MỞ ĐẦUQuyền nhân thân là một trong những quyền dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng, được pháp luật của các quốc gia trên thế giới ghi nhận và bảo vệ, trong đó có Việt Nam.. Như vậy, mỗi
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 2
I Khái niệm quyền, quyền nhân thân; khái niệm hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết 2
II Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết 4 III Những yếu tố ảnh hưởng đến Quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của
cá nhân sau khi chết 6
IV Những quy định của Pháp luật về Quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết 8
V Đánh giá thực tiễn thi hành 13
VI Giải pháp pháp lý cụ thể để Quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của
cá nhân sau khi chết được đảm bảo thực hiện sau khi cá nhân chết 15 KẾT LUẬN 16 Danh mục tài liệu tham khảo 17
Trang 2MỞ ĐẦU
Quyền nhân thân là một trong những quyền dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng, được pháp luật của các quốc gia trên thế giới ghi nhận và bảo
vệ, trong đó có Việt Nam Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận quyền nhân thân thành một chế định riêng và
có những điều luật cụ thể để bảo vệ quyền này của chủ thể Ngay cả trong công ước quốc tế là những văn bản pháp lý cấp cao nhất cũng đã đề cập tới vấn đề quyền nhân thân của con người, như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 hay Bộ luật nhân quyền quốc tế Xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ xã hội ngày càng phức tạp hơn, đa dạng hơn, nhu cầu của con người cũng ngày càng tăng lên cả về vật chất lẫn tinh thần, nhất là tinh thần Điều này dẫn đến một việc tất yếu: pháp luật cũng phải có sự ghi nhận, bảo vệ rộng rãi hơn đối với quyền nhân thân Nói đến “quyền”, nghĩa là nói đến sự tự do ý chí lựa chọn hành động của chủ thể trong khuôn khổ pháp luật Như vậy, mỗi cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ đều có quyền tự quyết định đối với thân thể của mình, trong đó có quyền hiến xác, hiến các bộ phận cơ thể sau khi chết Đây là một quyền nhân thân vô cùng quan trọng và mang nhiều ý
nghĩa Do đó, em xin chọn đề tài:” Phân tích quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết Đánh giá thực tiễn thi hành và đưa ra giải pháp pháp lý cụ thể để quyền này của cá nhân được thực hiện sau khi cá nhân chết” để nghiên cứu và trình bày, cùng đó là những
ý kiến cá nhân mang tính chất đóng góp
Trang 3NỘI DUNG
I. Khái niệm quyền, quyền nhân thân; khái niệm hiến xác, hiến bộ phận
cơ thể của cá nhân sau khi chết
1 Khái niệm quyền, quyền nhân thân
- Trước hết, quyền chủ thể là khả năng của chủ thể được xử sự theo những
cách thức mà pháp luật cho phép Trong quan hệ pháp luật, nhà nước cho phép chủ thể có thể tiến hành những hoạt động nhất định Tùy theo mong muốn của mình mà chủ thể có thể thực hiện hoặc không thực hiện những hoạt động này
- Quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết là quyền
dân sự, cụ thể hơn là quyền nhân thân
+ Theo quy định của pháp luật, quyền dân sự là cách xử sự được phép của người có quyền năng Quyền dân sự của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự cụ thể khác nhau thì có nội dung khác nhau (những xử sự khác nhau phù hợp với nội dung của quan hệ đó) Chủ thể quyền trong các quan hệ dân sự có thể thực hiện những hành vi khác nhau phù hợp với nội dung, mục đích của quyền năng đó Trong khoa học pháp lí tồn tại khái niêm quyền chủ quan và quyền khách quan Quyền khách quan là quyền dân sự được pháp luật quy định cho các chủ thể, là nội dung năng lực pháp luật của chủ thể Quyền chủ quan là quyền dân sự của chủ thể trong một quan hệ dân sự cụ thể đã được xác lập Quyền chủ quan phải phù hợp với quyền khách quan mà pháp luật đã quy định Ở đây, quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết là quyền khách quan
+ Quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết nói cụ thể hơn là một quyền nhân thân Cùng với quan hệ tài sản, luật dân sự còn
