1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xác định các thông số di truyền tính trạng tăng trưởng và tỷ lệ sống trên cá rô phi vằn dòng GIFT (oreochromis niloticus) thế hệ chọn giống thứ 6 tại đồng bằng sông cửu long

60 124 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 2,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG LÊ TRUNG ĐỈNH XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ DI TRUYỀN TÍNH TRẠNG TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG TRÊN CÁ RÔ PHI VẰN THỨ 6 TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ TRUNG ĐỈNH

XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ DI TRUYỀN TÍNH TRẠNG TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG TRÊN CÁ RÔ PHI VẰN

THỨ 6 TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA, 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ TRUNG ĐỈNH

XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ DI TRUYỀN TÍNH TRẠNG TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG TRÊN CÁ RÔ PHI VẰN

THỨ 6 TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài „Xác định các thông số di truyền tính

trạng tăng trưởng và tỷ lệ sống trên cá rô phi GIFT (Oreochromis niloticus) thế

hệ chọn giống thứ 6 tại Đồng bằng sông Cửu Long‟ là công trình nghiên cứu của cá

nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Tiền Giang, ngày 10 tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

Lê Trung Đỉnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban trường Đại học Nha Trang, các thầy cô Viện Nuôi trồng Thủy sản trường Đại học Nha Trang cùng với Ban Giám đốc và cán bộ Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ, Viện Nghiên Cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Văn Minh và TS Trịnh Quốc Trọng đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến sự giúp đỡ này

Cuối cùng, là lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình cùng những người thân trong gia đình và bạn bè, những người đã giúp đỡ tôi về tinh thần và vật chất, để tôi vượt qua những khó khăn trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tiền Giang, ngày 15 tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

Lê Trung Đỉnh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Phân loại và nguồn gốc cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) 3

1.1.1 Phân loại 3

1.1.2 Nguồn gốc 3

1.2 Đặc điểm sinh học của cá rô phi vằn 4

1.2.1 Hình thái, sinh thái phân bố 4

1.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng 4

1.2.3 Đặc điểm sinh trưởng 5

1.2.4 Đặc điểm sinh sản 5

1.3 Tình hình nuôi cá rô phi vằn trên thế giới 7

1.4 Tình hình nuôi cá rô phi vằn ở Việt Nam 8

1.5 Tình hình chọn giống cá rô phi vằn 10

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 12

2.2 Nội dung nghiên cứu 12

2.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 13

2.3.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ 13

2.3.2 Ghép cặp cá rô phi vằn bố mẹ G5 sản xuất gia đình thế hệ G6 14

2.3.3 Thu trứng và ấp trứng 14

2.3.4 Ương nuôi cá bột đến kích cỡ đánh dấu 15

2.3.5 Đánh dấu PIT (Passive Integrated Transponder) 15

2.3.6 Nuôi tăng trưởng cá đánh dấu trong ao 16

Trang 6

2.4 Thu thập và xử lý số liệu 16

2.4.1 Thu thập số liệu 16

2.4.2 Công thức tính toán 16

2.4.2.1 Hệ số di truyền tính trạng tăng trưởng và tỉ lệ sống 17

2.4.2.2 Tương quan di truyền giữa tính trạng tăng trưởng và tỉ lệ sống 18

2.4.3 Phần mềm xử lý số liệu 18

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19

3.1 Biến động các yếu tố môi trường nước 19

3.2 Kết quả nuôi vỗ cá bố mẹ thế hệ G5 và sản xuất các gia đình thế hệ G6 20

3.2.1 Kết quả nuôi vỗ cá bố mẹ thế hệ G5 20

3.2.2 Kết quả ghép cặp sản xuất các gia đình thế hệ G6 21

3.2.3.Kết quả quá trình nuôi cá bột đến kích cỡ đánh dấu 22

3.3 Kết quả đánh dấu các gia đình thế hệ G6 22

3.4 Kết quả nuôi tăng trưởng các gia đình thế hệ G6 22

3.4.1 Kết quả tăng trưởng về khối lượng 23

3.4.2 Kết quả tăng trưởng về chiều dài 23

3.5 Thông số di truyền tính trạng khối lượng và tỉ lệ sống thế hệ G6 23

3.5.1 Khối lượng thu hoạch 23

3.5.2 Tỉ lệ sống tại thời điểm thu hoạch 25

3.6 Tương quan di truyền giữa các tính trạng khối lượng và tỉ lệ sống 26

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 27

4.1 Kết luận 27

4.2 Đề xuất 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO 28 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Phương sai di truyền cộng gộp (additive genetic variance)

Phương sai ảnh hưởng của môi trường ương nuôi riêng rẽ (common environmental effects variance)

Phương sai số dư (re idual variance)

Phương sai kiểu hình (phenotypic variance)

Độ lệch chuẩn tính trạng (phenotypic standard deviation)

Hiệu quả chọn lọc (response to selection)

WF Trung tâm Nghề cá Thế giới (WorldFish)

GIFT Dự án cải thiện di truyền cá rô phi (Genetically Improved Farmed Tilapia)

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Phân biệt cá rô phi đực và cá rô phi cái 6

Bảng 3.1 Các chỉ tiêu môi trường nước ao trong thời gian sinh sản cá 19

Bảng 3.2 Các chỉ tiêu môi trường ao ương cá bột đến kích cỡ đánh dấu 19

Bảng 3.3 Các chỉ tiêu môi trường ao nuôi tăng trưởng đến khi thu hoạch 19

Bảng 3.4 Số lượng và khối lượng (trung bình  độ lệch chuẩn) của cá bố mẹ rô phi vằn G5 trước và sau khi nuôi vỗ 20

Bảng 3.5 Kết quả sinh sản các gia đình qua từng đợt 21

Bảng 3.6 Kết quả tăng trưởng chiều dài tổng, chiều dài chuẩn khi thu hoạch cá rô phi vằn G6 23

Bảng 3.7.Các thành phần phương sai, hệ số di truyền và ảnh hưởng của môi trường ương nuôi riêng rẽ của tính trạng khối lượng thu hoạch trên rô phi vằn dòng GIFT thế hệ G6 24

Bảng 3.8 Các thành phần phương sai, hệ số di truyền và ảnh hưởng của môi trường ương nuôi riêng rẽ của tính trạng tỉ lệ sống tại thời điểm thu hoạch („sống‟ = 1, „chết‟ = 0) ở cá rô phi vằn dòng GIFT thế hệ G6 26

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) 3

Hình 1.2 Hình dạng ngoài cơ quan sinh dục phụ ở cá rô phi vằn đực (trái) và cái (phải) 6Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 13

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Đề tài „Xác định các thông số di truyền tính trạng tăng trưởng và tỉ lệ sống tại

thời điểm thu hoạch trên cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) dòng GIFT chọn giống

tại thế hệ thứ 61 tại Đồng bằng sông Cửu Long‟ thuộc dự án chương trình chọn giống trọng điểm tại khu vực phía Nam do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II kết hợp cùng Trung tâm nghề cá Thế giới (WorldFish, WF) thực hiện tại Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ Mục tiêu của chương trình chọn giống này nhằm cải thiện tăng trưởng cá rô phi vằn dòng GIFT tại Việt Nam

Với 290 cá rô phi vằn dòng GIFT cái và 115 cá đực thế hệ thứ 5 qua 2 tháng nuôi

vỗ thành thục, số lượng cá cái được đánh giá đạt mức độ „sẵn sàng đẻ‟ đạt 49%, số cá cái có buồng trứng đang phát triển giai đoạn III là (40%) Như vậy, tổng số cá cái thành thục tốt đạt 89%, đáp ứng yêu cầu số lượng cá cái tham gia cho sản xuất các gia đình thế hệ G6

Sau 36 ngày ghép cặp cho sinh sản và qua 7 đợt thu và ấp nở trứng, đến thời điểm cá bột 10 ngày tuổi thì thu được 113.367 cá thể thuộc 124 gia đình Tỉ lệ trứng thụ tinh là 87,5 ± 21,3%, tỉ lệ nở 90,6 ± 4,3% và tỉ lệ sống của cá bột đến 10 ngày tuổi

là 89,5 ± 4,8% Như vậy các chỉ tiêu sinh sản như tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ nở và tỉ lệ sống cá bột đến 10 ngày tuổi đều đạt yêu cầu cho chọn giống

Từng gia đình chọn ngẫu nhiên 300 cá bột 10 ngày tuổi để ương nuôi đến kích cỡ đánh dấu Số lượng cá con của từng gia đình tại thời điểm đánh dấu đều > 100 cá thể, vượt xa số lượng 50 cá thể cần thiết để đánh dấu PIT cho nuôi tăng trưởng

Mỗi gia đình được đánh dấu 50 cá thể, khối lượng trung bình của cá giống khi đánh dấu là 11,6 ± 3,6 g , chiều dài tổng trung bình cá giống đạt 8,3 ± 2,7 cm; chiều dài chuẩn trung bình đạt 6,6 ± 2,1 cm và chiều cao thân trung bình đạt 2,7± 0,7 cm

Số lượng cá nuôi sau khi đánh dấu là 6.200 cá thể Sau thời gian 6 tháng nuôi (từ 4/4/2015 đến 4/10/2015) đã thu hoạch được 2.174 cá thể, khối lượng trung bình sau thu hoạch đạt 610,6 ± 138,0 g, tốc độ tăng trưởng trung bình tuyệt đối là 3,3 g/ngày

Cá rô phi vằn dòng GIFT thế hệ G6 có hệ số di truyền (h 2) đối với tính trạng tăng trưởng về khối lượng ở mức cao, 0,47  0,13 Ảnh hưởng của môi trường ương nuôi

1

Trang 11

riêng rẽ (c 2

= 0,08  0,04) chiếm 8% phương sai kiểu hình Hệ số di truyền của tính trạng tỉ lệ sống tại thời điểm thu hoạch ở mức thấp 0,15  0,03

Tương quan di truyền giữa tính trạng khối lượng thu hoạch và tỉ lệ sống là 0,14 

0,10 Điều này cho phép nhận định việc chọn lọc đồng thời hai tính trạng tăng trưởng

và tỉ lệ sống là khả thi Ngay cả khi chọn lọc chỉ dành cho tính trạng khối lượng thu hoạch thì tỉ lệ sống cũng sẽ được cải thiện

Từ khóa: Di truyền, chọn giống, rô phi vằn, dòng GIFT, Oreochromis niloticus

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cá rô phi là tên gọi chung của nhiều loài cá thuộc họ Cichlidae, được chia làm ba

nhóm chính là Tilapia, Sarotherodon và Oreochromis dựa trên tập tính sinh sản và nuôi giữ con [10] [17] Trong số này, cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) được nuôi

phổ biến nhất trên toàn thế giới [11] [18]

Ở Việt Nam, cá rô phi vằn là loài cá nước ngọt được nuôi phổ biến thứ nhì, sau

cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) Đồng bằng sông Cửu Long là vùng nuôi cá rô

phi trọng điểm của cả nước, với ba mô hình là nuôi bè trên sông, nuôi đơn trong ao và nuôi kết hợp trong mô hình vườn-ao-chuồng Trong đó, sản lượng chủ yếu là từ nuôi

bè [2]

Năm 2015, tổng sản lượng cá rô phi các vùng trên cả nước là 187.800 tấn, diện tích đạt 25.748 ha và 1.210.465 m3 lồng, bè Nỗ lực chung của ngành thủy sản nước ta đến năm 2020 đạt 300.000 tấn cá rô phi nuôi là chủ đề được đưa ra tại thảo luận tại Hội chợ thủy sản quốc tế VietFish 2016 Tuy nhiên, mục tiêu này là thách thức lớn đối với ngành thủy dản nước ta, do chất lượng cá giống suy giảm, cá tăng trưởng chậm, tỉ

lệ sống thấp [16]

Việc đánh giá chất lượng các đàn cá rô phi nuôi thương phẩm cũng như phục vụ công tác chọn giống trên đối tượng này ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế Dữ liệu

về tăng trưởng và tỷ lệ sống trên cá rô phi còn rời rạt Điều này dẫn đến nghề nuôi cá

rô phi ngày càng khó khăn do thiếu đàn cá bố mẹ và cá giống chất lượng Để nghề nuôi cá rô phi vằn phát triển tốt hơn cần có những nghiên cứu đánh giá các mối tương quan di truyền trên đối tượng này Đặc biệt là các mối tương quan di truyền về tăng trưởng và tỉ lệ sống

Vì vậy, việc thực hiện đề tài „Xác định các thông số di truyền tính trạng tăng

trưởng và tỷ lệ sống trên cá rô phi vằn dòng GIFT (Oreochromis niliticus) thế hệ chọn

giống thứ 6 tại Đồng Bằng Sông Cửu Long‟ là cần thiết Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi ước tính các thông số di truyền của tính trạng tăng trưởng và tỉ lệ sống

tại thời điểm thu hoạch trên cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) dòng GIFT chọn

giống tại thế hệ thứ 6 tại Đồng bằng sông Cửu Long

Mục tiêu của đề tài

Xác định được các thông số di truyền tính của trạng tăng trưởng và tỷ lệ sống trên cá rô phi vằn dòng GIFT thế hệ chọn giống thứ 6 tại Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 13

Nội dung nghiên cứu

Phân tích các thông số di truyền của tính trạng tăng trưởng trên cá rô phi vằn dòng GIFT thế hệ chọn giống thứ 6 tại Đồng bằng sông Cửu Long

