Trong quá trình dạy dạng toángiải toán liên quan đến tỉ số phần trăm tôi phát hiện trong lớp có em học kémdạng toán này như: A Tình, A Phúc, A Xông, Y Lộc Khang.., các em đều cóchung một
Trang 1III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Khách thể nghiên cứu 6
VIII THU THẬP MINH CHỨNG
1 Kế hoạch bài học 15
2 Đề kiểm tra và đáp án chấm 17
3 Bảng điểm kiểm tra
Trang 2- Giá trị trung bình(Mean): Là giá trị trung bình cộng của các điểm số.
- Độ lệch chuẩn (SD): Là tham số thống kê cho biết mức độ phân tán của các điểm số xung quanh giá trị trung bình
- P: là xác suất xảy ra ngẫu nhiên
Trang 3I TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Trong mỗi cấp học, đặc biệt là cấp Tiểu học, việc nâng cao chất lượng dạy
- học của giáo viên và học sinh bao giờ cũng là mối quan tâm hàng đầu bao trùm,chi phối mọi hoạt động khác Trong tất cả các môn học ở trường Tiểu học thì mônToán được coi là trọng tâm với số lượng tiết tương đối lớn (5 tiết/ tuần) Qua việchọc toán, học sinh bước đầu nắm được kiến thức toán học cơ bản, là cơ sở để họctốt các môn khác, giúp các em tự tin, luôn luôn vươn tới sự tìm tòi sáng tạo.Chương trình toán 5 có nhiều nội dung để tăng cường thực hành và ứng dụngkiến thức nhằm giúp học sinh học tập tích cực, linh hoạt, sáng tạo theo năng lựccủa các em Trong chương trình học của Toán lớp 5 thì dạng toán tỉ số phần trăm
là một kiến thức mới mẻ và tương đối khó đối với học sinh Để đạt được mục tiêu
mà dạng toán tỉ số phần trăm đề ra, trước hết giáo viên phải nắm vững mục tiêu,nội dung của từng bài Điều quan trọng là giáo viên phải xây dựng những phươngpháp dạy và học giúp học sinh tích cực trong hoạt động học để nắm chắc và vậndụng thành thạo nội dung trong từng bài Tuy nhiên, trong quá trình trực tiếpgiảng dạy lớp 5, Tôi nhận thấy học sinh chưa phân biệt được dạng toán tỉ số phầntrăm, nhiều học sinh còn mơ hồ khi gặp dạng toán này
Giải pháp của tôi là ”Sử dụng hệ thống công thức toán học giúp học sinhlớp 5 làm tốt dạng toán liên quan đến giải toán tỉ số phần trăm” trên cơ sở đó đềxuất một số ý kiến nhằm giúp học sinh học tốt môn Toán Giáo viên phải cóphương pháp cụ thể để tạo cho học sinh biết cách tính toán và đặc biệt là phát huytính tích cực, tự giác chủ động sáng tạo của học sinh Cụ thể là giáo viên giúphọc sinh phân biệt được ba dạng toán của Giải toán về tỉ số phần trăm là: Tìm sốlượng, tìm tổng số và tìm tỉ số phần trăm Từ đó hình thành cho học sinh hệ thốngcông thức tương ứng sau:
SL = TS : 100 x % Trong đó: SL: Số lượng
Trang 4Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương: hai lớp 5 trườngTiểu học Lê Văn Tám – Đắk Dục – Ngọc Hồi – Kon Tum Lớp 5A là thựcnghiệm và 5B là lớp đối chứng Lớp thực nghiệm được thực hiện giải pháp thaythế khi dạy các bài từ 74 đến 80 (Toán 5, nội dung “Giải toán về tỉ số phầntrăm”) Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập củahọc sinh: lớp thực nghiệm đã đạt kết quả học tập cao hơn so với lớp đối chứng.Điểm bài kiểm tra sau tác động của lớp thực nghiệm có giá trị trung bình là 7,5;điểm bài kiểm tra đầu ra của lớp đối chứng là 6,8 Kết quả kiểm chứng t-test chothấy p < 0,05 có nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp thựcnghiệm và lớp đối chứng Điều đó chứng minh rằng sử dụng phương pháp dạyhọc trên và hình thành học sinh ba công thức liên quan đến tỉ số phần trăm là cóhiệu quả.
II GIỚI THIỆU
1 Thực trạng
Qua thời gian trực tiếp giảng dạy lớp 5A- Trường Tiểu học Lê Văn Tám và thamgia dự giờ môn toán của đồng nghiệp dạy lớp 5B Trong quá trình dạy dạng toángiải toán liên quan đến tỉ số phần trăm tôi phát hiện trong lớp có em học kémdạng toán này như: A Tình, A Phúc, A Xông, Y Lộc Khang , các em đều cóchung một điểm là: Đối với dạng toán này các em không phân biệt được các dạngtoán khác nhau ở điểm nào, cách giải các bài toán đó như thế nào? Thật ra các emcòn rất mơ hồ khi gặp dạng toán này nên rất khó vận dụng vào việc giải toán.Nhiều khi các em làm đúng nhưng hỏi lại vì sao lại đúng thì các em lúng túngkhông trả lời được Vấn đề đặt ra ở đây là nó thể hiện hai mặt, một mặt việc họckém xuất pháp từ phía học sinh học mà không cố gắng cũng như không chịu tựkhám phá, tìm tòi trong lúc học tập hoặc do ý thức học tập của các em chưa cao,xác định động cơ chưa đúng… Hay bắt nguồn từ phía gia đình, hoặc giáo viênchưa có phương pháp hay hình thức học tập chưa lôi cuốn học sinh, chưa tạo điềukiện cho các em thể hiện năng lực của mình, nên hạn chế khả năng sáng tạo củahọc sinh, việc dạy và hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh tri thức là khó khăn đòi hỏi
Trang 5giáo viên phải tận tình giúp đỡ mới đạt được kết quả như mong muốn Thực tếcho thấy qua việc em được dự thao giảng 1 tiết toán do Thầy Nguyễn Tiến An:
“Giải toán về tỉ số phần trăm” tiết 75 Tiết dạy đảm bảo quy trình, truyền thụ đầy
đủ kiến thức sách giáo khoa tuy nhiên trong việc hình thành các kiến thức mới,giáo viên chưa có biện pháp học sinh phân biệt các dạng toán trong giải toán tỉ sốphần trăm, chưa có công thức để khi học sinh gặp dạng toán tương tự để học sinh
áp dụng công thức để tính Qua đây tôi tiến hành tìm hiểu nguyên nhân, các biệnpháp để giúp đỡ học sinh học toán tỉ số phần trăm như thế nào mới tốt… Và việchọc sinh kém dạng toán tỉ số phần trăm là do những nguyên nhân sau đây:
2 Nguyên nhân
- Đối tượng là học sinh dân tộc thiểu số nên chưa có sự quan tâm của gia
đình đến việc học của học sinh Các em còn ham chơi, chưa có ý thức học tập,chưa biết cách tự học và sáng tạo Học sinh học thuộc lòng, máy móc, chỉ hiểutrên lớp còn về nhà thì đã quên mất, đọc đề mà không hiểu, cũng như các emlàm biếng suy nghĩ, không tạo ra một cách học tích cực, tự mình tìm hiểu cácbài tập, tạo thói quen ngại làm bài tập khó
- Phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động dạy-học của giáo viên đốivới dạng toán liên quan đến tỉ số phần trăm còn hạn chế, chưa hình thành chohọc sinh hệ thống công thức phù hợp Dẫn đến học sinh chưa phân biệt được badạng toán về tỉ số phần trăm Một số giáo viên thiếu sự đầu tư đúng mức vềchuyên môn dẫn đến hiệu quả giờ học còn thấp, chưa đạt chuẩn kiến thức kỹnăng môn học
- Trong chương trình lớp 5, Số lượng bài học và thời gian dành cho dạngtoán tỉ số phần trăm còn ít (trong 7 bài, Từ bài 74 đến bài 80 ), chưa tương xứngvới lượng kiến thức mà chương trình yêu cấu
- Đối tượng học sinh là người dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức khôngđồng đều, hạn chế về tư duy, ý thức tự học, tự tìm tòi trong hoc tập chưa cao Trong những nguyên nhân trên, tôi nhận thấy nguyên nhân chính tác độngtrực tiếp và quan trọng đến chất lượng học sinh ở dạng toán tỉ số phần trăm đó là:
Trang 6a. Về giáo viên: Phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động dạy-họccủa giáo viên đối với dạng toán liên quan đến tỉ số phần trăm còn hạnchế, chưa hình thành cho học sinh hệ thống công thức phù hợp Dẫn đếnhọc sinh chưa phân biệt được ba dạng toán về tỉ số phần trăm và dĩ nhiênhọc sinh chưa biết áp dụng vào giải toán.
b. Về học sinh: Đối tượng học sinh là người dân tộc thiểu số, trình độ nhậnthức không đồng đều, hạn chế về tư duy, ý thức tự học, tự tìm tòi trong hoctập chưa cao
3.Giải pháp thay thế: Để thay đổi hiện trạng trên, đề tài nghiên cứu này
đã sử dụng một số biện pháp giúp học sinh phân biệt được ba dạng toán của Giảitoán về tỉ số phần trăm là: Cách tìm số lượng, tìm tổng số và tìm tỉ số phần trăm
Từ đó hình thành cho học sinh hệ thống công thức tương ứng như sau:
4 Vấn đề nghiên cứu: Việc giáo viên giúp học sinh phân biệt được ba dạng
toán của Giải toán về tỉ số phần trăm là: Tìm số lượng, tìm tổng số và tìm phầntrăm có nâng cao kết quả học tập của học sinh lớp 5 không?
5 Giả thuyết nghiên cứu: Việc giáo viên giúp học sinh phân biệt được ba
dạng toán về tỉ số phần trăm là: Tìm số lượng, tìm tổng số và tìm phần trăm;hình thành hệ thống công thức có nâng cao được chất lượng dạy học cho họcsinh lớp 5 Trường Tiểu học Lê Văn Tám Giải pháp tôi đưa ra có thể áp dụng đểđổi mới phương pháp và hình thức dạy dạng toán liên quan đến tỉ số phần trămtrong toàn huyện
III PHƯƠNG PHÁP
1 Khách thể nghiên cứu
Trang 7* Giáo viên: Hai giáo viên giảng dạy hai lớp 5 có tuổi đời và tuổi nghềtương đương nhau, có lòng nhiệt tình và trách nhiệm cao trong công tác giảngdạy và giáo dục học sinh
1 Võ Thị Liên – Giáo viên dạy lớp 5A (Lớp thực nghiệm)
2 Nguyễn Tiến An – Giáo viên dạy lớp 5B (Lớp đối chứng)
* Học sinh:
Hai lớp được chọn tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng nhau
về tỉ lệ giới tính, dân tộc Cụ thể như sau:
Bảng 1 Giới tính và thành phần dân tộc của HS 2 lớp 5 Trường TH Lê
Văn Tám
Lớp 5A : Học sinh dân tộc thiểu số chiếm: 100% học sinh cả lớp
Học sinh nữ chiếm: 47,4 % học sinh cả lớp
Lớp 5B: Học sinh dân tộc thiểu số chiếm: 95 % học sinh cả lớp
Học sinh nữ chiếm: 50 % học sinh cả lớp
Về thành tích học tập của năm học trước, hai lớp tương đương nhau vềđiểm số của tất cả các môn học
100 % học sinh của cả hai lớp được chọn tham gia thực hiện các giải pháp
nghiên cứu, trong đó: lớp 5A là nhóm thực nghiệm và 5B là nhóm đối chứng Sau
khi học xong hai bài về dạng Giải toán về tỉ số phần trăm (Bài 75) tôi đã thiết kế
đề kiểm tra để đo mức độ nhận thức, vận dụng của học sinh cả hai lớp Kết quả sẽđược sử dụng để đối chiếu, so sánh với kết quả sau khi tác động Kết quả kiểmtra cho thấy điểm trung bình của hai nhóm có sự khác nhau, do đó chúng tôi dùngphép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bìnhcủa 2 nhóm trước khi tác động
Trang 8p = 0,8 > 0,05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm
thực nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa, hai nhóm được coi là tương
đương
*Trước khi tác động ta có bảng sau:
Mốt, trung vị, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của nhóm thực nghiệm:
Áp vào công thức trong phần
Mode, trung vị, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của nhóm đối chứng:
Áp vào công thức trong phần
Bảng 3 Thiết kế nghiên cứu
đang nghiên cứu
O3
PP đang nghiên cứu
O4
ở thiết kế này, chứng tôi sử dụng phép kiểm chứng Test độc lập
3 Quy trình nghiên cứu
* Chuẩn bị bài của giáo viên:
Trang 9- Thầy An dạy lớp đối chứng: Thiết kế kế hoạch bài học không sử dụng phươngpháp hình thành công thức, quy trình chuẩn bị bài như bình thường.
- Tôi: Thiết kế kế hoạch bài học có sử dụng phương pháp giúp học sinh biết phânbiệt được ba dạng toán trong giải toán tỉ số phần trăm, kết hợp hình thành bacông thức
4 Nội dung thực hiện nghiên cứu:
Đề xuất hay thống nhất các giải pháp:
Trên cơ sở các nguyên nhân thì có những đề xuất giải pháp trên cơ sở lí luận nhưsau:
1 Đối với học sinh kém Toán cần bồi dưỡng thêm kiến thức một cách có hệthống, giáo viên cần quan tâm hướng dẫn thật sát đối với học sinh, tạo điều kiệncho các em có động lực học tập đúng đắn, khuyến khích các em cố gắng học hiểu
và vận dụng các nguyên tắc vào bài tập một cách hợp lí và chính xác Không đểcho học sinh học mà không hiểu (cũng như học thuộc lòng mà không vận dụng).giáo viên cần hướng dẫn cách tự học, lí thuyết và cách học như sau:
+ Về cách học: Học phải hiểu chứ không học thuộc lòng, máy móc, chỉhiểu trên lớp còn về nhà thì đã quên mất, làm hạn chế suy nghĩ của học sinh, đọc
đề mà không hiểu, cũng như các em làm biếng suy nghĩ, nghĩ mà không hiểu.Các em chỉ lo chơi, không tạo ra một cách học tích cực, tự mình tìm hiểu các bàitập, tạo thói quen sợ, ngại, làm bài tập khó vì theo ý nghĩ quá khó của các emnên các em không bao giờ vượt qua sự trở ngại Cho nên giáo viên và gia đìnhnên cần động viên học sinh cố gắng hết sức mình trong quá trình học tập củamình
2 Giáo viên cần:
+ Hướng dẫn bài tập một cách cận kẽ
+ Ra các bài tập cho học sinh yếu kém giải để cải thiện việc học tập của các em + Cần phối hợp với gia đình và nhà trường cho gia đình và nhà trường quan tâmhơn đến việc học hành của các em, cũng như kèm và nhắc nhở làm bài tập,hướng dẫn và chỉ bảo phát hiện kịp thời những kiến thức mà học sinh bị hỏng
Trang 10+ Giáo viên cần cho học sinh giỏi theo dõi hoặc kèm học sinh kém toán để các
em có thể kiểm tra lại mức độ kiến thức cũng như sự tiến bộ của học sinh, cần tạođôi bạn thân thiện cùng nhau học tâp để học sinh có sự tự tin trong việc học toán.+ Luôn động viên khuyến khích sự tiến bộ, cố gắng của học sinh cho dù là nhỏnhất
+ Giáo viên luôn theo dõi và quan tâm nhiều đến học sinh để từng bước uốn nắn,
hỗ trợ kiến thức cho các em để các em tự tin trước bạn
+ Giáo viên cần tổ chức các hình thức đa dạng như học nhóm, bồi dưỡng nhauhọc tập để học sinh yếu có thể hòa nhập vào tập thể, tạo sự phấn đấu vươn lên
3 Giáo viên giúp học sinh phân biệt được ba dạng toán của Giải toán về tỉ sốphần trăm là: Tìm số lượng, tìm tổng số và tìm phần trăm Từ đó hình thành chohọc sinh hệ thống công thức tương ứng sau:
để giải toán Từ đó sẽ hình thành thói quen tự tìm hiểu đề, xác định đề của họcsinh và tự mình giải đề toán
* Tiến hành dạy thực nghiệm:
Thời gian tiến hành thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhàtrường và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan Cụ thể:
Bảng 4 Thời gian thực nghiệm
Thứ ngày Môn/Lớp Tiết theo PPCT Tên bài dạy
Trang 11Bài kiểm tra trước tác động là bài thi sau khi học xong hai bài về dạng toán
tỉ số phần trăm (Tỉ số phần trăm và giải toán tỉ số phần trăm) do hai giáo viên dạylớp 5 ra đề thi hai lớp, có sự duyệt đề của tổ khối Bài kiểm tra sau tác động là bàikiểm tra sau khi học xong các bài có nội dung giải toán trong chủ đề ”Giải toán
về tỉ số phần trăm”, do 2 giáo viên dạy lớp 5A, 5B tham gia thiết kế (xem phầnphụ lục, có duyệt của tổ khối) Bài kiểm tra sau tác động gồm 5 câu hỏi trong đó
có 2 câu hỏi trắc nghiệm dạng nhiều lựa chọn và 3 câu hỏi tự luận
* Tiến hành kiểm tra và chấm bài
Sau khi thực hiện dạy xong các bài học trên, chúng tôi tiến hành bài kiểm tra 1tiết (nội dung kiểm tra trình bày ở phần phụ lục)
Sau đó 2 giáo viên tiến hành chấm bài theo đáp án đã xây dựng
IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ
Bảng 5 So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động
KT sau tác động
Trang 12đối chứng rất có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả điểm trung bình nhóm thực
nghiệm cao hơn điểm trung bình nhóm đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kếtquả của tác động
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = (7,5 – 6,8) : 1,24 = 0,5645.Điều đó cho thấy mức độ ảnh hưởng của dạy học có sử dụng công thức đến điểm
trung bình học tập của nhóm thực nghiệm là lớn.
Giả thuyết của đề tài “Sử dụng PP
để phân biệt được ba dạng toán của
Giải toán về tỉ số phần trăm là:
Tìm số lượng, tìm tổng số và tìm
phần trăm sẽ nâng cao được chất
lượng dạy học cho học sinh lớp 5
trường Tiểu học Lê Văn Tám” đã
được kiểm chứng
0 1 2 3 4 5 6 7 8
Trước TĐ Sau TĐ
Nhóm đối chứng
Nhóm thực nghiệm
Hình 1 Biểu đồ so sánh ĐTB trước tác động và sau tác độngcủa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
Trang 13chứng và thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểm điểmtrung bình cao hơn lớp đối chứng.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0,58.Điều này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn
Phép kiểm chứng T-test điểm trung bình sau tác động của hai lớp là p=0.05
< 0.05 Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của hai nhómkhông phải là do ngẫu nhiên mà là do tác động
VI KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận:
Việc sử dụng phương pháp giúp học sinh phân biệt được ba dạng toán cơ bản thuộc chủ đề “Giải toán về tỉ số phần trăm” môn Toán lớp 5 ở trường tiểu học Lê Văn Tám thay thế cho phương pháp bình thường đã nâng cao hiệu quả học tập của học sinh
2 Kiến nghị
Đối với các cấp lãnh đạo: cần quan tâm hơn nữa về công tác chuyên môn
Mở các lớp tập huấn, chuyện đề về Phương pháp giải toán ở lớp 5 Để nâng caotrình độ chuyên môn cho giáo viên trực tiếp giảng dạy
Đối với giáo viên: không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để hiểu biết về cácdạng toán Từ đó, hình thành phương pháp dạy học phù hợp với từng dạng toán
cụ thể
Với kết quả của đề tài này, tôi mong rằng các bạn đồng nghiệp quan tâm,chia sẻ và đặc biệt là đối với giáo viên cấp tiểu học có thể ứng dụng đề tài nàyvào việc dạy học giải toán tỉ số phần trăm môn Toán lớp 5 để tạo hứng thú vànâng cao kết quả học tập cho học sinh