Trang 4điều chỉnh các quan hệ nhân thân (Điều 1 BLDS 2005) Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với người về một giá trị nhân thân của cá nhân hay các tổ chức Việc xác định một giá trị nhân thân là quyền nhân thân phải được pháp luật thừa nhận như một quyền tuyệt đối của cá nhân, tổ chức Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với một chủ thể, về nguyên tắc không thể chuyển giao cho chủ thể khác Đó là một quyền dân
sự tuyệt đối, mọi người đều có nghĩa vụ tôn trọng quyền nhân thân của người khác Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ nhân thân bằng cách quy định những giá trị nhân thân nào được coi là quyền nhân thân, trình tự thực hiện, giới hạn của các quyền nhân thân đó, đồng thời quy định các biện pháp thực hiện, bảo vệ các quyền nhân thân (Điều 25 BLDS 2005)
Điều 24 Bộ luật Dân sự 2005 định nghĩa về quyền nhân thân như sau:”
Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
2 Khái niệm xác, bộ phận cơ thể của cá nhân
Theo Khoản 2 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người, hiến, lấy xác
thì:” Bộ phận cơ thể người là một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều
loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định.” Như vậy,
bộ phận cơ thể người được hiểu là một thể thống nhất được hình thành từ các loại mô khác nhau tạo thành một cơ thể sống hoàn chỉnh, mà mỗi một bộ phận cơ thể thực hiện một chức năng trao đổi chất khác nhau
II Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của Quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ
thể của cá nhân sau khi chết
1 Cơ sở lý luận
Thứ nhất, bản thân con người sinh ra đã có quyền sống, quyền tự do,… Nhà nước phải ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền sống, quyền tự do,
… của con người Chính vì vậy, bên cạnh những Quyền nhân thân như
Trang 5Quyền đối với họ, tên, Quyền xác định dân tộc, Quyền được khai sinh,… con người còn có quyền tự quyết định đối với thân thể mình Do đó, con người có quyền được hiến xác, hiến bộ phận cơ thể sau khi chết
Thứ hai, con người không phải ai cũng được đầy đủ các bộ phận cơ thể
Có người sinh ra đã bị khiếm khuyết bẩm sinh một bộ phận nào đó, cũng
có người sinh ra đầy đủ các bộ phận nhưng sau này do lý do nào đó mà phải cắt bỏ đi một hay nhiều bộ phận mà những bộ phận đó lại cần thiết cho nghiên cứu khoa học Bên cạnh đó, còn có những người tự nguyện hiến xác, hiến bộ phận cơ thể mình sau khi chết cho ngành y khoa, hoặc tặng cho người khác với mục đích chữa bệnh
2 Cơ sở thực tiễn
- Thực tế cho thấy nhiều trường hợp con người chết do tai nạn bất ngờ Tuy
nhiên một số bộ phận cơ thể của họ vẫn còn sống và vẫn còn có thể sử dụng cho nghiên cứu y khoa hoặc cứu chữa cho người khác Bên cạnh đó, thậm chí còn có những người tuy đang sống nhưng sẵn sang hiến các bộ phận cơ thể của mình để cứu người đang nguy kịch
- Kinh tế đất nước ngày càng mở cửa và phát triển Điều đó đồng nghĩa với
việc ngày càng nhiều nhà máy và xí nghiệp được xây dựng lên Mặc dù điều này thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, nhưng mặt trái của nó
là ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình trạng môi trường Môi trường ngày càng
bị ô nhiễm nặng nề, từ đó dẫn đến nhiều loại bệnh tật phát sinh như viêm gan, ung thư,…
- Theo các số liệu thống kê, số lượng người chết do rủi ro như thiên tai, tai
nạn giao thông,… hàng năm là một số lượng không nhỏ.Theo thống kê của Cục cảnh sát giao thông, năm 2015 có 8727 người chết do tai nạn giao thông Tai nạn giao thông xảy ra là điều không ai mong muốn nhưng cũng không thể ngăn chặn nó xảy ra Suy cho cùng, một người có thể cứu được nhiều người: 2 quả thận cho 2 người, 2 phổi cho 2 người, tim cho 1
Trang 6người, gan có thể chia làm 2 hoặc làm 3, chưa kể những bộ phận khác như giác mạc hay ruột
- Theo thống kê của Cục quản lý khám- chữa bệnh, cả nước có khoảng
8000 người cần ghép thận mỗi năm Năm 2015, tỉ lệ mù lòa toàn quốc là 1.8% Số liệu đó cho thấy lượng người cần được cấy ghép bộ phận cơ thể không phải là nhỏ
- Trên thực tế, pháp luật một số nước phát triển trên thế giới như Pháp, Mỹ,
… sau khi cho phép hiến xác, hiến bộ phận cơ thể sau khi chết đã nhận được kết quả rất ấn tượng Người bệnh sau khi được cấy ghép, đặc biệt là cấy ghép thận và gan, thì có thể sống lâu dài hơn và chi phí rẻ hơn so với việc chạy thận nhân tạo
Như vậy, từ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nêu ở trên, có thể thấy được việc quy định quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể sau khi chết ở nước ta là hoàn toàn đúng đắn, hợp lý, đáp ứng được nhu cầu của xã hội và thế giới
III Những yếu tố ảnh hưởng đến Quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể
của cá nhân sau khi chết
1 Yếu tố kinh tế- xã hội
Pháp luật trong những giai đoạn khác nhau của nền kinh tế, thời kỳ bao cấp cũng như thời kỳ hội nhập, thì Nhà nước đều có sự điều chỉnh quy định nhiều lĩnh vực khác nhau Nhiều quy định cũ bị loại bỏ, thay vào đó là những quyết định mới
Mặt khác, kinh tế đất nước ngày càng phát triển thì đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao Nếu như trong thời kỳ đất nước đang có chiến tranh, những gì được đặt lên hàng đầu là làm thế nào để dành lại được độc lập dân tộc, cái ta chung luôn được đặt lên trên cái tôi riêng, thì trong thời bình, người ta ngày càng quan tâm đến những quyền lợi của cá nhân Quyền lợi của cá nhân ngày càng được Nhà nước bảo đảm
Trang 7Thêm vào đó, kinh tế phát triển thì Nhà nước có điều kiện đầu tư vào nghiên cứu khoa học, đầu tư vào cơ sở vật chất Phúc lợi xã hội nhờ đó cũng ngày càng được nâng cao
2 Yếu tố tôn giáo và tâm lý
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại và tồn tại phổ biến ở hầu hết các cộng đồng người trong lịch sử hàng ngàn năm qua Tín ngưỡng, tôn giáo đã tồn tại lâu đời trong lịch sử nhân loại, đã trở thành niềm tin, lối sống, phong tục tập quán, tình cảm của một số bộ phận đông đảo quần chúng nhân dân qua nhiều thế hệ Bởi vậy, cho dù trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong xã hội chủ nghĩa đã có những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, chính trị- xã hội, song tôn giáo vẫn không thể biến đổi ngay cùng với tiến độ của những biến đổi kinh tế- xã hội mà nó phản ánh
Như vậy, con người vẫn chưa thoát khỏi ý thức hệ tư tưởng tôn giáo Tâm lý
và hành vi của con người còn chịu sự chi phối lớn của tôn giáo, mà mỗi tôn giáo lại có những quan niệm khác nhau về vấn đề hiến xác, hiến bộ phận cơ thể sau khi chết
3 Yếu tố văn hóa- truyền thống
Cùng với yếu tố tôn giáo và tâm lý, yếu tố văn hóa- truyền thống cũng có tác động không nhỏ đến việc hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết Bởi yếu tố văn hóa- truyền thống là cơ sở nền tư tưởng của đời sống xã hội một quốc gia, nó có tác động không nhỏ đến việc xây dựng, tạo dựng nội dung văn bản pháp luật ở mỗi nước
Ở Việt Nam, hầu hết người dân có quan niệm “chết phải toàn thây”, “mồ
yên mả đẹp” hay “sống thác, gửi về” Chính vì vậy, vấn đề mai táng nguyên
vẹn thân thể được coi là vấn đề rất quan trọng của cá nhân sau khi chết và thường phải tuân theo truyền thống Do đó, việc hiến xác, hiến bộ phận cơ
Trang 8thể của cá nhân sau khi chết vẫn mang tính nhạy cảm, và đôi lúc vẫn bị yếu
tố văn hóa- truyền thống cản trở
4 Yếu tố trình độ dân trí
Trên hết, yếu tố trình độ dân trí là yếu tố tác động sâu xa nhất và là yếu tố xâu chuỗi hầu hết các vấn đề đảm bảo quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết được quy định và đáp ứng được thực tế cuộc sống, phù hợp với quy luật của cuộc sống Khi tri thức được nâng cao, con người
có những hiểu biết nhất định thì tâm lý và hành động sẽ không còn hoặc ít bị ảnh hưởng bởi tôn giáo hay bị ràng buộc bởi những thủ tục ma chay truyền thống Lý trí của họ sẽ chiến thắng tâm lý của họ, thúc đẩy họ thực hiện quyền đó để cứu sống người khác hoặc để phục vụ cho khoa học
IV Những quy định của Pháp luật về Quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ
thể của cá nhân sau khi chết.
1 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989 và Nghị định ban hành kèm theo
- Trên thế giới, quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi
chết được quy định và thực hiện từ rất sớm Tiêu biểu như Anh năm
1961, Đan Mạch năm 1975, Pháp năm 1994, Hy Lạp năm 1983,… Còn ở nước ta, quyền này được pháp luật thừa nhận rất muộn Trải qua thời phong kiến đến thời kỳ Pháp thuộc cho tới những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết vẫn chưa được pháp luật quy định Sở dĩ pháp luật Việt Nam ghi nhận chậm trễ quyền này là bởi những nguyên nhân sau:
+ Trong thời kỳ phong kiến, những khuôn phép lễ nghi được đặt ra rất rõ ràng, ngặt nghèo, có tính bao trùm lên cả xã hội và người ta ngầm hiểu rằng phải tuân thủ theo nó một cách hoàn toàn Phong tục ma chay cũng
là một loại lễ nghi như vậy Người chết bắt buộc phải được mai táng theo con đường địa táng, hoặc có thể hỏa táng Quan niệm “Chết phải toàn
Trang 9thây” của thời kỳ này không cho phép cá nhân được hiến xác, hiến bộ phận cơ thể sau khi chết
+ Nền y học cổ truyền nước ta rất phát triển, song giải phẫu học trong các thời kỳ này lại phát triển rất chậm và mờ nhạt
+ Trong 2 cuộc chiến tranh lớn của dân tộc, Nhà nước cùng toàn thể nhân dân luôn đặt mục tiêu hàng đầu là đánh đuổi thực dân và đế quốc, dành lại độc lập tự do cho đất nước Chính vì vậy, quyền này không được pháp luật quan tâm trong suốt những thời kỳ này
- Từ những năm đầu của thập kỷ 70, ở Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện
những ca ghép bộ phận cơ thể người đầu tiên gắn liền với tên tuổi của Giáo sư Bác sĩ Tôn Thất Tùng Đến cuối thập niên 80 và những năm đầu thập niên 90, do nhu cầu về ghép mô, ghép tạng trong nước ngày càng tăng, mặt khác thực tế cũng cho thấy những ca ghép thử nghiệm về gan, tim,… đã cho những kết quả đáng mừng, Nhà nước bắt đầu có những quy định xung quanh vấn đề này trong điều 30 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989:
“Điều 30: Lấy và ghép mô hoặc một bộ phận của cơ thể con người
1 Thầy thuốc chỉ tiến hành lấy mô hoặc bộ phận của cơ thể người sống hay người chết dùng vào mục đích y tế sau khi đã được sự đồng ý của người cho, của thân nhân người chết hoặc người chết có di chúc để lại.
2 Việc ghép mô hoặc một bộ phận cho cơ thể người bệnh phải được sự đồng ý của người bệnh hoặc thân nhân hay người giám hộ của người bệnh chưa thành niên.
3 Bộ Y tế quy định chế độ chăm sóc sức khỏe người cho mô hoặc một bộ phận cơ thể.”
Trang 10Bên cạnh những quy định trong Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989, vấn
đề này cũng được cụ thể hóa trong Nghị định ban hành kèm theo Điều lệ khám chữa bệnh và phục hồi chức năng số 23- HĐBT ngày 24/1/1991 ở Điều 10
Qua đó có thể thấy, ở thời kỳ này Nhà nước đã bắt đầu có những quy định pháp lý tạo hành lang cho việc quy định Quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết Tuy nhiên, những quy định này còn chung chung, chỉ mang tính khái quát, chưa có những quy định cụ thể như điều kiện đối với người hiến, các nguyên tắc,…Do vậy, vẫn còn rất nhiều khó khăn trong quá trình thực thi
2 Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự 2015
- Cho đến Bộ luật Dân sự 1995, pháp luật cũng chưa có sự ghi nhận quyền
này, chỉ quy định về việc cắt bỏ, cấy ghép bộ phận cơ thể người ở khoản
4 Điều 32 như sau: “Việc thực hiện phương pháp chữa bệnh mới trên cơ
thể một người, việc gây mê, mổ cắt bỏ, cấy ghép bộ phận của thân thể phải được sự đồng ý của người đó, nếu người đó chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì phải được sự đồng ý của cha mẹ, người giám hộ hoặc người thân thích của người đó thì phải có quyết định của người đứng đầu cơ sở chữa bệnh.” Pháp luật
vẫn cho phép được áp dụng các phương pháp chữa bệnh mới, đồng thời cũng cho phép cấy ghép bộ phận cơ thể người dựa trên sự đồng ý của người đó, tuy nhiên vẫn chưa ghi nhận quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể một cách rõ ràng, cụ thể
- Phải đến Bộ luật Dân sự 2005, Quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của
cá nhân sau khi chết mới chính thức được ghi nhận Bộ luật này đề cập đến cả 2 vấn đề là Quyền hiến bộ phận cơ thể người khi còn sống và