Đánh giá các thông số di truyền của tính trạng tỷ lệ sống trên cá rô phi vằn dòng GIFT thế hệ chọn giống thứ 6 tại Đồng bằng sông Cửu Long

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Đề tài góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học về di truyền tính trạng tăng trưởng và tỉ lệ sống trên cá rô phi vằn

Kết quả của đề tài là cơ sở cho việc chọn giống cá rô phi dòng GIFT tại Đồng

Bằng sông Cửu Long

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Phân loại và nguồn gốc cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus)

Giống: Oreochromis Loài: Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758)

Tên tiếng Việt: Cá rô phi vằn

Tên tiếng Anh: Tilapia

Hình 1.1 Cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus)

1.1.2 Nguồn gốc

Cá rô phi là tên gọi chung của một số loài cá thuộc họ Cichlidae, được chia làm

ba nhóm chính là Tilapia, Sarotherodon và Oreochromis dựa trên tập tính sinh sản và

nuôi giữ con [17] Trong đó, bốn loài được nuôi phổ biến trên thế giới là cá rô phi vằn

(O nileticus) cá rô phi xanh (O aureus), cá rô phi đỏ (Oreochromis sp) và cá rô phi đen (O mossambicus)

Trang 15

Có nguồn gốc từ Châu phi, cá rô phi vằn còn được gọi là cá rô phi sông Nile Cá sống tốt ở nhiều điều kiện môi trường khác nhau Hiện nay, cá rô phi được nuôi phổ biến trên thế giới, tập trung ở các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam

1.2 Đặc điểm sinh học của cá rô phi vằn

1.2.1 Hình thái, sinh thái phân bố

Cá rô phi vằn có thân cao, hình hơi bầu dục, dẹp bên, đầu ngắn, miệng rộng hướng ngang, hai hàm dài bằng nhau, môi trên dầy Lỗ mũi gần mắt hơn mõm Khoảng cách hai mắt rộng, gáy lõm ở ngang lỗ mũi Vây ngực nhọn, dài, mềm.Vây bụng to cứng, chưa tới lỗ hậu môn Toàn thân phủ vẩy, ở phần lưng có màu sáng vàng nhạt hoặc xám nhạt, phần bụng có màu trắng ngà hoặc màu xanh nhạt Trên thân có từ

6 – 8 vạch sắc tố chạy từ lưng xuống bụng Các vạch sắc tố ở các vây đuôi, vây lưng

rõ ràng hơn [4];[5]

Cá rô phi sống trong nước ngọt, phát triển tối ưu ở độ mặn dưới 5 ppt Cá sống ở tầng nước dưới và đáy, có thể chịu đựng được ở vùng nước có hàm lượng ôxy hoà tan thấp 1 mg/l, ngưỡng gây chết cho cá khoảng 0,3 – 1,0 mg/l Giới hạn pH là 5 – 11 và

có khả năng chịu đựng NH3 là 2,4 mg/l Cá có nguồn gốc nhiệt đới, nhiệt độ thích hợp

để phát triển là 25 – 35C, chịu đựng kém với nhiệt độ thấp Nhiệt độ gây chết cho cá

là 11 – 12 oC [13]

1.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá rô phi sống được trong môi trường nước ngọt, lợ và mặn, ăn tạp thiên về thực vật, thức ăn chủ yếu là rong tảo và mùn bã hữu cơ, nhu cầu đạm thấp, hàm lượng đạm trong thức ăn 25-35% cho sinh trưởng tốt [12], [17] Hay ấu trùng các loại côn trùng, động vật sống ở trong nước như: cỏ, bèo, rau và cả phân hữu cơ Giai đoạn từ cá bột lên cá hương ăn chủ yếu là tảo và động vật phù du Giai đoạn từ cá hương lên cá trưởng thành ăn chủ yếu là mùn bả hữu cơ và thực vật phù du [9]

Khi còn nhỏ, cá rô phi ăn sinh vật phù du là chủ yếu, khi cá được 17 – 18 mm trở

đi (sau khi nở 20 ngày) sẽ chuyển sang ăn nhiều loại thức ăn khác nhau như cá trưởng thành Thức ăn của cá trưởng thành là mùn bã hữu cơ lẫn tảo lắng ở đáy, ấu trùng côn trùng, giun và một phần thực vật thượng đ ng loại mềm, sinh vật phù du có khi ăn cả sinh vật bơi lội Trong điều kiện nuôi chúng còn có thể ăn thức ăn bổ sung như cám, gạo, bột ngô, bánh dầu khô và các phế phẩm khác, đặc biệt chúng có thể ăn cả thức ăn viên, đây là đặc điểm thuận lợi cho nghề nuôi cá [10]; [14], [19]

Trang 16

1.2.3 Đặc điểm sinh trưởng

Cá rô phi lớn nhanh, tuy nhiên tốc độ lớn phụ thuộc nhiệt độ, thức ăn, mật độ nuôi và loài cá Cá sau 1 tháng tuổi đạt 2 – 3 g/con Sau 2 tháng tuổi đạt 15 – 20 g/con Nuôi thương phẩm sau 4 – 5 tháng cá có thể đạt 0,4 – 0,6 kg/con Cá rô phi vằn lớn nhanh vào tháng 5 – 6, cá nuôi tốt 1 năm đạt 1 kg/con, cá lớn nhất đã từng được ghi nhận là 3 kg [3]

1.2.4 Đặc điểm sinh sản

Cá rô phi sống trong điều kiện nước ấm, có thể sinh sản quanh năm Ở miền Nam thì cá có thể đẻ 10 – 12 lần/năm, ở miền Bắc chỉ đẻ 5 – 7 lần/năm, khoảng cách giữa 2 lần là 22 – 24 ngày Khi đẻ, cá bố mẹ đào tổ ở đáy ao, tổ hình lòng chảo có đường kính

30 – 50 cm, sâu 10 – 15 cm Cá cái đẻ trứng vào tổ, cá đực phóng tinh cùng lúc Trứng thụ tinh được cá cái nhặt ấp trong miệng, sau 3 – 5 ngày trứng nở, cá mẹ tiếp tục chăm sóc 9 – 10 ngày, sau đó cá con rời khỏi mẹ và sống độc lập [8] Trong gian đoạn ấp trứng cá cái thường ngừng kiếm ăn Chúng kiếm ăn mạnh nhất khi thời kỳ ấp trứng đã kết thúc hoàn toàn và chuyển sang giai đoạn tái phát dục lần tiếp theo Giai đoạn kiếm

