1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chính sách tài chính thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh thanh hóa

225 117 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 225
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH LƯỜNG ĐỨC DANH CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI PHỤC VỤ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA TỈNH THANH HÓA C

Trang 1

CƠ CẤU KINH TẾ CỦA TỈNH THANH HÓA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

LƯỜNG ĐỨC DANH

CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI PHỤC VỤ CHUYỂN DỊCH

CƠ CẤU KINH TẾ CỦA TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu kết quả nêu trong luận án là trung thực

có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả luận án

Lường Đức Danh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Mục lục ii

Danh mục các chữ viết tắt iv

Danh mục các bảng v

Danh mục các hình v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI PHỤC VỤ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 15

1.1 ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 15

1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài 15

1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 22

1.1.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài với chuyển dịch cơ cấu kinh tế 34

1.2 CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI PHỤC VỤ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 36

1.2.1 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 36

1.2.2 Chính sách tài chính thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế 44

1.3 KINH NGHIỆM SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH THU HÚT FDI PHỤC VỤ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC 60

1.3.1 Kinh nghiệm nước ngoài 60

1.3.2 Kinh nghiệm ở một số địa phương trong nước 65

1.3.3 Bài học rút ra đối với tỉnh Thanh Hóa 69

Kết luận chương 1 73

Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI PHỤC VỤ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA TỈNH THANH HÓA 74

2.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG FDI CỦA TỈNH THANH HÓA 74

2.1.1 Khái quát về các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Thanh hóa 74

2.1.2 Thực trạng FDI của tỉnh Thanh Hóa 78

2.2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH THU HÚT FDI PHỤC VỤ CHUYỂN DỊCH CCKT CỦA TỈNH THANH HÓA 84

2.2.1 Chính sách tài chính về cơ sở hạ tầng 85

2.2.2 Chính sách tài chính về xúc tiến đầu tư 94

Trang 5

2.2.3 Chính sách tài chính về đất đai 99

2.2.4 Chính sách tài chính về đào tạo nguồn nhân lực 105

2.2.5 Chính sách tài chính về cải cách thủ tục hành chính 114

2.3 ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH THU HÚT FDI PHỤC VỤ CHUYỂN DỊCH CCKT CỦA TỈNH THANH HÓA 121

2.3.1 Kết quả đạt được 121

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 125

Kết luận chương 2 136

Chương 3: HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHẰM THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI PHỤC VỤ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA TỈNH THANH HÓA ĐẾN NĂM 2025 TẦM NHÌN ĐẾN 2030 137

3.1 MỤC TIÊU CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÀ ĐỊNH HƯỚNG, QUAN ĐIỂM THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI PHỤC VỤ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA TỈNH THANH HÓA ĐẾN NĂM 2025 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN 2030 137

3.1.1 Dự báo xu hướng vận động của dòng FDI trên thế giới và thuận lợi thách thức đối với tỉnh Thanh Hóa 137

3.1.2 Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế 141

3.1.3 Định hướng thu hút FDI và quan điểm chỉ đạo về chính sách tài chính thu hút FDI phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế 144

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH THU HÚT FDI PHỤC VỤ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA TỈNH THANH HÓA ĐẾN NĂM 2025 TẦM NHÌN ĐẾN 2030 148

3.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính 148

3.2.2 Nhóm giải pháp hỗ trợ khác 165

3.3 KIẾN NGHỊ VỚI CÁC CƠ QUAN LIÊN QUAN 176

3.3.1 Kiến nghị với Quốc hội 176

3.3.2 Kiến nghị với Chính phủ và bộ ngành có liên quan 178

Kết luận chương 3 181

KẾT LUẬN 182 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN

ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng Phát triển châu Á (The Asian Development Bank)

BBC Hợp đồng hợp tác kinh doanh

BOT Xây dựng- kinh doanh - chuyển giao (Building - Operate -Transfer)

BT Xây dựng - chuyển giao (Building -Transfer)

BTO Xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (Building -Transfer - Operate) CDCCHXK Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu

CDCCKT Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

CNH- HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNTT Công nghệ thông tin

CPTPP Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

(Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership)

DNNVV Doanh nghiệp nhỏ & vừa

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FPI Đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Portfolio Invesment)

GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

PAPI Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh

(Public Administration Performance Index) QHSX Quan hệ sản xuất

TLSX Tư liệu sản xuất

TNC Công ty xuyên quốc gia (Transnational corporation)

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

UBND Ủy ban nhân dân

UNCTAD Diễn đàn thương mại và phát triển của liên hiệp quốc (United Nations

Conference on Trade and Development)

WB Ngân hàng thế giới (World bank)

WTO Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization)

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng và thu nhập bình quân đầu người giai đoạn 2011 - 2017 76

Bảng 2.2: FDI của tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2011 - 2017 78

Bảng 2.3: FDI của tỉnh Thanh Hóa theo đối tác đầu tư giai đoạn 2011 - 2017 80

Bảng 2.4: FDI vào Thanh Hóa theo địa điểm đầu tư giai đoạn 2011 - 2017 82

Bảng 2.5: FDI của tỉnh Thanh Hóa theo ngành kinh tế giai đoạn 2011 - 2017 83

Bảng 2.6: Chi ngân sách Nhà nước cho xây dựng cơ sở hạ tầng giai đoạn 2011 - 2017 88

Bảng 2.7: Chi ngân sách Nhà nước cho hoạt động xúc tiến đầu tư giai đoạn 2011 - 2017 96

Bảng 2.8: Dự toán chi phí san lấp mặt bằng KCN số 3,4,5 trong khu kinh tế Nghi Sơn 102

Bảng 2.9: Chi ngân sách Nhà nước cho GPMB giai đoạn 2011 - 2017 104

Bảng 2.10: Chi NSNN cho đào tạo nguồn nhân lực giai đoạn 2011 - 2017 109

Bảng 2.11: Chi ngân sách Nhà nước nhằm ứng dụng CNTT giai đoạn 2011 - 2017 114

Bảng 2.12: Tỷ trọng cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011- 2017 118

Bảng 3.1: Tác động của chính sách đối với giá cho thuê đất tại KCN số 3, 4,5,6 - KKT Nghi Sơn 157

DANH MỤC CÁC HÌNH Số hiệu Nội dung hình Trang Hình 2.1: FDI của tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 - 2017 79

Hình 2.2: FDI Thanh Hóa theo đối tác đầu giai đoạn 2011 - 2017 81

Hình 2.3: FDI Thanh Hóa theo ngành kinh tế giai đoạn 2011 - 2017 84

Hình 2.4: Cơ cấu kinh tế tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 - 2017 120

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là những vấn đề cấp bách đối với các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế thấp Việc nâng cao trình độ, quy mô các nguồn lực và xây dựng chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) hiện đại, bền vững là một trong những nội dung cốt lõi Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trở thành yếu tố khách quan của quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân trong xu hướng toàn cầu hóa FDI có vai trò quan trọng, thông qua FDI, nước nhận đầu tư có cơ hội tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, từ đó nâng cao trình độ phát triển, tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch CCKT Nước ta luôn coi trọng việc thu hút FDI

để bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh

tế FDI có ảnh hưởng lan tỏa đến các ngành kinh tế, hiện đại hóa nền kinh tế Tuy nhiên, không phải lúc nào FDI cũng có tác động tích cực Do đó, nếu không đánh giá, phân tích đúng những yếu kém trong tổ chức thu hút và sử dụng FDI, chúng ta không thể đưa ra được những giải pháp khả thi nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực từ nguồn vốn này đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong xu thế phát triển của cả nước thì tỉnh Thanh hóa cũng có nhiều chuyển biến tích cực thông qua việc mở rộng hợp tác với nước ngoài trong các lĩnh vực đầu tư, thương mại, dịch vụ Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay của tỉnh Thanh hóa luôn đứng tốp đầu trong cả nước về thu hút FDI và hiện đang là một trong những địa phương đứng đầu của cả nước về tổng vốn FDI từ Nhật Bản Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu của tỉnh Thanh hóa đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, ngành nghề, các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục được đổi mới Cơ cấu ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng tăng dần qua các năm Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội được tăng cường, đời sống vật chất

và tinh thần của dân cư ở hầu hết các vùng trong tỉnh ngày càng được cải thiện

Trang 9

Với mục tiêu tổng quát là đến năm 2025 đưa tỉnh Thanh Hóa cơ bản trở thành một tỉnh khá của cả nước, đến năm 2030 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, được Đảng bộ

và nhân dân tỉnh Thanh Hóa đặt ra tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV là “tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp” nhưng quá trình CDCCKT của tỉnh vẫn còn chậm và chưa thật sự đáp ứng được mục tiêu đề ra Tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp chưa cao, đặc biệt các lĩnh vực công nghiệp chế tạo và công nghiệp có công nghệ kỹ thuật hiện đại, cơ cấu ngành dịch vụ chưa có sự chuyển dịch mạnh mẽ đối với dịch vụ chất lượng cao Có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nguyên nhân quan trọng là thiếu một đòn bẩy về vốn nhằm thúc đẩy quá trình CDCCKT của tỉnh Thanh Hóa diễn ra nhanh chóng hơn nữa Đòn bẩy đó chính là nguồn lực từ nước ngoài, trong đó có thu hút FDI

Do đó, việc nghiên cứu đưa ra hệ thống chính sách tài chính phù hợp, có cơ

sở khoa học làm đòn bẩy mạnh mẽ trong việc thực hiện mục tiêu thu hút FDI nhằm phục vụ CDCCKT là yêu cầu bức thiết cần đặt ra

Xuất phát từ vấn đề cấp thiết này, tôi đã lựa chọn đề tài “Chính sách tài

chính thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Thanh Hóa” làm luận án tiến sĩ

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

2.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

2.1.1 Những nghiên cứu dưới dạng luận án tiến sỹ

(1) Nguyễn Tiến Long (2012),“Đầu tư trực tiếp nước ngoài với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Thái Nguyên”, luận án tiến sĩ kinh tế, đại học kinh tế

Quốc dân Hà Nội Tác giả đã kiểm định FDI với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Thái Nguyên, với phương pháp phân tích định tính và định lượng từ số liệu giai đoạn năm 1993 - 2009 cho thấy:

(i) Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần quan trọng đối với CDCCKT của tỉnh Thái Nguyên theo hướng CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 10

(ii) Đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động tích cực đến cân đối tài chính của tỉnh Thái Nguyên, tăng nhanh kim ngạch xuất nhập khẩu, mở rộng thị trường, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

(iii) Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, phát triển kinh tế đồng đều tại các vùng của tỉnh Thái Nguyên Tuy nhiên, đây là luận

án đề cập đến đầu tư trực tiếp nước ngoài với chuyển dịch cơ cấu kinh tế chỉ của tỉnh Thái Nguyên, mà chưa đề cập đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Thanh Hóa mà tác giả đang nghiên cứu.[25]

(2) Nguyễn Tấn Vinh (2011),“ Đầu tư trực tiếp nước ngoài với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh”, luận án tiến sĩ kinh tế, đại

học kinh tế - Luật TP.HCM, tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng của FDI đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thông qua tăng trưởng kinh tế ngành của TP HCM, từ đó đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm thu hút và sử dụng FDI thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của TP HCM theo hướng hiệu quả và bền vững Tuy nhiên, luận án chỉ đề cập đến ảnh hưởng của FDI đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành mà phạm vi ở TP.HCM, mà không phải đề cập đến chính sách tài chính thu hút FDI phục vụ CDCCKT của tỉnh Thanh Hóa Về cơ bản có nhiều điểm khác biệt về nội dung, phạm vi nghiên cứu so với đề tài mà tác giả đang thực hiện.[70]

(3) Nguyễn Minh Hằng (2011),“Chính sách tài chính với thu hút đầu tư nước ngoài trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam”, luận án tiến

sỹ kinh tế Học viện tài chính Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách tài chính, tác động của các chính sách tài chính trong việc thu hút vốn FDI Đánh giá thực hiện sử dụng các chính sách tài chính để thu hút vốn FDI vào Việt Nam Đồng thời chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế của các chính sách tài chính Đề xuất các giải pháp để sử dụng hiệu quả các chính sách tài chính nhằm thu hút FDI vào Việt Nam Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của luận án khác với phạm vi của NCS là chính sách tài chính thu hút FDI vào tỉnh Thanh Hóa nhằm phục vụ chuyển dịch CCKT theo ngành [19]

Trang 11

(4) Hoàng Văn Bằng (2003), “Thuế và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam”, luận án tiến sỹ kinh tế Học viện tài chính, luận án đã bổ sung, hoàn

thiện lý luận về tác động của thuế đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước nhận đầu tư Phân tích thực trạng sử dụng chính sách thuế trong thu hút và

sử dụng FDI tại Việt Nam Đồng thời tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm sử dụng chính sách thuế trong thu hút và sử dụng FDI có hiệu quả cao nhất, phát huy tích cực vai trò của thuế trong thu hút FDI phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH tại Việt Nam Mặc dù vậy, nội dung của luận án chỉ đề cập đến chính sách thuế để nhằm thu hút FDI mà không sử dụng các chính sách khác như chính sách chi NSNN như luận án mà NCS đang thực hiện.[2]

(5).Tào Thị Hoàng Anh (2007) “Đổi mới và hoàn thiện chính sách thuế thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam theo hướng CNH, HĐH”, luận

án tiến sĩ Học viện tài chính, luận án nghiên cứu và làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch CCKT và vai trò của thuế trong việc thúc đẩy chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH Đồng thời xem xét chọn lọc kinh nghiệm

sử dụng chính sách thuế thúc đẩy chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH của một số quốc gia trên thế giới và rút ra bài học với Việt Nam Đánh giá việc

sử dụng chính sách thuế để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm

1990 đến nay Đề xuất giải pháp mới hoàn thiện chính sách thuế nhằm thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch CCKT ở nước ta trong những năm tới Tuy nhiên, luận án mới chỉ đề cập đến hoàn thiện chính sách thuế nhằm thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch CCKT ở Việt Nam chứ không đề cập đến hoàn thiện chính sách thuế nhằm thu hút FDI phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế như tác giả đang nghiên cứu.[1]

(6) Ngô Việt Hương (2015),“Giải pháp tài chính thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa” luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện tài

chính.Trong luận án này tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về chuyển dịch CCKT, vai trò và tác động của tài chính đối với quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp Phân tích tác động của các giải pháp tài chính: chi NSNN, tín dụng Nhà nước, tín dụng ngân hàng đối với chuyển dịch CCKT nông nghiệp đồng thời

Trang 12

đánh giá thực trạng chuyển dịch CCKT nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa ở các khía cạnh: tỷ trọng GDP ngành nông nghiệp trong nền kinh tế, chuyển dịch CCKT nội

bộ ngành nông nghiệp Đề xuất quan điểm và các giải pháp cụ thể về chi NSNN, tín dụng Nhà nước, tín dụng ngân hàng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa Tuy nhiên, luận án chỉ đề cập đến việc sử dụng các công cụ về tài chính như chi NSNN, công cụ tín dụng nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành nông nghiệp của tỉnh Thanh Hóa

Vì vậy, đối tượng phạm vi và nội dung nghiên cứu khác với luận án mà tác giả đang nghiên cứu.[20]

(7) Xổm Xạ Ạt Unxi đa (2004)“Hoàn thiện các giải pháp tài chính trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đến năm 2010”, luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện tài chính Hà Nội Trong luận

án, tác giả đã phân tích vai trò của các giải pháp tài chính nhằm tăng cường thu hút vốn FDI, đánh giá thực trạng thực hiện giải pháp tài chính về thu hút vốn FDI của Lào trong những năm qua và kinh nghiệm của một số nước trong khu vực về

sử dụng giải pháp tài chính thu hút FDI Từ đó, tác giả đề ra các giải pháp tài chính chủ yếu nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Lào đến năm 2010 như: tiếp tục hoàn thiện các chính sách thuế, cơ cấu chi tiêu của Chính phủ, chính sách tiền tệ - tín dụng, tạo môi trường chính trị ổn định, cải thiện môi trường pháp lý, tăng cường hiệu lực của chính sách quản lý vĩ mô Tuy nhiên,

dù được tiếp cận dưới nhiều góc độ, hoàn thiện các giải pháp để tăng cường thu hút FDI vào Lào thường chỉ được trình bày như một phần nội dung trong các công trình nghiên cứu về FDI, chứ chưa trở thành một nội dung duy nhất, một cách có

hệ thống và cập nhật một công trình riêng biệt, và tác giả luận án cũng chưa đề cập đến sử dụng các chính sách về tài chính để thu hút FDI với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Lào giống như luận án mà tác giả đang nghiên cứu.[67]

2.1.2 Những nghiên cứu dưới dạng, đề tài nghiên cứu khoa học

(1) Ngô Đình Giao (1994), “Luận cứ khoa học của việc chuyển dịch CCKT theo hướng công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân” là một đề tài cấp Nhà

nước (KX 0305) với sự tham gia đông đảo của nhiều học giả Đề tài này đề cập

Trang 13

đến những quan niệm về công nghiệp hóa, cơ sở khoa học của việc thực hiện công nghiệp hóa, một số mô hình công nghiệp hóa (CNH), kinh nghiệm CNH ở một số nước, thực trạng CNH ở Việt Nam Đề tài này cũng nêu ra cơ sở lý luận về thực tiễn của chuyển dịch CCKT, quan điểm và phương hướng xây dựng CCKT

có hiệu quả ở Việt Nam, đánh giá thực trạng CCKT ở nước ta trong thời gian trước năm 1994, nghiên cứu phương pháp và biện pháp chuyển dịch CCKT theo hướng CNH ở Việt Nam, nghiên cứu về chuyển dịch CCKT theo lãnh thổ, và những biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện chuyển dịch CCKT thành công, đồng thời nghiên cứu thực tiễn ở một số địa phương Tuy nhiên, đề tài này còn đề cập mờ nhạt vai trò của FDI đối với chuyển dịch CCKT, điều này cũng có nguyên nhân lịch sử của nó, vì khi đề tài ra đời, đầu tư nước ngoài mới vào Việt Nam được 5 năm và mới bắt đầu có tác động tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam Mặt khác, tuy nghiên cứu điều kiện thực tiễn ở một số địa phương của Việt Nam, nhưng tỉnh Thanh Hóa lại chưa được xem xét và nghiên cứu trong đề tài này.[18]

(2) GS.TSKH Lương Xuân Quỳ (chủ nhiệm đề tài KHXH 03.01) (2000)

là một đề tài cấp nhà nước có chất lượng với sự tham gia đông đảo của các nhà

khoa học đầu ngành “Cơ cấu các thành phần kinh tế trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” Đề tài đã làm rõ những lí luận

và quan điểm về thành phần kinh tế, cơ cấu kinh tế và vị trí của các thành phần kinh tế trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Trên cơ

sở đánh giá thực trạng xây dựng và phát triển cơ cấu các thành phần kinh tế ở Việt Nam từ khi đổi mới đến năm 2000, từ đó góp phần tổng kết thực tiễn cung cấp luận cứ khoa học và các giải pháp cho việc định hướng các chính sách cho các thành phần kinh tế nhằm phát triển lực lượng sản xuất xã hội trong cơ cấu thành phần kinh tế ở Việt Nam.Tuy nhiên, CCKT theo ngành và theo vùng kinh

kế và vai trò của FDI với chuyển dịch CCKT (trong đó CCKT theo thành phần) chưa được đề cập một cách có hệ thống, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập.[31]

2.1.3 Những nghiên cứu dưới dạng bài báo khoa học

(1) Phạm Thị Mỵ (2015),“Kinh nghiệm thu hút FDI của Trung Quốc, Singapore và những gợi ý cho Việt Nam”.Tác giả bài báo đã đưa ra kinh nghiệm

Trang 14

về thu hút FDI của hai quốc gia được coi là “điểm sáng” về thu hút FDI của Châu Á trong những năm gần đây Đối với kinh nghiệm về thu hút FDI của Trung Quốc tác giả đưa ra một số quan điểm sau:

- Từng bước hình thành hệ thống chính sách đầu tư thống nhất cho cả doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, tạo môi trường kinh tế thị trường cạnh tranh công bằng

- Đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao hiệu suất của ngành Hải quan, tăng cường xây dựng hệ thống cơ sở tín dụng xã hội, tạo môi trường ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài vào đây bỏ vốn

- Tăng cường quản lý giám sát thuế, phòng ngừa doanh nghiệp FDI thông qua định giá chuyển tài sản, chuyển nhượng tài sản phi pháp ra nước ngoài Chuyển hướng đầu tư từ gia công đơn giản, ngành chế tạo lắp sáp trình độ thấp, sang nghiên cứu phát triển, thiết kế công nghệ mũi nhọn và phát triển lưu thông hiện đại Thu hút đầu tư có trọng tâm, trọng điểm

- Đối với kinh nghiệm từ Singapore là đất nước hầu như không có tài nguyên nhưng lại có những bước phát triển thần kỳ, có được điều này một phần quan trọng là nhờ vào nguồn vốn FDI có quy mô lớn, liên tục chảy vào quốc đảo này đó là nhờ vào một số bí quyết sau:

Một là, Singapore đã xác định rõ việc thu hút nguồn vốn FDI tập trung

vào ba lĩnh vực ưu tiên là: ngành sản xuất mới, xây dựng và xuất khẩu

Hai là, Chính phủ Singapore đã tạo nên một môi trường kinh doanh ổn

định, hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài Chính phủ công khai khẳng định, không quốc hữu hóa các doanh nghiệp nước ngoài, chú trọng xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ cho hoạt động sản xuất Xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện, nghiêm minh, công bằng và hiệu quả, tệ nạn tham nhũng được xử

lý rất nghiêm

Từ kinh nghiệm về thu hút FDI của Chính phủ Trung quốc và Singapore, tác giả đề xuất một số bài học thu hút FDI với Việt Nam Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến FDI tác động như thế nào đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam nói chung và địa phương nói riêng như luận án mà tác giả đang nghiên cứu.[26]

Trang 15

(2) Mai Văn Trường (2014) “Vấn đề quản lý FDI tại tỉnh Thanh Hóa”.Tác giả bài báo đã đề cập đến vấn đề quản lý FDI hiện nay ở tỉnh Thanh

Hóa bởi vì Thanh Hóa là tỉnh đang nổi lên như một điểm sáng trong cả nước về thu hút nguồn vốn FDI Điển hình trong năm 2013 tỉnh Thanh Hóa đứng thứ 2 trong cả nước về thu hút FDI (sau tỉnh Thái Nguyên) và đứng thứ 7 nếu tính lũy

kế vốn FDI đến năm 2013 FDI đã góp phần quan trọng trong tạo việc làm, tăng năng suất lao động cải thiện chất lượng nguồn nhân lực Tính đến hết năm 2013, khu vực FDI trên địa bàn tỉnh đã tạo việc làm cho hơn 40.000 lao động trực tiếp

và một số lượng lớn lao động gián tiếp Khu vực kinh tế này đã mang đến một phương thức đầu tư kinh doanh mới, khơi dậy các nguồn lực đầu tư trong nước Thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng lực quản lý kinh doanh được chuyển giao, tạo động lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được trong thu hút FDI thì công tác quản lý quá trình triển khai dự án FDI còn chưa tốt cụ thể do cán bộ thiếu kinh nghiệm, trình độ yếu kém, thủ tục hành chính còn bị các nhà đầu tư kêu ca phàn nàn, doanh nghiệp gặp khó khăn trong giải phóng mặt bằng, thuê công nhân, cung cấp nguyên, vật liệu Công tác quản

lý yếu kém đã tạo nhiều kẻ hở cho các đối tác nước ngoài lợi dụng gây thiệt hại cho phía Việt Nam, nâng giá đầu vào, hạ giá đầu ra để thu lợi từ khâu đầu, trước khi dự án đi vào hoạt động, nhập công nghệ cũ, lạc hậu, gian lận thương mại, bán phá giá Để tiếp tục phát huy những gì hiện có và hạn chế những yếu kém trên trong thu hút và quản lý FDI, tác giả đã đưa ra một số giải pháp khắc phục hạn chế trên Tuy nhiên, tác giả bài báo mới đặt ra vấn đề làm thế nào để quản lý

và duy trì thu hút đầu tư nước ngoài vào tỉnh Thanh Hóa bền vững, hiệu quả chứ chưa đề cập đến đầu tư trực tiếp nước ngoài với chuyển dịch cơ cấu kinh tế như tác giả đang nghiên cứu.[46]

2.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

(1) Shojiro Tokunaga (chủ biên) 2001,“Đầu tư nước ngoài của Nhật Bản

và sự phụ thuộc kinh tế lẫn nhau ở Châu Á ” đề cập đến FDI của Nhật Bản ở

Châu Á với các hệ thống sản xuất, mậu dịch và tài chính Cuốn tài liệu này đề

Trang 16

cập đến quan điểm của các học giả Nhật Bản về hệ thống thúc đẩy FDI của Nhật Bản và các mạng lưới nội bộ Châu Á, cơ cấu thương mại và công nghiệp của nền kinh tế mới công nghiệp hoá Châu Á, vai trò của đầu tư nước ngoài của Nhật Bản với việc hình thành mạng lưới ở khu vực Châu Á, chuyển giao công nghệ,

sự phân công tri thức, đầu tư trực tiếp phi tiền tệ và sự phát triển các thị trường tài chính Châu Á Cuốn tài liệu này cho thấy về FDI của Nhật Bản hoạt động ở Châu Á như thế nào, từ các vấn đề kỹ thuật, mối liên hệ với Nhật Bản và hình thành nên mạng lưới ra sao Tài liệu đề cập tới các công ty của Nhật Bản tổ chức các hoạt động FDI có hiệu quả như thế nào.Tuy nhiên, FDI với CDCCKT của một nước và của một địa phương không được đề cập đến.[47]

(2) Magnus Blomstrom, Denise Konan, Robert E Lipsey (2000),“ Đầu tư trực tiếp nước ngoài với chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế Nhật Bản” Các tác

giả bài viết nghiên cứu sự tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, bên trong

và ra bên ngoài đã ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Nhật Bản có thể được dự kiến làm như vậy trong tương lai Tác giả cho thấy đầu tư bên ngoài

hỗ trợ các tập đoàn Nhật Bản có thể giữ cổ phiếu thị trường nước ngoài và đóng góp cho công cuộc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế Nhật Bản vượt xa nền công nghiệp cũ Bằng việc thay đổi nhập khẩu dây chuyền sản xuất, đã có sự tái phân công địa lý trong hoạt động của các tập đoàn, đặc biệt là các tập đoàn sản xuất đa quốc gia Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài bên ngoài lại không có sự tác động lớn đến nền kinh tế Nhật Bản, mặc dù sự tăng tưởng nhanh ở giữa những năm 1980, và sự mở rộng quy mô đáng kể khi so sánh với cấp độ của hầu hết các nước OECD Đầu tư trực tiếp nước ngoài bên trong được dự đoán có sự ảnh hưởng lớn tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Nhật Bản Mặc dù, thị trường đầu tư trực tiếp nước ngoài bên trong còn giới hạn, nhưng cũng có những thay đổi quan trọng Quy định được nới lỏng hơn nhiều trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ tới công ty đa quốc gia nước ngoài Bài viết đã so sánh đầu tư trực tiếp nước ngoài vào bên trong nền kinh tế có ảnh hưởng lớn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Nhật Bản hơn là các tập đoàn Nhật Bản đầu tư ra bên ngoài Tuy nhiên, bài viết trên là đề cập đến đầu tư trực tiếp nước ngoài với

Trang 17

chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Nhật Bản Còn thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một địa phương thì chưa được tác giả

đề cập đến như luận án mà nghiên cứu sinh đang nghiên cứu.[78]

(3) Henrik Hansen và John Rand Viện Kinh tế, Đại học Copenhagen

(2004), “Trên Liên kết quan hệ nhân quả giữa FDI và tăng trưởng ở các nước đang phát triển” Tác giả bài báo phân tích mối quan hệ hai chiều giữa FDI và

GDP trong mẫu 31 quốc gia đang phát triển cho giai đoạn 1970 - 2000 Sử dụng những ước lượng cho dữ liệu bảng không đồng nhất tác giả đã tìm hai hướng quan hệ nhân quả tỷ số FDI/GDP và mức độ GDP FDI được tìm ra rằng có một tác động lâu dài đối với GDP Trong khi đó GDP không có tác động dài hạn đối với tỷ số FDI/GDP Trong đó FDI có ý nghĩa gây nên sự tăng trưởng Hơn nữa, trong một mô hình cho GDP và FDI như là một phần của sự hình thành vốn gộp (GCF) tác giả cũng tìm thấy tác động dài hạn của sự thay đổi trong mức độ trung bình của FDI / GCF Chúng tôi giải thích cho phát hiện này làm bằng chứng ủng

hộ cho giả thuyết rằng FDI có tác động đến GDP thông qua chuyển giao tri thức

và thông qua công nghệ mới Tuy nhiên, bài báo mới chỉ đề cập đến tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển mà chưa đề cập đến FDI có tác động như thế nào tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia đang phát triển nói chung và địa phương mà nghiên cứu sinh đang đề cập nói riêng.[76]

2.3 Đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan và khoảng trống cho nghiên cứu của luận án

Các công trình nghiên cứu khoa học tác giả đã nêu trên đều thể hiện sự công phu và có tính hệ thống với nhiều góc độ khác nhau có liên quan đến luận

án mà tác giả đang nghiên cứu Cụ thể như: Lý luận về FDI và thu hút FDI, một

số lý thuyết về thu hút FDI,tác động của FDI với chuyển dịch CCKT, kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới và các địa phương ở Việt Nam trong thu hút FDI nhằm chuyển dịch CCKT Cũng như một số giải pháp hữu hiệu nhằm tăng cường thu hút FDI phục vụ chuyển dịch CCKT vào địa phương Các

kế thừa trên có thể vận dụng cho luận án mà tác giả đang nghiên cứu là rất cần thiết và là cơ sở để tác giả xây dựng cơ sở lý luận, vận dụng lý luận vào nghiên

Trang 18

cứu thực tiễn và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tài chính thu hút FDI phục vụ chuyển dịch CCKT của tỉnh Thanh Hóa Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên có đối tượng và phạm vi về thời gian và không gian cũng như đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính hoàn toàn khác với luận án mà tác giả đang nghiên cứu Các nghiên cứu này chủ yếu đưa ra cơ sở lý luận về FDI và thu hút FDI, các mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, tiêu chí đánh giá thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, phương pháp

hệ số đánh giá mức độ chuyển dịch CCKT đặc biệt các giải pháp đưa ra nhằm thu hút FDI còn chưa đề cập đến hoàn thiện cơ chế, chính sách về tài chính nhằm thu hút FDI phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tính đến thời điểm thực hiện luận án, tác giả chưa thấy một công trình khoa học nào về chính sách tài chính thu hút FDI phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Thanh Hóa Đề tài nghiên cứu của tác giả không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đó cả về nội dung, phạm vi về không gian và thời gian Các công trình nghiên cứu được tác giả vận dụng, chọn lọc như là nguồn tài liệu tham khảo trong quá trình thực hiện luận án

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng khung lý luận về chính sách tài chính thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ chuyển dịch CCKT, vận dụng nó để phân tích thực trạng chính sách tài chính thu hút FDI phục vụ chuyển dịch CCKT của tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011-2017, để đề xuất các giải pháp khả thi hoàn thiện chính sách tài chính nhằm thu hút FDI phục vụ chuyển dịch CCKTcủa tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025 tầm nhìn đến 2030

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận án phải hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau đây:

- Luận giải rõ các vấn đề lý luận liên quan đến luận án như FDI và thu hút FDI, cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các nhân tố ảnh hưởng đến

Trang 19

thu hút FDI, các chính sách tài chính tác động đến các nhân tố như thế nào để thúc đẩy thu hút FDI vào địa phương để tạo khung lý thuyết cho phân tích đánh giá thực tiễn

- Phân tích đánh giá thực trạng chính sách tài chính thu hút FDI phục vụ chuyển dịch CCKT ở Thanh Hóa, chỉ rõ những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế đó

- Nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính nhằm thu hút FDI phục vụ chuyển dịch CCKT của Thanh Hóa thời gian tới

Thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên các câu hỏi nghiên cứu mà luận án phải giải quyết thấu đáo đó là:

Một là, thu hút FDI có vai trò như thế nào đối với chuyển dịch CCKT ? Hai là, các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI vào địa phương là những

nhân tố nào?

Ba là chính sách tài chính phải làm gì đối với các nhân tố nhằm thúc đẩy

thu hút FDI vào địa phương?

Bốn là, Thực trạng chính sách tài chính đối với các nhân tố trong thu hút

FDI phục vụ chuyển dịch CCKT ở Thanh Hóa giai đoạn 2011 - 2017 diễn ra cụ thể như thế nào?

Năm là, CCKT mục tiêu mà tỉnh Thanh Hóa hướng tới đến năm 2025 và

tầm nhìn đến 2030 là gì?

Sáu là, có những giải pháp gì để hoàn thiện chính sách tài chính thúc đẩy

thu hút FDI phục vụ chuyển dịch CCKT của tỉnh Thanh Hóa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách tài chính với việc thu hút FDI phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: Luận án nghiên cứu chính sách tài chính: chủ yếu tập

trung vào chính sách chi ngân sách Nhà nước và chính sách thuế, khuyến khích việc thu hút FDI phục vụ chuyển dịch CCKT theo ngành kinh tế của Thanh Hóa

Trang 20

Phạm vi về không gian: Nghiên cứu thu hút FDI phục vụ cho chuyển dịch

cơ cấu kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa và kinh nghiệm thu hút FDI phục vụ chuyển dịch CCKT của một số Quốc gia, các địa phương khác của Việt Nam

Phạm vi về thời gian: Luận án tiến hành nghiên cứu các vấn đề thực tiễn

thu hút FDI phục vụ chuyển dịch CCKT ở tỉnh Thanh Hóa và kinh nghiệm của một số Quốc gia và các địa phương khác của Việt Nam trên cơ sở tình hình, số liệu từ năm 2011 đến năm 2017 Các đề xuất, mục tiêu, quan điểm, định hướng

và giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính thu hút FDI phục vụ chuyển dịch CCKT của tỉnh Thanh Hóa được nghiên cứu áp dụng đến năm 2025 và tầm nhìn đến 2030

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: lấy phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm phương pháp luận cơ bản, đồng thời áp dụng phương pháp nghiên cứu khoa học

cụ thể như phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp, phương pháp quy nạp, diễn dịch, tham khảo ý kiến chuyên gia công tác trong lĩnh vực liên quan đến đề tài luận án để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý các số liệu thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau: cục thống kê Thanh Hóa, Tổng cục thống kê Việt Nam, Sở kế hoạch & Đầu tư Thanh Hóa, ngân hàng Đầu tư & phát triển Việt Nam chi nhánh Thanh Hóa Ngoài ra số liệu còn được thu thập trên các phương pháp thông tin đại chúng: như tạp chí khoa học, sách chuyên khảo, Internet Các nguồn số liệu này được dùng để hệ thống hóa cơ sở lý luận về FDI, chuyển dịch CCKT, chính sách về tài chính để thu hút FDI và dùng để phân tích thực trạng chính sách tài chính thu hút FDI phục vụ chuyển dịch CCKT của tỉnh Thanh Hóa

Sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh nhằm làm rõ thực trạng chính sách tài chính với thu hút FDI phục vụ chuyển dịch CCKT của tỉnh Thanh Hóa từ đó rút ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của việc thực hiện các chính sách tài chính trên

Trang 21

6 Những đóng góp mới của luận án

* Về lý luận: Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ một số lý luận cơ bản về

chính sách tài chính thu hút FDI, các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI và chính sách tài chính thu hút FDI phục vụ chuyển dịch CCKT bao gồm các vấn

đề chính sách tài chính, nhấn mạnh đến chính sách chi NSNN, chính sách thuế

về phát triển cơ sở hạ tầng, xúc tiến đầu tư, đất đai, đào tạo nguồn nhân lực, cải cách thủ tục hành chính Luận án đã nêu lên kinh nghiệm sử dụng chính sách tài chính thu hút FDI phục vụ chuyển dịch CCKT cuả một số quốc gia và địa phương trong nước qua đó rút ra bài học cho tỉnh Thanh Hóa

* Về mặt thực tiễn: Luận án đã phân tích làm rõ thực trạng FDI và thực

trạng chính sách tài chính thu hút FDI phục vụ chuyển dịch CCKT của tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 - 2017 Trong đó nhấn mạnh phân tích chính sách chi NSNN và chính sách thuế đối với xây dựng cơ sở hạ tầng, xúc tiến đầu tư, đất đai, đào tạo nguồn nhân lực, cải cách thủ tục hành chính trong thu hút FDI phục

vụ chuyển dịch CCKT của tỉnh Thanh Hóa Trên cơ sở đó luận án đã đánh giá những kết quả đạt được và chỉ ra những hạn chế cũng như các nguyên nhân hạn chế đó Từ đó, luận án đề xuất hai nhóm giải pháp gồm nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính và nhóm giải pháp hỗ trợ nhằm tăng cường thu hút FDI thúc đẩy chuyển dịch CCKT của tỉnh Thanh Hóa nhanh hơn nữa

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu luận án gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Chính sách tài chính thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phục

vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chương 2: Thực trạng chính sách tài chính thu hút đầu tư trực tiếp nước

ngoài phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Thanh Hóa

Chương 3: Hoàn thiện chính sách tài chính nhằm thu hút đầu tư trực tiếp

nước ngoài phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Thanh Hóa đến năm

2025 tầm nhìn đến năm 2030

Trang 22

Chương 1 CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI PHỤC VỤ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

1.1 ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

• Khái niệm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trên thực tế còn nhiều quan niệm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tuy nhiên có thể xem xét một số khái niệm về FDI sau đây:

Theo UNCTAD: “FDI là một khoản đầu tư bao gồm các mối quan hệ trong dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hay công ty mẹ nước ngoài) trong một doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài” (doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp

liên doanh hoặc chi nhánh nước ngoài)

Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài do Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF) đưa ra

năm 1977, được chấp nhận khá rộng rãi Quan niệm này chỉ ra “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là vốn đầu tư thực hiện để thu lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư Mục đích là giành được tiếng nói có hiệu quả trong quản lý doanh nghiệp đó” Khái niệm này

nhấn mạnh đến tính lâu dài của quá trình đầu tư, chủ đầu tư là nước ngoài và việc đầu tư ở đây gắn liền với quyền kiểm soát, quản lý

Theo Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam thì “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” còn“Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam”[30], theo đó có thể hiểu FDI là hình thức

nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư tại Việt Nam

Trang 23

“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn vào các dự án nhằm giành quyền điều hành và trực tiếp điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn Trong những năm gần đây, hình thức này chiếm vị trí rất quan trọng trong đầu tư nước ngoài”.[36, tr.106]

• Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo thêm nhiều vốn đầu tư cho các nước đang phát triển và không tạo ra gánh nặng nợ quốc gia

FDI là hình thức đầu tư trực tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài, họ mang vốn đến nước khác để đầu tư Vì vậy, khác với các nguồn vốn vay, vốn FDI tại nước sở tại không phải hoàn trả nợ và cũng không tạo gánh nặng nợ quốc gia, đây là một ưu điểm so với các hình thức đầu tư nước ngoài khác Việc mang vốn

từ bên ngoài vào đầu tư tại nước sở tại sẽ tạo thêm nhiều vốn cho đầu tư, nhất là những nước đang phát triển và vốn này không phải là khoản nợ của quốc gia, sẽ đảm bảo an ninh tài chính cho quốc gia tiếp nhận vốn tốt hơn nhiều so với các khoản vốn vay quốc gia khác Để được gọi là vốn FDI thì phía nhà đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ nhất định lượng vốn này tùy theo quy định của từng nước và được thay đổi theo thời gian

Thứ hai, vốn FDI là dòng vốn thời gian đầu tư dài, lượng vốn đầu tư lớn,

có tính ổn định cao tại nước nhận đầu tư

Vốn FDI là dòng vốn quốc tế gắn liền với việc xây dựng các công trình, nhà máy, chi nhánh sản xuất vì thế thời gian đầu tư dài, lượng vốn đầu tư lớn,

có tính ổn định cao tại nước nhận đầu tư Khác với đầu tư gián tiếp nước ngoài,

là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư đến các nước khác nhưng không nắm quyền quản lý, điều hành thông qua các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu… đặc điểm của đầu tư nước ngoài gián tiếp là có thời gian hoạt động ngắn, biến động bất thường hơn vì đây là hình thức mà nhà đầu tư nước ngoài thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư Do tính chất trực tiếp của hình thức đầu tư này nên vốn FDI ít chịu sự chi phối, ràng buộc của chính phủ so với các hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài khác,

Trang 24

lĩnh vực mà vốn FDI thường hướng tới là những lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư nước ngoài

Thứ ba, vốn FDI bao gồm cả vốn vay tại nước sở tại hoặc vốn được trích lại từ lợi nhuận sau thuế

Vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư nước ngoài dưới hình thức vốn điều lệ hoặc vốn pháp định mà nó còn bao gồm cả vốn vay của các nhà đầu tư để triển khai và mở rộng dự án cũng như vốn đầu

tư được trích lại từ lợi nhuận sau thuế từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Vì vậy, nước sở tại phải có chính sách về tài chính phù hợp tránh trường hợp một số nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng chỉ đưa một lượng vốn nhỏ vào còn sau đó tiến hành vay vốn tại nước sở tại để thực hiện đầu tư,

mở rộng kinh doanh làm ảnh hưởng đến mục đích thu hút đầu tư nước ngoài của nước sở tại

Thứ tư, việc quản lý doanh nghiệp FDI phụ thuộc vào mức độ góp vốn Nếu đầu tư dưới hình thức 100% vốn thì có toàn quyền quyết định, còn góp vốn thì quyền này phụ thuộc vào mức độ góp vốn

Chủ đầu tư vốn FDI là chủ sở hữu vốn, là một bộ phận của hình thức chu chuyển vốn quốc tế trong đó chủ đầu tư có quốc tịch nước ngoài, tiến hành đầu tư tại một nước khác Vì vậy, nhà đầu tư nước ngoài phải chấp hành luật pháp của nước tiếp nhận đầu tư Chủ sở hữu vốn đầu tư trực tiếp tham gia quản

lý, điều hành quá trình sử dụng vốn, có nghĩa vụ và quyền lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh tương ứng với phần vốn góp đó Trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đầu tư dưới hình thức 100% vốn thì có toàn quyền quyết định, nếu góp vốn thì quyền này phụ thuộc vào mức độ góp vốn Thu nhập từ hoạt động đầu tư này phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả sản xuất kinh doanh, mức độ lãi được chia theo tỷ lệ góp vốn của các bên, nếu bị lỗ thì trách nhiệm của các bên cũng tương ứng với phần góp vốn đó

Thứ năm, đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức xuất khẩu tư bản nhằm thu lợi nhuận

FDI là hình thức xuất khẩu tư bản nhằm thu lợi nhuận cao và các nhà đầu

tư nước ngoài quyết định về quy mô và sử dụng FDI Do các nhà đầu tư nước

Trang 25

ngoài luôn hướng tới mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cao nên có thể gây ra nhiều thiệt thòi, tổn thất ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia và mục tiêu thu hút vốn của nước nhận đầu tư

1.1.1.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đối với nước nhận đầu tư

Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần chuyển dịch CCKT của địa phương nước sở tại

FDI góp phần chuyển dịch CCKT của địa phương nước tiếp nhận đầu tư: Trong ba yếu tố cơ bản cấu thành nên cơ cấu kinh tế của địa phương là: Cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế, thì cơ cấu ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng nhất quyết định hình thức của những cơ cấu kinh

tế khác Do vậy, việc thay đổi cơ cấu ngành kinh tế sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh

tế của địa phương Một cơ cấu kinh tế hợp lý ở địa phương nước tiếp nhận đầu tư

sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đi kèm với vốn, kỹ năng và trình độ quản lý có tác động mạnh đến cơ cấu ngành kinh tế dẫn đến làm thay đổi và dịch chuyển cơ bản cơ cấu kinh tế của địa phương nước tiếp nhận đầu tư

Thứ hai, đầu tư nước ngoài góp phần chuyển giao công nghệ cho nước

sở tại

FDI góp phần vào quá trình chuyển giao công nghệ: để công nghệ mới và tiên tiến phục vụ hoạt động sản xuất thì cần phải chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển Do hoạt động chuyển giao công nghệ ngày càng phức tạp do vậy chuyển giao công nghệ thông qua FDI là kênh chuyển giao hiệu quả và chi phí thấp Chuyển giao công nghệ thông qua FDI đã làm cho khoảng cách công nghệ giữa nước đi đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư bị thu hẹp Hình thức chuyển giao được thực hiện thông qua: chuyển giao bên trong

là hình thức chuyển giao giữa công ty mẹ và công ty con ở nước tiếp nhận đầu

tư Chuyển giao bên ngoài được thực hiện giữa các công ty khác nhau liên doanh với doanh nghiệp trong nước, hỗ trợ công nghệ…Hoạt động FDI tạo ra hiệu ứng tích cực đối với các doanh nghiệp của nước tiếp nhận đầu tư thông qua cạnh

Trang 26

tranh sẽ thúc đẩy việc cải thiện và nâng cao công nghệ trong nước, di chuyển lao động từ nơi có trình độ công nghệ cao đến các nước đang phát triển góp phần chuyển giao công nghệ

Thứ ba, đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần tạo ra việc làm và tăng thu nhập cho người lao động

FDI góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho người lao động: Hoạt động đầu tư đã góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, trực tiếp tạo việc làm bằng cách tuyển dụng lao động địa phương vào các doanh nghiệp có vốn FDI FDI gián tiếp tạo ra việc làm thông qua các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn FDI Vấn đề nâng cao thu nhập, người lao động làm việc trong các công ty có vốn FDI thường cao hơn so với làm việc tại các doanh nghiệp trong nước Nguyên nhân là sản lượng sản xuất tại các doanh nghiệp FDI thường cao hơn các doanh nghiệp trong nước, lao động có chất lượng cao hơn, công ty FDI có thị trường rộng lớn và quy mô lớn

Thứ tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần nâng cao chất lượng lao động thông qua đào tạo trực tiếp và gián tiếp

FDI góp phần nâng cao chất lượng lao động: Chất lượng lao động có ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa phương của nước sở tại FDI có tác động đến vấn đề lao động của địa phương nước tiếp nhận đầu tư cả về

số lượng lẫn chất lượng Số lượng là việc giải quyết việc làm cho người lao động Còn chất lượng lao động, FDI làm thay đổi cơ bản nâng cao năng lực và kỹ năng lao động thông qua đào tạo trực tiếp và gián tiếp nâng cao trình độ lao động

+ Trực tiếp đào tạo lao động: do các công ty nước ngoài hoặc có doanh nghiệp có vốn FDI phải tuyển dụng lao động địa phương Để lao động địa phương có thể sử dụng thành thạo những công nghệ tiên tiến đã được chuyển giao, phương thức đào tạo có thể là đào tạo trực tiếp thông qua khóa học do các chuyên gia của công ty giảng dạy hoặc kết hợp với các cơ sở đào tạo trong nước

+ Gián tiếp nâng cao chất lượng lao động của địa phương nước tiếp nhận đầu tư Các nước đầu tư FDI yêu cầu đầu tư vào nước có chất lượng lao động

Trang 27

cao để không mất nhiều thời gian và chi phí đào tạo Do vậy, với chính sách thu hút đầu tư nước ngoài các địa phương nước tiếp nhận đầu tư phải có chiến lược phát triển nguồn nhân lực có hiệu quả để đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng

Thứ năm, đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển của địa phương

FDI bổ sung được nguồn vốn cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương,trong khi nguồn lực trong nước bị hạn chế Tạo điều kiện cho địa phương tiếp nhận vốn FDI có thể khai thác được nhiều vốn từ bên ngoài do không quy định mức vốn góp tối đa mà chỉ quy định mức vốn góp tối thiểu cho các nhà đầu tư nước ngoài

1.1.1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài

Có nhiều hình thức FDI khác nhau, tùy theo đặc điểm từng nước, từng giai đoạn phát triển nhất định mà áp dụng các hình thức FDI cho phù hợp Sau đây luận án chỉ nêu một số hình thức thu hút FDI chủ yếu

Một là, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: Đây là loại hình

doanh nghiệp do các nhà đầu tư nước ngoài bỏ toàn bộ vốn thành lập, tổ chức quản lý điều hành Loại hình này có đặc điểm là dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo luật nước chủ nhà, sở hữu hoàn toàn của nước ngoài, chủ đầu tư nước ngoài tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh, quyền lợi và nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh thuộc hoàn toàn

về nhà đầu tư nước ngoài nhưng thành lập pháp nhân tại nước sở tại nên chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại

Hai là, doanh nghiệp liên doanh: Đây là hình thức tổ chức kinh doanh

quốc tế trong đó có các bên tham gia có quốc tịch khác nhau giữa một bên là nhà đầu tư của nước sở tại và bên còn lại là đối tác nước ngoài Hình thức này có đặc điểm là thành lập doanh nghiệp mới theo pháp luật của nước sở tại, có tư cách pháp nhân theo luật của nước chủ nhà, các bên tham gia có quốc tịch khác nhau cùng kết hợp lại trên cơ sở cùng nhau góp vốn, cùng quản lý, cùng phân phối lợi nhuận, cùng nhau chia sẻ rủi ro để tiến hành hoạt động liên doanh Tỷ lệ góp vốn

do các bên thỏa thuận dựa trên cơ sở luật định của nước nhận đầu tư Đây là loại

Trang 28

hình doanh nghiệp mà nước nhận đầu tư có những lợi ích là ngoài phần tiếp nhận được phần vốn góp còn học tập được kinh nghiệm quản lý, đào tạo đội ngũ lao động có tay nghề cao, tiếp thu được kỹ thuật tiên tiến Nhưng để hình thức này đem lại lợi ích đó đòi hỏi nước sở tại có khả năng góp vốn, có đủ trình độ tham gia quản lý cùng người nước ngoài Đối với nhà đầu tư nước ngoài, hình thức này chỉ phù hợp trong giai đoạn đầu khi họ chưa am hiểu về nước sở tại, về luật pháp và môi trường đầu tư, liên doanh để tranh thủ sự hiểu biết và hỗ trợ của đối tác nước sở tại nhằm hạn chế bớt rủi ro trong quá trình đầu tư Tuy nhiên, khi các nhà đầu tư nước ngoài am hiểu nước sở tại rồi thì hình thức này không được

ưa chuộng lắm, bởi khi họ đã hiểu và nắm rõ được luật pháp, thủ tục chính sách liên quan đến vấn đề đầu tư thì họ muốn tự mình ra quyết định mà không phải thông qua sự đồng ý của các bên như trong liên doanh Hơn nữa, trong quá trình hoạt động xu hướng của nước nhận đầu tư là tăng dần vốn góp trong doanh nghiệp liên doanh từ đó tăng mức ảnh hưởng, tiến tới kiểm soát toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp liên doanh gây rủi ro cho các nhà đầu tư nước ngoài

Ba là, hợp đồng hợp tác kinh doanh: Đây là hình thức liên doanh liên

kết giữa một bên là đối tác trong nước với các nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh giữa các bên trong các văn bản ký kết mà không thành lập pháp nhân mới Hình thức này có đặc điểm

là hợp tác kinh doanh của các bên được thực hiện trên cơ sở hợp đồng ký kết trong đó sẽ quy định rõ trách nhiệm và phân chia lợi nhuận của các bên, nước nhận đầu tư sẽ phê chuẩn hợp đồng giữa các bên, thời hạn hợp đồng do các bên thỏa thuận Loại hợp đồng này được áp dụng phổ biến nhất trong các lĩnh vực tìm kiếm Thăm dò, khai thác dầu khí và một số tài nguyên khác

Ngoài ra, tùy từng quốc gia có thể có các hình thức đầu tư trực tiếp khác nhau như hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (gọi tắt là BOT); Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (gọi tắt là BTO); hợp đồng xây dựng

- chuyển giao (gọi tắt là BT); hợp tác công tư (gọi tắt là PPP) Các hình thức BOT, BTO, BT, PPP rất phù hợp với các nước đang phát triển nơi mà cơ sở hạ tầng còn yếu kém và không có đủ vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng

Trang 29

Mỗi hình thức FDI đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Do vậy, cần phải đa dạng hóa các hình thức FDI này sao cho phù hợp với cơ cấu chung của nền kinh tế, quy hoạch phát triển lực lượng sản xuất của quốc gia, từng ngành, từng địa phương với mục tiêu là huy động một cách có hiệu quả nguồn vốn FDI cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng và phát triển bền vững cũng như đem lại lợi ích cho nhà đầu tư nước ngoài

1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.1.2.1 Cơ cấu kinh tế

❖ Một số quan điểm về cơ cấu kinh tế

Vớ i sự phát triển không ngừng của LLSX đã thúc đẩy phân công lao đô ̣ng

xã hô ̣i ngày càng sâu sắc hơn Các ngành, lĩnh vực được phân chia theo tính chất

sản phẩm, chuyên môn kỹ thuâ ̣t Khi các ngành, lĩnh vực kinh tế ấy được hình thành, chúng không đứng đô ̣c lâ ̣p với nhau mà luôn tác đô ̣ng qua la ̣i lẫn nhau,vừ a hợp tác vừa đấu tranh với nhau trong quá trình tồn ta ̣i và phát triển Sự phân công và mối quan hê ̣ hợp tác giữa các bô ̣ phâ ̣n cấu thành trong hê ̣ thống kinh tế thống nhất là tiền đề cho quá trình hình thành cơ cấu kinh tế Đến nay có nhiều cách tiếp câ ̣n khác nhau về CCKT, tùy theo quan điểm và mu ̣c đích nghiên

cứ u Song có thể tổng hợp mô ̣t số cách tiếp câ ̣n cơ bản sau:

Trong Từ điển Bách khoa Viê ̣t Nam viết:“CCKT là tổng thể các ngành,

li ̃nh vực, bộ phận kinh tế có mối quan hê ̣ hữu cơ tương đối ổn đi ̣nh hợp thành

[37, tr.610]

Khi phân tích quá trình phân công lao đô ̣ng xã hô ̣i, C Mác đã viết:

“CCKT của xã hội là toàn bộ những QHSX phù hợp với tính chất và quá trình pha ́ t triển nhất đi ̣nh của LLSX vật chất” [7, tr.7] Như vâ ̣y, theo quan điểm của

C Mác, CCKT có cấu trúc bao gồm: những yếu tố gắn với LLSX (quan hê ̣ giữa

ho ̣ với tự nhiên và kỹ thuật) và các nô ̣i dung của QHSX (quan hệ giữa người với người trong quá trình tái sản xuất xã hội) hợp thành

C Mác cũng nhấn ma ̣nh, khi phân tích CCKT phải chú ý đến cả hai khía

cạnh là chất lượng và số lượng Theo Ông, cơ cấu là mô ̣t sự phân chia về chất và

một tỷ lê ̣ về số lượng của quá trình sản xuất xã hô ̣i

Trang 30

Theo cách tiếp câ ̣n hê ̣ thống,“CCKT hiểu một cách đầy đủ là một tổng thể

hê ̣ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua la ̣i lẫn nhau trong một khoảng không quan và thời gian nhất đi ̣nh, được thể hiê ̣n cả về mặt đi ̣nh tính và đi ̣nh lượng, cả về mặt số lượng lẫn chất lượng, phù

hơ ̣p với mục tiêu xác đi ̣nh của nền kinh tế”

Rõ ràng, cách tiếp câ ̣n này đã phản ánh được bản chất của CCKT, đó là:

- CCKT là tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hê ̣ thống kinh tế trong tổng thể nền kinh tế quốc dân

- Trong CCKT, giữa các nhóm ngành luôn có mối quan hê ̣ tác đô ̣ng qua

lại lẫn nhau và cùng hướng vào mu ̣c tiêu xác đi ̣nh

- CCKT không chỉ giới ha ̣n trong mối quan hê ̣ giữa các ngành mang tính chất cố đi ̣nh hay khuôn mẫu, mà luôn biến đổi tùy thuộc vào điều kiê ̣n không gian

và thời gian xác đi ̣nh CCKT không thể cố đi ̣nh lâu dài mà còn có sự thay đổi thích

̣p (tương thích) với điều kiê ̣n tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi đất nước, đi ̣a

phương, qua đó hình thành nên một CCKT hợp lý để có thể cho phép khai thác một

cách hiê ̣u quả các nguồn lực hiê ̣n có nhằm ta ̣o ra sự phát triển cân đối và bền vững

Kế thừa, các quan niê ̣m trên, có thể đi đến đi ̣nh nghĩa về CCKT như

sau: “Cơ cấu kinh tế la ̀ tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vi ̣ tri ́, tỷ trọng tương ứng của chúng và mối quan hê ̣ hữu cơ tương đối ổn đi ̣nh

hơ ̣p thành”

❖ Phân loại cơ cấu kinh tế

Theo nghĩa hẹp, CCKT gồm có các loại sau:

Cơ cấu kinh tế thiên về mặt định lượng và xem CCKT là sự hợp thành của CCKT: theo ngành, theo thành phần và theo vùng lãnh thổ Trong CCKT theo ngành các nghiên cứu phân tích theo ba nhóm ngành chính cấp một là nhóm ngành nông nghiệp: bao gồm các ngành nông lâm, ngư nghiệp; Nhóm ngành công nghiệp:bao gồm các ngành công nghiê ̣p và xây dựng; nhóm ngành di ̣ch vu ̣: bao gồ m thương ma ̣i, bưu điê ̣n, du li ̣ch Luận án chỉ giới hạn nghiên cứu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế mà không đề cập đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần hay theo vùng lãnh thổ

Trang 31

• Cơ cấu kinh tế theo ngành: là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân

Cơ cấu kinh tế ngành phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặc trưng của các nước đang phát triển Khi phân tích cơ cấu ngành của một quốc gia người ta thường phân tích theo 3 nhóm ngành (khu vực) chính:

- Nhóm ngành nông nghiệp và khai khoáng: bao gồm các ngành nông,

lâm, ngư nghiệp và công nghiệp khai khoáng

- Nhóm ngành công nghiệp chế tạo bao gồm các ngành công nghiệp như

công nghiệp điện tử, sản xuất chế biến, công nghiệp sản xuất hoá chất, trang phục, công nghiệp khai thác, sản xuất máy móc thiết bị, công nghiệp đóng tàu

và công nghiệp xây dựng

- Nhóm ngành dịch vụ: WTO phân chia dịch vụ thành 12 ngành sau:

(1) Dịch vụ kinh doanh (bao gồm cả dịch vụ chuyên môn và máy tính); (2) dịch vụ viễn thông; (3)dịch vụ xây dựng và kỹ thuật; (4) dịch vụ phân phối; (5)dịch vụ giáo dục; (6)dịch vụ môi trường; (7)dịch vụ tài chính (bảo hiểm và ngân hàng); (8)dịch vụ y tế; (9)dịch vụ du lịch; (10) dịch vụ thể thao, văn hoá, giải trí; (11) dịch vụ vận tải; (12) Các dịch vụ khác không nằm trong các loại dịch vụ trên

Nếu như với các hàng hoá được bảo hộ bằng các biện pháp áp dụng tại biên giới, thì dịch vụ được bảo hộ chủ yếu bằng các quy định trong nước cũng như rào cản về đầu tư trực tiếp vào các ngành dịch vụ Chẳng hạn như Việt Nam hiện nay bằng các quy đi ̣nh khác nhau còn chưa khuyến khích ma ̣nh các nhà đầu

tư vào các ngành giáo du ̣c, đào ta ̣o, viễn thông bảo hiểm, ngân hàng…

Theo nghĩa rộng, CCKT gồm có các loại sau:

Là cơ cấu tái sản xuất được hiểu như một mạng lưới hay tập hợp các yếu

tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau giữa các bộ phận phức hợp, hợp thành, các điều kiện, các kết quả và tiến trình của quá trình tái sản xuất được diễn ra trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định được biểu

Trang 32

hiện cả về mặt định tính và định lượng xác định tính chất và đặc trưng cơ chế của nền kinh tế quốc dân

Cách tiếp cận CCKT theo nghĩa rộng, khi phân tích về mặt định lượng không đơn giản chỉ xét tiêu chí đầu ra - GDP mà còn được xét đến cơ cấu đầu vào của các yếu tố sản xuất (như vốn, lao động, công nghệ, TLSX ) đầu tư phân phối và ngoại thương; có như vậy mới đánh giá được hiệu quả của CCKT và hiệu quả của chuyển dịch CCKT

1.1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

* Khái niệm và bản chất của chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Xác định cơ cấu kinh tế đã bao hàm cả yếu tố chuyển dịch cơ cấu kinh tế Điều này thể hiện rất rõ trong việc xây dựng chiến lược kinh tế quốc gia Khi đó, người ta phải xác định cơ cấu kinh tế mục tiêu theo ngành, theo vùng lãnh thổ và theo thành phần kinh tế Để đạt được cơ cấu kinh tế mục tiêu thì tỷ lệ từng bộ phận trong mỗi loại cơ cấu phải thay đổi, nghĩa là phải có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế luôn thay đổi trong từng thời kỳ phát triển, thay đổi cả về

số lượng các ngành hoặc sự thay đổi các quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế do sự xuất hiện hoặc đào thải một số ngành và tốc độ phát

triển giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế không đồng đều Sự thay đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với phân công lao động xã hội, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, các điều kiện kinh tế

xã hội được gọi là chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

phải dựa trên một số cơ cấu hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh

tế là cải tạo cơ cấu cũ lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện, bổ sung cơ cấu cũ thành cơ cấu mới phù hợp Sự thay đổi về lượng được tích lũy đến một mức nhất định sẽ dẫn đến sự biến đổi về chất Quá trình chuyển dịch cơ cấu cũ sang cơ cấu mới đòi hỏi phải có thời gian và phải qua các thang bậc nhất định của sự phát triển Tuy nhiên, để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì Nhà nước luôn có vai trò rất quan trọng, thông qua việc thực thi các giải pháp về chính sách và cơ chế thích ứng để định hướng và thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo các mục tiêu đã định

Trang 33

Trong điều kiện của nước ta hiện nay, yêu cầu đặt ra cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế là tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, đồng thời giảm tỷ trọng nông nghiệp trong tổng giá trị GDP của cả nước, của từng vùng và từng địa phương Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được thực hiện theo 3 hướng chủ yếu: chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo ngành, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng hoặc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế Mỗi xu hướng chuyển dịch đều có nội dung, phạm vi và ý nghĩa riêng, trong đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành có ý nghĩa quan trọng nhất

Trên cơ sở những phân tích ở trên về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch CCKT, tác giả thấy rằng sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất thiết phải được thực hiện trên quan điểm phát triển bền vững Chuyển dịch CCKT trên quan điểm phát triển bền vững chính là sự chuyển dịch CCKT đảm bảo sự phát triển cân đối, hài hòa giữa các mặt phát triển kinh tế xã hội và môi trường, hay nói một cách

cụ thể hơn:

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên quan điểm phát triển bền vững là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đảm bảo có được sự tăng trưởng kinh tế dương, hiệu quả, ổn định và đạt mức cao, đảm bảo sự vững chắc cần thiết của hệ thống kinh tế, tránh và giảm thiểu rủi ro, có khả năng cạnh tranh, tránh sự trì trệ, suy thoái và đổ vỡ kết cấu của nền kinh tế, ít bị tổn thương từ những thay đổi ở bên ngoài, ít hoặc không gây phương hại cho môi trường tự nhiên, bảo đảm xã hội phát triển tiến bộ, giữa gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội, tham gia hợp tác quốc

tế chủ động và hiệu quả

* Các nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Một là, các nhân tố đầu vào của sản xuất

- Các nguồn lực tự nhiên: Cơ cấu kinh tế của một quốc gia hay địa

phương được hình thành như thế nào đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của nguồn tài nguyên thiên nhiên ban tặng Quy mô đất đai, địa hình, khí hậu, nguồn nước là điều kiện tự nhiên của các loại hình sản xuất nông nghiệp khác nhau Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở xuất phát tự nhiên quan trọng để hình thành cơ cấu kinh tế

Trang 34

của các quốc gia hoặc địa phương.Việc xác định các ngành mũi nhọn cần ưu tiên phát triển phải dựa trên cơ sở xác định lợi thế so sánh các nguồn lực trong nước

và ngoài nước có khả năng khai thác để chuyển hướng phù hợp Ở mỗi quốc gia hoặc địa phương sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, môi trường của mỗi vùng làm cho quy mô, số lượng các ngành giữa các vùng khác nhau Do vậy, một số vùng có những điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển một số ngành sản xuất, tạo ra lợi thế so sánh với các vùng khác nhau của đất nước Từ việc ưu tiên phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn ở từng vùng sẽ kéo theo sự chuyển dịch các ngành bổ trợ khác trên địa bàn

- Nguồn lực con người: Nguồn lực con người khi được xem xét ở góc độ

đầu vào của quá trình sản xuất, từ lâu đã được coi như một nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với quá trình sản xuất Tuy nhiên, để có căn cứ cho việc quyết định phân bổ nguồn lực vào những lĩnh vực sản xuất khác nhau như thế nào thì cần những điều kiện như:

+ Quy mô nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quan trọng góp phần hình thành cơ cấu kinh tế Để có thể chuyển dịch CCKT dần sang ngành công nghiệp và dịch vụ trong những điều kiện về khoa học - công nghệ nhất định, cần có một lượng lao động thích hợp

+ Chất lượng nguồn nhân lực cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chuyển dịch CCKT Chất lượng lao động còn thể hiện trong tay nghề, kỹ năng lao động và kiến thức (bao gồm kiến thức chuyên môn và kiến thức xã hội khác) Chất lượng nguồn lao động là yếu tố quan trọng để hình thành cơ cấu kinh tế, đặc biệt là với những ngành, những lĩnh vực đòi hỏi lao động qua đào tạo, tay nghề cao

+ Xu hướng nhân khẩu học có ý nghĩa khá quan trọng đối với việc hình thành cơ cấu của nền kinh tế Tác nhân này biểu hiện ở cả hai khía cạnh: cung và cầu Ở khía cạnh cung, xu hướng biến động dân số sẽ quyết định xu hướng biến động của qui mô lực lượng lao động xã hội Còn xu hướng biến động cầu

sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới qui mô và cơ cấu nhu cầu tiêu dùng thị trường

Trang 35

- Nguồn lực kinh tế: Nguồn lực kinh tế bao gồm vốn đầu tư, hạ tầng cơ sở

kinh tế, khoa học công nghệ Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải có những điều kiện vật chất nhất định tương ứng với yêu cầu hình thành và chuyển đổi của nó Muốn đáp ứng được những đòi hỏi về các điều kiện vật chất này thì nhất định phải đầu tư và phải có vốn đầu tư Thực tế quốc gia hay địa phương nào có tiềm lực vốn mạnh thì quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ chủ động, nhanh chóng hơn Vì vậy, thu hút vốn FDI vào địa phương sẽ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Hai là, nhóm các nhân tố đầu ra của sản xuất (yếu tố thị trường)

Nhóm các yếu tố đầu ra của sản phẩm quyết định xu hướng vận động của thị trường, nơi phát ra tín hiệu quan trọng bậc nhất dẫn dắt các luồng vốn đầu tư cũng như các nguồn lực sản xuất khác quyết định phân bổ vào những lĩnh vực sản xuất nào, với quy mô bao nhiêu Những nhân tố này bao gồm:

- Dung lượng thị trường: độ lớn của dung lượng thị trường là một trong

những nhân tố có ý nghĩa đối với sự di chuyển các nguồn lực được phân bổ vào các lĩnh vực sản xuất khác nhau Các nhà kinh doanh là người phân tích rất

kỹ qui mô và xu hướng vận động của thị trường khi quyết định đầu tư kinh

doanh một loại sản phẩm nào đó Thông thường, dung lượng thị trường (lượng cầu) được quy định bởi quy mô dân số và mức thu nhập Khi mức thu nhập của

dân cư còn thấp, hầu hết thu nhập chỉ được chi dùng cho những mặt hàng thiết yếu, trước hết là lương thực, thực phẩm Nhưng khi thu nhập của dân cư tăng lên, cơ cấu tiêu dùng của họ cũng thay đổi theo hướng chi cho tiêu dùng mặt hàng thiết yếu giảm đi tương đối, trong khi tỷ lệ chi cho các mặt hàng cao cấp tăng lên Rõ ràng những dấu hiệu dịch chuyển cơ cấu cần có khả năng thanh toán có tác động dẫn dắt hướng đầu tư kinh doanh của các nhà đầu tư và vì thế, tác động không nhỏ đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Thói quen (thị hiếu) của người tiêu dùng: cùng với quy mô thị trường,

thói quen tiêu dùng là một nhân tố đầu ra rất có ý nghĩa mà các nhà kinh doanh thường rất quan tâm khi quyết định bỏ vốn đầu tư và lựa chọn sản phẩm để đưa ra thị trường Tuy đây là những quyết định thuộc phạm vi quản lý vi mô,

Trang 36

nhưng lại có ý nghĩa to lớn đối với sự hình thành cơ cấu sản phẩm (cơ cấu phân ngành) của nền kinh tế Tính ưa thích theo thói quen tiêu dùng một số loại sản phẩm nào đó đòi hỏi các nhà đầu tư phải nghiên cứu để tìm cách đáp ứng và vì thế, tình trạng thoả dụng của người tiêu dùng đã trở thành một trong những chỉ tiêu tác động vào sự hình thành cơ cấu ngành kinh tế

Ba là, nhóm các nhân tố về cơ chế chính sách của Nhà nước

Trong quá trình điều hành nền kinh tế, Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý nền kinh tế, có thể dùng các chính sách kinh tế vĩ mô như tài chính, tiền tệ, thuế khoá và chi tiêu, các cơ chế về lãi suất, tỷ giá hối đoái … để hạn chế hay khuyến khích một ngành hay lĩnh vực kinh tế nào đó phát triển Tùy từng giai đoạn cụ thể nhất định, các chính sách của Nhà nước sẽ có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến sự phát triển của các ngành kinh tế Thông thường, những ngành kinh tế có lợi cho quốc kế dân sinh như tạo ra công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, đóng góp lớn vào ngân sách, có khả năng tạo ra động lực sẽ được nhà nước quan tâm đầu tư phát triển Ngược lại, những ngành hoạt động không hiệu quả, không có khả năng cạnh tranh trên thị trường thì nhà nước sẽ hạn chế phát triển, trừ một số lĩnh vực đặc biệt liên quan đến sự sống còn của nền kinh tế hay quốc phòng, an ninh quốc gia

* Tính cấp thiết của chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù hợp với các yêu cầu trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới là một trong những nội dung cơ bản của đường lối đổi mới của Việt Nam Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được coi là nhiệm vụ hàng đầu của cả nền kinh tế bởi vì sự phát triển kinh tế và hội nhập của Việt Nam đứng trước rất nhiều thách thức từ bên ngoài cũng như nội bộ nền kinh tế Tính cấp thiết của chuyển dịch cơ cấu kinh tế được thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm khắc phục những yếu kém về

cơ cấu kinh tế Cơ cấu ngành kinh tế vẫn thể hiện sự mất cân đối lớn Về cơ cấu ngành, những ngành được ưu tiên đầu tư, khuyến khích đầu tư thì cung vượt cầu, trong khi đó những ngành khác lại không đủ nguyên liệu và các yếu tố đầu vào

Trang 37

khác cung cấp cho sản xuất kinh doanh Đó là, những lý do chủ quan của nền kinh

tế nước ta đòi hỏi phải có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Về khách quan, khi nền kinh tế thế giới đã phát triển ở cấp độ mới, lợi thế của từng nước cũng thay đổi Đồng thời, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã tạo ra những sản phẩm, những lĩnh vực mới có hiệu quả đòi hỏi cơ cấu kinh tế phải thay đổi Từ những lý do khách quan này nước ta cần tranh thủ làn sóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới

để chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước mình nhằm giải quyết được các vấn đề nội tại của nền kinh tế Trước thực tế đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế là đặc biệt cần thiết đối với nước ta nói chung và các địa phương nói riêng và là mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với mô hình công nghiệp

hóa Giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mô hình CNH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mục tiêu của mô hình CNH là căn cứ chủ yếu để định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ngược lại chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng của

mô hình là một trong những điều kiện quyết định đến sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa Trong điều kiện hội nhập, tiến trình CNH của Việt Nam

đã chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH nên Việt Nam lựa chọn chiến lược CNH hỗn hợp và hướng về xuất khẩu như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và trên thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước có hiệu quả” Như vậy, về phương diện chính sách nền kinh tế Việt Nam đang tồn tại sự kết hợp đồng thời giữa hai loại chính sách trong thực hiện chiến lược CNH là: vừa hướng về xuất khẩu, vừa thay thế nhập khẩu Phân tích chiến lược công nghiệp hóa trên thế giới hiện nay cho thấy chiến lược công nghiệp hóa theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu là chiến lược thích hợp nhất trong điều kiện hội nhập của Việt Nam hiện nay Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là phương tiện để đạt mục đích tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của mọi công dân trong xã hội Nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ra sức phấn đấu đến năm 2025 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp

Trang 38

Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế luôn là vấn đề cấp bách được đặt ra trên cả giác độ lý luận và thực tiễn trong mỗi thời kỳ phát triển kinh tế xã hội của đất nước Đặc biệt là trong điều kiện kinh tế trong nước cũng như trên thế giới có những biến đổi sâu sắc như hiện nay thì việc xác định cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với xu hướng hội nhập và tìm ra các giải pháp kinh tế tài chính để thúc đẩy nhanh tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH trong giai đoạn từ nay đến năm 2025 là hết sức cần thiết

* Các tiêu chí đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Do CCKT phản ánh cả về mặt lượng và mặt chất mối tương quan tỷ lệ giữa các bộ phận hợp thành của nền kinh tế nên khi đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cần chú ý cả quan hệ tỷ lệ về mặt lượng cũng như phân tích sự thay đổi về chất của các mối tương quan ấy Hơn nữa, trong quá trình phân tích, đánh giá không thể không chú ý tới những đặc điểm riêng của các loại CCKT khác như CCKT theo vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần Những tiêu chí cơ bản phản ánh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế vĩ

mô bao gồm:

Một là, cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Mặc dù có những khiếm khuyết nhất định, nhưng khoa học kinh tế hiện đại đã sử dụng chỉ tiêu GDP như một trong những thước đo khái quát nhất, phổ biến nhất để đo lường, đánh giá về tốc độ tăng trưởng, trạng thái và xu hướng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế Trong đánh giá quá trình chuyển dịch CCKT, cơ cấu GDP giữa các ngành kinh tế là một trong những tiêu chí quan trọng nhất phản ánh xu hướng vận động và mức độ thành công của công nghiệp

hoá Tỷ lệ % của các ngành cấp I (nông nghiệp,công nghiệp,dịch vụ) là một

trong những tiêu chí thường xuyên được dùng để đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế Trong quá trình công nghiệp hoá, mối tương quan này có xu hướng biến đổi chung là khu vực nông nghiệp có tỷ lệ ngày

càng giảm, còn khu vực phi nông nghiệp (công nghiệp, dịch vụ) ngày càng

tăng lên, và trong điều kiện của khoa học công nghệ hiện đại, khu vực dịch vụ đang trở thành khu vực chiếm tỷ trọng cao nhất, sau đó là công nghiệp và cuối

Trang 39

cùng là nông nghiệp Để đánh giá sát thực hơn cơ cấu ngành kinh tế, việc phân

tích cơ cấu các phân ngành (cấp II, cấp III) có một ý nghĩa rất quan trọng

Thông thường, cơ cấu phân ngành phản ánh sát thực hơn khía cạnh chất lượng

và mức độ hiện đại hoá của nền kinh tế Ví dụ, trong ngành công nghiệp, những ngành công nghiệp chế biến đòi hỏi tay nghề kỹ thuật cao, vốn lớn hay công nghệ hiện đại như cơ khí chế tạo, điện tử công nghiệp, dược phẩm, hoá

mỹ phẩm… chiếm tỷ trọng cao sẽ chứng tỏ nền kinh tế đạt mức độ CNH, HĐH cao hơn so với những lĩnh vực công nghiệp khai khoáng, sơ chế nông sản, công nghiệp lắp ráp, dệt may Trong lĩnh vực dịch vụ, những lĩnh vực dịch

vụ cao gắn với công nghệ hiện đại như tài chính - ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn, viễn thông, hàng không chiếm tỷ lệ cao sẽ rất khác với những lĩnh vực dịch vụ phục vụ sinh hoạt dân sự với công nghệ thủ công, trình độ thấp, quy mô nhỏ lẻ

Hai là, cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế

Trong quá trình CNH, HĐH, sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế còn được đánh giá qua một tiêu chí rất quan trọng là cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế được phân bổ như thế nào vào các lĩnh vực sản xuất khác nhau Các nhà kinh tế học đánh giá rất cao tiêu chí này, vì ở góc độ phân tích kinh tế vĩ mô, cơ cấu lao động xã hội mới là tiêu chí phản ánh sát thực nhất mức độ thành công về mặt kinh tế - xã hội của quá trình CNH, HĐH Bởi

vì, công nghiệp hoá hiểu theo nghĩa đầy đủ của nó, không phải chỉ đơn thuần

là sự gia tăng tỷ trọng giá trị của sản xuất công nghiệp mà là cùng với mức độ

đóng góp vào GDP ngày càng tăng của lĩnh vực công nghiệp (mà ngày nay là công nghiệp, dịch vụ dựa trên kỹ thuật công nghệ hiện đại), phải là quá trình

CNH, HĐH đời sống xã hội con người, trong đó cơ sở quan trọng nhất là số lượng lao động đang làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế

Ba là, cơ cấu hàng xuất khẩu

Trong điều kiện của một nền kinh tế đang công nghiệp hoá, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu cũng được xem như một chỉ tiêu quan trọng đánh giá mức độ thành công của quá trình chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH Quy luật

Trang 40

phổ biến của quá trình CNH, HĐH (với phần lớn các nước đang phát triển hiện nay) là xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp, ở đó nông nghiệp chiếm tỷ

trọng lớn trong cơ cấu GDP và số lượng lao động làm nông nghiệp chiếm phần lớn nhất trong tổng lao động xã hội, và do đó trong tổng giá trị xuất khẩu ít ỏi mà họ có được, một phần rất lớn là sản phẩm nông nghiệp hoặc sản

phẩm công nghiệp khai thác ở dạng nguyên thô (chưa qua chế biến hoặc mới chỉ ở dạng sơ chế) Trong khi đó nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, công

nghệ, nguyên vật liệu phục vụ quá trình phát triển công nghiệp lại rất lớn nên tình trạng khan hiếm và thiếu hụt ngoại tệ là một điểm yếu mang tính kinh niên

Hầu hết các nước đã trải qua quá trình công nghiệp hoá để trở thành một nước công nghiệp phát triển đều cơ bản trải qua một mô hình chung trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu hàng xuất khẩu là: từ chỗ chủ yếu sản xuất và xuất khẩu hàng sơ chế sang các mặt hàng công nghiệp chế biến, lúc đầu là sản phẩm của công nghiệp chế biến sử dụng nhiều lao động, kỹ thuật thấp như dệt may, lắp ráp, chế biến nông - lâm - ngư nghiệp chuyển dần sang sản phẩm sử dụng nhiều công nghệ kỹ thuật cao như hoá chất, điện tử, cơ khí chế tạo…Chính

vì vậy, sự chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu, từ những mặt hàng sơ chế sang những loại sản phẩm chế biến dựa trên công nghệ kỹ thuật cao được xem như một trong những thước đo rất quan trọng để đánh giá mức độ thành công của CNH, HĐH Hơn nữa, đối với nhiều nước chậm phát triển, do những chỉ số tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia nhiều khi thấp hơn tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế nên

cơ cấu sản phẩm xuất khẩu (được thị trường quốc tế chấp nhận) sẽ là một tiêu

chí tốt để bổ sung đánh giá kết quả của quá trình chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH

Ngoài ra, có thể tập hợp rất nhiều tiêu chí có thể bổ trợ quan trọng khác như: nhóm chỉ tiêu về xã hội, nhóm chỉ tiêu về môi trường, quan hệ giữa khu vực sản xuất vật chất và khu vực phi sản xuất vật chất; giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp Mỗi tiêu chí nêu trên đều hàm chứa một ý nghĩa kinh tế nhất định trong việc phân tích quá trình chuyển dịch CCKT thời kỳ CNH, HĐH

Ngày đăng: 16/10/2018, 09:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w