Việc xây dựng các công trình cấp nước và quản lý chất lượng nước dùng chosinh hoạt hàng ngày của người dân nơi đây chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ chính quyền, phần lớn ng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
GIẢI PHÁP CẢI THIỆN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 60 85 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN MINH TRÍ
Trang 2Thừa Thiên Huế, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Tất cả số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa được người khác công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào.
Tác giả luận văn
Trương Văn Vũ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện luận văn, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ tận tình và đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo, gia đình và anh chị em bạn bè Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cám ơn đến quý thầy cô giáo, Ban giám hiệu và phòng đào tạo Sau đại học trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, quý thầy cô đang giảng dạy tại Khoa Sinh học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cám ơn quý thầy cô giáo trong Khoa Sinh học đã truyền đạt cho tôi những kiến thức vô cùng quý báu trong suốt quá trình học tập.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Minh Trí đã luôn quan tâm, hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lời cám ơn chân thành đến gia đình và các anh chị bạn bè thân thiết đã luôn đồng hành, động viên và khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn.
Do thời gian thực hiện luận văn có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của thầy, cô và các anh chị học viên.
Quảng Ngãi, tháng 6 năm 2018
Tác giả luận văn
Trương Văn Vũ
Trang 5MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC BẢNG i
DANH MỤC CÁC HÌNH ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 KHÁI NIỆM 4
1.1.1 Khái niệm liên quan đến nước 4
1.1.2 Phân loại nguồn nước 4
1.2 VAI TRÒ CỦA NƯỚC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI 7
1.3 ẢNH HƯỞNG CỦA NGUỒN NƯỚC ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI 10
1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ QUẢN LÝ NƯỚC SINH HOẠT 12
1.4.1 Trên thế giới 12
1.4.2 Ở Việt Nam 13
1.4.3 Khảo sát về nước sinh hoạt ở tỉnh Quảng Ngãi 19
1.5 VẤN ĐỀ CẤP NƯỚC SẠCH Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY 21
1.5.1 Những kết quả đạt được 21
1.5.2 Những mặt tồn tại 22
1.5.3 Những khó khăn và thách thức trong vấn đề cấp nước sạch ở nông thôn 23
1.6 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 25
1.6.1 Điều kiện tự nhiên 25
1.6.2 Đặc điểm địa hình, khí hậu 25
1.6.3 Dân số và lao động 26
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 27
Trang 62.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 27
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.3.1 Phương pháp khảo sát thực địa và thu thập thông tin 27
2.3.2 Phương pháp lấy mẫu 27
2.3.3 Phương pháp phân tích mẫu 27
2.4 THỐNG KÊ VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 29
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NƯỚC SINH HOẠT TẠI XÃ TRÀ THỦY 30
3.2 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CÁC NGUỒN NƯỚC SINH HOẠT 33
3.2.1 pH 36
3.2.2 Độ đục 36
3.2.3 Hàm lượng NH4+ 37
3.2.4 Sắt tổng số 38
3.2.5 Chỉ số Permanganat (KMnO4) 39
3.2.6 Độ cứng (CaCO3) 40
3.2.7 Hàm lượng clorua 40
3.2.8 Asen 41
3.2.9 Coliform tổng số 41
3.2.10 E Coli 42
3.3 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CẤP NƯỚC SINH HOẠT 44
3.3.1 Giải pháp quản lý tài nguyên nước sinh hoạt 44
3.3.2 Giải pháp về chính sách 48
3.3.3 Giải pháp quản lý 49
3.3.4 Giải pháp kỹ thuật 49
3.3.5 Giải pháp về vốn 52
3.3.6 Giải pháp về thông tin - giáo dục - truyền thông 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
1 KẾT LUẬN 54
2 ĐỀ NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Cơ cấu các nguồn nước hiện đang sử dụng ở các hộ gia đình 31
Bảng 3.2 Số lượng người mắc các bệnh do nguồn nước trong năm 2017 32
Bảng 3.3 Chất lượng các nguồn nước sinh hoạt tại xã Trà Thủy 35
Bảng 3.4 pH của các nguồn nước sinh hoạt ở xã Trà Thủy 36
Bảng 3.5 Độ đục của các nguồn nước sinh hoạt ở xã Trà Thủy 37
Bảng 3.6 Hàm lượng sắt tổng số của các nguồn nước sinh hoạt ở xã Trà Thủy 38
Bảng 3.7 Chỉ số Permanganat của các nguồn nước sinh hoạt ở xã Trà Thủy 39
Bảng 3.8 Độ cứng (CaCO3) của các nguồn nước sinh hoạt ở xã Trà Thủy 40
Bảng 3.9 Hàm lượng clorua của các nguồn nước sinh hoạt ở xã Trà Thủy 41
Bảng 3.10 Coloform tổng số của các nguồn nước sinh hoạt ở xã Trà Thủy 42
Bảng 3.11 E.coli trung bình của các mẫu nước sinh hoạt 43
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1 Các nguồn nước sinh hoạt chính của người dân ở xã Trà Thủy 30
Hình 3.2 Tỷ lệ sử dụng các nguồn nước sinh hoạt tại xã Trà Thủy 31
Hình 3.3 pH trung bình của các mẫu nước sinh hoạt 36
Hình 3.4 Độ đục trung bình của các mẫu nước sinh hoạt 37
Hình 3.5 Hàm lượng sắt tổng số trung bình của các mẫu nước sinh hoạt 38
Hình 3.6 Chỉ số Permanganat trung bình của các mẫu nước sinh hoạt 39
Hình 3.7 Ma trận Swot 44
Trang 9TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
TSS: Total Suspended Solid
QCVN: Qui chuẩn Việt Nam
BTNMT: Bộ Tài nguyên - Môi trường
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nước sạch và vệ sinh môi trường là nhu cầu rất cần thiết trong đời sống hàngngày của con người Nước sạch cho người dân nông thôn là một trong những tiêuchí quan trọng của Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới Hiện nay, một
số vùng nông thôn ở nước ta, người dân đang sử dụng nguồn nước sinh hoạt chủyếu từ sông, hồ, nước mưa và nước ngầm từ giếng khơi, giếng khoan Nếu nguồnnước không bảo đảm vệ sinh sẽ gây nên nguy cơ mắc các bệnh đường ruột, bệnhngoài da và một số bệnh khác Chính vì thế, vai trò của nước sạch ở các vùng nôngthôn luôn quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết
Trà Thủy là một xã miền núi đặc biệt khó khăn (diện 135), thuộc huyện TràBồng, tỉnh Quảng Ngãi Xã gồm 6 thôn với dân số là 3.265 người, trong đó ngườidân tộc thiểu số chiếm 91,2% (Dân tộc Cor là 90,6% và một số dân tộc thiểu sốkhác chiếm 0,6%) Ở đây nguồn nước dùng cho sinh hoạt của người dân chủ yếulà nước giếng, nước tự chảy hoặc sử dụng nước suối đây là những nguồn nướccó nguy cơ bị ô nhiễm bởi các hoạt động sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp củangười dân
Việc xây dựng các công trình cấp nước và quản lý chất lượng nước dùng chosinh hoạt hàng ngày của người dân nơi đây chưa nhận được sự quan tâm đúng mức
từ chính quyền, phần lớn người dân vẫn quen sử dụng trực tiếp nước tự chảy từ khesuối, sông và giếng mà chưa qua quá trình xử lý nào cả, do vậy sẽ ảnh hưởng đếnsức khỏe nên người dân ở đây mong muốn có được một nguồn nước sạch cho sinhhoạt hàng ngày
Do vậy, đề tài: “Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt ở xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi và đề xuất các giải pháp cải thiện” được thực
hiện nhằm khảo sát tình hình sử dụng, đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại xã TràThủy, đồng thời đưa ra những giải pháp khai thác phù hợp góp phần quan trọng vàocông tác quản lý, đảm bảo chất lượng nước sinh hoạt đạt tiêu chuẩn sử dụng
Trang 112 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đánh giá được hiện trạng sử dụng và chất lượng các nguồn nước sinh hoạtcủa người dân tại xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi nhằm đề xuất cácgiải pháp khai thác nước sinh hoạt đạt tiêu chuẩn cho người dân, phù hợp với địnhhướng phát triển nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
+ Ý nghĩa về mặt khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ hiện trạng chất lượngcác nguồn nước sinh hoạt ở xã Trà Thủy thuộc huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi, từđó làm cơ sở để đề xuất các giải pháp khai thác tạo nguồn nước an toàn phục vụ chomục đích sinh hoạt của người dân trong khu vực
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về chất lượng các nguồn nước sinh hoạtcủa người dân hiện đang sử dụng (giếng đào, nước tự chảy, sông, suối ) tại xã TràThủy thuộc huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi Trong đề tài tập trung phân tích cácchỉ tiêu chất lượng đối với nước sử dụng cho mục đích sinh hoạt thông thường theoQCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế bằng cách đánh giá các thông số chất lượng nướcgồm: mùi vị, màu sắc, pH, độ đục, độ cứng (tính theo CaCO3), chỉ số KMnO4(CODMn), hàm lượng amoni, hàm lượng clorua, hàm lượng asen tổng số, hàm lượngsắt tổng số (FeII,III), coliform tổng số và E coli
5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn được trình bày trong 70 trang, bố cục như sau:
Mở đầu: 3 trang
Chương 1: Tổng quan tài liệu: 25 trang
Trang 12Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 4 trang
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 25 trang
Kết luận và đề nghị: 2 trang
Tài liệu tham khảo và phụ lục
Trong luận văn có 11 bảng, 7 hình là các đồ thị, biểu đồ, sơ đồ Có tổngcộng 41 tài liệu tham khảo (33 tài liệu tiếng Việt và 8 tài liệu nước ngoài) để minhhọa cho kết quả nghiên cứu
Trang 13Chương 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 KHÁI NIỆM
1.1.1 Khái niệm liên quan đến nước
Nước: là một hợp chất hóa học của oxy và hydro, không màu, không mùi,
không vị, là một chất rất quan trọng đối với sự sống và con người
Nước sạch: là nguồn nước trong, không màu, không mùi, không vị, không
chứa các độc chất và vi khuẩn gây bệnh
Nước hợp vệ sinh: là nước không màu, không mùi, không vị, không chứa các
thành phần có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, có thể dùng để ănuống sau khi đun sôi
Ô nhiễm nước: là sự biến đổi các thành phần của nước khác biệt với trạng
thái ban đầu Đó là sự biến đổi các chất hóa, lý, sinh vật và sự có mặt của chúngtrong nước làm cho nước trở lên độc hại
1.1.2 Phân loại nguồn nước
Tất cả các nguồn nước ngọt có xuất phát điểm là từ các cơn mưa được tạo ra
do sự ngưng tụ tới hạn của hơi nước trong không khí, rơi xuống ao, hồ, sông củamặt đất cũng như trong các nguồn nước ngầm hoặc do sự tan chảy của băng haytuyết Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy mà việc cung cấp nước ngọtvà sạch trên thế giới đang từng bước giảm đi Nhu cầu nước đã vượt cung ở một vàinơi trên thế giới, trong khi dân số thế giới vẫn đang tiếp tục tăng làm cho nhu cầunước càng tăng Sự nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước chonhu cầu hệ sinh thái chỉ mới được lên tiếng gần đây Trong suốt thế kỷ 20, hơn mộtnửa các vùng đất ngập nước trên thế giới đã bị biến mất cùng với các môi trường hỗ
Trang 14trợ có giá trị của chúng Các hệ sinh thái nước ngọt mang đậm tính đa dạng sinh họchiện đang suy giảm nhanh hơn các hệ sinh thái biển và đất liền [36].
+ Nước mặn.
Nước mặn là thuật ngữ chung để chỉ nước chứa một hàm lượng đáng kể cácmuối hòa tan (chủ yếu là NaCl) Hàm lượng này thông thường được biểu diễn dướidạng phần nghìn (ppt) hay phần triệu (ppm) hoặc phần trăm (%) hay g/l
Trên trái đất, nước biển trong các đại dương là nguồn nước mặn phổ biếnnhất và cũng là nguồn nước lớn nhất Độ mặn trung bình của đại dương là khoảng35.000 ppm hay 35 ppt hoặc 3,5%, tương đương với 35 g/l
+ Nước mặt.
Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước.Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảyvào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất
Lượng nước giáng thủy này được thu hồi bởi các lưu vực, tổng lượng nướctrong hệ thống này tại một thời điểm cũng tùy thuộc vào một số yếu tố khác Cácyếu tố này là khả năng chứa của các hồ, vùng đất ngập nước và hồ chứa nhân tạo,
độ thấm của đất dưới các thể chứa này, các đặc điểm của dòng chảy mặn trong lưuvực, thời lượng giáng thủy và tốc độ bốc hơi tại địa phương
Sự bốc hơi nước trong đất, ao, hồ, sông, biển; sự thoát hơi nước ở thực vật vàđộng vật hơi nước vào trong không khí sau đó bị ngưng tụ lại trở về thể lỏng rơixuống mặt đất hình thành mưa, nước mưa chảy tràn trên mặt đất từ nơi cao đến nơithấp tạo nên các dòng chảy hình thành nên thác, ghềnh, suối, sông và được tích tụlại ở những nơi thấp trên lục địa hình thành hồ hoặc được đưa thẳng ra biển hìnhthành nên lớp nước trên bề mặt của vỏ trái đất
Trong quá trình chảy tràn, nước hòa tan các muối khoáng trong các nhamthạch nơi nó chảy qua, một số vật liệu nhẹ không hòa tan được cuốn theo dòng chảyvà bồi lắng ở nơi khác thấp hơn, sự tích tụ muối khoáng trong nước biển sau mộtthời gian dài của quá trình lịch sử của quả đất dần dần làm cho nước biển càng trởnên mặn Có hai loại nước mặt là nước ngọt hiện diện trong sông, ao, hồ trên cáclục địa và nước mặn hiện diện trong biển, các đại dương mênh mông, trong các hồnước mặn trên các lục địa
Trang 15Nước mặt tự nhiên có thể được tăng cường thông qua việc cung cấp từ cácnguồn nước mặt khác bởi các kênh, đường ống dẫn nước hoặc bổ cấp nhân tạo từcác nguồn khác.
+ Nước ngầm.
Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, là nước ngọt được chứa trong các lỗrỗng của đất hoặc đá Nó cũng có thể là nước chứa trong các tầng ngậm nước bêndưới mực nước ngầm Đôi khi người ta còn phân biệt nước ngầm tầng nông, nướcngầm sâu và nước chôn vùi
Nước ngầm cũng có những đặc điểm giống nước mặt như: nguồn vào, nguồn
ra và chứa Sự khác biệt chủ yếu với nước mặt là do tốc độ luân chuyển chậm (dòngthấm rất chậm so với nước mặt), khả năng giữ nước ngầm nhìn chung lớn hơn nướcmặt khi so sánh về lượng nước đầu vào
Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước ngầm thành nước ngầm tầng mặt vànước ngầm tầng sâu Ðặc điểm chung của nước ngầm là khả năng di chuyển nhanhtrong các lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngầm theo địa hình Nước ngầm tầngmặt thường không có lớp ngăn cách với địa hình bề mặt Do vậy, thành phần vàmực nước biến đổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thái của nước mặt
Có hai loại nước ngầm: nước ngầm không có áp lực và nước ngầm có áp lực.Nước ngầm không có áp lực: là dạng nước được giữ lại trong các lớp đá ngậm nướcvà lớp đá nầy nằm bên trên lớp đá không thấm như lớp diệp thạch hoặc lớp sét nénchặt Loại nước ngầm nầy có áp suất rất yếu, nên muốn khai thác nó phải thì phảiđào giếng xuyên qua lớp đá ngậm rồi dùng bơm hút nước lên Nước ngầm loại nầythường ở không sâu dưới mặt đất, có nhiều trong mùa mưa và ít dần trong mùa khô.Nước ngầm có áp lực: là dạng nước được giữ lại trong các lớp đá ngậm nước và lớp
đá nầy bị kẹp giữa hai lớp sét hoặc diệp thạch không thấm Do bị kẹp chặt giữa hailớp đá không thấm nên nước có một áp lực rất lớn vì thế khi khai thác người ta dùngkhoan xuyên qua lớp đá không thấm bên trên và chạm vào lớp nước này nó sẽ tựphun lên mà không cần phải bơm Loại nước ngầm nầy thường ở sâu dưới mặt đất,có trử lượng lớn và thời gian hình thành nó phải mất hàng trăm năm thậm chí hàngnghìn năm
Trang 161.2 VAI TRÒ CỦA NƯỚC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng cho tất cả các sinh vật trên quảđất Nếu không có nước thì chắc chắn không có sự sống xuất hiện trên quả đất, thiếunước thì cả nền văn minh hiện nay cũng không tồn tại được Từ xưa, con người đãbiết đến vai trò quan trọng của nước; các nhà khoa học cổ đại đã coi nước là thànhphần cơ bản của vật chất và trong quá trình phát triển của xã hội loài người thì cácnền văn minh lớn của nhân loại đều xuất hiện và phát triển trên lưu vực của các consông lớn như: nền văn minh Lưỡng hà ở Tây Á nằm ở lưu vực hai con sông lớn làTigre và Euphrate (thuộc Irak hiện nay); nền văn minh Ai Cập ở hạ lưu sông Nil;nền văn minh sông Hằng ở Ấn Ðộ; nền văn minh Hoàng Hà ở Trung Quốc; nền vănminh sông Hồng ở Việt Nam
Nước có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con người có thể nhịn ănđược từ 1-2 ngày, nhưng không thể thiếu uống nước Nước chiếm khoảng 70%trọng lượng cơ thể, 65-75% trọng lượng cơ, 50% trọng lượng mỡ, 50% trọng lượngxương Nước tồn tại ở hai dạng: nước trong tế bào và nước ngoài tế bào Nướcngoài tế bào có trong huyết tương máu, dịch limpho, nước bọt… Huyết tươngchiếm khoảng 20% lượng dịch ngoài tế bào của cơ thể (3-4 lít) Nước là chất quantrọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra không ngừng trong cơ thể.Nước là một dung môi, nhờ đó tất cả các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể, sauđó được chuyển vào máu dưới dạng dung dịch nước Một người nặng 60 kg cầncung cấp 2-3 lít nước để đổi mới lượng nước của có thể và duy trì các hoạt độngsống bình thường
Vai trò chính của nước:
+ Nước cần thiết cho đời sống và nhu cầu sinh lý của cơ thể Nước chiếmthành phần quan trọng trong cơ thể con người (63%), trong huyết tương và các phủtạng có tỷ lệ cao hơn Nước tham gia vào các quá trình chuyển hoá các chất, đảmbảo sự cân bằng các chất điện giải, điều hoà thân nhiệt Trung bình một ngày mỗingười cần từ 1,5-2,5 lít nước Những người làm công việc nặng nhọc hay trong thờitiết nóng bức thì số lượng nước được hấp thụ cần nhiều hơn để bù đắp số lượng nước bàitiết qua da, phổi, thận
Trang 17+ Nhờ nước mà các chất bổ được đưa vào cơ thể để duy trì sự sống Nướccung cấp cho cơ thể các nguyên tố cần thiết như: iod, flour, mangan, kẽm, sắt,vitamin và các acid amin.
+ Nước cần thiết cho nhu cầu vệ sinh cá nhân, vệ sinh xã hội, cho cứu hỏa vàcác yêu cầu xã hội khác
Tuy nhiên nước cũng là môi trường trung gian lan truyền các bệnh dịch như:thương hàn, tả, lỵ, viêm gan, bại liệt Nước hoà tan các chất thải, các chất độchoá học, các chất phóng xạ, chất gây ung thư có thể tác hại đến con người
Theo tính toán hiện nay tài nguyên nước ở trên thế giới là 1,39 tỷ km3, tậptrung trong thủy quyển 97,2% (1,35 tỷ km3), còn lại trong khí quyển và thạchquyển 97% lượng nước là nước mặn, 2% là nước ngọt tập trung trong băng ở haicực, 0,6% là nước dưới đất, còn lại là nước sông và hồ Lượng nước trong trong khíquyển khoảng 0,001%, trong sinh quyển 0,002%, trong sông, suối 0,00007% tổnglượng nước trên Trái đất Lượng nước con người sử dụng trong một năm khoảng35.000 km3, trong đó 8% cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho hoạtđộng nông nghiệp [33]
Tài nguyên nước phân bổ không đều trên bề mặt Trái đất Lượng mưa ở samạc dưới 100 mm/năm, trong khi ở nhiều vùng nhiệt đới (Ấn Độ) có thể đạt 500mm/năm Do vậy có nơi thiếu nước, hạn hán, trong khi nhiều nơi mưa lụt thườngxuyên Nhiều nước Trung Đông phải xây dựng nhà máy để cất nước ngọt hoặc muanước ngọt từ quốc gia khác Sự biến đổi khí hậu do con người gây ra đang làm trầmtrọng thêm sự phân bố không đều tài nguyên nước trên Trái đất Con người ngàycàng khai thác và sử dụng nhiều hơn tài nguyên nước Lượng nước dưới đất khaithác trên thế giới năm 1990 gấp 30 lần so với năm 1960, đã dẫn đến nguy cơ suygiảm trữ lượng nước, gây ra các thay đổi lớn về cân bằng nước
Tài nguyên nước của Việt Nam nhìn chung khá phong phú Việt Nam lànước có lượng mưa trung bình vào loại khá cao, khoảng 2000 mm/năm, gấp 2,6 lầnlượng mưa trung bình của vùng lục địa trên thế giới Tổng lượng mưa trên toàn lãnhthổ là 650 km3/năm, tạo ra ra dòng chảy mặt trong vùng nội địa là 324 km3/năm.Vùng có lưu lượng mưa cao là Bắc Quang 4.000 - 5.000 mm/năm, tiếp đó là vùng
Trang 18núi cao Hoàng Liên Sơn, Tiên Yên, Móng Cái, Hoành Sơn, Phú Quốc…3.000 4.000 mm/năm Vùng ít mưa nhất là Ninh Thuận và Bình Thuận, vào khoảng 600 -
-700 mm/năm Ngoài dòng chảy phát sinh trong vùng nội địa, hàng năm lãnh thổViệt Nam nhận thêm một lưu lượng từ Trung Quốc và Lào khoảng 550 km3 Dovậy, tài nguyên nước mặt và nước dưới đất có thể khai thác và sử dụng ở Việt Namrất phong phú, khoảng 150 km3 nước mặt một năm và 10 triệu m3 nước dưới đấtmột ngày Tuy nhiên, do mật độ dân số vào loại cao, nên lượng nước phát sinhtrong lãnh thổ trên đầu người là 4200 m3/người vào loại trung bình thấp trên thếgiới Tình trạng thiếu nước về mùa khô và lũ lụt về mùa mưa đang diễn ra các vùngnước ta Tình trạng trên có tác động tiêu cực tới các hoạt động canh tác nôngnghiệp, sản xuất công nghiệp và đời sống dân cư Các kết quả tính toán cân bằngnước cho thấy: vào các năm 2000 - 2010 nhu cầu nước trong mùa khô các vùngtrong nước đều vượt 30% so với lượng nước đến Trong đó, vùng Nam Trung Bộ cónhu cầu nước vượt 70 - 90% lượng nước đến vào mùa khô Nếu theo tiêu chuẩn củaFAO, lượng nước sử dụng không vượt quá 30% tổng lượng nước đến thì nước tađang có nguy cơ thiếu nước về mùa khô [33]
Nước sạch đóng vai trò rất quan trọng đối với sức khỏe và cuộc sống của conngười Nước sạch giúp cho con người duy trì cuộc sống hàng ngày bởi con người sửdụng nước sạch để cung cấp cho các nhu cầu ăn uống, hoặc sử dụng cho các hoạtđộng sinh hoạt như tắm rửa, giặt giũ, rửa rau, vo gạo Để thỏa mãn các nhu cầu vệsinh cá nhân và sinh hoạt, mỗi người cần tới khoảng 120 lít nước/ngày Nước sạchkhông chỉ là trong, không màu, không mùi, không vị mà còn phải an toàn đối vớisức khỏe của người sử dụng Nếu sử dụng nước không sạch thì sẽ ảnh hưởng rất lớntới sức khỏe, vì nước là môi trường trung gian chuyển tải các chất hóa học và cácloại vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng gây bệnh mà mắt thường không nhìn thấy được
Con người cần một lượng nước nhất định để duy trì cuộc sống nếu không sứckhỏe sẽ bị ảnh hưởng Nước là yếu tố thứ hai quyết định sự sống chỉ sau không khí,
vì vậy con người không thể sống thiếu nước Nước chiếm khoảng 58-67% trọnglượng cơ thể người lớn và đối với trẻ em lên tới 70-75%, đồng thời nước quyết địnhtới toàn bộ quá trình sinh hóa diễn ra trong cơ thể con người Khi cơ thể mất nước,
Trang 19tình trạng rối loạn chuyển hóa sẽ xảy ra, protein và enzyme sẽ không đến được các
cơ quan để nuôi cơ thể, thể tích máu giảm, chất điện giải mất đi và cơ thể không thểhoạt động chính xác Không những vậy, nước còn là bộ phận quan trọng của hệthống bài tiết, giúp cơ thể thải loại những chất độc tích tụ hàng ngày qua hệ dinhdưỡng và hô hấp Việc cung cấp nước đầy đủ sẽ giúp tránh được các bệnh nguyhiểm như sỏi thận, viêm bàng quang, viêm cơ khớp, ung thư và các bệnh khác dođộc tố tích lũy lâu ngày sinh ra
Nguyên nhân làm ô nhiễm nguồn nước chủ yếu đó là:
Ô nhiễm do tự nhiên là sự bào mòn hay sự sụt lở núi đồi, đất ven bờ sônglàm dòng nuớc cuốn theo các chất cơ học như bùn, đất, cát, chất mùn… hoặc do sựphun trào của núi lửa làm bụi khói bốc lên cao theo nước mưa rơi xuống đất, hoặc
do triều cường nước biển dâng cao vào sâu gây ô nhiễm các dòng sông, hoặc sự hòatan nhiều chất muối khoáng có nồng độ quá cao, trong đó có chất gây ung thư nhưarsen, fluor và các chất kim loại nặng…
Ô nhiễm do con người là nguy cơ trực tiếp gây ra nhiều vấn đề sức khỏe vàcuộc sống con người Trong đó đáng kể là chất thải con người (phân, nước, rác);chất thải nhà máy và khu chế xuất và việc khai thác các khoáng sản, mỏ dầu khí;chất thải khu chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản; chất thải khu giết mổ, chế biếnthực phẩm; hoạt động lưu thông với khí thải và các chất thải hóa chất cặn sau sửdụng; đặc biệt nguy hại nhất là chất thải phóng xạ
1.3 ẢNH HƯỞNG CỦA NGUỒN NƯỚC ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI
Nước là môi trường trung gian truyền bệnh, đặc biệt là các bệnh đường tiêuhóa với các vụ dịch lớn như tả, dịch thương hàn Năm 1990, WHO thông báo 80%bệnh tật của con người có liên quan đến nước, 50% số bệnh nhân nhập viện trên thếgiới với các bệnh có liên quan đến nước và 25.000 người chết hằng ngày do cácbệnh này Theo thống kê tại Mỹ, trong 10 năm từ 1981-1990 xảy ra 291 vụ dịch donguồn nước [40]
Theo thông báo của UNICEF, hàng năm tại các nước đang phát triển cókhoảng 14 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị chết, hơn 3 triệu trẻ em bị bệnh tật do hậu quảcủa nước bị nhiễm bẩn, của điều kiện vệ sinh kém và ô nhiễm môi trường Theo
Trang 20WHO, ở các nước đang phát triển có 340 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị tiêu chảy vớikhoảng 1 tỷ lượt/năm Những thống kê nghiên cứu gần đây cho thấy khoảng 750triệu trẻ em dưới 5 tuổi ở Châu Á, Phi, Mỹ La Tinh đã bị tiêu chảy cấp trong mộtnăm và khoảng 3-6 triệu trẻ ở nhóm tuổi đó bị chết hàng năm, 80% chết trong 2năm đầu sau khi ra đời [41].
Nguyên nhân chủ yếu do suy dinh dưỡng, thiếu sữa mẹ, hấp thụ kém, dothiếu nước hoặc nước không sạch và nhiễm phân Ở các nước đang phát triển, có tới80% các bệnh liên quan đến nguồn nước, các bệnh chủ yếu là: tiêu chảy, thươnghàn, giun sán, viêm ga, nguyên nhân chủ yếu do nước bị nhiễm bẩn từ các chất hữu
cơ và vi sinh, qua đó đã tác động trực tiếp đến sức khỏe của con người đặc biệt làngười già và trẻ em [39]
Những tác động của ô nhiễm nước tới sức khỏe của con người có thể xét theo
ba phương diện sau:
*Phương diện vật lý: Nước cấp dùng cho sinh hoạt theo QCVN
02:2009/BYT là nước không mùi, vị lạ Nếu trong nước có màu chứng tỏ có chứanhiều tạp chất như: humic, tamin, Fe, Mn Nước có mùi chứng tỏ nước đã bị nhiễmbẩn, có thể do trong nước đã tạo thành H2S, muối sắt Nước bình thường có hàmlượng muối nằm trong khoảng 0 - 0,5 gam/lít nước, nếu nước có hàm lượng muốiquá cao sẽ gây khó chịu khi uống, gây rối loạn sinh lý của cơ thể
* Phương diện hóa học: Nước dùng cho sinh hoạt của con người, trong thành
phần không hoàn toàn tinh khiết mà có nhiều tạp chất hóa học, các khoáng hòa tannhư: kim loại nặng (Hg, As, Fe, Mn, Cd ); các anion (NO3-, PO43-, SO42- ) và cácchất khí CH4, H2S với nồng độ thích hợp của các chất trên có tác dụng tốt cho cơthể Tuy nhiên, khi các chất đó có nồng độ quá cao (vượt quá tiêu chuẩn cho phép)có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người và gây ra các bệnh nguyhiểm như: ung thư, bệnh về thần kinh, nhiễm độc, rối loạn tiêu hóa
* Phương diện vi sinh: Nước là môi trường sống của nhiều vi sinh vật, bên
cạnh các vi sinh vật vô hại và có ích, trong nước còn nhiều vi sinh vật gây bệnhhoặc truyền bệnh cho con người như: vi khuẩn Salmolla gây bệnh thương hàn, vikhuẩn Shigella gây bệnh lị, vi khuẩn Vibrio gây bệnh tả
Trang 21Giảm thiểu những tác động do điều kiện cấp nước và vệ sinh kém gây ra đốivới sức khỏe của dân cư nông thôn là một trong những mục tiêu chính của Chươngtrình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn [3].
1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ QUẢN LÝ NƯỚC SINH HOẠT
1.4.1 Trên thế giới
Nước sạch dùng cho sinh hoạt của người dân luôn được các quốc gia trên thếgiới quan tâm, nước sinh hoạt nông thôn là kế hoạch hành động của Liên Hợp Quốctrong chương trình nước sạch nông thôn Để cảnh báo và ngăn chặn ô nhiễm nguồnnước ngọt, từ năm 1997, hệ thống quan trắc môi trường toàn cầu (GEMS) đã cùngvới tổ chức Y tế thế giới (WHO) và UNESCO triển khai mạng lưới quan trắc chấtlượng nước toàn cầu
Nước ngầm là nguồn cung cấp nước ngọt lớn nhất cho sinh hoạt nhưng ngàycàng cạn kiệt do bị khai thác quá mức và có dấu hiệu bị ô nhiễm bởi hoạt động củacon người Do vậy, nhiều quốc gia như Phần Lan, Hà Lan, Anh đã giảm nhu cầu
về nước cho công nghiệp, một số ngành công nghiệp sử dụng nước tái chế từ nướcthải đô thị [26]
Năm 2007, Michael Berg và cộng sự đã nghiên cứu về ô nhiễm Asen trongnước vùng đồng bằng sông Cửu Long ở Campuchia và Việt Nam: ô nhiễm Asentrong nước ngầm ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long tại Campuchia trung bình đạt
217 µg/l và ở miền Nam Việt Nam trung bình 39 µg/l Nhóm nghiên cứu đã thu cácmẫu tóc của người dân sử dụng nước ngầm tại Việt Nam, campuchia, Bangladeshvà Tây Bengal để nghiên cứu gián tếp hàm lượng Asen và tác động của Asen đếnsức khỏe con người, nhận thấy: tại Việt Nam và Campuchia có hàm lượng Asen caohơn đáng kể so với nhóm đối chứng tại Bangladesh và Tây Bengal Qua nghiên cứucho thấy Asen có tác động nguy hại rất lớn đến sức khỏe con người đặc biệt với mức
độ ô nhiễm càng lớn thì khả năng gây hại sức khỏe càng cao [35]
Stephen Luby (2008) đã phát hiện phổ biến khắp Đông Nam Á cả hai nguồncung cấp nước cho đô thị và nông thôn thường xuyên bị ô nhiễm bởi các vi sinh vậtcó nguồn gốc từ phân người với tần số rất phổ biến đến mức nó được chấp nhận nhưlà một điều hiển nhiên Đáng quan tâm là nước ngầm tầng nông ở nhiều khu vực
Trang 22của Đông Nam Á bị ô nhiễm asen với mức độ nguy hiểm cao Mặc dù nhiềuphương pháp tiếp cận có thể xử lý asen trong nước uống, tuy nhiên có rất ít bằngchứng về các giải pháp có thể được áp dụng ở quy mô lớn và khả năng giảm phơinhiễm asen cho con người [37].
Singapore bên cạnh việc lấy nước sạch từ các nhà máy lọc nước biển còn lấy
từ nguồn nước mưa và nước thải đã qua tái chế và nhập khẩu nước từ Malayxia.Nước mưa được thu qua mạng lưới thoát nước, kênh rạch, sông, hồ và các hồ chứatrước khi được xử lý để cấp nước uống Điều này làm cho Singapore là một trong số
ít các quốc gia trên thế giới có được hệ thống thu gom nước mưa trên diện rộng đểcung cấp nước Hệ thống thu nước là một trong các nguồn cung cấp nước bền vữngcho đất nước này [33]
Hồ chứa Chandreja ở Tây Ban Nha cũng cung cấp nước sạch cho các thànhphố và góp phần giúp quốc gia này đạt được mục tiêu đáp ứng được 40% nhu cầu
về năng lượng từ các nguồn năng lượng tái tạo vào năm 2020 [14]
Nhận thức về nước là một trong những tài nguyên cơ bản rất quan trọng chonhu cầu an sinh và cuộc sống của người dân, Australia có hẳn một chính sách riêngcho việc dùng nước sinh hoạt Việc phân phối và sử dụng nước được lập kế hoạchcẩn thận để đảm bảo sự tồn tại của các con sông và nước ngầm dành cho các thế hệmai sau Đồng thời chính quyền Australia đảm bảo việc sử dụng nước được phânphối một cách công bằng, hợp lý và hiệu quả nhất trên toàn lãnh thổ Tùy vào thờiđiểm khan hiếm nước mà Australia có những mức độ hạn chế, tiết kiệm nước đểyêu cầu dân chúng thực thi [14]
Trong những năm 1980, Indonesia tập trung vào những giải pháp kỹ thuậtgiải quyết nhu cầu cấp bách cho vấn đề cung cấp nước và vệ sinh cho nông thôntheo cách truyền thống, theo phương pháp kế hoạch hoá từ cấp cao (trung ương) đếncấp thấp (địa phương) [14]
1.4.2 Ở Việt Nam
Theo đánh giá của Ngân hàng Châu Á thì Việt Nam thuộc diện quốc giathiếu nước Tài nguyên nước nội địa Việt Nam chỉ đạt mức trung bình kém của Thếgiới khoảng 3.600 m3/người một năm thấp hơn mức bình quân toàn cầu là 4000 m3/
Trang 23người một năm Báo cáo của Bộ Tài nguyên và môi trường khẳng định tăng trưởngkinh tế, sức ép dân số và chất lượng cuộc sống liên tục gia tăng trong những thập kỷqua đã dẫn đến t.nh trạng ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước Tại Việt Nam nguồnnước ở một số khu vực đang bị khan hiếm đến mức báo động.
Biến đổi khí hậu và gia tăng các tình trạng thời tiết cực đoan là một trongnhững nguyên nhân, bên cạnh đó sự phụ thuộc vào nguồn nước từ các con sông bắtnguồn bên ngoài lãnh thổ chính là thách thức lớn đối với Việt Nam Nhiều cánh đồng
ở Đồng bằng Sông Cửu Long đang bắt đầu bị khô hạn nghiêm trọng đây là điều đáng
lo ngại bởi tình trạng thiếu nước ngọt và nước mặn đã và đang là thực trạng chung ởnhiều tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long Năm 2016, hạn hán và xâm ngập mặn ở Đồngbằng Sông Cửu Long được đánh giá là đặc biệt nghiêm trọng trong 100 năm qua, ảnhhưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống của hàng triệu hộ dân
Trong những năm qua vấn đề nước sạch cho sinh hoạt luôn được Chínhphủ quan tâm và được đưa vào các chương trình mục tiêu của quốc gia trongtừng giai đoạn phát triển Để giải quyết kịp thời và thỏa mãn nhu cầu về nước sạchcho người dân đã có nhiều tổ chức, cơ quan và các nhà khoa học tham gia nghiêncứu nhằm bảo vệ nguồn nước sạch và xử lý nước bị ô nhiễm
Những năm gần đây, chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nôngthôn do UNICEF tài trợ đã góp phần cải thiện tình hình cung cấp nước sạch và vệsinh cho người dân Hằng năm, nhà nước đã đầu tư nguồn kinh phí lớn và tranh thủ
sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của các nhà tài trợ cho việc phát triển thị trườngnước sạch và dịch vụ vệ sinh môi trường nông thôn, cũng như triển khai các côngnghệ xử lý thích hợp và khả thi [40]
Phan Đỗ Hùng (2000) đã nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp xử lý nướcsinh hoạt từ nguồn nước mặt chất lượng thấp bằng màng vi lọc polyetylen dạng sợirỗng có kích thước lỗ xốp 0,4 µm Nước nguồn được đưa vào bể lọc phía ngoàimàng sợi rỗng, nước sẽ thấm qua màng vào phía trong màng và hút sang bể chứa.Trong quá trình lọc, bể lọc được sục khí liên tục Kết quả sau khi lọc đã loại bỏ cácchất rắn lơ lửng, giảm đáng kể các vi khuẩn gây bệnh, đạt tiêu chuẩn nước dùng chosinh hoạt [10]
Trang 24Công trình nghiên cứu và xây dựng quy trình ứng dụng than hoạt tính trong
xử lý nước tự nhiên sau khi lọc cát hoặc qua giai đoạn oxy hóa của Nguyễn HữuPhú (2002) cho thấy: than hoạt tính có khả năng làm giảm nồng độ các chất hữu cơtrong nước, loại bỏ nhiều chất ô nhiễm hữu cơ có mặt trong nước bằng cơ chế hấpphụ [17]
Trần Quốc Thưởng (2002) qua nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp cấp nướcsinh hoạt nông thôn vùng duyên hải miền Trung gồm có hệ thống cấp nước tậptrung (hệ thống cấp nước tự chảy, hệ thống bơm dẫn nước mặt và hệ thống bơm dẫnnước ngầm) và hệ thống cấp nước đơn lẻ cho hộ gia đình [27]
Qua nghiên cứu khai thác nguồn nước từ mạch lộ, phục vụ cấp nước sinhhoạt cho đồng bào thuộc vùng miền núi và trung du, miền Bắc và Bắc Trung Bộ, VũVăn Thặng đã đề xuất các giải pháp khai thác hiệu quả và bền vững phù hợp với môhình cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn miền núi với qui trình vậnhành đơn giản và chi phí quản lý thấp [25]
Lê Anh Tuấn và Guido Wyseure (2007) qua nghiên cứu về quản lý môitrường nước ở đồng bằng sông Cửu Long - Việt Nam cho thấy: đây là khu vựcđông dân cư với mật độ cao và có liên quan đến ô nhiễm nước Các tác giả đã xácđịnh được năm vấn đề môi trường nước ở khu vực này là sự xâm nhập mặn khu vựcven biển, ảnh hưởng của đất phèn, nguồn nước ô nhiễm từ hoạt động của con người,tình trạng thiếu nước ngọt trong mùa khô và nước đục trong mùa mưa Từ đó đã đềxuất các biện pháp quản lý tài nguyên nước trong khu vực tương ứng với kinh tếmôi trường và phát triển bền vững [38]
Thịnh Thị Hương (2008) đã đánh giá chất lượng nước sông Tiền, sông Hậu ởmột số vùng dân cư của tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long và Cần Thơ trong năm 2006.Kết quả nghiên cứu cho thấy: COD lúc triều thấp vượt quá giới hạn cho phép từ 1,1
- 6 lần, BOD5 vượt mức cho phép từ 1,5 - 10 lần Mật độ coliform của nhánh sôngHậu ở huyện Thốt Nốt, Cờ Đỏ và quận Bình Thuỷ vượt mức cho phép từ 4,6 - 92lần (theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5942 -1995, loại A) Các kết quả này sẽ giúpcho các cấp chính quyền, cơ quan Y tế xây dựng chương trình cải thiện chất lượngnước và ngăn ngừa các bệnh truyền qua nước [12]
Trang 25Đặng Ngọc Chánh (năm 2008) qua quá trình khảo sát chất lượng nước sinhhoạt nông thôn và xác định các yếu tố ô nhiễm ảnh hưởng đến nguồn nước sử dụngtại hộ gia đình ở hai tỉnh Long An và Hậu Giang, kết quả cho thấy: tại Long An tỷ
lệ sử dụng nước cấp theo đường ống là 27,2%; các hộ gia đình vẫn còn thích sửdụng nước mưa (26,3%) Tại tỉnh Hậu Giang có 38% các hộ gia đình thích sử dụngnước bề mặt; tỷ lệ sử dụng nước giếng khoan là 21,6% Nhìn chung mẫu nước đạttiêu chuẩn của Long An (44,9%) cao hơn so với Hậu Giang (23,9%) Các yếu tố ônhiễm ảnh hưởng đến chất lượng nước giếng ở mức trung bình, không có rào chắngia súc (78%); gần nhà tiêu (65%); gần bãi rác, phân súc vật (32%) Các yếu tố ônhiễm đối với nước mặt chiếm tỷ lệ cao là: không rào chắn ngăn súc vật (97%);chăn thả trâu bò, vịt tại nguồn nước (24%) Đối với nước mưa không có bộ phậnchắn rác, bộ phận lọc chiếm tỷ lệ cao (83%); dụng cụ múc nước gần các nguồn ônhiễm chiếm tỷ lệ 20% [7]
Nguyễn Lê Mạnh Hùng, Mai Thị Hương Xuân và Nguyễn Thị Chúc (2008)
đã khảo sát, đánh giá chất lượng vệ sinh nước ăn uống thông qua chỉ số vi sinh vậttại một số cộng đồng dân tộc thiểu số huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk trong năm
2007 cho thấy: tỷ lệ các mẫu nước ăn uống không đạt tiêu chuẩn vi sinh vật tại xãKrông Na là 86,67%, tại xã Ea Huar là 73,33% và tại xã Ea Noul là 80% Nguyênnhân là do đồng bào các dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên phần lớn sử dụng nướcsuối và nước giếng đào để sinh hoạt và ăn uống Nhóm tác giả cũng đề nghị chínhquyền địa phương cần quan tâm hơn nữa đến điều kiện vệ sinh môi trường sống,đặc biệt là nguồn cung cấp nước sinh hoạt và ăn uống của đồng bào các dân tộcthiểu số sinh sống tại vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn [11]
Thông qua việc đánh giá thực trạng các mô hình quản lý khai thác dịch vụnước sạch nông thôn ở Việt Nam, Hoàng Thị Thắm (2012) đã chỉ ra những hạn chếtrong các mô hình đó là do: cơ chế, chính sách quản lý về cấp nước chưa phù hợp,hoạt động của các doanh nghiệp cấp nước còn mang tính bao cấp trong đầu tư vàquản lý, chưa tự chủ về tài chính Đồng thời các tác giả đã đề xuất mô hình quản
lý, khai thác dịch vụ cấp nước sinh hoạt nông thôn có sự quản lý kết hợp của nhànước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư [24]
Trang 26Năm 2013, Nguyễn Thị Huyền Trang và Đào Vĩnh Lộc đã nghiên cứu xâydựng mô hình khử sắt trong nước giếng khoan quy mô hộ gia đình Trong đề tàinày, phương pháp làm thoáng kết hợp cột lọc cát dùng để khử sắt cho hiệu suất
xử lý sắt tổng số đạt 84,51% và hàm lượng sắt tổng số sau xử lý là 0,48mg/l,thấp hơn quy định của QCVN 02:2009/BYT Mô hình đã được lắp đặt phục vụnhu cầu sử dụng nước sinh hoạt tại các hộ gia đình ở huyện Bảo Lâm, tỉnh LâmĐồng [28]
Đánh giá hiện trạng cấp nước nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long củaĐoàn Thu Hà cho thấy hiện nay toàn vùng chỉ có 36,52% dân số được sử dụng nướcđạt QCVN 02:2009/BYT Nhiều công trình cấp nước tập trung quy mô nhỏ và rấtnhỏ đang ở tình trạng xuống cấp, chất lượng nước cấp không đảm bảo yêu cầu chongười sử dụng [9]
Kết quả đánh giá chất lượng nguồn nước sinh hoạt trên địa bàn xã Nam Tiến
- huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên của Lương Văn Minh và Đào Đoàn Hạ (2013)cho thấy các nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt trên địa bàn xã khá đa dạng, có trữlượng dồi dào và chất lượng các nguồn nước đảm bảo tiêu chuẩn cho phép dùngtrong sinh hoạt hàng ngày của người dân [15]
Lương Văn Anh (2014) đã đánh giá, xác định khu vực ảnh hưởng bởi BĐKHnhư xâm nhập mặn, lũ lụt, thiếu nước của tỉnh Nam Định, tác giả xác định đượcnhững khó khăn trong quá trình khai thác nguồn nước và đưa ra những phương ángiải quyết hiệu quả hoạt động cấp nước của vùng đó là: xây dựng, cải tạo các côngtrình có sẵn phù hợp với chất lượng nguồn nước thay đổi, sử dụng tổng hợp nguồntài nguyên nước và tăng cường công tác chuyển giao công nghệ về xử lý nước vàcấp nước an toàn, tìm kiếm các nguồn nước thay thế khi nguồn nước chính bị tácđộng [1]
Kết quả nghiên cứu của Phạm Minh Khuê từ tháng 01 đến tháng 12/2013 vềthực trạng sử dụng các nguồn nước sinh hoạt của người dân xã Vĩnh An, Vĩnh Bảo,Hải Phòng cho thấy: nguồn nước chủ yếu của người dân là nước mưa là (86%);nước giếng khoan (43,5%); nước máy (36,6%); nước giếng đào 2,4%; nước ao hồ6,4% Tuy nhiên, thực hành vệ sinh của người dân còn chưa tốt như mặt giếng gần
Trang 27(55,9%) và thấp hơn cầu tiêu (49,4%); nước đọng vũng trên nền (35,9%); hệ thốngdẫn nước bị hư (28,8%); có nguồn ô nhiễm cách giếng dưới 10m (22,4%); rãnhthoát nước không tốt (34,1%) Với nước mưa có các chất ô nhiễm trên mái hứngnước (31,5%); mái nước xối bẩn (29,5%); không thoát nước quanh bể (21,1%);phương tiện lọc không tốt (19,9%); không thay nước định kỳ (24,1%) Cần có cácchiến lược cải thiện nguồn nước tại xã [13].
Trương Thị Tịnh Thanh đã đánh giá chất lượng nước sinh hoạt vùng bán sơnđịa huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình và đề xuất giải pháp quản lý Kết quảkhảo sát cho thấy: nguồn nước sinh hoạt của người dân chủ yếu là nước giếng, nướcmưa tích trữ trong các bể chứa Nhìn chung chất lượng các nguồn nước hiện đang
sử dụng có các thông số đạt QCVN 02:2009/BYT nhưng đã có dấu hiệu của ônhiễm sắt và coliform, cần phải xử lý để đảm bảo cho người sử dụng [22]
Trần Minh Sự (2016), qua nghiên cứu điều tra về thực trạng sử dụng nướcsinh hoạt và điều kiện vệ sinh, kết hợp với tổng hợp, phân tích các số liệu có liênquan đến tình hình nhiễm bệnh về nước và dụng cụ chứa nước trong cộng đồng dân
cư tại 4 xã bãi ngang của huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế Từ đó cho thấyngười dân sử dụng nước máy với tỷ lệ là 27,68%, còn lại là các hộ gia đình sử dụngcác hình thức tự cung cấp nước như dùng nước giếng (55,55%), sông, hồ, bể nướcmưa (16,78%), dự trữ bằng chum, vại đây lại là các vật chứa nước và là nơi pháttriển của bọ gậy có thể gây nên bệnh sốt xuất huyết Điều kiện vệ sinh chưa tốt tácđộng đến sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan đến nước sạch và vệ sinh môitrường như: tiêu chảy, bệnh ngoài da, giun sán [20]
Kết quả đánh giá chất lượng các nguồn nước sinh hoạt của người dân ở vùngbán sơn địa xã Sơn Thủy, huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình của Nguyễn Minh Trí vàHoàng Thị Hồng Nhung (2017) cho thấy: cơ cấu sử dụng nước sinh hoạt gồm giếngkhơi chiếm tỷ lệ 81,36%, giếng khoan chiếm tỷ lệ 18,64% và hầu hết hàm lượng sắttrong nước giếng cao hơn QCVN 02:2009/BYT nhiều lần, không đảm bảo an toàncho người sử dụng Khi sử dụng máy lọc nước RO để lọc nước giếng khoan đã chonguồn nước có hàm lượng sắt là 0,11 mg/L với hiệu suất xử lý đạt 97,0% và đạtQCVN 02:2009/BYT về chất lượng nước sinh hoạt [29]
Trang 281.4.3 Khảo sát về nước sinh hoạt ở tỉnh Quảng Ngãi
Từ năm 1990 trở lại đây, tỉnh Quảng Ngãi đã có những chính sách, dự ánquy hoạch cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Quảng Ngãi đếnnăm 2020 và định hướng đến năm 2025 đề ra: đến năm 2015 đạt tỷ lệ 90% dân sốnông thôn và 100% dân số đô thị được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, với sốlượng bình quân tối thiểu 85 lít/người/ngày đối với nông thôn, 120 lít/người/ngàyđối với đô thị; đạt trên 45% tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩntheo QCVN số 02/2009/BYT ban hành kèm theo Thông tư số 05/2009/BYT ngày17/6/2009 của Bộ Y tế (QCVN số 02/2009) với số lượng bình quân là 60lít/người/ngày 100% các công trình công cộng xã hội như: nhà trẻ, trường học,bệnh viện, trạm xá, chợ và các công trình công cộng khác ở nông thôn được cungcấp đầy đủ nước sạch sinh hoạt hợp vệ sinh; Đến năm 2020: Đạt tỷ lệ 98% dân sốnông thôn, 100% dân số đô thị được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, với sốlượng bình quân tối thiểu 100 lít/người/ngày đối với nông thôn và 150lít/người/ngày đối với đô thị; đạt trên 60% dân số nông thôn và 99% dân số thànhthị được sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn theo QCVN số 02/2009; Định hướng đếnnăm 2025: Đảm bảo 100% số dân trên địa bàn được sử dụng nước sạch đạt tiêuchuẩn theo QCVN số 02/2009, với số lượng bình quân tối thiểu 120 lít/người/ngàyđối với nông thôn và 150lít/người/ngày đối với đô thị [18]
Theo Báo cáo kết quả Chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinhmôi trường nông thôn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2012 – 2015, việc triển khai thựchiện Chương trình trong thời gian qua đã đạt được kết quả tương đối tốt, số người dân
ở nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, đạt chuẩn có nâng lên; vệ sinhmôi trường nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực, hầu hết các trạm y tế, trườnghọc và phần lớn số hộ gia đình đã có nhà tiêu hợp vệ sinh; nhiều cơ quan, đơn vị, các
tổ chức đoàn thể và nhân dân cũng đã từng bước quan tâm đến việc sử dụng nướcsạch và bảo vệ môi trường Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện còn tồn tại nhiều bấtcập như: chất lượng nước sinh hoạt chưa được kiểm soát chặt chẽ; vệ sinh môi trườngnông thôn chưa được quan tâm đầu tư đúng mức; việc quản lý, vận hành các côngtrình sau đầu tư còn chưa hiệu quả; công tác quản lý, theo dõi, tổng hợp báo cáo còn
Trang 29thiếu tính chính xác, đồng bộ Hiện tại, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trườngnông thôn tỉnh Quảng Ngãi đang tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp: tăngcường công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh môi trườngnông thôn; phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa 3 ngành là nông nghiệp và phát triển nôngthôn - y tế - giáo dục; đẩy mạnh công tác thông tin - giáo dục - truyền thông nâng caonhận thức cộng đồng; tổ chức đào tạo nâng cao năng lực quản lý, vận hành công trìnhcấp nước tập trung sau đầu tư, góp phần đẩy nhanh tiến trình thực hiện Chương trìnhmục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới [19].
Theo Ban quản lý chương trình nước sinh hoạt nông thôn của tỉnh QuảngNgãi: mục tiêu tổng quát nhằm nâng cao chất lượng cấp nước sạch cho người dânnông thôn, góp phần đảm bảo sức khỏe cho người dân nông thôn trên địa bàn tỉnh.Định hướng cho việc khai thác, sử dụng hợp lý và bền vững nguồn tài nguyên nước,góp phần bảo vệ môi trường ở khu vực nông thôn; từng bước nâng cao chất lượngdịch vụ cấp nước sạch Đề xuất phương án cấp nước sạch nông thôn tỉnh QuảngNgãi đến 2020, định hướng 2030; làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch và đầu tưxây dựng về hoạt động cung cấp nước sạch nông thôn trong chương trình mục tiêuquốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới Phấn đấu đến năm 2020 có 95% dân sốnông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó có 50% sử dụng nước sạch đạtquy chuẩn Việt Nam 02: 2009/BYT của Bộ Y tế; đến năm 2030 có có 100% dân sốnông thôn được sử dụng nước sạch đạt qui chuẩn Việt Nam 02: 2009/BYT của Bộ
Y tế; tiêu chuẩn cấp nước 80 – 100 lít/người/ngày
Thời gian thực hiện gồm 3 giai đoạn, giai đoạn I từ năm 2017-2020, giaiđoạn II từ năm 2021- 2025, giai đoạn III từ năm 2026- 2030 Tổng kinh phí thựchiện quy hoạch trên 1.468 tỷ đồng; dự kiến nguồn vốn: Ngân sách TW, tỉnh550.520 triệu đồng; Ngân sách huyện, xã 110.126 triệu đồng; vốn ODA 612.081triệu đồng; doanh nghiệp tư nhân 178.933 triệu đồng; dân đóng góp 16.524 triệu
Trang 30với giai đoạn xây dựng nông thôn mới làm cơ sở trong quản lý, đầu tư về cấp nướcsinh hoạt Thực hiện phân vùng và đánh giá được khả năng khai thác nguồn nướccấp giúp cho việc quy hoạch, xây dựng hệ thống cấp nước tập trung quy mô lớnhơn, thiết lập liên kết giữa các hệ thống cấp nước tập trung quy mô nhỏ thành mạnglưới truyền dẫn cho quy mô cấp nước lớn hơn để thuận lợi cho công tác quản lý vậnhành, ứng dụng công nghệ quản lý, tiết kiệm chi phí Đồng thời, cần đưa ra những
cơ chế ràng buộc người dân khi tham gia sử dụng nước từ công trình tạo ra kinh phí
đủ để tự quản hoạt động và sửa chữa khi công trình hỏng hóc, từ đó nâng cao tráchnhiệm quản lý, sử dụng bền vững công trình [2]
1.5 VẤN ĐỀ CẤP NƯỚC SẠCH Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY 1.5.1 Những kết quả đạt được
Năm 1994, Chính phủ đã có chỉ thị số 200/TTg về đảm bảo nước sạch và vệsinh môi trường nông thôn và đến tháng 8/2000, chiến lược quốc gia về cấp nướcsạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệttại quyết định số 104/2000/QĐ-TTg Trong chiến lược, trên cơ sở phân tích tìnhhình cấp nước sạch ở nông thôn, Chính phủ đã đưa ra những mục tiêu, phươngchâm, nguyên tắc và từ đó đề ra những giải pháp, phương án hành động cụ thể chovấn đề cung cấp nước sạch ở nông thôn hiện nay Mục tiêu cụ thể của chiến lược làphấn đấu cho người dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh với số lượng 60lít/người/ngày và đến năm 2020 tất cả dân cư nông thôn sử dụng nước đạt tiêu chuẩnchất lượng quốc gia với số lượng tối thiểu là 60 lít/người/ngày
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, đến hết năm
2017, số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt khoảng 86%; khoảng65% nhà tiêu đạt tiêu chuẩn hợp vệ sinh; 93% trường học mầm non, phổ thông và96% trạm y tế xã có công trình nước sạch và vệ sinh Thông qua các hoạt độngtruyền thông của Chương trình đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân nôngthôn về sử dụng nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh, thực hành các hành vi vệ sinh vàbảo vệ môi trường Tập quán và hành vi vệ sinh của người dân nông thôn được cảithiện Chương trình đã bước đầu tạo lập môi trường thuận lợi và hành lang pháp lý
rõ ràng để khu vực tư nhân đầu tư vào lĩnh vực nước sạch và vệ sinh môi trường
Trang 31nông thôn bằng các cơ chế, chính sách khuyến khích, ưu đãi Do đó đã có tác dụngrất lớn góp phần cải thiện một phần nhu cầu nước sạch của dân cư nông thôn [3].
Chương trình về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn của Chính phủ đượcUNICEF tài trợ đã triển khai hoạt động trong những năm vừa qua ở hầu hết các tỉnhlà một đóng góp quan trọng trong sự phát triển của lĩnh vực cấp nước sạch Hàngtrăm ngàn giếng nước bơm tay đã được xây dựng, đồng thời người dân đã tự đầu tưxây dựng số lượng công trình nước sạch gấp 2-3 lần số lượng công trình do chươngtrình UNICEF tài trợ
Công tác tuyên truyền phổ biến về vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trườngcho người dân nông thôn đã được quan tâm triển khai và cũng bước đầu thu đượcnhững kết quả nhất định
1.5.2 Những mặt tồn tại
Mặc dù tình hình cấp nước sạch đã có nhiều cải thiện so với trước đây songhiện nay ở hầu hết các vùng nông thôn người dân vẫn phải tự lo nguồn nước sinhhoạt cho mình, họ sử dụng đủ loại nguồn nước: nước mưa, nước ngầm, nước lọcthô…trong khi không xác định và không biết được thực chất chất lượng nguồn nướcmà bản thân mình đang sử dụng là như thế nào
Vào thời điểm năm 2000, ở Việt Nam có hơn 50% số hộ nông thôn dùngnước giếng đào, 25% dùng nước sông suối, hồ ao, và hơn 10% dùng nước mưa Bộphận còn lại dùng nước giếng khoan và rất ít hộ được cấp nước bằng hệ thốngđường ống
Hệ thống cấp nước ở khu vực nông thôn đa phần là các trạm có quy mônhỏ, nhiều công trình cấp nước sạch xây dựng xong nhưng lại không được đưavào sử dụng; các giếng khoan gia đình chất lượng nước không được kiểm trathường xuyên do kinh phí hạn hẹp và việc quản lý nguồn nước uống không đồng
bộ Theo kết quả theo dõi chất lượng nước của 56 mẫu nước ngầm và 26 mẫunước của các trạm cấp nước đã qua xử lý tại 2 tỉnh thành là Hà Nam và Nam Địnhnăm 2002 cho thấy hàm lượng NH4 dao động trong khoảng 6,15-119,4mg/ lít, hàmlượng các chất hữu cơ trong nước khoảng 2,56- 88,8 mg/lít, tên 50% số mẫunhiễm Asen là chất rất độc [3]
Trang 321.5.3 Những khó khăn và thách thức trong vấn đề cấp nước sạch ở nông thôn
- Khó khăn về kinh tế – tài chính
Mức sống của cư dân nông thôn nói chung còn rất thấp; tỷ lệ các hộ đóinghèo còn khá cao (tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực miền núi gấp từ 1,7- 2 lần tỷ lệ hộnghèo bình quân của cả nước, thu nhập bình quân của nhóm hộ nghèo ở nông thônchỉ đạt mức 70% mức chuẩn nghèo mới) Do đó đời sống dân cư chỉ đủ ăn màkhông còn tiền để chi tiêu cho các nhu cầu khác
Đầu tư cho lĩnh vực cấp nước sạch quá ít: Tính trung bình trong 10 năm cảicách kinh tế cả nhà nước và quốc tế mới đầu tư được khoảng 0,13 USD cho mộtngười dân trong một năm, trong 10 năm mới đầu tư 1,3 USD cho một người So vớinhu cầu chi phí để xây dựng các công trình cấp nước sạch thì mức đầu tư của Chínhphủ và các nhà tài trợ còn ít, chưa có khả năng đáp ứng đủ nhu cầu ( Năm 2003 đãcó 1.440 tỷ đồng để thực hiện chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường, vốnngân sách là 236 tỷ, các tổ chức quốc tế hỗ trợ 387 tỷ, ngân sách địa phương vànhân dân huy động là 817 tỷ cho việc xây dựng các công trình nước sạch)
Tỷ lệ số hộ ở nông thôn có công trình cấp nước còn thấp: năm 2000 là 30%.Các công trình nước sạch trong các trường học, trạm y tế và các cơ sở công cộngkhác ở nông thôn còn hạn chế Nhiều trường học còn thiếu các công trình cấp nướchoặc có nhưng không đáp ứng được nhu cầu
- Khó khăn về xã hội và tập quán
Hiểu biết về vệ sinh và sức khỏe của người dân nông thôn còn thấp Số đông
ít quan tâm đến đến vệ sinh, coi đó chỉ là vấn đề cá nhân liên quan đến tiện nghi làchính chứ không phải là một vấn đề công cộng có liên quan đến sức khỏe của cộngđồng và sự trong sạch của môi trường
Những thói quen sinh hoạt ở nông thôn mang tính chất truyền thống, thựchành vệ sinh kém nên các bệnh tật phổ biến vẫn thường xuyên xảy ra ở khu vựcnông thôn, có khi xảy ra những dịch lớn như tả, thương hành, sốt xuất huyết khiếncho người dân nông thôn đã nghèo nay lại khó khăn hơn do ốm đau và bệnh tật
Ở vùng đồng bằng sông Hồng và ven biển Bắc Trung Bộ người dân nôngthôn có tập quán sử dụng phân người chưa được xử lý tốt làm phân bón Ở phía
Trang 33Nam, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu long, phân người được thải trực tiếp xuống
ao làm thức ăn cho cá
Tổ chức của lĩnh vực nước sạch còn phân tán, sự phối hợp giữa các Bộ,Ngành chưa tốt Quản lý nguồn nước và cấp nước nông thôn thuộc trách nhiệm của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm cấp nước
đô thị bao gồm cả các thi trấn, vệ sinh lại là trách nhiệm của Bộ Y tế
Nhà nước chưa có chính sách huy động sự tham gia đóng góp của các thànhphần kinh tế để cùng với người sử dụng xây dựng công trình cấp nước sạch mà màchủ yếu vẫn áp dụng cách tiếp cận dựa vào cung cấp là chính
Pháp luật còn thiếu các quy định và hướng dẫn cụ thể để có thể quản lý tốtlĩnh vực cung cấp nước sạch
- Khó khăn về kỹ thuật và thiên tai
Có nhiều vùng gặp khó khăn về nguồn nước như các vùng bị nhiễm mặn(năm 2000 ước tính có hơn 13 triệu người sống ở các vùng này), các vùng núi caovà các vùng đá vôi có đặc trưng là nguồn nước ngầm ở rất sâu và không có hoặc rấthiếm nước mặt
Thời gian gần đây khí hậu thời tiết có những biến động thất thường, lũ lụtvà hạn hán xảy ra ở nhiều địa phương làm cho tình hình nguồn nước càng khókhăn hơn Một số nơi nguồn nước cạn kiệt đang trở thành vấn đề nghiêm trọngcho sản xuất và sinh hoạt (Nhiều vùng ở miền núi ven biển và khó khăn về nguồnnước, người dân chỉ được sử dụng bình quân dưới 20 lít nước/ người/ ngày Nhiềunơi tình trạng khan hiếm nước diễn ra từ 5- 6 tháng trong năm như Nam Trung
Bộ, Tây Nguyên,…
Ở các vùng làng chài ven biển có mật độ dân số rất cao nhưng lại thiếu nướcsạch, ở các làng nghề môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, ô nhiễm do chuông trạigia súc và thuôc trừ sâu cũng là một vấn đề lớn cần được quan tâm giải quyết
Chưa có các trung tâm chuyển giao công nghệ và sản xuất cung ứng các vật
tư thiết bị phục vụ cho nhu cầu cấp nước sạch
Trang 341.6 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.6.1 Điều kiện tự nhiên
Xã Trà Thủy nằm về phía Tây - Bắc huyện Trà Bồng, cách trung tâm huyện
khoảng 3 km, được giới hạn bởi tọa độ địa lý từ 15017'15" đến 15019'30" vĩ độ Bắc,
108026'20" đến 108035'15" kinh độ Đông Với các giới cận:
- Phía Đông giáp: Xã Trà Giang - huyện Trà Bồng
- Phía Tây giáp: Xã Trà Hiệp - huyện Trà Bồng
- Phía Nam giáp: Thị Trấn Trà Xuân, xã Trà Sơn, Trà Phú - huyện Trà Bồng
- Phía Bắc giáp: Huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam
Diện tích tự nhiên toàn xã là 7.555,64 ha, chiếm 18,02% tổng diện tích tựnhiên toàn huyện
1.6.2 Đặc điểm địa hình, khí hậu
- Địa hình, địa mạo:
Trà Thủy là xã thuộc huyện miền núi, địa hình khá hiểm trở và phức tạp, phântầng độ cao lớn, bị chia cắt mạnh bởi sông suối và các dãy núi cao, nhiều nơi tạo thànhvách đứng dễ gây quá trình sạt lở Hướng dốc chính từ Tây sang Đông Các núi có độcao trung bình so với mặt nước biển khoảng 600 - 700m, núi xen kẽ địa hình phức tạp;mặt khác sông suối tạo thành có lòng hẹp nên mùa mưa lũ thường xẩy ra lũ quét, gâythiệt hại cho sản xuất và đời sống nhân dân
- Khí hậu:
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Duyên hải Nam Trung Bộ, ảnhhưởng chung khí hậu của tỉnh Quảng Ngãi có nền nhiệt độ cao, mưa tương đốinhiều, bức xạ lớn
- Nhiệt độ:
Các tháng có nhiệt độ cao từ tháng 3 đến tháng 8 (cao nhất là các tháng 6, 7, 8) Nhiệt độ tối cao 35 - 380C Các tháng có nhiệt độ thấp nhất từ tháng 11 đếntháng 12 và tháng 01 năm sau, nhiệt độ bình quân hàng năm 23,50C
- Độ ẩm:
Độ ẩm trung bình hàng năm khá lớn, bình quân là 88 - 90%, tháng cao nhấtlà 92%, tháng thấp nhất là 74% Độ ẩm cao nhất vào tháng 10 đến tháng 02 năm
Trang 35sau, ẩm độ cực đại vào khoảng tháng 11, 12 Trong mùa khô đặc biệt vào nhữngtháng cuối mùa lượng mưa ít, độ ẩm không khí thấp, lượng bốc hơi cao, làm tăngkhả năng hạn hán.
1.6.3 Dân số và lao động
Xã Trà Thủy gồm có 6 thôn; dân số theo kiểm kê năm 2017 gồm 839 hộ với
3265 nhân khẩu, trong đó dân tộc Cor là: 758 hộ với 2.957 nhân khẩu, Kinh: 76 hộvới 287 nhân khẩu, dân tộc Hre là 2 hộ với 8 nhân khẩu, dân tộc Tày là 2 hộ với 9nhân khẩu, dân tộc Thổ 1 hộ với 4 nhân khẩu
- Mật độ dân số bình quân 39 người/km2
- Nhân dân trong xã đa số là đồng bào dân tộc thiểu số nên trình độ lao động và khoahọc của người dân rất thấp, đại đa số nhân dân sống bằng nghề nông và lâm nghiệp
- Là một xã thuộc huyện miền núi của tỉnh nên cơ sở hạ tầng tuy có cải thiệnnhưng vẫn không đồng bộ và yếu kém, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn
- Nhìn chung tỷ lệ lao động nông nghiệp có giảm nhưng chưa nhiều, cần phải dầndần thu hẹp tỷ lệ lao động nông nghiệp, tăng tỷ lệ các ngành công nghiệp, dịch vụ để tổchức sản xuất hợp lý hơn, năng suất lao động nông nghiệp cao hơn
- Trong những năm gần đây huyện Trà Bồng cũng đã xây dựng được nhiềuphương án, thông qua các chương trình giải quyết việc làm, khuyến khích và tạo điềukiện cho vay vốn để các thành phần kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh trên mọi lĩnhvực Nhờ có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành và trong nội bộ từng ngànhnên cũng góp phần cho xã Trà Thủy phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn
- Đời sống của nhân dân đang dần được nâng cao, những nhu cầu về ăn, mặc,học hành, khám chữa bệnh được đáp ứng ngày càng tốt hơn Thu nhập bình quânđầu người những năm gần đây đã có nhiều chuyển biến
- Chương trình xoá đói giảm nghèo đã được triển khai tích cực, nhưng chưađem lại hiệu quả thiết thực, năm 2017 tổng số hộ nghèo là 496 hộ, chiếm 59,19%;
Hộ cận nghèo là 157 hộ, chiếm 18,74 % (theo kết quả rà soát chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020) [32].
Trang 36Chương 2.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các mẫu nước ngầm và nước mặt phục vụ cho sinh hoạt tại xã Trà Thủy,huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi
2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện từ tháng 9/2017 đến tháng 3/2018
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp khảo sát thực địa và thu thập thông tin
Điều tra, phỏng vấn các hộ dân để biết được các nguồn nước hiện đang sửdụng cho mục đích sinh hoạt ở xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãibằng các phương pháp sau:
- Phỏng vấn trực tiếp người dân về các nguồn nước hiện sử dụng
- Thu thập tài liệu thứ cấp từ UBND xã và khảo sát thực địa để thống kê số
hộ dân sử dụng các nguồn nước trong sinh hoạt hàng ngày
2.3.2 Phương pháp lấy mẫu
Lấy mẫu nước mặt và nước giếng theo TCVN 5992:1995, TCVN 5992:1995và TCVN 5997:1995 để phân tích chất lượng nước
Tất cả các mẫu đều được bảo quản trong chai nhựa PE sạch, mẫu sau khimang về phòng thí nghiệm nếu chưa phân tích được cố định và bảo quản ở nhiệt độkhoảng 40C
2.3.3 Phương pháp phân tích mẫu
Phân tích các thông số về chất lượng nước tại Trung tâm kỹ thuật quan trắcmôi trường Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi Phân tích về hàm lượng kim loại nặngtrong mẫu nước được thực hiện trên máy quang phổ Analyst 800 của hãng PerkinElmer - Mỹ
- Xác định pH: bằng máy Hanna HI 991300.
- Xác định độ đục: đo bằng máy Hanna HI 93703.
- Xác định oxy hóa học (COD): bằng phương pháp chuẩn độ KMnO4
Trang 37Nguyên tắc: Đun nóng mẫu thử trong nồi cách thủy với một lượng KMnO4và axit H2SO4 đã biết trong khoảng thời gian nhất định (10 phút) Khử phần KMnO4trong mẫu bằng chất có khả năng oxy hóa và xác định lượng KMnO4 đã dùng bằngviệc thêm dung dịch axit Oxalic dư, sau đó chuẩn độ với KMnO4 Kết quả tính ramgO2/lít [34].
- Xác định độ cứng theo CaCO3: bằng phương pháp chuẩn độ EDTA
Nguyên tắc: Chuẩn độ tạo phức canxi và magiê với dung dịch nước của muối
dinatri của EDTA ở pH 10 Dùng Eriochrome Black T làm chỉ thị Chỉ thị này tạohợp chất màu đỏ hoặc tím với ion canxi và magiê
Trong quá trình chuẩn độ, EDTA trước hết phản ứng tạo phức với các ioncanxi và magiê tự do, sau đó ở điểm tương đương phản ứng với các ion canxi vàmagiê đã liên kết với chất thỉ thị, giải phóng chỉ thị và làm màu dung dịch đổi từ đỏsang tím sang xanh [23]
- Xác định sắt tổng số: bằng phương pháp so màu với thuốc thử phenaltrolin Nguyên tắc: Đun nóng mẫu thử trong nồi cách thủy với một lượng
hydroxyamin trong môi trường acid để chuyển Fe (III) có mặt về Fe (II) và lên màuvới thuốc thử 1,10 - phenantrolin ở pH từ 3,2 đến 3,3 Một ion Fe(II) sẽ kết hợp với
3 phân tử 1,10 - phenantrolin để hình thành phức có màu đỏ cam So màu bằng máyquang phổ ở bước sóng 510nm cho phép xác định được nồng độ sắt trong mẫu
Kết quả mật độ quang đo được về hàm lượng sắt tổng số được tính theo phươngtrình đồ thị chuẩn, từ đó tính được hàm lượng sắt tổng số có mặt trong nước [34]
- Xác định amoni (NH4 + ): bằng phương pháp trắc quang với thuốc thử Nessler Nguyên tắc: Ion amoni (NH4+) trong môi trường kiềm phản ứng với thuốcthử Nessler tạo thành phức có màu từ vàng tới nâu, phụ thuộc vào hàm lượng amonicó trong nước So màu bằng máy quang phổ ở bước sóng 420 nm - 425 nm
Kết quả mật độ quang đo được về hàm lượng amoni được tính theo phươngtrình đồ thị chuẩn, từ đó tính được hàm lượng amoni có mặt trong nước [34]
- Xác định coliform: bằng phương pháp MPN (Most Probable Number) Nguyên tắc: Dựa theo đặc tính của nhóm vi khuẩn coliform là lên men
đường lactose và sinh hơi ở 37oC trong 24 giờ Tổng số Coliform được xác định