ăn tích cực kéo dài khoảng 2 – 4 tuần đến khi cá đã sẵn sàng tham gia sinh sản lần kế tiếp Chu kỳ sinh sản của cá rô phi kéo dài khoảng 30 – 45 ngày từ khi sinh sản lần đầu đến khi sinh sản lần kế tiếp [3] Tuy nhiên khoảng cách giữa hai lần sinh sản còn phụ thuộc vào điều kiện dinh dưỡng, hàm lượng ôxy hoà tan và nhiệt độ, v.v Tùy theo kích cỡ và tuổi cá bố mẹ, thông thường mỗi lần cá đẻ khoảng 1.000 – 2.000 trứng đối với cá có trọng lượng 200 – 250 g/con [6]

Có thể phân biệt cá đực và cá cái khi cá lớn cỡ 6 – 7 cm bằng cách quan sát lỗ niệu sinh dục của cá: cá đực có 2 lỗ gồm lỗ hậu môn nằm phía trước và lỗ niệu sinh dục nằm phía sau Cá cái có 3 lỗ phía trước là lỗ hậu môn, tiếp đến là lỗ niệu nằm ở giữa và lỗ sinh dục nằm ở phía sau [7] Với cá trưởng thành khi thành thục tốt thì gai sinh dục của cá đực to và nhìn thấy rỏ, đối với cá cái khi thành thục tốt thì cơ quan sinh dục có màu hồng đỏ

Trang 17

Bảng 1.1 Phân biệt cá rô phi đực và cá rô phi cái

Đầu To và nhô cao Nhỏ, hàm dưới trề ra do

ngậm trứng và con Màu sắc Vây lưng và vây đuôi sặc sỡ Màu nhạt hơn

Cơ quan sinh dục Có 2 lỗ: lỗ niệu sinh dục và lỗ hậu

môn

Có 3 lỗ: lỗ niệu, lỗ sinh dục và lỗ hậu môn

Hình dạng huyệt Đầu thoát lỗ niệu sinh dục dạng lồi,

hình nón dài và nhọn

Dạng tròn, hơi lồi và không nhọn như cá đực

Hình 1.2 Hình dạng ngoài cơ quan sinh dục phụ ở cá rô phi vằn đực

(trái) và cái (phải)

Khi thành thục, cá bắt cặp và tự đào tổ ở đáy ao để đẻ trứng Cá cái đẻ trứng vào

tổ và cá đực tưới tinh dịch để thụ tinh Sau khi trứng thụ tinh, cá cái sẽ ngậm trứng vào miệng để ấp Cá cái giữ con trong miệng đến khi cá bột tiêu hết noãn hoàng và tự kiếm được thức ăn bên ngoài Sau 4 – 5 ngày, cá con tách khỏi mẹ, cá mẹ lại chuẩn bị cho chu kỳ sinh sản mới Thời gian giữa hai lứa đẻ tùy thuộc vào tuổi cá, nhiệt độ, loại thức ăn Trung bình cá đẻ từ 1.000 – 2.000 trứng, cá cỡ lớn có thể đẻ số lượng trứng nhiều hơn [1]; [11]

Trang 18

1.3 Tình hình nuôi cá rô phi vằn trên thế giới

Cá rô phi là loài dễ nuôi, có khả năng thích ứng rộng với môi trường nước ngọt

và nước lợ Cá có thể nuôi trong ao, trong lồng bè, trên sông, hồ chứa nước, nuôi trong ruộng Do vậy cá rô phi được phát triển và nuôi ở nhiều nước trên thế giới [13]

Châu Á

Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về nuôi và tiêu thụ cá rô phi Các hình thức nuôi rất đa dạng, từ những ao nhỏ sau nhà, nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến cho đến thâm canh và siêu thâm canh Quốc gia này có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu

cá rô phi nhanh nhất thế giới, tăng gần 3 lần trong năm 2000 so với năm 1999 (tương ứng 13.492 tấn và 5.728 tấn) Sản lượng năm 2010 đạt 1,2 triệu tấn, giảm 13% so với năm 2009 Năm 2016, tổng sản lượng cá rô phi của Trung Quốc đạt 393.000 tấn [16] Sản lượng cá rô phi của Philippines, Ðài Loan trung bình đạt 110.000 tấn/năm

Cá rô phi của Ðài Loan xuất sang Mỹ, Nhật dưới dạng sản phẩm nguyên con đông lạnh và phi lê, còn Philippines chủ yếu xuất sang thị trường Nhật với sản phẩm sashimi và phi lê Các công ty nuôi cá rô phi ở Ðài Loan có xu hướng chuyển hướng đầu tư vào Trung Quốc do các điều kiện về nhân công giá rẻ và có nhiều loại thức ăn giá rẻ có s n tại địa phương thuận lợi hơn nên giá thành sản xuất sẽ thấp hơn Nghề nuôi cá rô phi ở Indonesia đang phát triển, sản lượng đạt được mỗi năm khoảng 30.000 tấn, phần lớn tiêu thụ nội địa[16]

đã chuyển sang phát triển nuôi cá rô phi ở những ao nuôi tôm nhằm cải thiện môi trường, khi môi trường tốt hơn họ lại tiến hành nuôi tôm Trong năm 2016, sản lượng xuất khẩu cá rô phi của Mexico đạt 128.000 tấn Các bang sản xuất chính là Chiapas, Tabasco, Guerrero, Estado de México và Veracruz Một quốc gia khác là Peru, tuy mới phát triển nuôi cá rô phi sản lượng đạt 3.000 tấn vào năm 2005 nhưng có nhiều triển vọng trong tương lai [16]

Trang 19

Châu Phi

Cá rô phi có nguồn gốc từ châu Phi, tuy nhiên nghề nuôi cá rô phi lại chỉ mới bắt đầu phát triển ở châu lục này Ai Cập là nhà sản xuất cá rô phi lớn nhất, năm 2003 đạt sản lượng 200.000 tấn chiếm 90% sản lượng cá rô phi của châu lục Trong đó, có một sản lượng đáng kể cá được khai thác từ tự nhiên Zambia có kế hoạch mở rộng nuôi cá

rô phi theo mô hình tổng hợp heo cá, loài được nuôi là cá rô phi địa phương

Oreochromis andersonii và cá rô phi toàn đực dòng Ai Cập Với hình thức nuôi này,

mặc dù mang lại hiệu quả nhưng chất lượng cá nuôi không đảm bảo yêu cầu vệ sinh thực phẩm [16]

Châu Âu

Sản lượng cá rô phi nuôi ở châu Âu rất thấp do khu vực này có nhiệt độ thấp không thuận lợi để nuôi cá rô phi Bỉ là nước nuôi nhiều nhất với sản lượng đạt khoảng

300 tấn/năm Cá rô phi cũng được nuôi ở Hà Lan, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha, Ðức, Pháp

và Anh Nhu cầu tiêu thụ cá rô phi ở các quốc gia này tăng lên, cá rô phi được bày bán

ở nhà hàng và hệ thống siêu thị nhằm phục vụ cho một bộ phận dân cư có nguồn gốc

từ châu Á [16]

1.4 Tình hình nuôi cá rô phi vằn ở Việt Nam

Năm 1973, cá rô phi vằn được di nhập vào miền Nam nước ta Đến năm 1993, cá

rô phi vằn dòng GIFT được nhập vào Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I (Viện NCNT TS 1) từ Philippines Dòng cá này là kết quả của dự án “Nâng cao phẩm giống

di truyền cá rô phi nuôi” thông qua lai tạo và chọn lọc từ các dòng cá khác nhau Năm 2004,với số lượng 3.000 con được đưa vào lưu giữ tại Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II (Viện NCNT TS 2) trong khuôn khổ dự án NORAD [18] Tại thời điểm này, đàn cá được dùng để sản xuất cá giống để cung cấp cho người nuôi trong khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long

Nhu cầu về cá rô phi giống tăng cao từ những năm 2000, do cá rô phi là loài nuôi chủ lực trong môi trường nước ngọt chỉ sau cá tra Tuy nhiên, những năm gần đây nuôi

cá rô phi không phát triển mạnh do chất lượng con giống chưa cao ở một số địa phương, cá hay bị nhiễm bệnh khi nuôi trong bè, cá có mùi bùn khi nuôi trong ao có mực nước thấp, giá thành cao, chưa mở rộng được thị trường xuất khẩu, kém cạnh tranh do phát triển nuôi cá tra [15] Vì vậy, các vấn đề cần phải giải quyết để nghề

Trang 20

nuôi cá rô phi phát triển trong tình hình hiện nay là tạo ra con giống chất lượng cao, cải tiến kỹ thuật nuôi thâm canh cá trong ao với năng suất cao, giúp hạ giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng thịt đạt tiêu chuẩn xuất khẩu để góp phần cải thiện hiệu nghề nuôi

Mô hình thử nghiệm sản xuất giống và nuôi cá rô phi trong ao sâu được Viện NCNT TS II phối hợp thực hiện với các trại sản xuất giống cá rô phi và trang trại tư nhân đang nuôi cá tra Năm 2010, khoảng 10.000 cá rô phi dòng GIFT hậu bị thế hệ thứ 12, đã qua chọn lọc tại Viện NCNT TS II, được sử dụng để sản xuất cá giống cung cấp cho người nuôi

Nghề nuôi cá rô phi ở Việt Nam có những thuận lợi như diện tích mặt nước tiềm năng lớn (880.571 ha), con giống chất lượng cao đã được nghiên cứu thành công và có thể cung cấp chủ động cho người nuôi, tiêu thụ nội địa phát triển mạnh, giá bán chấp nhận được Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số khó khăn đó là thị trường xuất khẩu nhỏ,

có tính cạnh tranh cao, giá xuất khẩu ít lợi thế (thấp hơn giá nội địa), sản phẩm chưa

đa dạng Ngoài ra sản xuất còn phân tán giá thành sản xuất cao, cỡ thu hoạch tương đối nhỏ và không đồng cỡ cũng gây khó khăn cho việc xuất khẩu Bên cạnh đó, giống thích hợp cho việc nuôi ven biển còn thiếu nên khó khăn cho việc mở rộng diện tích nuôi một cách nhanh chóng [16] Để định hướng phát triển nghề nuôi cá rô phi, sử dụng hiệu quả mặt nước (ngọt, lợ, mặn), mở rộng diện tích nuôi cần phát triển mô hình bán thâm canh, tăng dần diện tích nuôi thâm canh nhà nước tiến hành qui hoạch các vùng nuôi trên cả nước [16]

Năm 2015, tổng sản lượng cá rô phi các vùng trên cả nước là 187.800 tấn, diện tích đạt 25.748 ha và 1.210.465 m3 lồng nuôi, giá trị ước đạt 4.200 tỷ đồng, tương đương 200 triệu USD, chiếm khoảng 3% giá trị nuôi trồng thủy sản Xuất khẩu cá rô phi năm 2015 hơn 27,5 triệu USD, với hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng nhẹ so với năm 2014 Ba nước nhập khẩu cá rô phi Việt Nam lớn nhất là Mỹ (trên 6 triệu USD), Tây Ban Nha (trên 3 triệu USD), và Colombia (trên 3 triệu USD) Tiêu thụ cá

rô phi tại thị trường nội địa tiếp tục phát triển với khoảng 160 nghìn tấn (năm 2015) [14] [16]

Tuy nhiên, sản xuất và tiêu thụ cá rô phi Việt Nam hiện nay còn nhiều khó khăn như thiếu nguồn giống chất lượng cao, kháng bệnh Tại khu vực phía Nam, 70% đàn

cá bố mẹ có dấu hiệu thoái hóa, tốc độ sinh trưởng chậm, đặc biệt là giống chịu mặn

Trang 21

Khu vực phía Bắc thường thiếu giống mùa đông Bên cạnh đó, chất lượng và kích cỡ

cá chưa đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu, quy hoạch thiếu, dịch bệnh còn xuất hiện khá nhiều nhất là đối với cá rô phi nuôi lồng bè [14]

Chiến lược mới trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam trong kế hoạch nuôi

cá rô phi giai đoạn năm 2020 đến năm 2030 của Chính phủ là đầu tư mới, nâng cấp và

mở rộng quy mô, năng lực các cơ sở sản xuất giống ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Quảng Ninh, Thái Bình và Thanh Hóa để cung cấp cho nhu cầu nuôi thương phẩm trong vùng và các địa phương khác ở miền Bắc Đầu tư cơ sở sản xuất giống ở Đắk Lắk để cung cấp nhu cầu giống nuôi cho 5 tỉnh khu vực Tây Nguyên Mở rộng quy mô sản xuất cá rô phi đơn tính đực tại Bình Định, Quảng Nam để cung cấp cho các cơ sở nuôi thương phẩm tại địa phương và đáp ứng một phần nhu cầu cá rô phi giống tại miền Bắc vào đầu vụ (tháng 2 - 4 hàng năm) Hình thành vùng sản xuất giống cá rô phi tập trung tại Tiền Giang, Hậu Giang, An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ để chủ động sản xuất con giống đảm bảo chất lượng, cung cấp đủ cho nhu cầu

đến năm 2020 là đạt 300.000 tấn cá rô phi đã được đưa ra tại thảo luận tại Hội chợ thủy sản quốc tế VietFish 2016 [14]

1.5 Tình hình chọn giống cá rô phi vằn

Từ năm 1997, phương pháp chọn giống cá rô phi truyền thống được áp dụng chương trình chọn giống theo tính trạng, trong đó tập trung vào tính trạng tăng trưởng

để nâng cao chất lượng di truyền [22]; [25]

