1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển năng lực tự học với sách giáo khoa cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 ở trường trung học phổ thông (chương trình chuẩn)

119 232 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC VỚI SÁCH GIÁO KHOA CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG...14 1.1.. Vai trò, ý nghĩa của việc phá

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

 NGUYỄN THÀNH TRUNG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC VỚI SÁCH GIÁO KHOA CHO HỌC SINH

TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI TỪ 1945 ĐẾN 2000

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và

kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.

Họ và tên tác giả

Nguyễn Thành Trung

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hồn thành luận văn này, tơi xin bày tỏ lịng biết ơn chân thành đến:

B an giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Huế; Phịng Đào tạo Sau đại học, Thư viện - Trường Đại học Sư phạm Huế.

Quý thầy cơ trong Tổ Lý luận và Phương pháp dạy học bộ mơn Lịch sử, Khoa Lịch sử - Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế đã tạo điều kiện cho tơi trong quá trình học tập, cơng tác và thực hiện đề tài Các trường: Trường THPT Xuân Thọ, Trường THPT Xuân Hưng, Trường THPT Xuân Lộc (Huyện Xuân Lộc -Tỉnh Đồng Nai) đã giúp đỡ tơi trong quá trình tiến hành thực nghiệm sư phạm.

Đặc biệt, xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Trần Vĩnh Tường đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để tơi cĩ thể hồn thành luận văn.

Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè, học sinh và đồng nghiệp đã luơn bên cạnh, quan tâm, giúp đỡ và ủng hộ tơi.

Huế, tháng 5 năm 2017 Nguyễn Thành Trung

iii

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục 1

Danh mục viết tắt 4

MỞ ĐẦU 5

1 Lí do chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4 Mục đích nghiên cứu 11

5 Giả thuyết khoa học 11

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

7 Phương pháp nghiên cứu 12

8 Đóng góp của đề tài 13

9 Cấu trúc của luận văn 13

NỘI DUNG 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC VỚI SÁCH GIÁO KHOA CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 14

1.1 Cơ sở lí luận 14

1.1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 14

1.1.2 Những năng lực tự học với sách giáo khoa cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông 25

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc phát triển năng lực tự học với sách giáo khoa cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông 29

1.2 Cơ sở thực tiễn 31

1.2.1 Thực trạng phát triển năng lực tự học với sách giáo khoa cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông 31

1.2.2 Nguyên nhân của thực trạng 34

Trang 5

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG LỊCH SỬ CẦN KHAI THÁC ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC VỚI SÁCH GIÁO KHOA CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI TỪ 1945 ĐẾN 2000 Ở TRƯỜNG TRUNG

HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 37

2.1 Mục tiêu, cấu trúc chương trình lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 37

2.1.1 Mục tiêu khoá trình lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 37

2.1.2 Cấu trúc chương trình lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 38

2.2 Những kiến thức lịch sử cơ bản cần khai thác để phát triển năng lực tự học với sách giáo khoa cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 ở trường Trung học phổ thông (Chương trình Chuẩn) 39

2.3 Bảng tổng hợp các năng lực tự học với sách giáo khoa cần phát triển cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 ở trường Trung học phổ thông (Chương trình Chuẩn) 42

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC VỚI SÁCH GIÁO KHOA CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI TỪ 1945 ĐẾN 2000 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 57

3.1 Một số yêu cầu để phát triển năng lực tự học với sách giáo khoa cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 ở trường Trung học phổ thông (Chương trình Chuẩn) 57

3.1.1 Phải đáp ứng mục tiêu dạy học và nhiệm vụ bộ môn 57

3.1.2 Phải phù hợp với đối tượng và khả năng của học sinh 58

3.1.3 Phải phù hợp với định hướng đổi mới phương pháp dạy học trên cơ sở tuân thủ phương pháp bộ môn – con đường nhận thức lịch sử 58

3.1.4 Phải đảm bảo hiệu quả việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên năng lực tự học với sách giáo khoa của học sinh trong quá trình dạy học lịch sử 59

3.2 Một số biện pháp phát triển năng lực tự học với sách giáo khoa cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 ở trường Trung học phổ thông (Chương trình Chuẩn) 60

Trang 6

3.2.1 Biện pháp chung phát triển năng lực tự học với sách giáo khoa

cho học sinh 60

3.2.2 Một số biện pháp riêng phát triển năng lực tự học với sách giáo khoa cho học sinh 63

3.3 Thực nghiệm sư phạm 78

3.3.1 Mục đích thực nghiệm 78

3.3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 78

3.3.3 Nội dung thực nghiệm 78

3.3.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 79

3.3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 80

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC

Trang 7

NL Năng lựcNLTH Năng lực tự họcNXB Nhà xuất bảnPPDH Phương pháp dạy họcSGK Sách giáo khoaTHPT Trung học phổ thông

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong những thập niên gần đây, sự phát triển vũ bảo của khoa học công

nghệ, các phát minh… đã tạo ra một kho tàng kiến thức đồ sộ So với giai đoạntrước, lượng kiến thức mà ngày nay con người đang có là rất lớn Đồng thời, sự pháttriển nhanh chóng và đa dạng của các phương tiện thông tin đại chúng toàn cầu,sách và các loại tài liệu khác, đã tạo ra sự bùng nổ về thông tin Nhân loại ngàycàng tiếp thu nhiều nguồn thông tin đa chiều, kiến thức ngày càng phong phú, đadạng Con đường dẫn đến kiến thức, cách tiếp cận kiến thức, các phương tiện tiếpcận kiến thức của nhân loại ngày càng đa dạng, hiệu quả hơn Vì lẽ đó mà yêu cầu

về nguồn nhân lực của mỗi quốc gia cũng ngày một cao hơn, đòi hỏi phải có đủnăng lực tự giải quyết các vấn đề mới và luôn sáng tạo trong công việc

Những vấn đề nêu trên đã có tác động không nhỏ đến nền giáo dục của mỗiquốc gia, trong đó có Việt Nam Nghị quyết lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung

ương khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện về giáo dục đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi

mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực” [5].

Khoản 2 Điều 28 Luật Giáo dục quy định “Phương pháp giáo dục phổ thông

phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [49, tr 21].

Theo tiêu chuẩn của giáo dục thế hệ trẻ thế giới, khi bước vào thế kỉ XXI,giới trẻ phải có nhiều kĩ năng, trong đó kĩ năng tự học, tự nâng cao trình độ cá nhântrong mọi tình huống có tính chất bao trùm và rất quan trọng Cùng với xu thế đó,việc thay đổi phương pháp dạy học trong nhà trường hiện nay là một nhu cầu tất

Trang 9

yếu Chính vì vậy, những năm gần đây “tự học”, “tự giáo dục”, “tự nghiên cứu” đãtrở thành nguyên lý cơ bản của tư tưởng giáo dục hiện đại.

1.2 Hiện nay, giáo dục của các nước đều chú ý hình thành, phát triển năng

lực cần cho việc học tập suốt đời, gắn với cuộc sống hằng ngày, trong đó chú trọngnăng lực chung như: Năng lực tự học, năng lực cá nhân, năng lực thông tin và

truyền thông… Cùng với xu thế chung đó, Luật Giáo dục 2005 tại Khoản 1 Điều 27

về mục tiêu của giáo dục phổ thông đã nêu “đào tạo con người Việt Nam phát triển

toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với

lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [49, tr.19].

Như vậy, có thể nói trong quá trình dạy học, giáo viên phải đề cao việc pháthuy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, giáo viên cầnbồi dưỡng cho người học năng lực tự học Năng lực tự học trở thành một trongnhững năng lực cơ bản của con người trong “xã hội tri thức” Việc dạy cho thế hệtrẻ cách học, rèn kĩ năng học tập, đặc biệt là hình thành và phát triển cho học sinhnăng lực tự học, trong đó có năng lực tự học với sách giáo khoa là một trong nhữngnhiệm vụ cấp thiết

1.3 Lịch sử là một bộ môn khoa học xã hội, quá trình hình thành và lĩnh hội

kiến thức gắn liền với các sự kiện – hiện tượng lịch sử, tuy vậy, đó lại là những sựkiện – hiện tượng lịch sử của quá khứ và học sinh không thể tiếp cận một cách trựctiếp được Thông qua bài viết và cơ chế sư phạm, sách giáo khoa lịch sử không chỉcung cấp kiến thức cơ bản mà còn cung cấp những thông tin nhằm hỗ trợ cho ngườihọc tiếp thu các kiến thức một cách hiệu quả và tương đối đầy đủ Như vậy, việchình thành và phát triển cho học sinh năng lực tự học với sách giáo khoa trong dạyhọc nói chung và dạy học lịch sử nói riêng là rất cần thiết

Trong bộ môn Lịch sử, khoá trình lịch sử thế giới là một phần rất quan trọng,

ở lớp 12, học sinh được tìm hiểu về lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 Đây là thời kìlịch sử chứng kiến nhiều sự thay đổi của lịch sử nhân loại, có những tác động lớnđến lịch sử Việt Nam Nếu người học có năng lực tự học với sách giáo khoa thì sẽ

Trang 10

lĩnh hội tốt hơn kiến thức lịch sử Từ đó dần hình thành và phát triển năng lực tựhọc, tự nghiên cứu cho học sinh theo tinh thần Nghị quyết 29, kì họp lần thứ 8 Banchấp hành Trung ương đảng, khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đápứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Với những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề “Phát triển năng

lực tự học với sách giáo khoa cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 ở trường Trung học phổ thông (Chương trình Chuẩn)” để làm đề tài

luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục, chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạyhọc bộ môn Lịch sử, hy vọng góp một phần vào việc nâng cao hiệu quả bài học lịch

sử ở trường Trung học phổ thông

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong các giáo trình về phương pháp dạy học môn Lịch sử, các công trìnhnghiên cứu về Khoa học giáo dục lịch sử ở nước ngoài và trong nước đã đề cậpnhiều đến việc sử dụng sách giáo khoa, vai trò, chức năng của Sách giáo khoa đốivới người học cũng như đề cập đến việc phát huy năng lực tự học, tự tìm hiểu, tựnghiên cứu của người học

2.1 Ở nước ngoài

Trong lịch sử giáo dục thế giới, phương pháp tổ chức cho người học tự học

đã có tiền đề từ rất sớm, đặc biệt đến những năm 60 của thế kỉ XX, phương phápdạy học này đã rất phát triển ở các nước tiên tiến như Anh, Đức, Pháp, Mỹ, Liên

Xô, Ba Lan,… Điển hình cho hướng nghiên cứu về phương pháp tổ chức dạy họcnày là những tác giả:

N.A Rubakin trong tác phẩm“Tự học như thế nào?” đã đề cập “Việc giáo

dục động cơ đúng đắn là điều kiện cơ bản để bạn tích cực, chủ động trong học tập”

[45, tr 36] Như vậy, để việc học tập đạt kết quả thì người học trước nhất phải biếtxác định được động cơ học tập đúng đắn, từ đó đề ra những biện pháp học tập phùhợp, tối ưu nhất

Trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào?”, I.F Kha-la-môp đã khẳng định “Tự học có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao

tính tích cực nhận thức và hiệu quả hoạt động trí tuệ của học sinh” [32, tr.10].

Trang 11

Đặc biệt, trong cuốn “Chuẩn bị giờ học Lịch sử như thế nào?” [47], Tiến sĩ

N.G Đairi đã đề xuất cách sử dụng sách giáo khoa bằng sơ đồ mang tính khoa học

và thực tiễn cao

Sơ đồ Đairi đặt ra yêu cầu về tính tích cực của học sinh trong việc sử dụngsách giáo khoa lịch sử một cách chủ động, sáng tạo, khắc phục tình trạng “thầy đọc– trò chép”, “học thuộc lòng sách giáo khoa” mà không hiểu lịch sử

Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu những góc độ khác nhau củaviệc dạy học phát triển năng lực tự học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của

người học như tác phẩm “Phát huy tư duy học sinh” của M A-lếch-xi-ép; “Tư duy

của học sinh” của M N Sác-đa-cốp… Các công trình này đã nêu lên những vấn đề

mang tính lí luận về phát huy tính tích cực, tự học của học sinh

Như vậy, có thể thấy xu thế giáo dục chung của thế giới là nhấn mạnhphương pháp tự học, đặt người học vào vị trí trung tâm, xem cá nhân người học vừa

là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của quá trình tiếp nhận tri thức Tuy có nhiều ýkiến khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu đều khẳng định vai trò to lớn của việc tựhọc cùng với hoạt động nhận thức tích cực, độc lập, sáng tạo Đồng thời đề xuất cácbiện pháp để hình thành và phát triển năng lực tự học cho học sinh trong đó có nănglực tự học với sách giáo khoa

2.2 Ở trong nước

Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về tự học, tuy nhiên ở mỗi thời

kì lịch sử khác nhau thì quan niệm về tự học cũng khác nhau

Dưới thời phong kiến, nền giáo dục Việt Nam chịu ảnh hưởng của giáo dụcTrung Hoa, tự học được thực hiện một cách máy móc, tức chỉ cần thuộc thi, thư, lễ,nghĩa, khiến người học bị động, mất tư duy độc lập

Thời Pháp thuộc, với những thủ đoạn cai trị thâm độc của thực dân, nền giáodục nước ta bị kìm nén, trì trệ Trước cách mạng Tháng Tám 1945, số người mù chữchiếm hơn 90% dân số, do đó vấn đề tự học ít được đề cập đến

Đến những năm 60 của thế kỉ XX, tư tưởng tự đào tạo đã xuất hiện ở trườngĐại học Sư phạm Hà Nội với phong cách giảng dạy và học tập mới, mà cốt lõi là

khẩu hiệu “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”.

Trang 12

Tại Hội nghị phong trào tổng kết thi đua “Dạy tốt – Học tốt” của ngành

Giáo dục năm 1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Về cách học phải lấy tự học

làm cốt… Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập” Có thể nói, Người chính là tấm gương sáng về tự học cho thế hệ

trẻ của Việt Nam

Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Thị Côi trong “Các con đường, biện pháp nâng

cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông” cho rằng “Hoạt động học tập là một khâu của quá trình dạy học, trong việc học thì “lấy tự học làm cốt” Tự học là một vấn đề quan trọng Bởi vì, đó là nhân tố nội lực quyết định chất lượng học tập, còn hoạt động dạy là ngoại lực có tác dụng định hướng, kích thích, điều khiển và chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình học” [16, tr.72]

Ngoài ra, khi đề cập về tầm quan trọng của sách giáo khoa, nhiều nhà nghiêncứu lí luận dạy học trong nước đã khẳng định tầm quan trọng của sách giáo khoa

Tác giả Thái Duy Tuyên trong cuốn “Giáo dục học hiện đại” đã khẳng định

“Sách giáo khoa là phương tiện quan trọng nhất và giữ vị trí trung tâm trong hệ thống các phương tiện dạy học Nó là nguồn tri thức cơ bản của học sinh, gắn bó với các em suốt thời gian học” [60, tr.34]

Bên cạnh các công trình nghiên cứu đã nêu ở trên, còn có các bài viết chuyên

đề đăng trên các tạp chí chuyên ngành; các bài tham luận, phát biểu trong các hộinghị, hội thảo khoa học cũng đề cập nhiều đến vấn đề tự học của học sinh, sinhviên, đặc biệt là việc hình thành và phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu, rèn

luyện các kĩ năng vận dụng thực tiễn cho người học như: “Hệ thống phương pháp

dạy học lịch sử ở trường phổ thông” của Phan Ngọc Liên và Trịnh Đình Tùng,

“Một tiết học lịch sử theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh”

của Nguyễn Hữu Chí (Nghiên cứu Giáo dục số 8, năm 1996),…

Những năm gần đây có nhiều luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục, chuyênngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn lịch sử của trường Đại học Sư phạm

Huế cũng đề cập đến vấn đề tự học như “Tổ chức hoạt động tự học cho học sinh

dân tộc thiểu số trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 ở trường

Trang 13

Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Kon Tum” của học viên Vũ Thị Hường (năm 2011),

“Sử dụng bài tập lịch sử nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh Trung học phổ thông (vận dụng khóa trình lịch sử lớp 11, trường Trung học phổ thông, Chương trình Chuẩn)” của học viên Phạm Thị Thủy (năm 2012), “Hướng dẫn học sinh tự học theo hướng phát huy tính tích cực với sách giáo khoa lịch sử lớp 10 ở trường Trung học phổ thông (Chương trình Chuẩn)” của học viên Trịnh Thị Thu

Thủy (năm 2014),…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều góc độ củavấn đề tự học cũng như khẳng định vị trí, vai trò, ý nghĩa của việc tự học với sáchgiáo khoa, giúp chúng tôi xác định được các biện pháp, con đường hình thành vàphát triển năng lực tự học với sách giáo khoa cho học sinh và là cơ sở định hướng

để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu

Như vậy, vấn đề tự học và hướng dẫn học sinh tự học với sách giáo khoa đã

có nhiều công trình nghiên cứu dưới những hình thức, mức độ khác nhau Tuynhiên, chưa có công trình cụ thể nào đi sâu nghiên cứu và đề xuất các biện pháp

phát triển năng lực tự học với sách giáo khoa cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 ở trường Trung học phổ thông (Chương trình Chuẩn).

Chính vì vậy, đề tài của chúng tôi tập trung đi sâu nghiên cứu vấn đề này Đó lànhiệm vụ cơ bản mà luận văn cần giải quyết

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình phát triển năng lực tự học vớisách giáo khoa cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 ởtrường Trung học phổ thông (Chương trình Chuẩn)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu việc phát triển năng lực tự học với sách giáo khoa cho họcsinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 ở trường Trung học phổ thông(Chương trình Chuẩn)

Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại một số trường Trung học phổ thông trênđịa bàn tỉnh Đồng Nai

4 Mục đích nghiên cứu

Trang 14

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung, hệ thống hóa những cơ sở líluận, thực tiễn của việc phát triển năng lực tự học với sách giáo khoa cho học sinh,

từ đó đề xuất các yêu cầu mang tính nguyên tắc, biện pháp phát triển năng lực tựhọc với sách giáo khoa cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000

ở trường Trung học phổ thông (Chương trình Chuẩn), góp phần nâng cao hiệu quảbài học lịch sử ở trường Trung học phổ thông

5 Giả thuyết khoa học

Nếu áp dụng đúng các yêu cầu và biện pháp phát triển năng lực tự học với

sách giáo khoa cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 ở

trường Trung học phổ thông (Chương trình Chuẩn) như luận văn đề xuất thì sẽ góp

phần nâng cao hiệu quả bài học lịch sử trên tất cả các mặt giáo dưỡng, giáo dục vàphát triển Điều này góp phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học lịch

sử ở trường phổ thông nói chung và rèn luyện kĩ năng tự học với sách giáo khoalịch sử cho học sinh nói riêng

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở xác định đối tượng nghiên cứu như trên, đề tài giải quyết cácnhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực tự học vớisách giáo khoa cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông

- Điều tra thực trạng việc giáo viên phát triển năng lực tự học với sách giáokhoa cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 ở trường Trunghọc phổ thông (Chương trình Chuẩn)

- Nghiên cứu nội dung, chương trình, sách giáo khoa lớp 12 khoá trình lịch

sử thế giới (Chương trình Chuẩn) để phát triển năng lực tự học với sách giáo khoacho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000

- Nghiên cứu, đề xuất một số yêu cầu và các biện pháp phát triển năng lực tựhọc với sách giáo khoa cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000

ở trường Trung học phổ thông (Chương trình Chuẩn)

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm định giả thuyết khoa học và tính khả thi của đề tài

7 Phương pháp nghiên cứu

Trang 15

7.1 Phương pháp luận

Cơ sở phương pháp luận của đề tài là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng HồChí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về lịch sử và giáodục lịch sử trong trường phổ thông

7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

+ Nghiên cứu các văn kiện Đảng, Nghị định, Thông tư, Pháp lệnh của chínhphủ; nghiên cứu Luật Giáo dục, Chính sách, Chiến lược, Chỉ thị… của Ngành Giáodục về đổi mới phương pháp dạy học

+ Nghiên cứu cơ sở tâm lí học, giáo dục học, lí luận về phương pháp dạy họctheo hướng phát triển năng lực học sinh

+ Nghiên cứu chương trình, nội dung lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 ởtrường Trung học phổ thông (Chương trình Chuẩn)

+ Nghiên cứu các sách, tạp chí, luận án, luận văn, các bài viết liên quan đếnlĩnh vực nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp điều tra xã hội học:

+ Điều tra thực trạng vấn đề phát triển năng lực tự học với sách giáo khoacho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 ở một số trường Trunghọc phổ thông trên địa bàn tỉnh Đồng Nai bằng cách sử dụng phiếu điều tra

+ Khảo sát ý kiến của một số giáo viên giảng dạy môn Lịch sử của một sốtrường trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, nhằm nắm bắt tình hình về việc giáo viên pháttriển năng lực tự học với sách giáo khoa lịch sử cho học sinh

+ Dự giờ một số tiết dạy môn Lịch sử lớp 12 nhằm tìm hiểu về các biện phápphát triển năng lực tự học với sách giáo khoa lịch sử (Chương trình Chuẩn) cho học sinh

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm ở một số lớphọc cùng chương trình, có mức độ năng lực tự học với sách giáo khoa lịch sử tươngđương nhau… để kiểm tra tính hợp lí, tính hiệu quả và mứa độ khả thi của đề tài

- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê toán học

để xử lí, thống kê toán học các kết quả thực nghiệm sư phạm Từ đó kiểm định giảthuyết khoa học mà đề tài đã nêu ra để khẳng định tính khả thi của đề tài

8 Đóng góp của đề tài

Trang 16

Đề tài nghiên cứu thành công sẽ có những đóng góp sau: Hệ thống hóa cácvấn đề lí luận về phát triển năng lực tự học với sách giáo khoa lịch sử; đề xuất cácyêu cầu và một số biện pháp phát triển năng lực tự học với sách giáo khoa cho họcsinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 một cách hiệu quả; góp phầnnâng cao chất lượng bài học lịch sử lớp 12 ở trường Trung học phổ thông (Chươngtrình Chuẩn).

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn gồm

3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực tự học với

sách giáo khoa cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông

Chương 2: Nội dung lịch sử cần khai thác để phát triển năng lực tự học với

sách giáo khoa cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 ởtrường Trung học phổ thông (Chương trình Chuẩn)

Chương 3: Phương pháp phát triển năng lực tự học với sách giáo khoa cho

học sinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1945 đến 2000 ở trường Trung học phổthông (Chương trình Chuẩn)

Trang 17

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC VỚI SÁCH GIÁO KHOA

CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.1.1.1 Khái niệm Sách giáo khoa và Sách giáo khoa lịch sử

+ Sách giáo khoa

Khoản 2 – điều 29 của Luật Giáo dục Việt Nam 2005 quy định “Sách giáo

khoa (SGK) cụ thể hóa các yêu cầu về nội dung kiến thức và kĩ năng quy định trong chương trình giáo dục của môn học, của mỗi lớp, của giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục phổ thông” [49, tr.21] Như vậy, SGK là cụ thể

hóa chương trình, tức là cụ thể hóa chuẩn về mục tiêu, phạm vi, số lượng và mức độcủa kiến thức, kĩ năng, thái độ

Cũng theo Luật Giáo dục Việt Nam 2005, SGK trước hết là sách do Bộ Giáodục và Đào tạo tổ chức biên soạn và được ban hành trên cơ sở thẩm định của Hội đồngquốc gia thẩm định SGK để sử dụng chính thức, thống nhất, ổn định trong giảng dạy,học tập và đánh giá HS ở nhà trường và các cơ sở giáo dục phổ thông khác

Trong quá trình dạy học, cả giáo viên (GV) và học sinh (HS) đều tương táctrực tiếp với SGK Căn cứ vào tác dụng của công cụ giúp HS nhận thức trực tiếp thếgiới hiện thực thì SGK là phương tiện dạy học quan trọng nhất SGK cung cấp cho

HS hệ thống tri thức và những tình cảm lành mạnh, những phong cách và phươngpháp làm việc hiện đại

Theo Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong chương trình

giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo (tháng 7/2015) thì “SGK là tài

liệu chính để dạy và học trong nhà trường, đáp ứng được những tiêu chí do Nhà

Trang 18

nước quy định, có tác dụng hướng dẫn hoạt động dạy và hoạt động học, chủ yếu về nội dung và phương pháp dạy học” [13].

Theo Nguyễn Xuân Lạc, “SGK phải làm được chức năng hướng dẫn HS tự

học để giúp các em tự học tốt môn học ấy ở lớp và cấp học của mình…không làm được chức năng hướng dẫn HS tự học thì không còn SGK nữa, mà tự nó đã chuyển thành một loại sách khác như tham khảo, cung cấp kiến thức…” [35].

Như vậy, các quan niệm trên đều cho rằng SGK là cuốn sách trình bày hệthống kiến thức cơ sở của một khoa học, phản ánh các tư tưởng văn hóa của mỗidân tộc, cụ thể hóa các yêu cầu về nội dung kiến thức và kĩ năng quy định trongchương trình giáo dục của quốc gia SGK là một trong những yếu tố quyết định nhấtđến chất lượng dạy học, là tài liệu sử dụng chính thức trong giảng dạy và học tập.SGK là phương tiện dạy học rất cần thiết trong quá trình tổ chức nhận thức cho HScủa GV, giúp định hướng quá trình tự học, tự phát hiện, tự chiếm lĩnh tri thức mới

và thực hành theo năng lực của người học, góp phần giáo dục nhân cách và bồidưỡng tâm hồn cho học sinh

+ Sách giáo khoa lịch sử

SGK lịch sử (LS) là một phương tiện dạy học có đầy đủ các đặc điểm, chứcnăng của SGK nói chung LS là một môn học có đặc điểm riêng với hệ thống kiếnthức là những sự kiện – hiện tượng LS đã diễn ra trong quá khứ Do đó, SGK lịch

sử vừa phải có khả năng tái hiện lại bức tranh quá khứ vừa phải cung cấp nhữngkiến thức LS cơ bản giúp học sinh hiểu rõ bản chất của các sự kiện – hiện tượng LS

Quan niệm đúng về SGK lịch sử vừa có ý nghĩa lí luận vừa có ý nghĩa thựctiễn, làm cơ sở cho GV và HS sử dụng, khai thác SGK một cách hiệu quả, góp phầnnâng cao chất lượng dạy học

“SGK lịch sử là sự cụ thể hóa chương trình môn học, do Nhà nước quy định, được biên soạn theo chương trình và quán triệt mục tiêu đào tạo đã được xác định, trong đó phải thể hiện mục đích, yêu cầu, nội dung và phương pháp dạy học” [58, tr.87].

SGK lịch sử vừa cung cấp thông tin khoa học, vừa có tác dụng bồi dưỡng thếgiới quan khoa học và nhân sinh quan tiến bộ cho HS Nội dung SGK lịch sử đượcchọn lọc từ tri thức phong phú của khoa học LS, được sắp xếp theo một cấu trúc

Trang 19

phù hợp với quy luật nhận thức của HS và đảm bảo tính khoa học cần thiết Vì vậySGK lịch sử là một phương tiện dạy học LS quan trọng ở trường phổ thông.

SGK lịch sử cung cấp hệ thống kiến thức LS phù hợp với chuẩn kiến thức, kĩnăng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việc trình bày ở SGK lịch sử đảmbảo tính khoa học, hiện đại, cập nhật, trực quan, logic và có liên hệ với các môn họckhác SGK lịch sử thực hiện đồng thời hai chức năng: vừa là phương tiện học tậpcủa HS, vừa hỗ trợ GV hiểu và thực hiện chương trình dạy học theo quy định

Vậy SGK lịch sử là sách dùng riêng cho giảng dạy LS SGK lịch sử trình bày

hệ thống kiến thức cơ sở của bộ môn LS, cụ thể hóa các yêu cầu về nội dung kiến thức, kĩ năng quy định trong chương trình LS, nó là phương tiện rất cần thiết trong quá trình tổ chức các hoạt động nhận thức cho HS trong dạy học LS SGK lịch sử giúp định hướng quá trình tự học, tự phát hiện, tự chiếm lĩnh tri thức mới và vận dụng tri thức đó theo năng lực của người học, góp phần bồi dưỡng các phương pháp nhận thức khoa học cho HS.

+ Chức năng sách giáo khoa lịch sử

SGK lịch sử là một phương tiện dạy học nên nó mang đầy đủ các chức năngcủa một phương tiện dạy học Cùng với chức năng chung nhất là giáo dục nhân văntheo các chuẩn mực giá trị đạo đức đã được chấp nhận trong xã hội đương đại, SGKlịch sử còn có các chức năng chủ yếu: cung cấp kiến thức LS cho HS, chức năngdạy học và phát triển, tức là hướng dẫn phương pháp học tập, nghiên cứu trên cơ sởcủng cố và phát triển năng lực (NL) tư duy của các em, dẫn dắt HS nghiên cứu kiếnthức, rèn luyện kĩ năng, kích thích hứng thú học tập… Như vậy, SGK lịch sử cóchức năng quan trọng đối với người học và người dạy

Đối với hoạt động dạy của GV, SGK lịch sử cung cấp các kiến thức LS phù

hợp với yêu cầu về chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục bộ môn Từ

đó, GV xác định mục tiêu bài học, lựa chọn phương pháp dạy học (PPDH) để tổchức cho HS chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện các kĩ năng cần thiết SGK lịch sửgiúp GV định hướng tham khảo các tài liệu cần thiết, đặt câu hỏi, bài tập, gợi ýnhiệm vụ học tập, giao nhiệm vụ nghiên cứu cho HS Khi xác định rõ mục tiêu kiếnthức, GV sẽ tổ chức tốt cho HS, mỗi nhóm HS tương tác với kiến thức Đây cũngchính là bước quan trọng của việc rèn luyện và phát triển cho học sinh những kĩ

Trang 20

năng tự học (TH), tự làm việc với SGK lịch sử cần thiết Đồng thời SGK lịch sử cóthể giúp GV khơi gợi và phát huy khả năng tự học lịch sử cho HS.

Dựa vào SGK lịch sử, GV có thể xác định được yêu cầu về nội dung kiểmtra, đánh giá phù hợp mục tiêu và chương trình giáo dục SGK lịch sử cung cấp kiếnthức theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục quốc gia, giúp GVtham khảo để hiểu và xác định kiến thức của mỗi phần, mỗi chương, mỗi bài học cụthể Do vậy GV có thể biết được yêu cầu về kiến thức và kĩ năng cần có của mỗibậc học, cấp học, lớp học, phần học, bài học

Đối với quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho HS của GV, SGK lịch sử làphương tiện trung gian cho sự tương tác của thầy và trò với kiến thức có hiệu quả vàquan trọng nhất trong dạy học LS Thông qua SGK lịch sử, GV định hướng và tổchức các hoạt động nhận thức cho HS với nội dung kiến thức sẵn có, còn HS tiếnhành các hoạt động cần thiết để chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện kĩ năng, phát huy tínhsáng tạo, kích thích hứng thú học tập, tăng chú ý và tạo động cơ học tập đúng đắn

Đặc biệt SGK lịch sử còn giúp GV phát triển tối ưu nhân cách của HS – mộtmục tiêu quan trọng của giáo dục phổ thông, tức là hình thành, phát triển ở HS khảnăng ứng xử, có hành vi văn minh, giúp các em ý thức được vị trí của mình trongphạm vi gia đình, nhà trường và xã hội Hơn nữa dựa vào quá trình làm việc vớiSGK lịch sử, GV có phương án phân hóa HS rõ ràng giúp kịp thời điều chỉnh vàgiáo dục toàn diện cho HS

Đối với hoạt động học tập của HS, SGK là nguồn tri thức cơ bản, là phương

tiện có vị trí quan trọng trong học tập SGK lịch sử giúp HS lĩnh hội kiến thức, kĩnăng, phương pháp, củng cố điều đã học, đánh giá kiến thức, chức năng tham khảo vàchức năng tích hợp những điều đã học, chức năng giáo dục văn hóa – xã hội SGKlịch sử cung cấp cho HS những kiến thức, kĩ năng cơ bản, hiện đại, thiết thực và có

hệ thống theo những quy định trong chương trình của môn học SGK lịch sử cung cấpthông tin bao gồm những sự kiện, hiện tượng LS cụ thể, những khái niệm, quy luật…

SGK lịch sử góp phần hình thành và phát triển cho HS phương pháp học tậptích cực, khả năng TH, tự nghiên cứu môn học SGK lịch sử là tài liệu quan trọngnhất có tác dụng hỗ trợ, tạo điều kiện cho HS tự học, tự tiếp thu tri thức LS cần thiết

Trang 21

ngẫm những điều chưa hiểu về kiến thức LS SGK lịch sử giúp hình thành và pháttriển ở HS phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học, thu thập và xử lí thông tin…

SGK lịch sử tạo điều kiện cho HS có thể tự kiểm tra, tự đánh giá kiến thức,

kĩ năng, tự khẳng định khả năng của mình đối với môn học Từ đó HS sẽ có đượcbiện pháp cụ thể để bổ sung kiến thức và kĩ năng học tập LS cho bản thân Qua đó,

HS tự điều chỉnh để hoàn thiện về đức, trí, thể, mĩ

SGK lịch sử giúp HS liên kết những kiến thức, kĩ năng đã học với hành độngcủa HS trong hoạt động thực tiễn

SGK lịch sử giúp HS tham khảo, tra cứu thông tin về LS, nó được coi là mộtcông cụ tin cậy, có tính thuyết phục cao đối với HS SGK lịch sử giúp HS tìm kiếmđược những thông tin chính xác, phù hợp trình độ, lứa tuổi người học

Về mặt văn hóa – xã hội: SGK lịch sử góp phần hình thành, phát triển ở HSkhả năng ứng xử, có hành vi văn minh, giúp học ý thức được vị trí của mình trongphạm vi gia đình, nhà trường và xã hội

SGK lịch sử còn là đối tượng tương tác tốt tạo môi trường cho HS phát triển

tư duy, phát triển các NL của cá nhân, góp phần bộc lộ khả năng, tính sáng tạo, tìnhcảm và cảm xúc của mỗi người

Đối với HS, SGK lịch sử có chức năng cơ bản là phương tiện dạy học cungcấp kiến thức LS, thông tin khoa học bộ môn cho HS SGK lịch sử giúp HS tự tìmkiến thức mới, tự kiểm tra, đánh giá kiến thức LS của bản thân, tra cứu thông tin,tạo điều kiện cho HS hiểu chính xác kiến thức LS Từ đó, hình thành ở các em nănglực tự học (NLTH), tự làm chủ kiến thức Bên cạnh đó, nó góp phần phát triển NLnhận thức và hình thành nhân cách cho HS

HS có NLTH với SGK lịch sử sẽ góp phần xây dựng một xã hội học tập Tuynhiên, điều này chỉ đạt hiệu quả tốt nhất khi GV nắm được những đặc điểm cơ bảncủa SGK lịch sử và biết cách tổ chức cho HS các hoạt động tương tác với SGK mộtcách hợp lí GV phải quan tâm, đánh giá đúng trình độ, khả năng chiếm lĩnh cũngnhư nhu cầu học tập của từng HS

+ Cấu trúc của sách giáo khoa lịch sử

Trang 22

Hiện nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về cấu tạo của SGK nói chung,SGK lịch sử nói riêng Tổng hợp lại có hai ý kiến cơ bản sau:

Một là, chia nội dung SGK ra hai phần: Kênh chữ và kênh hình Kênh chữ là

những thông tin thành văn chủ yếu trong SGK dùng để trình bày nội dung môn học,chỉ dẫn về phương pháp và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Kênh hình bao gồmnhững ảnh chụp, tranh vẽ, đồ thị…

Hai là, chia nội dung SGK thành hai phần: Bài viết và cơ chế sư phạm Bài

viết là nội dung cơ bản của chương trình được trình bày ngắn gọn trong một sốtrang, dành cho một tiết học, là bộ phận chủ yếu mà học sinh cần phải nghiên cứu,nắm vững Cơ chế sư phạm chỉ tất cả các thành tố còn lại ngoài bài viết trong SGK,dành cho một tiết học, bao gồm câu hỏi, bài tập, tài liệu tham khảo, bài đọc thêm,phần minh họa (tranh, ảnh, bản đồ, các loại đồ dùng trực quan quy ước khác nhưniên biểu, sơ đồ, đồ thị…)

1.1.1.2 Tự học và tự học lịch sử

+ Tự học

Việc người học giành lấy tri thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi

luôn được các nhà giáo dục trên thế giới quan tâm và đề cao Bác Hồ đã dạy “Về

cách học phải lấy tự học làm cốt” Đảng ta cũng luôn khẳng định TH là một biện

pháp đề cao tính chủ động, tích cực để nâng cao chất lượng giáo dục Liên quan đếnkhái niệm TH có rất nhiều định nghĩa khác nhau:

Theo Nguyễn Cảnh Toàn trong cuốn “Quá trình dạy – tự học” thì “Tự học

là tự mình dùng các giác quan để thu nhận thông tin rồi tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp và cả cơ bắp khi phải

sử dụng công cụ) cùng với các phẩm chất của mình, rồi động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh cho được một lĩnh vực hiểu biết nào đó, một

số phẩm chất nào đó của nhân loại hay cộng đồng biến chúng thành sở hữu của mình” [55, tr.68].

Thái Duy Tuyên thì khẳng định “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh

kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm LS – xã hội loài người nói chung của chính bản thân người học” [60, tr.53].

Trang 23

Còn Nguyễn Kỳ cho rằng “Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị

trí của người tự nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho mình, nhận thức vấn đề, thu thập xử lí thông tin, tái hiện kiến thức cũ, xây dựng các giải pháp, giải quyết vấn đề, xử lí tình huống, thử nghiệm các giải pháp” [27].

Qua những định nghĩa trên, có thể hiểu “Tự học là quá trình bao gồm những

hành động mang tính tự giác, tích cực của cá nhân được thúc đẩy bởi những mục đích, động cơ tương ứng và diễn ra trong những điều kiện, những hoàn cảnh cụ thể nhằm lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, giúp hình thành và phát triển toàn diện nhân cách người học”.

Trong luận án tiến sĩ của mình, Đoàn Nguyệt Linh đưa ra định nghĩa “Tự

học LS là việc HS chủ động trong việc tiếp thu kiến thức mới, ôn tập kiến thức đã biết và luôn tìm tòi, khám phá những tri thức LS mới Đây là hoạt động cơ bản để đem lại thành công cho quá trình dạy – học và góp phần tạo hứng thú học tập LS cho HS” [44, tr.30].

Như vậy có thể hiểu “Tự học LS là quá trình HS tự nắm vững kiến thức LS

thông qua những hoạt động mang tính tích cực, tự giác của bản thân và vận dụng thành thạo kiến thức LS đó”.

1.1.1.3 Năng lực, năng lực tự học

+ Năng lực

Năng lực là một phạm trù từng được bàn đến trong mọi lĩnhvực của cuộc sống xã hội Đã có nhiều định nghĩa khác nhau vềNL:

Trang 24

Theo từ điển Tiếng Việt: “NL là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn

có để thực hiện một hành động nào đó NL là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [53, tr 596]

F.E Weinert thì “NL là các khả năng và kĩ năng nhận thức vốn có ở cá nhân

hay có thể học được…để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống NL cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội

để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp…trong những tình huống thay đổi” [Dẫn theo 12, tr.45].

Khi nói đến NL thì không phải là một thuộc tính tâm lí duynhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ ) mà là sự tổnghợp các thuộc tính tâm lí cá nhân (sự tổng hợp này không phảiphép cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa cácthuộc tính tâm lí này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theomột hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tưcách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đápứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạtđược kết quả mong muốn

Tóm lại “NL là khả năng thực hiện thành công hoạt động

trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… NL của cá nhân được đánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [44, tr.32].

+ Năng lực tự học

Nguyễn Cảnh Toàn khái niệm “Năng lực tự học được hiểu là

một thuộc tính kĩ năng rất phức hợp Nó bao gồm kĩ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học

có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra” [56,

tr.87] NLTH gồm cách học, kĩ năng học và nội dung học, “NLTH là

Trang 25

sự tích hợp tổng thể cách học và kĩ năng tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống – vấn đề khác nhau” [56, tr.88].

NLTH là khả năng, phẩm chất vốn tồn tại trong mỗi cá nhân.Tuy nhiên, nó sẽ thay đổi tùy theo hoạt động của mỗi cá nhântrong từng môi trường văn hóa – xã hội NLTH là khả năng riêngbiệt của từng cá nhân, nhưng để nó có thể bộc lộ, phát huy những

ưu điểm giúp cá nhân phát triển thì đòi hỏi NLTH đó cần được đàotạo, rèn luyện trong môi trường học tập cũng như trong các hoạtđộng thực tiễn của cuộc sống hàng ngày Có như vậy mới giúpngười học không ngừng phát triển về các mặt, đồng thời hìnhthành thói quen tự học, tự nghiên cứu cho hành trình sau này khicác em rời khỏi ghế nhà trường

Như vậy, “NLTH là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập

một cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực hiện; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá và lời góp ý của giáo viên, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập” [44, tr.34].

1.1.1.4 Năng lực tự học với sách giáo khoa lịch sử và phát triển năng lực tự học với sách giáo khoa lịch sử

+ Năng lực tự học với sách giáo khoa lịch sử

SGK lịch sử là SGK dành riêng trong giảng dạy LS, trình bày

hệ thống kiến thức cơ sở của bộ môn LS, cụ thể hoá các yêu cầu

về nội dung kiến thức và kĩ năng quy định trong chương trình môn

LS SGK lịch sử giúp định hướng quá trình tự học, tự chiếm lĩnh trithức mới theo NL của người học, góp phần bồi dưỡng các phươngpháp học tập bộ môn cho HS Để tiếp nhận được kiến thức bộ mônthông qua quá trình TH với SGK, HS cần sử dụng các thao tác tưduy thích hợp, những thao tác đó cần được rèn luyện liên tục đến

Trang 26

mức độ thành thạo, qua đó giải quyết các nhiệm vụ học tập mộtcách hiệu quả, đồng thời sẽ góp phần nâng cao NLTH bộ môn LSnói riêng và TH nói chung.

Từ những quan niệm về NLTH và SGK lịch sử nêu trên, có thể

định nghĩa NLTH với SGK lịch sử là năng lực tự chiếm lĩnh tri thức

thông qua việc nghiên cứu nội dung SGK lịch sử.

+ Phát triển năng lực tự học với sách giáo khoa lịch sử

Phát triển là một khái niệm được sử dụng dùng để chỉ sự thay đổi theo chiềuhướng tích cực của một sự vật, hiện tượng hay vấn đề nào đó

Theo từ điển Tiếng việt, phát triển là “biến đổi hoặc làm cho biến đổi theo

chiều hướng tăng, từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp (tr 1204).

Theo Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Viện ngôn ngữ học

(2002): Từ điển Anh - Việt, NXB Thành phố Hồ Chí Minh thì “Phát triển: làm cho

ai, cái gì tăng trưởng dần dần; trở nên hoặc làm cho trưởng thành hơn, tiến triển hơn hoặc có tổ chức hơn” [tr 476].

Như vậy, “phát triển là sự lớn mạnh, trưởng thành hơn, là sự thay đổi liên

tục theo hướng tích cực của cái mới so với cái cũ đã được hình thành hay xuất hiện

từ trước đó” [44, tr.37]

Phát triển NLTH là “hiểu rõ kiến thức về TH, về phương pháp tự học tập bộ

môn Hoàn thiện hệ kĩ năng TH: thể hiện trong nhận thức, trong thực tế khi HS tiến hành TH (HS biết cách tìm kiếm tài liệu, tổ chức và sử dụng nguồn tài liệu hợp lí phục vụ cho quá trình TH…) Hệ thái độ: Người học có động cơ tự học, có sự hứng thú, say mê, chủ động trong quá trình học tập nhằm biến kiến thức của nhân loại thành sở hữu của mình một cách hiệu quả nhất” [44, tr.37].

Từ những định nghĩa về phát triển nêu trên, trên cơ sở đặc điểm của bộ môn

LS, có thể rút ra định nghĩa về phát triển NLTH với SGK lịch sử là quá trình hình

thành, nâng cao khả năng tự chiếm lĩnh tri thức từ SGK lịch sử.

Trong quá trình dạy học LS ở trường THPT, để đánh giá việc phát triểnNLTH với SGK cho HS, GV có thể dựa vào thang NL sau:

Trang 27

- Nhận biết: yêu cầu HS ghi nhớ được sự kiện LS, kể tên nhân vật LS cụ thể,

nêu diễn biến các cuộc kháng chiến, chiến dịch…

Đối với mức độ này, việc TH chưa thành thạo, HS chủ yếu dựa vào khả năngghi nhớ và tái hiện lại những kiến thức có trong SGK với sự hỗ trợ tự GV Thái độhọc tập của HS chưa được thể hiện rõ, HS chưa thực sự yêu thích môn học Để pháttriển NLTH với SGK cho HS, trên cơ sở tự nghiên cứu SGK, trong quá trình táihiện, khôi phục sự kiện, hiện tượng LS trong SGK, GV yêu cầu HS phải biết chọnlọc những sự kiện, hiệng tượng LS cơ bản hay những nét đặc trưng, điển hình củacác sự kiện, hiện tượng ấy

- Thông hiểu: đòi hỏi HS phải hiểu bản chất sự kiện, hiện tượng trên cơ sở đó

biết khái quát, xâu chuỗi các sự kiện LS, lý giải được mối quan hệ giữa các sự kiệnnày với sự kiện khác

Đây có thể xem là giai đoạn đầu của quá trình TH với SGK lịch sử, tuy nhiêncác NLTH với SGK lịch sử chưa thật sự thành thạo, cần có sự hướng dẫn hỗ trợ của

GV HS đã bắt đầu có nhu cầu TH và tự tìm hiểu những kiến thức LS có trongSGK, thái độ học tập bộ môn bắt đầu được bộc lộ Trên cơ sở những kiến thức LSđược trình bày trong SGK, HS biết so sánh, phân tích, khái quát hoá để từ đó tìm rađược bản chất của những sự kiện, hiện tượng LS, góp phần tích cực vào tiếp thukiến thức mới Thông qua quá trình TH với SGK lịch sử, HS sẽ có điều kiện rènluyện khả năng vận dụng các thao tác tư duy trong quá trình học tập bộ môn, qua đóphát huy tính tích cực học tập của HS

- Vận dụng ở cấp độ thấp: HS vượt qua cấp độ hiểu đơn thuần và có thể sử

dụng các khái niệm của chủ đề trong các tình huống tương tự nhưng không hoàntoàn giống như tình huống đã gặp trên lớp

Ở đây, HS đã vận dụng các kĩ năng TH với SGK lịch sử một cách linhhoạt và mềm dẻo HS đã vận dụng thành thạo các thao tác tư duy khác nhaucùng với những kiến thức mới tiếp thu được thông qua việc TH với SGK lịch

sử vào giải quyết những nhiệm vụ học tập mới đặt ra trong quá trình học tập bộmôn Từ quá trình TH, tự tìm hiểu kiến thức LS từ SGK sẽ góp phần khơi gợi

Trang 28

hứng thú trong việc tìm hiểu và học tập bộ môn LS của HS Thái độ tự giác,tích cực học tập của HS được thể hiện cụ thể, rõ ràng.

- Vận dụng ở cấp độ cao: đòi hỏi trên cơ sở hiểu bản chất sự kiện, hiện tượng

LS, yêu cầu HS đánh giá nhận xét, bày tỏ những chính kiến, quan điểm, thái độ vềcác vấn đề LS, biết liên hệ với thực tiễn và vận dụng những kiến thức LS giải quyếtnhững vấn đề trong cuộc sống thực tiễn, biết rút ra những bài học kinh nghiệm

Các kĩ năng TH với SGK được HS vận dụng một cách thànhthục trở thành kĩ xảo Nó biểu hiện ở việc HS biết vận dụng mộtcách nhuần nhuyễn những thao tác tư duy, huy động kiến thức đã

tự lực tìm hiểu được thông qua quá trình TH với SGK nhằm giảiquyết những tình huống trong cuộc sống Thái độ học tập với bộmôn thể hiện ở mức cao, yêu thích và say mê tự học môn LS

1.1.2 Những năng lực tự học với sách giáo khoa cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông

Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trìnhgiáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận NL của người học Để giúp GV dễ dànghơn trong việc xác định các NL cần hình thành, phát triển cho HS trong quá trìnhdạy học ở trường phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phân tích và chia NL ra

thành 2 loại: NL chung và NL chuyên biệt của từng môn học.

NL chung là những NL cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm

việc bình thường trong xã hội NL này được hình thành và phát triển do nhiều môn

học, liên quan đến nhiều môn học Vì thế có nước gọi là NL xuyên chương trình.

Mỗi NL chung cần góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng,giúp cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp,chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng với tất cả

mọi người NL chung gồm 9 NL sau: NL tự học, NL giải quyết vấn đề, NL sáng tạo,

NL tự quản lí, NL giao tiếp, NL hợp tác, NL sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), NL sử dụng ngôn ngữ và NL tính toán.

Từ cơ sở những NL chung, có thể rút ra những NLTH với SGK mà GV cầnhình thành và phát triển cho HS:

Trang 29

Thứ nhất, năng lực thu nhận thông tin từ sách giáo khoa

NL thu nhận thông tin từ SGK là khả năng HS biết định hướng và chọn lọc

ra những thông tin chính, bản chất từ nội dung kiến thức trình bày trong SGK đểgiải quyết mục tiêu học tập

Để định hướng thu nhận thông tin thật cụ thể, chính xác HS cần xác định rõmục tiêu học tập được cụ thể hóa bằng những chỉ dẫn hoạt động nhận thức trongquá trình làm việc với SGK

Hiện tại SGK lịch sử ở trường THPT không trình bày mục tiêu, vì vậy để HS tiếtkiệm được thời gian, khi hướng dẫn cho HS ngay từ lúc chuẩn bị, GV cần giúp HS xácđịnh được mục tiêu chung của bài và gợi ý để HS xác định được các mục tiêu cụ thể

Trang 30

Khi đã nắm vững mục tiêu bài học, HS tiến hành làm việc với SGK bằngviệc đọc lướt sau đó đọc kĩ Để chuẩn bị cho bài học mới, GV thường yêu cầu HSđọc trước bài trong SGK nhưng rất ít GV quan tâm hướng dẫn khâu này GV chỉyêu cầu HS đọc lướt qua để nắm bắt nội dung chính chứ chưa đi vào chi tiết Đôikhi cần đọc lướt cả chương hoặc một cụm bài để tìm hiểu cấu trúc chung của SGK,trên cơ sở đó xác định được vị trí, ý nghĩa của bài học sắp tới, do đó hiệu quả đi sâuvào bài học được nâng lên.

Nếu biết ghi nhớ những điểm quan trọng trong SGK thì kiến thức thu nhậnđược mới có giá trị Muốn làm được điều đó, HS phải có cách thu nhận thông tinđọc được bằng các cách khác nhau: đánh dấu vào những chỗ quan trọng trong sách,trích ghi, ghi tóm tắt, lập dàn ý, đề cương…Kĩ năng ghi chép thông tin khi làm việcvới SGK rất quan trọng vì nó giúp người đọc tiết kiệm được rất nhiều thời gian,nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc

Như vậy khi hình thành và phát triển NL thu nhận thông tin qua SGK, HSxác định đúng được mục tiêu và có cách thu nhận thông tin đọc được dưới nhiềuhình thức khác nhau

Thứ hai, năng lực xử lí thông tin từ sách giáo khoa

NL xử lí thông tin qua kênh chữ, kênh hình (hay bài viết và cơ chế sư phạm)

từ SGK là khả năng sử dụng các thông tin thu nhận được vào việc giải quyết cácmục tiêu học tập

Sau khi thu nhận được các thông tin từ SGK, căn cứ vào mục tiêu học tập,

HS nghiên cứu kĩ lại những chỗ đánh dấu hoặc đã ghi chép được trong những lầnđọc trước Khi nghiên cứu, HS cần phối hợp thu nhận thông tin từ các kênh chữ,kênh hình (hay bài viết và cơ chế sư phạm) Đó là sự phân tích thông tin để xác địnhcác ý chính, phụ, ý trọng tâm, loại bỏ các ý rườm rà, ít có giá trị thông tin, xác địnhmối liên hệ giữa các ý để khu biệt các nhóm ý rồi tổng hợp và khái quát chúngthành các khái niệm, quy luật hay học thuyết, bài học kinh nghiệm, hoặc nội dung

cơ bản của SGK và ghi nhớ chúng trên nền tảng thông hiểu

Trang 31

Tất cả các thao tác nói trên đều được diễn ra bằng các thao tác tư duy, ngônngữ Sau khi các tri thức quan trọng nhất đã được chọn lọc và sắp xếp theo mộtlogic chặt chẽ nhằm giải quyết mục tiêu bài học như: tái hiện, phân tích sự kiện,hiện tượng, so sánh, thiết lập mối quan hệ nhân quả… để giải quyết các nhiệm vụhọc tập ở các cấp độ khác nhau Để làm được điều đó, HS phải sử dụng các tri thức

đã thu nhận được qua làm việc với sách, sắp xếp lại, trình bày theo cách hiểu củamình, bằng ngôn ngữ của mình chứ không phải đọc lại nội dung một phần nào đótrong SGK

Nội dung thông tin sau khi thu nhận và xử lí được xem là kết quả quan trọng

để đánh giá hiệu quả của quá trình làm việc độc lập với SGK của HS Để HS cóđược các kĩ năng làm việc này, GV cần hướng dẫn cụ thể qui trình và các thao táclàm việc với SGK giúp HS có kĩ năng định hướng ghi chép và xử lí thông tin trongkhi đọc

Thứ ba, năng lực rút ra kết luận để diễn đạt thông tin từ sách giáo khoa

NL rút ra kết luận để diễn đạt thông tin từ SGK là khả năng diễn đạt đúngnội dung theo đúng chủ đề bằng sơ đồ, hình vẽ, lời mô tả…

Có thể trình bày nội dung đọc được bằng nhiều hình thức khác nhau như: vănnói, văn viết, lập bảng, biểu so sánh và sơ đồ hoá… nhưng cốt yếu phải là ngônngữ chính của HS, diễn đạt theo cách hiểu của HS chứ không phải là chép lại SGK

Khi hình thành và phát triển NL rút ra kết luận để diễn đạt thông tin từ SGK

sẽ có tác dụng rèn luyện và phát triển các kĩ năng tư duy, đặc biệt là kĩ năng TH:biết thu thập, xử lí thông tin, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá, lập bảng biểu,

vẽ đồ thị; làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm, làm báo cáo; kĩ năng ngôn ngữ

ở mức độ cao, giúp HS lưu giữ thông tin một cách vững chắc, tạo thuận lợi cho việctrình bày bằng lời trong thảo luận hay khi ôn tập để kiểm tra, thi cử

Thứ tư, năng lực vận dụng kiến thức từ sách giáo khoa để giải bài tập và giải quyết yêu cầu cuộc sống.

NL vận dụng kiến thức là khả năng sử dụng các kiến thức thu nhận và xử líđược để nhận thức, cải tạo thực tiễn

Trang 32

NL vận dụng kiến thức được thể hiện ở việc HS sử dụng những kiến thức đãlĩnh hội được vào việc giải thích các hiện tượng có trong thực tiễn hoặc giải quyếtmột nhiệm vụ cụ thể nào đó trong quá trình học tập bộ môn.

Để vận dụng tốt kiến thức thì trước hết HS phải hình thành được 3 NL như đã

đề cập ở trên Có thu nhận và xử lí được thông tin từ SGK thì HS mới sử dụng được kiếnthức đó vào thực tiễn và diễn đạt được đúng theo chủ đề

Các NL chuyên biệt của môn LS: Trên cơ sở những NL chung cần phải hình

thành, phát triển cho HS trong quá trình dạy học ở trường phổ thông, xuất phát từ nộidung và mục tiêu cụ thể của chương trình LS, các NL chuyên biệt cần phải hìnhthành, phát triển cho HS trong dạy học LS ở trường THPT:

- NL tái hiện, hiện tượng, nhân vật LS

- NL thực hành bộ môn LS

- NL xác định và giải quyết mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện,hiện tượng LS với nhau

- NL so sánh, phân tích, phản biện, khái quát hoá

- NL nhận xét, đánh giá rút ra bài học LS từ những sự kiện, hiện tượng, vấn

NL đó vào hoạt động TH với SGK trong quá trình học tập LS

Trên cơ sở đã trình bày về các NL chung, NLTH với SGK và những NL chuyênbiệt của môn LS thì trong dạy học lịch sử ở trường THPT, GV có thể phát triển nhữngNLTH với SGK lịch sử cho HS theo ba nhóm NL sau:

- Thu nhận thông tin từ SGK: NL tái hiện kiến thức LS cơ bản.

- Xử lí và rút ra kết luận để diễn đạt thông tin từ SGK: NL xác định và giải

quyết mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện, hiện tượng LS; NL so

Trang 33

sánh, phân tích, phản biện, khái quát hoá; NL nhận xét, đánh giá, rút ra bài học LS

từ những sự kiện, hiện tượng, vấn đề LS.

- Vận dụng kiến thức để giải bài tập và giải quyết yêu cầu của cuộc sống: NL

vận dụng, liên hệ kiến thức LS từ SGK để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra;

NL sử dụng ngôn ngữ LS thể hiện chính kiến của mình về các vấn đề LS.

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc phát triển năng lực tự học với sách giáo khoa cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông

1.1.3.1 Vai trò

TH lịch sử nói chung và TH với SGK lịch sử nói riêng có vai trò trong việcdạy học LS ở trường THPT Bởi vì, TH là nhân tố nội lực quyết định chất lượng họctập, còn hoạt động dạy là ngoại lực có tác dụng định hướng, kích thích, điều khiển vàchỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình học NLTH với SGK là một trong nhữngNLTH cần thiết mà các bộ môn cần phát triển cho HS Quá trình học tập chỉ thật sựđạt kết quả tốt nhất khi người học tự nỗ lực, TH, tự nghiên cứu để nắm vững tri thức,

từ kho tàng tri thức của nhân loại, “tự chuyển hóa” thành tri thức của bản thân Nhưvậy, việc TH với SGK góp phần rèn luyện tính tích cực, tự giác trong học tập của HS

Thứ nhất, TH với SGK là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình dạy

học Lí luận của dạy học hiện đại đã chỉ ra được bản chất của việc học chính là ở chỗ

TH, do vậy dạy học cũng chính là quá trình dạy cho HS cách để TH, mà tài liệu THgần gũi nhất, khoa học nhất, cơ bản nhất đối với HS chính là SGK Kiến thức nhânloại nói chung và kiến thức LS nói riêng là một kho tàng bao la và rộng lớn, GVkhông thể nào cung cấp hết cho HS, SGK chính là tài liệu học tập cơ bản của HS màtrong đó những kiến thức LS cơ bản nhất, chính xác nhất đã được thống nhất và đưavào giảng dạy, thông qua việc HS tự học với SGK có thể giúp GV có thêm thời giancung cấp cho các em những kiến thức mới, bổ sung kiến thức đã được trình bày trongSGK, qua đó giúp HS có cái nhìn đúng hơn về LS Bên cạnh đó, GV có thể trang bịthêm cho HS các NLTH với SGK để các em có đủ phương pháp, đủ kĩ năng cũngnhư thái độ yêu thích, say mê tìm hiểu khoa học, đây chính là PPDH tối ưu nhất

Thứ hai, phát triển NLTH với SGK cho HS trong dạy học LS ở trường THPT

góp phần tích cực vào đổi mới PPDH Để có thể hình thành và phát triển NLTH vớiSGK cho HS trong quá trình dạy học của mình người GV cần thường xuyên hướng

Trang 34

dẫn HS nắm vững kiến thức về phương pháp TH với SGK, tiến hành rèn luyện các

kĩ năng TH với SGK và hình thành cho HS thái độ, động cơ học tập đúng đắn Đểlàm tốt công việc này GV cần hướng HS đến việc học tập tích cực, tự giác bởi HSchính là nhân tố chủ động và là trung tâm của việc học, còn GV có vai trò là ngườihướng dẫn các em GV cần vận dụng những PPDH mới trong dạy học LS ở trườngTHPT như dạy học nêu vấn đề, dạy học theo chủ đề, tăng cường tổ chức những hoạtđộng tích cực hóa học tập của HS (trao đổi, thảo luận, thuyết trình, đóng vai, tổchức trò chơi LS…) Làm được như vậy, GV không chỉ góp phần phát triển NLTHvới SGK cho HS mà còn góp phần đổi mới PPDH

Thứ ba, phát triển NLTH với SGK cho HS trong dạy học LS ở trường THPT

là góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo con người trong thời đại mới NLTH rất cầnthiết cho mỗi con người đặc biệt trong thời kì phát triển đất nước, trong đó TH vớiSGK là bước đầu tiên trong quá trình phát triển NLTH của mỗi người, vì nó giúpcác em có được những kĩ năng TH cần thiết từ khi còn trên ghế nhà trường Với vốn

kĩ năng có được khi còn là HS sẽ giúp các em tự tin hơn để tiếp tục hành trình củabản thân sau khi rời khỏi ghế nhà trường

1.1.3.2 Ý nghĩa

Với những vai trò quan trọng như vậy, việc phát triển NLTH với SGK cho

HS có ý nghĩa hết sức to lớn trong dạy học LS ở trường THPT:

Về mặt kiến thức: Phát triển NLTH với SGK không chỉ giúp HS nắm vững

những kiến thức cơ bản thông qua bài giảng của GV mà còn giúp các em hiểu sâuhơn, rộng hơn, đồng thời giúp HS có những hiểu biết về phương pháp học tập bộmôn, nhờ đó tầm hiểu biết không chỉ về kiến thức mà còn cả phương pháp học tập

bộ môn được nâng cao hơn Kiến thức LS thông qua bài giảng trên lớp sẽ thật sự trởnên hữu ích khi HS biết vận dụng những kiến thức đó vào giải quyết một vấn đề nào

đó để nâng cao hơn tầm hiểu biết của bản thân Chính NLTH mà trong đó có NLTHvới SGK là yếu tố cần thiết giúp HS đáp ứng nhu cầu đó

Về mặt rèn luyện kĩ năng: Quá trình phát triển NLTH với SGK gắn liền với

mức độ thuần thục của HS khi vận dụng các kĩ năng TH để hoàn thành nhiệm vụ,tình huống học tập khác nhau Thông qua quá trình phát triển NLTH với SGK, HS

có điều kiện rèn luyện các thao tác tư duy phục vụ cho học tập bộ môn như phân

Trang 35

tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu… và khi các thao tác ấy được lặp đi, lặp lại nhiềulần nó sẽ trở thành những kĩ năng, kĩ xảo.

Bên cạnh đó, NLTH với SGK cũng giúp HS nắm vững hơn về phươngpháp TH bộ môn Như vậy, NLTH với SGK vừa có tác dụng tích cực trong việcnắm vững kiến thức LS, vừa có quá trình nắm vững, hiểu sâu hơn phương pháphọc tập bộ môn

Về mặt thái độ: Phát triển NLTH với SGK cho HS còn giúp hình thành ở HS

thái độ học tập đúng đắn Qua quá trình phát triển NLTH với SGK cho HS sẽ tạo ra

sự hứng thú, niềm say mê cũng như nhu cầu được tham gia vào các hoạt động họctập và ý chí vượt khó để hoàn thành nhiệm vụ Phát triển NLTH với SGK còn có tácdụng rèn luyện ý thức học tập và góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho HS.Khi đặt ra yêu cầu TH cho bản thân càng cao thì sự nỗ lực, ý chí phấn đấu của HScàng lớn Không chỉ những phẩm chất trên, phát triển NLTH với SGK cho HS cònrèn luyện tinh thần tự giác trong học tập, lao động, tạo thói quen dám nghĩ, dám làm

và phong cách làm việc khoa học cho HS Ngoài ra, việc phát triển NLTH với SGKcho HS còn góp phần hình thành động cơ học tập cho HS Ban đầu, động cơ ấy xuấtphát từ ý thức trách nhiệm phải hoàn thành nhiệm vụ học tập, từ những yêu cầu của

GV thúc đẩy HS tự học để giải quyết yêu cầu GV đưa ra, đây là động cơ bên ngoài.Còn động cơ bên trong là của bản thân mỗi cá nhân và nó xuất phát từ chính hoạtđộng học của HS (tự nguyện tham gia thực hiện nhiệm vụ học tập, mong muốnkhám phá những cái mới, sự tiến bộ từng ngày trong học tập, cảm giác thỏa mãn khihoàn thành một nhiệm vụ nào đó) Động cơ bên trong khi đã được hình thành thìthường tương đối bền vững và lâu dài, ít tạo cảm giác ép buộc, căng thẳng nên nó

có tác dụng khuyến khích quá trình TH của HS, đây có thể xem là một trong nhữngđiều kiện quan trọng giúp HS thực hiện mục tiêu học tập suốt đời

Trang 36

Mục đích của công tác điều tra nhằm đánh giá thực trạng dạy học LS nóichung và việc phát triển NLTH với SGK cho HS trong dạy học LS ở trường THPTnói riêng Kết quả điều tra, khảo sát là cơ sở rút ra những kết luận chung về NLTHvới SGK của HS trong dạy học LS ở trường THPT cũng như những yêu cầu đặt racần giải quyết để phát triển NLTH với SGK cho HS và nâng cao chất lượng dạy họcmôn LS ở trường THPT.

- Đối tượng, phạm vi điều tra

Việc điều tra, khảo sát được tiến hành ở 3 trường THPT trên địa bàn huyệnXuân Lộc, tỉnh Đồng Nai: trường THPT Xuân Lộc; trường THPT Xuân Hưng;trường THPT Xuân Thọ Đối tượng điều tra là GV dạy học môn LS và HS tại cáctrường THPT đã nêu ở trên

- Phương pháp điều tra

Chúng tôi đã tiến hành dự giờ; phỏng vấn một số GV, HS nhưng chủ yếu làđiều tra bằng phiếu hỏi cho 20 GV (THPT Xuân Lộc 8GV, THPT Xuân Thọ 6GV,THPT Xuân Hưng 6 GV) và 675 HS thuộc các trường THPT đã nêu ở trên

- Nội dung điều tra

Nội dung điều tra khảo sát tập trung vào các vấn đề sau (Phiếu điều tra - xem

Phụ lục 1.1; 1.3):

Đối với GV, chúng tôi tìm hiểu nhận thức của GV về các vấn đề như: bản

chất và biểu hiện của NLTH với SGK; mức độ TH với SGK lịch sử của HS hiệnnay, ý nghĩa của việc phát triển NLTH với SGK cho HS; đánh giá thực trạng việcphát triển NLTH với SGK cho HS cũng như nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó;những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển NLTH với SGK của HS Ngoài ra yêucầu điều tra, khảo sát còn tập trung vào việc tìm hiểu những biện pháp GV thường

sử dụng để phát triển NLTH với SGK cho HS; những khó khăn GV thường gặpphải khi phát triển NLTH với SGK cho HS

Đối với HS, nội dung điều tra chủ yếu tập trung vào việc tìm hiểu mục tiêu

TH lịch sử của HS; những kĩ năng tự học HS thường sử dụng để việc TH với SGKlịch sử có hiệu quả; cách xử lý của HS khi gặp câu hỏi, vấn đề LS phức tạp, những

Trang 37

khó khăn trong quá trình TH với SGK lịch sử của các em và những phương pháp

GV thường sử dụng để giúp HS phát triển NLTH với SGK lịch sử

1.2.1.2 Xử lí kết quả điều tra và rút ra kết luận về thực trạng vấn đề phát triển năng lực tự học với sách giáo khoa cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông

Từ những kết quả thu nhận được qua điều tra thực tiễn (kết quả điều tra xã

hội học - xem Phụ lục 1.2, 1.4), chúng tôi rút ra được một số kết luận sau đây về

phát triển NLTH với SGK lịch sử cho HS trong dạy học LS ở trường THPT:

Đối với GV, đa số GV đều nhận thức được ý nghĩa của việc phát triển NLTHvới SGK cho HS đối với việc nâng cao chất lượng bài học LS hiện nay Trên thực tếvấn đề phát triển NLTH với SGK cho HS đã được tiến hành ở các trường THPT vớicác mức độ và hình thức khác nhau, tuy nhiên, nó vẫn chưa được thực hiện mộtcách đồng bộ nên hiệu quả đạt được chưa cao, chưa phát huy được tính tích cực học

tập của HS.

Về phương pháp giảng dạy: Quá trình dạy học LS ở trường THPT đôi lúccòn mang tính một chiều, kiến thức bộ môn chủ yếu được HS tiếp thu từ GV nênkhông tạo được hứng thú học tập cho HS, phương pháp học của HS mang tính thụđộng, đối phó Thực trạng đó đã dẫn đến chất lượng học tập LS hiện nay không cao,kết quả thi tuyển vào đại học, cao đẳng một số năm gần đây đang trở thành diễn đànbàn cãi, tranh luận của xã hội Để khắc phục tình trạng đó, cần phải đổi mới đồng

bộ phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò, đổi mới không chỉ dừnglại ở lý luận mà phải được thực hiện trong thực tiễn giảng dạy, trong quá trình đótiếp tục đúc rút kinh nghiệm để bổ sung lý luận và phương pháp TH, trong đó có

TH với SGK là một trong những phương pháp GV có thể hướng dẫn HS thực hiện

Hiện nay đã có nhiều GV quan tâm đến việc phát triển NLTH, nhất là NLTHvới SGK cho HS, tuy nhiên việc thực hiện vẫn còn chưa thật sự toàn diện, đồng bộ,điều này làm cho việc giáo dục HS về kĩ năng học tập bộ môn không đến nơi đếnchốn, dẫn đến việc các em không có được cho mình những kĩ năng cần thiết đểphục vụ cho công việc cũng như việc học tập suốt đời của bản thân sau này

Trang 38

Đối với HS, đa số HS hiện nay vẫn chưa biết cách TH với SGK, chỉ quen học

thuộc lòng, chưa tích cực, sáng tạo trong việc tìm hiểu kiến thức mới Điều này docác em ít đầu tư công sức, thời gian vào việc học tập bộ môn, mà chủ yếu là học đốiphó Mặt khác, HS chưa được GV hướng dẫn các phương pháp học tập bộ môn cụthể, mà nhất là phương pháp TH với SGK Vì thế, HS chưa khai thác triệt để nộidung SGK một cách chủ động, sáng tạo, kĩ năng quan sát, phân tích, tổng hợp, sosánh, đặc biệt kĩ năng trình bày, thể hiện trước tập thể vẫn còn nhiều hạn chế Do đó,cần quan tâm, hướng dẫn HS tự học với SGK, tự chiếm lĩnh tri thức để các em tự tin,năng động hơn và phát triển tư duy sáng tạo

Tóm lại, qua kết quả điều tra khảo sát cả GV và HS về vấn đề dạy và học

LS nói chung, vấn đề phát triển NLTH với SGK trong dạy học LS ở trường THPTnói riêng, chúng tôi nhận thấy đã có nhiều GV chú trọng đến việc phát triển NLTHvới SGK cho HS Điều này được thể hiện ở chỗ các GV đã chú trọng đến đổi mớiPPDH, chú trọng đến tổ chức hướng dẫn HS tự làm việc, tự nghiên cứu, tuy nhiên ởmức độ chưa cao

1.2.2 Nguyên nhân của thực trạng

Từ kết quả của việc điều tra thực trạng, chúng tôi rút ra một số nguyên nhâncủa thực trạng phát triển NLTH môn LS cho HS ở trường THPT như sau:

Thứ nhất, khi bắt đầu môn học GV chưa định hướng cho HS về phương pháp

học, GV chưa thực sự quan tâm đến việc tạo động cơ hứng thú trong học tập cho

HS Đây là một trong những nhân tố đầu tiên có tác động lớn đến thái độ đối vớimôn học cũng như kết quả học tập của HS

Thứ hai, trong quá trình dạy học GV còn quá chú trọng đến việc dạy kiến

thức mà không chú trọng đến dạy phương pháp học và hướng dẫn HS TH, tự làmviệc với SGK Một thiếu sót lớn trong việc giảng dạy ở nhà trường ngày nay là chỉnặng về dạy kiến thức mà không quan tâm đến việc dạy phương pháp học tập cho

HS Hệ quả là HS hầu như không được cung cấp những phương pháp để TH cũngnhư không được thường xuyên rèn luyện để nâng cao NLTH môn học cho bản thân

Do nặng về dạy nội dung hơn là hướng dẫn phương pháp học, nhiều GV tổ chức giờhọc theo hướng một chiều: GV luôn là người cung cấp kiến thức còn HS là người

Trang 39

tiếp nhận mà chưa hướng tới việc thiết kế các hoạt động học tập trên lớp hoặc ở nhà

để HS là người chủ động thực hiện Cũng có một số GV có chú ý đến đổi mớiPPDH theo hướng phát triển NL của người học, song chưa đa dạng hóa các hoạtđộng học tập nhằm phát triển NLTH với SGK cho HS

Thứ ba, mặc dù nhận thức được vai trò quan trọng của việc phát triển NLTH

với SGK cho HS trong dạy học LS ở trường THPT, tuy nhiên GV chưa chú ý đúngmức đến việc tạo động cơ, thái độ học tập cho HS Mặt khác, với tâm lý cho rằng LSchỉ là môn phụ nên HS cũng chưa thực sự yêu thích và có ý thức TH để nâng cao hiểubiết đối với môn học Do vậy, đa số HS chỉ học khi có kiểm tra hoặc khi GV bắt buộc

Thứ tư, từ những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường cũng làm cho chất

lượng dạy và học LS nói chung, việc TH với SGK của HS nói riêng có ảnh hưởngkhông tốt Hiện nay, đa số cha mẹ HS và HS đều định hướng cho con em mình họccác khối ngành tự nhiên, rất ít em định hướng theo khối ngành xã hội (khối học cómôn LS) vì lý do ở các khối ngành tuyển sinh theo khối xã hội ít, cơ hội việc làm vàthu nhập thấp Do đó, HS chỉ tập trung vào các môn sẽ thi đại học và đối phó vớicác môn còn lại, trong đó có môn LS, hệ quả là việc học tập bộ môn LS chỉ còn làhình thức, việc TH của HS lại càng hạn chế hơn nữa

Thứ năm, chương trình đào tạo ở nhiều trường Đại học sư phạm còn mang

nặng tính hàn lâm, chưa đầu tư đúng mức công tác rèn luyện năng lực nghề chosinh viên, đặc biệt là NLTH của sinh viên sư phạm còn nhiều hạn chế Vì vậy, đâycũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc hướng dẫn cho HS tự học, trong

đó có TH với SGK ở trường THPT khi sinh viên ra trường và thực sự đứng trên bụcgiảng còn nhiều hạn chế

***

Phát triển NLTH với SGK cho HS là một trong những biệnpháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học LS ở trường THPT Nóhoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của lí luận dạy học

và đáp ứng được yêu cầu của giáo dục hiện nay, thực hiện đúngmục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước đã đề ra Xuất phát điểmcủa vấn đề nghiên cứu được luận văn đưa ra dựa trên những quan

Trang 40

điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, văn kiệncủa Đảng về vấn đề TH và TH với SGK Việc phát triển NLTH vớiSGK môn LS cho HS là rất cần thiết không những đáp ứng đượcnhu cầu đổi mới giáo dục hiện nay mà còn góp phần thực hiệnmục tiêu giáo dục bộ môn Khảo sát thực trạng ở trường THPT chothấy GV có nhận thức đúng về NLTH với SGK và tầm quan trọngcủa việc phát triển NLTH với SGK môn LS cho HS Tuy nhiên, cònnhiều hạn chế trong việc triển khai GV chưa thực sự quan tâm đếnnhu cầu, động cơ, thái độ học tập của HS, chưa giúp các em cóthêm cơ hội thành công và thêm yêu thích môn LS GV còn nặng

về truyền đạt kiến thức mà chưa chú trọng đến dạy cách TH cho

HS HS còn học đối phó và chưa thực sự chú ý rèn luyện NLTH chobản thân Vì vậy, có thể nói việc trang bị cho GV và HS những hiểubiết về bản chất, đặc trưng, tầm quan trọng của việc phát triểnNLTH với SGK môn LS cho HS là rất cần thiết Đây cũng là cơ sở để

chúng tôi lựa chọn giải quyết vấn đề phát triển NLTH với SGK cho

HS trong dạy học LSTG từ 1945 đến 2000 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn).

Ngày đăng: 16/10/2018, 08:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A. P. Pri-ma-côp-xki (Phan Tất Đắc dịch) (1978), Phương pháp đọc sách, NXB Giáo dục, Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp đọc sách
Tác giả: A. P. Pri-ma-côp-xki (Phan Tất Đắc dịch)
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 1978
2. Lê Văn Anh (chủ biên), Hoàng Thị Minh Hoa, Bùi Thị Thu Thảo (2011), Giáo trình Lịch sử thế giới hiện đại (1917 – 2000), NXB Đại học Huế, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhLịch sử thế giới hiện đại (1917 – 2000)
Tác giả: Lê Văn Anh (chủ biên), Hoàng Thị Minh Hoa, Bùi Thị Thu Thảo
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2011
3. Lê Văn Anh, Hoàng Thị Minh Hoa (Đồng chủ biên)... (2016), Quan hệ quốc tế thời hiện đại, NXB Đại học Huế, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ quốc tếthời hiện đại
Tác giả: Lê Văn Anh, Hoàng Thị Minh Hoa (Đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2016
4. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tính tự lực cho học sinh trong quá trình dạy học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo viên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tính tự lực cho học sinh trongquá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN khóa XI (2013), Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, số 29-NQ/TW, 4/11/2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về đổi mớicăn bản, toàn diện giáo dục và đào
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN khóa XI
Năm: 2013
6. Nguyễn Thị Thế Bình, Bùi Thị Nhung (2015), “Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh khi dạy học cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975 (Lịch sử 12)”, Tạp chí Giáo dục, (364), Tr. 27, 28 – 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực giải quyết vấnđề cho học sinh khi dạy học cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975 (Lịchsử 12)”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thị Thế Bình, Bùi Thị Nhung
Năm: 2015
7. Nguyễn Thị Thế Bình, Lê Thị Thu (2016), “Về việc dạy học theo chủ đề trong môn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông”, Kỉ yếu Hội thảo Dạy học lịch sử ở trường phổ thông theo hướng phát triển năng lực học sinh, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Huế - Đại học Huế, Huế, Tr. 67 – 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc dạy học theo chủ đề trongmôn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông”, "Kỉ yếu Hội thảo Dạy học lịch sửở trường phổ thông theo hướng phát triển năng lực học sinh
Tác giả: Nguyễn Thị Thế Bình, Lê Thị Thu
Năm: 2016
8. Bộ Giáo dục & Đào tạo (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12 THPT môn Lịch sử, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chươngtrình, sách giáo khoa lớp 12 THPT môn Lịch sử
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
9. Bộ Giáo dục & Đào tạo (2006), Sách giáo khoa Lịch sử 12, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Lịch sử 12
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
10. Bộ Giáo dục & Đào tạo (2008), Sách giáo viên Lịch sử 12, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Lịch sử 12
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
11. Bộ Giáo dục & Đào tạo (2010), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Lịch sử lớp 12, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năngmôn Lịch sử lớp 12
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
12. Bộ Giáo dục & Đào tạo (2014), Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Lịch sử, Chương trình phát triển giáo dục phổ thông, Vụ Trung học phổ thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giákết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Lịch sử
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Năm: 2014
13. Bộ Giáo dục & Đào tạo (2015), Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới, Tài liệu lưu hành nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thểtrong chương trình giáo dục phổ thông mới
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Năm: 2015
14. Đỗ Thị Châu, Hoàng Anh (2008), Tự học của sinh viên, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học của sinh viên
Tác giả: Đỗ Thị Châu, Hoàng Anh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
15. Hoàng Chúng (1982), Phương pháp thống kê toán học trong Khoa học giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong Khoa học giáo dục
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1982
16. Nguyễn Thị Côi (2006), Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy họclịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
17. Nguyễn Thị Côi (2007), “Làm thế nào để học sinh nắm được những kiến thức trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông”, Tạp chí Giáo dục, (172), Tr. 29- 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm thế nào để học sinh nắm được những kiến thứctrong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông”", Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Năm: 2007
18. Nguyễn Thị Côi (chủ biên) (2009), Rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm mônlịch sử
Tác giả: Nguyễn Thị Côi (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2009
19. Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Thế Bình (2009), Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử lớp 11 Trung học phổ thông, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sửlớp 11 Trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Thế Bình
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2009
20. Nguyễn Thị Côi (2016), “Dạy học Lịch sử ở trường phổ thông với việc phát triển các năng lực bộ môn cho học sinh”, Tạp chí Giáo dục, (389), Tr.32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Lịch sử ở trường phổ thông với việc pháttriển các năng lực bộ môn cho học sinh”," Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w