia đình.(trích trong Đào Thế Tuấn, 1995)

Ellis (1988) cho rằng: Kinh tế nông hộ khác với những người làm kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường ở bốn yếu tố: đất đai, lao động, vốn và sự tiêu dùng Hộ là cơ sở hoạt động của xã hội, giúp cho các tổ chức xác định, đánh giá kinh tế, cùng chung một nguồn vốn, các thành viên cùng sống dưới một mái nhà,

ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập, mọi quyết định đều dựa trên những thành viên, kinh tế nông hộ là một tổ chức kinh tế của nền kinh tế xã hội Các nguồn lực như đất đai, tư liệu sản xuất, lao động, vốn được đóng chung, chung một ngân sách, ngủ chung một mái nhà, ăn chung; mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống đều do chủ hộ phát ra

Trang 20

Ở Việt Nam, từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI (1988) về ”Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, hộ nông dân đã thực sự trở thành những đơn vị tự chủ trong sản xuất nông nghiệp Hộ được tự chủ trong sản xuất kinh doanh, được toàn quyền trong điều hành sản xuất, sử dụng lao động, mua sắm vật tư kỹ thuật, hợp tác sả xuát và tiêu thụ sản phẩm do họ làm ra Như vậy, có thể hiểu kinh tế hộ gia đình là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của

hộ gia đình, trong đó các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức

để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định (Mai Thị Thanh Xuân, Đặng Thị Thu Hiền, 2013)

Tóm lại, kinh tế nông hộ là một loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh của

hộ gia đình, trong đó các hoạt động chủ yếu là dựa vào lao động gia đình Quá trình phát triển của kinh tế hộ gắn liền với quá trình phát triển của hộ đang hoạt động

 Đặc điểm của kinh tế nông hộ

Kinh tế nông hộ có các đặc điểm cơ bản sau:

- Hoạt động của kinh tế nông hộ chủ yếu là dựa vào lao động gia đình hay

là lao động có sẵn mà không cần phải thuê ngoài Các thành viên tham gia hoạt động kinh tế hộ có quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế và huyết thống

- Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất không thể thiếu của sản xuất kinh tế hộ nông dân

- Người nông dân là người chủ thật sự của quá trình sản xuất trực tiếp tác động vào sinh trưởng, phát triển của cây trồng vật nuôi, không qua khâu trung gian, họ làm việc không kể giờ giấc và bám sát vào tư liệu sản xuất của họ

- Kinh tế nông hộ có cấu trúc lao động đa dạng, phức tạp, trong một hộ có nhiều loại lao động, vì vậy chủ hộ vừa có khả năng trực tiếp điều hành, quản lý tất cả các khâu trong sản xuất, vừa có khả năng tham gia trực tiếp quá trình đó

Trang 21

- Do có tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất nên kinh tế hộ nông dân giảm tối đa chi phí sản xuất, và nó tác động trực tiếp lên lao động trong hộ nên có tính tự giác để nâng cao hiệu quả và năng suất lao động (Nguyễn Phạm Hùng, 2014)

2.1.3 Bảo hiểm nông nghiệp

Bảo hiểm nông nghiệp là một nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ có đối tượng bảo hiểm là các rủi ro phát sinh trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, bao gồm những rủi ro gắn liền với cây trồng vật nuôi, vật tư hành hóa, nguyên vật liệu, nhà xưởng, hay nói cách khác là hình thức chuyển giao rủi ro tiềm năng từ người mua bảo hiểm sang người bán bảo hiểm thông qua việc trao đổi mua bán bảo hiểm, trong đó người mua bảo hiểm phải trả một khoản phí nhất định cho người bán và được hưởng mức bồi thường theo thỏa thuận trong trường hợp có rủi ro xẩy ra

2.1.4 Các loại hình bảo hiểm nông nghiệp

Hazell,P.B.R, Pomareda, Valdes(1986) chia bảo hiểm nông nghiệp làm 2 hình thức chính gồm bảo hiểm bồi thường (Bảo hiểm truyền thống) và bảo hiểm theo chỉ số

- Bảo hiểm truyền thống là loại bảo hiểm tính trên giá trị cây trồng vật nuôi, thiệt hại bao nhiêu thì công ty bảo hiểm sẽ chi trả cho nông dân bấy nhiêu

- Bảo hiểm theo chỉ số là loại hình bảo hiểm chi trả số tiền dựa vào một chỉ

số về một số yếu tố khách quan có thể gây rủi ro đến sản lượng và năng suất cây trồng vật nuôi, như lượng mưa, lũ lụt, hạn hán …

2.1.5 Bảo hiểm cây lúa

- Người được bảo hiểm là các hộ nông dân, tổ chức trồng lúa tại địa bàn xã đăng

ký tham gia bảo hiểm và quyền lợi hợp pháp đối với cây lúa trên diện tích lúa được bảo hiểm

Trang 22

- Chủ hợp đồng bảo hiểm là người được bảo hiểm hoặc là đại diện công ty do người được bảo hiểm ủy quyền và được sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp xã

- Rủi ro được xem như là sự không may mắn, sự tổn thất, mất mát, nguy hiểm ngoài ý muốn xẩy ra trong quá trình sản xuất trồng lúa của các hộ nông dân

- Đơn vị bảo hiểm: Là các hộ nông dân thuộc các xã trên địa bàn thị xã Hoàng Mai, thực hiện thí điểm bảo hiểm ông nghiệp theo Quyết định 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng chính phủ

- Diện tích lúa được bảo hiểm là diện tích trồng lúa thực tế của người được bảo hiểm

- Năng suất bình quân: là năng suất bình quân 3 vụ tương ứng trong 3 năm trước đó tại xã được tính bảo biểm theo số liệu thống kê của cơ quan chức năng

có thẩm quyền với đơn vị tính là tạ/ha

- Số tiền bảo hiểm: là giá trị bằng tiền được bảo hiểm theo từng vụ và được tính bằng Tổng diện tích được bảo hiểm nhân với năng suất bình quân nhân với đơn giá lúa

- Phí bảo hiểm: Là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm thu được từ người được bảo hiểm hoặc kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; phí bảo hiểm được tính cho từng vụ

2.2 Cơ sở lý thuyết và các phương pháp tiếp cận bảo hiểm nông nghiệp 2.2.1 Lý thuyết về lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức

Thuật ngữ lựa chọn bất lợi thường được sử dụng trong ngành bảo hiểm Bảo hiểm rủi ro về các loại cây trồng ở Mỹ và một số nước khác trên thế giới thường

bị thất bại trên khía cạnh thương mại, do các khoản bồi thường bảo hiểm vượt quá thu nhập và chi phí hành chính, thậm chí trong những năm thời tiết tốt, sự thất bại của rủi ro bảo hiểm cây trồng này chủ yếu vấn đề lựa chọn bất lợi và rủi

Trang 23

ro đạo đức (tâm lý ỷ lại) Rủi ro đạo đức có nghĩa là người mua bảo hiểm có thể thay đổi hành vi sau khi đã mua bảo hiểm sao cho vẫn đạt được mức tối ưu cần thiết, bởi vì bảo hiểm là làm giảm sự mất mát liên quan, những sự thay đổi đó

có thể làm tăng xác suất xảy ra sự cố hoặc làm tăng mức độ nghiêm trọng của sự mất mát; trong khi lựa chọn bất lợi có nghĩa là những người thường có khả năng xảy ra những rủi ro, mất mát thì sẵn sàng cho việc mua bảo hiểm Nếu công ty không phát hiện những người như vậy thì thiệt hại sẽ xảy ra.Ví dụ: một nông dân trì hoãn ngày trồng cây để chờ thông tin về thời tiết, nếu họ có thông tin về thời tiết tốt họ sẽ triển khai trồng cây mà không cần mua bảo hiểm; ngược lại họ vẫn sẽ triển khai trồng cây nhưng có mua bảo hiểm cây trồng (lựa chọn bất lợi); nhưng khi đã lựa chọn mua bảo hiểm rồi, nông hộ có thể sẽ không chăm sóc tốt cây trồng và tìm giải pháp né tránh các rủi ro như khi họ không mua bảo hiểm

2.2.2 Bảo hiểm nông nghiệp và các rủi ro thường xẩy ra

2.2.2.1 Rủi ro và giảm thiểu rủi ro trong nông nghiệp

Cộng đồng nông thôn ở các nước đang phát triển thường xuyên phải đối mặt với nhiều rủi ro trong cuộc sống hàng ngày, hầu hết trong số họ có liên quan đến sinh kế nông nghiệp; trong khi việc sản xuất nông nghiệp thì thường phải đối mặt với nhiều rủi ro chủ yếu do thời tiết gây ra như sâu bệnh, ngập lụt, giông bão, hạn hán,… và thu nhập không chắc chắn do ảnh hưởng giá cả đầu ra Trọng tâm của nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào những rủi ro nói trên vào việc bảo hiểm cây lúa Theo Smith và Watts (2009), những hộ giàu có khả năng

tự đảm bảo cuộc sống của họ thông qua những tài sản dự trữ như tiền tiết kiệm gửi ngân hàng, việc kinh doanh khác,… trong khi những hộ nông dân sống phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp như cây trồng và thường đối mặt với giảm năng suất cây trồng do rủi ro về thời tiết hoặc những cú sốc trong sản xuất nên gây thiệt hại lớn về thu nhập Những hộ nông dân này sẵn sàng bỏ ra một số chi phí để đối phó hoặc giảm thiểu những rủi ro và các cú sốc gây thiệt hại cho

Trang 24

thu nhập của họ Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc những hộ nông dân sẵn sàng

bỏ ra chi phí để giảm thiểu một phần hoặc hoàn toàn những thiệt hại do rủi ro về thời tiết hoặc các cú sốc khác như:

Quy mô, kích thước của những mất mát tiềm năng có thể xảy ra gây tổn thất lớn đến thu nhập, tài sản của hộ dân

Một yếu tố quan trọng thứ hai là tần suất xảy ra những thiệt hại làm biến động sản lượng cây trồng Khi thiệt hại không xảy ra thường xuyên (khoảng 20-

30 năm xảy ra một lần), mặc dù xảy ra thiệt hại lớn thì những hộ nông dân không muốn bỏ ra những chi phí để giảm thiểu những rủi ro, thiệt hại tiềm năng này; nhưng khi những thiệt hại xảy ra thường xuyên, mặc dù gây thiệt hại nhỏ thì những hộ nông dân sẵn sàng bỏ ra một mức phí để giảm nhẹ thiệt hại

Mức độ nghiêm trọng dự kiến xảy ra gây tổn thất đáng kể Những hộ dân có khả năng sẽ tìm cách để giảm thiểu rủi ro, mất mát khi những thiệt hại xảy ra lớn

Chi phí để giảm thiểu rủi ro; trong quyết định về việc có nên bỏ ra khoản chi phí để mua bảo hiểm cho việc giảm thiểu rủi ro hay không, thì hộ nông dân

sẽ cân nhắc chi phí bỏ ra có đem lại lợi ích mong muốn của họ không?

Phần thu nhập mà những hộ nông dân sẽ nhận lại được bao nhiêu khi bỏ

ra khoản phí cho việc giảm thiểu rủi ro Những hộ dân thích được bồi thường căn cứ vào những tổn thất thực tế họ phải gặp phải, tức là sản lượng và doanh thu của họ ở mức thấp Một phần quan trọng khác là khi xảy ra thiệt hại thì họ cần được khoản bồi thường kịp thời

Cân nhắc giữa khoản phí bỏ ro để giảm thiểu rủi ro so với những chiến lược quản trị rủi ro thay thế Những nông hộ, trang trại nông nghiệp sẽ xem xét các chiến lược quản trị rủi ro của họ như đa dạng hoá cây trồng, đầu tư vào lĩnh vực khác trồng trọt như chăn nuôi, đầu tư thuỷ lợi, hoặc trồng ở những nơi khác nhau,… có rẻ tiền và hiệu quả hơn so với khoản phí bỏ ra để giảm thiểu rủi ro không?

Trang 25

2.2.2.2 Bảo hiểm cây trồng ở các nước đang phát triển

Những người ủng hộ bảo hiểm nông nghiệp như là một chiến lược đối phó rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, nó góp phần giúp nông dân có cách nhìn tốt hơn về thay đổi mô hình sản xuất sao cho có lợi, tăng đầu tư khoa học công nghệ, đầu tư nhiều hơn cho sản xuất, cải thiện thu nhập và đảm bảo nguồn cung cấp lương thực, cho quốc gia Khi có bảo hiểm nông nghiệp, các ngân hàng cũng

tự tin hơn trong việc cho vay sản xuất nông nghiệp và có thể tăng tín dụng cho vay xứng đáng với khoảng thu nhập dự kiến của họ

Chương trình bảo hiểm nông nghiệp chủ yếu được thực hiện chủ yếu thông qua sự bao cấp của Chính phủ hoặc thông qua quan hệ đối tác công tư (PPP) Do vai trò quan trọng của nông nghiệp trong phát triển kinh tế và vấn đề rủi ro trong sản xuất nông nghiệp nên Chính phủ thường có sự can thiệp quản lý rủi ro Thực tế, bảo hiểm nông nghiệp thường nhận được sự trợ cấp lớn từ Chính phủ và có sự can thiệp mạnh mẽ Các can thiệp bảo hiểm nông nghiệp chủ yếu nhằm mục đích là: bảo vệ các hộ nông dân nghèo, các tổ chức tài chính cho vay sản xuất nông nghiệp, bảo đảm các rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, giảm dự trữ tài chính cho thiên tai cứu trợ và phát triển mạng lưới an sinh xã hội tốt Trong lịch sử, việc thực hiện bảo hiểm cây trồng ở các nước thường bị thất bại

do mức phí bảo hiểm thấp, xác định bảo hiểm nông nghiệp chưa rõ ràng giữa mục tiêu thương mại và xã hội, thiếu quản lý trong kiểm soát rủi ro và giám định tổn thất do thông tin bất cân xứng, chi phí giao dịch cao và khả năng thanh toán của các công ty bảo hiểm khi xảy ra các thảm hoạ lớn Tại Việt Nam, chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp dựa trên mối quan hệ phát triển đối tác công tư (PPP) và việc thực hiện bảo hiểm dựa vào chỉ số

2.2.2.3 Bảo hiểm nông nghiệp theo chỉ số

Bảo hiểm nông nghiệp theo chỉ số được đưa vào thí điểm ở Việt Nam như

là một biện pháp bảo vệ thu nhập của người nông và sinh kế của họ trước những

Trang 26

tác động không mong muốn từ môi trường bên ngoài Khi xảy ra rủi ro đối với một loại cây trồng cụ thể được bảo hiểm thì khoanh vùng thiệt hại và xác định mức giảm thu nhập Theo website: www.snvworld.org (2013), khi năng suất thực tế sụt giảm ít nhất 90% so với năng suất bình quân trong 3 mùa vụ tương ứng của 3 năm gần nhất và được cơ quan có tính pháp lý xác nhận do thiên tai dịch bệnh quy định trong hợp đồng thì sẽ được công ty bảo hiểm theo chỉ số năng suất bồi thường Trong đợt thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho người nông dân nghèo và mức phí bảo hiểm cũng tương đối phù hợp nhưng số lượng hợp đồng bảo hiểm cho người nghèo vẫn còn thấp do người nông dân không sẵn lòng mua bảo hiểm để đối phó với rủi ro bởi vì: Với những người hành xử theo theo kiểu ưa thích rủi ro, họ cho rằng họ có thể ước tính xác suất xảy ra rủi ro một cách chính xác; đối với những người không ưa thích rủi ro, họ cũng cho rằng xác suất xảy ra rủi ro thấp; hoặc kết hợp cả hai vấn đề trên khi cho rằng xác suất xảy ra thấp và vừa chấp nhận rủi

ro

2.2.2.4 Những rủi ro cơ bản trong bảo hiểm

Ngoài những ưu điểm của bảo hiểm theo chỉ số, thì cũng còn tồn tại một

số nhược điểm như sự khác nhau về năng suất của các nông hộ, những tổn thất thực tế và số tiền người dân nhận được từ bảo hiểm, có khi những nông hộ bị thiệt hại nhưng không được bồi thường hoặc ngược lại không bị thiệt hại nhưng vẫn được bồi thường, những điều này trái với nguyên tắc trong bảo hiểm khi có thiệt hại mới được bồi thường; ngoài ra, năng suất lúa ở một vùng rộng lớn thường có sự khác biệt do những đặc điểm về thời tiết, triều cường, thổ nhưỡng nên mức độ tổn thất và số tiền bảo hiểm cũng sẽ khác nhau Tuy nhiên, việc bảo hiểm theo chỉ số này được chấp nhận nhằm đánh đổi những rủi ro trên để có chi phí giao dịch thấp Để giảm thiểu những rủi ro này, một chương trình bảo hiểm theo khu vực được đưa ra; trong đó, nông hộ mua bảo hiểm sẽ trả mức phí và nhận được là như nhau vì năng suất sẽ dao động ở mức trung bình của khu vực

Trang 27

Rủi ro của bảo hiểm theo chỉ số thời tiết thường cao hơn bảo hiểm theo chỉ số năng suất, do bảo hiểm theo chỉ số năng suất có thể có nhiều mối đe dọa hơn