Trên thế giớ có nhiều chương trình chọn giống tập trung vào tính trạng tăng trưởng, phương pháp là chọn lọc cá thể hoặc chọn lọc gia đình, trong đó chọn lọc cá thể trên cá rô phi được báo cáo là không hiệu quả [18] [26]

Một số chọn giống gia đình có hiệu quả được thực hiện, đó là dự án „Genetic Improvement of Farmed Tilapias‟ (GIFT), kết quả thu được tăng trưởng nhanh hơn 15 – 20% so với các dòng khác đang được nuôi lưu giữ tại Việt Nam.Chương trình đầu tiên về chọn giống nâng cao chất lượng di truyền cá rô phi ở Philippines, kết quả đã tạo ra cá rô phi dòng GIFT có tốc độ vượt trội 75% so với quần đàn bố mẹ ban đầu sau

5 thế hệ chọn giống, đồng thời tỷ lệ sống cũng được nâng cao [17];[38]. Dự án GIFT được bắt đầu từ 1988 [23] và kết thúc năm 1997 [21], kết quả của chương trình chọn giống về tăng trưởng tăng hơn 80% so với quần thể gốc sau 5 thế hệ chọn

Trang 22

giống [21] Cuối năm 2000, Trung tâm Nghề cá Thế giới (WorldFish Center, WFC) tiếp nhận GIFT thế hệ thứ 6 và tiếp tục chọn giống

Tại Philippines còn có chương trình GIFT-Excel là kết quả di truyền của cá rô phi thông qua việc lai tạo với tổ tiên để tạo ra đàn cá có tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống cao hơn ở các môi trường nuôi khác nhau [17]; [18]

Một số công trình nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng đàn cá rô phi thương phẩm như: Chọn giống làm chậm quá trình phát dục của cá rô phi tại Trung Quốc và

Ai cập [21], chọn giống tăng khả năng chịu lạnh tại Israel

Một số chương trình chọn giống khác trên cá rô phi được thực hiện trên thế giới như Genomar Supreme Tilapia [19]; [29] và Hainan Progift [20]; [30] Trong số này thì dự án GIFT là được ghi nhận có kết quả nhất [21], [22], [34]

Việt Nam có nhiều chương trình chọn giống trên cá rô phi Tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, cá rô phi dòng GIFT sau hai thế hệ chọn giống theo phương pháp gia đình, cá rô phi chọn giống có tốc độ tăng trưởng thêm 29,1% [15]

Tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II,vào Năm 2006 50 gia đình GIFT thế hệ thứ 10 được chuyển từ WFC đến để bắt đầu chương trình chọn giống cá GIFT tại Đồng bằng sông Cửu Long Cho đến nay, việc chọn giống đã thực hiện qua 5 thế

hệ, kết quả tăng trưởng qua các thế hệ từ 15-20% [17];[38] và đang tiếp tục sản xuất các gia đình thế hệ thứ 62

2

Trang 23

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu

Đề tài được tiến hành tại Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam

Bộ (huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; trực thuộc Viện NCNT TS II)

Thời gian tực hiện đề tài từ tháng 11/2014 đến tháng 11/2015

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) chọn

giống dòng GIFT thế hệ chọn giống thứ sáu (G6)

Chương trình chọn giống cá rô phi vằn dòng GIFT tại Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ áp dụng phương pháp GIFT do Trung tâm Nghề

cá Thế giới đề xuất [20] Theo đó, các cá thể có giá trị chọn giống (Estimated Breeding Value, EBV) cao nhất được chọn làm cá bố mẹ cho thế hệ sau Cá bố mẹ được ghép phối để sản xuất các gia đình thế hệ kế tiếp Cá con của từng gia đình được ương nuôi riêng rẽ Khi cá con đạt kích cỡ 5 g, đại diện ngẫu nhiên của các gia đình được đánh dấu từ PIT (Passive Integrated Transponder) và thả nuôi chung để đánh giá tăng trưởng Sau thời gian 6 tháng nuôi tiến hành thu hoạch và ghi nhận các chỉ tiêu như khối lượng, chiều dài thân, chiều cao thân, bề dày thân, giới tính để làm cơ sở ước tính các thông số di truyền

Cá rô phi dòng GIFT này có nguồn gốc từ thế hệ chọn lọc thứ 10 của Trung tâm Nghề cá Thế giới (World-Fish), được Viện NCNT TS II tiếp nhận trong năm 2006 cho chương trình chọn giống tiếp tục, thông qua hợp tác giữa Viện, Trung tâm Nghề cá Thế giới và Đại học Wageningen (Hà Lan) Cá đã qua chọn lọc thế hệ thứ 11, ước tính tăng trưởng nhanh hơn thế hệ trước là 12%

2.2 Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu được thực hiện theo sơ đồ khối (Hình 2.1)

Trang 24

Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 2.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm

2.3.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ

Cá rô phi vằn bố mẹ dòng GIFT (thế hệ G5) được nuôi vỗ riêng theo giới tính trong các giai có kích thước 5×10×1 m, đặt trong ao 2.000 m2, độ sâu 1,5 m (Hình phụ lục 2.2) Ao nuôi vỗ được tát cạn, bón vôi, với liều lượng 12,5 kg/100 m2 và phơi đáy

ao 2 ngày, sau đó lấy nước vào ao đạt mức nước 1,5 m thì thả cá nuôi vỗ Mật độ nuôi

Xác định các thông số di truyền tính trạng tăng trưởng của cá rô

phi vằn (O niloticus) chọn giống tại ĐBSCL

Nuôi tăng trưởng các gia đình cá chung trong ao

Đánh giá tăng trưởng, tỷ lệ sống và các thông số di truyền các tính

Trang 25

vỗ trong giai là 10 con/m2 đối với cá cái và 5 con/m2 đối với cá đực Cho cá ăn thức ăn viên nhãn hiệu Afiex (30% protein, 5% lipid), bổ sung thêm dầu mực (3%) Lượng cho

ăn chiếm 3 – 5% khối lượng thân, cho cá ăn 2 lần/ngày lúc 07:00 và 16:00 giờ Đảm bảo oxy hòa tan trong ao nuôi vỗ đạt 5 mg/l bằng cách sục khí liên tục trong giai Định

kỳ thay nước (7 ngày/lần) nhằm kích thích cá nhanh thành thục và giữ môi trường trong sạch tránh thức ăn thừa làm ô nhiễm môi trường nước trong ao Thường xuyên theo dõi hoạt động của cá và mức độ thành thục để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp, đồng thời theo dõi những chuyển biến xấu trong ao để kịp thời khắc phục

Thời gian nuôi vỗ là 60 ngày, từ đầu tháng 11 năm 2014 đến tháng hết tháng 12 năm 2014

Khi tuyển chọn cá ghép cặp sinh sản, cá cái có lỗ sinh dục đỏ hồng, sưng, nở rộng, bụng tròn đều Cá đực có cơ quan sinh dục to, màu sắc xanh sẩm hoặc đen, không có màu trắng nhạt

Cá đực, cắt môi trên và sát trùng vết cắt bằng dung dịch iodine 10% trước khi đưa vào ghép cặp sinh sản nhằm giảm thiểu tính hung hăng, có thể gây ra tổn thương cho cá cái

2.3.2 Ghép cặp cá rô phi vằn bố mẹ G5 sản xuất gia đình thế hệ G6

Mỗi cá đực được ghép cặp sinh sản với 2 cá cái để tạo ra các gia đình cùng cha khác mẹ Số lượng cá đực là 75 cá thể, cá cái là 150 cá thể Giai sinh sản có kích thước 1,5×2,0×1,0 m đặt trong ao 2.000 m2

(Hình 2.3) Định kỳ 4 ngày một lần kiểm tra giai sinh sản thu trứng hoặc cá bột

Tổng số gia đình được tạo là 124, trong đó có 74 gia đình cùng cha cùng mẹ và

50 gia đình cùng cha khác mẹ

Thu trứng hoặc cá con riêng rẽ theo từng gia đình, sau đó ghép một cá cái thành thục khác để tiếp tục sinh sản với cùng cá đực Những cá cái chưa đẻ sẽ được thay thế bằng một cá cái „sẵn sàng đẻ‟ khác Sau 8 ngày nếu cá cái thứ hai vẫn chưa đẻ thì sẻ loại bỏ cả cá đực lẫn cá cái

2.3.3 Thu trứng và ấp trứng

Sau 4 ngày ghép cặp, kiểm tra giai sinh sản và thu trứng hoặc cá bột Tiến hành bắt từng cá cái kiểm tra, nếu thấy trong miệng cá có ngậm trứng tiến hành thu trứng (Phụ lục hình 2.4) Trứng sau khi thu được ấp riêng rẽ theo gia đình trong các bình ấp thể tích 1 lít có nước chảy liên tục (Phị lục hình 2.6 và 2.7) Nhiệt độ nước ấp trứng

Trang 26

dao động 28 – 30C Dùng muỗng (thìa) hoặc xiphông loại bỏ trứng hư, trứng không thụ tinh, và đếm số lượng trứng cho mỗi gia đình Cá bột mới nở được chuyển sang các khay kích thước 20×30×10 cm có nước chảy liên tục (Phụ lục hình 2.7) Khi noãn hoàng đã tiêu biến toàn bộ và cá bột bắt đầu tìm kiếm thức ăn bên ngoài, cho cá ăn thỏa mãn 4 lần/ngày bằng thức ăn mịn của công ty Afiex (40% protein, 8% lipid) đến khi cá đạt 10 ngày tuổi

2.3.4 Ương nuôi cá bột đến kích cỡ đánh dấu

Cá bột 10 ngày tuổi của mỗi gia đình được chuyển xuống các giai ương riêng rẽ

có kích thước 1,5×2,0×1,0 m đặt trong một ao có diện tích 2.000 m2

(Hình 2.8) Số lượng cá bột cho mỗi giai ương là 300 con Cho cá ăn thỏa mãn, 3 lần/ngày, sử dụng thức ăn dạng mảnh (40% protein) trong 15 ngày ương đầu tiên, sau đó chuyển sang thức ăn viên cỡ 1 mm (30% protein) Thay nước 2 lần/tháng và thay liên tục hàng ngày trong thời gian triều cường, mỗi lần thay khoảng 30% lượng nước trong ao Thường xuyên theo dõi và kiểm tra các yếu tố mội trường nước ao nuôi như hàm lượng oxy hòa tan, pH và nhiệt độ Thời gian ương cho đến khi cá đạt kích cỡ đánh dấu 11,6 g ± 5,1 g dao động từ 33 – 69 ngày

2.3.5 Đánh dấu PIT (Passive Integrated Transponder)

Đánh dấu là kỹ thuật sử dụng các chỉ thị để nhận dạng các cá thể hoặc các nhóm

cá thể với nhau, nhằm phân biệt từng cá thể, tạo phả hệ đàn cá cho chương trình chọn giống và quản lý cá bố mẹ, quản lý cá thả bổ sung nguồn lợi và các thí nghiệm so sánh Tiêu chí để lựa chọn phương pháp đánh dấu là dễ áp dụng cho thủy sản có kích thước nhỏ, dấu không ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá, không đắt tiền, ít tốn công, dấu có thể đọc trong thời gian dài và tỉ lệ tồn dấu cao Có nhiều phương pháp đánh dấu

cá khác nhau, tuy nhiên, phương pháp đánh dấu cá bằng dấu PIT (Passive Integrated Transponder) được sử dụng phổ biến hơn cả, do mỗi một dấu có mã số riêng cho phép xác định đến từng cá thể

Tiến hành đánh dấu khi cá đạt khối lượng trung bình 11,6 g để phân biệt từng cá thể nhằm duy trì phả hệ Khi đánh dấu, dùng dao mổ rạch một vết nhỏ trên cơ bụng và dùng tay đẩy dấu vào xoang bụng Vết rạch có kích thước rất nhỏ và mau lành, giúp cá hồi phục nhanh và tỉ lệ mất dấu thấp Đối với mỗi gia đình, chọn 50 cá giống để đánh dấu Những gia đình còn ít hơn 50 cá thể sẽ được đánh dấu toàn bộ Tổng số cá giống

G6 được đánh dấu là 6.200 cá thể Sau khi đánh dấu xong đưa cá được giữ trong giai

Trang 27

3×5×1 m trong 7 ngày trước khi được thả nuôi tăng trưởng Cá giữ trong giai nhằm mục đích kiểm soát số lượng cá rớt dấu

2.3.6 Nuôi tăng trưởng cá đánh dấu trong ao

Thả nuôi các cá thể đã đánh dấu của 124 gia đình trong cùng một ao diện tích 2.000 m2, độ sâu 1,5 m, mật độ 3 con/m2 để loại bỏ khả năng ảnh hưởng không

đồng bộ của môi trường lên tốc độ sinh trưởng của cá Thời gian nuôi tăng trưởng là 6 tháng

Cho cá ăn bằng thức ăn viên công nghiệp (30% protein, 5% lipid), ngày 2 lần vào lúc 07:00 giờ sáng và 16:00 giờ chiều Khẩu phần ăn là 3% khối lượng thân/ngày Kích cỡ viên thức ăn là 1,5 mm (trong tháng đầu tiên), 2,0 mm (từ tháng thứ hai) và 3,0 mm (từ tháng thứ ba đến khi thu hoạch) theo từng giai đoạn phát triển của cá Mực nước trong ao được duy trì ở mức 1,5 m, định kỳ thay nước 2 lần/tháng, mỗi lần thay 30% thể tích nước ao Thường xuyên kiểm tra các chỉ tiêu môi trường ao nuôi (pH, nhiệt độ, nồng độ oxy hòa tan) và theo dõi tình hình bệnh của cá để có biện pháp

Cá được xác định giới tính vào thời điểm thu hoạch

Các yếu tố môi trường được ghi nhận 2 lần/ ngày (8 giờ và 14 giờ) như: Nhiệt độ được đo bằng nhiệt kế điện tử, hàm lượng oxy hòa tan được ghi nhận bằng máy đo Oxygen, pH được đo bằng máy đo pH, NH4 đo bằng bộ teskit

2.4.2 Công thức tính toán

Hệ số di truyền (ký hiệu là h 2) được định nghĩa là tỉ số giữa phương sai của giá trị di truyền cộng gộp và phương sai kiểu hình của tính trạng chọn lọc Nếu hệ số di truyền cao ngụ ý kiểu hình được đo đạc dự đoán tốt cho kiểu gen của tính trạng chọn lọc, và ngược lại [24]

Tương quan di truyền (genetic correlation, ký hiệu là r g) cho biết mối tương quan

kiểu gen của hai tính trạng quan tâm Tương quan di truyền thuận (r g > 0) ngụ ý nếu chọn lọc một tính trạng thì tính trạng còn lại sẽ được cải thiện theo hướng tích cực, tức

Trang 28

là tính trạng thứ hai có thể được chọn lọc một cách gián tiếp thông qua chọn lọc trực

tiếp tính trạng đầu tiên Tương quan di truyền nghịch (r g <0) ngụ ý chọn lọc một tính trạng thì sẽ làm suy giảm tính trạng còn lại [24]

2.4.2.1 Hệ số di truyền tính trạng tăng trưởng và tỉ lệ sống

Phương trình tuyến tính cá thể hỗn hợp (Mô hình 1) để ước tính các thành phần

phương sai (từ đó tính các thông số di truyền) của tính trạng khối lượng thu hoạch là

Khối lượng ijk + 1 ×tuổi ij2 ×(tuổi) ij 2 + giới tính i cá thể j + cá mẹ k + e ijk (Mô

hình 1) [33]

trong đó Khối lượng ijk là khối lượng thu hoạch của cá thể j, µ là giá trị trung bình khối

lượng thu hoạch của quần thể, là hệ số hồi quy của hiệp biến „tuổi‟, „tuổi‟ là ảnh

hưởng cố định của tuổi (ngày) lên khối lượng thu hoạch của từng cá thể, là hệ số

hồi quy bậc hai của hiệp biến „(tuổi) 2 ‟, (tuổi) 2

là ảnh hưởng cố định bậc hai của tuổi

(ngày), giới tính i là ảnh hưởng cố định của giới tính i (đực hoặc cái), cá thể j là ảnh

hưởng di truyền cộng gộp của cá thể j, cá mẹ k là ảnh hưởng của môi trường chung lên

các cá con của cùng một cá mẹ k, và e ijk là ảnh hưởng của số dư

Đối với tính trạng tỉ lệ sống (cá thể „sống‟ được mã hóa bằng 1, „chết‟ được mã

hóa bằng 0), phương trình tuyến tính cá thể hỗn hợp (Mô hình 3) là

Tỉ lệ sống ij + 1 ×khối lượng đánh dấu ij cá thể j + e ij (Mô hình 2) [33]

trong đó Tỉ lệ sống ij là tỉ lệ sống tại thời điểm thu hoạch của cá thể j (cá thể còn sống

khi thu hoạch được mã hóa là 1, cá thể không hiện diện khi thu hoạch được xem là đã chết và được mã hóa là 0), là hệ số hồi quy của hiệp biến „khối lượng đánh dấu‟,

khối lượng đánh dấu ij là ảnh hưởng cố định của khối lượng cá thể j tại thời điểm đánh dấu, cá thể j là ảnh hưởng di truyền cộng gộp của cá thể, và e ij là ảnh hưởng của số dư

Đối với tính trạng khối lượng thu hoạch, hệ số di truyền (h 2) được tính theo công thức

, trong đó là phương sai của ảnh hưởng di truyền cộng gộp, (= ) là phương sai kiểu hình, là phương sai ảnh hưởng

của môi trường ương nuôi riêng rẽ và là phương sai của số dư

Đối với tính trạng tỉ lệ sống cá thể khi thu hoạch („sống‟ = 1, „chết‟ = 0), hệ số di

truyền được tính theo công thức

, trong đó là phương sai của ảnh

hưởng di truyền cộng gộp, (= ) là phương sai kiểu hình và là phương sai của số dư

Trang 29

2.4.2.2 Tương quan di truyền giữa tính trạng tăng trưởng và tỉ lệ sống

Các thành phần phương sai (variance component) và hiệp phương sai

(co-variance component) của các tính trạng tăng trưởng, màu sắc và tỉ lệ sống được ước

tính từ các mô hình 2 biến (bivariate model) Tương quan (genetic correlation, viết tắt

là r g) giữa „khối lượng thu hoạch‟ và „tỉ lệ sống‟ được ước tính từ mô hình 2 biến với

các biến như mô tả trong Mô hình 1 và 2 Tổng quát thì r g được tính theo công thức

√ √ trong đó là hiệp phương sai của ảnh hưởng di truyền cộng gộp của

2 tính trạng „khối lượng thu hoạch‟ và „tỉ lệ sống‟, √ là phương sai ảnh hưởng di

truyền cộng gộp của tính trạng „khối lượng thu hoạch‟ và √ là phương sai ảnh hưởng di truyền cộng gộp của tính trạng „tỉ lệ sống‟

2.4.3 Phần mềm xử lý số liệu

Số liệu được lưu trữ và quản lý bằng phần mềm Microsoft Excel® 2016 Tất cả các mô hình toán được ước tính bằng phần mềm ASReml phiên bản 4.1 Các thành phần phương sai bao gồm là phương sai di truyền cộng gộp (additive genetic

được ước tính bằng phần mềm ASReml phiên bản 4.1

Trang 30

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Biến động các yếu tố môi trường nước

Các chỉ tiêu chất lượng nước trong quá trình sinh sản cá từ tháng 01 đến tháng 2/2015 (Bảng 3.1), ương cá giống đến kích cỡ đánh dấu từ tháng 1 đến tháng 3/3015 (Bảng 3.2), thời gian nuôi tăng trưởng từ tháng 4 đến tháng 10/2015 (Bảng 3.3)

Bảng 3.1 Các chỉ tiêu môi trường nước ao trong thời gian sinh sản cá

Ngày đăng: 17/10/2018, 22:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm