1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc điểm sinh học và biện pháp quản lý sâu đục củ khoai lang nacoleia sp (lepidoptera crambidae) tại huyện bình tân, tỉnh vĩnh long

140 168 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 5,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kỹ thuật quản lý tổng hợp sâu đục củ khoai lang gồm kỹ thuật canh tác, rải và phun nấm Metarhizium anisopliae được áp dụng 6 lần và đặt túi tinh dầu sả rải rác trên các luống khoai 4 m2

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

NGUYỄN THỊ HỒNG LĨNH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SÂU ĐỤC CỦ KHOAI

LANG Nacoleia sp (Lepidoptera: Crambidae)

TẠI HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG

LUẬN ÁN TỐT NGHIỆP TIẾN SĨ NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT

MÃ NGÀNH: 9 62 01 12

2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

NGUYỄN THỊ HỒNG LĨNH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SÂU ĐỤC CỦ KHOAI

LANG Nacoleia sp (Lepidoptera: Crambidae)

TẠI HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT

Mã số: 9 62 01 12

Người hướng dẫn khoa học PGS.TS LÊ VĂN VÀNG PGS.TS LÊ VĨNH THÚC

2018

Trang 3

TÓM TẮT

Đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và biện pháp quản lý sâu đục củ

khoai lang Nacoleia sp (Lepidoptera: Crambidae) tại huyện Bình Tân, tỉnh

Vĩnh Long” được thực hiện từ năm 2014-2016 với mục tiêu tìm ra biện pháp quản lý sâu đục củ khoai lang theo hướng an toàn và thân thiện với môi trường Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng:

Sự điều tra được thực hiện bằng hình thức phỏng vấn 97 nông hộ đang canh tác khoai lang ở 6 xã: Thành Lợi, Thành Đông, Thành Trung, Tân Hưng, Tân Thành và Mỹ Thuận của huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long Phiếu phỏng vấn đã được soạn sẵn Hầu hết nông hộ được điều tra (99,1%) canh tác giống khoai Tím Nhật Nông dân canh tác khoai lang cho rằng sâu đục củ khoai lang

là đối tượng gây hại quan trọng nhất trên khoai lang với mức độ gây thiệt hại trung bình là 20,3% Tất cả nông hộ được phỏng vấn đã sử dụng 22,8 lần thuốc bảo vệ thực vật hóa học để phòng trừ sâu bệnh hại trong một vụ khoai lang, trong đó, thuốc trừ sâu được sử dụng trung bình 15,9 lần Trong điều kiện ngoài đồng, sâu đục củ khoai lang bắt đầu gây hại từ thời điểm 58 ngày sau khi trồng và tỷ lệ gây hại cao nhất là 69% ở thời điểm 91 ngày sau khi trồng

Sâu đục củ khoai lang gây hại tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long được

xác nhận là loài Nacoleia sp thuộc họ Crambidae, bộ cánh Vảy (Lepidoptera) Trong điều kiện phòng thí nghiệm, vòng đời của Nacoleia sp dài trung bình

42,1 ngày Giai đoạn ấu trùng gồm 4 tuổi dài 25,2 ngày, giai đoạn nhộng dài 9,2 ngày, thời gian từ vũ hóa đến thành trùng cái đẻ trứng dài 2,9 ngày Triệu

chứng gây hại điển hình của Nacoleia sp là các lổ đục rải rác trên bề mặt củ,

rộng 0,3 mm - 2,0 mm, độ sâu của lổ đục khoảng 5,0 mm Sự gây hại xảy ra từ khi khoai lang tạo củ cho đến thu hoạch

Thí nghiệm trãi màng phủ bạc được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 3 nghiệm thức, 4 lần lặp lại mỗi lần lặp lại tương ứng với diện tích là 52,5 m2, tổng diện tích cho thí nghiệm là 630 m2 Hiệu quả của biện pháp trãi màng phủ bạc là hạn chế sâu đục củ và tăng năng suất trong canh tác khoai lang

Biện pháp xua đuổi thành trùng cái bằng tinh dầu sả theo hình thức so sánh như kiểu đánh giá trên diện rộng 1000 m2, tinh dầu sả được đặt ở mật độ 1,0 túi/4 m2 (2 ml/túi) ở giai đoạn khoai bắt đầu tạo củ và được thay mới 10 ngày/lần, không sử dụng thuốc trừ sâu Biện pháp xua đuổi thành trùng cái của tinh dầu sả kéo dài đến 10 ngày sau khi xử lý

Trang 4

Phòng trị ấu trùng bằng việc phun nấm ký sinh Metarhizium anisopliae

ở nồng độ 108

bào tử/ ml làm giảm có ý nghĩa tỷ lệ gây hại của sâu đục củ khoai lang và kéo dài đến 14 ngày sau khi phun

Kỹ thuật quản lý tổng hợp sâu đục củ khoai lang gồm kỹ thuật canh tác,

rải và phun nấm Metarhizium anisopliae được áp dụng 6 lần và đặt túi tinh

dầu sả rải rác trên các luống khoai (4 m2/túi), đặt bẫy pheromone giới tính của

sùng khoai lang Cylas formicarius và sử dụng thuốc trừ sâu sinh học khi cần

thiết có hiệu quả giảm tỷ lệ củ bị gây hại dưới mức 10%

Từ khóa: khoai lang, màng phủ, Metarhizium anisopliae, Nacoleia

sp., xua đuổi

Trang 5

ABSTRACT

The research of "Study on biological characteristics and management of

sweet potato tuber moth Nacoleia sp (Lepidoptera: Crambidae) in Binh Tan

district, Vinh Long province" was conducted from 2014 to 2016 with the objectives management of sweet potato tuber moth towards sustainable, safe and environmental friendly

The results demonstrated that:

The survey was conducted by interviewing 97 farmers who were planted sweet potato in 6 communes: Thanh Loi, Thanh Dong, Thanh Trung, Tan Hung, Tan Thanh and My Thuan in Binh Tan district, Vinh Long province The questions has been prepared Most of farmers in Binh Tan District, Vinh Long Province cultivating sweet potatoes (99.1%) planted Japanese Purple sweet potato variety Interview results also showed that the sweet potato tuber moth was the most important target pest on sweet potatoes with 20.3% in Binh Tan district at this moment There are more than 50% of households do not know about the sweet potato tuber moth All farmers used averagely 22.8 times of spraying pesticides per sweet potato season for controlling insect pests and diseases, in which insecticides accounted for 15.9

times In field investigation, the damage of Nacoleia sp on sweet potato

appeared at 58 days after planting and reached the highest rate at 69% at 91 days after planting

The sweet potato moth was identified Nacoleia sp the Crambidae family, Lepidoptera in Binh Tan district, Vinh Long province Results showed that a life cycle of Nacoleia sp was averagely 42.1 days including 3.8 days for

egg stage, 25.2 days for larval stage, 9.2 days for pupal stage and 2.9 days for the time from eclosion to female laying eggs In green house conditions, a

female of Nacoleia sp laid averagely 90 eggs, 83.3% of which successfully hatched Typical damage symptom of Nacoleia sp is spherically small holes

(0.3 mm – 2.0 mm in diameter and 0.5 mm in depth) distributing sporadically

on the surface of sweet potato tubers

The technique of silver mulching: the experiment was arranged a randomized block design consisting of three treatments, four replicates, corresponding to an area of 52.5 m2, total area for experiments 630 m2 The effect of silver mulching applied to harvest and increase sweet potato yield

The method put the citronella lemongrass bag by comparison in the form of a large scale evaluation, select the field of 1000 m2 for the experimental plot, citronella oil is placed at a density of 1 bag/4 m2 (2 ml x

Trang 6

bag-1) at the beginning of the potato tubers and renewed every 10 days, the experiment completely without pesticides The treatment of citronella lemongrass to 10 days after controll

Control Nacoleia sp by the parasitic fungus Metarhizium anisopliae at

a concentration of 108 spores x ml-1 was significantly reduced the incidence of

the sweet potato moth Effect of Metarhizium anisopliae fungus lasts up to 14

days after spraying

Integrated sweet potato tuber moth management included on the basis of

technical solutions including cultivation Metadhizium anisopliae was applied

six times: sprinkle with 2 kg/ 1.000 m2 10 days after planting, spray at 300 g / 1.000 m2 (48 liters of solution) at 30, 50, 70, 90 and 110 days after planting and to put lemongrass oil plastic bag over the sweet potato beds (4 m2 x bag -1),

sex pheromone trapping of Cylas formicarius and select insecticide to use

were effective in controlling the damage of sweet potato tuber moth was less than 10% and other pests, environmental and economic

Key words: dispel, Metarhizium anisopliae, mulching, Nacoleia sp., sweet potato

Trang 7

LỜI CẢM TẠ

Xin chân thành cảm tạ sâu sắc đến PGS TS Lê Văn Vàng và PGS TS

Lê Vĩnh Thúc đã tận tình hướng dẫn, cho những lời khuyên quý báu và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành tốt các nghiên cứu luận án này

Xin gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy, Cô Bộ môn Bảo Vệ Thực vật, Ban Chủ nhiệm Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ, ThS Nguyễn Ngọc Tuyết, ThS Nguyễn Minh Luân, ThS Bành Ngọc Nghĩa Chi cục Bảo vệ thực vật Vĩnh Long và Ban lãnh đạo cùng anh chị đồng nghiệp Trung tâm Khuyến nông Vĩnh Long đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt quá trình thực hiện luận án

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, cùng tất cả các anh, chị, em đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận án

Trang 9

MỤC LỤC

TÓM TẮT i

ABSTRACT iii

LỜI CẢM TẠ v

TRANG CAM KẾT KẾT QUẢ vi

MỤC LỤC vii

DANH SÁCH HÌNH xii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xiv

Chương 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Giới hạn nghiên cứu 2

1.5 Những điểm mới của luận án 2

1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cây khoai lang 4

2.1.1 Giá trị sử dụng 4

2.1.2 Tình hình canh tác khoai lang 4

2.1.3 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng sinh trưởng và phát triển của cây khoai lang 4

2.1.3.1 Nhiệt độ 4

2.1.3.2 Ánh sáng 5

2.1.3.3 Nước 5

2.1.3.4 Đất đai 5

2.2 Bộ Lepidoptera 6

2.2.1 Tổng họ Pyraloidea 7

2.2.2 Họ Crambidae (họ phụ Pyraustinae) 8

2.2.3 Giống Nacoleia 9

2.2.4 Một số ghi nhận về sâu đục củ khoai lang 10

2.3 Côn trùng và nhện gây hại khoai lang 11

2.4.2 Quản lý dịch hại cây trồng thân thiện môi trường 17

2.4.3 Biện pháp sinh học 18

2.4.4 Phòng trị côn trùng gây hại bằng bẫy hấp dẫn tập hợp 19

2.4.5 Phòng trị côn trùng gây hại bằng biện pháp quấy rối sự bắt cặp 20

2.4.6 Giải pháp “đẩy-kéo” 20

2.4.7 Biện pháp hóa học 22

2.4.8 Màng phủ nông nghiệp hạn chế côn trùng gây hại 22

2.5 Một số cây gia vị và hợp chất dùng xua đuổi côn trùng 23

2.5.1 Cây sả 23

2.5.2 Cây tỏi 24

2.5.3 (E)-10-pentadecenal (E10-15:Ald) 24

2.6 Ứng dụng nấm Trichoderma để bảo vệ cây trồng 25

Trang 10

Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26

3.2 Vật liệu và phương tiện nghiên cứu 26

3.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 26

3.3.1 Nội dung 1: Điều tra và khảo sát tình hình gây hại của SĐCKL trên các địa bàn canh tác khoai lang ở tỉnh Vĩnh Long 26

3.3.2 Nội dung 2: Khảo sát một số đặc điểm hình thái và sinh học của SĐCKL 28

3.3.2.1 Xác định tên khoa học của SĐCKL 28

3.3.2.2 Đặc điểm hình thái, thời gian phát triển và khả năng sinh sản và tập quán hoạt động 28