2.2.3 Thái độ với rủi ro, nhận thức rủi ro và nhu cầu bảo hiểm

2.2.3.1 Thái độ với rủi ro và nhu cầu bảo hiểm

Thái độ đối với rủi ro là một quyết định lựa chọn quan trọng của một cá nhân, hoạt động nông nghiệp ở các nước đang phát triển chịu nhiều rủi ro trong sản xuất Mô hình lý thuyết về thái độ của nông hộ đối với rủi ro trong SXNN

đã chỉ ra rằng: những nông hộ có mức thu nhập thấp thường sợ rủi ro nên họ thường sử dụng không hiệu quả các nguồn lực trong SXNN và thích sản xuất an toàn hơn là việc chấp nhận đầu tư rủi ro để đạt được tối đa hoá lợi nhuận như sử dụng phân bón, máy móc, đổi mới trong canh tác,… nhằm ổn định thu nhập, điều đó có thể ảnh hưởng đến những nổ lực làm giảm rủi ro trong sản xuất Những nông hộ có chấp nhận đánh đổi những rủi ro gặp phải với lợi ích kỳ vọng hay không phụ thuộc vào thái độ của họ đối với rủi ro

2.2.3.2 Sự nhận thức đối với rủi ro và nhu cầu bảo hiểm

Những nông hộ có quyết định mua bảo hiểm để giảm thiểu rủi ro hay không phụ thuộc vào khả năng nhận thức xảy ra và kích thước (mức độ nghiêm trọng) xảy ra rủi ro, sự nhận thức này thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan như kinh nghiệm trong quá khứ, độ tuổi, giới tính, những thông tin hậu quả

về rủi ro có thể xảy ra

Nếu cá nhân cho rằng khả năng xảy ra rủi ro là thấp thì họ thường là tự bảo vệ mình trước những rủi ro, khi đó nhu cầu bảo hiểm thấp dần(Petrolia và cộng sự, 2011) Hộ gia đình sẽ chi tiêu đầu tư nhiều hơn cho hoạt động giảm nhẹ

sự mất mát tiềm năng nếu như nó ảnh hưởng lớn mức thu nhập của nông hộ, cùng với tần suất xảy ra mất mát (biến động năng suất) và kinh nghiệm trong quá khứ về mất mát do rủi do có thể làm tăng nỗ lực giảm nhẹ sự mất mát đó (Smith và Watts, 2009) Cách tốt nhất để biết quan điểm của nông hộ về nhận

Trang 28

thức những rủi ro trong hoạt động SXNN cũng như việc mua bảo hiểm giảm nhẹ

sự mất mát do rủi ro đó là hỏi trực tiếp họ nhận thức như thế nào về những rủi ro xung quanh họ; đồng thời, Weerdt (2005) cũng đã đưa ra mô-đun về sự nhận thức rủi ro để giúp xác định xác suất sản lượng trong tương lai với các hoạt động

cụ thể, trong đó nông hộ được khuyến khích suy nghĩ về những rủi ro liên quan đến từng hoạt động như vậy, việc xây dựng các cận trên và cận dưới của sự nhận thức sẽ giúp biết được nhận thức của một người đối với các rủi ro liên quan đến đời sống sản xuất xung quanh họ, (Weerdt, 2005)

2.2.4 Thông tin chung về rủi ro và cách khắc phục rủi ro mà các hộ thường gặp

2.2.4.1 Các loại hình rủi ro mà hộ gia đình thường gặp

Rủi ro về thiên tai và dịch bệnh như ngập úng, lũ lụt, hạn hán, bão và các thiên tai khác sâu bệnh, dịch bệnh

Rủi ro về kinh tế như biến động giá sản phẩm trên thị trường, thiếu hoặc biến động giá cả thị trường đối với nguyên vật liệu dịch vụ đầu vào, thất nghiệp, tầu tư không hiệu quả

Rủi ro đối với các thành viên của hộ như hộ ly hôn, bất hòa hoặc xung đột trong gia đình hoặc đối với gia đình khác, thành viên hộ bị ốm nặng, bị thương, qua đời và các loại rủi ro khác

2.2.4.2 Phương pháp khắc phục rủi ro

Phương thức khắc phục rủi ro: Tự xoay xở, tìm thêm việc, giảm chi tiêu, vay tiền ngân hàng, bán tài sản khác, được Chính phủ hỗ trợ, được thanh toán

tiền bảo hiểm, được các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ…

2.3 Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nông nghiệp

2.3.1 Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng trong việc tạo ra thu nhập cho

Trang 29

hộ gia đình bởi vì con người là trung tâm, là nguồn tài nguyên vô tận để tạo ra của cải vật chất Trong đó, trình độ học vấn là một khía cạnh rất quan trọng để đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực Một nguồn nhân lực được xem là có chất lượng cao khi trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, kỹ năng lao động thành thạo Trình độ học vấn cao sẽ giúp họ dễ dàng tiếp thu, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, nhận định tốt và biết dùng các biện pháp trong khắc phục thiệt hại rủi ro trong sản xuất

Độ tuổi của người lao động cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng lao động cũng như hình thức lao động Đặc biệt lao động ở nông thôn thì cần nguồn lao động trẻ, có sức khỏe tốt bởi vì hầu hết những công việc ở nông thôn thường

là những việc làm nặng nhọc

Một số yếu tố khác cũng có ảnh hưởng đến quá trình sản xuất của nông hộ như số nhân khẩu, tỷ lệ phụ thuộc, giới tính của chủ hộ, đặc điểm dân tộc Tỷ lệ phụ thuộc là số người ăn theo trên một lao động trong hộ Tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì phúc lợi mà mỗi người trong hộ nhận được càng thấp, do một người lao động phải nuôi sống nhiều người hơn Đặc biệt là những hộ có nhiều trẻ em sẽ

có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn những hộ có ít trẻ em Những hộ dân tộc thiểu số sống ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa, có cơ sở hạ tầng kém phát triển, ít có điều kiện học hành vì thế kỹ năng ứng dụng kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh cũng rất kém Hơn nữa, các hộ dân tộc thiểu số thường có đông con đất đai ít và không màu mỡ, nên có thu nhập thấp hơn hộ người Kinh

