1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tieu luan nhom CHung khoan hoa cac khoan no, thuc trang va dieu kien ap dung tai VN

25 473 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chứng khoán hóa các khoản nợ, thực trạng và điều kiện áp dụng tại Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài chính
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 318 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận nhóm cao học về chứng khoán hóa các khoản nợ, thực trạng và điều kiện áp dụng tại Việt Nam

Trang 1

Lời mở đầu i

Chương I: Cơ sở lí luận về chứng khoán hóa 1

1 Khái niệm chứng khoán hóa 1

2 Lịch sử phát triển của chứng khoán hóa 1

3 Mô hình chứng khoán hóa đơn giản 3

4 Điều kiện cần thiết để chứng khóan hóa các khỏan nợ 5

5 Lợi ích của chứng khóan hóa 5

Chương 2: Thực trạng và điều kiện áp dụng tại Việt Nam 7

1 Thực trạng tồn đọng nợ của NHTM ở Việt Nam 7

2 Nguyên nhân dẫn tới tình trạng nợ tồn đọng 8

3 Tình trạng xử lý nợ đọng của các NHTM 10

4 Cơ sở tiền đềvcho chứng khoán hóa các khoản nợ tồn đọng trong hệ thống NHTM Việt Nam 11

Chương 3: Giải pháp thực hiện mô hình chứng khoán hoá 16

1 Chủ động thích nghi thông lệ quốc tế 16

2 Phối hợp giữa các NH trong việc xây dựng hệ thống thông tin về khách hàng 16

3 Giải pháp về thị trường 16

4 Mở rộng phạm vi của trung gian đặc biệt 17

5 Khuyến khích các TCTD tham gia tăng cường tín dụng 18

6 Mở rộng đầu tư đi kèm với nâng cao chất lượng tín dụng 18

7 Nâng cao chất lượng của đội ngũ nhân viên ngân hàng 18

8 Hiện đại hoá hoạt động ngân hàng 18

Kết luận 19

Tài liệu tham khảo 19

Trang 2

Hệ thống các NHTM Việt Nam đã có những bước tiến rất dài trong việc nâng cao nănglực cạnh tranh của mình nhằm chuẩn bị cho thị trường tài chính Việt Nam gia nhập WTO Đặcbiệt các NHTM đã từng bước thực hiện chương trình tái cơ cấu, trong đó trọng điểm là tái cơcấu tài chính và đến nay các NHTM, đặc biệt là các NHTM quốc doanh đã dần dần cải thiệnđược chất lượng tín dụng của mình Tuy nhiên, một trong những vấn đề hàng đầu cần phải giảiquyết hiện nay của các NHTM vẫn là việc xử lý nợ xấu.

Tình trạng nợ xấu làm nền kinh tế đóng băng một lượng lớn vật chất không khai thácđược, trong khi đó các ngân hàng thương mại sẽ trở nên khó khăn hơn trong việc huy độngnguồn vốn mới và hiệu quả họat động của ngân hàng cũng vì vậy mà giảm sút Nợ quá hạn tồnđộng nếu không giải quyết một cách cơ bản và nhanh chóng sẽ tác động tiêu cực lên hệ thốngngân hàng và khó tránh khỏi nguy cơ tác động dây chuyền lên nền kinh tế Việt Nam

Hiện nay, có rất nhiều biện pháp được các ngân hàng thương mại áp dụng nhằm xử lí nợtồn đọng Tuy nhiên, không phải phương pháp nào cũng mang lại hiệu quả cao với nguồn chiphí thấp Trong các phương pháp này phải kể đến một công cụ tài chính hiệu quả trong xử lí nợtồn đọng ngân hàng, đó chính là chứng khóan hóa các khỏan nợ Từ đó, nhóm đã quyết định

nghiên cứu đề tài: “Mô hình chứng khóan hóa các khỏan nợ, thực trạng và điều kiện áp dụng tại Việt Nam”.

Trang 4

Chương I: Cơ sở lí luận về chứng khoán hóa

Từ những năm 70 của thế kỉ trước, khái niêm chứng khoán hóa đã xuất hiện

một cách chính thức : “Chứng khoán hóa là việc phát hành ra các trái quyền dưới

dạng các chứng khoán có thể bán ra trên thị trường trên cơ sở một tập hợp các tài sản đảm bảo cho nó”.

Theo định nghĩa của các nước thuộc khối OECD đưa ra năm 1995: “Chứng

khoán hóa là việc phát hành các chứng khoán có tính khả mại được đảm bảo không phải bằng khả năng thanh toán của chủ thể phát hành, mà bằng các nguồn thu dự kiến

có được từ các tài sản đặc biệt”.

Còn theo Wikipedia VN thì: “Chứng khoán hóa là một quá trình tài chính cấu

trúc, tại đó các tài sản thế chấp khác nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói rồi được dùng làm đảm bảo để phát hành các trái phiếu (gọi chung là trái phiếu đảm bảo bằng tài sản) Tiền từ người mua các chứng khoán này sẽ được chuyển đến các tổ chức tài chính cho vay thế chấp để các tổ chức này cho người đem thế chấp tài sản vay tiền Chứng khoán hóa chính là quá trình đưa các tài sản thế chấp sang thị trường thứ cấp nơi mà chúng có thể trao đi đổi lại Nó đã biến các tài sản kém thanh khoản thành những chứng khoán thanh khoản cao”.

Chứng khoán hóa nhằm vào hai mục tiêu chính:

 Giúp các ngân hàng tăng thêm khả năng thanh khoản, và theo đó khả năng chovay mới Tiêu chuẩn quốc tế yêu cầu ngân hàng phải tôn trọng tỷ lệ vốn/tài sản rủi ro

≥8% (xem chi tiết Cooke ratio (Basel I) và McDonough ratio (Basel II)) Để thực hiệnđược tỷ trọng này, ngân hàng có hai cách: hoặc tăng tử số hoặc giảm mẫu số Tăng tử

số (vốn) là việc làm khá tế nhị, trong khi đó quản lý rủi ro (giảm mẫu số) được ápdụng khá rộng rãi nhờ các các kỹ thuật tài chính Khi ngân hàng chuyển nhượng chứngkhoán hóa các chứng từ tài sản, họ nhận lại tiền mặt hoặc chứng từ có thể dễ dàngnhanh chóng đổi thành tiền mặt, qua đó làm giảm phần tài sản rủi ro

 Phân tán rủi ro (ABS): Các trái phiếu nợ mới được đánh giá và cho điểm rủi ro.Chúng phân tán (bán đi) khắp các thị trường tài chinh Nói cách khác, chúng ta đi từmột mô hình cũ là ngân hàng ôm rủi ro với những khoản tín dụng không chắc chắn(kém chất lượng) qua một mô hình mới là ngân hàng chuyển các rủi ro ấy cho nhà đầu

tư trên thị trường tài chính

Sự ra đời của chứng khoán thế chấp nhà

Vào năm 1970, Hiệp hội cho vay nhà thế chấp liên bang đã phát hành chứng khoánđược đảm bảo bởi khoản thế chấp nhà, viết tắt là MBS đầu tiên tại Mỹ Ngay năm sau

Trang 5

đó, Công ty mua bán thế chấp nhà liên bang đã phát hành MBS Những khoản đầu tiêncủa chính phủ phát hành có cấu trúc tương đối đơn giản mà không có sự phân bổ đặcbiệt nào về dòng tiền hoặc sự tăng cường tín dụng Thực chất trong trường hợp nàyviệc tăng cường tín dụng là không cần thiết bởi các chứng khoán được phát hành với

sự bảo lãnh của chính phủ nên có điểm xếp hạng tín dụng rất cao Rủi ro duy nhất gặpphải là rủi ro trả trước vì những người vay mua nhà thế chấp không chịu bất kỳ khoảnphạt nào trong trường hợp họ thanh toán trước Hâu quả là khi lãi suất trên thị trường

có xu hướng giảm người đi vay thường thanh toán khoản vay trước hạn còn người nắmgiữ chứng khoán buộc phải tái đầu tư vốn gốc với thu nhập không dự tính trước

Sự ra đời của chứng khoán được bảo đảm bằng tài sản cầm cố

Vào năm 1983, công ty Boston đã phát hành thêm một loại hình công cụ tài chínhmới được bảo đảm bằng các tài sản cầm cố CMO Sự khác biệt cơ bản giữa CMO vàMBS là CMO giúp ngân hàng chuyển khoản vay có thế chấp bằng bất động sản từ nộibảng ra hạch toán ngoại bảng và sau khi phát hành nó được phân thành nhiều hạngkhác nhau để đáp ứng nhu cầu các nhà đầu tư

Sự ra đời của chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản

Sự thành công, những kinh nghiệm mà các ngân hàng đầu tư có được từ thị trườngMBS đã giúp thị trường của công cụ tài chính linh hoạt khác ra đời Chứng khoánđược đảm bảo bằng động sản ABS được ra đời bởi sự ủng hộ mạnh mẽ của chính phủcũng như các ngân hàng đầu tư hàng đầu lúc đó là Solomon Brother, First Boston,Drexel Burham Lambert

Chứng khoán loại này được phát hành đầu tiên vào tháng 4/1985 khi mà FirstBoston bảo lãnh 192 triệu USD chứng khoán trên khoản thuê máy tính của tập đoànSperry Vào tháng 12/1985 General Motors Acceptance.Corp cộng tác với First Bostonphát hành lượng chứng khoán trị giá 500 triệu USD Đồng thời vào năm đó công ty đãchiếm lĩnh hoàn toàn thị trường khi phát hành chứng khoán giá trị 8 tỷ USD Yếu tốtạo nên sự thành công là nó hạn chế được rủi ro trả trước, một loại rủi ro thường gặp ởvay mua ô tô

Vào năm 1987, những chứng khoán đầu tiên phát hành trên cơ sở khoản phải thucủa thẻ tín dụng ra đời dưới sự bảo lãnh của Solomon Brothers do Banc Gre phát hành.Cũng như các loại chứng khoán khác, chứng khoán hóa thẻ tín dụng đã đạt được tốc

độ tăng trưởng nhanh chóng và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, đứng đầu là Citibank.Vào đầu những năm 1990, nhiều ngân hàng, các công ty tài chính thế giới gặp khókhăn về tài chính Họ nhanh chóng áp dụng mô hình ABS để chứng khoán hóa cáckhoản vay, loại những khoản nợ xấu, lành mạnh hóa hoạt động tài chính Công cụ nàygọi là CDO Từ khi ra đời công cụ này đã trở nên ngày càng quan trọng đối với các tổchức kinh doanh, đặc biệt là ngân hàng Và sau này các nhà tài chính trên thế giới phát

Trang 6

mỉnh ra công cụ mới dựa trên cơ sở CDO là CLO Những công cụ mới như trên trongchứng khoán hóa đã giúp cho tài chính thế giới trở nên mạnh mẽ và linh hoạt hơn rấtnhiều.

Nghiên cứu của Mason and Rosner (2007) cho biết vào năm 2005, có đến 81% tàisản đảm bảo cho CDO là từ MBS, tức là vào khoảng 200 tỷ dollar Mỹ Do đó có quanđiểm cho rằng CDO là sản phẩm tái chứng khoán hóa các loại chứng khoán khác Thứgiấy nợ đảm bảo bằng tài sản này có thể có nhiều loại là sản phẩm chứng khoán hóacủa việc đóng gói các loại tài sản có mức độ rủi ro khác nhau, và hướng tới các đốitượng nhà đầu tư khác nhau Loại CDO từ tài sản có mức độ rủi ro thấp nhất có thểđược các tổ chức đánh giá tín nhiệm xếp hạng cao nhất Cùng với sự ra đời và pháttriển của CDO là sự xuất hiện của những tổ chức cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho nhàđầu tư CDO và của những tổ chức liên kết cung cấp hợp đồng hoán đổi tổn thất tíndụng (hay CDS).Nhiều tổ chức tín dụng của Hoa Kỳ đã lập ra các công ty con, gọi làcác bộ phận mục đích đặc biệt (hay SPV) để mua bán MBS và CDO Điều này chophép họ đặt MBS và CDO ngoài bảng cân đối tài sản, và vì thế giảm nguy cơ bị các cơquan giám sát tài chính nhắc nhở.Citigroup là tổ chức đã phát minh ra cái gọi là công

cụ đầu tư kết cấu (hay SIV) vào năm 1988 và các tổ chức khác đã theo gương cho rađời hàng loạt SIV Các SIV này được xem là hệ thống ngân hàng trong bóng tối Họ đivay bằng cách phát hành chứng khoán ngắn hạn lãi suất thấp rồi cho vay lại bằng cáchmua các chứng khoán dài hạn, nhất là mua MBS và CDO, qua đó ăn chênh lệch Tuynhiên, khi lãi suất của chứng khoán dài hạn lại thấp hơn lãi suất chứng khoán ngắn hạnthì các SIV này bị lỗ Theo Moody (2008), tại thời điểm tháng 7 năm 2008, giá trị tàisản của các SIV ước lên đến 400 tỷ dollar

Để hiểu rõ hơn về chứng khoán hóa ta sẽ phân tích các thành phân của sơ đồ trên:

Trung gian đặc biệt (SPV)

Chứng khoán

Trang 7

3.1 Tổ chức khởi tạo

Người khởi tạo là các doanh nghiệp tài chính hoặc phi tài chính có những khoảnmục tài sản cần chứng khoán hóa Người khởi tạo vì những mục đích khác nhau màtiến hành chứng khoán hóa khoản mục tài sản trên bảng cân đối tài sản của mình ví dụnhư khoản phải thu, khoản cho vay dài hạn, đầu tư dự án… Một đặc điểm nhận thấy ởđây là tổ chức khởi tạo không phải là người chịu trách nhiệm thanh toán khoản tiền khi

đã chuyển quyền nhận các lợi ích từ tài sản cho Trung gian đặc biệt Do đó, lợi thế đặcbiệt khi phát hành các ABS là dù cho xếp hạng tín dụng của tổ chức khởi tạo thấp thìvẫn có thể phát hành những chứng khoán có chất lượng cao Ví dụ như tổ chức khởitạo chỉ xếp hạng Aab vẫn có thể phát hành chứng khoán xếp hạng AAA Đồng thời, dotài sản độc lập với tổ chức khởi tạo nên dù cho tổ chức khởi tạo có gặp vấn đề về tàichính hay lâm vào tình trạng phá sản thì không liên quan tới sự chuyển dịch của dòngtiền Đây được gọi là cơ chế phòng ngừa phá sản trong quá trình chứng khoán hóa

3.2 Trung gian đặc biệt (SPV)

Là một tổ chức độc lập hợp pháp (thường là các công ty tài chính, AMC, quỹ tínthác…) với các biện pháp đặc biệt nhằm tăng tính hấp dẫn của các loại chứng khoánphát hành SPV mua lại quyền nhận các khoản phải thu từ tổ chức khởi tạo Trên cơ

sở những nhận định về con nợ của người khởi tạo, đồng thời với những phân tích về tưcách tín dụng riêng đối với cả tổ chức khởi tạo lẫn khách hàng vay vốn SPV định ramột mức thích hợp cho khoản phải thu mà nó sẽ mua lại Ở đây SPV sẽ phải quan tâmtới lãi suất khoản vay, các khoản phí liên quan, phần bù rủi ro đối với khoản vay, tàisản thế chấp … Sau đó trên cơ sở những tính toán về thu nhập dự tính và đánh giá rủi

ro nó sẽ phát hành chứng khoán có thứ hạng khác nhau ra công chúng đầu tư Bêncạnh đó, SPV cũng phải đáp ứng những yêu cầu pháp lí như vốn pháp định, điều lệhoạt động

Khi có một sự kiện rủi ro xảy ra dẫn đến sự phá sản SPV thì những hợp đồng đangthực hiện vẫn sẽ tiếp tục cho đến khi kết thúc nhưng do một SPV và một tổ chưc khởitạo khác đảm nhận

3.3 Nhà đầu tư

Trên thực tế thị trường cho các chứng khóan loại này được phát hành hầu hết là cácđịnh chế tài chính và phi tài chính, chỉ một số lượng không lớn các nhà đầu tư cá nhân.Các đối tượng này bao gồm quỹ hữu trí, quỹ tương trợ, công ty bảo hiểm, thậm chí làngay cả ngân hàng đầu tư ABS cung cấp cho giới đầu tư một công cụ tài chính cótính an tòan tương đối cao với lợi tức hợp lí mà khó có thể tìm được ở các loại chứngkhóan do các tổ chức có thứ hạng tín dụng thấp phát hành Hơn thế nữa một số lượnglớn các nhà đầu tư đã tạo nên một vòng tuần hòan ảo làm tăng tính lỏng cho thị trườngABS

Trang 8

Ngòai ra việc hạch tóan ngoại bảng từ phía tổ chức khởi tạo cho phép nhà đầu tưtránh rủi ro tín dụng liên quan tới người khởi tạo.

3.4 Tổ chức cung cấp dịch vụ tăng cường tín dụng

Chứng khóan hóa không thể thành công nếu không có sự bảo lãnh của chính phủ.Với sự tham gia của chính phủ thì khả năng thanh tóan của chứng khóan là rất cao.Trong trường hợp không có sự tham gia của chính phủ thì các tổ chức tư nhân sẽ thaythế bằng các biện pháp tăng cường tín dụng Có hai hình thức là tăng cường tín dụngtrong và tăng cường tín dụng ngoài Các tổ chức này sẽ thu phí thông qua các cam kết

hỗ trợ trong chương trình chứng khóan hóa

3.5 Cơ quan xếp hạng tín dụng

Là một tổ chức độc lập có thể thuộc chính phủ hoặc giới đầu tư với nhiệm vụ phântích đánh giá mức độ rủi ro xếp hạng các chứng khóan và các công ty Kết quả xếphạng của họ là căn cứ để nhà đầu tư ra quyết định Một mâu thuẫn xảy ra ở đây chính

là mặc dù là một cơ quan ra quyết định độc lập nhưng khi cho điểm một loại chứngkhóan có quan này lại nhận phí từ SPV, điều này đòi hỏi các tổ chức này cần phải cânđối giữa quyền lợi của bản thân và trách nhiệm đối với giới đầu tư

4.1 Cung và cầu trên thị trường

- Nhu cầu bán nợ - cung về chứng khóan hóa: Thực tiễn họat động ngân hàng tấtyếu phát sinh nợ trong quá trình giao dịch với các chủ thể khác Các khỏan nợ này phátsinh và tồn tại trong rất nhiều lĩnh vực ngành nghề của nền kinh tế Đồng thời nhu cầuvốn của tổ chức là rất lớn nên đòi hỏi phải bán nợ để đẩy nhanh vòng tuần hòan củavốn

- Nhu cầu mua nợ - cầu về chứng khóan hóa: Sự xuất hiện nhu cầu mua nợ củacác đinh chế tài chính đã thay đổi, dần dần trở thành cơ hội kinh doanh của các địnhchế này Sự khan hiếm cơ hội đầu tư hấp dẫn, sự hạn chế các định chế tài chính trongđầu tư các lĩnh vực có rủi ro cao, đồng thời sự dư thừa tư bản đã khiến thị trườngchứng khóan ra đời

4.2 Sự phát triển của nền kinh tế và thị trường tài chính

Đây là chính là yếu tố quan trọng cho sự phát triển các sản phẩm chứng khóanhóa Nhưng không phải là một quy luật hay một mối quan hệ nhân quả là hễ nền kinh

tế phát triển mạnh thì thị trường này phát triển Theo kinh nghiệm các nước trên thếgiới thì đối với các nước vừa thóat ra khỏi chu kì phát triển chậm thì tốc độ phát triểnchứng khóan hóa lại rất cao Đó là do nhu cầu vốn đòi hỏi cho việc đầu tư trong thời kìbùng nổ kinh tế

4.3 Sự phát triển của công nghệ

ABS đã bắt đầu ra đời với sự trợ giúp rất lớn của công nghệ hiện đại Chứngkhóan chuyển qua nguyên thủy được tính tóan hết sức đơn giản Việc phán đóan dòng

Trang 9

tiền của chứng khóan thế chấp do các đại lí của chính phủ phát hành ban đầu rất dễdàng Cho đến nay thị trường ABS đã có bước phát triển mở rộng thêm nhiều loại tàisản mới là kết quả của việc phát kiến ra các mô hình, sức mạnh tính tóan, và côngnghệ thông tin

4.5 Hệ thống pháp luật toàn diện

Để việc chứng khóan hóa diễn ra một cách suôn sẽ đòi hỏi phải có một cơ chếhết sức rõ ràng Luật pháp ở đây phải bao gồm các vấn đề:

 Cơ chế mua bán chuyển nhượng nợ

 Quy chế thành lập và phương thức họat động SPV

 Vấn đề thuế

 Vấn đề hạch tóan kế tóan

 Điều khỏan chuyển đổi , tái cơ cấu nợ ngân hàng và doanh nghiệp

5.1 Đối với các bên chủ đầu tư dự án

 Đối với phần vốn đi vay trong vốn đầu tư cho dự án xây dựng cơ sở hạ tầng,chứng khoán hóa là cơ hội để giảm chi phí trả lãi vay và tăng hiệu quả sinh lời của dựán

 Đối với phần vốn tự có được dùng đầu tư vào dự án, chứng khoán hóa là mộtbiện pháp giúp chủ đầu tư nâng cao vòng quay vốn Vấn đề này cực kỳ quan trọng đốivới những công ty chuyên đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vì so với biện pháp phát hành cổphiếu hoặc trái phiếu để gọi vốn cho một dự án mới, việc “bán” đi phần vốn tự cótrong các dự án đã tiến hành xong giai đoạn cơ bản thông qua quá trình chứng khoánhoá sẽ đơn giản hơn, tiết kiệm dược thời gian và chi phí phát hành

 Chứng khoán hoá mở ra khả năng huy động vốn cho hoạt động xây dựng cơ sở

hạ tầng, ngay cả khi dự án mới chỉ ở “trên giấy” Các hợp đồng hoặc cam kết chắcchắn đảm bảo hiệu quả kinh tế cho hoạt động của dự án khi đi vào vận hành, đều cókhả năng biến thành tài sản có giá - hàng hoá trên thị trường tài chính

5.2 Đối với người đầu tư

 Có thêm một công cụ đầu tư mới với suất sinh lợi cao hơn trái phiếu Chính phủ

và độ tin cậy tương đối ổn định

 Tính thanh khoản của chứng khoán đảm bảo bằng tài sản tài chính (chứngkhoán ABS) khá cao nên người đầu tư có thể dễ dàng tham gia giao dịch trên thịtrường giao dịch tập trung

Trang 10

 Chứng khoán ABS là một công cụ hữu hiệu cho nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro,đặc biệt là cho nhà đầu tư cổ tức.

 Giảm thiểu được rủi ro có thể ảnh hưởng đến mức độ tín nhiệm của chủ thểphát hành, do tính chất của chứng khoán ABS là chỉ phụ thuộc vào “chất lượng” củatài sản chuyển hóa

5.3 Lợi ích của chứng khoán hóa đối với ngân hàng thương mại

 Nguồn tài trợ ngoại bảng tăng lên

 Tránh được sự suy giảm của thị trường: Trong điều kiện ban đầu ngân hàng cóthể đem bán tài sản thế chấp trên thị trường thứ cấp Nhưng để tìm được khách hàngmua với giá đúng bằng giá trị thực của tài sản là không dễ và ngân hàng phải mất mộtkhỏan chi phí không phải là nhỏ Đặc biệt là trong trường hợp thị trường lọai tài sản đógiảm sút thì nguy cơ bán giá thấp là chắc chắn Lúc đó chứng khóan hóa là một giảipháp hay để bảo tòan giá trị tài sản đợi khi thị trường tài sản đạt độ ổn định (đặc biệt

là thị trường bất động sản)

 Cải thiện các tỷ số tài chính: Một ưu điểm của chứng khóan hóa là giúp ngânhàng tìm kiếm nguồn vốn với chi phí không cao mà vẫn duy trì được những tỷ số tàichính

 Cải thiện thứ hạng tín dụng: Một trong những điều kiện cho cấu trúc của chứngkhóan hóa là cô lập giữa tài sản của chủ nợ và con nợ Sự tách biệt giữa tài sản có chấtlượng tín dụng tốt với yếu tố rủi ro bản thân doanh nghiệp đã làm cho các chứngkhóan phát hành trên cơ sở tài sản đảm bảo có chất lượng tín dụng cao hơn bản thânchủ sở hữu nó Sự cải thiện xếp hạng tín dụng đến từ hai nguồn: Thứ nhất là chứngkhóan mới phát hành được taì trợ bằng dòng tiền độc lập từ tài sản mà không khôngchịu bất cứ sự can thiệp nào từ người nắm giữ tài sản, điều đó có nghĩa là thứ hạng củachứng khóan không chịu ảnh hưởng bởi thứ hạng của người nắm giữ mà phụ thuộcvào chất lượng của tài sản Thứ hai, việc chuyển nhượng tài sản từ chỗ chức khởi tạosang cho SPV là một giao dịch bán tài sản thật sự và SPV có chức năng tăng cườngtính hấp dẫn của chứng khóan làm thứ hạng của chứng khóan tăng lên đáng kể

 Quản lí rủi ro tốt hơn: Chứng khóan hóa là một công cụ quản lí rủi ro tiên tiếncủa ngân hàng Nó cho phép ngân hàng và doanh nghiệp tránh được nhiều lọai rủi rokhác nhau từ ruỉ ro tín dụng, rủi ro thanh khỏan và rủi ro rỷ giá hối đóai

Như vậy, rõ ràng qua chứng khóan hóa, tổ chức khởi tạo có thể có rất nhiều lợiích khác nhau Chứng khóan hóa có thể tạo ra hàng lọat các công cụ tài chính năngđộng từ chứng khóan ngắn hạn, dài hạn cho đến chứng khóan có coupon thấp, chứngkhóan có coupon cao, từ kì hạn hòan vốn âm hay dương cho đến rủi ro thanh tóantrước thỏa mãn mọi nhu cầu của giới đầu tư

Trang 11

Chương II: Thực trạng và điều kiện áp dụng tại Việt Nam

1 Thực trạng tồn đọng nợ của NHTM ở Việt Nam

Nhìn chung, các NHTM Việt Nam đều có quy mô nhỏ, vốn tự có và vốn điều lệkhông cao Tuy những năm gần đây nguồn vốn pháp định của các ngân hàng tăng lên

do yêu cầu của việc hội nhập và yêu cầu của Ngân hàng Nhà Nước (NHNN) là 1.000tỷ đồng vào năm 2008 và 3.000 tỷ đồng vào năm 2010 nhưng một số ngân hàng vẫnkhông thực hiện được và đang tiến hành sát nhập theo yêu cầu cùa NHNN Đồng thời

từ ngày 1/10/2010 tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ 8% lê 9% Tuy nhiên tình nợ xấu tạicác NHTM đang có xu hướng tăng với năm 2011 ở mức 3,3% tổng dư nợ, cao hơn sovới mức 2,14% vào cuối năm 2010

Trang 12

Tồn tại về nợ xấu của hệ thống ngân hàng đã được khoanh vùng, xác địnhnguyên nhân từ đó đề ra các biện pháp xử lý Mặc dù vậy đây là mầm móng nguyhiểm đối với cuộc khủng hoảng ngân hàng nếu không được ngân chặn và xử lý triệt

để, đặc biệt là sau cuốc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, năm 2002, tổng số nợ xấu củacác ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng là hơn 20.000 tỷ đồng, chiếm hơn 7,2%tổng dư nợ.Đến năm 2004 tổng số nợ xấu giảm xuống còn trên 13.000 tỷ đồng, chiếmtỷ lệ dưới 4%, thấp hơn tỷ lệ an toàn cho phép theo thông lệ quốc tế là 5% Đến hếtnăm 2005, tổng số nợ xấu lại tăng lên con số 17.500 tỷ đồng, nhưng tỷ lệ chỉ chiếm3,18% tổng dư nợ, riêng khối ngân hàng thương mại Nhà nước thì tỷ lệ này trên 5%

Ngày đăng: 14/08/2013, 15:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3. Mô hình chứng khoán hóa đơn giản - Tieu luan nhom   CHung khoan hoa cac khoan no, thuc trang va dieu kien ap dung tai VN
3. Mô hình chứng khoán hóa đơn giản (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w