3.3.2.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ lên thời gian phát triển SĐCKL 28

3.2.2.4 Khảo sát tính ưa thích ký chủ của SĐCKL 29

3.3.3 Nội dung 3: Khảo sát ảnh hưởng của một số chất quấy rối lên sự bắt cặp và đẻ trứng của ngài SĐCKL 31

3.3.4 Nội dung 4: Đánh giá hiệu quả của một số giải pháp quản lý SĐCKL 36

3.3.4.1 Đánh giá hiệu lực của nấm xanh Metarhizium anisopliae đối với SĐCKL 36

3.3.4.2 Đánh giá hiệu quả của giải pháp trãi màng phủ nông nghiệp đối với SĐCKL 37

3.3.5 Nội dung 5: Xây dựng mô hình áp dụng quy trình quản lý tổng hợp đối với SĐCKL 40

3.3.5.1 Mô hình quản lý tổng hợp SĐCKL tạm thời 40

3.3.5.2 Mô hình quản lý tổng hợp SĐCKL chính thức 42

3.3.5.3 Đánh giá hiệu quả của mô hình 42

3.3.5.4 Xử lý số liệu 42

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 43

4.1 Tình hình gây hại của SĐCKL tại các địa bàn canh tác ở tỉnh Vĩnh Long 43

4.1.1 Đặc điểm của ruộng khoai lang 43

4.1.2 Tình hình sâu bệnh hại trên khoai lang 44

4.1.3 Hiểu biết của nông dân về SĐCKL 45

4.1.4 Sử dụng thuốc BVTV trên ruộng khoai lang 46

4.1.5 Chi phí thuốc BVTV trong canh tác khoai lang 47

4.1.6 Năng suất và hiệu quả kinh tế 48

4.1.6.1 Năng suất 48

4.1.6.2 Hiệu quả kinh tế 48

4.2 Khảo sát ngoài đồng 49

4.2.1 Triệu chứng củ khoai lang bị đục từ bên ngoài vỏ củ 49

4.2.2 Hiện trạng tỷ lệ gây hại của SĐCKL tại thời điểm khảo sát 50

4.2.3 Diễn biến tỷ lệ % củ khoai bị hại do SĐCKL 52

4.3 Đặc điểm hình thái và sinh học của SĐCKL 52

4.3.1 Tên khoa học của SĐCKL 52

4.3.2 Đặc điểm sinh học của SĐCKL 55

4.3.3 Khả năng đẻ và tỉ lệ trứng nở của trứng SĐCKL 58

4.3.4 Tập quán hoạt động 59

4.3.5 Ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ lên sự phát triển của SĐCKL 59

4.3.5.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ 59

4.3.5.2 Ảnh hưởng của ẩm độ đất 60

Trang 11

4.4 Tính ưa thích ký chủ của SĐCKL 61

4.4.1 Tính ưa thích ký chủ đẻ trứng của trưởng thành 61

4.4.2 Tính ưa thích ký chủ của ấu trùng 62

4.4.3 Triệu chứng gây hại 63

4.5 Khảo sát ảnh hưởng của một số chất quấy rối lên sự bắt cặp và đẻ trứng của ngài SĐCKL 64 4.5.1 Trong điều kiện phòng thí nghiệm 64

4.5.2 Trong điều kiện nhà lưới 65

4.5.3 Khảo sát ảnh hưởng của một số chất quấy rối lên sự bắt cặp và đẻ trứng của ngài SĐCKL bằng hình thức đặt bẫy trong điều kiện ngoài đồng 66

4.5.4 Ảnh hưởng của khoảng cách đặt túi tinh dầu sả đến sự gây hại của SĐCKL Nacoleia sp trong điều kiện ngoài đồng 67

4.5.5 Đánh giá hiệu quả của mô hình trình diễn diện hẹp sử dụng tinh dầu sả trong quản lý sự gây hại của SĐCKL 67

4.6 Đánh giá hiệu quả của một số giải pháp quản lý SĐCKL 68

4.6.1 Hiệu lực của một số loại nấm ký sinh côn trùng đối với SĐCKL 68

4.6.2 Hiệu quả của giải pháp quản lý SĐCKL bằng màng phủ 69

4.6.2.1 Ảnh hưởng của màng phủ đến nhiệt độ 69

4.6.2.2 Ảnh hưởng của màng phủ đến các chỉ tiêu sinh trưởng của khoai lang 70

4.6.2.3 Ảnh hưởng của các loại màng phủ lên tỷ lệ gây hại của SĐCKL 73

4.6.2.4 Ảnh hưởng của các loại màng phủ lên trọng lượng củ khoai lang 74

4.6.2.5 Phân loại củ giai đoạn 136 ngày sau khi trồng - thu hoạch 75

4.6.2.6 Kích thước củ khoai lang ở các giai đoạn 77

4.6.2.7 Phẩm chất khoai lang sau thu hoạch 79

4.6.2.8 Năng suất 79

4.6.2.9 Hiệu quả kinh tế 81

4.7 Mô hình quản lý tổng hợp SĐCKL tạm thời 82

4.7.1 Hiệu quả quản lý SĐCKL 82

4.7.2 Năng suất 82

4.7.3 Hiệu quả kỹ thuật 83

4.7.4 Lợi nhuận 83

4.7.5 Hiệu quả môi trường 84

4.8 Mô hình quản lý tổng hợp SĐCKL chính thức 85

4.8.1 Kết quả quản lý SĐCKL 85

4.8.2 Hiệu quả về kỹ thuật 85

4.8.3 Lợi nhuận 86

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 87

5.1 Kết luận 87

5.2 Đề nghị 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

DANH MỤC LIỆT KÊ CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ 97

PHỤ LỤC……… 98

Trang 12

DANH SÁCH BẢNG

4.1 Đặc điểm ruộng khoai lang ở các địa bàn điều tra vụ Hè Thu

2014

43

4.2 Thành phần sâu bệnh hại trên ruộng khoai lang theo ghi

nhận của nông dân ở các địa bàn điều tra vụ vụ Hè Thu

4.6 Hiệu quả kinh tế sản xuất khoai lang theo nông dân ở các

địa bàn điều tra

49

4.7 Tỷ lệ (%) củ khoai bị hại qua các thời điểm khảo sát ở 4 xã

của huyện Bình Tân, vụ Hè Thu 2014

51

4.8 Tỷ lệ (%) củ khoai bị hại qua các thời điểm khảo sát ở 4 xã

của huyện Bình Tân, vụ Đông xuân 2014-2015

51

4.9 Thời gian và kích thước của các giai đoạn phát triển của

SĐCKL

55

4.10 Số lượng trứng đẻ/ngài cái và tỉ lệ nở của trứng Nacoleia sp. 58

4.11 Ảnh hưởng của nhiệt độ lên thời gian phát triển của

Nacoleia sp.

59

4.12 Ảnh hưởng của ẩm độ nuôi đất tương đối lên thời gian phát

triển của Nacoleia sp trong điều kiện phòng thí nghiệm

60

4.13 Số thành trùng SĐCKL di chuyển về phía các chậu khoai

lang của các giống khoai thử nghiệm

61

4.14 Số trứng của trưởng thành cái SĐCKL trong điều kiện

phòng thí nghiệm

62

4.15 Số lượng ấu trùng Nacoleia sp di chuyển về miếng khoai

tươi của các giống khoai khác nhau

62

4.16 Chỉ số EPI của các chất thử nghiệm đối với trưởng thành

Nacoleia sp.

64 4.17 Số trứng đẻ ở buồng xử lý và buồng đối chứng của các

4.19 Ảnh hưởng của các chất xua đuổi lên sự quấy rối tính hiệu

bắt cặp ở điều kiện nhà lưới

65

4.20 Ảnh hưởng của các chất xua đuổi lên số ngài vào bẫy ở điều

kiện ngoài đồng

66

4.21 Ảnh hưởng của khoảng cách đặt túi tinh dầu sả đến sự gây

hại của SĐCKL Nacoleia sp trong điều kiện ngoài đồng.

67

Trang 13

4.24 Chiều dài dây chính (cm) tại các thời điểm quan sát khi sử

dụng màng phủ khác nhau tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh

Long, 2014

71

4.25 Số nhánh trên dây tại các thời điểm quan sát khi sử dụng

màng phủ khác nhau tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long,

2014

72

4.26 Số mắc lá trên dây tại các thời điểm quan sát khi sử dụng

màng phủ khác nhau tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long,

2014

73

4.27 Tổng số củ/dây, số củ thương phẩm/dây, tỷ lệ củ thương

phẩm/dây tại các thời điểm quan sát khác nhau tại huyện Bình

Tân, tỉnh Vĩnh Long, 2015

76

4.28 Hiệu quả kinh tế thu được của thí nghiệm khoai lang tại

huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, 2014

4.32 Hạch toán kinh tế ruộng mô hình và ruộng nông dân 83

4.33 Tỷ lệ củ bị SĐCKL gây hại trong ruộng MH và ruộng ND 84

Trang 14

DANH SÁCH HÌNH

2.1 Hình dạng ngăn màng nhỉ ở họ Pyralidae (bên trên) và

Crambidae (bên dưới) (Nguồn: Solis, 2007)

8

2.2 Trưởng thành của các loài thuộc giống Nacoleia (Nguồn:

Kim et al 2014)

10

2.3 Các triệu chứng côn trùng gây trên củ khoai lang theo mô tả

của Reed et al., (2010)

12

3.1 Hệ thống olfactometer A) buồng chứa mẫu; B) buồng thả

ngài; mũi tên trong hình chỉ hướng đi của không khí

30

3.2 Đĩa petri dùng khảo sát tính ưa thích của ấu trùng SĐCKL

đối với các giống khoai thử nghiệm

31

3.3 Bẫy dính đặt ngài cái chưa bắt cặp và chất quấy rối 33 3.4 Cách đặt bẩy dính ở ngoài đồng 34

3.6 Sơ đồ các điểm ghi nhận chỉ tiêu trên lô thí nghiệm 36 3.7 Sơ đồ bố trí thí nghiệm của các nghiệm thức trên cây khoai

lang tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, 2014

38

4.1 Mức độ gây hại (%) của các đối tượng gây hại khoai lang ở

huyện Bình Tân theo nông dân vụ Đông xuân 2014-2015

4.5 Diễn biến của tỷ lệ củ bị hại theo thời gian phát triển của

khoai lang vụ Đông Xuân 2014-2015

4.10 Triệu chứng gây hại của SĐCKL (A) và sùng (B) 63 4.11 Sự thay đổi nhiệt độ khi sử dụng màng phủ khác nhau trên

khoai lang tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, 2014

70

4.12 Sự thay đổi nhiệt độ lên sự hình thành củ trên khoai lang tại

huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, 2014

70

4.13 Tỷ lệ sâu đục củ gây hại trên khoai lang tại các thời điểm quan

sát khi sử dụng màng phủ khác nhau tại huyện Bình Tân, tỉnh

Vĩnh Long, 2014

74

4.14 Trọng lượng củ khoai lang tại các thời điểm quan sát khi sử

dụng màng phủ khác nhau tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh

Long, 2014

75

4.15 Chiều dài củ khoai lang tại các thời điểm quan sát khi sử 77

Trang 15

dụng màng phủ khác nhau tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh

Long, 2014

4.16 Đường kính củ khoai lang tại các thời điểm quan sát khi sử

dụng màng phủ khác nhau tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh

Trang 16

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

BVTV Bảo vệ thực vật

EPI Excess Proportion Index

IPM Integrated Pest Management Quản lý dịch hại tổng hợp NSKT Ngày sau khi trồng

SĐCKL Sâu đục củ khoai lang SHƢD Sinh học ứng dụng

Trang 17

Chương 1: GIỚI THIỆU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Khoai lang là cây lương thực quan trọng trên thế giới đứng hàng thứ 5

sau cây lúa, lúa mì, bắp và khoai mì (Lin et al., 2007) với diện tích trên 8,17

triệu ha, trong đó 95% tại các nước đang phát triển, năng suất bình quân 13,46 tấn/ha, sản lượng 110,13 triệu tấn (FAO, 2006) Năm 2015, Việt Nam có sản lượng khoai lang là 126.900 ha, 1,32 triệu tấn, đứng thứ năm của toàn thế giới sau Trung Quốc (85,21 triệu tấn), Nigeria (3,31 triệu tấn), Uganda (2,70 triệu tấn) và Indonesia (1,87 triệu tấn) Riêng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là 21.400 ha, chiếm 16,8% diện tích cả nước Vĩnh Long là tỉnh có diện tích canh tác và sản lượng khoai lang lớn nhất vùng ĐBSCL với diện tích và sản lượng

là 11.300 ha và 310.300 tấn (Tổng Cục Thống Kê, 2016) Bình Tân là huyện trồng khoai lang trọng điểm của tỉnh Vĩnh Long có diện tích trồng hơn 10

ngàn ha sản xuất hàng năm (Lê Thị Thanh Hiền và ctv., 2014)

Nhãn hiệu tập thể “Khoai lang Bình Tân - BINH TAN SWEET POTATOES” của tỉnh Khoai lang ở Vĩnh Long đã được Cục sở hữu trí tuệ cấp chứng nhận Hiện nay đã có một số Công ty đầu tư xuất khẩu khoai lang sang các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Đài Loan, Hồng Kông

và Singapore, trong đó, thị trường xuất khẩu khoai lang chủ yếu vẫn là Trung Quốc, thị trường có yêu cầu đối với chất lượng sản phẩm không cao, nhưng kém ổn định Hiệu quả của việc trồng khoai lang ngày một nâng cao đã kéo theo mức độ thâm canh khoai lang ngày càng cao với các giống trồng chủ yếu

là Tím Nhật, giống Trắng Sữa, Trắng Giấy, Nhật Cao Sản và khoai lang Đỏ Trong đó, giống khoai lang Tím Nhật được trồng phổ biến chiếm 98,3% (Lê

Thị Thanh Hiền và ctv., 2014) Điều này làm cho vấn đề dịch hại trên khoai

lang ngày càng nghiêm trọng và vấn đề quản lý dịch hại ngày càng phức tạp

Sâu đục củ khoai lang (SĐCKL) được ghi nhận vào năm 2012 tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, chỉ riêng ở xã Tân Thành diện tích khoai lang bị gây hại là 1.260 ha, chiếm 70% diện tích canh tác khoai lang của xã, với mức độ gây hại làm ảnh hưởng đến xấu 50% sản lượng củ khoai lang thu hoạch Sâu đục vào ăn phần thịt bên ngoài củ làm thành những lổ nhỏ trên bề mặt củ, dù không ảnh hưởng xấu đến chất lượng phần thịt củ bên trong nhưng làm giảm đáng kể giá trị thương phẩm của củ Vì vậy, nông dân canh tác khoai lang gọi đối tượng gây hại này là “sâu đục củ” hoặc “sùng đinh” Một số kết quả ghi nhận cho thấy sâu gây hại nặng trên giống khoai Tím Nhật ở giai đoạn sắp thu hoạch

Mặc dù sự gây hại của sâu đục củ khoai lang trong thời gian qua là có ảnh hưởng đến canh tác khoai lang nhưng cho đến nay vẫn chưa có công trình

Trang 18

nghiên cứu về loài sâu hại này, thông tin về sâu đục củ khoai lang chủ yếu ở dạng tin tức, kiến thức cơ sở cần thiết cho việc xây dựng các chương trình quản lý tổng hợp bền vững như phân loại, đặc điểm sinh học và sinh thái của chúng chưa được thiết lập Mặt khác, do sự gây hại xảy ra trên củ trong đất, để phòng trị sâu đục củ hiệu quả, nông dân thường sử dụng biện pháp tưới thuốc trừ sâu vào đất với số lần áp dụng và liều lượng cao, điều này làm ảnh hưởng xấu đến môi trường đất, nước và sức khỏe người tiêu dùng Để canh tác khoai lang được bền vững và sản phẩm khoai lang có thể thâm nhập vào các thị trường khó tính hơn như Châu Âu và Nhật, bên cạnh việc quản lý tốt dịch hại, trong đó có SĐCKL, giải pháp quản lý cần phải an toàn, không để lại dư lượng cũng như đáp ứng được yêu cầu canh tác theo tiêu chuẩn GAP

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định tình hình gây hại và mức độ thiệt hại do sâu đục củ gây ra trên các địa bàn canh tác khoai lang tại Vĩnh Long

- Xác định một số đặc điểm hình thái, sinh học và định danh của sâu đục củ khoai lang

- Xây dựng được biện pháp quản lý sâu đục củ khoai lang theo hướng

an toàn và thân thiện với môi trường

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là sâu đục củ khoai lang tại Vĩnh Long

Đối tượng khảo sát là những hộ nông dân trồng khoai lang và ruộng bố trí thí nghiệm tại địa phương

1.4 Giới hạn nghiên cứu

Biện pháp trãi màng phủ bạc trong canh tác khoai lang giới hạn ở qui

mô thí nghiệm chưa thực hiện trên pham vi mô hình diện rộng

1.5 Những điểm mới của luận án

Xác định được loài sâu đục củ khoai lang có tên khoa học là Nacoleia

sp thuộc họ Crambidae, bộ cánh Vảy (Lepidoptera)

Trồng khoai lang sử dụng màng phủ bạc hạn chế sâu đục củ tấn công và tăng năng suất khoai lang Sử dụng tinh dầu sả có tác dụng xua đuổi thành

trùng cái Nacoleia sp và giảm tỷ lệ gây hại của sâu đục củ khoai lang và có hiệu quả đến 10 ngày sau khi xử lý Nấm Metarhizium anisopliae có hiệu quả

làm giảm tỷ lệ gây hại của sâu đục củ khoai lang đến 14 ngày sau khi phun

Biện pháp quản lý tổng hợp sâu đục củ khoai lang được xây dựng bao gồm: kỹ thuật canh tác, rải và phun nấm xanh, trồng sả làm cây xua đuổi, đặt bẫy pheromone giới tính của sùng khoai lang và sử dụng thuốc trừ sâu sinh học chọn lọc

Trang 19

1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

-Ý nghĩa khoa học: Sâu đục củ khoai lang là loài côn trùng gây hại mới tại các vùng trồng khoai lang ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, do đó việc nghiên cứu xác định tình hình, mức độ gây hại, đặc điểm sinh thái, sinh học của sâu đục củ khoai lang có ý nghĩa khoa học rất lớn đây là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, phát triển biện pháp quản lý sâu đục củ khoai lang theo hướng hiệu quả và an toàn Bên cạnh

đó, kết quả nghiên cứu là nền tảng cơ bản cho các nghiên cứu tiếp theo và là tài liệu quý giá trong công tác giảng dạy

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp nông dân trồng khoai phòng trừ sâu đục củ có hiệu quả và an toàn

Trang 20

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cây khoai lang

2.1.1 Giá trị sử dụng

Khoai lang là loại cây lương thực có tên khoa học là Ipomoea batatas

(L.) Lam thuộc họ Convolvulaceae (họ Bìm bìm), bộ Solanales (bộ Cà) Củ khoai lang là sản phẩm thu hoạch chính Khoai lang được xem như nguồn cung cấp calo là chủ yếu, cho lượng calo cao hơn khoai tây (113 calo so với 75calo/100g) Thành phần dinh dưỡng chính của khoai lang là đường và tinh bột; ngoài ra còn các thành phần khác như: Protein, các vitamin (vitamin C, tiền vitamin A (caroten), B1, B2 ), các chất khoáng (P, Fe ) góp phần quan trọng trong dinh dưỡng của con người, nhất là ở các nước nghèo và đang phát

triển (Nguyễn Viết Hưng và ctv., 2010) Bên cạnh đó, khoai lang tím còn chứa

nhiều anthocyanins giúp chống oxy hóa, ngăn ngừa ung thư, cải thiện chức năng thị giác, ức chế ngưng tụ tiểu huyết cầu, rất tốt cho sức khỏe, cho hệ tim

mạch (Kano et al., 2005)

2.1.2 Tình hình canh tác khoai lang

Trên thế giới có 111 nước trồng khoai lang với trên diện tích 8,17 triệu

ha, trong đó 95% tại các nước đang phát triển, năng suất bình quân 13,46 tấn/ha, sản lượng 110,13 triệu tấn (so với năm 2005 là 123,27 triệu tấn và năm

1961 là 98,19 triệu tấn) (FAO, 2009) Việt Nam có sản lượng khoai lang năm

2015 là 126.900 ha, 1,32 triệu tấn, đứng thứ năm của toàn thế giới sau Trung Quốc (85,21 triệu tấn), Nigeria (3,31 triệu tấn), Uganda (2,70 triệu tấn) và Indonesia (1,87 triệu tấn) Riêng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là 21.300

ha, chiếm 16,8% diện tích cả nước Vĩnh Long là tỉnh có diện tích canh tác và sản lượng khoai lang lớn nhất vùng ĐBSCL với diện tích và sản lượng năm

thể bị chết, dây mới trồng không bén rễ được (Nguyễn Viết Hưng và ctv.,

2010) Tuy nhiên nhiệt độ thích hợp cho thời kỳ mọc mầm ra rễ của khoai lang

là 20 - 25oC Theo Kays (1985) nhiệt độ dưới 200C năng suất khoai lang giảm

Trang 21

Thời kỳ phân cành kết củ, điều kiện nhiệt độ cao sẽ có lợi cho sự phát triển để sinh trưởng ngọn của dây khoai lang và sự phân cành cấp 1 Nhiệt độ thích hợp thời kỳ này là 25 - 28oC Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp đều không có lợi cho quá trình phân hoá hình thành củ Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng phát triển của cây khoai lang từ 20 - 30o

C Theo Belehu and Hammes (2004) thì nhiệt độ thích hợp để hình thành củ là 24°C, nhiệt độ càng cao đặc biệt trong điều kiện đủ nước và chất dinh dưỡng thân lá phát triển càng tốt, sự hình thành củ thuận lợi do đó số củ trên một cây càng nhiều Mặt khác nhiệt

độ cao cũng thuận lợi cho quá trình phát triển của củ, tuy nhiên ngoài nhiệt độ bình quân hàng ngày 22 - 24oC tốc độ lớn của củ khoai lang còn phụ thuộc vào biên độ chênh lệch nhiệt độ giữa ngày (290C) và đêm (210C), giữa bề mặt luống khoai và độ sâu củ phát triển, chênh lệch này càng lớn thì càng có lợi

cho sự lớn lên của củ khoai lang (Nguyễn Viết Hưng và ctv., 2010; Kays,

1985) Sark (1978) có nghiên cứu trồng khoai lang trong nhà kính nhiệt độ từ 10°C đến 15°C làm giảm sinh trưởng so với ở nhiệt độ từ 21°C đến 25°C

2.1.3.2 Ánh sáng

Khoai lang có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Nhưng khoai lang cũng đã được trồng thí nghiệm có kết quả ở vùng ôn đới có nhiệt độ cao, mùa hè tương đối nóng Ở các vùng đó cũng như các vùng nhiệt đới khoai lang sinh trưởng phát triển thuận lợi do có điều kiện cường độ ánh sáng cao Vì có nguồn gốc nhiệt đới nên cây khoai lang có phản ứng ánh sáng ngày ngắn (<13 giờ ánh sáng/ngày) Thời gian chiếu sáng thích hợp trong một ngày từ 8 - 10 giờ ánh sáng Tuy nhiên, trong điều kiện ngày dài hơn khoai lang cũng sinh trưởng

phát triển được (Nguyễn Viết Hưng và ctv., 2010; Kim, 1957)

2.1.3.3 Nước

Ẩm thích hợp cho khoai lang là khoảng 70 - 80% độ ẩm tối đa đồng ruộng Ẩm độ đất đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hình thành củ và năng suất của cây khoai lang (Yamauchi et al., 1996)

Nhu cầu về nước đối với khoai lang qua từng thời kỳ sinh trưởng phát triển khác nhau Cung cấp nước cho khoai lang là một biện pháp kỹ thuật trong thâm canh tăng năng suất khoai lang Song phải cung cấp một cách hợp

lý trên cơ sở dựa vào nhu cầu nước qua từng thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây khoai lang kết hợp với việc xác định độ ẩm đất trên đồng ruộng Nói một cách khác, trong sản xuất cần dựa vào các thời vụ trồng cụ thể để có chế độ tưới cụ thể về cả lượng nước tưới, thời kỳ tưới và phương pháp tưới thích hợp (Dương Minh, 1999)

2.1.3.4 Đất đai

Khoai lang có có thể mọc được trên nhiều loại đất khác nhau, từ sa cấu cát đến sét nặng Tuy nhiên, loại đất thích hợp nhất vẫn là đất xốp, dễ thoát

Trang 22

thủy, có sa cấu từ cát đến thịt pha cát và phải màu mỡ Lý tưởng nhất là đất thịt pha cát có nhiều hữu cơ và lớp thứ cấp phải dễ thấm nước (Dương Minh, 1999) Theo Bourke (1985) khoai lang được trồng trên đất thịt nặng, đất than bùn cũng như đất pha cát, trên đất bằng phẳng cũng như đất sườn dốc nghiêng tới 400 Đất có kết cấu chặt và nghèo dinh dưỡng sẽ hạn chế quá trình hình thành củ khoai lang, dẫn đến năng suất thấp Độ xốp của đất làm tăng hoạt động phân hoá rễ củ Ở giai đoạn phát triển ban đầu, sự hô hấp của rễ củ chiếm khoảng 25% của toàn bộ cây dưới điều kiện bình thường Sự thiếu oxy cũng như độ xốp của đất kém sẽ có thể ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình phân hoá và lớn lên của củ Độ ẩm cao thường làm tăng quá trình phát triển thân lá hơn quá trình phát triển củ dẫn đến số củ trên cây thường ít Những trường

hợp như vậy thường xảy ra ở các loại đất thịt nặng có độ xốp kém (Kotama et al., 1970)

Độ pH tối thích cho sự sinh trưởng phát triển của cây khoai lang là 5,6 - 6,6 (Bourke, 1985) Tuy nhiên, cây khoai lang vẫn có thể sinh trưởng phát triển tốt ở các loại đất có độ pH = 4,5 - 7,5 trừ đất sét nặng có hàm lượng nhôm trong đất cao Cây khoai lang mẫn cảm với chất kiềm, muối và rất mẫn cảm với độc tố nhôm Cây khoai lang có thể chết trong vòng 6 tuần sau khi trồng trên đất có độ nhôm cao, không được bón vôi khi trồng khoai lang Chính do tính thích ứng rộng, ở Việt Nam trên các loại đất cát ven biển miền trung, đất đồi xấu vùng trung du miền núi, hay ở các vùng đất bạc màu nghèo dinh dưỡng, đất thịt nặng thường bị ngập đều có thể trồng khoai lang cho năng suất khá cao nếu biết đầu tư biện pháp kỹ thuật thâm canh hợp lý (Nguyễn

họ ngài Sesiidae (ngài cánh trong) hoạt động vào ban ngày Đa số ngài thuộc nhóm gây hại thực vật, tính ăn khác nhau tùy loài, giữ vai trò quan trọng trong nông nghiệp (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2003) Phần lớn cơ thể, chân và cánh mang nhiều lông vảy nhỏ (Nguyễn Đức Khiêm, 2005; Nguyễn Viết Tùng, 2006) Thuộc nhóm biến thái hoàn toàn (trứng, ấu trùng, nhộng và thành trùng) (Scoble, 1992; Nguyễn Viết Tùng, 2006) Các nhà côn trùng chuyên nghiên cứu về bộ cánh vảy thường dùng các khóa phân loại dựa trên hệ thống mạch cánh, các mạch cánh thường được ký hiệu bởi các số: từ số một đến số 8

Trang 23

hoặc số 12, bắt đầu từ phía sau lên phía trước Tuy nhiên các con số này sau

đó được thay thế bởi việc sử dụng các tên gọi như: C, Sc, R, SR (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009; Nguyễn Viết Tùng, 2006) Miệng thuộc dạng vòi hút, hàm trên thoái hóa chỉ còn một chút dấu vết hoặc không còn, môi dưới không có, râu môi dưới phát triển có ba đốt, râu hàm dưới nhỏ hoặc không còn, một số ít loài có miệng thoái hóa và không ăn vào giai đoạn thành trùng (Hà Công Tuấn

và ctv., 2006; Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009) Mắt kép của bộ cánh vảy thường lớn, gồm nhiều mắt nhỏ Phần lớn các loài ngài có hai mắt đơn Hai cánh bằng chất màng phủ đầy lông vảy nhỏ Những lông vảy nhỏ nầy có nhiều màu sắc

và những đường vân khác nhau Mạch cánh có mạch dọc và mạch ngang Sự phân nhánh của hệ thống mạch cánh tùy từng họ mà khác nhau Nhiều loài có

bộ phận nghe (màng nhỉ) Các loài ngài thuộc họ ngài sáng và nhiều loại thuộc nhóm sâu đo (Geometridae) có màng nhỉ nằm trên phiến bụng (sternite) phía trước, trong lúc đó thì màng nhỉ của nhóm Noctuidae thì nằm ở phiến bụng của ngực sau Nhộng thuộc nhộng màng, có 1 số loài nhộng nằm trong kén tơ

(Hà Công Tuấn và ctv., 2006) Ấu trùng bộ cánh vảy có 5 đôi chân ở các đốt

bụng thứ 3, 4, 5, 6 và 10, có 6 mắt đơn ở 2 bên đầu và một đôi râu rất ngắn (Nguyễn Đức Khiêm, 2005) Mỗi đốt ngực mang một đôi chân ngực Đôi chân

ở đốt bụng thứ 10 thường được gọi là đôi chân mông Phía cuối chân bụng có một đến nhiều móng dạng móc câu, xếp thành từng kiểu khác nhau tuỳ loài và đây là đặc điểm quan trọng để phân loài Một số loài có ít hơn 5 đôi chân bụng như các loài sâu đo, có loài lại hoàn toàn không có chân bụng như một số loài

họ Xycanidae và những loài sâu ăn lá thuộc Microlepidoptera, hoàn toàn không có chân ngực lẫn chân bụng (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2009)

2.2.1 Tổng họ Pyraloidea

Pyraloidea là tổng họ (superfamily) lớn thứ ba trong bộ cánh vảy với hơn 17.500 loài đã được mô tả với đặc điểm hình thái cơ bản là gốc vòi hút phủ vảy, râu hàm (palpus) phát triển, màng nhỉ bao gồm các buồng xếp thành cặp trên mặt bụng của đốt bụng A2 (Powell, 2009), ngài cái mang đặc điểm điển hình của nhóm Ditrysia với bộ phận sinh dục có hai khe mở, một để giao phối và một để đẻ trứng (Solis, 2007) Năm 1980 superfamlily Pyrloidea có 8

họ và sau 1980 thêm 1 họ là Crambidae Gần đây, dựa trên đặc điểm của màng nhỉ và hình thái của trưởng thành và ấu trùng các tổng họ Pyraloidea được phân thành hai họ là Pyralidae và Crambidae (Minet, 1983; Solis, 2007) Họ Pyralidae có ngăn màng nhỉ gần như đóng, màng kết (conjunctiva) và màng nhỉ nằm trên cùng một mặt phẳng, praecinctorium không hiện diện Họ Crambidae có ngăn màng nhỉ mở với khe hở trước rộng, màng kết và màng nhỉ không nằm trên cùng một mặt phẳng, praecinctorium hiện diện

Trang 24

Hình 2.1: Hình dạng ngăn màng nhĩ ở họ Pyralidae (bên trên) và Crambidae

(bên dưới) Ở họ Pyralidae màng kết và màng nhỉ nằm trên cùng một mặt phẳng, praecinctorium không hiện diện; Ở họ Crambidae màng kết và màng nhỉ nằm lệch nhau một góc, praecinctorium không hiện diện (Nguồn: Solis, 2007)

mở rộng theo chiều ngang; râu đầu dạng hình sợi chỉ (Traenkner et al., 2009)

Có ít nhất gồm 3 loài thuộc họ Pyralidae và 17 loài thuộc họ Crambidae được ghi nhận là đối tượng gây hại trên nhiều loại cây trồng gồm cây ăn trái, rau màu và cây công nghiệp tại ĐBSCL, trong đó, các loài sâu đục trái bưởi

(Citripestis sagittiferella Moore), sâu đục trái cây (Conogethes punctiferalis Gueneé), sâu đục hột xoài (Deanolis albizonalis Hampson), sâu kéo màng (Hellula undalis F.), sâu xanh hai sọc trắng (Diaphania indica Saunders), sâu đục trái cà (Leucinodes orbonalis Gueneé), sâu đục trái đậu (Maruca testulalis Geyer) được xem là gây hại quan trọng (Lê Văn Vàng và ctv., 2011; Nguyễn

Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2013; Nguyễn Thị Thu Cúc, 2015)

Trang 25

2.2.3 Giống Nacoleia

Giống Nacoleia họ phụ Pyraustinae, họ Crambidae, với hơn 400 loài đã

được mô tả Theo Kim et al (2014) có 6 loài Nacoleia spp được nhận biết ở

Hàn Quốc (Hình 2.3)

Trưởng thành Nacoleia chrysorycta sãi cánh 17 mm, cánh trước có màu

nâu và cánh sau màu cam với một vạch giữa nối cánh trước và cánh sau có màu hơi đen (Hình 2.3.A) Phân bố ở: Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Myanmar, Sri Lanka, Úc

Trưởng thành Nacoleia commixta sãi cánh 17 mm, cánh trước có màu

nâu đất pha lẫn vàng nâu, giữa cánh trước có một vạch màu đen (Hình 2.3.B) Phân bố ở: Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Nepal, Ấn Độ

Trưởng thành Nacoleia inouei Yamanaka sãi cánh 12 mm, cánh trước

có màu vàng kem Mặt trên của thân có màu đen xám, có vệt màu vàng kem nằm giữa phần bụng và phần ngực Mặt trên của cánh sau có vệt màu vàng kem lớn xuất phát ở phần gốc cánh, ngang với vệt màu trên thân và kéo dài ra đến 3/4 của cánh về phía chóp cánh Cánh sau có màu sắc gần giống cánh trước, màu đen xám tập trung ở gốc phía ngoài cánh 1/3 Lông màu vàng nhạt pha lẫn màu xám (Hình 2.3.C) Phân bố ở: Hàn Quốc, Nhật Bản

Trưởng thành Nacoleia satsumalis South sãi cánh 16 mm, cánh trước

có màu vàng đất hơi nhạt Mép cánh trước gần như thẳng với phần chóp hơi hẹp, có vệt màu đen chạy từ 1/5 mép cánh trước đến 1/4 của thân trưởng thành Một vệt màu đen bắt nguồn từ 5/6 góc cánh tiến về phần sau của thân Cánh sau có màu vàng nhạt Giữa cánh trước và cánh sau có vệt màu xám đen, khoảng giữa cánh sau về phía 1/3 thân có màu xám nhạt (Hình 2.3.D) Phân bố ở: Hàn Quốc, Nhật Bản

Trưởng thành Nacoleia sibirialis sãi cánh 15-18 mm, cánh trước có nền

màu trộn lẫn, có vệt màu vàng sáng ở phía trong về phía thân (Hình 2.3.E) Phân bố ở: Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và Nga

Trưởng thành Nacoleia tampiusalis sãi cánh 15-17 mm, cánh trước và

cánh sau có màu vàng xám Ở giữa cánh sau có vệt màu đen nhạt Tận cùng về phía góc cánh có màu nâu đen (Hình 2.3.F) Phân bố ở: Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Nepal và Indonesia

Trang 26

Hình 2.2: Trưởng thành của các loài thuộc giống Nacoleia: (A), N chrysorycta (Meyrick, 1884); (B), N commixta (Butler, 1879); (C), N inouei Yamanaka, 1980; (D), N satsumalis South, 1901; (E), N sibirialis (Milliere, 1879); (F), N tampiusalis (Walker, 1859) (Nguồn:

Kim et al., 2014)

2.2.4 Một số ghi nhận về sâu đục củ khoai lang

Từ năm 2012, sâu đục củ khoai lang đã xuất hiện và gây hại nhiều trên các ruộng trồng khoai lang ở huyện Bình Tân Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo

vệ thực vật Vĩnh Long (2016) thì diện tích khoai lang bị sâu đục củ gây hại cao nhất là năm 2012 với 4.985 ha, qua năm 2013 thì diện tích khoai bị sâu gây hại giảm còn 1.097 ha, nhưng sâu vẫn xuất hiện và gây hại khoai lang Qua những ghi nhận ban đầu thì loài sâu này gây trên các giống khoai đang được trồng ở huyện Bình Tân như: giống Tím Nhật, Bí Đường, Khoai Sữa…

Trang 27

Sâu đục nhiều lổ nhỏ đường kính từ 0,5 mm đến 2 mm tùy vào tuổi sâu lớn hay nhỏ và độ sâu của lổ đục khoảng 10 mm Sau khi ăn xong, sâu không ở lại trong củ khoai mà ra ngoài đất gần củ để trú ngụ Thiệt hại do sâu đục củ gây

ra chủ yếu làm mất giá trị thương phẩm, những củ khoai bị sâu đục vẫn còn ăn được và không bị hư như sùng khoai lang gây hại

2.3 Côn trùng và nhện gây hại khoai lang

Theo Talekar (1992) có hơn 270 loài côn trùng và 17 loài nhện được ghi nhận là gây hại trên khoai lang, trong đó các loài côn trùng gây hại trực

tiếp trên củ được xem là đối tượng quan trọng (Ames et al., 1997) Sự gây hại

trên củ khoai được chia làm hai nhóm: gây hại bên trong và gây hại bên ngoài Trong khi sự gây hại bên trong có thể làm thiệt hại hoàn toàn năng suất thì sự gây hại bên ngoài chỉ làm giảm chất lượng và giá trị thương phẩm của củ khoai

Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra và khảo sát của Nguyễn Văn Đĩnh (2007) thì có 25 loài côn trùng gây hại trên khoai lang ở các tỉnh miền Trung

và một số tỉnh phía Bắc Trong khi đó, ở ĐBSCL các loài côn trùng gây hại

trên khoai lang được ghi nhận gồm hai loài miểng kiếng (Cassida circumdata

và Aspidomorpha miliaris), hai loài sâu sừng (Agrius convolvuli và Acherontia lachesis), một loài sùng khoai lang (Cylas formicarius) và một loài sâu đục dây khoai lang (Omphisa anastomosalis) (Lê Văn Vàng và ctv., 2011; Nguyễn

Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2013)

Những loài gây hại phổ biến và quan trọng trên khoai lang gồm có sùng

khoai lang (C formicarius), sâu đục dây (O anastomasalis), sâu sừng (A convolvuli) và bọ hung (Serica orientalis) Sùng khoai lang là loài gây hại

quan trọng nhất trên tất cả các vùng trồng khoai lang ở Việt Nam, đặc biệt ở những vùng đất thịt thường xuyên bị khô hạn (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2013) Chúng không chỉ gây hại ngoài đồng mà còn tiếp tục gây hại củ

khoai lang trong thời gian bảo quản, cùng với sùng, sâu đục dây Omphisia anastomasalis cũng là loài khá phổ biến trên các vùng trồng khoai, nhất là các tỉnh miền Trung Các loài sâu hại khác như sâu sừng Agrius convolvuli và bọ hung Serica orientalis ở các tỉnh Thanh Hóa, Bắc Giang đôi khi xuất hiện cục

bộ với mật độ cao (Nguyễn Văn Đĩnh, 1995)

Triệu chứng gây hại trên củ khoai lang của một số loài côn trùng đã

được Reed et al., (2010) tập hợp và mô tả gồm:

1) Bọ nhảy: Vết đục rất hẹp thành những đường quanh co (rộng: 1- 2 mm) (Tysowsky, 1971) (Hình 2.1A)

2) Bọ nhảy thuộc giống (chi) Systena: Lổ đục giống như lổ kim rất nhỏ

(đường kính <1,0mm) (Thomas, 1927) (Hình 2.1B)

Trang 28

Hình 2.3: Các triệu chứng côn trùng gây hại trên củ khoai lang (Reed et al., 2010) A: Bọ nhảy Chaetocnema confinus Crotch; B: Bọ nhảy Systena; C và D: Bọ

cánh cứng lông trắng; E: Sùng Trắng; F: Bọ Hung; G: Sâu khoang; H: Sâu

thép; I và J: Bọ dưa; K: Sùng khoai lang

3) Bọ cánh cứng lông trắng (white-fringed beetle, Naupactus leucolom): Vết đục hẹp thành những đường hầm rộng 1-5 mm (Zehnder et al., 1998) (Hình

2.1C và Hình 2.1D)

4) Sùng Trắng: Vết đục rộng, gồ ghề hơn và nhẵn cạn nhưng rộng 5 -10

mm và liên tục (Hammond et al 2001) (Hình 2.1E)

Trang 29

5) Bọ Hung: Vết đục rộng, gồ ghề cạn nhẵn và sâu rộng khoảng 10 mm với những lổ rộng bóng hơn sâu (Smith, 2006) (Hình 2.1F)

6) Sâu khoang (Spodoptera litura): Đường đục là những rãnh rộng, hẹp đến sâu, đường đục phẳng và lõm (Hammond et al., 2001) (Hình 1.1G)

7) Sâu thép (ấu trùng bổ củi): Lổ đục có đường kính rất khác nhau từ 2

- 8 mm, độ sâu lổ đục với hình dạng bất thường trên bề mặt củ (Hình 2.1H) (Chalfant and Seal, 1991)

8) Bọ dưa (Aulacophora similis): lổ đục tròn, nhỏ, đường kính 1 - 3

mm, thỉnh thoảng hình dạng vết đục bất thường (Hình 2.1I và Hình 2.1J)

(Byrd et al., 1999, Hammond et al., 2001)

Các đối tượng gây hại bên ngoài củ đã được ghi nhận và mô tả gồm:

- Sâu thép (Wireworm) (Coleoptera: Elateridae) được xem là một trong những nhóm côn trùng gây hại bên dưới mặt đất quan trọng nhất đối với khoai lang (Gifin and Eden, 1953) Ấu trùng của sâu thép là nhóm đa thực tấn công trên nhiều loại rễ củ dưới mặt đất (Seal, 2011) Đối với khoai lang, sự tấn công tạo thành những lổ tròn nhỏ trên bề mặt củ, đường kính của lổ đục thường lớn hơn lổ đục do sùng khoai lang và có độ sâu từ 5 - 10 mm Sự gây hại này không làm ảnh hưởng nhiều đến thịt củ nhưng làm giảm giá trị thương phẩm

của củ, đồng thời tạo cửa ngỏ cho các mầm bệnh tấn công (Chalfant et al., 1993) Theo Reed et al (2009) có 6 loài sâu thép gây hại khoai lang ở Mississippi (Mỹ) gồm Conoderus vespertinus, Conoderus bellus, Heteroderes falli, Melanotus communis, Aeolus sp., và Glyphonyx sp Trong đó, Conoderus vespertinus và Heteroderes falli là hiện diện phổ biến

- Sâu đục dây Omphisa anastomosalis (Lepidoptera: Pyralidae) là loài

côn trùng gây hại nghiêm trọng trên khoai lang ở các vùng nhiệt đới, bán nhiệt

đới thuộc Châu Á và Thái Bình Dương (Taleka et al., 1992) và là một trong ba

đối tượng kiểm dịch đối với khoai lang nhập khẩu vào Mỹ và Nhật (Wakamura

et al., 2010) Mặc dù có tên là sâu đục dây, ấu trùng của O anastomosalis vẫn đục vào củ nếu khoai lang bị tấn công vào giai đoạn tạo củ Theo Ames et al (1997), tại nhiều nơi trên thế giới, nếu khoai bị O anastomosalis tấn công vào giai đoạn

sớm, sự tạo củ sẽ bị ức chế và năng suất có thể giảm từ 30 - 50% Sâu mới nở có thể đục vào chồi non, cuống lá và các vết nứt trên dây khoai, tùy thuộc vào vị trí

đẻ trứng Nếu tấn công chồi non thì sự gây hại sẽ làm cho chồi không phát triển và chết dần Nếu tấn công vào cuống lá hay các vết nứt, sâu sẽ ăn phá bên trong thân làm cho thân bị rỗng, dây bị héo vàng từ nơi đục đến đọt Bên trong đoạn thân bị đục thường chứa đầy phân sâu Giai đoạn khoai tạo củ, sâu

có thể di chuyển từ thân xuống để đục vào củ (Lê Văn Vàng và ctv., 2011)

- Họ Scarabaeidae của bộ Coleoptera, hại khoai lang sống dưới đất, là những loài có vị trí quan trọng (Nguyễn Đức Khiêm, 1996a) Trên ruộng trồng

Trang 30

khoai lang ở nước ta thường gặp nhiều loài bọ hung, trong đó loài bọ hung nâu

Serica orientalis Motschulsky là loài gặp ở nhiều nơi Hình dáng ấu trùng dễ

nhận biết nhờ đặc trưng phân bố của các lông hình móc câu ở mặt bụng đốt cuối cùng theo hình vòng cung quanh hậu môn Thời gian phát triển của ấu trùng dài 219 - 251 ngày, trung bình 231,3 ngày Vòng đời từ 267 - 318 ngày, trung bình 288,4 ngày Ở trong đất trồng khoai, 88,6 - 90,8% ấu trùng sống ở

độ sâu từ 5 - 25 cm Mỗi năm chỉ có một lứa sâu; nhưng do trưởng thành đẻ trứng kéo dài và thời gian phát dục của sâu dài nên trên đồng ruộng lúc nào cũng thấy sâu non bọ hung nâu Bọ hung trưởng thành ăn lá cây và phần mềm trên mặt đất của nhiều loại cây trồng Bọ hung có tính yếu với ánh sáng và ít bay vào đèn Mật độ sâu non trên đất trồng các giống mía khác nhau không chênh lệch đáng kể, nhưng mật độ trên đất trồng khoai cao hơn đất trồng mía

Bọ trưởng thành của nhiều loài phá hoại phần trên mặt đất của cây trồng (thân,

lá, hoa, quả), còn sâu non ăn hại phần dưới mặt đất (thân ngầm, rễ, củ) (Nguyễn Đức Khiêm, 1996b)

- Sâu ăn tạp (sâu khoang) Spodoptera litura Fabricius họ Noctuidae, bộ Cánh Vảy (Lepidoptera) Ngài có chiều dài thân từ 20 - 25 mm, sải cánh rộng từ 35

- 45 mm, cánh trước màu trắng với các dấu màu nâu và màu kem, mép sau cánh hơi mờ với một cạnh màu nâu, cánh sau màu trắng óng ánh Ngài có đời sống trung bình từ 1 - 2 tuần tùy điều kiện thức ăn Trung bình một ngài cái có thể đẻ 350 trứng, điều kiện thích hợp có thể đẻ từ 2000 - 3000 trứng (Mai Thạch Hoành, 2001) Thời gian đẻ trứng trung bình của ngài kéo dài từ 5 - 7 ngày, đôi khi đến 10 hoặc 12 ngày, ấu trùng có tập quán ăn thịt lẫn nhau và có thể ăn trụi cả thân và cành khoai lang (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2013) Ấu trùng tuổi cuối rất phàm

ăn và có thể đào sâu vào trong củ Khi sắp làm nhộng ấu trùng chui xuống đất làm thành một khoang và nằm yên trong đó hóa nhộng (Mai Thạch Hoành, 2001)

2.4 Các biện pháp quản lý đối với côn trùng gây hại củ khoai lang

2.4.1 Biện pháp canh tác

* Kỹ thuật làm đất

Đất là môi trường sống và tồn tại của sâu đục củ khoai lang Đây là loài có pha ấu trùng và hóa nhộng ở trong đất Kỹ thuật làm đất ít nhiều đều có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tiêu diệt chúng Cày lật đất sẽ vùi lấp xuống lớp đất dưới nhiều sâu non, nhộng của sâu Đồng thời cày lật đất cũng đưa các sinh vật hại từ lớp đất phía dưới lên trên mặt đất Trong điều kiện như vậy, loài côn trùng hại hoặc là bị chết khô do nắng hoặc là dễ bị các thiên địch tiêu diệt (Phạm Văn Lầm, 1998) Tiến hành các công đoạn làm đất đúng lúc, đúng kỹ thuật không chỉ làm cho tầng đất canh tác đáp ứng các yêu cầu của trồng trọt, mà còn góp phần làm cho tầng đất canh tác trở nên sạch mầm mống dịch hại hơn

* Vệ sinh đồng ruộng

Trang 31

Đây là một nhóm thao tác kỹ thuật khác nhau nhằm tiêu diệt các mầm mống dịch hại có trong đất, trên tàn dư cây trồng vụ trước và trên cỏ dại Sau mỗi vụ tiến hành dọn sạch và tiêu hủy tất cả các tàn dư thực vật có ý nghĩa lớn trong hạn chế nguồn dịch hại đầu vụ (Phạm Văn Lầm, 2005) Để phòng trừ côn

trùng hại khoai lang cần dọn sạch tàn dư cây vụ trước (Nguyễn Văn Toản và ctv.,

1997)

* Luân canh cây trồng

Luân canh cây trồng: Luân canh cây trồng là một trong những phương pháp phổ biến nhất và hiệu quả nhất trong nông nghiệp bền vững Điều này nhằm mục đích tránh những tác động xấu lên cây trồng và đất đai khi chúng ta

cứ trồng một loại cây trên cùng một mảnh đất trong thời gian dài Luân canh giúp nhà nông đối phó với vấn đề sâu bệnh (vì nhiều loài côn trùng và sâu bệnh chỉ tàn phá một loại thức ăn yêu thích, nên khi chúng ta cứ trồng thâm canh một loại cây, vô hình chung chúng ta đang tiếp tay cho chúng có một nguồn thức ăn ổn định lâu dài đồng thời làm gia tăng số lượng sâu hại) Luân canh giúp phá vỡ vòng tuần hoàn đó Trong luân canh, chúng ta có thể sử dụng một số loại cây nhất định nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây trồng, đồng thời những loại cây này cũng giúp làm giảm nhu cầu về phân hóa học Công việc này nên được lặp đi lặp lại hàng năm, hàng vụ, và người nông dân nên nắm được diện tích cũng như mục tiêu gieo trồng cho vụ tới Chẳng hạn một khu vườn được chia ra làm 4 mảnh nhỏ: A, B, C, D Vụ thứ nhất trồng bắp cải ở mảnh A, thì vụ sau cần phải luân canh sang mảnh B, vụ thứ 3 nên chuyển sang mảnh C hoặc D không nên trồng ở A năm này qua năm khác Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải xem xét giống cây mà mình định trồng, ví dụ cùng là luân canh nhưng vụ thứ 2 chúng ta không nên trồng cà chua tại mảnh A, vì cả hai loại cây này đều cần rất nhiều dinh dưỡng từ đất Chúng ta nên trồng đậu/

đỗ hay xà lách (những loại cây ít nhu cầu dinh dưỡng hơn và thời gian cho thu hoạch cũng nhanh hơn) để tránh xói mòn và cho đất cơ hội tái tạo dinh dưỡng

Liên tục chỉ trồng khoai lang trên một khu đất trong nhiều năm (độc canh) thường dẫn tới sự suy thoái độ phì của đất, thiếu dinh dưỡng vi lượng Canh tác theo kiểu độc canh còn có thể gây nên sự tích tụ các chất có hại cho cây trồng Độc canh thường tạo điều kiện sinh thái thuận lợi cho dịch hại tồn tại, tích luỹ và phát triển Đặc biệt, loài dịch hại có tính chuyên hóa cao vì nguồn thức ăn của nó luôn luôn dồi dào (Phạm Văn Lầm, 1998) Để khắc phục những hậu quả của độc canh, cần áp dụng hệ thống canh tác luân canh Luân canh cây khoai với các cây lúa, rau họ hoa thập tự hay đậu đỗ sẽ làm gián đoạn nguồn thức ăn của các loài dịch hại Tuy nhiên, kỹ thuật này mang tính cộng đồng, phải được áp dụng trên diện tích qui mô lớn mới có hiệu quả hạn chế dịch hại, chỉ áp dụng đơn lẻ trên diện tích nhỏ sẽ không có hiệu quả

Trang 32

phòng chống dịch hại (Phạm Văn Lầm, 1998) Các nghiên cứu chỉ ra rằng

sùng có thể phòng trừ được bằng biện pháp luân canh (Nguyễn Văn Toản và ctv., 1997)

Tại Đồng Bằng sông Cửu Long tùy đất đai và điều kiện địa phương, các hệ thống luân canh có thể áp dụng gồm lúa - khoai lang – đậu nành và bắp hoặc lúa – đậu nành và bắp – khoai lang (Dương Minh, 1999)

* Sử dụng phân bón hợp lý

Bón phân là cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng, do đó phân bón gây ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng Đồng thời bón phân còn làm ảnh hưởng lớn đến sự phát sinh và gây hại của dịch hại Phân kali làm giảm tác hại của côn trùng gây ra đối với cây trồng Phân kali đã làm cho các mô cơ sinh trưởng tốt hơn, ức chế sự tạo thành các chất hấp dẫn côn trùng (Nguyễn Văn Đĩnh, 2007) Khi bón phân hóa học mất cân đối, đặc biệt chỉ chú trọng bón phân đạm mà không bón phân lân, kali sẽ gây nên hiện tượng thừa đạm Thừa đạm kéo dài thời gian sinh trưởng của cây, tạo nên nguồn thức ăn thích hợp cho nhiều loài sinh vật gây hại Thừa đạm làm cho các mô bảo vệ kém phát triển, cho nên thân cây non mềm tạo điều kiện cho sinh vật gây hại xâm nhập vào trong cây một cách dễ dàng Bón phân cân đối không chỉ huy động được tiềm năng năng suất của cây trồng mà còn không tạo điều kiện thuận lợi cho dịch hại phát triển, góp phần gìn giữ năng suất cây trồng Như vậy, biết cách sử dụng phân bón hợp lý sẽ có ý nghĩa lớn trong phòng chống dịch hại (Phạm Văn Lầm, 2005)

* Tưới tiêu hợp lý

Nước ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng Qua đó ảnh hưởng đến sự phát sinh, gây hại của sâu bệnh hại Ngoài ra, nước cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát sinh, phát triển và gây hại của dịch hại (Phạm Văn Lầm, 2005) Ruộng khoai lang khô dễ bị côn trùng gây hại (Phạm Văn Lầm, 1998) Điều khiển chế độ nước hợp lý sẽ có ý

Trang 33

nghĩa lớn trong hạn chế sự phát sinh (bộc phát) và phát triển của nhiều loài sâu bệnh hại

2.4.2 Quản lý dịch hại cây trồng thân thiện môi trường

Hầu hết các loài thực vật trong quá trình sinh trưởng và phát triển đều bị dịch hại tấn công, ước tính có khoảng 10.000 loài côn trùng gây hại quan trọng, 100.000 loài bệnh nguy hiểm và khoảng 30.000 loài thực vật được xếp vào nhóm cỏ dại thường xuyên cạnh tranh và làm giảm đáng kể năng suất cây trồng Theo FAO, bình quân hàng năm sản lượng nông nghiệp mất đi do dịch hại khoảng 20% Để đối phó với dịch hại, bảo vệ năng suất cây trồng, trong nhiều thập kỉ qua, nông dân tại nhiều nước vẫn dựa chủ yếu vào thuốc hóa học

Mặc dù vẫn là công cụ chủ yếu cho công tác BVTV, thuốc BVTV hóa học đã dần bộc lộ các mặt tiêu cực như giá thành áp dụng tăng, tạo nên sự kháng thuốc và bộc phát của dịch hại (kể cả những loài bị phòng trị và những loài dịch hại thứ cấp), gây ô nhiễm môi trường và tác động xấu đến sức khỏe của con người Điều này càng đặc biệt nghiêm trọng ở những nước đang phát triển, nơi mà công tác phòng chống dịch hại nông nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào thuốc BVTV hóa học Mặt khác, do yêu cầu của thị trường và sự phát triển nông nghiệp bền vững, sản phẩm nông nghiệp ngoài chất lượng cao, giàu dinh dưỡng, không bị nhiễm vi sinh vật và dư lượng hóa chất nông nghiệp còn được đòi hỏi phải sản xuất theo các quy trình an toàn, không ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người và môi trường Do đó, từ những năm 80 của thế

kỷ trước đã có rất nhiều chương trình nghiên cứu và ứng dụng các giải pháp quản lý dịch hại theo hướng tổng hợp, bền vững, an toàn với sức khỏe của con người và thân thiện với môi trường được thực hiện và ngày càng được phát triển nhằm luân phiên hoặc thay thế cho thuốc BVTV hóa học Trong đó, khai thác sử dụng và phát huy vai trò của thiên địch để quản lý dịch hại, điều khiển

hệ sinh thái để ngăn cản sự bộc phát của dịch hại, sử dụng chất hấp dẫn để dự báo sự xuất hiện và bộc phát của dịch hại, gia tăng tính kháng hoặc chống chịu của cây trồng đối với dịch hại, sử dụng phối hợp và hài hòa nhiều biện pháp trong các mô hình quản lý dịch hại IPM, ICM… đã và đang được áp dụng thành công tại nhiều nước trên thế giới (Nguyễn Thị Thu Cúc và Lê Văn Vàng, 2016)

Nông nghiệp bền vững rất chú trọng tới tính đa dạng sinh học trong hệ sinh thái cũng như những cách thức thực hành trên khu vực canh tác Nông nghiệp bền vững đề cao tính tuần hoàn trong một khu vực canh tác, hạn chế sử dụng những yếu tố đầu vào từ bên ngoài, quản lý việc sử dụng những yếu tố tự nhiên, sẵn có và có tính bổ trợ lẫn nhau từ đó khôi phục, duy trì và thúc đẩy

Trang 34

tính hài hòa của thiên nhiên Để đạt được các mục tiêu đó, những người nông dân bền vững thực hành những phương pháp như sau:

2.4.3 Biện pháp sinh học

Biện pháp sinh học được đặc biệt chú ý khi biện pháp hóa học sau khoảng thời gian dài nắm vai trò chủ đạo trong công tác bảo vệ thực vật đã bộc lộ nhiều hạn chế Biện pháp sinh học còn gọi là đấu tranh sinh học, người

ta dùng các loài sinh vật có lợi hay các sản phẩm hoạt động của chúng để ngăn ngừa hoặc làm giảm thiệt hại do các loại sâu bệnh gây ra cho cây trồng

Lợi dụng vào lực lượng thiên địch rất phong phú, đa dạng có sẳn trong

tự nhiên, người ta sử dụng các loại thiên địch này để kiềm hãm sự phát triển của côn trùng gây hại Đây là biện pháp đạt hiệu quả rất lớn, ít tốn kém trong việc phòng trừ sâu hại mà không ảnh hưởng đến sinh trưởng cây trồng, cũng không gây ô nhiễm môi trường và an toàn cho người tiêu dùng sản phẩm

Ngay từ những năm 80 của thế kỷ 20 ở Trung Quốc người ta đã sản xuất

chế phẩm nấm Metarhizium anisophiae (nấm xanh) và Beauvernia bassiana

(nấm trắng) phòng chống bọ cánh cứng hại khoai tây, sâu đục thân ngô, loài sâu hại khác thuộc bộ cánh vảy Lepidoptera hại rau, đậu có hiệu quả hơn hẳn đối chứng không sử dụng biện pháp đấu tranh sinh học Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu ở các nước trên thế giới như Úc, Brazil, Mỹ, Pháp, Colombia, Venezuela đã cho thấy việc sử dụng các loại nấm ký sinh côn trùng trong phòng trừ tổng hợp các loài sâu gây hại một cách hợp lý đã mang lại

hiệu quả khá cao (Butt and Copping, 2000) Nấm Metarhizium anisopliae (nấm xanh hay nấm lục cương) là loài nấm phân bố và có phổ ký chủ rất rộng Năm

1879, Metchnikoff đã phân lập loài nấm này từ bọ cánh cứng Anisopliae austriacavà đề nghị sử dụng loài nấm này để phòng trừ các loại côn trùng hại Hollingsworth et al (1988) cho rằng M anisopliae đã gây bệnh cho khoảng 65% ấu trùng và 27% thành trùng Hiện nay, nấm M anisopliae đang được sử

dụng rộng rãi để phòng trừ côn trùng hại trên nhiều loại cây trồng trong đó chủ yếu là lúa, khóm, khoai lang, cây mắm (rừng ngập mặn),… (Nguyễn

Xuân Niệm, 2010) Khả năng gây bệnh của loài nấm ký sinh Metarhizium anisopliae đối với thành trùng sùng khoai lang Cylas formicarius (Coleoptera:

Curculionidae), đã được khảo sát trong điều kiện phòng thí nghiệm ở mật độ

108 bào tử/ml, độ hữu hiệu của nấm xanh M anisopliae đạt 100% ở thời điểm

7 ngày sau khi chủng (Phạm Kim Sơn và ctv., 2016)

Cơ chế gây bệnh của nấm Metarhizium anisopliae lên côn trùng: Cơ

chế gây bệnh của nấm Metarhizium anisopliae: tua bào tử nấm tiếp xúc với

côn trùng trong khoảng 24 giờ → nảy mầm tạo ống mầm xuyên qua lớp da → phân nhánh trong cơ thể → mạng sợi nấm → tiết độc tố destruxin A, B gây chết cho côn trùng

Trang 35

Nấm Metarhizium anisopliae gây hại cho bọ rầy, bọ xít và nhiều loài

sâu hại Khi bào tử nấm rơi trên cơ thể côn trùng sẽ nảy mầm và mọc vào

trong cơ thể côn trùng (Shepard et al., 1989) Khi bào tử nấm bám trên bề mặt

côn trùng trong khoảng 24 giờ thì bào tử sẽ nảy mầm tạo thành ống mầm xuyên qua vỏ côn trùng sau đó tiếp tục phân nhánh tạo nên một mạng sợi nấm

chằng chịt bên trong cơ thể côn trùng Nấm Metarhizium anisopliae có được

dinh dưỡng từ lipid trên lớp da ngoài của côn trùng và phát triển bên trong cơ

thể côn trùng ăn chất bổ của cơ thể côn trùng Nấm Metarhizium anisopliae

tiết ra các các độc tố như destruxin A, destruxin B và chính các độc tố này gây

chết côn trùng (Kershaw et al., 1999; Phạm Thị Thùy, 2004) Các côn trùng

nhiễm nấm tiếp xúc với côn trùng khác sẽ làm cho những côn trùng này bị

nhiễm Metarhizium anisopliae Nấm lúc đầu hình thành một lớp trắng ở

những chỗ nối giữa các đốt trên cơ thể côn trùng, sau đó chúng sẽ chuyển thành màu xanh lục đậm Bào tử xuất hiện từ ký chủ đã chết lại lây lan sang ký chủ mới nhờ gió hoặc nước Không chỉ phá hủy chức năng sinh lý của côn trùng, độc tố của nấm còn làm đình chỉ sự dinh dưỡng của côn trùng, gây hiện tượng tê liệt, phá hủy quá trình hô hấp, chèn ép cơ học sự tuần hoàn máu do các thể sợi nấm phát triển và sinh sản trong xoang thân côn trùng (Phạm Thị Thùy, 2004)

2.4.4 Phòng trị côn trùng gây hại bằng bẫy hấp dẫn tập hợp

Bẫy tập hợp (mass trapping) là biện pháp sử dụng một số lượng lớn bẫy đặt chất hấp dẫn như pheromone để thu hút và giết hết thành trùng đực trên một vùng không gian cụ thể để ngăn chặn sự bắt cặp giữa thành trùng đực và thành trùng cái, dẫn đến giảm mức độ thiệt hại do sâu gây ra xuống dưới ngưỡng kinh tế Biện pháp này, đặc biệt hiệu quả đối với việc quản lý côn trùng trong kho vựa (thuộc Bộ Coleoptera) Tuy nhiên, bẫy tập hợp thường không thành công trong việc làm giảm mật số của các loài côn trùng có tính di

động cao và mức độ quần thể lớn (Wakamura et al., 2004) Theo Bakke and

Lie (1989) thì Trematerra and Battaini (1987) đã áp dụng thành công bẫy pheromone tập hợp với mật độ 260 - 270 m2/bẫy để phòng trừ loài sâu bột mì,

Ephestia kuehniella (Zeller) tại vùng Địa Trung Hải Báo cáo của Sternlicht et

al (1990) cho thấy với mật độ 120 bẫy/ha (0,4 - 0,6 mg/bẫy, thay mồi 4

tháng/lần), bẫy pheromone tập hợp đã cho hiệu quả phòng trị loài bướm gây

hại hoa chanh, Prays citri Millière, ở Israel cao và rẻ tiền hơn so với phun

Azinphos-methyl (gốc lân hữu cơ) 3–6 lần/năm Nghiên cứu và ứng dụng pheromone giới tính dưới hình thức bẫy tập hợp đã được tiến hành trên 98 loài côn trùng gây hại, trong đó có 45 loài thuộc Bộ cánh vảy, 39 loài thuộc Bộ cánh cứng và 4 loài thuộc các bộ côn trùng khác (El-Sayed, 2009)

Trang 36

2.4.5 Phòng trị côn trùng gây hại bằng biện pháp quấy rối sự bắt cặp

Hoạt động tìm bắt cặp ở côn trùng bộ cánh vảy chủ yếu dựa vào tín hiệu (mùi) của pheromone giới tính do con cái tiết ra Khi tín hiệu mùi của pheromone bị quấy rối thì các cá thể đực sẽ không tìm được các cá thể cái và ngược lại, như vậy chúng không thể bắt cặp và sinh sản Quấy rối sự bắt cặp là một phương pháp tác động lên hành vi, nên côn trùng gây hại hiếm khi phát triển được tính kháng Một minh chứng cho trường hợp này là loài sâu hại nụ

bông vải (Pectinophora gossypiella Saund.) đã được kiểm soát bởi phương

pháp quấy rối bắt cặp trong hơn 20 năm mà không hề xuất hiện tính kháng

(Ando et al., 2004) Mặt khác, pheromone giới tính đã được chỉ rõ là không

gây độc đối với động vật hữu nhũ và không ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Đây là biện pháp đang được áp dụng rất rộng rãi ở những nước phát triển Hầu hết, pheromone tổng hợp được nhồi vào một tuýp nhựa tổng hợp dài 20

cm (50 - 100 mg pheromone tổng hợp/tuýp), đặt trên khu vực cây trồng để

phóng thích pheromone trong hơn 2 -3 tháng (Ando et al., 2004) Cho đến

nay, pheromone giới tính đã được nghiên cứu và ứng dụng dưới hình thức quấy rối bắt cặp trên 140 loài côn trùng gây hại gồm 121 loài thuộc bộ cánh vảy, 9 loài thuộc bộ cánh cứng và 10 loài thuộc các bộ côn trùng khác (El Sayed, 2016)

2.4.6 Giải pháp “đẩy-kéo”

Thuật ngữ "push - pull” lần đầu tiên được hình thành như là một chiến lược quản lý côn trùng gây hại Trong số các chiến lược “đẩy – kéo” đang được phát triển hoặc được sử dụng trong thực tế để kiểm soát côn trùng gây hại Ví dụ thành công nhất của chiến lược “đẩy - kéo” đã được nông dân ở châu Phi sử dụng thành công để kiểm soát sâu đục thân trên cây ngũ cốc

“Đẩy- kéo” liên quan đến các thao tác hành vi của côn trùng gây hại thông qua việc tích hợp các tác nhân kích thích để làm cho cây trồng được bảo vệ không hấp dẫn hoặc không phù hợp với các loài gây hại (đẩy) trong khi thu hút chúng

về phía một nguồn hấp dẫn (kéo) để tiêu diệt Các thành phần đẩy và kéo thường không độc hại Vì vậy, các chiến lược thường được tích hợp với các phương pháp giảm mật số, kiểm soát tốt “Đẩy-kéo” làm tối đa hóa hiệu quả của kích thích hành vi của côn trùng gây hại được xem là một công cụ hữu ích cho các chương trình quản lý dịch hại tổng hợp làm giảm đầu vào của thuốc

trừ sâu (Cook et al., 2007) Cỏ Napier và cỏ Sudan được sử dụng như cây bẫy,

trong khi cỏ ngọt trồng xen với ngô, không chỉ có tác dụng xua đuổi ngài sâu đục thân trên ngô mà còn làm tăng ký sinh trên sâu đục thân bởi một loại thiên địch

* Nhân tố kéo (thu hút)

Trang 37

Trong hệ thống “đẩy – kéo” nhân tố kéo thường là các loại cây trồng (cây bẫy) có khả năng thu hút đối với côn trùng gây hại mạnh hơn so với cây trồng chính Cây bẫy được trồng với mục đích thu hút các loài dịch hại

để sau đó tiêu diệt, nhằm ngăn chặn sự tấn công của chúng sang cây trồng chính Cây bẫy có thể là cây trồng khác (nhưng được dịch hại ưa thích hơn) trồng xen vào cây trồng chính hoặc là chính cây trồng đó, nhưng dùng giống chín sớm hay trồng ở thời vụ sớm trên một diện tích nhỏ (một vài phần trăm so với tổng diện tích chính vụ của cây trồng đó) Trồng cây bẫy

là biện pháp canh tác đã được áp dụng chủ yếu để trừ sâu hại ở nhiều nước trên thế giới và có nhiều triển vọng trong phòng chống sâu hại Nông dân ở Hoa Kỳ, Brazil, Nigeria đã dùng giống đậu tương chín sớm hoặc trồng đậu tương thời vụ sớm cạnh ruộng đậu tương chính vụ để thu hút và sau đó tiêu diệt các sâu hại chính trên đậu tương (bọ xít xanh, bọ rùa ăn lá, ) và đã ngăn cản được sự phá hại của những sâu hại này trên đậu tương chính vụ Tại Hoa Kỳ và Nicaragua đã thành công trong phòng chống bọ vòi voi đục quả bông nhờ trồng cây bẫy bằng cây bông ở thời vụ sớm với diện tích khoảng 5% tổng diện tích cây bông chính vụ (Phạm Văn Lầm, 1995)

Kỹ thuật trồng cây bẫy để trừ sâu hại cũng đã được áp dụng ở nước ta Vào năm 1986-1988, ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa đã khuyến cáo trồng ruộng bẫy để phòng chống dịch bọ xít dài hại lúa Trồng xen cây hướng dương vào mép luống lạc để thu hút trưởng thành sâu xanh, sâu khoang đến đẻ trứng Sau đó tiêu diệt sâu xanh, sâu khoang trên cây hướng dương Biện pháp này được khuyến cáo trong IPM trên cây lạc tại một số nơi trên thế giới và ở Việt Nam Kỹ thuật trồng cây bẫy sẽ không có hiệu quả nếu diện tích trồng cây bẫy quá nhỏ so với tổng diện tích của cây trồng chính Trong phòng chống chuột hại lúa, ở Malaysia và ở Việt Nam đã tiến hành biện pháp bẫy cây trồng kết hợp rào cản TBS (Trap Barrier System) đó là việc gieo cấy sớm 4-5 tuần trong ô bẫy, xung quanh bẫy có hàng rào nilon, cứ 10 m lại đặt 1 bẫy để chuột chui vào Biện pháp bẫy cây trồng mang tính cộng đồng, phải được tiến hành trên một diện tích đủ lớn mới có hiệu quả (Phạm Văn

Lầm, 1995)

* Nhân tố đẩy (xua đuổi)

Ngược với nhân tố kéo là các loại cây trồng hay vật liệu có tính chất thu hút, nhân tố đẩy thường là loại cây trồng (cây đẩy) hay vật liệu có tính chất xua đuổi đối với côn trùng gây hại Một trong loại cây trồng phổ biến ở ĐBSCL có tính chất xua đuổi côn trùng là cây sả

Các tinh dầu thiết yếu được ly trích từ sả được xem như các thuốc trừ

sâu sinh học trong quản lý côn trùng gây hại (Tripathi et al., 2009; Pinheiro et al., 2013) Người ta dùng tinh dầu sả để xua đuổi muỗi Anopheles arabiensis

Trang 38

trong điều kiện phòng thí nghiệm Thí nghiệm dùng các loại dầu tổng hợp,

thuốc mỡ và dầu C nardus làm đối chứng để so sánh Ở các nồng độ 10%,

20% các loại dầu nói trên có tác dụng xua đuổi từ 90% đến 95% sau khi áp

dụng Tuy nhiên sau thời gian 3 giờ, 4 giờ chỉ có dầu C nardus còn tác dụng ở mức 70% ở nồng độ nói trên Việc kết hợp hai loại dầu C citratus và C nardus ở nồng độ tương ứng 10%, 20% cho thấy có tác dụng tốt hơn so với

việc dùng riêng lẻ một loại (Solomon, 2012)

Theo Pinheiro et al (2013) thì bọ trĩ Frankliniella schultzei và rệp Myzus persicae, gây thiệt hại và truyền phytoviruses, khi được xử lý tinh dầu

sả đã gây tử vong cho F schultzei và M persicaeat ở các tỷ 34,3% và 96,9%, tương ứng Từ kết quả trên, Pinheiro et al (2013) đã đề xuất sử dụng tinh dầu

sả để quản lý hai loài M persicae và F schultzei

2.4.7 Biện pháp hóa học

Nên sử dụng thuốc ít độc, sinh học để bảo vệ thiên địch như kiến, nhện,

bọ chân chạy, Từ khi hình thành củ trở đi có thể dùng thuốc Fipronil (Regent 0,3GR,…) phun hoặc rãi 15-20 ngày/ lần Ngưng sử dụng thuốc hóa học 15 ngày trước khi thu hoạch

Sự quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) đối với các loài côn trùng hại khoai lang đã được thực hiện và đã cho thấy hiệu quả và tiềm năng ứng dụng

(Chalfant et al., 1990) Tuy nhiên, các chương trình IPM đối với côn trùng gây

hại khoai lang, cụ thể là SĐCKL, đạt hiệu quả cao cần có những kiến thức về sinh học và sinh thái của những đối tượng gây hại này cũng như kiến thức về các mối quan hệ giữa chúng các yếu tố môi trường trong hệ thống sản xuất khoai lang (Jansson and Raman 1991)

2.4.8 Màng phủ nông nghiệp hạn chế côn trùng gây hại

Màng phủ nông nghiệp được sử dụng một cách thương mại trong sản xuất từ những năm 1960 Những màng phủ nông nghiệp có màu sắc khác nhau tạo ra một tiểu môi trường riêng biệt cho cây trồng, bao gồm những thay đổi của nhiệt độ quanh vùng rễ, số lượng và chất lượng ánh sáng phản chiếu từ bề mặt màng phủ lên mặt dưới lá Sự thay đổi tích cực đó đã làm ảnh hưởng đến

tập quán sinh sống của côn trùng (Decoteau et al., 1989; Lamont, 1993)

Hiệu quả đẩy lui côn trùng của ánh sáng phản chiếu từ màng phủ cũng được sử dụng thành công để bảo vệ cây trồng Bức xạ phản chiếu từ màng phủ không chỉ giúp cây tăng trưởng, trái phát triển tốt hơn mà còn hạn chế côn trùng gây hại (Schalk., 1979) Màu sắc màng phủ ảnh hưởng đến tập quán hoạt động của côn trùng gây hại Màu vàng, cam và xanh da trời hấp dẫn rầy mềm (Broadbent, 1948; Lamont, 1993) Ngoài ra, màu vàng còn thu hút bọ phấn

trắng và dấu hiệu bệnh do virus cũng xuất hiện sớm hơn (Csizinszky et al., 1995) Theo Mario et al., (1966) quan sát thấy bọ phấn trắng khi bay trên

Trang 39

màng phủ màu vàng sẽ xảy ra hiện tượng tạm dừng hoạt động của đôi cánh Màu xanh thu hút một lượng lớn bù lạch, sâu ăn lá, nhưng màu xám bạc thì ngược lại Ruồi đục lá xuất hiện trên màu đen, đỏ và xanh nhiều hơn trên màu

bạc (Csizinszky et al., 1995) Trái lại, màu bạc có hiệu quả trong việc đẩy lùi, làm giảm mật số côn trùng gây hại như rầy mềm, bù lạch (George and Kring,

1971; Lamont, 1990), giảm mật số bọ phấn trắng, ruồi đục lá, bù lạch (Brown

et al., 1998 và Scott et al., 1989) Đồng thời, màu xám bạc góp phần làm giảm

tỷ lệ cây nhiễm bệnh do virus (Trần Thị Ba, 2000) Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Basky (1984) cũng cho kết quả sử dụng màng phủ trong suốt, màng phủ màu xanh có tráng nhôm sẽ làm giảm mật số rầy, tỷ lệ cây nhiễm virus là 70% và 77% theo thứ tự so với màng phủ không tráng nhôm và màu đen thì không mang lại hiệu quả này Một nghiên cứu khác của tác giả này sử dụng màng phủ màu xanh dương và màng phủ trong suốt kết hợp phun dầu (Agridex EG318 và Atplus 411F) làm giảm tỷ lệ thiệt hại 83% so với không phun

Những kết quả nghiên cứu sử dụng màng phủ để trồng rau (dưa leo, cà chua, ớt, khổ qua, đậu que, ) của Bộ môn Khoa Học Cây Trồng, Khoa Nông Nghiệp, Trường Đại Học Cần Thơ 1997-2000 đã cho thấy: Sử dụng màng phủ năng suất rau bình quân cao hơn phương pháp canh tác truyền thống từ 10 - 30% trong điều kiện canh tác bình thường Màng phủ khắc phục được một phần yếu tố bất lợi của môi trường Lợi nhuận tăng khoảng 20-30% so với phủ rơm (tương ứng với phần năng suất tăng) sau khi đã trừ hết các chi phí đầu tư

kể cả chi phí màng phủ Màng phủ giảm chi phí làm cỏ, thuốc trừ sâu bệnh và phân bón (Trần Thị Ba, 2006)

2.5 Một số cây gia vị và hợp chất dùng xua đuổi côn trùng

2.5.1 Cây sả

Cây sả có tên tiếng Anh Citronella có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và ôn

đới ẩm Sả có tên khác là cỏ sả, sả chanh, hương mao Sả thuộc họ hòa bản

Poaceae (Gramineae), tên khoa học là Cymbopogon (Khoahoc.com.vn, 2006)

Cây sả được dùng như một loại gia vị trong bữa ăn Ngoài ra, nó có tác dụng trong y học để chữa bệnh, dùng để xua đuổi muỗi, ruồi khi trồng trong

vườn Sản lượng tinh dầu sả trên thế giới 6.000 tấn/năm, Indonesia là nước

cung cấp tinh dầu sả lớn nhất chủ yếu được chưng cất từ Sả Java Tại Việt Nam các nơi trồng sả nhiều gồm Tam Đảo, Thái nguyên, Đắc Lăk,… tuy nhiên, sản lượng thấp so với các nước trong khu vực Tinh dầu sả thu được bằng cách chưng cất hơi nước đã được sử dụng để phun trừ côn trùng Các thành phần chính là geraniol (28,6%), citronellal (23,6%) và citronellol

(17,10%) Các loài sả được dùng để chưng cất tinh dầu phổ biến là C citratus

Trang 40

và C nardus Shivankar and Singh (2005) báo cáo phun dầu sả có hiệu quả

trong quản lý sâu đục trái Helicoverpa armigera

Theo Tripathi et al (2009) có nhận định các tinh dầu thiết yếu được ly

trích từ sả được xem như các thuốc trừ sâu sinh học trong quản lý côn trùng gây hại Các tinh dầu thiết yếu được chiết xuất từ sả được sử dụng như thuốc trừ sâu để diệt côn trùng (Pinheiro, 2013)

Theo Guenther (1950) và Blanco et al (2007) tinh dầu chiết xuất từ sả Cymbopogon winterianus có khả năng tác động lên thần kinh trung ương và làm thuốc chống co giật Tinh dầu chiết xuất từ C winterianus có khả năng ức

chế sự sinh trưởng của sợi nấm, làm thay đổi hình dạng tế bào và ảnh hưởng

sự nẩy mầm của bào tử nấm Mentagrophytes trichophyton gây bệnh nấm da trên người (Fillipe, 2011) Aakanksha et al (2013) tinh dầu của C winterianus

như một tác nhân trừ nấm, ký sinh trùng, vi khuẩn và xua đuổi muỗi

Người ta dùng tinh dầu sả để xua đuổi muỗi Anopheles arabiensis trong

điều kiện phòng thí nghiệm Thí nghiệm dùng các loại dầu tổng hợp, thuốc mỡ

và dầu C nardus làm đối chứng để so sánh Ở nồng độ 10%, 20% các loại dầu nói trên có tác dụng xua đuổi từ 90% đến 95% sau khi áp dụng Tuy nhiên sau thời gian 3 giờ, 4 giờ chỉ có dầu C nardus còn tác dụng ở mức 70% ở nồng độ nói trên Việc kết hợp hai loại dầu C citratus và C Nardus ở nồng độ tương ứng 10%, 20% cho thấy có tác dụng tốt hơn so với việc dùng riêng lẻ một loại (Solomon, 2012)

2.5.2 Cây tỏi

Tỏi có tên khoa học là Alliums sativum L thuộc họ Hành tỏi (Alliaceae)

và có nguồn gốc ở Trung Á Tỏi được phát hiện và sử dụng cách đây khoảng 7.000 năm và được biết đến trong việc dùng làm thực phẩm và thuốc ở thời Ai Cập cổ đại

Tỏi có tác dụng xua đuổi và diệt côn trùng: nhiều loại côn trùng như gián,

muỗi (aedes truyền bệnh sốt xuất huyết, culex truyền bệnh viêm não Nhật

Bản) rất sợ mùi tỏi Tỏi còn giết chết được các ấu trùng muỗi (lăng quăng) với liều lượng rất thấp 25 ppm cho các chất chiết hoặc 2 ppm cho dầu tỏi Ngoài ra

Bhuyan et al (1974) cho biết tỏi còn tham gia vào thành phần thuốc trừ sâu

sinh học, còn có tác dụng đuổi ruồi muỗi Chiết xuất tỏi, ớt, gừng tạo ra các hoạt chất diệt tuyến trùng và các loại giun trong đất Nước chiết xuất từ tỏi còn

ức chế sự sinh trưởng của nhiều loại nấm (Tansey and Appleton, 1975)

Các chất bay hơi từ tỏi cũng có tác dụng làm trứng của các loài Earias vittella Fabricius (Lepidoptera: Noctuidae) và Dysdercus koenigii Fabricius

(Hemiptera: Pyrrhocoridae) không nở khi tiếp xúc trong 24 giờ (Gurusubramaniana and Krishna, 1996)

2.5.3 (E)-10-pentadecenal (E10-15:Ald)

Ngày đăng: 16/10/2018, 09:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w