1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN nâng cao kĩ năng giao tiếp bằng tiếng việt cho học sinh dân tộc thiểu số

23 297 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 406 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì những ý nghĩa đó mà rất nhiều giáo viên đã tậptrung giảng dạy, cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản của chươngtrình mà quên mất việc hình thành cho các em những kĩ năng

Trang 1

Lời Ngỏ!

Kính thưa quý thầy cô!

Là một giáo viên trẻ mới bước vào giảng dạy thực tế ở trường Tiểu học Vừalàm quen với đối tượng học sinh, đối tượng học sinh không giống với những gì

mà mình đang được tiếp xúc được trang bị khi còn ngồi trên nghế nhà trường sưphạm Những kiến thức được trang bị trên trường sư phạm không giống nhưnhững gì thực tế gặp trong quá trình giảng dạy

Khi mới bước ra trường tôi luôn quan niệm phải dạy làm sao trang bị cho các

em những kiến thức khoa học nhất để làm sao các em có thể thực hiện được

mục tiêu nghe, nói, đọc, viết để các em có thể tiếp thu nền văn hoá xã hội mà

quên mất phải trang bị cho các em các kĩ năng giao tiếp cơ bản

Kính thưa quý thầy cô!

Trong một lần tiếp xúc với một vị phụ huynh có học sinh nhút nhát người

phụ huynh ấy tâm sự Tôi xin được trách nguyên văn" Tôi không có ý kiến gì

về cách dạy của các thầy Nhưng thầy ơi! Không biết ở trường các thầy dạy thế nào nhưng khi về nhà tôi gọi các em ấy không chịu trả lời, các em chỉ cúi mặt xuống mà đi hay có lúc em chỉ ừ, à chứ không biết trả lời Nó làm cho tôi rất buồn, nó muốn gì nó cũng không nói Nếu có hỏi thầy giáo có dặn dò

về nhà gì không thì em cũng không trả lời nên tôi cũng không quan tâm được đến việc học của cháu Mong thầy cố gắng làm sao giúp cho các cháu

để các cháu mạnh dạn hơn " Lời tâm sự của người phụ huynh ấy làm tôi suy

nghĩ rất nhiều, tôi thấy hoá ra trong thời gian qua mình chỉ lo dạy cho các emkiến thức mà quên trang bị cho các em những kĩ năng giao tiếp cơ bản để các

Trang 2

ngại không dám và không đủ tự tin để giao tiếp hay là các em có vốn tiếng Việt ít không đủ Nên tôi đã cố gắng tìm cách khắc phục để các em có thể mạnhdạn giao tiếp và biết giao tiếp trong các tình huống khác nhau và qua đó nângcao chất lượng học của học sinh Vì kinh nghiệm giảng dạy còn hạn chế nêntrong quá trình nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mongđược sụ góp ý của quí thầy cô để lần sau nghiên cứu đạt hiệu quả cao hơn Cũngqua bài nghiên cứu này tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô chuyên môn củanhà trường và toàn thể đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.

Xin chân thành cảm ơn!

PHẦN MỞ ĐẦUI.LÍ DO LỤA CHON ĐỀ TÀI.

1.Những vấn đề chung:

Trong thời kì hiện nay, thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhất làkhi đất nước ta bắt đầu thời kì hội nhập sâu rộng với thế giới Đứng trước nhucầu hội nhập, xu thế toàn cầu hoá Toàn Đảng toàn dân, toàn quân ta bắt đầu đổimới (phù hợp với tình hình Việt Nam) Đòi hỏi mỗi cá nhân, mỗi cấp, ngànhcần phải tự vận động, đổi mới mình để đáp ứng đầy đủ yêu cầu của xã hội Giáodục Việt Nam cũng đang từng bước đổi mới và hoàn thiện mình để theo kịp sựđổi mới của đất nước, sự phát triển của cộng đồng thế giới Đặc biệt đến đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ X Đảng ta đã xác định “đổi mới Giáo dục phải đổi mới

toàn diện từ giáo dục Mầm non đến giáo dục Phổ thông và Đại học…”.Nội

dung đầu tiên được Bộ GD&ĐT thực hiện, đó là: đổi mới nội dung chương

trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học theo hướng tích cực từ

Tiểu học đến Trung học Phổ thông v v Trong đó có dự án phát triển

Giáo viên tiểu học và Chuẩn nghề nghiệp đối với giáo viên tiểu học Cácchương trình này ã tạo ra bước đột phá lớn cho hệ thống giáo dục Việt Nam nóichung và Giáo dục tiểu học nói riêng Kết hợp với sự quyết tâm đưa giáo dục

2

Trang 3

Việt Nam thoát khỏi tình trạng trì trệ, chạy theo thành tích bề nổi Chúng ta cóthể dễ dàng nhận thấy chất lượng giáo dục của các bậc học đã chuyển biến tíchcực, được xã hội công nhận và toàn dân ủng hộ.

Thực hiện đổi mới giáo dục mỗi trường, mỗi địa phương có những địnhhướng những cách, những biện pháp khác nhau để nâng cao chất lượng giáodục Nâng cao chất lượng giáo dục trở thành một yêu cầu đặt ra và ưu tiên hàngđầu của các trường làm sao để các em thực hiện được mục tiêu và yêu cầu củacấp học và bậc học

Đổi mới Giáo dục phải đổi mới toàn diện từ giáo dục Mầm non đến giáodục Phổ thông và Đại học…Đây là một định hướng được được Đảng ta xácđịnh trong Đại hội X Trong đó bậc học Tiểu học là bậc học nền tảng, chịu tráchnhiệm là cơ sở ban bầu cho các em học lên các bậc học cao hơn và cung cấpcho các em những kiến thức cơ bản để các em có thể tiếp thu nền văn hoá xãhội Chính vì yêu cầu quan trọng như vậy cho nên bốn chữ "Chất lượng dạyhọc" được các nhà truờng đặt lên cao nhất được xem là nhiệm vụ trọng tâm Vìvậy các nhà trường thường ưu tiên dạy cho các em kiến thức để các em làm sao

các em có thể đọc thông, viết thạo So với các trường ở vùng thuận lợi thì các

trường ở các vùng khó khăn đây là một nhiệm vụ khá khó khăn Đắk Ang làmột xã vào loại khó khăn nhất của huyện Ngọc Hồi Dân số phần đông là đồng

bào dân tộc thiểu số đời sống khó khăn, không có điều kiện chăm l

đến việc học của các em Trường Tiểu học Đắk Ang đóng chân trên địa phận xãĐắk Ang có nhiệm vụ thực hiện công tác giáo dục ở bậc Tiểu học tại địaphương

Thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục, nâng cao chất lượng dạy và học.Trong thời gian qua BGH nhà trường cùng với đội ngũ giáo viên đã có nhiều cốgắng cùng với sự giúp đỡ của chính quyền điạ phương và chất lượng giáo dụcđang ngày càng nâng lên

3

Trang 4

Điều này càng có ý nghĩa hơn với Đảng bộ nhân dân xã khi chính quyềnđịa phương và nhà trường đang ra sức nỗ lực hết mình để đến năm 2010 hoànthành phổ cập giáo dục Tiểu học theo đúng độ tuổi.

Đây là một nhiệm vụ khó khăn nhưng cũng đầy ý nghĩa Chính vì vậy đòihỏi một sự nỗ lực vượt bậc của chính quyền, nhân dân địa phương mà đặc biệtnhất đấy là đội ngũ giáo viên Tiểu học những người trực tiếp giảng dạy và thựchiện mục tiêu này Chính vì những ý nghĩa đó mà rất nhiều giáo viên đã tậptrung giảng dạy, cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản của chươngtrình mà quên mất việc hình thành cho các em những kĩ năng giao tiếp bằngtiếng Việt bởi đối tượng học sinh chủ yếu là học sinh dân tộc vốn tiếng Việt củacác em còn rất hạn chế Tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ thứ hai của các em sau ngônngữ mẹ đẻ Thật sự, xét trên bề mặt nỗi thì nâng cao kĩ năng giao tiếp bằngtiếng Việt cho học sinh dân tộc không có nhiều tác động đến việc nâng cao chấtlượng dạy và học của học sinh nhưng nhìn sâu xa về một khía cạnh khác tôinghĩ đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào việc nâng cao chấtlượng dạy và học môn tiếng Việt nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung.Bởi vì, để học các môn học khác thì bắt buộc phải sử dụng tiếng Việt Mặt

khác giao tiếp là một nhu cầu không thể thiếu của con nguời Trong giáo dục,muốn học sinh nắm đuợc kiến thức thì buộc các em phải giao tiếp (giao tiếp vớithầy cô, giao tiếp với bạn bè ) để chiếm lĩnh tri thức và tiếp thu tri thức Nhưng

để nâng cao khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt cho học sinh dân tộc không phải

là một vấn đề đơn giản Đây là một vấn dề khó khăn đòi hỏi sự kiên trì của giáo viên và một sự tích cực trong học tập của học sinh Tại lớp 2E tôi đã áp dụng vàbước đầu mang lại hiệu quả, tôi xin nêu ra đây để được sự đóng góp ý kiến củađồng nghiệp

2.Đối tượng nghiên cứu:

4

Trang 5

Cụ thể học sinh lớp 2E Cụm Thôn Đắk Giá II, Trường TH xã Đắk Ang,huyện Ngọc Hồi

3.Nhiệm vụ nghiên cứu:

3.1.Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc giao tiếp và ý nghĩa của việc giao tiếptrong nhà trường Từ đó dựa trên những cơ sở lí luận để đề ra những biện phápnhằm nâng cao kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt cho học sinh dân tộc

3.2 Phân tích thực trạng sử dụng Tiếng Việt trong học sinh dân tộc hiện nay Học sinh lớp 2E - Trường Tiểu học xã Đắk Ang Tìm ra những ưu điểm vànhững yếu điểm để từ đó đề ra những giải pháp khắc phục

-3.3 - Đề ra những biên pháp nhằm nâng cao khả năng bằng Tiếng Việt cho họcsinh dân tộc Đồng thời, qua đó rút ra những kết luận và có những kết luận sưphạm và đề xuất những kiến nghị

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình xây dựng sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã sử dụng các

phương pháp nghiên cứu sau:

* Đọc một số Văn kiện, Nghị quyết BCHTW, Chỉ thị, Quyết định của Bộ Giáodục và Đào tạo; một số Văn bản hướng dẫn, Công văn chỉ đạo về đổi mới giáodục và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo,một

số tài liệu về đổi mới phương pháp giáo dục

* Nghiên cứu các tài liệu bồi dưỡng giáo viên theo chương trình Sách Giáo Khoa mới; Tạp chí Giáo dục& Nhà trường, Tạp chí Thế giới trong ta, báo Giáodục và Thời đại, tài liệu về một số biện pháp dạy Tiếng Việt cho học sinh dântộc

* Quan sát, đàm thoại, điều tra thông tin, nghiên cứu kết quả hoạt động, tổngkết kinh nghiệm, dự giờ thăm lớp … Cụ thể tôi đã sử dụng những phương phápsau:

5

Trang 6

- Phương pháp điều tra.

- Phương pháp quan sát, trò chuyện để tìm ra thông tin

- Phương pháp nghiên cứu chất lượng học tập của học sinh

- Phương pháp thống kê toán học

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

5.Phạm vi nghiên cứu:

Sáng kiến kinh nghiệm được xây dựng trên cơ sở tìm hiểu thông qua các tàiliệu và sự hiểu biết của cá nhân, qua sự đúc rút kinh nghiệm trong quá trìnhgiảng dạy trên đối tượng học sinh dân tộc với vốn tiếng Việt còn nhiều hạn chế

Vì vậy nội dung chỉ đề cập đến một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng

sử dụng tiếng Việt cho học sinh dân tộc ở Lớp 2E Trường Tiểu Học xã Đắk

Ang - huyện Ngọc Hồi Tập trung chủ yếu vào một số nội dung sau:

*Tầm quan trọng của giao tiếp trong học tập và trong cuộc sống

*Thực trạng sử dụng Tiếng việt trong giao tiếp hiện nay của học sinh lớp 2ETrường Tiểu học Xã Đắk Ang

*Nguyên nhân của thực trạng này

*Một số giải pháp nâng cao khả năng sử dụng Tiếng việt trong giao tiếp chohọc sinh dân tộc

Giao tiếp là việc trao đổi thông tin giữa con người và thường dẫn tới hành động

6

Trang 7

a.Mục đích của giao tiếp là gì?

Mục đích của giao tiếp là truyền tải được những thông điệp Đây là quá trình liên quan đến cả người gửi và người nhận thông điệp nhằm thoả mãn nhu cầu nào - nhu cầu trao đổi thông tin, nhu cầu chia sẻ tình cảm, nhu cầu tiếp xúc giải trí, nhu cầu được khẳng định trước người khác…

b Đặc điểm của quá trình giao tiếp:

Gồm hai đối tượng: gởi và nhận

Có một thông điệp được chuyển tải

Có phương tiện chuyển tải thông điệp

Là quá trình trao đổi hai chiều

c.Các yếu tố tham gia vào quá trình giao tiếp:

Nội dung giao tiếp

Mục đích giao tiếp

Chủ thể giao tiếp

Hoàn cảnh giao tiếp

Kênh giao tiếp

Quan hệ giao tiếp

d.Chức năng của giao tiếp

Các Mác khẳng định sự thống nhất của tiếng nói, ý thức và giao tiếp: ý thứccũng như cũng như tiếng nói xuất hiện từ sự cần thiết của giao tiếp Giao tiếp có một ý nghĩa hết sức lớn lao đối với đời sống con người Nhu cầuliên quan tới một số lượng lớn những nhu cầu cơ bản của con người Bởi vì giao

7

Trang 8

tiếp là điều kiện cần thiết cho sự phát triển bình thường của con người với tưcách là một thành viên của xã hội, một nhân cách Với họ sinh Tiểu học đây là một nhân cách đang hình thành và phát triển.

2.Vai trò của giao tiếp trong học tập:

Dựa vào sơ đồ trên ta có thể thấy

vai tư duy trò của giao tiếp trong

cuộc sống Ngôn ngữ là công cụ của

tư duy và muốn quá trình tư duy

diễn ra bình thường thì con người

phải giao tiếp

Có thể nói "không có giao tiếp thì qúa trình tư duy sẽ diễn ra không bình thường"

*Đối với học sinh lớp 2E, Trường Tiểu học xã Đắk Ang thì vai trò của giaotiếp lại càng quan trọng bởi đây là giai đoạn đầu của quá trình nhận thức, quátrình tư duy vì vậy việc cung cấp cho các em những kiến thức khoa học đây sẽ

là nền tảng vững chắc để các em nhận thức những kiến thức cơ bản về tự nhiên,

xã hội, nền văn hoá của dân tộc và nhân loại Mặt khác 100% học sinh lớp 2E làhọc sinh dân tộc thiểu số, vốn tiếng Việt còn hạn chế Qua đó làm nền tảng kiến thức cho các em học lên các lớp học cao hơn và để các em có những kĩ năng cơbản để các em bước vào đời

*Vai trò của giao tiếp trong học tập là vô cùng quan trọng,cụ thể: Học tập làmột quá trình trao đổi (nêu và nhận) thông tin "giáo viên = học sinh = giáoviên''

*Ngày nay đổi mới phương pháp giáo dục đang được triển khai và áp dụngrộng khắp Đổi mới phương pháp có nghĩa là nâng cao vai trò của người học,người học (học sinh) là người chủ động chiếm lĩnh, tiếp thu tri thức, học

ngữngungữngữ

Giao tiếp

Trang 9

sinh phải hoạt động, phải trao đổi, giao tiếp với thầy cô, bạn bè, sách vở và vớicác nguồn tài liệu khác để tiếp thu tri thức dưới sự siúp đỡ, hỗ trợ của giáoviên Giáo viên chỉ đóng vai trò hướng dẫn, giúp đỡ học sinh vì vậy ta có thểthấy vai trò quan trọng của học sinh trong quá trình học tập Học sinh phải traođổi giao tiếp với thầy cô, bạn bè, sách vở, và cả với các phương tiện khác đểtiếp thu trí thức Ngày nay tri thức nhân loại không chỉ còn nằm trên sách vở mà

nó còn nằm trên sách báo, trong cuộc sống, trong các phương tiện thông tin như

vô tuyến, truyền hình Vì vậy đòi hỏi học sinh phải không ngừng giao tiếp:Giao tiếp với thầy cô, giao tiếp với bạn bè, giao tiếp với các phương tiện nghenhìn, và cả tự giao tiếp với bản thân để chiếm lĩnh tri thức

Tóm lại đối với học sinh, giao tiếp có vai trò vô cùng quan trọng trong việc chiếm lĩnh tri thức, trong việc học tập của các em nhất là trong giai đoạn hiệnnay giai đoạn mà toàn ngành giáo dục đang ra sức đổi mới phương pháp,nângcao chất lượng giáo dục mà ở đó vai trò của người học ngày càng được khẳngđịnh

9

Trang 10

phải chủ động tiếp thu tri thức và giáo viên chỉ đóng vai trò hướng dẫn, hỗ trợ.Mặt khác các tài liệu phục vụ học tập hiện nay đều chỉ được phát hành bằngngôn ngữ phổ thông (tiếng Việt) Mà trong khi đó vốn tiếng Việt của các emcòn rất hạn chế bởi các em chỉ được tiếp xúc vốn tiếng Việt khi các em đi học(5 – 6 tuổi), không chỉ vậy các em không thường xuyên sử dụng tiếng Việt khi

ở nhà và cũng như khi ở trường Trong khi đó so với học sinh ở vùng thuận lợi(học sinh người kinh) trước khi bước vào lớp 1 các em đã có những vốn kiếnthức đủ để các em có thể giao tiếp đơn giản, đủ để các em có nhận thức sơ giản

về tự nhiên, xã hội và thế giới xung quanh Trái với học sinh người kinh họcsinh dân tộc nói chung và học sinh dân tộc ở xã Đắk Ang nói riêng thì vốntiếng Việt của các em rất hạn chế Các em chỉ được tiếp xúc với tiếng Việt khicác em bước vào mẫu giáo Chỉ khi bước vào học mẫu giáo và bắt đầu học lớp

1 thì các em mới chính thức được tiếp xúc với tiếng Việt Bên cạnh đó với các

em tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ thứ hai mà các em sử dụng khi giao tiếp Vì vậy

có thể khẳng định rằng vốn tiếng việt của các em học sinh dân tộc rất ít vì vậynên phải nâng cao khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt cho các em

* Thứ hai

-Tiếp theo là do những hạn chế của ngôn ngữ mẹ đẻ(cụ thể với đối tượng họcsinh lớp 2E – Trưưòng TH Đắk Ang là ngôn ngữ Xê Đăng).So với tiếng Việt thìngôn ngữ mẹ đẻ(ngôn ngữ Xê Đăng) có những hạn chế nhất định mà những hạnchế này ảnh hưởng khá nhiều đến việc giao tiếp của các em, cụ thể:

*.Hạn chế về dấu thanh và âm vần: Ngôn ngữ mẹ đẻ có những hạn chế sau vềdấu thanh và âm vần

.Về âm: Về âm vần các em chủ yếu là sai trong khi viết

*.Hạn chế về cách hành văn

- So với tiếng Việt (phổ thông) thì ngôn ngữ mẹ đẻ (ngôn ngữ Xê Đăng) cónhiều yếu kém và hạn chế về cách hành văn Tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ mà các em

10

Trang 11

sử dụng và tiếp xúc đầu tiên có nhiều hạn chế về cách hành văn Trong ngônngữ mẹ đẻ mà các em sử dụng về văn phạm thì hầu như không có.

- Khi giáo viên hỏi thì các em chỉ trả lời"có - không" Hầu như các em khôngbiết trả lời theo văn phạm mà chỉ trả lời một cách ''cộc lốc'' Điều này là do ảnhhưởng của ngôn ngữ mẹ đẻ và cũng là do vốn tiếng Việt các em còn hạn chế, các em không có khả năng diễn đạt những gì mà mình suy nghĩ và muốn nói:

Trong ngôn ngữ mẹ đẻ:

VD: Eh = nó,mày: au = tôi

(Eh và au: là cách các em và cả những người lớn sử dụng khi nói chuyện kể cảdùng xưng hô với người đang nói chuyện cùng mình Hay khi xưng hô kể cảvới người già thì các em chỉ gọi thẳng tên mà không biết gọi cô, chú, bác, hayông) Đây là một trong những hạn chế ảnh hưởng rất nhiều đên quá trình sửdụng tiếng Việt sau này

2.Thực trạng sử dụng Tiếng việt trong giao tiếp hiện nay của học sinh.

*Có thể nói trong giao tiếp hiện nay nhất là trong giao tiếp bạn bè học sinhkhông thường xuyên sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp mà các em chỉ chủ yếu

sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ Với các em, Tiếng việt là ngôn ngữ thứ hai

* + Trong giao tiếp với bạn bè

Trong giao tiếp với bạn bè hiện nay nhất là trong giờ giải lao các em hầu nhưkhông bao giờ sử dụng tiếng việt, cụ thể

+ Trong giờ học trong lớp:

Trong lớp với yêu cầu là sử dụng Tiếng việt để học tập nhưng các em thườngcác em thường xuyên sử dụng tiếng mẹ đẻ để

giao tiếp với bạn bè chẳng hạn kho hỏi mượn

cây bút,cây thướt,hay quyển sách các em đều

sử dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp

11

Ngày đăng: 15/10/2018, 10:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w