ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠMLÊ HẢI NAM TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CHẤT KHÍ” VẬT LÝ 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA E- NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ HẢI NAM
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN
THỨC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG
“CHẤT KHÍ”
VẬT LÝ 10 TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA E-
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHAN GIA ANH VŨ
Trang 2Thừa Thiên Huế, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Tất
cả số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa được người kháccông bố trong bất cứ một công trình nghiên nào
HỌC VIÊN
LÊ HẢI NAM
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Phan Gia Anh Vũ
đã hết sức nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu vàhoàn thành luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Vật lý, phòng đào tạo Sauđại học, trường Đại học Sư Phạm, Đại học Huế; phòng đào tạo sau đại học, Đại học
An Giang đã quan tâm, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu, quý thầy cô đồng nghiệp và các em
HS trường THPT Bạc Liêu đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện việc nghiêncứu, điều tra và thực nghiệm sư phạm tại trường
Tháng 6 năm 2017 Tác giả luận văn
LÊ HẢI NAM
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu 9
3 Mục tiêu của đề tài 12
4 Giả thuyết khoa học 12
5 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 12
6 Đối tượng nghiên cứu 13
7 Phạm vi nghiên cứu 13
8 Phương pháp nghiên cứu 13
9 Cấu trúc luận văn 14
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA E-LEARNING .15
1.1 Hoạt động nhận thức 15
1.1.1 Khái niệm hoạt động nhận thức 15
1.1.2 Phân biệt HĐNT của nhà khoa học và HĐNT của HS 16
1.1.3 Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong dạy học Vật lý 19
1.2 Khái quát về e-Learning 23
1.2.1 Khái niệm 23
1.2.2 Đặc điểm của e-Learning 25
1.2.3 Các mô hình của e-Learning 27
1.2.4 Ưu và nhược điểm của e-Learning 27
Trang 61.2.5 Vai trò của e-Learning đối với việc tổ chức HĐNT vật lý 29
1.3 Giới thiệu hệ thống quản lý lớp học Google Classroom 30
1.3.1 Giới thiệu Google Classroom 30
1.3.2 Hướng dẫn sử dụng Google Classroom để quản lý lớp học 32
1.3.3 Hướng dẫn sử dụng Google Forms soạn câu hỏi trắc nghiệm, đề kiểm tra 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG CHẤT KHÍ - VẬT LÝ 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA E-LEARNING 39
2.1 Kiến thức cơ bản chương “Chất khí” Vật lý 10 THPT 39
2.2 Nghiên cứu thực trạng dạy học chương “Chất khí” Vật lý 10 THPT 43
2.2.1 Mục đích điều tra 43
2.2.2 Phương pháp điều tra 44
2.2.3 Kết quả điều tra (phụ lục 4) Căn cứ vào kết quả điều tra, người nghiên cứu có thể đưa ra một số kết luận sau: 44
2.3 Tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy học chương “Chất khí” với sự hỗ trợ của e-Learning 45
2.3.1 Cấu trúc lại nội dung chương “Chất khí” lớp 10 THPT 46
2.3.2 Thiết kế tiến trình tổ chức HĐNT nội dung chương “Chất khí” lớp 10 THPT 47
2.3.3 Nhận định chung về các bài soạn 62
KẾT LUẬN CHUƠNG 2 64
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 65
3.1 Mục đích, nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 65
3.1.1 Mục đích của TNSP 65
3.1.2 Nhiệm vụ của TNSP 65
3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 65
3.2.1 Đối tượng TNSP 65
3.2.2.Nội dung TNSP 66
3.3 Phương pháp TNSP 66
3.3.1 Chọn mẫu TN: 66
Trang 73.3.2 Quan sát giờ học 67
3.3.3 Các bài kiểm tra 67
3.4 Đánh giá kết quả TNSP 67
3.4.1 Đánh giá định tính 67
3.4.2 Đánh giá định lượng 69
3.4.3 Các tham số thống kê 71
3.4.4 Kiểm định giả thuyết thống kê 72
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm chất lượng học tập bộ môn của các lớp TN và ĐC 66
Bảng 3.2 Bảng thống kê điểm số (Xi) của bài kiểm tra 69
Bảng 3.3 Bảng phân phối tần suất 69
Bảng 3.4 Bảng phân phối tần suất luỹ tích 70
Bảng 3.5 Bảng phân phối theo loại học lực của HS 70
Bảng 3.6 Bảng các tham số thống kê của bài kiểm tra sau thực nghiệm 71
HÌNH Hình 3.1 Biểu đồ phân bố điểm của 2 nhóm TN và ĐC 69
Hình 3.2 Đồ thị phân bố tần suất 69
Hình 3.3 Đồ thị phân bố tần suất lũy tích 71
Hình 3.4 Biểu đồ phân loại học lực HS của hai nhóm TN và ĐC 71
SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 Sơ đồ tiến trình dạy học một kiến thức vật lí theo tiến trình xây dựng kiến thức vật lí .20
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ mô tả một cách tổng quát khái niệm e-Learning .24
Sơ đồ 1.3 Sơ đồ xây dựng hệ thống e-Learning hỗ trợ tiến trình tổ chức HĐNT trong dạy học vật lý .30
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay đã đặt ra cho các quốc gia nhiềuvận hội và thách thức; đặc biệt là khi nền kinh tế thế giới bước vào giai đoạn kinh tếtri thức Đặc điểm của nền kinh tế này là dịch vụ sẽ thu hút nhiều lao động tham gianhất và là những lao động có tri thức cao Sứ mệnh đặt ra cho các quốc gia là tạo ranguồn nhân lực có năng lực hành động, khả năng sáng tạo, linh hoạt, tính tráchnhiệm, năng lực cộng tác làm việc, Do đó hệ thống giáo dục quốc dân với tư cách
là bộ máy đào tạo nguồn nhân lực, đều được các nước chăm lo đầu tư nhằm đảmbảo cho việc cạnh tranh thắng lợi trong quá trình hội nhập.[12]
Để đáp ứng yêu cầu của xã hội đặt ra trong bối cảnh mới, ngành giáo dụcnước ta phải thực hiện đổi mới một cách đồng bộ về nội dung, phương pháp vàphương tiện dạy học Điều này đã được khẳng định và nhấn mạnh tại nghị quyết số29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trongđiều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế:
“Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời.”[7]
Điều 28- Luật giáo dục năm 2005 cũng đã khẳng định: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh (HS); phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.[9]
Mục tiêu giáo dục trong thời đại mới là không chỉ dừng lại ở việc truyền thụnhững kiến thức, kỹ năng có sẵn cho HS mà điều đặc biệt quan trọng là phải bồidưỡng cho họ năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, để từ đó có thể sángtạo ra những tri thức mới, phương pháp mới, cách giải quyết vấn đề mới, góp phần
Trang 11làm giàu thêm nền kiến thức của nhân loại Vì vậy việc dạy học nói chung và dạyhọc vật lý nói riêng cần phải đổi mới mạnh mẽ về nội dung và phương pháp, nhất làđổi mới phương pháp dạy và học sao cho vai trò tự chủ của HS trong hoạt động xâydựng kiến thức ngày một nâng cao, để từ đó năng lực sáng tạo của họ được bộc lộ
và ngày càng phát triển Để đạt được điều đó, trong quá trình dạy học ở trường phổthông cần phải tổ chức sao cho HS được tham gia vào quá trình hoạt động nhậnthức phỏng theo hoạt động của các nhà khoa học, qua đó ngoài việc có thể giúp HStrang bị kiến thức cho mình, đồng thời còn cho họ được tập luyện hoạt động sángtạo khoa học, rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề để sau này họ đáp ứng đượcnhững đòi hỏi cao trong thời kỳ mới [16]
Để đạt được mục tiêu giáo dục, chiến lược dạy học, phương pháp dạy họcmới hiện nay được xây dựng trên tinh thần dạy học giải quyết vấn đề thông qua việc
tổ chức cho HS hoạt động tự chủ chiếm lĩnh kiến thức mà cơ sở của nó là hai lýthuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget (1896-1980) và Lép Vưgôtski (1896-1934) Việc học tập của HS có bản chất hoạt động, thông qua hoạt động của bảnthân mà chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển năng lực trí tuệ cũng nhưquan điểm đạo đức, thái độ Như vậy, dạy học là dạy hoạt động Trong quá trìnhdạy học, HS là chủ thể nhận thức, Quan điểm hiện đại của dạy học vật lý giáo viên(GV) có vai trò tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học tập của HS theo mộtchiến lược hợp lý sao cho HS tự chủ chiếm lĩnh, xây dựng tri thức Quá trình dạyhọc các tri thức thuộc một môn khoa học cụ thể được hiểu là quá trình hoạt độngcủa GV và của HS trong sự tương tác thống nhất biện chứng của ba thành phầntrong hệ dạy học bao gồm: GV, HS và tư liệu hoạt động dạy học [18]
Việc đổi mới phương pháp dạy học (ĐMPPDH) trong bất kì giai đoạn nàocũng đều cần sử dụng đến công nghệ, và hiện nay là sự hỗ trợ của công nghệ thôngtin (CNTT) Với sự đa dạng hóa ngày càng nhiều các loại hình đào tạo cũng như cáchình thức tổ chức dạy học, CNTT đã cung cấp một phương thức mới trong dạy học,
đó là e-Learning E-Learning có thể bổ sung và hỗ trợ cho các phương thức đào tạotruyền thống, góp phần hiện đại hoá, nâng cao chất lượng dạy học và đáp ứng đượcnhững yêu cầu của ĐMPPDH
Trang 12Trong xã hội hiện đại, với sự phát triển như vũ bão, cuộc cách mạng khoahọc - công nghệ đã đưa con người bước lên một tầm cao mới về tri thức, đưa thếgiới từ nền văn minh công nghiệp sang nền văn minh thông tin, truyền thông, sảnsinh ra một lượng kiến thức khổng lồ trong một khoảng thời gian ngắn Hệ quả trựctiếp của nó trong nhà trường là sự mâu thuẫn về thời gian và lượng kiến thức cầntruyền đạt trong một tiết học Do đó việc cốt yếu của ĐMPPDH là phải tạo sự tự tincho người học Dạy học trong thời đại công nghệ truyền thông phát triển mạnh mẽnhư ngày nay, vai trò của người thầy là hướng dẫn để người học tự chiếm lĩnh kiếnthức, là tạo điều kiện thuận lợi, sẵn sàng cho việc chia sẻ tài liệu học tập trên cácphương tiện truyền thông chứ không còn nguồn thông tin một chiều và duy nhấttrong kiểu dạy học “thầy đọc - trò chép” như trước đây.
Tầm quan trọng của giáo dục và khoa học công nghệ đã được văn kiện Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ XII - 2016 đã xác định: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ; phát huy vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước” [8]
Trước đó, trong chỉ thị 58/CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh ứng dụng
và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ của Bộ Giáo dục và Đào tạo là: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) - trong giáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học” [6]
Và gần đây, trong nghị quyết số 26/NQ-CP ban hành ngày 15/4/2015 của
Chính phủ về “Ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế”, đã nhấn mạnh nhiệm vụ của Bộ Giáo dục và Đào tạo là: “Chỉ đạo, lồng ghép nội dung về ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin trong tổ chức triển khai các nhiệm vụ liên quan đến chương trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” [5]
Trang 13Bộ Giáo dục và đào tạo đã thể hiện nhiều động thái khuyến khích việc sửdụng CNTT trong dạy học, đưa các kiến thức về e-Learning tới những cán bộ quản
lí, nhà giáo, những người quan tâm đến giáo dục, HS-SV Cụ thể gần nhất là côngvăn số 4622/BGDĐT-CNTT ngày 20/9/2016 của Bộ giáo dục và đào tạo về việchướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2016 – 2017 có ghi rõ nhiệm vụ
trọng tâm là “Ứng dụng CNTT đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, gồm: sử dụng hiệu quả các thiết bị, phần mềm dạy học, thí nghiệm ảo, phần mềm mô phỏng; ứng dụng một cách có hiệu quả hệ thống ứng dụng dạy – học thông minh, hiện đại
ở những nơi có điều kiện; ứng dụng kho bài giảng e-Learning, sách điện tử, sách giáo khoa điện tử đổi mới phương pháp dạy – học; ứng dụng hệ thống đánh giá người học trực tuyến ” [4]
E-Learning chính là chất xúc tác đang làm thay đổi toàn bộ mô hình học tậptrong thế kỉ này cho người học.Với e-Learning, GV có thể cung cấp các hình ảnh,các video clip, các bài giảng điện tử, các phần mềm thí nghiệm, bài kiểm tra, bài thi,bài tập tham khảo và tư vấn cho người học những khó khăn trong học tập, … cònngười học có thể chủ động học tập, nghiên cứu và làm các bài tập, thi trắc nghiệm,tìm kiếm thông tin, tham gia vào việc thảo luận của lớp, chia sẻ việc học của mìnhvới bạn bè, trao đổi ý tưởng với GV,… Ngoài ra các tài liệu trong e-Learning đượcliên kết chặt chẽ, dễ tìm kiếm do đó rất thuận lợi cho việc ĐMPPDH của GV đồngthời cũng dễ dàng cho người học chủ động tìm kiếm kiến thức, rèn luyện khả năng
tự học của mình [14]
E-Learning thực sự đã trở nên cần thiết trong nền kinh tế tri thức hiện nay vàđòi hỏi phải được tiếp tục phát triển hơn nữa Xuất phát những lí do trên cùng vớimong muốn có thể góp một phần công sức nhỏ bé vào việc đổi mới phương phápgiảng dạy - học tập của thầy và trò các trường phổ thông, người nghiên cứu thực
hiện đề tài: Tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy học chương “Chất khí” Vật
lý 10 Trung học Phổ thông với sự hỗ trợ của e-Learning.
2 Lịch sử nghiên cứu
Việc tổ chức các hoạt động nhận thức trong dạy học nói chung, trong bộ mônVật lý nói riêng và việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong tổ chức các
Trang 14hoạt động nhận thức đã được rất nhiều các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu xuấtbản thành sách cụ thể như:
- Lê Công Triêm và Nguyễn Đức Vũ, 2006 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Huế: NXB Giáo dục.
- Nguyễn Đức Thâm và Nguyễn Ngọc Hưng, 1999 Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong dạy học Vật lý ở trường phổ thông Hà Nội: NXB ĐHQG.
- Phạm Xuân Quế, 2007 Ứng dụng CNTT trong tổ chức hoạt động nhận thức Vật lí tích cực chủ động và sáng tạo Hà Nội: NXB ĐHSP
Bên cạnh đó cũng có rất nhiều luận án, luận văn đề cập đến vấn đề này có thểnêu ra một số ví dụ như:
- Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Nhi với đề tài “Tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, tự lực cho HS trong dạy học một số kiến thức phần cơ học, điện học Vật lý lớp 10, 11 (nâng cao) với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin” đã tiến
hành phân tích nội dung kiến thức phần cơ học, điện học, nghiên cứu sử dụng một
số phần mềm dạy học crocodile physics, flash …, soạn thảo một số tiến trình dạyhọc các kiến thức cụ thể với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin theo hướng tăngcường tính tích cực, tự lực cho học sinh
- Luận án Tiến sĩ của tác giả Trần Thanh Bình với đề tài “Nghiên cứu xây dựng và sử dụng hệ thống e-Learning vào dạy học phần "dao động cơ và sóng cơ" Vật lý 12 Trung học Phổ thông” đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây
dựng và sử dụng hệ thống e-Learning vào dạy học vật lý theo hướng tổ chức hoạtđộng nhận thức tích cực cho học sinh trung học phổ thông, đặc biệt ứng dụng trongdạy học phần "dao động cơ và sóng cơ" vật lý
- Luận án Tiến sĩ của tác giả Phan Gia Anh Vũ với đề tài: “Nghiên cứu xây dựng và sử dụng phần mềm dạy học cho chương trình động học và động lực học lớp
10 phổ thông trung học” làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận của việc đưa máy tính vào
giáo dục phổ thông Tham gia vào việc phát triển và việt hóa toàn bộ phần mềmPAKMA và thiết kế thêm 12 modun phần mềm và hai mô hình dùng với PAKMAtrong các thí nghiệm động học và động lực học Đề xuất tiến trình dạy học phần độnghọc và động lực học lớp 10 THPT có sử dụng máy tính làm phương tiện dạy học
Trang 15Tác giả Mai Văn Trinh với đề tài “Nâng cao hiệu quả dạy học vật lí ở trường THPT nhờ việc sử dụng máy vi tính và các phương tiện dạy học hiện đại”,
đã xây dựng một số phần mềm vật lí nhằm mô phỏng, minh họa cho các hiện tượngVật lí thuộc phần quang hình và động học
Trong luận án: “Nghiên cứu cách sử dụng thí nghiệm với sự hỗ trợ của máy
vi tính trong dạy học một số kiến thức cơ học và nhiệt học THPT”, tác giả Trần Huy
Hoàng đã sử dụng máy vi tính để tạo ra các thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng vàthiết kế tiến trình dạy học cho một số bài thuộc phần cơ học và nhiệt học lớp 10
- Luận văn của Vũ Thuý Hằng, “Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS với sự
hỗ trợ của công nghệ thông tin trong dạy học chương “Quang học” Vật lí lớp 7 tạitrường Đại học Sư phạm Huế năm 2005
Gần đây, đã có một số tác giả nghiên cứu về e-Learning như: Đỗ Thị Hương
Giang “Tổ chức dạy học chương Từ trường Vật lí 11 nâng cao THPT với sự hỗ trợ của e-Learning”, luận văn thạc sĩ Tác giả đã nghiên cứu về e-Learning và đi sâu
khai thác phần mềm Exe để soạn bài giảng chương từ trường với sự hỗ trợ của hệthống quản lí học tập mã nguồn mở Moodle Nguyễn Văn Nghiêm với sáng kiến
kinh nghiệm (2009) “Nghiên cứu triển khai ứng dụng e-Learning bằng hệ thống quản lí học tập trực tuyến - Moodle”, đã giới thiệu về cách sử dụng và khai thác các tính năng của Moodle Lê Thanh Huy “Vận dụng e-Learning vào dạy học phần Nhiệt học - Vật lí 10 nâng cao THPT”, luận văn thạc sĩ, đã xây dựng hệ thống quản
lí học tập dựa trên mã nguồn mở Moodle
Tháng 4 năm 2004, trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế đã tổ chức hộithảo “Đổi mới phương pháp dạy học với sự tham gia của thiết bị kĩ thuật” Tronghội thảo, những nhà quản lí giáo dục, những nhà khoa học đã trao đổi kinh nghiệm
về sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại trong dạy - học nói chung nhằm nângcao tính tích cực, chủ động của người học và sử dụng các phương tiện kĩ thuật tronggiảng dạy các môn học cụ thể Có các bài viết đáng chú ý là của Nguyễn MạnhCường về Sử dụng công nghệ thông tin - viễn thông để nâng cao hiệu quả dạy - học
và đổi mới phương thức đào tạo; Trần Huy Hoàng về ứng dụng công nghệ thông tin
Trang 16vào đổi mới phương pháp giảng dạy Vật lí; và Lê Công Triêm, Vương Đình Thắng
về xây dựng Website dạy học Vật lí lớp 6
Năm 2008, trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tổchức hội thảo “Đào tạo trực tuyến trong nhà trường Việt Nam” Nội dung các bàibáo cáo trong hội thảo đã trình bày về kinh nghiệm của việc tổ chức quản lí, đầu tư
sử dụng thiết bị và phần mềm trong đào tạo trực tuyến; trao đổi kinh nghiệm về môhình đào tạo trực tuyến của các trường; những giải pháp thực hiện đào tạo tuyếntrong thời kì phát triển, đổi mới giáo dục
Như vậy, có thể nói là đã có nhiều tác giả nghiên cứu về các hình thức tổchức hoạt động nhận thức và ứng dụng e-Learning trong dạy học ở Việt Nam Tuynhiên các đề tài nghiên cứu này chỉ tập trung khai thác một số phần khác nhau trongchương trình Vật lí phổ thông và chưa có tác giả nào tập trung nghiên cứu tổ chứchoạt động nhận thức trong dạy học chương “Chất khí” Vật lý 10 THPT với sự hỗtrợ của e-Learning Đặc biệt là chưa có tác giả nào nghiên cứu sử dụng hệ thốngquản lý học tập Google Classroom để tổ chức khóa học và quản lý HS
3 Mục tiêu của đề tài
Thiết kế và tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy học chương “Chất khí”Vật lý 10 Trung học Phổ thông với sự hỗ trợ của e-Learning nhằm phát triển đượcnăng lực nhận thức của HS góp phần đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Vật lý
4 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế và tổ chức được các hoạt động nhận thức trong dạy học chương
“Chất khí” Vật lý 10 Trung học Phổ thông với sự hỗ trợ của e-Learning thì sẽ pháttriển được năng lực nhận thức của học sinh góp phần đổi mới phương pháp dạy học
và qua đó sẽ nâng cao chất lượng dạy - học môn Vật lí
5 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức hoạt động nhận thứctrong dạy học vật lý ở trường phổ thông
- Nghiên cứu thực trạng của việc tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy học
chương “Chất khí” Vật lý 10 Trung học Phổ thông với sự hỗ trợ của e-Learning.
Trang 17- Nghiên cứu đề xuất quy trình tổ chức hoạt động nhận thức trong dạyhọc vật lý với sự hỗ trợ của e-Learning.
- Nghiên cứu nội dung, đặc điểm chương “Chất khí” Vật lý 10 THPT.
- Tìm hiểu chương trình quản lý học tập Google Classroom
- Soạn thảo tiến trình tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy học cho một số
bài học cụ thể chương “Chất khí” Vật lý 10 Trung học Phổ thông với sự hỗ trợ của
e-Learning
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở các lớp 10CB, 10CC trường THPT BạcLiêu để đánh giá kết quả và rút ra kết luận
6 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy học chương Chất khí - Vật lí 10 THPT với sự hỗ trợ của Learning
e-7 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy họcchương Chất khí - Vật lí 10 THPT với sự hỗ trợ của e-Learning được quản lý bằngGoogle Classroom và tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT Bạc Liêu
8 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học; các tài liệu về tổchức hoạt động nhận thức trong dạy học
- Nghiên cứu các tài liệu về phương pháp giảng dạy Vật lí
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa Vật lí 10 THPT
- Nghiên cứu các đề tài, tài liệu liên quan đến e-Learning
- Nghiên cứu tài liệu về Google Classroom
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Trao đổi với GV, người học để tìm hiểu thực trạng của việc tổ chức cáchoạt động nhận thức và ứng dụng công nghệ thông tin nói chung và hình thức dạyhọc e-Learning nói riêng trong dạy học vật lí hiện nay
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Trang 18- Tiến hành thực nghiệm ở trường phổ thông để đánh giá hiệu quả của việc tổchức các hoạt động nhận thức trong dạy học, sự hỗ trợ của bài giảng e-Learning vàđưa ra các giải pháp tương ứng.
- Dạy thực nghiệm một số tiết theo hướng tổ chức các hoạt động nhận thức
có sự hỗ trợ của e-Learning
Phương pháp thống kê toán học
- Ứng dụng thống kê toán học để xử lí số liệu và trình bày các kết quả thựcnghiệm sư phạm
9 Cấu trúc luận văn
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
NHẬN THỨC TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA LEARNING
E-CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN
THỨC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG CHẤT KHÍ - VẬT LÝ 10 TRUNG HỌCPHỔ THÔNG VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA E-LEARNING
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 19NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ
VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA E-LEARNING
1.1 Hoạt động nhận thức
1.1.1 Khái niệm hoạt động nhận thức [18],[20],[21]
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người baogồm nhận thức, tình cảm và hành động Trong đó nhận thức là tiền đề và đồng thời
có quan hệ chặt chẽ với hai mặt tình cảm, hành động và các hiện tượng tâm lý khác
Nhận thức là một quá trình Ở con người, quá trình này thường gắn với mụcđích nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động Đặc trưng nổi bậtnhất của HĐNT là phản ánh hiện thực khách quan Hoạt động này bao gồm nhiềuquá trình khác nhau, thể hiện những mức độ phản ánh hiện thực khác nhau và manglại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan Trong việc nhận thức thếgiới, con người có thể đạt tới mức độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơngiản đến phức tạp Căn cứ vào mức độ phản ánh có thể chia HĐNT thành hai giaiđoạn lớn đó là giai đoạn nhận thức cảm tính và giai đoạn nhận thức lý tính
Giai đoạn nhận thức cảm tính là giai đoạn nhận thức đầu tiên, là mức độnhận thức thấp nhất của con người Nhận thức cảm tính mới chỉ phản ánh đượcnhững thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác độngđến chúng ta Trong nhận thức cảm tính có hai mức độ cảm giác và tri giác Trong
đó, cảm giác là hình thức phản ánh tâm lý khởi đầu, là hình thức định hướng đầutiên của cơ thể trong thế giới Cảm giác là hình thức phản ánh thấp nhất, tri giác làhình thức phản ánh cao hơn trong cùng một bậc thang nhận thức cảm tính Cảm giác
và tri giác có mối quan hệ chặt chẽ và chi phối lẫn nhau trong mức độ nhận thức
“trực quan sinh động” về thế giới
Nhận thức cảm tính có vai trò quan trọng trong đời sống con người, nhưng
nó mới chỉ là sự phản ánh trực tiếp trong hiện tại, phản ánh bằng mắt thấy, tai nghe,phản ánh thuộc tính bề ngoài… Vậy còn quá khứ và tương lai như thế nào, thuộctính bên trong, thuộc tính chung của sự vật hiện tượng ra sao? Muốn biết được điều
Trang 20đó con người phải có quá trình nhận thức cao hơn đó là nhận thức lý tính Nhậnthức lý tính bao gồm tư duy và tưởng tượng, trong đó con người phản ánh được cácthuộc tính bản chất bên trong, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của các
sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan Trong thực tiễn hoạt động của conngười, tư duy và tưởng tượng có mối quan hệ chặt chẽ, kết hợp và bổ sung cho nhautrong giải quyết một tình huống có vấn đề Khi tình huống có vấn đề chưa hoàn toànsáng tỏ, thiếu những thông tin cần thiết, khó có thể dùng tư duy để giải quyết được,thì tưởng tượng giúp tư duy “nhảy cóc” qua một vài giai đoạn nào đó Tưởng tượngđịnh hướng cho tư duy, đi trước vạch đường cho tư duy Ngược lại, nhờ tư duy màtưởng tượng của con người mang tính khách quan, giảm bớt sự bất hợp lý, thiếuchặt chẽ vốn là những điểm yếu của tượng tượng
Hai giai đoạn nhận thức nêu trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và tácđộng lẫn nhau Dựa trên các dữ liệu cảm tính, con người thực hiện các thao tác phântích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa để rút ra những tính chất chủyếu của đối tượng nhận thức và xây dựng thành những khái niệm
Như vậy, HĐNT không dừng lại ở sự phản ánh và tái tạo hiện thực kháchquan vào trong tư duy con người mà còn thực hiện các phép suy luận để rút ranhững kết luận mới trong thực tiễn Nhờ thế mà tư duy luôn được sáng tạo, có thể
mở rộng sự hiểu biết của con người và vận dụng những hiểu biết đó vào việc cải tạothế giới khách quan, phục vụ lợi ích của con người
V.I Lênin đã tổng kết mối quan hệ này thành qui luật của hoạt động nhậnthức nói chung như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duytrừu tượng đến thực tiễn đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của
sự nhận thức hiện thực khách quan.” [18, tr 8]
1.1.2 Phân biệt HĐNT của nhà khoa học và HĐNT của HS: [18, tr.28]
Trong quá trình dạy học, muốn thành công trong việc tổ chức HĐNT của HSphỏng theo HĐNT của các nhà khoa học, chúng ta cần phải xem xét kỹ sự khác biệtgiữa quá trình hoạt động của HS trong học tập và quá trình sáng tạo của các nhàkhoa học trong đó cần chú ý sự khác biệt rất lớn giữa HS và các nhà khoa học vềđặc điểm tâm sinh lý cũng như điều kiện làm việc
Trang 21HĐNT của nhà khoa học chính là hình thái cao nhất của HĐNT Đó là quátrình phản ánh tự giác, tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của con người thôngqua thực tiễn; nhằm đạt tới hệ thống tri thức đúng đắn về tự nhiên, xã hội và cáclĩnh vực cụ thể khác, nâng cao khả năng tư duy và hiệu quả hoạt động thực tiễn củacon người HĐNT của nhà khoa học không chỉ có cấu trúc phức tạp mà còn cónhững đặc trưng riêng so với HĐNT thông thường, cụ thể ở:
- Tính khách quan, thông qua một quá trình được định hướng tự giác, tíchcực, sáng tạo nhằm tiếp cận chân lý;
- Tính hệ thống, có luận cứ và sự sáng tạo tri thức khoa học mới;
- Đòi hỏi yêu cầu cao về tính trừu tượng hoá, khái quát hoá và cụ thể hoá
- Yêu cầu cao trong sử dụng ngôn ngữ, phương pháp và phương tiện
- Có mối liên hệ chặt chẽ với thực tiễn và thực nghiệm
Quá trình truyền đạt và lĩnh hội tri thức của con người cho thế hệ sau đượcgọi là quá trình dạy học, mà trong thời đại ngày nay, quá trình dạy học không chỉdừng lại ở việc cho và nhận kiến thức mà đã được nâng cao trở thành quá trình tổchức HĐNT cho HS HĐNT của HS diễn ra trong môi trường sư phạm, có sựhướng dẫn, tổ chức, điều khiển của GV Do vậy, nó không lặp lại toàn bộ quá trìnhnhận thức của nhà khoa học, do đó, tránh được những bước đường quanh co, nhữngsai lầm trong nhận thức Có thể tóm tắt sự giống và khác nhau khái quát giữaHĐNT của nhà khoa học và HĐNT của HS như sau:
Giống nhau:
+ Cùng là hoạt động phản ánh thế giới khách quan vào ý thức của con người.Với tư cách là một thực thể xã hội có ý thức, con người có khả năng thu đượcnhững phản ánh khách quan về nội dung, chủ quan về hình thức (cùng một vấn đềnhưng mỗi cá nhân nhận thức ở mức độ khác nhau, bình diện khác nhau…)
+ Về cơ bản, cũng diễn ra theo quy luật nhận thức chung của loài người đượcphản ánh trong công thức nổi tiếng của Lênin “Từ trực quan sinh động đến tư duytrừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng duy nhấtcủa sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan” Những yếu tố trực quannhư các sự vật hiện tượng có thật, các mô hình, tranh ảnh, ngôn ngữ (nói và viết)…
sẽ được chủ thể (HS, nhà khoa học) xây dựng nên những biểu tượng về chúng ở
Trang 22trong đầu Đây là những tài liệu cảm tính, là cơ sở để chủ thể tiến hành các hoạtđộng nhận thức tiếp theo Từ những tài liệu cảm tính này, nhờ các thao tác tư duy,chủ thể nhận thức sẽ hình thành nên các khái niệm.
+ Trong quá trình nhận thức, cả HS và nhà khoa học, muốn nhận thức đầy đủmột vấn đề, một sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, cần phải huy độngcác thao tác tư duy (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, phán đoán, suy lý…) ởmức độ cao nhất Việc huy động các thao tác tư duy cũng không theo một trình tựđơn thuần mà đó là một sự phối hợp sáng tạo tùy thuộc vào mỗi cá nhân
+ Kết quả nhận thức HS và của nhà khoa học đều có điểm chung là: nó làmcho vốn hiểu biết của chủ thể tăng lên Sau mỗi một giai đoạn nhận thức, vốn hiểubiết của chủ thể tăng lên nhờ sự tích lũy những tri thức, hình thành những kinhnghiệm mới trong quá trình nhận thức của mình
Khác nhau:
- Phải tìm ra cái mới, giải pháp mới mà
trước đó loài người chưa hề biết đến
Diễn ra theo con đường mò mẫm, thử
- Tìm ra cái mới cho bản thân từ kiến thức
đã biết của nhân loại HS tự "khám phálại" các kiến thức để tập làm công việckhám phá đó trong hoạt động thực tiễn saunày, không phải mò mẫm, thử và sai
- Chỉ có thời gian rất ngắn trên lớp
- Chỉ có những thiết bị đơn giản trongđiều kiện của trường phổ thông
Qua phân tích sự giống nhau và khác nhau trong HĐNT của HS và nhà khoahọc, ta có thể nhận thấy HĐNT của HS là một quá trình vô cùng độc đáo, phức tạpđòi hỏi người GV phải có khả năng tổ chức các HĐNT một cách chủ động, linh hoạt,sáng tạo, phù hợp với từng đối tượng HS, từng nội dung cần nhận thức và các phươngtiện hỗ trợ tổ chức HĐNT … nhằm đáp ứng được các yêu cầu giáo dục trong thời đạimới phát huy cao độ vai trò tích cực, chủ động ở HS để giúp họ tự giác tạo ra nhữngthay đổi tích cực và phát triển hợp quy luật bên trong chính bản thân HS
1.1.3 Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong dạy học Vật lý [18]
Trang 23Mục tiêu giáo dục trong thời đại ngày nay không chỉ dừng lại ở việc truyềnthụ những kiến thức, kỹ năng cho HS mà điều đặc biệt quan trọng là phải bồi dưỡngcho họ năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, để từ đó có thể sáng tạo ranhững tri thức mới, phương pháp mới, cách giải quyết vấn đề mới, góp phần làmgiàu thêm nền kiến thức của nhân loại.
Theo Vưgôtxki thì: “Dạy học được coi là tốt nhất nếu nó đi trước sự pháttriển và kéo theo sự phát triển” Cơ sở của quan điểm này là lý thuyết “vùng pháttriển gần nhất” do ông đề xướng Theo ông, trình độ ban đầu của HS tương ứng với
“vùng phát triển hiện tại” Trình độ này cho phép HS có thể thu được những kiếnthức gần gũi nhất với kiến thức cũ để đạt được trình độ mới cao hơn Vưgôtxki gọi
đó là “vùng phát triển gần nhất” Khi HS đạt tới vùng phát triển gần nhất nghĩa làcác em đang ở “vùng phát triển hiện tại” mới ở trình độ cao hơn Sau đó thầy giáolại tiếp tục tổ chức và giúp đỡ HS đưa HS tới “vùng phát triển gần nhất” mới để sau
đó nó lại trở thành “vùng phát triển hiện tại” Cứ tiếp tục như vậy sự phát triển của
HS đi từ nấc thang này đến nấc thang khác cao hơn
Thừa nhận lý thuyết “vùng phát triển gần nhất” của Vưgôtxki cũng có nghĩaphải tích cực hoá HĐNT của HS Đó là một biện pháp không thể thiếu được trongquá trình dạy học Một sự gợi ý khéo léo có tính chất gợi mở của GV sẽ có tác dụngkích thích tính tự lực và tư duy sáng tạo của HS, lôi kéo họ chủ động tham gia vàoquá trình dạy học một cách tích cực, tự giác J Piaget đã kết luận: “Người ta khônghọc được gì hết, nếu không phải trải qua sự chiếm lĩnh bằng hoạt động, rằng HSphải phát minh lại khoa học, thay vì nhắc lại những công thức bằng lời của nó”
Để có thể tích cực hóa HĐNT của HS, việc dạy học nói chung và dạy học vật
lý nói riêng cần phải đổi mới mạnh mẽ về nội dung và phương pháp, nhất là đổi mớiphương pháp dạy và học sao cho vai trò tự chủ của HS trong hoạt động xây dựngkiến thức ngày một nâng cao, để từ đó năng lực sáng tạo của họ được bộc lộ vàngày càng phát triển Để đạt được điều đó, trong quá trình dạy học ở trường phổthông người GV cần phải tổ chức sao cho HS được tham gia vào quá trình HĐNTphỏng theo quá trình HĐNT của các nhà khoa học, qua đó ngoài việc có thể giúp
HS trang bị kiến thức cho mình, đồng thời còn cho họ được tập luyện hoạt động
Trang 24KẾT QUẢ GIẢI TOÁN
KẾT QUẢ KIỂM CHỨNG
(qui nạp giả thuyết)
sáng tạo khoa học, rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề để sau này họ đáp ứng đượcnhững đòi hỏi cao trong thời kỳ mới
Với đặc thù của bộ môn Vật lý là một môn khoa học nghiên cứu về cấu trúc,tính chất và các hình thức biến đổi cơ bản nhất của vật chất Quá trình nhận thức vật
lý diễn ra khá phức tạp, cùng một lúc phải vận dụng nhiều phương pháp của riêng
bộ môn vật lý cũng như phương pháp của các khoa học khác Muốn HĐNT vật lý
có kết quả trước hết phải quan tâm đến việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo thực hiệncác thao tác trên Bên cạnh đó phải có phương pháp suy luận, có khả năng tư duytrừu tượng, tư duy logic, tư duy sáng tạo…Tiến trình định hướng HĐNT của HStheo tiến trình HĐNT khoa học một kiến thức vật lí được tác giả Nguyễn MạnhHùng diễn tả qua sơ đồ như sơ đồ 1.1:
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ tiến trình dạy học một kiến thức vật lí theo tiến trình xây dựng
kiến thức vật lí [13]
Theo sơ đồ 1.1 thì tiến trình tổ chức HĐNT một kiến thức vật lí gồm các giaiđoạn cơ bản sau:
Trang 25Giai đoạn 1: Tạo ra cho HS một tình huống mở đầu (xuất phát từ thực tiễn
hoặc từ khảo sát các mô hình kiến thức đã có) Tình huống này đặt ra vấn đề (câuhỏi) thực tiễn hoặc lí thuyết cần giải quyết Công cụ để giải quyết vấn đề đó là kiếnthức cần xây dựng Tình huống này tập cho HS hành động phát hiện vấn đề và tạođộng cơ nhận thức, kích thích HS hứng thú tích cực tư duy và cho HS nhận thấyđược vai trò công cụ của các kiến thức là chúng xây dựng nhằm mục đích giải quyếtmột vấn đề thực tiễn hoặc lí luận Nhưng phạm vi của tình huống này tương đốirộng nên thường HS chưa tìm được giải pháp để giải quyết vấn đề Tuy nhiên, trongmột số trường hợp có thể bỏ qua tình huống mở đầu
Giai đoạn 2: Tạo ra tình huống vật lí cơ bản Tình huống này dẫn đến vấn đề
(câu hỏi) nhằm trúng kiến thức cần xây dựng (câu trả lời chính là kiến thức cần xâydựng) Đây là một vấn đề mà HS chưa có đủ dữ kiện để giải quyết Việc tìm kiếm
dữ kiện để giải là hành động dự đoán giải pháp tìm tòi xây dựng kiến thức mới Nó
có tác dụng chỉ ra mục đích của hành động làm cho HS tự hành động và hành động
có sáng tạo để đi xây dựng kiến thức mới
Giai đoạn 3: Tình huống được đặt ra với hình thức gọi là “bài toán”, nó bổ
sung dữ kiện còn thiếu cho vấn đề cơ bản ở trên Hình thức của nó là một bài toán
có dữ kiện và yêu cầu tìm kiếm Tình huống này dẫn HS đến hành động giải các bàitoán thực tiễn Đến bước này, HS đã có đủ dữ kiện đã cho tường minh rồi, chỉ cầnthêm sự nổ lực của cá nhân và sự sáng tạo trong phạm vi nhất định thì họ sẽ tự mìnhtìm ra được lời giải cho bài toán Khái quát hóa kết quả bài toán vừa giải để trởthành kiến thức mới
Giai đoạn 4: Tạo tình huống vật lí kiểm chứng Kiến thức được khái quát hóa
từ kết quả của bài toán vừa giải cần phải được kiểm chứng bằng sự phù hợp giữa líthuyết và thực nghiệm.Và kết quả sau khi kiểm chứng sẽ dẫn đến kiến thức đượcgọi là “hợp thức hóa” Ở bước này có hai giai đoạn:
- Bước 1: GV tạo tình huống để HS có thể thiết lập phương án kiểm chứng.
Tình huống này thể hiện dưới hình thức “bài toán phương án kiểm chứng", nó cungcấp cho HS mục đích, phương tiện kiểm chứng và yêu cầu thiết kế các phương ánkhác nhau Ở giai đoạn này lại có hai bài toán đó là bài toán lí thuyết (tìm điều cần
Trang 26kiểm chứng) và bài toán thực hành (tìm phương án kiểm chứng) Nghĩa là HS phải
đi tìm điều cần kiểm chứng và phương án kiểm chứng
- Bước 2: HS thực hiện hành động thực hành kiểm chứng và nhận xét về sự
phù hợp giữa điều phải kiểm chứng với kết quả thực nghiệm Từ đó rút ra kết luận
về kiến thức mới
Giai đoạn 5: Cung cấp các bài tập vận dụng kiến thức đã được hợp thức hóa.
Việc này vừa cho thấy vai trò công cụ của kiến thức là giải thích, tiên đoán thựctiễn, vừa là bước kiểm tra tiếp tục các kiến thức mới [15]
Ứng với các bước trên là các tình huống chính Việc cung cấp các dữ kiệnđược tiến hành từng bước, tạo ra các tình huống phụ, các tình huống này được tổchức một cách linh hoạt và phụ thuộc vào đối tượng HS, vào từng kiến thức cụ thể
Dữ kiện bổ sung có thể thu thập được từ quan sát, thực nghiệm, từ các kiến thức đã
có và có khi là một hệ tiên đề được xây dựng nhờ trực giác,
Vậy để có thể tổ chức tốt HĐNT cho HS theo hướng tích cực, người nghiêncứu chọn cách xây dựng kiến thức vật lí mô phỏng theo tiến trình khoa học xây dựngmột kiến thức vật lí; phối hợp các kiểu định hướng từ mức độ cao nhất là định hướngsáng tạo, đến mức độ thấp hơn là khái quát chương trình hóa và làm mẫu, tái tạo Tuynhiên, do đặc điểm của đối tượng là HS nên người nghiên cứu chỉ có thể đặt yêu cầuhành động tìm tòi sáng tạo ở một số khâu cơ bản của quá trình HĐNT như phát hiệnvấn đề, dự đoán giải pháp giải quyết vấn đề, lập phương án kiểm chứng Chủ yếungười nghiên cứu sẽ sử dụng kiểu định hướng chương trình hóa, làm mẫu, tái tạo chocác giai đoạn còn lại Như vậy, sẽ đảm bảo tất cả đối tượng HS có thể tích cực thamgia vào HĐNT trên lớp Trong trường hợp kiểu định hướng sáng tạo không dẫn HStham gia vào HĐNT, thì người nghiên cứu sẽ có những phương án để chuyển sangcác kiểu định hướng khác Muốn thực hiện được điều đó, bản thân phải chuẩn bịnhiều tình huống có vấn đề đưa ra cho HS tích cực tham gia vào hoạt động Ứng vớimỗi tình huống sẽ có các hành động học tập thông thường hay sáng tạo thích hợp như: phát hiện vấn đề, dự đoán giải pháp giải quyết vấn đề, tìm kiếm phương án kiểmchứng kiến thức vừa xây dựng, hành động giải toán, phát biểu: định nghĩa, ý nghĩavật lí của đại lượng vật lí hay định luật vật lí , thảo luận nhóm, tiến hành thí nghiệm,
từ giả thuyết suy ra một hệ quả, giải thích một hiện tượng thực tế, quan sát, nhận biếtdấu hiệu đặc trưng của sự vật hiện tượng, mô hình hóa những sự kiện thực tế quan sát
Trang 27được dưới dạng những khái niệm, đo một đại lượng vật lí, đánh giá kết quả hànhđộng, vận dụng kiến thức để giải bài tập.
1.2 Khái quát về e-Learning [11], [17]
Trong những năm gần đây, cùng với sự bùng nổ của Internet và những pháttriển vượt bậc của ngành Công nghệ Thông tin, việc áp dụng những thành tựu mớivào các lĩnh vực trong cuộc sống con người trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn.Trong giáo dục và đào tạo, các hình thức đào tạo e-Learning được nhắc đến nhưmột phương thức đào tạo cho tương lai, hỗ trợ đổi mới nội dung cũng như phươngpháp dạy và học E-Learning thay đổi cách thức dạy và học mọi lúc, mọi nơi, theotốc độ và khả năng tiếp thu của HS Để có thể ứng dụng tốt e-Learning để hỗ trợtrong dạy học, trước hết ta cần hiểu một cách thấu đáo về e-Learning
1.2.1 Khái niệm
Có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về e-Learning, dưới đây sẽ trích
ra một số định nghĩa e-Learning đặc trưng nhất:
- E-Learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập
- E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trênCNTT và truyền thông
- Việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý sử dụngnhiều công cụ của CNTT và truyền thông và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàncục được gọi là e-Learning
- Việc học tập được truyền tải, hỗ trợ qua công nghệ điện tử và qua nhiều kĩthuật khác nhau như Internet, ti vi, video tape, các hệ thống giảng dạy thông minh,
và việc đào tạo dựa trên máy tính CBT (Computer Base Training) gọi là e-Learning
- Việc truyền tải các hoạt động, quá trình, và sự kiện đào tạo và học tậpthông qua các phương tiện điện tử như Internet, intranet, extranet, CD-ROM, videotape, DVD, ti vi, các thiết bị cá nhân gọi là e-Learning
"Việc sử dụng công nghệ để tạo ra, đưa các dữ liệu có giá trị, thông tin, họctập và kiến thức với mục đích nâng cao hoạt động của tổ chức và phát triển khảnăng cá nhân" gọi là e-Learning
- E-learning là tổ hợp của công nghệ Internet và Web nhằm tạo ra, cho phép,phân phối, và cung cấp các phương tiện phục vụ học tập
Trang 28Việc triển khai áp dụng mô hình đào tạo e-Learning khá đa dạng, đơn giảnnhất là hình thức cung cấp các bài giảng điện tử trên đĩa CD cho học viên tự học,phức tạp hơn là những lớp học được tổ chức trên mạng Internet với sự quản lý mộtcách có hệ thống Nhìn chung, hệ thống e-Learning thường bao gồm nhiều thànhphần chức năng được tích hợp trên môi trường mạng Internet, mỗi thành phần đềuđược tách riêng biệt và cung cấp các dịch vụ khác nhau, tuy nhiên tất cả các thànhphần đó đều được tập trung trong một hệ thống thống nhất để cung cấp dịch vụ đàotạo cho người sử dụng.
Về bản chất, đó vẫn là quá trình truyền tải kiến thức từ GV đến học viêndưới sự giám sát của hệ thống quản lý, do đó nó cần phải tuân thủ các tiến trình cơbản trong quá trình đào tạo và triển khai hệ thống E-Learning luôn được hiểu gắnvới quá trình học hơn là với quá trình dạy – học Lý do đơn giản là theo thời gianngười ta đã thay đổi từng bước cách nhìn trong mối quan hệ giữa dạy và học: từ lấyngười thầy làm trung tâm (dạy), chuyển sang tạo sự bình đẳng giữa thầy và trò (dạy– học), hiện nay là lấy học trò làm trung tâm (học)
Vậy một cách chung nhất, e-Learning là việc thực hiện các chương trình giáodục, học tập, đào tạo, bồi dưỡng thông qua các phương tiện điện tử E-learning liênquan đến việc sử dụng máy tính hoặc các thiết bị điện tử trong một phương diện nào
đó nhằm cung cấp tài liệu cho việc giáo dục, học tập, đào tạo bồi dưỡng
Trong mô hình này hệ thống đào tạo bao gồm 4 thành phần, được chuyển tảitới người học thông qua các phương tiện truyền thông điện tử
Sơ đồ 1 2 Sơ đồ mô tả một cách tổng quát khái niệm e-Learning [12]
Trang 29Nội dung: Các nội dung đào tạo, bài giảng được thể hiện dưới dạng các
phương tiện truyền thông điện tử, đa phương tiện Ví dụ: một file hướng dẫn truycập trang web được tạo lập bằng phần mềm adobe pdf, bài giảng HĐC viết bằngphần mềm công cụ Toolbook, Director, Flash,
Phân phối: Việc phân phối các nội dung đào tạo được thực hiện thông qua
các phương tiện điện tử Ví dụ tài liệu được gửi cho học viên bằng e-mail, học viênhọc trên website, học qua đĩa CD-ROM multimedia,…
Quản lý: Quá trình quản lý học tập, đào tạo được thực hiện hoàn toàn nhờ
phương tiện truyền thông điện tử Ví dụ như việc đăng ký học qua mạng, bằng tinnhắn SMS, việc theo dõi tiến độ học tập (điểm danh), thi kiểm tra đánh giá đượcthực hiện qua mạng Internet,
Hợp tác: Sự hợp tác, trao đổi của người học trong quá trình học tập cũng
được thông qua phương tiện truyền thông điện tử Ví dụ như việc trao đổi thảo luậnthông qua email, chatting, forum trên mạng,…
Ngày nay với sự hội tụ của máy tính và truyền thông, e-Learning được hiểumột cách trực tiếp hơn là quá trình học thông qua mạng Internet và công nghệ Web
Có rất nhiều định nghĩa về e-Learning, trong giới hạn của đề tài nghiên cứu,người nghiên cứu định nghĩa e-Learning như sau: “E-Learning là một thuật ngữdùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên CNTT và truyền thông, trong đó có sửdụng công nghệ Web và Internet.”
1.2.2 Đặc điểm của e-Learning
- Tính linh hoạt:
E-Learning làm biến đổi cách học cũng như vai trò của người HS Nhờ Learning, HS có thể học mọi lúc, mọi nơi miễn là có kết nối internet hoặc cácphương tiện truyền thông khác Điều này rất phù hợp với hoạt động học bài ở nhàcủa HS, lúc không còn trực tiếp gặp GV nữa
e Tính thích ứng cá nhân
E-Learning cho phép HS làm chủ hoàn toàn quá trình học của bản thân, chủđộng chọn những kiến thức phù hợp với mình so với hình thức tiếp thu thụ độngtrên lớp, từ thời gian, lượng kiến thức cần học cũng như thứ tự học các bài, đặc biệt
là cho phép tra cứu trực tuyến những kiến thức có liên quan đến bài học một cách
Trang 30tức thời, duyệt lại những phần đã học một cách nhanh chóng, tự do trao đổi mớinhững người cùng học hoặc GV ngay trong quá trình học, HS có khả năng tự kiểmsoát cao thông qua việc tự đặt cho mình tốc độ học phù hợp, bỏ qua những phầnhướng dẫn đơn giản không cần thiết mà vẫn đáp ứng được tiến độ chung của khoáhọc Theo Jennifer Salopek, một khóa học dựa trên e-Learning sẽ nhanh hơn 50%
so với khóa học truyền thống vì tính thích ứng cá nhân của nó
- Giảm chi phí đào tạo
Tiết kiệm chi phí đào tạo như: lương của GV, chi phí thuê cơ sở vật chất, chiphí đi lại ăn ở cho học viên và đặc biệt nữa là cắt giảm được chi phí hao tổn năngsuất do thời gian nhân viên phải đi học
Theo đánh giá của các nhà giáo dục học trên thế giới, nhiều dự án đang đượcthực hiện trên cơ sở hợp tác giữa các nhà giáo dục và các chuyên viên công nghệthông tin sẽ làm cho giá thành của e-Learning giảm xuống đáng kể
- Tài liệu học tập phong phú, luôn được cập nhật
E-learning có thể giúp người học tiếp cận khối lượng thông tin khổng lồ củanhân loại với sự hỗ trợ của Google
- Góp phần rèn luyện kĩ năng và thái độ học tập
Để học tập trong môi trường e-Learning, HS phải có thói quen học tập tốt, có
kĩ năng tự học và quản lý thời gian của riêng mình Điều này làm cho người học rènluyện kĩ năng làm việc độc lập, sáng tạo Đồng thời, việc trao đổi thẳng thắn trênlớp học, tiếp cận với vần đề bằng nhiều hướng khác nhau sẽ giúp cho HS rèn luyệnthái độ nghiệm túc và tư duy phê phán
- Tăng khả năng ghi nhớ và hiệu suất thu nhận thông tin
Nhờ các ưu điểm nổi bật của các phương tiện đa truyền thông, e-Learning tácđộng lên HS qua nhiều kênh thông tin như văn bàn, hình ảnh, biểu đồ, sơ đồ, video,hoạt hình, mô phỏng,…Đặc biệt, đối với vật lý, không phải quá trình nào trong tựnhiên cũng dễ quan sát và mô tả, có những quá trình xảy ra nhanh hoặc có nhữnghiện tượng xảy ra ở thế giới vi mô, không thể khảo sát và mô tả được Do đó, các
mô hình, hình ảnh minh họa, các đoạn phim là công cụ tối cần thiết Mặt khác, cácnội dung học tập được lưu trữ trên mạng và HS có thể truy xuất bất cứ lúc nào
Trang 311.2.3 Các mô hình của e-Learning
- Đào tạo dựa trên công nghệ (TBT - Technology-Based Training) là hìnhthức đào tạo có sự áp dụng công nghệ, đặc biệt là dựa trên công nghệ thông tin
- Đào tạo dựa trên máy tính (CBT - Computer-Based Training) Hiểu theonghĩa rộng, thuật ngữ này nói đến bất kì một hình thức đào tạo nào có sử dụng máytính Nhưng thông thường thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa hẹp để nói đến cácứng dụng (phần mềm) đào tạo trên các đĩa CD-ROM hoặc cài trên các máy tính độclập, không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới bên ngoài Thuật ngữ này đượchiểu đồng nhất với thuật ngữ CD-ROM Based Training
- Đào tạo dựa trên web (WBT - Web-Based Training) : là hình thức đào tạo
sử dụng công nghệ web Nội dung học, các thông tin quản lý khoá học, thông tin vềngười học được lưu trữ trên máy chủ và người dùng có thể dễ dàng truy nhập thôngqua trình duyệt Web Người học có thể giao tiếp với nhau và với GV, sử dụng cácchức năng trao đổi trực tiếp, diễn đàn, e-mail thậm chí có thể nghe được giọng nói
và nhìn thấy hình ảnh của người giao tiếp với mình
- Đào tạo trực tuyến (Online Learning/Training) : là hình thức đào tạo có sửdụng kết nối mạng để thực hiện việc học chẳng hạn như lấy tài liệu học, giao tiếpgiữa người học với nhau và với GV
- Đào tạo từ xa (Distance Learning): Thuật ngữ này nói đến hình thức đào tạotrong đó người dạy và người học không ở cùng một chỗ, thậm chí không cùng mộtthời điểm Ví dụ như việc đào tạo sử dụng công nghệ hội thảo cầu truyền hình hoặccông nghệ web
1.2.4 Ưu và nhược điểm của e-Learning
* Ưu điểm:
- Không bị giới hạn bởi không gian và thời gian: sự phổ cập rộng rãi củaInternet đã dần xoá đi khoảng cách về thời gian và không gian cho e-Learning Mộtkhoá học e-Learning được chuyển tải qua mạng tới máy tính của người học, điều nàycho phép các HS học bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu Cả người dạy lẫn người họcđều có cơ hội thảo luận vấn đề mà không bị ràng buộc bởi thời gian, không gian
- Tính hấp dẫn: với sự hỗ trợ của công nghệ, những bài giảng tích hợp text, hình
Trang 32ảnh minh họa, âm thanh tăng thêm tính hấp dẫn của bài học Người học giờ đây khôngchỉ còn nghe giảng mà còn được xem những ví dụ minh họa trực quan, thậm chí còn cóthể tiến hành tương tác với bài học nên khả năng nắm bắt kiến thức cũng tăng lên.
- Tính linh hoạt: một khoá học e-Learning được phục vụ theo nhu cầu ngườihọc, chứ không nhất thiết phải theo một thời gian biểu cố định Vì thế người học có thể
tự điều chỉnh quá trình học, lựa chọn cách học phù hợp nhất với hoàn cảnh của mình
- Dễ tiếp cận và truy cập ngẫu nhiên: bảng danh mục bài giảng sẽ cho phép
HS lựa chọn đơn vị tri thức, tài liệu một cách tuỳ ý theo trình độ kiến thức và điềukiện truy nhập mạng của mình HS tự tìm ra các kĩ năng học cho riêng mình với sựgiúp đỡ của những tài liệu trực tuyến
- Tính cập nhật: nội dung khoá học thường xuyên được cập nhật và đổi mớinhằm đáp ứng tốt nhất và phù hợp nhất với HS
- Học có sự hợp tác, phối hợp: các HS có thể dễ dàng trao đổi với nhau quamạng trong quá trình học, trao đổi giữa các HS với GV Các trao đổi này hỗ trợ tíchcực cho quá trình học tập của HS
- Tâm lý dễ chịu: mọi rào cản về tâm lý giao tiếp của cả người dạy và ngườihọc đều bị xoá bỏ, mọi người tự tin hơn trong việc trao đổi quan điểm
- Các kỹ năng giao tiếp, làm việc hợp tác, tự điều chỉnh để thích ứng củangười học sẽ được hoàn thiện không ngừng
- Sự tương tác giữa người dạy và người học vẫn được duy trì thông qua cácdiễn đàn (forum), hội thoại trực tuyến (chat), thư từ (e-mail), hội nghị truyền hình(video conferencing)
Mỗi người học khi tiếp cận với e-Learning có thể có cách thích nghi riêng,cách hiểu riêng về một vấn đề Do đó, khi đến với e-Learning, mọi thành phầnkhông phân biệt trình độ, giới tính, tuổi tác… đều có thể tìm cho mình một hướngtiếp cận khác nhau với vấn đề mà không bị ràng buộc trong một khuôn khổ cụ thểnào (cá nhân hóa người học)
* Nhược điểm:
- Về phía GV:
+ Yêu cầu phải có sự chuẩn bị rất lớn về nội dung, tư liệu, hình thức
tổ chức và phương pháp giảng dạy Đầu tư nhiều thời gian cho việc nghiên cứu tìmhiểu để có được những kỹ năng chuyên môn sâu, rộng hơn về công nghệ và ứng
Trang 33dụng e-Learning vào việc tổ chức HĐNT cho HS.
+ Về cơ sở vật chất người GV cũng phải có sự chuẩn bị khá lớn để cóđược bài giảng e-Learning đạt chất lượng cao như máy tính, micro, camera, cácphần mềm chỉnh sửa video, soạn bài giảng có bản quyền …
+ Khó truyền được cảm hứng của người dạy cho người học
+ Không đảm bảo được bản quyền bài giảng
+ Phải theo dõi quá trình học tập của học viên thông qua diễn đàn, bàikiểm tra, bài thu hoạch,… cách đánh giá này nhiều khi không khách quan
- Về phía HS:
+ Trước khi bắt đầu tham gia học, HS phải thông thạo các kỹ năng mới+ Hạn chế trong việc rèn luyện một số kỹ năng như giao tiếp, thuyếttrình, thực hành thí nghiệm …
+ Yêu cầu ý thức cá nhân cao, tự giác trong học tập, tự chủ sắp xếpthời gian và kế hoạch học tập HS phải ham học hỏi, không giấu dốt, chủ động traođổi với bạn học và GV qua diễn dàn, chủ động khai thác các công cụ hỗ trợ để hoànthiện kiến thức của mình
+ Về trang thiết bị: phải có thiết bị có khả năng truy cập internet
1.2.5 Vai trò của e-Learning đối với việc tổ chức HĐNT vật lý
Với đặc thù của bộ môn Vật lý là một môn khoa học thực nghiệm, nghiêncứu về cấu trúc, tính chất và các hình thức biến đổi cơ bản nhất của vật chất, việc tổchức HĐNT cho HS trong dạy học bộ môn Vật lý phải bám sát theo tiến trìnhHĐNT của nhà khoa học có sự định hướng của nhà giáo dục Sự phát triển của côngnghệ thông tin nói chung và e-Learning nói riêng đã hỗ trợ cho GV rất nhiều trongquá trình tổ chức HĐNT cho HS trong dạy học Vật Lý Từ giai đoạn tạo ra cho HS
một tình huống mở đầu đến các tình huống vật lí cơ bản, HS không còn phải ngồi
tưởng tượng, hình dung ra tình huống thông qua lời mô tả của GV mà có thể quansát, nhận xét tình huống một cách trực tiếp với sự hỗ trợ của e-Learning Thông quacác thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng hay các đoạn clip thực tế HS có thể dễdàng xây dựng phương án và kiểm chứng lý thuyết
Căn cứ vào cơ sở khoa học của quá trình tổ chức các HĐNT của HS, ta cóthể xây dựng hệ thống e-Learning hỗ trợ tiến trình tổ chức HĐNT trong dạy học vật
lý theo sơ đồ sau:
Trang 34Sơ đồ 1 3 Sơ đồ xây dựng hệ thống e-Learning hỗ trợ tiến trình tổ chức HĐNT
trong dạy học vật lý [1]
1.3 Giới thiệu hệ thống quản lý lớp học Google Classroom
1.3.1 Giới thiệu Google Classroom
Google Classroom là một hệ thống quản lý lớp học (Learning ManagementSystem – LMS) ra đời vào tháng 5 năm 2014
Google Classroom thực hiện tổ chức một lớp học thông qua việc hỗ trợ 3 tínhnăng chính: Giao tiếp, Giao bài tập và Lưu trữ Việc giao tiếp được thực hiện thôngqua các thông báo (announcement) và comment, được tích hợp thêm email Có thểđính kèm tài liệu, video, ảnh, đường dẫn… trong các thông báo Việc giao và nhận
GV dựa vào kiến thức sẵn có của HS Sự định hướng của GV đối với HS
Hệ thống e-Learning hỗ trợ GV đưa ra tình huống chứa vấn đề cần giải quyết (hệ thống có thể hỗ trợ các video, âm thanh,
hình ảnh… để giải quyết vấn đề
Phát biểu vấn đề giải quyết
HS suy đoán giải pháp để giải quyết vấn đề
HS thực hiện giải pháp với sự hỗ trợ của hệ thống e-Learning
HS kiểm tra sự phù hợp của lý thuyết và thực nghiệm
để xác nhận kết quả
HS trình bày những vấn đề được HS giải quyết để bảo vệ kết
quả
GV chính xác hóa kiến thức về mặt khoa học
Hệ thống e-Learning hỗ trợ HS vận dụng kiến thức mới
để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra tiếp theo
Trang 35bài tập được thực hiện với sự hỗ trợ của Drive Mỗi lớp sẽ được tổ chức vào một thưmục riêng, mỗi HS sẽ được tự động tạo một thư mục riêng cho phần bài tập của mình.
Google Classroom có giao diện được thiết kế đơn giản, quen thuộc vớinhững người đã sử dụng các sản phẩm trước đó của Google Các tính năng cần thiết
để thiết lập một lớp học đều sẵn sàng để sử dụng ngay GV có thể tạo ra và thu thậpcác bài tập, cung cấp các thông tin về thời gian học tập cho HS, đăng các thông báo,giao tiếp với các HS ngoài lớp học cũng như tổ chức và theo dõi các hoạt động
Giao diện của ứng dụng này đơn giản và rất dễ đọc Khi các HS đăng nhậpvào ứng dụng, họ sẽ thấy tất cả các môn học Mỗi lớp được ký hiệu bằng 1 ô vuôngmàu sắc với tên lớp, hình ảnh của GV Bên dưới là tiêu đề bài học, dòng chữ “ThisWeek” nằm dưới các bài tập ở thời điểm hiện tại và hạn nộp được liệt kê ở dưới Đểxem chi tiết bài tập hoặc giao tiếp với GV, HS chỉ cần nhấp vào hộp đó HS sẽ cóthể biết được bài tập của mình, nhận được phản hồi và số điểm của họ thông quaứng dụng Google Classroom
Có thể nói rằng, Google Classroom đã mở ra một phương pháp học tập mớicho HS ngay trên các thiết bị di động; giải quyết được các vấn đề về sách vở, liênlạc; quản lý lớp học một cách thông minh; và thậm chí phù hợp với cả những ngườigặp khó khăn trong việc trực tiếp đến trường
Google Classroom là một công cụ tích hợp Google Docs, Google Drive,Google Forms, Gmail… nhằm mục đích giúp GV đơn giản hóa công việc giảngdạy Có thể tóm tắt các tiện ích nổi trội của Google Classroom như sau:
- Giúp giảm thiểu được việc sử dụng giấy (in ấn tài liệu, nộp bài tập…) tronglớp học
- Giúp GV tổ chức và quản lý lớp dễ dàng, thuận tiện; tất cả tài liệu, bài tập
và điểm đều ở cùng một nơi (trong Google Drive)
- Ngoài phiên bản web, Google Classroom đã có phiên bản trên Android vàiOS cho phép HS truy cập vào Lớp học nhanh hơn, luôn cập nhật mọi thông tin vềlớp học khi di chuyển
- Tài khoản Google có đuôi “… edu.vn” đã được cấp cho mọi GV với dunglượng không giới hạn Điều này là một thuận lợi rất lớn trong việc sử dụng Google
Trang 36Classroom, GV có thể lưu trữ toàn bộ tài liệu giảng dạy, video tham khảo, hình ảnhlớp học, điểm… ngay trên Drive của cá nhân GV và chia sẻ cho HS mà không phảibận tâm về không gian lưu trữ
- GV và HS có thể theo dõi, cập nhật tình hình lớp học ở bất kỳ nơi đâu (chỉcần có laptop, tablet hay điện thoại có kết nối internet)
- Các thông báo tức thời và các trao đổi trên diễn đàn được thực hiện dễdàng Mọi thay đổi trên Google Classroom đều được thông báo cho GV trên Gmailnên GV có thể ngay lập tức trao đổi thông tin với HS thông điện thoại thông minh
có kết nối internet
1.3.2 Hướng dẫn sử dụng Google Classroom để quản lý lớp học
Trong phần này, người nghiên cứu giới thiệu các bước cơ bản để khởi tạomột lớp học mới trên Google Classroom và ứng dụng Google Forms để thiết kế bàitập, bài kiểm tra trắc nghiệm trực tuyến
1.3.2.1 Tạo lớp học
- Tạo lớp học mới:
+ Truy cập vào website https://classroom.google.com
Đăng nhập bằng tài khoản cá nhân
+ Nhấp vào dấu "+" ở góc phải trên cùng bên cạnh tài khoản Google
+ Chọn "Tạo lớp học", sau đó đặt tên cho lớp học và học phần, sau đó click "Tạo"
GV có thể thực hiện một số mô tả ngắn để làm rõ thêm cho lớp học của mình
Trang 37- Chỉnh sửa hoặc xóa một lớp học:
+ Nhấn vào nút menu ở góc trên bên trái của màn hình (kí hiệu 3 dòng ngang)+ Nhấp vào dấu ba chấm ở góc trên bên phải của các lớp muốn chỉnh sửa đểthực hiện các thay đổi cần thiết
- Thêm HS cho Lớp học:
+ Chọn vào lớp học mà muốn thêm HS
+ Nhìn vào mã lớp học bên trái màn hình và cung cấp mã này cho HS qua email
+ HS sau đó sẽ truy cập đến https://classroom.google.com, nhấp vào dấu +bên phải màn hình và chọn "Tham gia lớp học"
+ HS nhập mã lớp và ngay lập tức sẽ được tham gia vào lớp học
Lưu ý: Nếu muốn thêm HS vào lớp học thì GV phải biết được email của từng
HS, cách tốt nhất để thêm HS bằng email là việc tạo một “nhóm liên hệ” bằngGmail Đặt tên nhóm cùng với tên lớp học
1.3.2.2 Thêm bài tập
- Tạo bài tập:
+ Bấm vào lớp mà GV muốn thêm một bài tập
+ Nhấp vào dấu + ở góc dưới bên phải trang Chọn “Tạo bài tập”
+ Đặt một tiêu đề cho bài tập và thêm hướng dẫn khác hay một mô tả trongkhung bên dưới
+ Chọn một ngày để là hạn chót cho bài tập, và thêm thời gian nếu GVmuốn
Trang 38+ Chọn loại bài tập mà GV muốn tạo ra bằng cách nhấp vào một trong cácbiểu tượng ngay bên dưới bao gồm “tải lên một tập tin từ máy tính của bạn”, “đínhkèm một tập tin từ Google Drive”, “thêm một video từ YouTube”, hoặc thêm “mộtliên kết đến một trang web”.
+ Click "Giao bài" để đưa bài tập này cho các HS của mình GV có thể chọnthời điểm để đưa bài tập lên hoặc có thể lưu trữ để đưa lên đúng thời điểm cần thiết
- Upload tài liệu:
+ Bấm vào lớp mà giảng viên muốn thêm một bài tập
+ Nhấp vào dấu + ở góc dưới bên phải trang Chọn “Tạo bài tập”
+ Click chọn Google Drive
+ Lựa chọn tài liệu, sau đó lựa chọn một trong các cách sau để đưa tài liệuđến HS
- HS có thể xem các file
- HS có thể chỉnh sửa file
- Tạo một bản copy cho mỗi HS
1.3.2.3 Chấm điểm bài tập và trả bài cho HS:
Sau khi HS hoàn thành bài tập, GV có thể thực hiện các bước tiếp theo chính
là chấm điểm và trả bài cho HS:
+ Nhấp vào tên của HS đã nộp bài mà bạn muốn chấm điểm
+ Khi tài liệu được mở, sử dụng các tính năng bình luận trong Drive để lạiphản hồi chi tiết về các phần cụ thể trong bài viết của HS Tất cả những thay đổi sẽđược lưu tự động
Trang 39+ Khi bạn quay lại Classroom, click vào bên phải tên của HS ngay phần
“Không có điểm” và nhập điểm vào cho bài làm
+ Check vào ô vuông bên cạnh tên HS mà bạn vừa mới chấm điểm, sau đóclick vào nút “Trả bài" để lưu điểm và thông báo cho HS rằng bài làm của họ đãđược chấm điểm
+ Thêm bất kỳ thông tin phản hồi, sau đó click vào ""
1.3.3 Hướng dẫn sử dụng Google Forms soạn câu hỏi trắc nghiệm, đề kiểm tra
- GV truy cập vào trang Google Forms, đăng nhập bằng địa chỉ mail cá nhân
- Giao diện biên soạn biểu mẫu được mở ra
- Chọn bắt đầu biểu mẫu mới
- GV nhập tiêu đề và mô tả cho biểu mẫu
- Click vào phần Câu hỏi không có tiêu đề để thay đổi, chỉnh sửa câu hỏi đầu tiên.
- Bên phải màn hình luôn có 1 thanh công cụ chạy dọc mỗi khi bạn thay đổi hay click chọn phần cần chỉnh sửa
- Click vào dấu + đầu tiên để thêm 1 câu hỏi mới
- Nếu thứ tự câu hỏi đang không theo ý của GV thì GV có thể giữ chuột và kéo thả
vị trí các câu hỏi để sắp xếp theo ý muốn của cá nhân
- Có các dạng câu hỏi như “Dạng trả lời ngắn”, “Đoạn”, “Trắc nghiệm”, “Hộpkiểm” … Để thay đổi lựa chọn ta bấm vào dấu mũi tên
- Phía dưới mỗi câu hỏi đều có các nút công cụ khác như Nhân bản câu hỏi, Xóa,
Bắt buộc (chọn vào đó nếu đây là câu hỏi bắt buộc trả lời), Hiển thị mô tả và Xác
thực dữ liệu
Trang 40- Giao diện cài đặt nâng cao khác cho Google Form
+ Tại phần “Bài kiểm tra” GV có thể chọn đặt làm bài kiểm tra với các tùychọn công bố điểm ngay sau mỗi lần nộp, xem câu trả lời đúng, sai …
+ Khi đó tại câu hỏi sẽ xuất hiện phần đáp án và điểm để GV chỉnh sửa chođiểm từng câu
- GV có thể bấm vào nút ba chấm ở góc phải phía trên của màn hình để thực hiệncác thao tác “Hoàn tác”, “Tạo bản sao”, “Nhận liên kết”, “Thêm cộng tác viên” …
+ Sau khi GV hoàn thành biểu mẫu của mình rồi thì có thể gửi biểu mẫu này
cho người khác bằng cách click vào nút Gửi ở góc trên bên phái
+ Nhập thông tin người nhận sau đó nhấn nút Gửi ở dưới, tương tự như bạn
gửi mail GV cũng có thể lấy link biểu mẫu trực tiếp để gửi cho bạn bè của bạn quafacebook hay skype… bằng cách bấm vào biểu tượng con mắt góc trên bên phảimàn hình để xem trước
Đây là kết quả sau khi Google Form đã được tạo thành công