Trang 30

tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Chưa kể những hộ không có vốn để sản xuất, không được vay ngân hàng vì không có tài sản thế chấp, làm không đủ ăn, thường xuyên phải đi làm thuê hoặc đi vay tư nhân để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tiếp cận tín dụng là điều kiện quan trọng để người nghèo tăng cường đầu tư cho sản xuất, tái đầu tư cho sản xuất khi gặp rủi

ro xảy ra, trang trải chi phí học hành cho con cái Nhờ đó, mà ổn định đời sống của nông hộ

2.3.3 Nguồn lực vật chất

Nguồn lực vật chất bao gồm đất đai, máy móc thiết bị phục vụ cho việc sản xuất Nguồn lực về tài chính có thể hình thành nên nguồn lực vật chất Tuy nhiên nếu nguồn lực vật chất sẵn có sẽ góp phần khuếch đại những nguồn lực khác Đất sản xuất là một trong những nguồn lực vật chất quý giá giúp cho người dân phát triển kinh tế, bởi vì nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc thù, nơi đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, là môi trường cho cây trồng sinh sinh trưởng và phát triển

Số lượng diện tích nhiều hay ít, độ màu mỡ của đất sẽ ảnh ảnh trực tiếp sản lượng sản xuất ra nhờ đó cải thiện mức sống tốt hơn những hộ khác Diện tích càng nhiếu thì chi phí sản xuất càng cao, sản lượng càng lớn, nếu gặp rủi ro trong sản xuất thì hậu quả thiệt hại càng nhiều, có khi làm cho nông hộ dẫn đến đói nghèo

2.3.4 Nguồn lực xã hội và nguồn lực tự nhiên

Nguồn lực xã hội được thể hiện ở khả năng hỗ trợ của các tổ chức xã hội như hội phụ nữ, hội nông dân, Đoàn thanh niên, trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình, tạo công ăn việc làm, góp phần tạo thêm nguồn thu nhập cho hộ gia đình Các tổ chức này có thể tự giám sát, kiểm tra, động viên lẫn nhau cùng làm kinh tế gia đình Và chính quyền địa phương có thể tuyên truyền các kế hoạch phát triển kinh tế hộ thông qua các hội đoàn thể này

Trang 31

Nguồn lực tự nhiên như nước, thời tiết, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của con người, cây trồng, vật nuôi Nước giúp cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, ngoài ra, còn có thời tiết, khí hậu, nhiệt độ và số giờ có ánh sáng mặt trời trong ngày cũng là yếu tố quyết định đến

sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng, vật nuôi

2.4 Tóm lược các nghiên cứu trước

Phạm Lê Thông (2013), khi đứng trước những lựa chọn về việc có tham gia bảo hiểm hay không? Những nông hộ thường xuyên xem xét những khả năng có thể xẩy ra thiệt hại để đưa ra quyết định tham gia bảo hiểm nhằm tối đa hóa phúc lợi của mình Đồng thời trong nghiên cứu về giá sẵn lòng trả cho bảo hiểm cây lúa theo chỉ số năng suất được thực hiện ở tỉnh Đồng Tháp của Nguyễn Văn Trang (2013) cũng cho kết quả tương tự là những hộ nào từng bị ảnh hưởng ngập lũ lớn trong quá khứ sẽ tăng khả năng tham gia mua bảo hiểm cây lúa

Theo Quiggin và cộng sự (1993), những nông hộ có nhu cầu mua bảo hiểm nông nghiệp khi họ có nguy cơ đối diện với rủi ro cao trong sản xuất nông nghiệp, những rủi ro này xuất phát từ thời tiết, khu vực; khi nông hộ đã lựa chọn mua bảo hiểm rồi thì có thể sẽ không chăm sóc tốt cây trồng và tìm giải pháp né tránh các rủi ro khi họ không mua bảo hiểm

Path và cộng sự (2010), khi những nông hộ nhận thấy những mất mát tiềm năng ảnh hưởng càng lớn đến thu nhập, tài sản thì càng ảnh hưởng lớn đến quyết định tham gia bảo hiểm nông nghiệp

Smith & Watts (2009), ở các nước đang phát triển, những nông hộ có mức thu nhập thấp lại sẵn sàng đầu tư một phần chi phí để chống lại các rủi ro vì nó

có thể ảnh hưởng đến tài sản, thu nhập của họ

Theo Clarke (2011), những nông hộ có tham gia các tổ chức xã hội ở địa phương, các tổ chức cho vay tiết kiệm cũng có ảnh hưởng đến quyết định tham

Trang 32

mua bảo hiểm Cũng theo Ramasubramanian (2012) thì yếu tố tiền tiết kiệm, khả năng vay mượn và thu nhập khác ngoài thu nhập từ nông nghiệp cũng có ý nghĩa thống kê cao ảnh hưởng đến việc tham gia mua bảo hiểm

Theo Dercon và cộng sự (2008), đối với những nông hộ ở các nước đang phát triển thì sự hiểu biết và thông tin về các sản phẩm mới ( sản phẩm nông nghiệp theo chỉ số) có thể làm hạn chế mức độ mua bảo hiểm của nông hộ, nhưng khi sự hiểu biết về công ty bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm sẽ làm gia tăng

sự tham gia mua bảo hiểm

Các nghiên cứu của Binswanger-Mkhize (2012), Clarke & Kalani (2011), Smith & Watts (2009) cho rằng: những nông hộ xem xét tính hiệu quả, chi phí, lợi ích, chiến lược sẵn có quản trị rủi ro ( như tiết kiệm, vay, ký kết hợp đồng với công ty nông nghiệp, tham gia các tổ chức xã hội, ) so với mua bảo hiểm, sau đó nông hộ mới quyết định đến việc sẵn sàng chi trả mức phí bảo hiểm

Theo nghiên cứu của Lương Thị Ngọc Hà (2014), Đánh giá mức độ sẵn sàng chi trả bảo hiểm nông của hộ gia đình nông thôn ở huyên Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh gồm 07 biến độc lập đó là: Tuổi của chủ hộ, học vấn chủ hộ, số nhân khẩu (Quy mô hộ), Diện tích trồng lúa, Thông tin bảo hiểm, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp và nhận hỗ trợ tín dụng Tuy nhiên kết quả cho thấy có 04 biến ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng chi trả bảo hiểm cây lúa gồm diện tích trồng lúa, thông tin về bảo hiểm, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp và các chính sách tín dụng; 03 biến còn lại không ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng chi trả bảo hiểm cây lúa là: Tuổi của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ và quy mô hộ

Dương Công Định (2014) với công trình nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm nông nghiệp và giá sẵn lòng trả bảo hiểm cây lúa ở huyện Châu Phú, tỉnh An Giang Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm ra được giá sẵn lòng trả cho việc mua bảo hiểm cây lúa theo chỉ số năng suất

ở huyện Châu Phú, tỉnh An Giang và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết

Trang 33

định mua bảo hiểm Xem xét các yếu tố nào tác động đến sự sẵn sàng tham gia (WTJ) mua bảo hiểm cây lúa, những yếu tố nào ảnh hưởng đến giá sẵn lòng trả (WTP) của nông hộ về việc mua bảo hiểm cây lúa và đề ra các gợi ý chính sách nhằm góp phần tăng số người tham gia mua bảo hiểm cây lúa Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình WTP có tất cả 8 biến số độc lập, trong đó có 04 biến có ý nghĩa thống kê gồm: Biến hộ đã từng tiết kiệm để ứng phó với rủi ro, biến hộ ứng phó rủi ro bằng ký kết với công ty nông nghiệp, biến sản xuất 2 vụ lúa trên năm, biến sự hiểu biết của nông hộ về sản phẩm bảo hiểm theo chỉ số Có 04 biến độc lập không có ý nghĩa thống kê bao gồm: Biến mức độ chấp nhận rủi ro, của nông hộ; biến hộ có thu nhập ngoài trồng lúa; biến tổng thu nhập của nông

hộ và biến diện tích đất trồng lúa của nông hộ

Phan Thị Ánh Nguyệt (2013) đã tiến hành phân tích phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa của nông hộ trồng lúa tại tỉnh Đồng Tháp Nghiên cứu này dùng các phương phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để phân tích và đánh giá về thực trạng tham gia bảo hiểm cây lúa của nông hộ

Ngoài ra, để xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng mô hình Probit Kết quả phân tích mô hình hồi quy cho thấy có 5 biến độc lập bao gồm các biến tham gia tập huấn kỹ thuật, quy mô hộ, diện tích đất nông nghiệp, giá bán trung bình và năng suất trung bình có ý nghĩa về mặt thống kê Tuy nhiên các biến còn lại là: tuổi, giới tính và chi phí sản xuất không có ý nghĩa trong mô hình, không ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa của nông hộ Nguyên nhân

là do những hộ tham gia bảo hiểm cây lúa đa phần là hộ nghèo và cận nghèo hộ không thuộc diện nghèo có tham gia nhưng không nhiều nên tuổi cao hay thấp cũng không ảnh hưởng đến quyết định tham gia, chi phí sản xuất ở vùng nông thôn thường không quá cao nên không phải là chỉ tiêu quan trọng để xem xét quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa của nông hộ

Trang 34

Đối với các kết quả nghiên cứu số lượng mẫu thống kê không lớn do vậy chưa đại diện cho tổng thể; bên cạnh đó các nghiên cứu đều chưa đưa nhân tố ảnh hưởng là hỗ trợ kinh phí cho các nông hộ để mua bảo hiểm từ nguồn ngân sách chính phủ, các nhân tố tác động từ các doanh nghiệp bảo hiểm

Tóm lại: Qua việc tổng quan một số nghiên cứu trước có liên quan, tác

giả nhận thấy rằng phần lớn các nghiên cứu trước đều sử dụng mô hình hồi quy

đa biến để ước lượng Các nhân tố tác động đến quyết định tham gia mua bảo hiểm nông nghiệp của nông hộ có thể được tóm tắt trong bảng sau:

Bảng 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nông nghiệp

1 Trình độ học vấn Lương Thị Ngọc Hà (2014)

2 Giới tính chủ hộ Phan Thị Ánh Nguyệt (2013)

3 Quy mô hộ Lương Thị Ngọc Hà (2014), Phan Thị Ánh

Nguyệt (2013)

4 Tập huấn Phan Thị Ánh Nguyệt (2013)

5 Thông tin bảo hiểm Dương Công Định (2014), Lương Thị Ngọc

Hà (2014)

6 Vay vốn (tín dụng) Lương Thị Ngọc Hà (2014)

7 Chi phí sản xuất Phan Thị Ánh Nguyệt (2013)

8 Diện tích sản xuất Dương Công Định (2014), Lương Thị Ngọc

Trang 35

STT Tên nhân tố Tác giả nghiên cứu trước đây

11 Tiết kiệm để ứng

phó với rủi ro

Dương Công Định (2014)

12 Giá bán trung bình Phan Thị Ánh Nguyệt (2013)

13 Năng suất trung

2.5 Khung phân tích và giả thuyết nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lý thuyết về bảo hiểm, thu nhập nông hộ và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cũng như các việc tổng quan của các nghiên cứu trước có liên quan ở trên, có thể xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm nông nghiệp của nông hộ như sau:

Giới tính (X1): là giới tính của chủ hộ, được xem như là biến giả, có giá

trị là 1 nếu chủ hộ là nam và giá trị 0 nếu chủ hộ là nữ Với đặc điểm kinh tế xã hội ở Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng, thì người nam giới luôn là người trụ cột và đưa ra các quyết định quan trọng trong gia đình Thông thường khi chủ hộ là nam giới thì họ sẽ có nhiều kinh nghiệm trọng việc trồng lúa vì đa

Trang 36

phần chủ hộ trồng lúa đều là nam, họ có thể dễ dàng gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm hơn nữ, khả năng biết đến bảo hiểm cây lúa cũng cao hơn, nên quyết định tham gia bảo hiểm cũng sẽ tăng Do vậy, giả thuyết sau được xây dựng để kiểm định một phần lý thuyết:

H1: Nếu chủ hộ gia đình là Nam thì khả năng (xác suất) tham gia bảo hiểm sẽ cao hơn so với hộ gia đình chủ hộ là Nữ

Tập huấn (X2): Là tham gia các lớp tập huấn của chính quyền địa

phương hoặc của công ty bảo hiểm về các hoạt động có liên quan đến sản xuất nông nghiệp cũng như việc ứng dụng KHKT vào sản xuất, Khi tham gia tập huấn, nông hộ có cơ hội tiếp cận với kỹ thuật sản xuất phù hợp, đặc biệt là phân biệt được các rủi ro trong sản xuất do thiên tai và nhận thức rõ lợi ích của việc tham gia bảo hiểm Biến có giá trị là 1 nếu chủ hộ tham gia tập huấn và giá trị là 0 nếu chủ hộ không tham gia tập huấn Biến này được kỳ vọng sẽ có tương quan thuận với quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa

H2: Nếu chủ hộ có tham gia tập huấn thì khả năng (xác suất) tham gia bảo hiểm sẽ cao hơn so với hộ gia đình không tham gia tập huấn

Trình độ học vấn( X3 ): Biến này thể hiện trình độ học vấn của chủ hộ

liên quan đến sản xuất nông nghiệp, mặt khác nếu đình độ học vấn cao sẽ có nhận thức tốt về khả năng rủi ro trong sản xuất và cách khắc phục tốt rủi ro trong sản xuất, lúc đó sẽ quyết định mua bảo hiểm hay không Mặt khác bảo hiểm nông nghiệp là một loại hình bảo hiểm hoàn toàn mới ở địa bàn nông thôn, những nông dân có trình độ học vấn thường có sự cân nhắc rất kỹ giữa chi phí

và lợi ích từ bảo hiểm, mặt khác do chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa lần đầu triển khai nên còn tồn tại nhiều bất cập trong văn bản hướng dẫn và công tác triển khai, chẳng hạn như các đại lý bảo hiểm và cán bộ địa phương đã được tập huấn nhưng hoạt động còn yếu, chưa thông tin đầy đủ về trách nhiệm và quyền lợi của nông dân khi tham gia bảo hiểm Đặc biệt là các quy định về bồi thường

Trang 37

còn nhiều phiền phức, trải qua nhiều khâu trung gian nên tốn nhiều thời gian và thậm chí có dư luận phản ánh về vấn đề rủi ro đạo đức trong khâu bồi thường làm sai lệch bản chất bảo hiểm Từ thực tế trên làm cho một số nông dân có hiểu biết không muốn tham gia bởi vì họ thiếu tin tưởng sản phẩm bảo hiểm và không muốn phiền phức cho gia đình, ngược lại nhiều hộ có học vấn thấp thường thiếu nhận thức về quy tắc và điều khoản hợp đồng bảo hiểm, nhưng do vận động của địa phương đã chấp thuận tham gia theo phong trào

H3: Khi trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì khả năng (xác suất) tham gia bảo hiểm trồng lúa sẽ tăng lên

Thông tin bảo hiểm (X4): Đây là biến xác định khả năng hiểu biết về các

thông tin bảo hiểm như: Mức phí bảo hiểm, thủ tục bồi thường thiệt hại, các hình thức bảo hiểm, mức bồi thường giá trị thiệt hại Có sự tương quan giữa sự hiểu biết về sản phẩm nông nghiệp và mong muốn tham gia của nông hộ, khi những nông hộ nhận thấy những mất mát tiềm năng ảnh hưởng càng lớn đến thu nhập, tài sản thì càng ảnh hưởng lớn đến quyết định tham gia bảo hiểm nông nghiệp (Path và cộng sự, 2010) Mặt khác do đặc tính vô hình của sản phẩm bảo hiểm và các thuật ngữ chuyên ngành được sử dụng trong hợp đồng, chẳng hạn như mức phí bảo hiểm, trách nhiệm khi tham gia, đáng quan tâm hơn là điều khoản bồi thường, nên đối với một số hộ dân thì sản phẩm bảo hiểm có thể khiến họ không dễ dàng hiểu hoặc hình dung cụ thể, vì thế người dân có xu thế không mua những sản phẩm họ không hiểu rõ vì họ lo sợ rằng sẽ quyết định sai lầm và chiu thiệt hại Bên cạnh đó do vị trí địa lý và văn hóa của những nông dân ít tiếp xúc và sử dụng các công cụ tài chính như là bảo hiểm Biến này có giá trị là 1 nếu chủ hộ được tiếp cận và hiểu biết với thông tin bảo hiểm và giá trị 0 nếu chủ hộ không được tiếp cận

H4: Nếu chủ hộ tiếp cận với thông tin bảo hiểm thì khả năng (xác suất) tham gia bảo hiểm sẽ cao hơn so với hộ gia đình không tiếp cận với thông tin bảo hiểm

Trang 38

Diện tích trồng lúa (X5): Đây là biến thể hiện tổng diện tích đất tham gia

trồng lúa của nông hộ, khi diện tích nhiều qua mô sản xuất lớn, người dân càng chăm sóc để tăng doanh thu mỗi vụ khi thu hoạch và lợi nhuận sau mỗi vụ cũng

sẽ cao, bên cạnh dó diện tích càng lớn thì người dân phải tiêu tốn nhiều chi phí đầu vào, khi sản xuất có xảy ra rủi ro họ bị thiệt hại ảnh hưởng nhiều đến năng suất, hiệu quả có khi dẫn đến trắng tay, nợ nần và nghèo đói, không có khả năng tái sản xuất, nếu như họ không có khã năng khắc phục, khi đó họ sẽ chọn đến bảo hiểm để khắc phục rủi ro từ nguồn tiền bồi thường của công ty bảo biểm Biến này sẽ có ảnh hưởng nhiều đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa của nông hộ

H5: Nếu diện tích trồng lúa tăng lên thì khả năng (xác suất) tham gia bảo hiểm sẽ tăng

Chi phí sản xuất trung bình (X6): là tổng chi phí đầu tư trong một vụ

của nông hộ, kể cả chi phí lao động gia đình Khi bỏ ra nhiều chi phí ai cũng hy vọng sẽ thu lại mức lợi nhuận cao Các nông hộ trồng lúa phần lớn không có nhiều khoản thu nhập khác, vốn đầu tư cho các chi phí đầu vào không nhiều Nhiều hộ mua phân và thuốc BVTV phải đợi đến cuối vụ mới thanh toán Vì thế, họ sẽ quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa Biến này được kỳ vọng sẽ có tương quan thuận với quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa

H6: Nếu chi phí sản xuất lúa tăng lên thì khả năng (xác suất) tham gia bảo hiểm sẽ tăng

Vay vốn (X7): Đây là biến phản ánh khả năng tiếp cận vay vốn tín dụng

trong sản xuất, có giá trị là 1 nếu chủ hộ được tiếp cận vay vốn và giá trị 0 nếu chủ hộ không được tiếp cận vay vốn sản xuất Nếu như khi có thiệt hại xây ra trong sản xuất mà khả năng tiếp cận tín dụng để vay vốn sản xuất tốt, kịp thời thì làm cho khả năng mua bảo hiểm giảm Ngược lại khi rủi ro xẩy ra hộ nông dân thiếu vốn sản xuất mà khả năng vay vốn kém thì việc quyết định mua bảo hiểm

để khắc phục rủi ro sẽ tăng lên và khi đó các tổ chức tín dụng yên tâm cho vay vốn

Ngày đăng: 17/10/2018, 22:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Báo cáo kết quả thí điểm nông nghiệp, Công ty Bảo Việt Nghệ An giai đoạn 2011-2013 Khác
3) Dương Công Định. Luận văn Thạc sỹ các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nông nghiệp và giá sẵn lòng trả cho bảo hiểm cây lúa ở huyện Châu phú, An Giang Khác
5) Đinh Phi Hổ. Tạp chí Kinh tế phát triển số 5/2007, bài Kiến thức nông nghiệp hành trang của nông dân thời kỳ hội nhập kinh tế Khác
6) Đinh Phi Hổ. Phương pháp nghiên cứu định lượng và những nghiên cứu thực tiễn trong kinh tế phát triển nông nghiệp, 2011 Khác
7) Lương Thị Ngọc Hà. Tạp chí khoa học ĐHQGHN. Kinh tế và kinh doanh, Tập 31, Số 1 ( 2015 ) 41-50 Khác
8) Vũ Đình Khôi và Quách Vũ Hiệp. Tạp chí khoa học trường Đại học Cần Thơ. Phần D: khoa học chính trị và Pháp luật: 35 (2014): 97-104 Khác
10) Phòng Kinh tế thị xã Hoàng Mai, 2014. Báo cáo kết quả sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp thị xã Hoàng Mai năm 2014. Hoàng Mai – Nghệ An Khác
11) Phòng Kinh tế thị xã Hoàng Mai, 2015. Báo cáo kết quả sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp thị xã Hoàng Mai năm 2015. Hoàng Mai – Nghệ An Khác
13) Phạm Thành Thái, 2015. bài giảng phương pháp nghiên cứu kinh tế Khác
14) Phạm Lê Thông 2013, Mức phí sẵn lòng trả cho bảo hiểm giá lúa của các nông hộ ở Cần Thơ. Số tạp chí 90 (2013) Trang: 3 – 9 Khác
15) UBND thị xã Hoàng Mai, 2013. Báo cáo kinh tế - xã hội thị xã Hoàng Mai, năm 2013, Hoàng Mai – Nghệ An Khác
16) UBND thị xã Hoàng Mai, 2014. Báo cáo kinh tế - xã hội thị xã Hoàng Mai, năm 2014, Hoàng Mai – Nghệ An Khác
17) UBND thị xã Hoàng Mai, 2015. Báo cáo kinh tế - xã hội thị xã Hoàng Mai, năm 2015, Hoàng Mai – Nghệ An Khác
18) UBND thị xã Hoàng Mai, 2016. Báo cáo kinh tế - xã hội thị xã Hoàng Mai, năm 2016, Hoàng Mai – Nghệ An.Tiếng Anh Khác
19) Binswanger-Mkhize (2012), Is There Too Much Hype about Index-based Agricultural Insurance?, The Journal of Development Studies, Volume 48 (2), 2012 Khác
20) Clarke & Kalani 2011, Microinsurance decisions: evidence from Ethiopia, 7 th international microinsurance conference 9 november 2011, France Khác
21) Quiggin j., Karagiannis G. & Stanton J.1993, Crop Insurance and Crop Production: An Empirical Study of Moral Hazard and Adverse Selection.Australian Journal of Agricultural and Resource Economics, Vol. 37(02) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm