Do vậy, công tác truyền thôngmôi trường cho cộng đồng được xem như là yêu cầu khách quan và cần thiết trongthời kì nước ta đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, bởi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ HỒNG DIỄM
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TRUYỀN THÔNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI,
TỈNH QUẢNG NGÃI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 60 85 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS LÊ THỊ KIM LAN
Trang 2Thừa Thiên Huế, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Diễm
Trang 4Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và dành tặng luận văn này cho gia đình
và người thân, những người luôn lo lắng và dõi theo bước đi của tôi Đó cũng làđộng lực lớn nhất giúp tôi luôn cố gắng trong cuộc sống và học tập
TP Huế, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Diễm
Trang 5MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC BẢNG i
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 5
6 Bố cục của luận văn 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Cơ sở lý luận 6
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 6
1.1.2 Lý luận về truyền thông môi trường 7
1.2 Cơ sở thực tiễn 12
1.2.1 Hoạt động truyền thông BVMT ở một số địa phương 12
1.2.2 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của thành phố Quảng Ngãi 15
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
2.1 Tình hình môi trường tại thành phố Quảng Ngãi 24
2.1.1 Môi trường nước 24
2.1.2 Môi trường không khí 26
2.1.3 Môi trường đất 26
2.1.4 Chất thải rắn 26
2.1.5 Hiện trạng công tác quản lý nhà nước về môi trường 27
2.2 Thực trạng công tác truyền thông môi trường tại thành phố Quảng Ngãi 28
2.2.1 Các chủ trương, chính sách và phong trào của thành phố Quảng Ngãi về công tác bảo vệ môi trường 28
Trang 62.2.2 Hoạt động truyền thông môi trường trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi 30
2.3 Tác động của truyền thông môi trường đến người dân thành phố Quảng Ngãi 42
2.3.1 Sự thay đổi nhận thức 43
2.3.2 Sự thay đổi hành vi 44
2.4 Đánh giá ưu điểm và hạn chế của hoạt động truyền thông bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi 47
2.4.1 Về ưu điểm 49
2.4.2 Về hạn chế 50
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 51
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI 53 3.1 Tăng cường vai trò của cơ quan, đoàn thể tổ chức hoạt động truyền thông 53
3.2 Ưu tiên phát triển các kênh thông tin có hiệu quả cao 55
3.3 Cải tiến nội dung thông điệp truyền thông 55
3.4 Một số giải pháp khác 56
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
1 Kết luận 57
2 Kiến nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Đơn vị hành chính, diện tích, dân số năm 2016[2] 20
Bảng 2.1 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt[8] 24
Bảng 2.2 Nguyên nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường 45
Bảng 2.3 Đánh giá hiệu quả các kênh truyền thông 48
Bảng 2.4 Đánh giá về hoạt động truyền thông 49
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 1.1 Cơ cấu kinh tế thành phố Quảng Ngãi năm 2016[15] 19
Biểu đồ 2.1 Chủ thể tổ chức các hoạt động truyền thông 30
Biểu đồ 2.2 Số lượng kênh tiếp nhận truyền thông môi trường 31
Biểu đồ 2.3 Kênh truyền thông dễ tiếp nhận 32
Biểu đồ 2.4 Nội dung môi trường được truyền thông 33
Biểu đồ 2.5 Độ tuổi các đối tượng tham gia hoạt động truyền thông BVMT 39
Biểu đồ 2.6 Giới tính các đối tượng tham gia khảo sát 40
Biểu đồ 2.7 Nghề nghiệp các đối tượng tham gia 41
Biểu đồ 2.8 Mức độ quan tâm đến các vấn đề môi trường 43
Biểu đồ 2.9 Đánh giá về tình hình môi trường xung quanh 43
Biểu đồ 2.10 Mức độ tham gia các hoạt động BVMT 45
Biểu đồ 2.11 Các hoạt động bảo vệ môi trường của người dân 46
Trang 9MTTQVN : Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam
TNCSHCM : Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Không thể phủ nhận vai trò của môi trường (MT) đối với tự nhiên và đờisống xã hội của con người, nhưng hiện nay các vấn đề như ô nhiễm môi trường,biến đổi khí hậu và suy thoái tài nguyên đang là những thách thức mà thế giới đangphải đối mặt trong thế kỷ 21
Để chủ động phòng ngừa và đối phó với các vấn đề trên, nhiều quốc gia trênthế giới đã cùng nhau xây dựng luật pháp quốc tế, ký cam kết chung trong các Nghịđịnh thư…để đưa ra những quy định chung, toàn cầu về bảo vệ môi trường(BVMT) để mỗi quốc gia phải có nghĩa vụ tuân thủ và chấp hành Tuy nhiên, trongquá trình thực hiện đã vấp phải nhiều khó khăn, trở ngại; tài nguyên thiên nhiên vẫn
bị khai thác bừa bãi và lãng phí, môi trường thì bị ô nhiễm với nhiều mức độ khácnhau; một số quốc gia vẫn ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế hơn là thực hiện các giảipháp BVMT Vì vậy, để công tác bảo vệ môi trường đi vào chiều sâu, có hiệu quảthì cần phải tăng cường công tác truyền thông, phổ biến, giáo dục để nâng cao ýthức, trách nhiệm và thay đổi hành động của cá nhân và cộng đồng đối với vấn đềbảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Ở Việt Nam, tại khoản 1, Điều 6, luật BVMT năm 2014 nêu rõ một trongnhững hành động bảo vệ môi trường được khuyến khích đó là “Truyền thông, giáodục và vận động mọi người tham gia bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường,bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học”[9] Do vậy, công tác truyền thôngmôi trường cho cộng đồng được xem như là yêu cầu khách quan và cần thiết trongthời kì nước ta đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, bởi vìtruyền thông môi trường là hoạt động tương tác hai chiều, tác động trực tiếp hoặcgián tiếp làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của con người đối với môitrường, từ đó trang bị cho người dân những hiểu biết về môi trường, thay đổi thái độ
và hành vi thân thiện với môi trường, chủ động tích cực tham gia và lôi kéo nhữngngười xung quanh cùng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường
Thành phố Quảng Ngãi là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của tỉnh
Trang 11Quảng Ngãi, sau khi mở rộng địa giới hành chính vào năm 2015, hiện nay thànhphố có 23 xã, phường với diện tích là 159,04 km2, dân số là 252.552 người, có 2khu công nghiệp là Quảng Phú và cụm công nghiệp làng nghề Tịnh Ấn Tây Vớimục tiêu đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần chonhân dân thì thành phố cũng đang khai thác tối đa các nguồn lực hiện có, đẩy mạnhviệc thu hút đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng, chỉnh trang và nâng cấp đô thị Songsong với quá trình đó thì môi trường của thành phố cũng đang phải đối mặt vớinhững thách thức đó là thiếu hệ thống thu gom xử lý nước thải sinh hoạt, rác thảichưa được xử lý và phân loại, nước sạch và vệ sinh môi trường chưa được đảmbảo, việc sử dụng và vứt bỏ bừa bãi các bao bì, chai lọ thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệthực vật trên các cánh đồng, vi phạm các điều kiện về đảm bảo môi trường nhưthiếu bảng cam kết bảo vệ môi trường, thiếu báo cáo đánh giá tác động môi trường
ở các doanh nghiệp hay cơ sở sản xuất kinh doanh…Vì vậy, công tác quản lý môitrường trên địa bàn thành phố đang đứng trước các thách thức to lớn đòi hỏi phải cónhững giải pháp cụ thể, thiết thực nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự chuyển biến vàthay đổi hành vi bảo vệ môi trường của cộng đồng Do đó, truyền thông môi trườngđược xem như là một công cụ quan trọng trong công tác quản lý môi trường nhằm
xã hội hóa việc bảo vệ môi trường, huy động tối đa các nguồn lực trong xã hội thamgia vào các hoạt động BVMT, giữ cho môi trường luôn trong lành, sạch đẹp, bảođảm sự cân bằng sinh thái Mọi đối tượng trong xã hội từ trẻ em đến người già, từngười sản xuất đến người tiêu dùng đều ý thức được vai trò và trách nhiệm, quyềnlợi và nghĩa vụ của mình trong việc giữ gìn và BVMT[]
Vì vậy, đề tài “ Thực trạng và giải pháp truyền thông bảo vệ môi trường
cho người dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi” được thực hiện nhằm
tìm hiểu thực trạng công tác truyền thông môi trường tại thành phố Quảng Ngãiđồng thời đưa ra những giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả công tác truyềnthông môi trường trong thời gian tới tại địa bàn
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Đánh giá được thực trạng công tác truyền thông bảo vệ
môi trường tại thành phố Quảng Ngãi và đưa ra giải pháp phù hợp
Trang 12- Mục tiêu cụ thể:
+ Khái quát về thực trạng môi trường và truyền thông bảo vệ môi trường củathành phố Quảng Ngãi
+ Phân tích những ưu điểm, hạn chế của công tác truyền thông môi trườnghiện nay tại thành phố Quảng Ngãi
+ Đề xuất các giải pháp giúp cho việc truyền thông môi trường trong thờigian tới đạt hiệu quả cao hơn
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài đó là :thực trạng và giải pháp truyền thôngbảo vệ môi trường cho người dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập và phân tích thông tin thứ cấp
Trong quá trình thực hiện đề tài sẽ tiến hành thu thập, phân tích và thamkhảo các báo cáo khoa học và các tài liệu liên quan Nguồn sử dụng tài liệu chonghiên cứu này bao gồm: báo cáo thống kê hằng năm của phòng thống kê thànhphố; chương trình, kế hoạch và báo cáo tổng kết hằng năm công tác truyền thôngmôi trường của chi cục bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Ngãi; các công trình, đề tàinghiên cứu khoa học tham khảo trên mạng internet Trên cơ sở các tài liệu, số liệu
đã thu thập được tiến hành xử lý số liệu theo mục tiêu nghiên cứu từ đó có thể rút rađược diễn biến cũng như hiện trạng phát triển của đối tượng
4.2 Phương pháp thu thập và phân tích thông tin sơ cấp
4.2.1 Phương pháp phỏng vấn cấu trúc
Đây là một trong các phương pháp chính của đề tài Phương pháp phỏng vấncấu trúc sử dụng bảng hỏi để nhằm thu thập thông tin cần thiết cho đề tài nghiêncứu, số lượng câu hỏi sử dụng trong bảng hỏi là 25 câu, được trình bày tại phụ lục
số 1
Vì địa bàn nghiên cứu rộng và không có đủ nguồn lực để có thể phỏng vấn
và quan sát từng cá nhân nên tác giả tiến hành chọn mẫu không xác suất để lựa chọn
ra dung lượng mẫu cần thiết để tiến hành phỏng vấn.Trong giới hạn nghiên cứu của
đề tài, tác giả chọn ngẫu nhiên 193 hộ để làm mẫu nghiên cứu tại 2 xã, phường là
Trang 13phường Quảng Phú và xã Tịnh Long, những hộ trong mẫu nghiên cứu được phânchia theo các đặc điểm về giới tính phường Quảng Phú có 4.811 hộ và xã Tịnh
Long có 1947 hộ, số lượng mẫu cần thiết để khảo sát với yêu cầu mức độ tin cậy là
95% và sai số không vượt quá 10% (0,1) là
Đơn vị Số lượng mẫu
bộ Mặt trận, hội phụ nữ, nông dân, cựu chiến binh, đoàn thanh niên, công đoàn
4.2.3 Phương pháp thảo luận nhóm
Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm có sự tham gia của người dân để họ cóthể tự do bày tỏ quan điểm, nhận định của mình đối với các vấn đề được gợi ý Sốlượng cuộc thảo luận nhóm được tổ chức là 2 cuộc, với sự tham gia của 35 người,câu hỏi thảo luận được trình bày tại phụ lục 2
4.2.4 Phương pháp quan sát có sự tham gia
Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân tác giả có tham gia các hoạt độngtruyền thông bảo vệ môi trường tại địa phương để thu thập các thông tin và phỏngvấn nhanh các đối tượng cùng tham gia hoạt động truyền thông để thu thập cácthông tin cần thiết cho đề tài
4.2.5 Phương pháp xử lý số liệu
Trên cơ sở các thông tin, dữ liệu thu thập được qua phiếu khảo sát và phỏngvấn, sử dụng phần mềm excell để phân tích tổng hợp những nội dung, thông tin cóliên quan đến mục đích và yêu cầu đặt ra của đề tài
5 Phạm vi nghiên cứu
Trang 14- Về nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu, đánh giá thực trạng côngtác truyền thông môi trường tại địa bàn thành phố Quảng Ngãi.
- Về không gian: nghiên cứu được triển khai tại phường Quảng Phú, xã TịnhLong thuộc địa bàn thành phố Quảng Ngãi
- Về thời gian nghiên cứu:
+/ Đối với nguồn tài liệu thứ cấp: sử dụng nguồn tài liệu trong khoảng thờigian từ năm 2014 đến tháng 3/2018
+/ Đối với tài liệu sơ cấp: nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian
từ tháng 9/2017 đến tháng 6/2018
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 Nội dung và kết quả nghiên cứu
Chương 3 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác truyền thông bảo vệmôi trường
NỘI DUNG
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
Khái niệm nhận thức
- Quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thức vào trong tư duy;quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan, hoặc kết quả của quátrình đó[3]
- Nhận ra và biết được, hiểu được[3]
Khái niệm thái độ
- Tổng thể nói chung những biểu hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt, cử chỉ,lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hoặc đối với sự việc nào đó[3].
- Cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước mộtvấn đề, một tình hình[3]
Khái niệm hành vi
Là những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người trong mộthoàn cảnh cụ thể nhất định[3]
Môi trường
Môi trường được hiểu : là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo
có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật[9]
Khái niệm truyền thông môi trường
Trước đây, hầu hết các định nghĩa về truyền thông dựa trên quá trình truyềnthông theo đường thẳng, ở đó truyền thông được xem như là quá trình cung cấpthông tin, người gửi chuyển thông điệp của họ đến người nhận Người ta thường sửdụng từ “gửi” và “nhận” để đề cập đến truyền thông
Ngày nay, người ta thường dùng từ “chia sẻ” khi đề cập đến truyền thông.Chia sẻ hàm ý muốn nói đến cái mà hai hoặc ba người chia sẻ với nhau hơn là nóiđến cái một người làm cho một người khác
- Theo Kincaid và Schramm, truyền thông là quá trình chia sẻ và mối quan
Trang 16hệ của những người tham gia trong quá trình đó.
- Theo Black và Bryant (1992), truyền thông được định nghĩa là:
+ Quá trình mà nhiều người chia sẻ nghĩa
+ Quá trình mà qua đó một cá nhân (người cung cấp thông tin) truyền tải sựkích thích (thường là biểu tượng ngôn ngữ) để thay đổi hành vi của cá nhân khác
+ Xuất hiện ở bất cứ nơi nào mà thông tin chuyển từ nơi này đến nơi khác.+ Không đơn giản là lời nói mà cụ thể hơn là sự truyền tải một thông điệp cóchủ định; Nó bao hàm cả một quá trình mà người này ảnh hưởng đến người khác
+ Xuất hiện khi người A thông báo thông điệp B thông qua hệ thống truyềnthông C đến người D để tạo ra ảnh hưởng E
- Theo Theodorson (1969) truyền thông là sự truyền tải thông tin, ý tưởng,thái độ hoặc cảm xúc từ một người hoặc một nhóm người đến người hoặc nhómngười chủ yếu thông qua những biểu tượng
- Theo Osgood (1957) truyền thông xuất hiện khi một hệ thống (mộtnguồn) ảnh hưởng đến nguồn khác (điểm đến) thông qua việc sử dụng các biểutượng khác nhau được truyền tải qua “kênh” nối chúng với nhau
- Theo Berbner (1967) truyền thông là sự giao tiếp xã hội thông qua cácthông điệp
- SRA Sourebook (1996) truyền thông là quá trình mà ở đó một nguồn pháttin gửi thông điệp đến người nhận tin thông qua kênh thông tin nhằm tạo ra phảnứng từ người nhận theo chủ định của nguồn gửi
Như vậy, truyền thông là một quá trình đối thoại liên tục diễn ra trong xã hộiloài người Quá trình này không đơn giản chỉ có người gửi hay người nhận mà còn
có sự tương tác, trao đổi các tín hiệu liên tục để đi đến một hiểu biết chung và nóđược đặt trong mối quan hệ qua lại với các yếu tố môi trường và xã hội nơi diễn ratruyền thông[10]
1.1.2 Lý luận về truyền thông môi trường
Truyền thông môi trường là một quá trình tương tác hai chiều, giúp cho mọiđối tượng tham gia vào quá trình đó cùng tạo ra và cùng chia sẻ với nhau các thôngtin về môi trường, với mục đích đạt được sự hiểu biết chung về các chủ đề môi
Trang 17trường có liên quan và từ đó có năng lực cũng sẻ chia trách nhiệm bảo vệ môitrường với nhau.
1.1.2.1 Mục tiêu của truyền thông môi trường
Truyền thông môi trường được thực hiện nhằm các mục tiêu sau:
+ Thông tin cho người bị tác động bởi các vấn đề môi trường biết tình trạngcủa họ, từ đó họ quan tâm đến việc tìm kiếm các giải pháp khắc phục
+ Huy động các kinh nghiệm, kỹ năng, bí quyết địa phương tham gia vào cácchương trình bảo vệ môi trường
+ Thương lượng hòa giải các xung đột, khiếu nại, tranh chấp về môi trườnggiữa các cơ quan, trong nhân dân
+ Tạo cơ hội cho mọi thành phần trong xã hội tham gia vào việc bảo vệ môitrường, xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường
+ Khả năng thay đổi các hành vi sẽ được hữu hiệu thông qua đối thoạithường xuyên trong xã hội
Yêu cầu của truyền thông môi trường, gồm có:
+ Tuân thủ luật pháp, kể cả các quy định cấp quốc tế, quốc gia và cấp địaphương về BVMT
+ Đảm bảo tính hiện đại, chính xác của các kiến thức về môi trường đượctruyền thông
+ Truyền thông môi trường phải có hệ thống, kế hoạch và chiến lược Mỗimột chương trình truyền thông cần là bước đệm cho các chương trình sau, cao hơn
về nội dung và mới hơn về hình thức
+ Phải phù hợp với đối tượng truyền thông, đặc biệt là phù hợp về văn hóa,trình độ học vấn và kinh tế
+ Tạo dựng sự hợp tác rộng rãi giữa truyền thông môi trường với các chươngtrình, dự án truyền thông của các ngành khác, đặc biệt là sự hỗ trợ của lực lượngtruyền thông môi trường tự nguyện
Như vậy, truyền thông môi trường cần phải rất cụ thể nhằm nâng cao kiếnthức, tác động đến thái độ và hành vi của cộng đồng và truyền thông môi trườngphải gắn bó hữu cơ đối với cộng đồng có liên quan tới môi trường Cộng đồng vừa
Trang 18là đối tượng của truyền thông môi trường mà hành vi của họ là thước đo của hiệuquả truyền thông môi trường, vừa là chủ thể tác động lên vấn đề truyền thông vàquá trình truyền thông.[7].
1.1.2.2 Các yếu tố của quá trình truyền thông
Phân tích mối quan hệ trong hoạt động truyền thông bao gồm các yếu tố sau:nguồn phát, thông điệp, kênh và đối tượng tiếp nhận
- Nguồn phát là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trìnhtruyền thông Nói cách khác, nguồn phát là người hay nhóm người mang nội dungthông tin muốn được trao đổi với người hay nhóm người khác
- Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượngtiếp nhận Thực chất, thông điệp là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, hiểu biết, ýkiến, đòi hỏi, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học kỹ thuật đã được mã hóa theo một
hệ thống ký hiệu nào đó Trong đời sống xã hội tồn tại nhiều hệ thống ký hiệu khácnhau như tiếng nói, chữ viết trong ngôn ngữ, hệ thống biển bảo giao thông…
- Kênh truyền thông là sự thống nhất của phương tiện, con đường, cách thứcchuyển tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Những yếu tố tạothành kênh truyền thông đồng thời quy định tính chất, đặc điểm của nó Căn cứ vàotính chất, đặc điểm cụ thể, người ta chia kênh truyền thông thành các loại hình khácnhau như truyền thông cá nhân, truyền thông trực tiếp, truyền thông đại chúng,truyền thông đa phương tiện…
- Đối tượng tiếp nhận là các cá thể hay tập thể người tiếp nhận thông điệptrong quá trình truyền thông Cũng có thể nói, các cá thể hay nhóm người tiếp nhậnthông tin là đối tượng tác động của truyền thông Hiệu quả của truyền thông đượcxem xét trên cơ sở những biến đổi về tâm lý, nhận thức, thái độ và hành vi của đốitượng tiếp nhận
Ở bất cứ khâu nào của quá trình truyền thông cũng có thể xuất hiện rào cản.Những rào cản làm cho chúng ta không thấu hiểu được những ý tưởng và những suynghĩ của người khác Những rào cản đó là: rào cản về văn hóa, rào cản thể chất vật
lý, rào cản tâm lý nhận thức, rào cản ngôn ngữ/kỹ năng nghe…[10]
1.1.2.3 Các mô hình truyền thông môi trường
Trang 19Có 3 mô hình truyền thông môi trường cơ bản: truyền thông dọc, truyềnthông ngang và truyền thông theo mô hình
a Truyền thông dọc
Là truyền thông không có thảo luận, không có phản hồi Người phát thôngđiệp không biết chính xác người nhận thông điệp cũng như hiệu quả của công táctruyền thông Các phương tiện thông tin đại chúng (báo, phát thanh, truyền hình) làcác công cụ truyền thông dọc
Truyền thông dọc ít tốn kém và phù hợp với các vấn đề môi trường toàn cầu
và quốc gia Loại hình này rất hiệu quả khi truyền thông về các vấn đề đang đượccông chúng quan tâm
b Truyền thông ngang
Là truyền thông có thảo luận và phản hồi giữa người nhận và người phátthông điệp Loại truyền thông này khó hơn, tốn kém hơn nhưng có hiệu quả hơn
Truyền thông ngang phù hợp với các dự án và góp phần giải quyết các vấn
đề môi trường của địa phương và cộng đồng
c Truyền thông theo mô hình
Đây là hình thức truyền thông cao nhất và hiệu quả nhất Bằng mô hình cụthể, sử dụng làm địa bàn tham quan trực tiếp, tại địa điểm tham quan, chuyên giatruyền thông và công chúng, có thể trực tiếp trao đổi, thảo luận, xem xét, đánh giá
mô hình
Hình thức truyền thông theo mô hình rất phù hợp với các khu công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp, nông thôn và miền núi, là những nơi công chúng phải thấy rõgiá trị thực tế, chi phí và hiệu quả của mô hình[10]
a Chiến dịch truyền thông môi trường
Chiến dịch truyền thông môi trường là một đợt hoạt động tập trung, đồng bộphối hợp nhiều phương tiện truyền thông, các kênh truyền thông nhằm truyền tảicác thông điệp cần thiết để tác động đến một hay nhiều nhóm đối tượng
Chiến dịch truyền thông môi trường được tổ chức trong một thời gian ngắntập trung vào một nội dung ưu tiên, có tác dụng phát huy thế mạnh của các tổ chức
Trang 20bảo vệ môi trường, các ngành, các cấp tạo ra sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội,gây tác động mạnh đến nhóm đối tượng truyền thông.
Một chiến dịch truyền thông môi trường phải đáp ứng 3 nguyên tắc sau:
- Đáp ứng được nhu cầu của cộng đồng về môi trường
- Chiến dịch truyền thông môi trường không đứng độc lập với chương trình,chiến lược truyền thông môi trường vì nhằm thay đổi hành vi của cộng đồng theohướng thân thiện với môi trường thì phải có một chiến lược lâu dài, từ thấp đến cao
và để thực hiện được chiến lược đó thì cần phải có nhiều phương pháp, hình thứctruyền thông khác nhau nên chiến dịch truyền thông môi trường là hình thức truyềnthông có quy mô, thời gian và phạm vi rộng lớn
- Chiến lược truyền thông môi trường phải phù hợp với văn hóa của cộng đồng.b.Triển lãm và trưng bày
Triển lãm môi trường có quy mô rất khác nhau, từ các cuộc triển lãm lớn đếncác vật trưng bày nhỏ lẻ đặt tại các vị trí đông người
Triển lãm môi trường không nhất thiết phải có nhân viên thuyết minh vì trongnhiều trường hợp, vật trưng bày đã dễ hiểu và nói lên những điều cần truyền thông
c.Giao tiếp giữa cá nhân và nhóm nhỏ
Phương pháp này thích hợp với việc tìm kiếm các giải pháp phù hợp với địaphương, giải thích các vấn đề phức tạp, thuyết phục hoặc gây ảnh hưởng tới nhómđối tượng Giao tiếp, trao đổi giữa cá nhân có uy tín trong cộng đồng (già làng,trưởng bản, trưởng tộc, linh mục…) giúp cho việc phân tích các hành động môitrường và là người tuyên truyền, phổ biến các thông điệp truyền thông môi trườngrất hiệu quả Phương pháp này đặc biệt hữu hiệu trong trường hợp đánh giá hiệu quảcủa một chiến dịch truyền thông môi trường
d Họp cộng đồng, hội thảo
Các cuộc họp cộng đồng (tổ dân phố, trường học, cơ quan…) thuận lợi choviệc bàn bạc và ra quyết định về một số vấn đề của cộng đồng Hình thức này manglại hiệu quả cao hơn các hình thức khác vì có sự tham gia của mọi người
e.Thông tin đại chúng
Trang 21Các phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình, báo chí…) có khả năngtiếp cận một phạm vi đối tượng rất rộng và có uy tín cao trong việc phổ biến, tuyêntruyền các nội dung của chiến dịch truyền thông môi trường.
f.Câu lạc bộ môi trường
Hình thức câu lạc bộ môi trường rất phù hợp với các đối tượng thanh thiếuniên và các cụ về hưu Câu lạc bộ có khả năng thu hút sự tham gia của các thànhviên trong cộng đồng vào các vấn đề bảo vệ môi trường rất có hiệu quả
g.Truyền thông môi trường nhân các sự kiện
Tổ chức các hoạt động truyền thông nhân các sự kiện đặc biệt như Tết trồngcây, Tuần lễ nước sạch, Kỷ niệm Ngày môi trường thế giới 5/6, Giờ Trái Đất…sẽlàm tăng thêm nhận thức của cộng đồng, thu hút được sự chú ý của cộng đồng vềnhững vấn đề môi trường có liên quan với sự kiện
h.Tổ chức các cuộc thi về môi trường
Tổ chức các cuộc thi về môi trường như thi viết, sáng tác ca khúc, thi vẽ, thituyên truyền, thi ảnh…cho các nhóm đối tượng nhằm tạo sự hứng khởi và thu hútđược nhiều người tham gia qua đó truyền tải được nhiều thông điệp về môi trườngđến cộng đồng
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Hoạt động truyền thông BVMT ở một số địa phương
Xác định được vai trò quan trọng của truyền thông đối với sự nghiệp BVMT,trong thời gian qua các địa phương trên cả nước đã tổ chức nhiều hoạt động truyềnthông BVMT với nội dung và hình thức phong phú, đa dạng góp phần nâng caonhận thức, tạo sự chuyển biến về trách nhiệm và hành động của cộng đồng đối vớicác vấn đề môi trường có thể xảy ra
- Trong thời gian qua, các hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật vềBVMT tại tỉnh Lào Cai được tổ chức thường xuyên, có sự tham gia tích cực của các
sở, ban ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, các địa phương và cơ quan thông tinđại chúng qua nhiều kênh thông tin, triển khai bằng nhiều hình thức như xây dựngcác chuyên mục, phóng sự về môi trường, tổ chức các hội nghị, mít tinh, tuyêntruyền hưởng ứng các ngày lễ về môi trường Tuyên truyền, vận động nhân dân
Trang 22không thả rông gia súc, xóa bỏ những tập quán lạc hậu, tham gia quản lý, chăm sócbảo vệ rừng Riêng năm 2016, phối hợp Bộ tài nguyên và môi trường tổ chức hưởngứng Ngày môi trường thế giới với nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa: lễ phát động
“tháng hành động vì môi trường”, lễ trồng cây và thả động vật hoang dã về rừng; tổchức hội thảo “Vai trò của Hội cựu chiến binh Việt Nam trong bảo tồn đa dạng sinhhọc và bảo vệ các loài nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam”, “Bồi dưỡng chuyên môn,nghiệp vụ truyền thông về bảo vệ môi trường hệ thống lưu vực sông Hồng và sôngThái Bình” với khoảng 1000 lượt người tham dự Bên cạnh đó, các tổ chức chính trị
xã hội triển khai một số mô hình bảo vệ môi trường như: cải tạo tập quán lạc hậu ởcác huyện vùng cao như đưa người chết vào áo quan ở một số dòng họ dân tộcMông; tổ chức chông cất người chết trước 48 giờ nhằm đảm bảo vệ sinh môitrường Mô hình cộng đồng về bảo tồn và phát triển nguồn gen cây nhuộm màu thựcphẩm của đồng bào dân tộc thiểu số, mô hình dự án nông nghiệp hữu cơ; trồng rừngphủ xanh đất trống đồi trọc theo chương trình “thay thế nương rẫy”, mô hình du lịchnông nghiệp bền vững góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và bảo tồn các nguồngen bản địa…các hoạt động truyền thông trên đã góp phần vào việc nâng cao nhậnthức của người dân trong công tác bảo vệ môi trường của địa phương [23]
- Là một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề của sự cố môi trường biểncho nên trong thời gian qua tỉnh Quảng Trị đã đẩy mạnh công tác truyền thông môitrường nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của người dân và các doanhnghiệp trong công tác bảo vệ môi trường Hằng năm, Sở tài nguyên và môi trườngtỉnh tham mưu tổ chức các buổi mitinh kỷ niệm Ngày môi trường thế giới, Ngày đadạng sinh học, tổ chức các hoạt động thực hiện Chiến dịch làm cho thế giới sạchhơn…tổ chức treo pano, áp phích, khẩu hiệu hành động vì môi trường tại các khuvực công cộng; xây dựng và đưa tin các hoạt động về môi trường trên đài phátthanh truyền hình tỉnh, huyện, báo Quảng Trị; Tổ chức các buổi ra phát quang bụirậm, quét dọn và thu gom rác thải, trồng cây xanh trên các tuyến đường; Tổ chức 04lớp tuyên truyền về giới thiệu và hướng dẫn ứng dụng công nghệ sinh học Biowishvào sản xuất và bảo vệ môi trường có 480 người…
Hưởng ứng các hoạt động trong “Tháng hành động vì môi trường” năm
Trang 232017, Sở TN và MT đã phối hợp tổ chức hội thi “Tuổi trẻ với công tác bảo vệ môitrường” thu hút hơn 500 đoàn viên, thanh niên của 04 đơn vị dự thi với các nội dung
về tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, những kỹ năng tuyêntruyền bảo vệ môi trường cho đoàn viên, sinh viên[16] Trong chiến dịch làm cho thếgiới sạch hơn 2017, Sở TN và MT đã phối hợp với đài phát thanh – truyền hình tỉnh
tổ chức Đối thoại chính sách về tài nguyên và môi trường cho các doanh nghiệp trênđịa bàn với những nội dung liên quan đến thủ tục hồ sơ báo cáo đánh giá tác độngmôi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường, hoạt động thanh tra, kiểm tra; Thu gom,vận chuyển và xử lý chất thải thông thường, chất thải nguy hại…[17]
- Bên cạnh việc tổ chức những hoạt động truyền thông truyền thống như mittin kỷ niệm, treo pano, áp phích, ra quân tổng dọn vệ sinh môi trường tại các tuyếnđường ở khu dân cư trong các ngày lễ liên quan đến môi trường thì trong năm qua,tỉnh Bình Định cũng đã có nhiều hoạt động đổi mới trong công tác truyền thông bảo
vệ môi trường như: mở các lớp tập huấn công tác bảo vệ môi trường cho các cơ sởsản xuất kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn tỉnh; tổ chức cuộc thi “Sáng tạo xanh BìnhĐịnh” cho các đối tượng thanh thiếu niên từ 6 – 30 tuổi[21]; Với mục tiêu nâng caonhận thức về BVMT, bảo vệ thiện nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học; đồng thời làmphong phú thêm nguồn tư liệu phục vụ công tác truyền thông về môi trường, cuộcthi “Ảnh về môi trường và đa dạng sinh học” được tổ chức thu hút sự tham gia đôngđảo của các tầng lớp nhân dân[22]…những hoạt động, phong trào thi đua trên đã gópphần vào việc nâng cao nhận thức, tạo ra sân chơi bổ ích và khơi dậy sức sáng tạo,hình thành các ý tưởng mới trong việc tạo ra các sản phẩm thân thiện với môitrường góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và phát triển bền vững
- Để tăng cường công tác phối hợp giữa các ban ngành, hội đoàn thể, hằngnăm Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Sa Đéc chỉ đạo phòng tài nguyên và môitrường ký kết các kế hoạch liên tịch thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáodục các kiến thức, quy định của pháp luật về BVMT đến cộng đồng dân cư Trongnăm 2016, đã tổ chức 117 buổi truyền thông môi trường cho người dân với trên
4525 người tham dự lồng ghép vào các cuộc họp ở khóm, ấp Tổ chức các hoạtđộng hưởng ứng các sự kiện về môi trường như Ngày nước thế giới 22/3, Tuần lễ
Trang 24Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường, Ngày Môi trường thế giới 5/6…bằngnhiều hoạt động thiết thực như mit tin, ra quân tổng dọn vệ sinh đường phố, trồngcây xanh, phát tờ rơi tuyên truyền…treo 85 băng rol khẩu hiệu trước các trụ sở cơquan, trường học, các tuyến đường chính trong thành phố, đường vào khóm, ấp, khudân cư ở xã, phường; treo 50 pano khẩu hiệu tuyên truyền về BVMT dọc theo cáctuyến đường chính trong nội ô thành phố; phát hành 2.000 tờ rơi và dán 200 tờ ápphích thông tin, tuyên truyền ý nghĩa và tầm quan trọng của việc BVMT Thực hiệnthường xuyên chuyên mục “Tài nguyên và môi trường” phát sóng trên Đài truyềnthanh thành phố và trạm truyền thanh các xã, phường vào thứ bảy và phát lại vàochiều thứ bảy với thời lượng 5 phút, với 96 đợt phát sóng về các nội dung phổ biếncác quy định pháp luật và các thông tin về tình hình môi trường đến người dân trongđịa bàn thành phố[18].
1.2.2 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của thành phố Quảng Ngãi
1.2.2.1 Điều kiện tự nhiên
- Tọa độ địa lý từ 1505’ đến 1508’ vĩ độ Bắc và từ 108034’ đến 108055’ kinh
độ Đông Giới cận Thành phố Quảng Ngãi được xác định như sau:
+ Phía Đông giáp : Biển Đông;
+ Phía Tây và Tây Bắc giáp : huyện Sơn Tịnh;
+ Phía Nam và Tây Nam giáp : huyện Tư Nghĩa và huyện Mộ Đức;+ Phía Bắc giáp : huyện Bình Sơn
- Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, cách Khu kinh tế DungQuất khoảng 30 km, cách Thành phố Đà Nẵng 123 km, cách Thành phố Quy Nhơn
170 km, có Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam chạy qua là đầu mối giao thông quantrọng của tỉnh, liên kết Thành phố với các huyện trong Tỉnh và Thành phố kháctrong cả nước Qua đó tạo thuận lợi trong việc khai thác những thế mạnh về tiềm
Trang 25năng đất đai, lao động, mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng cường giao lưu kinh tế, thuhút vốn đầu tư, tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến… để xứng đáng làtrung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh, hòa nhập chung với sự pháttriển của khu vực miền Trung và cả nước.
b Địa hình
Thành phố Quảng Ngãi nằm dọc theo hai bên bờ của sông Trà Khúc nên cóđịa hình khá bằng phẳng, độ dốc trãi đều về 3 phía: Đông, Bắc và Nam Độ cao địahình trung bình 5 - 10 m, thấp nhất là 3,5 m và cao nhất là 15 m Địa hình tương đốicao tập trung ở các xã Tịnh Ấn Đông, Tịnh Thiện, Tịnh Châu Những khu vực cóđịa hình dưới 6,5 m như xã Nghĩa Dõng, xã Nghĩa Dũng và các xã ở hạ nguồn sôngTrà Khúc hàng năm thường hay bị ngập lụt trong mùa mưa, ảnh hưởng lớn đến dânsinh, kinh tế và môi trường Thành phố
c Địa chất và thủy văn
- Thành phố Quảng Ngãi nằm trên địa tầng phù sa dày 10 - 50 m gồm các lớpcát có lẫn sét và sỏi mỏng, lớp đá nền ở độ sâu 40 m, cường độ chịu lực có thể xâydựng được nhà cao tầng Cách Thành phố Quảng Ngãi khoảng 3 km về phía ĐôngNam là một đồi đất bazan độc lập mang các đặc trưng riêng chạy dài về hướng Bắc
- Cách trung tâm Thành phố 10 km về phía Tây có nhiều khu đất cao phảnánh sự tồn tại của đá mắc ma bị phong hóa (đá gơ nai và đá phiến) Lớp đất trêngồm sét nâu đỏ được tạo nên do sự phong hóa của đá nền
- Thành phố Quảng Ngãi có các con sông:
+ Sông Trà Khúc là con sông lớn nhất tỉnh Quảng Ngãi và nằm giữa Thànhphố Quảng Ngãi Bắt nguồn từ núi Đắc Tơ Rôn và hợp nước từ 4 con sông lớn làsông Rhe, sông Xà Lò, sông Drinh, sông Tang Sông chảy theo hướng Tây – Đông
và đổ ra cửa Đại, đây là nguồn cung cấp nước ngọt chủ yếu cho Thành phố
+ Sông Bàu Giang nằm ở phía Nam Thành phố, tuy là một con sông nhỏ nhưngcũng góp phần quan trọng cung cấp nguồn nước mặt cho Thành phố;
+ Sông Kinh là một nhánh của sông Trà Khúc, với chiều dài hơn 7 km, chảyqua xã Tịnh Khê đến vùng giáp ranh xã Tịnh Kỳ, Tịnh Hòa
+ Sông Phú Thọ dài 16 km, là một đoạn cuối của Sông Vệ, hợp lưu với sông
Trang 26chính gần vùng cửa sông tạo thành hình nan quạt.
d Khí hậu
Thành phố Quảng Ngãi chịu chung nền khí hậu của tỉnh, do đó khí hậuThành phố Quảng Ngãi được đánh giá theo điều kiện khí hậu tỉnh Quảng Ngãi.Quảng Ngãi có khí hậu nhiệt đới gió mùa, điển hình cho khu vực với hai mùa trongnăm Mùa khô kéo dài từ tháng 2 đến tháng 8 và mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đếntháng 1 năm sau Đặc điểm khí hậu của Quảng Ngãi được thể hiện sau đây:
- Chế độ nắng: Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 2.000 – 2.200 giờ Từtháng 3 đến tháng 9 là thời kỳ nắng nhiều, trung bình tháng khoảng 250 giờ Từtháng 9 đến tháng 2 năm sau là thời kỳ ít nắng, trung bình tháng khoảng 100 –
180 giờ
Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là 26,40C Nhiệt độ không khí tạiQuảng Ngãi phụ thuộc vào mùa Sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất vàlạnh nhất trong năm khoảng 6 - 80C Các tháng có nhiệt độ trung bình tháng cao hơncác tháng còn lại là tháng 4, 5, 6, 7, 8 với nhiệt độ khoảng 27,3 - 29,90C
Độ ẩm tương đối của không khí tại Quảng Ngãi khá cao, đạt giá trị trungbình hàng năm khoảng 82% Độ ẩm tương đối xuống thấp nhất vào cuối mùa khô(các tháng 5,6,7) Sự chênh lệch độ ẩm giữa hai mùa khô và mưa với các giá trịtrung bình là 75% và 87%
- Chế độ mưa: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 và kết thúc vào tháng 1 năm sau,chiếm khoảng 75% tổng lượng mưa hàng năm Vào mùa mưa, mỗi tháng có khoảng15-21 ngày có mưa Lượng mưa chủ yếu tập trung vào tháng 10 và 11 Mùa khô kéodài từ tháng 1 đết hết tháng 7, tuy nhiên hàng tháng trung bình cũng có từ 5 đến 8 ngày
có mưa
- Chế độ gió:
+ Do nằm trong khu vực gió mùa, tỉnh Quảng Ngãi chịu ảnh hưởng củachế độ gió mùa Hướng gió thịnh hành từ tháng 3 đến tháng 8 là Đông và ĐôngNam, từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau là Bắc và Tây Bắc Tốc độ gió trung bìnhnăm là 3,3 m/s
+ Vào mùa hè có gió Tây Nam khô nóng, ngoài ra còn có gió thổi từ Đông
Trang 27Nam qua Tây Bắc, hết sức mát mẻ dễ chịu gọi là gió Nồm Mùa Đông có gió mùaĐông Bắc Gió mùa Đông Bắc thường gây ra gió giật, các cơn lốc và thường gây ramưa to, ẩm ướt đồng thời nhiệt độ giảm mạnh.
- Chế độ bức xạ: Cường độ bức xạ trong khu vực tỉnh Quảng Ngãi thường đạtgiá trị cao vào các tháng 4 và 6, lớn hơn 14 kcal/cm2 và giá trị nhỏ hơn vào các tháng
11 đến tháng 01 năm sau, nhỏ hơn 8 kcal/cm2 Tổng lượng bức xạ cả năm khoảng 140
-150 kcal/cm2 Cân bằng bức xạ hàng năm tại Quảng Ngãi là 90 - 95 kcal/cm2 Trongngày, lượng bức xạ đạt giá trị cao nhất vào buổi trưa khoảng từ 11 giờ đến 13 giờ
đ Nguồn nước mặt
Sông Trà Khúc chảy từ hướng Tây sang Đông Lưu vực chảy qua Thành phốQuảng Ngãi ngắn, rộng, với độ dốc thay đổi 12 m trong khoảng 6 km kể từ thànhphố đến hạ lưu của sông trước khi đổ ra biển Thành phố được bảo vệ bằng một con
đê (cao 7,35 m) chạy dọc theo bờ sông
Lưu lượng trung bình của sông Trà Khúc đạt khoảng 205 m3/giây, lưu lượngtối đa ghi được là 18.201 m3/giây và tối thiểu là 20,7m3/giây
e Nguồn nước dưới đất
Nguồn nước cấp chính cho Thành phố Quảng Ngãi được lấy từ tầng ngậmnước nằm ở độ sâu từ 20 - 30 m dưới khu vực bằng phẳng thường xuyên bị ngập ởphía Nam sông Trà Khúc, với công suất 22.000 m3/ngày đêm [8]
1.2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
a.Tình hình phát triển kinh tế
Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và tỉnhQuảng Ngãi nói riêng, đã và đang có những biến đổi đáng kể, nhiều yếu tố mới xuấthiện, đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thếgiới (WTO) thì nhiều cơ hội và thách thức mới đang tác động đến quá trình pháttriển kinh tế - xã hội của tỉnh và Thành phố Quảng Ngãi Mặt khác, thành phốQuảng Ngãi là đô thị mới được nâng cấp và mở rộng thêm diện tích, hạ tầng đô thị,trình độ phát triển và cơ cấu kinh tế còn có nhiều hạn chế so với yêu cầu phát triển
Để đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần củanhân dân và nâng cao vị trí, vai trò là đô thị trung tâm tỉnh lỵ trong giai đoạn phát
Trang 28triển mới, việc quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Quảng Ngãiđến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025 là vấn đề cấp thiết Mục tiêu là xây dựngnhững định hướng phát triển dài hạn cho các ngành và lĩnh vực trên địa bàn Thànhphố; cung cấp những cơ sở khoa học cho việc hoạch định và xây dựng kế hoạch 5năm và hàng năm; làm cơ sở để xây dựng các chương trình, dự án và công trình ưutiên đầu tư có trọng điểm; đề ra các giải pháp thực hiện nhằm đẩy mạnh phát triểnkinh tế - xã hội thành phố trong giai đoạn 2010 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2025.
Trong những năm gần đây, dưới sự chỉ đạo của Thành ủy và UBND thànhphố cùng với sự nỗ lực của nhân dân, kinh tế của thành phố tăng trưởng khá; cơ cấukinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu laođộng và nâng cao mức thu nhập của người dân
Theo báo cáo hiện trạng kinh tế - xã hội năm 2016 của thành phố, tình hìnhkinh tế của thành phố tiếp tục phát triển, tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế chủyếu (giá so sánh với năm 2010) trên địa bàn thành phố ước đạt 25.890 tỷ đồng Cơcấu các ngành kinh tế năm 2016:
Biểu đồ 1.1 Cơ cấu kinh tế thành phố Quảng Ngãi năm 2016[15]
b Tình hình xã hội
Trang 29Thành phố Quảng Ngãi có 23 đơn vị hành chính gồm 9 phường và 14 xã.Diện tích tự nhiên 159,04 km2, dân số 252.050 người Mật độ dân số trung bình1.607 người/km2 Mật độ dân số cao nhất tập trung vào các phường: Trần Hưng Đạo(15.111 người/km2), Nguyễn Nghiêm (14.695 người/km2) Các xã ngoại thành cómật độ dân số thấp hơn như xã Tịnh Ấn Đông (558 người/km2), xã Tịnh Hòa (612người/km2).
Bảng 1.1: Đơn vị hành chính, diện tích, dân số năm 2016[2]
Stt Phường/xã Diện tích
(km 2 )
Số dân (người)
Mật độ dân số (người/km 2 ) Tổ, thôn
Trang 30Stt Phường/xã Diện tích
(km 2 )
Số dân (người)
Mật độ dân số (người/km 2 ) Tổ, thôn
Hiện hạ tầng giao thông Thành phố gồm có: đường bộ, đường sắt, đườngthủy
Sử dụng lưới điện phân phối trung áp (22 kV) để cấp điện cho các khu chức năngtrong Thành phố
Hầu hết các tuyến phố chính trên địa bàn 9 phường đã lắp đặt điện chiếusáng công cộng với tổng chiều dài tuyến khoảng 160 km; Lắp đặt điện chiếu sáng ởcác khu dân cư, nút giao thông, vườn hoa, quảng trường Đưa vào sử dụng 19 tuyếnđiện chiếu sáng với tổng chiều dài 44,7 km
Trang 31 Hệ thống cấp nước và thoát nước
Hiện nay, việc cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân trong khu vực do Công
ty CP cấp thoát nước và xây dựng Quảng Ngãi tổ chức thực hiện, với công suất22.000 m3/ngày.đêm Đồng thời xây dựng kế hoạch phát triển hệ thống cấp nướcsạch cho nhân dân các tuyến hẻm, vùng ven Thành phố
Thành phố đang sử dụng hệ thống thoát nước chung (thoát nước mưa vàthoát nước thải) với tổng chiều dài 89 km Ngoài ra, UBND thành phố đã đầu tư xâydựng hệ thống thoát nước trong khu vực nội thành
+ Thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh ban đầu cho nhân dân, đã khámchữa bệnh cho 363.606 lượt người, đạt 131,6% kế hoạch, công suất sử dụng giườngbệnh đạt 125,3% KH;
+ Trên địa bàn Thành phố có 4 bệnh viện và nhiều trung tâm y tế, nhà hộsinh, đội vệ sinh phòng dịch, 23 trạm y tế xã, phường và nhiều cơ sở khám chữabệnh tư nhân, công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có tiến bộ, công tác phòngchống dịch bệnh được triển khai và thực hiện tốt
+ Ngành giáo dục Thành phố có 84 trường học với 44.576 học sinh, Thànhphố đã tập trung chỉ đạo thực hiện đổi mới giáo dục theo Nghị quyết 29-NQ/TWbước đầu có kết quả (ngành đã đạt giải nhất về đổi mới giáo dục theo Nghị quyết29) Duy trì công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập trung học cơ
sở, thực hiện hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non trẻ 05 tuổi;
+ Thành phố hiện có gần 20 trường của Bộ, ngành, tỉnh quản lý với khoảng40.000 học sinh, sinh viên đang học tập và nghiên cứu gồm: Đại học Phạm VănĐồng, Đại học Công Nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh – phân hiệu Quảng Ngãi, Caođẳng Y tế Đặng Thùy Trâm…và các trường chuyên Lê Khiết, Trần Quốc Tuấn…Đây là các trường lớn nằm trên địa bàn Thành phố thực hiện nhiệm vụ giáo dục vàđào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh Quảng Ngãi
Trên địa bàn Thành phố có 8.326 cây xanh/62 tuyến đường phố, tổ chức quản
Trang 32lý, chăm sóc 19 vườn hoa, công viên với tổng diện tích khoảng 12 ha Bên cạnh việcđầu tư xây dựng đồng bộ vườn hoa, công viên trong các dự án đồng thời cần huy độngcác nguồn lực tổ chức trồng cây xanh để đảm bảo vệ sinh môi trường[8].
CHƯƠNG 2:
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 332.1 Tình hình môi trường tại thành phố Quảng Ngãi
Thành phố Quảng Ngãi là nơi tập trung các hoạt động kinh tế - văn hóa – xãhội và là đầu tàu thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi Tínhđến cuối năm 2017, trên địa bàn thành phố có 01 khu công nghiệp, 01 cụm côngnghiệp làng nghề, 18.545 cơ sở thương mại – dịch vụ, 2.870 cơ sở sản xuất côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp cùng hoạt động với nhiều ngành nghề như chế biếnthực phẩm và đồ uống, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, đồ nhựa gia dụng, chế biểnthủy sản, kinh doanh nhà hàng, khách sạn…
Cùng với sự phát triển về kinh tế và tốc độ đô thị hóa thì môi trường trên địabàn thành phố cũng đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ gây ô nhiễm không khí,nước thải, chất thải rắn…
2.1.1 Môi trường nước
Theo kết quả quan trắc của Trung tâm trắc địa và quan trắc môi trường thìchất lượng môi trường nước mặt, nước dưới đất tại khu vực thành phố các thông sốđều nằm trong giới hạn cho phép, trừ một số chỉ tiêu về NO3- , Coliform vượtngưỡng cho phép
Bảng 2.1 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt[8]
Trang 34lý tập trung mà được thải trực tiếp ra môi trường tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môitrường nước mặt Bên cạnh đó, cụm công nghiệp Tịnh Ấn Tây vẫn chưa có hệ thống
xử lý nước thải tập trung, nhiều doanh nghiệp chỉ xử lý nước thải sơ bộ và thải trựctiếp ra môi trường, làm ảnh hưởng đến môi trường nước và đất xung quanh cụmcông nghiệp Tình trạng khai thác cát và nước ngầm bừa bãi trên sông Trà Khúcđang đe dọa đến trữ lượng và chất lượng của nguồn nước dưới đất.[8]
2.1.2 Môi trường không khí
Nhìn chung môi trường không khí trên địa bàn thành phố chưa bị ô nhiễm,tuy nhiên hiện tượng ô nhiễm cục bộ đã xuất hiện tại một số khu vực như các điểmnút giao thông, các công trình xây dựng, các vùng tập trung sản xuất công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp…nguyên nhân là do hoạt động giao thông vận tải; các cơ sởsản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sử dụng nhiều nguyên, nhiên liệu phátsinh các khí thải gây ô nhiễm môi trường và do sinh hoạt của con người.[8]
2.1.3 Môi trường đất
Cùng với ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí thì ô nhiễm đất đai đang trở nên
Trang 35đáng báo động nhất là do những năm gần đây khi thành phố tập trung phát triển xâydựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị Nước thải từ các nhà máy, khu dân cư chưaqua xử lý, dư lượng phân bón, thuốc trừ sâu trong hoạt động sản xuất nông nghiệpgây ra phú dưỡng và nhiễm độc nguồn nước, từ đó làm cho đất cũng bị ô nhiễm.
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không thểthay thế được, vì vậy quan điểm sử dụng đất là: sử dụng có hiệu quả cao và lâubền Cần thực hiện tốt việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp để nâng caohiệu quả kinh tế, tạo thu nhập cao, ổn định cho nông dân Kết hợp hài hoà giữa sửdụng bền vững tài nguyên đất với yêu cầu phát triển kinh tế và vấn đề giữ vững anninh, trật tự an toàn xã hội[8]
2.1.4 Chất thải rắn
Các nguồn phát sinh chất thải rắn của thành phố chủ yếu từ chất thải rắn sinhhoạt, chất thải rắn công nghiệp, nông nghiệp và y tế
- Chất thải rắn sinh hoạt của thành phố phát sinh chủ yếu từ rác thải của các
hộ dân, các khu trung tâm thương mại, cơ quan công sở, chợ trên địa bàn
- Chất thải rắn y tế gồm các loại bông băng, gạc, nẹp, các loại kim tiêm, ốngtiêm thức ăn thừ, giấy, chai nhựa, bao nilon
- Chất thải rắn công nghiệp từ các khu công nghiệp, cụm làng nghề, các nhàmáy xí nghiệp với thành phần chủ yếu là mùn cưa, bao bì đóng gói sản phẩm, xỉkim loại
- Chất thải rắn nông nghiệp là phát sinh từ các hoạt động sản xuất nôngnghiệp như: trồng trọt (thực vật chết, tỉa cành, làm cỏ, ), thu hoạch nông sản (rơm,
rạ, trấu, cám, lõi ngô, thân ngô), bao bì đựng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, cácchất thải ra từ chăn nuôi
Hệ thống quản lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố còn tồn tại một số vấn
Trang 36rắn được thu gom trên địa bàn thành phố là 228 tấn rác/ngày đêm, tỷ lệ thu gom rácthải ở đô thị (đối với phường) đạt 86%, ở khu vực nông thôn (đối với các xã) chỉ đạt52,2%; Rác thải được thu gom và xử lý bằng phương pháp chôn lấp, khống chế việcphát sinh ruồi, nhặng và mùi hôi bằng vôi và thuốc diệt côn trùng Thời gian trước,chất thải rắn được thu gom tập trung về hai bãi rác là Đồng Nà và Nghĩa Kỳ nhưnghiện nay bãi rác Đồng Nà tạm dừng hoạt động nên tất cả rác thải phát sinh trên địabàn thành phố được thu gom và xử lý tại bãi rác Nghĩa Kỳ nên đã gây ra tình trạngquá tải Việc thu gom rác chưa triệt để, tỷ lệ thu gom thấp và tình trạng quá tải ở bãirác đang làm mất mỹ quan đô thị, ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏecủa người dân
- Chưa có biện pháp để tái sinh, tái chế chất thải rắn
- Chất thải rắn sinh hoạt chưa được thu gom triệt để, vẫn còn rơi vãi trênđường phố, đổ bừa bãi xuống các cống, hệ thống kênh rạch[8]
2.1.5 Hiện trạng công tác quản lý nhà nước về môi trường
Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về BVMT tại thành phố đã
có những chuyển biến tích cực: cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước về BVMT đã đượctăng cường; thành phố đã chủ động vay vốn của Ngân hàng phát triển châu Á và cơquan phát triển của Pháp để xây dựng hệ thống thoát nước, hồ điều hòa trong khuvực thành phố để cải thiện tình trạng ngập úng và thoát nước của thành phố trongmùa mưa bão; Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các cơ sở sản xuất kinh doanh,dịch vụ được tăng cường và có sự phối hợp với các bộ phận có liên quan; Công táctuyên truyền, vận động nhân dân tham gia các hoạt động truyền thông môi trườngngày càng được đẩy mạnh
Bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác quản lý Nhà nước về môitrường đang bộ lộ những khó khăn : hiện nay bộ máy quản lý chưa đáp ứng đượcyêu cầu, khối lượng công việc cần giải quyết; lực lượng cán bộ chuyên trách MTcòn thiếu, kiến thức chuyên môn về BVMT còn hạn chế Hệ thống văn bản về
MT còn nhiều bất cập; việc thực hiện các văn bản có tính khả thi chưa cao, chưaphù hợp với thực tiễn Kinh phí cho công tác BVMT còn ít, dàn trải, chưa có cơchế khuyến khích và huy động vốn từ các doanh nghiệp và người dân vào sự
Trang 37nghiệp BVMT Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp còn nhiều hạn chế; công táctuyên truyền, giáo dục, phổ biến các văn bản pháp luật về môi trường cho ngườidân và doanh nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu dẫn đến công tác BVMT chưacao Bên cạnh đó, nhận thức về bảo vệ môi trường của một bộ phận người dân vàmột số doanh nghiệp chưa cao nên việc giữ gìn và bảo vệ môi trường còn gặpnhiều khó khăn[8].
2.2 Thực trạng công tác truyền thông môi trường tại thành phố Quảng Ngãi 2.2.1 Các chủ trương, chính sách và phong trào của thành phố Quảng Ngãi về công tác bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường là mục tiêu, là một trong những nội dung cơ bản của pháttriển bền vững, đây cũng là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình vàmỗi người dân; đây cũng là biểu hiện của nếp sống văn hóa, là tiêu chí quan trọngcủa xã hội văn minh và là sự tiếp nối truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hòa với
tự nhiên của các thế hệ cha ông Để cho môi trường ở khu dân cư ngày càng “Xanh– sạch – đẹp” và làm cho mọi người dân có ý thức, kiến thức, sử dụng hợp lý tàinguyên thiên nhiên; thay đổi thói quan trong sản xuất, sinh hoạt, tiêu dùng tránhxâm hại đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường thì đòi hỏi phải có sự lãnh đạo,chỉ đạo chặt chẽ của cấp ủy Đảng, sự thống nhất quản lý của Nhà nước và sự thamgia tích cực của Mặt trận Tổ Quốc và các hội, đoàn thể trong việc tuyên truyền, vậnđộng các tầng lớp nhân dân cùng tham gia các hoạt động truyền thông BVMT
Nghị quyết đại hội Đảng bộ thành phố Quảng Ngãi lần XV đã xác định mục
tiêu: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, xây dựng hệ
thống chính trị trong sạch, vững mạnh, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân Khai thác và tranh thủ các nguồn lực để đầu tư phát triển kinh tế, hạ tầng đô thị, xây dựng nông thôn mới; chăm lo cho sự nghiệp văn hóa, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ; quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường; thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân; tăng cương quốc phòng, an ninh, bảo đảm giữ vững ổn
định chính trị - xã hội để xây dựng và phát triển Thành phố trở thành đô thị “năng động và thân thiện”[11]
Trang 38Cụ thể hóa mục tiêu của đại hội, Thành ủy Quảng Ngãi đã ban hành Nghịquyết chuyên đề số 01-NQ/TU về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020
để các xã nông thôn thực hiện và đạt được các mục tiêu của nông thôn mới, trong
đó có tiêu chí 17 về vệ sinh môi trường nông thôn[12]; Nghị quyết chuyên đề số NQ/TU về xây dựng nếp sống văn minh đô thị, đảm bảo vệ sinh môi trường[13]
03-Trên cơ sở chỉ đạo của Thành ủy, UBND thành phố đã ban hành kế hoạchphát động phong trào xây dựng đô thị xanh – sạch – đẹp và tăng cường công táctuyên truyền nâng cao nhận thức để đảm bảo vệ sinh môi trường trên địa bàn Mặttrận Tổ quốc và các hội, đoàn thể cũng đã phát động nhiều phong trào để tăngcường công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường đến các tầng lớp nhân dân và cán bộ
hội viên, đoàn viên của tổ chức mình, tiêu biểu như: phong trào “Khu dân cư bảo
vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu”, “Khu dân cư thực hiện hài hòa xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường” gắn liền với Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”của Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt
Nam (UBMTTQVN) thành phố; phong trào “Phụ nữ thành phố Quảng Ngãi thi đua
xây dựng thành phố văn minh, thân thiện”của hội Liên hiệp phụ nữ (LHPN) thành
phố; Đoàn Thanh niên với phong trào “Tuổi trẻ thành phố Quảng Ngãi tham gia
xây dựng văn minh đô thị”, “Tuổi trẻ thành phố Quảng Ngãi tham gia xây dựng nông thôn mới”; Ngoài ra các tổ chức hội, đoàn thể khác cũng đã xây dựng nhiều
phong trào, kế hoạch hành động vì môi trường gắn liền với công tác xây dựng, thiđua và hoạt động của tổ chức hội ở cơ sở
2.2.2 Hoạt động truyền thông môi trường trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi
2.2.2.1 Chủ thể tổ chức hoạt truyền truyền thông môi trường
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, có đến 124 phiếu lựa chọn đã từng tham giacác hoạt động truyền thông do UBND các cấp tổ chức , 86 phiếu do hội LHPN cáccấp tổ chức, 81 phiếu do UBMTTQVN các cấp tổ chức; sau đó lần lượt là các hoạtđộng truyền thông do Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh (TNCSHCM), hộiCựu Chiến Binh (CCB), hội Nông dân, sở tài nguyên và môi trường và cuối cùng là
cơ quan truyền thông Kết quả chi tiết được thể hiện tại hình 2.1
Biểu đồ 2.1 Chủ thể tổ chức các hoạt động truyền thông
Trang 39(Nguồn: Khảo sát tại địa bàn, 2018)Hằng năm, phòng tài nguyên và môi trường (TN và MT) thành phố đều thammưu trình UBND thành phố phê duyệt các kế hoạch tổ chức các hoạt động truyềnthông BVMT như: Công văn số 826/UBND ngày 27/3/2015 của UBND thành phố
về việc tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về đảm bảo vệ sinhmôi trường; Kế hoạch số 54/KH-UBND ngày 30/05/2016 về việc tổ chức các hoạtđộng hưởng ứng ngày Môi trường thế giới, ngày Đại dương xanh thế giới, Tuần lễBiển và Hải đảo năm 2016 trên địa bàn thành phố; Công văn số 2745/UBND ngày26/5/2017 về việc tổ chức các hoạt động hưởng ứng tháng hành động vì môi trường
và Ngày Môi trường thế giới năm 2017 Ban hành văn bản hướng dẫn UBND các
xã, phường tổ chức việc xây dựng hương ước, quy ước của tổ dân phố, khu dân cư,trong đó có các quy định về bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường côngcộng Bên cạnh đó còn tham mưu tổ chức các lớp tập huấn về thủ tục lập hồ sơ môitrường cho 73 cơ sở sản xuất kinh doanh, tổ chức tuyên truyền luật BVMT chonhân dân 6 xã mới sát nhập vào thành phố là Nghĩa An, Nghĩa Hà, Tịnh An, Tịnh
Ấn Tây, Tịnh Thiện, Tịnh Khê (Nữ, 34 tuổi, phòng TN và MT thành phố)
Từ tháng 7 đến tháng 8 hằng năm, Ủy ban MTTQVN thành phố ký kết kếhoạch liên tịch với UBND, các hội đoàn thể, công an, đài truyền thanh thành phố
để tổ chức tuyên truyền đến các cơ quan, doanh nghiệp và nhân dân ở từng khudân cư với các nội dung: tuyen truyền pháp luật bảo vệ môi trường; thực trạng vệsinh môi trường của thành phố; vận động nhân dân thực hiện việc thu gom, vận
Trang 40chuyển chất thải sinh hoạt đến nơi quy định; không đổ, bỏ rác, không xả nước
thải ra môi trường, giữ gìn vệ sinh trong khu dân cư…(Nữ, 28 tuổi, Ủy ban
MTTQVN thành phố).
2.2.2.2 Kênh truyền thông môi trường
Hằng ngày, mỗi người dân trên địa bàn thành phố tiếp cận ít nhất là 01 kênhtruyền thông về môi trường, chiếm 43%, nhiều nhất là 5 kênh truyền thông chiếm9.8% Kết quả nghiên cứu cụ thể như sau:
Biểu đồ 2.2 Số lượng kênh tiếp nhận truyền thông môi trường
(Nguồn: Khảo sát tại địa bàn, 2018)Trong các kênh truyền thông được người dân sử dụng hàng ngày để tiếp cậncác thông tin liên quan đến môi trường thì việc xem truyền hình trung ương quakênh VTV1, VTV2 là kênh truyền thông dễ tiếp cận được với người dân nhất vìhiện nay hầu như nhà ai cũng có tivi và 86 hộ gia đình được nghiên cứu đã lựa chọnkênh truyền thông này là dễ tiếp nhận đối với mình; truyền thông qua hệ thống loatruyền thanh là kênh dễ tiếp nhận thứ hai đối với 41 hộ được nghiên cứu vì dễ nghe,thuận lợi cho những người làm việc ngoài trời, nhất là các hộ làm nông nghiệp; Cáckênh truyền thông khác như họp tổ dân phố có rất ít người lựa chọn là kênh dễ tiếpcận với mình vì các nội dung họp tổ dân phố đa phần là triển khai các nhiệm vụ, chỉtiêu kế hoạch của địa phương nhiều hơn là hoạt động truyền thông môi trường Điều
đó cho thấy các phương tiện thông tin đại chúng như đài truyền hình trung ương(VTV1 – VTV2), loa truyền thanh có vai trò rất quan trọng trong việc truyền thôngnâng cao nhận thức của cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường