Tuy nhiên, do nộidung chương có nhiều công thức khó nhớ, nhiều khái niệm trìu tượng, nên việc hiểubiết sâu sắc các kiến thức của chương đối với nhiều học sinh còn khó khăn, đặc biệt làvi
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN TIẾN ĐẠI
XÂY DỰNG, SOẠN THẢO VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI
TẬP CHƯƠNG "DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU" - VẬT LÍ
12 NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC
SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO
DỤC
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN TIẾN ĐẠI
XÂY DỰNG, SOẠN THẢO VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI
TẬP CHƯƠNG "DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU" - VẬT LÍ
12 NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Xây dựng, soạn thảo và sử dụng hệ thống bài tập
chương “Dòng điện xoay chiều" - Vật lí 12 nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh" là kết quả của sự nỗ lực cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, tra cứu tài liệu và sự giúp
đỡ, định hướng tận tình của PGS.TS Vũ Thị Kim Liên Các kết quả được nêu trong
luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ một côngtrình của tác giả nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với những gì mình khẳng định trên đây
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Tiến Đại
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ tậntình của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và người thân Tác giả xinđược gửi lời cảm ơn chân thành tới những người đã giúp đỡ tác giả hoàn thành luậnvăn này
Tác giả xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Thị Kim Liên người
đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Tác giả gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo trong tổ PPDH Vật lý,khoa Vật lý - Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, đã giúp đỡ, động viên tác giảtrong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn Mặc dù tác giả đã có rấtnhiều cố gắng, song khả năng có hạn nên bản luận văn không tránh khỏi những khiếmkhuyết Tác giả rất mong được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các thầy giáo, côgiáo và các bạn đọc để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới ban giám hiệu và các thầy cô giáotrường THPT Bình Giang, tổ Lý - Hóa Trường THPT Bình Giang đã tạo mọi điềukiện thuận lợi trong suốt thời gian dài học tập và nghiên cứu luận văn
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Tiến Đại
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC .iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
v MỞ ĐẦU
1 1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
5 Vấn đề nghiên cứu 2
6 Giả thuyết khoa học 2
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 2
8 Dự kiến đóng góp của đề tài
3 9 Phương pháp nghiên cứu 3
10 Dự kiến cấu trúc của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG, SOẠN THẢO VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG "DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU"- VẬT LÍ 12 NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH 5
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Cơ sở lý luận 7
1.2.1 Bài tập vật lí 7
1.2.2 Tư duy sáng tạo và việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
16 1.3 Cơ sở thực tiễn 22
1.3.1 Thực trạng hoạt động dạy học BTVL và bài tập chương "Dòng điện xoay chiều" Vật lí 12 ở trường Trung học phổ thông 22 1.3.2 Nguyên nhân, biện pháp và đề xuất phương hướng khắc phục của
Trang 6những khó khăn, trở ngại trong việc phát triển tư duy sáng tạo cho HS 26
Kết luận chương 1 29
Trang 7TẬP CHƯƠNG "DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU"- VẬT LÍ 12 VÀ MỘT SỐ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC BÀI TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN
TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH 30
2.1 Đặc điểm cấu trúc nội dung chương “Dòng điện xoay chiều"- vật lí 12
30 2.1.1 Vị trí chương “Dòng điện xoay chiều" trong chương trình vật lí trung học phổ thông 30
2.1.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương “Dòng điện xoay chiều" - vật lí 12
30 2.1.3 Mục tiêu dạy học 32
2.2 Xây dựng, soạn thảo và sử dụng hệ thống bài tập chương "Dòng điện xoay chiều"- vật lí 12 nhằm phát triển tư duy sáng tạo 33
2.2.1 Xây dựng, soạn thảo và sử dụng hệ thống bài tập 33
Kết luận chương 2 75
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 76
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 76
3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 76
3.3 Đối tượng, nội dung và tiến trình thực nghiệm sư phạm 76
3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 76
3.3.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 77
3.3.3 Tiến trình thực nghiệm sư phạm 77
3.4 Đánh giá kết quả 78
3.4.1 Kết quả định tính 78
3.4.2 Kết quả định lượng 78
3.5 Nhận xét và kết luận từ thực nghiệm sư phạm 83
Kết luận chương 3 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Viết tắt Viết đầy đủ
BT Bài tập
BTVL Bài tập vật lí
GV Giáo viên
HS Học sinh
Trang 9Sách bài tậpTHPT Trung học phổ thông
Trang 10DANH MỤC BẢNG, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Bảng:
Bảng 3.1 Bảng thống kê các điểm số kết quả bài kiểm tra 79Bảng 3.2 Bảng phân phối tần suất và bảng phân phối tần suất luỹ tích 80Bảng 3.3 Bảng tham số thống kê 80
Đồ thị:
Đồ thị 3.1 Đồ thị phân phối tần suất 82
Đồ thị 3.2 Đồ thị phân phối tần suất luỹ tích 83
Sơ đồ:
Sơ đồ 1.1: Phân loại bài tập vật lí 10
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương “Dòng điện xoay chiều” 31
Trang 11Thực tế dạy học vật lí ở một số trường THPT cho thấy chất lượng học tập Vật
lí của học sinh còn chưa cao, học sinh chưa có hứng thú học tập và đặc biệt đa số họcsinh rất ngại làm bài tập Bên cạnh đó, việc sử dụng bài tập nhằm phát triển tư duysáng tạo cho học sinh chưa được chú ý khai thác
Chương "Dòng điện xoay chiều"trong sách Vật lí 12 cung cấp nhiều kiến thức
cơ bản về dòng điện xoay chiều, là cơ sở lý thuyết của nhiều ứng dụng phổ biến vàquan trọng trong đời sống và trong các ngành kĩ thuật hiện đại Tuy nhiên, do nộidung chương có nhiều công thức khó nhớ, nhiều khái niệm trìu tượng, nên việc hiểubiết sâu sắc các kiến thức của chương đối với nhiều học sinh còn khó khăn, đặc biệt làviệc vận dụng để giải bài tập cũng như giải thích các hiện tượng thực tế và các ứngdụng phổ biến trong đời sống hàng ngày của dòng điện xoay chiều đối với các em cònkhó khăn
hơn
Nhằm góp phần khắc phục những khó khăn và hạn chế của việc dạy học bàitập Vật lí, trong đó có bài tập chương “Dòng điện xoay chiều”, từng bước nâng caochất lượng dạy và học môn Vật lí ở các trường THPT, chúng tôi chọn đề tài nghiên
cứu: "Xây dựng, soạn thảo và sử dụng hệ thống bài tập chương "Dòng điện xoay
chiều" - Vật lí 12 nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh".
Trang 122 Mục tiêu của đề tài
Xây dựng, soạn thảo và sử dụng hệ thống bài tập ''chương dòng điện xoay chiều''
- Vật lí 12 phù hợp với đối tượng học sinh, trên cơ sở đó xây dựng một số tiến trình dạy học bài tập nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy học hiện đại trong dạy học bài tập vật lí, về tưduy sáng tạo và mối quan hệ giữa hoạt động giải bài tập vật lí và hình thành năng lực
tư duy sáng tạo của học sinh
Nghiên cứu về thực trạng dạy học bài tập vật lí ở một số trường THPT hiện nay Nghiên cứu xây dựng, soạn thảo và sử dụng hệ thống bài tập về dòng điện xoay
chiều trong chương trình vật lí 12 Thiết kế một số tiến trình dạy học bài tập nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh
Tiến hành thực nghiệm sư phạm các bài tập đã xây dựng, từ đó rút ra những bàihọc kinh nghiệm, những thành công cũng như những khó khăn mà việc phát triểnnăng lực tư duy sáng tạo cho học sinh thường gặp phải và đề xuất hướng khắc phục
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là quá trình dạy học Vật lí lớp 12 THPT.
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống bài tập chương dòng điện xoay chiều vật lí
lớp 12 THPT để giảng dạy và bồi dưỡng học sinh
5 Vấn đề nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau:
- Xây dựng, soạn thảo và sử dụng hệ thống bài tập chương dòng điện xoaychiều thuộc chương trình Vật lí 12
- Hướng dẫn học sinh để giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực tư duysáng tạo khi giải quyết các bài tập vật lí
6 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được một hệ thống bài tập phù hợp với quan điểm hiện đại vềdạy học vật lí thì có thể giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực tư duy sángtạo
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Trang 13- Kiến thức: Chương "Dòng điện xoay chiều"- Vật lí 12
- Địa điểm: Một số trường THPT huyện Bình Giang - tỉnh Hải Dương
Trang 149 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu ly luận: Sưu tầm, đọc và nghiên cứu các tài
liệu về lí luận dạy học đại cương, lí luận dạy vật lí, tài liệu về các bài tập liên quanđến chương "Dòng điện xoay chiều"đang đề cập, các tài liệu thu thập được từ nhiềunguồn khác nhau như sách báo, tạp chí chuyên ngành, các công trình, đề tài nghiêncứu khoa học có nội dung liên quan
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra - khảo sát bằng
phiếu hỏi, tổng kết kinh nghiệm, xin ý kiến chuyên gia
- Nhóm phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của hệ thống bài tậpchương “Dòng điện xoay chiều” đã xây dựng, soạn thảo và sử dụng đối với việc pháttriển tư duy sáng tạo của học sinh
- Nhóm phương pháp xử ly thông tin: Định tính, định lượng, thống kê và phân
tích thống kê
10 Dự kiến cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn dự kiến được trình bày theo 3 chương:
Trang 15Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn việc xây dựng, soạn thảo và sử dụng hệ
thống bài tập chương "Dòng điện xoay chiều"- Vật lí 12 nhằm phát triển tư duy sángtạo cho học sinh
Chương 2: Xây dựng, soạn thảo và sử dụng hệ thống bài tập chương "Dòng
điện xoay chiều"- Vật lí 12 và một số tiến trình dạy học bài tập nhằm phát triển tư duysáng tạo cho học sinh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG,
SOẠN THẢO VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG "DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU"- VẬT LÍ 12 NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trong giờ học Vật lí, khi xây dựng kiến thức, học sinh mới nắm được các kháiniệm, các định lý, định luật,… một cách khái quát Nếu chỉ dừng lại ở đó, sự nhậnthức của học sinh có thể hời hợt, thiếu toàn diện và không thực tế Giai đoạn tiếp theotrong quá trình xây dựng kiến thức, học sinh phải vận dụng được những kiến thứckhái quát, trừu tượng đó vào những tình huống cụ thể rất đa dạng Nhờ thế mà họcsinh nắm được những biểu hiện rõ ràng của những kiến thức đó trong thực tế, đồngthời thấy được những ứng dụng muôn hình muôn vẻ trong kỹ thuật và đời sống Nhậnthức được điều này, nhiều giáo viên dạy Vật lý đã đầu tư thời gian và công sức đểchất lượng các giờ dạy bài tập được tăng lên
Cùng với việc nâng cao chất lượng giờ dạy bài tập thông qua kinh nghiệmgiảng dạy, trong nhiều năm qua đã có rất nhiều những nghiên cứu khoa học quan tâmđến vấn đề xây dựng và định hướng hoạt động giải bài tập Vật lý cho học sinh như:
“Phát huy tính tích cực tự lực hoạt động nhận thức của học sinh lớp 10 THPT qua rèn
“Phát triển năng lực tự lực, sáng tạo của học sinh miền núi thông qua tổ chức hoạtđộng giải bài tập Vật lí phân tử và nhiệt học ở lớp 10 Trung học phổ thông"của LụcThị Na [17]; “Lựa chọn và xây dựng tiến trình dạy học bài tập Vật lí chương “Cácđịnh luật bảo toàn" (Vật lí 10 - Cơ bản) nhằm phát triển tư duy, năng lực sáng tạo chohọc sinh trường dân tộc nội trú THPT" của Phạm Thị Phương [21]; “Xây dựng và sửdụng bài tập vật lý trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, học kiến thức mới chương
“Các định luật bảo toàn "Vật lí 10 nâng cao" của Nguyễn Thành Quê [22] Các côngtrình này đã đề cập đến việc phân dạng bài tập, xây dựng hệ thống bài tập, cácphương pháp giải bài tập… Cũng có nhiều công trình đề cập đến một số biện pháptích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, phát triển tư duy sáng tạo cho họcsinh thông qua hoạt động dạy - học bài tập Vật lí như: “Tổ chức hoạt động dạy họctheo hướng phát huy năng lực tư
Trang 1712 - THPT theo định hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh"củaNguyễn
Ngọc Cảnh Trang [31]
Với chương Dòng điện xoay chiều, đã có một số công trình quan tâm đến xâydựng hệ thống bài tập như: “Bồi dưỡng năng lực tự học và liên hệ thực tế của học sinhtrong dạy học chương "Dòng điện xoay chiều" lớp 12 trung học phổ thông"của
điện xoay chiều vật lí 12 THPT chương trình nâng cao dành cho học sinh lớpchọn"của Nguyễn Văn Nhiệm [18]; “Xây dựng tài liệu và tổ chức hướng dẫn họcsinh tự học chương "Dòng điện xoay chiều" vật lí lớp 12" của Nguyễn Thị Thu Hằng[12]; “Xây dụng và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học chương Dòng điện xoaychiều vật lí lớp 12 nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi" của Vũ Văn Phong [20] Ngoài ra
có rất nhiều sách và tài liệu về bài tập vật lí hay và chọn lọc để làm phong phú nguồntài nguyên để học sinh và giáo viên tham khảo như: “Giải toán Vật lí 12" của BùiQuang Hân [10]; “Phân loại & phương pháp giải nhanh Bài tập vật lí 12" của Lê VănThành [24]; “Phương pháp giải toán vật lí theo chủ điểm Dòng điện xoay chiều" của
"Dòng điện xoay chiều và dao động điện từ"" của tác giả Nguyễn Phú Đồng (Chủ
nghiên cứu về dạy học vật lí nhằm phát triển tư duy sáng tạo còn chưa nhiều, đặc biệt
về mảng kiến thức khá lớn và quan trọng như dòng điện xoay chiều trong chươngtrình vật lí 12 chưa thực sự được nghiên cứu đầy đủ
Để làm rõ và hoàn thiện thêm lí luận của việc phát triển tư duy sáng tạo chongười học thông qua dạy học bài tập vật lí, việc nghiên cứu xây dựng, soạn thảo và sửdụng hệ thống bài tập vật lí nói chung và bài tập chương "Dòng điện xoay chiều"nói
Trang 18riêng vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu
Trang 191.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Bài tập vật lí
1.2.1.1 Khái niệm bài tập Vật lí
Theo Phạm Hữu Tòng thì “Bài tập vật lí được hiểu là một vấn đề đặt ra đòi
hỏi phải giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật và các phương pháp vật lí" [29, tr 89].
Theo quan niệm này BTVL chỉ thuần tuý là một nhiệm vụ mà HS phải làm đểthể hiện mình nắm vững lí thuyết tới đâu Điều này rất có lí nếu coi BTVL là công cụ
để đánh giá những gì HS đã học trên lớp
1.2.1.2 Vai trò, tác dụng của bài tập Vật lí [26]
Việc giảng dạy BTVL trong nhà trường không chỉ giúp HS hiểu được một cáchsâu sắc và đầy đủ những kiến thức quy định trong chương trình mà còn giúp các emvận dụng những kiến thức đó để giải quyết những nhiệm vụ của học tập và những vấn
đề mà thực tiễn đã đặt ra
Muốn đạt được điều đó, phải thường xuyên rèn luyện cho học sinh những kỹnăng, kỹ xảo vận dụng kiến thức vào cuộc sống hằng ngày Kỹ năng vận dụng kiếnthức trong bài tập và trong thực tiễn đời sống chính là thước do mức độ sâu sắc vàvững vàng của những kiến thức mà học sinh đã thu nhận được BTVL với chức năng
là một phương pháp dạy học có một vị trí đặc biệt trong dạy học VL ở trường phổthông
Trước hết, VL là một môn khoa học giúp học sinh nắm được qui luật vận độngcủa thế giới vật chất và BTVL giúp học sinh hiểu rõ những qui luật ấy, biết phân tích
và vận dụng những qui luật ấy vào thực tiễn Trong nhiều trường hợp mặt dù người
GV có trình bày tài liệu một cách mạch lạc, hợp lôgic, phát biểu định luật chính xác,làm thí nghiệm đúng yêu cầu, qui tắc và có kết quả chính xác thì đó chỉ là điều kiệncần chứ chưa đủ để HS hiểu và nắm sâu sắc kiến thức Chỉ thông qua việc giải cácBTVL dưới hình thức này hay hình thức khác nhằm tạo điều kiện cho HS vận dụngkiến thức đã học để giải quyết các tình huống cụ thể thì kiến thức đó mới trở nên sâusắc và hoàn thiện
Trong qua trình giải quyết các tình huống cụ thể do các BTVL đặt ra, HS phải
sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừutượng hóa… để giải quyết vấn đề, do đó tư duy của học sinh có điều kiện để pháttriển Vì vậy có thể nói BTVL là một phương tiện rất tốt để phát triển tư duy, óc tưởng
Trang 20tượng, khả năng độc
Trang 21lập trong suy nghĩ và hành động, tính kiên trì trong việc khắc phục những khó khăn trong
cuộc sống của học sinh
BTVL là cơ hội để giáo viên đề cập đến những kiến thức mà trong giờ học lýthuyết chưa có điều kiện để đề cập qua đó nhằm bổ sung kiến thức cho học sinh Đặcbiệt, để giải được các bài tập Vật lí dưới hình thức trắc nghiệm khách quan học sinhngoài việc nhớ lại các kiến thức một cách tổng hợp, chính xác ở nhiều phần, nhiềuchương, nhiều cấp học thì HS cần phải rèn luyện cho mình tính phản ứng nhanh trongtừng tình huống cụ thể, bên cạnh đó HS phải giải thật nhiều các dạng bài tập khácnhau để có được kiến thức tổng hợp, chính xác và khoa học
Trong thực tiễn dạy học Vật lí, GV và HS thường rất chú trọng tới giải BTVL.Trong chương trình Vật lí phổ thông đang hiện hành, người ta cũng rất chú ý tăngcường các BTVL cả về số lượng và chất lượng vì chúng đóng vai trò quan trọng trongviệc thực hiện nhiệm vụ giáo dục phổ thông Như vậy, các tác dụng cơ bản của việc
sử dụng bài tập trọng dạy học Vật lí gồm:
triển thói quen vận dụng kiến thức một cách khái quát
Có thể thấy, việc giải các BTVL được xem là mục đích, là phương pháp dạy học Trong dạy học Vật lí, giải các BTVL đóng vai trò hết sức quan trọng, cụ thể:
cá nhân của HS như tình yêu lao động, trí tò mò, sự khéo léo, khả năng tự lực, hứngthú với học tập, ý chí và sự kiên trì đạt tới mục đích đặt ra
- Việc rèn luyện, hướng dẫn học sinh giải BTVL là biện pháp rất hiệu quảphát triển tư duy Vật lí cho HS
- Giải các BTVL đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần giáo dục kỹthuật tổng hợp cho học sinh Các BTVL gắn với cuộc sống, với kỹ thuật, với thựctiễn sản xuất thường đem lại hứng thú rõ rệt cho học sinh
Trang 22thức, kỹ năng và thói quen thực hành, cho phép mở rộng, làm sâu sắc kiến thức đãhọc
Trang 23hội hình thành thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh, phát triển tư duy biệnchứng đồng thời với tư duy lôgic hình thức
1.2.1.3 Phân loại bài tập Vật lí [27, tr.12]
Muốn khai thác hết các tính năng và tác dụng của BTVL, việc trước tiên cầnphải phân loại chúng
Theo các tác giả Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế, chia BTVL thành 4 loại: BT định tính, BT tính toán, BT đồ thị và BT thí nghiệm Cơ
sở chủ yếu mà các tác giả dựa vào để phân loại là phương tiện giải các loại bài tập ấy.Đây là cách phân loại đơn giản nhất và là cách đã được hầu hết các giáo viên VL sửdụng cho đến nay [23]
Theo Phạm Hữu Tòng, nếu dựa vào nội dung, có thể chia bài BTVL thành bàitập chuyên đề, bài tập có nội dung cụ thể, trừu tượng; Nếu dựa vào phương thức giảithì ta có bài tập định tính, bài tập tính toán, bài tập thí nghiệm, bài tập đồ thị; Nếu dựavào yêu cầu rèn luyện kỹ năng, phát triển tư duy học sinh trong quá trình dạy học thì
ta có bai tập luyện tập và bài tập sáng tạo Đây là kết quả suy nghĩ rất thấu đáo đếncác mục tiêu của BTVL của tác giả Song tác giả đưa ra ba khả năng cho cách phânloại Về mặt lí thuyết có thể chấp nhận cách đề xuất Nhưng người sử dụng thì chỉ cầnmột kiểu phân loại, gọi tên nó, đưa nó vào khai thác ở giai đoạn nào đó của bài học
BTVL còn được phân thành hai loại dựa trên cơ sở là tính chất của bài thi: trắcnghiệm khách quan (gọi tắt là trắc nghiệm) và trắc nghiệm tự luận (gọi tắt là tự luận).Như vậy lại có thêm kiểu phân loại BTVL là bài tập trắc nghiệm và bài tập tự luận.Mục tiêu của đề tài này đã nêu rõ là xây dựng, soạn thảo và sử dụng hệ thống BTVLsao cho có hiệu quả Nghĩa là chúng tôi muốn phát huy hết mọi tính năng của BTVLtrong dạy học VL Trên cơ sở nghiên cứu kế thừa việc phân loại BTVL của các nhàphương pháp vật lý, qua phân tích và kết quả nghiên cứu thực tế chúng tôi đưa racách phân loại BTVL riêng của mình để tiện sử dụng Cách phân loại này được mô tảtrên sơ đồ 1.1
Trang 24BÀI TẬP VẬT LÍ
Trang 25Phân loại theo nội dung
Phân loại theo yêu cầu phát triển tư duy
Phân loại theo phương thức cho điềukiện và phương thức giải
Phân loại hình thức làm bài
Bài tập
có nội dung lịch sử
Bài tậpvật lívui
Bài tậpluyệ ntập
Bài tập sáng tạo
Bài tập định tính
Bài tậpđịnhlượng
Bài tập thí nghiệm
Bài tập
đồ thị
Bàitậptựluận
Bài tập trắc nghiệm
Cơ Nhiệt Điện Quang Hạt nhân
Sơ đồ 1.1: Phân loại bài tập vật lí
10
Trang 26a/ Phân loại theo nội dung:
Các bài tập vật lí được phân thành: Bài tập cơ học, bài tập nhiệt học, bài tậpđiện học, bài tập quang học, bài tập hạt nhân Cách chia này cũng có tính quy ước, vìtrong nhiều trường hợp trong một bài toán có sử dụng kiến thức của nhiều phần khácnhau của giáo trình Vật lí
Các bài tập cũng có thể phân chia thành các bài tập có nội dung trừu tượng vàcác bài tập có nội dung cụ thể
Các bài tập có nội dung trừu tượng: Chứa đựng các dữ kiện dưới dạng các kíhiệu, lời giải cũng được biểu diễn dưới dạng một công thức chứa đựng ẩn số và dữkiện đã cho Ưu điểm của các bài tập này là nhấn mạnh bản chất vật lí của hiệntượng mô tả trong bài tập
Các bài tập có nội dung cụ thể: các dữ kiện cho đều dưới dạng các con số cụthể, các bài tập cụ thể mang đặc trưng trực quan gắn liền với kinh nghiệm sống củahọc sinh Ngoài ra người ta còn phân ra các bài tập có nội dung kỹ thuật, bài tập cónội dung lịch sử, bài tập vui
b/ Phân loại theo yêu cầu phát triển tư duy:
Qua việc xem xét hoạt động tư duy của học sinh trong quá trình tìm kiếm lời
giải bài tập vật lí phân chia bài tập vật lí thành hai loại: Bài tập luyện tập (cơ bản) và
Bài tập sáng tạo (phức hợp).
Bài tập luyện tập (cơ bản): là loại bài tập vật lí mà để tìm được lời giải chỉ cần
xác lập mối quan hệ trực tiếp, tường minh giữa những cái đã cho và một cái phải tìmchỉ dựa vào một kiến thức cơ bản vừa học mà học sinh chỉ cần tái hiện chứ không thể
tự tạo ra
Bài tập sáng tạo (phức hợp): là các bài tập vật lí mà trong đó, việc tìm lời giải
phải thực hiện một chuỗi lập luận lôgic, biến đổi toán học qua nhiều mối liên hệ giữanhững cái đã cho, cái phải tìm với những cái trung gian không cho trong đầu bài Việcxác lập mối liên hệ trung gian đó là một bài tập cơ bản Và do đó, muốn giải được mộtbài tập phức hợp, buộc phải giải được thành thạo các bài tập cơ bản, ngoài ra còn phảibiết cách phân tích bài tập phức hợp để quy nó về các bài tập cơ bản đã biết
c/ Phân loại theo phương thức cho điều kiện và phương thức giải:
Theo cách này, người ta sẽ phân ra thành các dạng: bài tập định tính, bài tậpđịnh lượng, bài tập thí nghiệm, bài tập đồ thị
- Bài tập định tính
Đặc điểm nổi bật của bài tập định tính là ở chỗ trong các điều kiện của bài toánđều nhấn mạnh bản chất Vật lí của hiện tượng Giải các bài tập định tính thường bằngcác lập luận logic trên cơ sở các định luật Vật lí Khi giải bài tập định tính, học sinh
Trang 27rèn được tư duy logic, khả năng phân tích hiện tượng, trí tưởng tượng khoa học, kĩ năng
vận dụng kiến thức Vì vậy việc luyện tập tốt nên bắt đầu từ bài tập định tính
- Bài tập định lượng (Bài tập tính toán)
Bài tập định lượng là những bài tập khi giải phải sử dụng các phương phápToán học (dựa trên các định luật và quy tắc, thuyết vật lí,…) Đây là dạng bài tập phổbiến, sử dụng rộng rãi trong chương trình Vật lí phổ thông Dạng bài tập này có ưuđiểm lớn là làm sâu sắc các kiến thức của học sinh, rèn luyện cho học sinh phươngpháp nhận thức đặc thù của Vật lí, đặc biệt là phương pháp suy luận Toán học
- Bài tập thí nghiệm
Đây là dạng bài tập trong đó thí nghiệm là công cụ được sử dụng để tìm các đạilượng cần cho giải bài toán, cho phép đưa ra lời giải hoặc là công cụ kiểm tra các tínhtoán phù hợp ở mức độ nào với điều kiện bài toán Công cụ đó có thể là một thínghiệm biểu diễn hoặc một thí nghiệm thực tập của học sinh
- Bài tập đồ thị
Bài tập đồ thị là dạng bài tập phân tích đồ thị từ đó tìm các điều kiện giải bàitoán Dạng bài tập này rèn kĩ năng đọc và vẽ đồ thị cho học sinh Việc áp dụngphương pháp đồ thị cho phép diễn đạt trực quan hiện tượng Vật lí, cho cách giải trựcquan hơn, phát triển kĩ năng vẽ và sử dụng đồ thị là các kĩ năng có tác dụng sâu sắctrong kĩ thuật
d/ Phân loại theo hình thức làm bài
- Bài tập trắc nghiệm tự luận (Bài tập tự luận)
Như phân tích ở trên:
Đối với bài tập định tính: Đặc điểm nổi bật là ở chỗ ta không cần tính toánnhiều mà chủ yếu thường bằng các lập luận logic trên cơ sở các định luật Vật lí Khigiải bài tập định tính, học sinh rèn được tư duy logic, khả năng phân tích hiện tượng,trí tưởng tượng khoa học, kĩ năng vận dụng kiến thức
Đối với bài tập định lượng: Đây là dạng bài tập phổ biến, sử dụng rộng rãitrong chương trình Vật lí phổ thông Dạng bài tập này có ưu điểm lớn là làm sâu sắccác kiến thức của học sinh, rèn luyện cho học sinh phương pháp nhận thức đặc thùcủa Vật lí, đặc biệt là phương pháp suy luận Toán học
Trang 28- Bài tập trắc nghiệm khách quan (Bài tập trắc nghiệm)
Trang 29Bài tập trắc nghiệm khách quan là tổng hợp của 4 loại bài tập ở trên Loại bàitập này thường dùng để kiểm tra kiến thức trong phạm vi rộng, số lượng người đượckiểm tra nhiều, kết quả thu được khách quan không phụ thuộc vào người chấm Bàitập này yêu cầu học sinh phải nhớ, hiểu và vận dụng đồng thời rất nhiều các kiến thứcliên quan Mặt khác nó còn có tác dụng cho việc phát triển các hoạt động tư duy phântích, so sánh và các suy luận logic
1.2.1.4 Các bước giải bài tập Vật lí [25], [30]
Mục tiêu cần đạt tới khi giải một bài tập vật lí là tìm được câu trả lời đúng đắn
và hiểu rõ bản chất vật lí
Quá trình giải một bài tập vật lí thực chất là quá trình tìm hiểu điều kiện củabài tập, xem xét hiện tượng vật lí được đề cập và dựa trên kiến thức vật lí toán để nghĩtới những mối quan hệ có thể có của cái đã cho và cái phải tìm, sao cho có thể thấyđược cái phải tìm có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với cái đã cho Từ đó tìm ra mốiliên hệ tường minh giữa cái cần tìm và cái đã biết, tức là tìm được lời giải đáp
Cũng khó có thể đưa ra một phương pháp chung để giải bài tập vật lí có tính vạn
năng để áp dụng cho việc giải một bài tập cụ thể
Ở đây chỉ đưa ra sơ đồ định hướng chung (gồm các bước) để tiến hành giảimột bài tập vật lí (HS đã được làm quen từ THCS) Dựa các bước để tiến hành giảimột bài tập GV có thể kiểm tra hoạt động của HS và giúp HS phát triển năng lực tưduy có hiệu
quả
Bước 1: Tìm hiểu đề bài
Bước 2: Xác lập các mối liên hệ cơ bản giữa các dữ kiện đã cho với đại lượngcần tìm
Bước 3: Luận giải rút ra các kết quả cần tìm
Bước 4: Kiểm tra và biện luận kết quả
1.2.1.5 Hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí [25], [30]
Muốn cho việc hướng dẫn giải bài tập một cách đúng đắn giáo viên phải phântích được phương pháp giải bài tập cụ thể bằng cách vận dụng những hiểu biết về tưduy giải bài tập vật lí Mặt khác phải xuất phát từ mục đích sư phạm cụ thể của việccho HS giải bài tập để xác định kiểu hướng dẫn phù hợp Nội dung trên được minhhọa bằng sơ đồ sau:
Trang 30BT cụthể
Trang 31Sau đây chúng ta sẽ đề cập đến các kiểu hướng dẫn giải bài tập vật lí theo cácmục đích sư phạm khác nhau
Mức độ 1 Hướng dẫn theo mẫu (Hướng dẫn angôrit) là sự hướng dẫn chỉ rõ
cho HS những hành động cụ thể cần thực hiện và trình tự thực hiện các hành động đó
để đạt được kết quả mong muốn Những hành động này được coi là những hành động
sơ cấp HS phải hiểu một cách đơn giá, HS đã nắm vững, nếu thực hiện theo các bước
đã quy định theo con đường đó HS sẽ giải được bài tập đã cho
Kiểu định hướng theo mẫu đòi hỏi GV phải phân tích một cách khoa học việcgiải bài toán, xây dựng hệ thống câu hỏi định hướng để xây dựng angôrit giải bài tập
Kiểu hướng dẫn theo mẫu nhằm luyện tập cho HS kĩ năng giải một loại bài tậpnào đó.khi xây dựng các angôrit giải cho từng loại bài tập cơ bản,điển hình nào đó (ví
dụ bài tập động học, động lực học, ) thông qua việc giải toán HS nắm được cácangôrit giải cho từng loại bài tập
Mức độ 2 Hướng dẫn tìm tòi Là kiểu hướng dẫn mang tính chất gợi ý cho
học sinh suy nghĩ tìm tòi phát hiện cách giải quyết, không phải là GV chỉ dẫn cho họcsinh hành động theo mẫu đã có mà GV gợi mở để HS tự tìm cách giải quyết
HS tự xác định các hành động cần thực hiện để đạt được kết quả Kiểu định hướng nàyđảm bảo yêu cầu phát triển tư duy của HS, tạo điều kiện để HS tự lực tìm tòi cách giảiquyết
Khó khăn của kiểu định hướng tìm tòi chính là ở chỗ hướng dẫn của GV phảilàm sao không đưa HS thực hiện các hành động theo mẫu mà phải có tác dụng hướng
tư duy của HS vào phạm vi cần và có thể tìm tòi phát hiện cách giải quyết vấn đề củabài tập
Mức độ 3 Định hướng khái quát chương trình hóa Là kiểu hướng dẫn học
sinh tự tìm cách giải quyết Nét đặc trưng của kiểu hướng dẫn này là GV định hướnghoạt động tư duy của HS theo đường lối khái quát hóa giải quyết vấn đề Sự địnhhướng ban đầu đòi hỏi sự tự lực tìm tòi giải quyết của HS Nếu HS gặp trở ngạikhông vượt
Trang 32qua được để tìm cách giải quyết thì GV phát triển định hướng khái quát ban đầu, cụthể hóa thêm một bước bằng cách gợi ý thêm cho HS để thu hẹp hơn phạm vi tìm tòi,giải quyết vấn đề Nếu HS vẫn không giải quyết được thì GV chuyển dần hướng dẫntheo mẫu giúp HS hoàn thành yêu cầu của một bước, sau đó yêu cầu HS tự lực, tìmtòi giải quyết bước tiếp theo Cứ như thế cho đến khi giải quyết xong vấn đề đặt ra
Kiểu hướng dẫn khái quát chương trình hóa trong hoạt động giải BTVL của HSnhằm phát huy tính độc lập, tự lực thực hiện các hành động tư duy đồng thới dạy cho
HS cách tư duy
1.2.1.6 Nguyên tắc lựa chọn bài tập vật lí [26], [30]
Trong thực tế dạy học Vật lí người giáo viên thường xuyên phải thực hiện côngviệc lựa chọn và tìm cách vận dụng các bài tập Vật lí sao cho phù hợp với mục tiêudạy học của mỗi loại bài học, của công việc (như kiểm tra, giờ luyện tập, ) Khi đóviệc lựa chọn hệ thống các bài tập cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Nội dung các bài tập phải phù hợp với nội dung các kiến thức cơ bản và kỹnăng giải bài tập của học sinh
- Các bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản tới phức tạp… giúp cho họcsinh xây dựng được phương pháp giải các loại bài tập điển hình
- Mỗi bài tập phải là một mắt xích trong hệ thống bài tập, đóng góp vào việccủng cố, hoàn thiện và mở rộng kiến thức cho học sinh
- Trong hệ thống bài tập cần bao gồm nhiều loại như: Bài tập giả tạo (là loại bàitập mà nội dung của nó không sát với thực tế), các bài tập trừu tượng và các bài tập cónội dung thực tế, bài tập luyện tập và các bài tập sáng tạo, bài tập cho thừa hoặc thiếu
dữ kiện, bài tập mang tính chất ngụy biện và nghịch lí, bài tập có nhiều cách giải khác
nhau.
- Các bài tập phải đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh đại trà, đồng thời cóchú ý tới sự phân hoá học sinh Biện pháp để cá biệt hoá học sinh trong việc giải cácbài tập Vật lí:
- Biến đổi mức độ yêu cầu của bài tập với các đối tượng học sinh khác nhaunhư mức độ trừu tượng của đề bài, loại vấn đề cần giải quyết, phạm vi, tính phức tạpcủa các số liệu cần xử lí, số lượng các thao tác tư duy logic và các phép biến đổi Toánhọc phải sử dụng, phạm vi và mức độ kiến thức, kĩ năng cần huy động; Biến đổimức độ
Trang 33Việc lựa chọn hệ thống các bài tập phù hợp không chỉ đóng góp vào việc củng
cố, hoàn thiện và mở rộng kiến thức cho học sinh mà còn giúp phát triển tư duy sángtạo cho học sinh
1.2.2 Tư duy sáng tạo và việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
1.2.2.1 Khái niệm về tư duy
Theo từ điển tiếng Việt phổ thông: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình
nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình ảnh như biểu tượng, khái niệm, phán đoán, suy ly” [19].
Theo từ điển triết học: “Tư duy là sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ
chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực phản ánh thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, ly luận,… Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất của con người và phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp với quy luật của thực tại” [34].
Theo quan niệm của tâm lý học: “Tư duy là một quá trình tâm ly thuộc nhận
thức ly tính, là một mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác và tri giác Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết” [6]
Tóm lại, Tư duy là sản phẩm của não bộ con người, là quá trình phản ánh tíchcực thế giới khách quan vào trong bộ não người Kết quả của tư duy bao giờ cũng làmột là một ý nghĩ và được thể hiện qua ngôn ngữ
1.2.2.2 Các đặc điểm cơ bản của tư duy
Tính có vấn đề của tư duy
Tư duy chỉ xuất hiện khi gặp những tình huống có vấn đề Tức là những tìnhhuống chứa đựng một mục đích, một vấn đề mới mà những hiểu biết cũ, phươngpháp cũ không đủ sức giải quyết Để đạt được mục đích mới đó con người phải tìmcách thức mới để giải quyết vấn đề, nghĩa là phải tư duy Để quá trình tư duy đượcdiễn ra thì đòi hỏi cá nhân phải nhận thức một cách đầy đủ, chuyển thành nhiệm vụcủa cá nhân
Trang 34Tính gián tiếp của tư duy
Con người sử dụng ngôn ngữ để tư duy, nhờ ngôn ngữ mà con người sử dụngcác kết quả nhận thức vào quá trình tư duy để nhận thức được bản chất sự việc, hiệntượng Nhờ có tính gián tiếp của tư duy mà con người có thể mở rộng không giới hạnnhững khả năng nhận thức của của con người
Tính trừu tượng, khái quát của tư duy
Tư duy không phản ánh những sự vật, hiện tượng một cách cụ thể, riêng lẻ mà
có khả năng trừu xuất khỏi sự vật, hiện tượng những thuộc tính, những dấu hiệu cábiệt cụ thể, chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất chung cho nhiều sự vật và hiệntượng Từ đó khái quát các sự vật, hiện tượng riêng lẻ có những thuộc tính chungthành một loại, một phạm trù hoặc một nhóm Tính trừu tượng và khái quát của tưduy không những giúp con người giải quyết được nhiệm vụ hiện tại mà còn giải quyếtđược những nhiệm vụ tương lai
Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ
Tư duy có quan hệ không thể tách rời mới ngôn ngữ Nếu không có ngôn ngữthì quá trình tư duy của con người không thể diễn đạt được Ngược lại, ngôn ngữđược hình thành nhờ có tư duy Vì vậy phát triển tư duy phải gắn liền với việc rènluyện ngôn ngữ chính xác
Tư duy có mối quan hệ mật thiết với nhận thức
Tư duy là kết quả của nhận thức, đồng thời là sự phát triển cấp cao của nhậnthức Tư duy ảnh hưởng mạnh mẽ, chi phối khả năng phản ánh của nhận thức làm conngười nhạy bén hơn
1.2.2.3 Các giai đoạn của quá trình tư duy
Quá trình tư duy gồm các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Xác định vấn đề và biểu đạt vấn đề
Giai đoạn 2: Huy động các tri thức và kinh nghiệm
Giai đoạn 3: Sàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết
Giai đoạn 4: Kiểm tra giả thuyết
Giai đoạn 5: Giải quyết nhiệm vụ
Trang 351.2.2.4 Các loại hình tư duy
Dựa trên những tiêu chí khác nhau nên có nhiều các phân loại tư duy Đồngthời do không có ranh giới rõ ràng giữa các loại hình tư duy nên khó có thể phân chiacác loại hình tư duy một cách triệt để Tuy nhiên có thể gặp hai cách phân loại tư duythường sử dụng là:
Phân loại tư duy theo đối tượng của tư duy
- Tư duy chính trị
- Tư duy kinh tế
- Tư duy văn học
- Tư duy toán học
- Tư duy nghệ thuật
Phân loại tư duy theo đặc trưng của tư duy
- Tư duy cụ thể
- Tư duy trừu tượng
- Tư duy logic
- Tư duy biện chứng
- Tư duy sáng tạo
- Tư duy phê phán
1.2.2.4 Khái niệm về tư duy sáng tạo
Theo từ điển Tiếng Việt: “Sáng tạo là tạo ra những giá trị mới về vật chất
hoặc tinh thần; hay tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có” [19] Nội dung của sáng tạo gồm hai ý chính có tính mới (khác cái cũ,
cái đã biết) và có lợi ích (giá trị hơn cái cũ) Như vậy sự sáng tạo cần thiết cho bất kỳhoạt động nào của xã hội loài người Sáng tạo thường được nghiên cứu trên nhiềuphương diện như là một quá trình phát sinh cái mới trên nền tảng cái cũ, như một kiểu
tư duy, như là một năng lực của con người
Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về tư duy sáng tạo Nhà
tâm lý học người Đức Mehlhow cho rằng "Tư duy sáng tạo là hạt nhân của sự sáng
tạo cá nhân, đồng thời là mục tiêu cơ bản của giáo dục" (dẫn theo [25] Theo ông, tư
duy sáng tạo được đặc trưng bởi mức độ cao của chất lượng, hoạt động trí tuệ như tínhmềm dẻo, tính nhạy cảm, tính kế hoạch, tính chính xác
Trang 36Theo Vũ Dung (Từ điểm Tâm lý học - NXB Khoa học xã hội, 2000) “Tư duy
sáng tạo là một kiểu tư duy, đặc trưng bởi sự sản sinh ra sản phẩm mới và xác lập các thành phần mới của hoạt động nhận thức nhằm tạo ra nó Các thành phần mới này có liên quan đến miền động cơ, mục đích, đánh giá, các y tưởng của chủ thể sáng tạo Tư duy sáng tạo được phân biệt với áp dụng các tri thức và kỹ năng sẵn có” [6]
Có thể nói đến tư duy sáng tạo khi học sinh tự khám phá, tự tìm cách chứngminh mà học sinh đó chưa biết đến Bắt đầu từ tình huống gợi vấn đề, tư duy sáng tạogiải quyết mâu thuẫn tồn tại trong tình huống đó với hiệu quả cao, thể hiện ở tính hợp
lý, tiết kiệm, tính khả thi và cả ở vẻ đẹp của giải pháp Nói chung tư duy sáng tạo làmột dạng tư duy độc lập, tạo ra ý tưởng mới độc đáo và có hiệu quả giải quyết vấn đềcao
1.2.2.5 Các đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo [21]
Rubinstein cho rằng tư duy sáng tạo bắt đầu bằng một tình huống gợi vấn đề.Sáng tạo bắt đầu từ thời điểm khi các phương pháp lôgíc để giải quyết các nhiệm vụ
là không đủ, hoặc vấp phải trở ngại, hoặc kết quả không đáp ứng các đòi hỏi đặt ra từđầu hoặc xuất hiện giải pháp mới tốt hơn giải pháp cũ Bắt đầu từ tình huống gợi vấn
đề, tư duy sáng tạo giải quyết mâu thuẫn tồn tại trong tình huống đó với hiệu quảcao, thể hiện ở tính hợp lí, tiết kiệm, tính khả thi và cả vẻ đẹp của giải pháp
Theo nghiên cứu của các nhà tâm lý học, giáo dục học,… về cấu trúc của tư duy
sáng tạo, có năm yếu tố cơ bản sau:
- Tính mềm dẻo (Flesibility)
- Tính nhuần nhuyễn (Fluency)
- Tính độc đáo (Originality)
- Tính hoàn thiện (Elaboration)
- Tính nhạy cảm vấn đề (Problem’s Censibility)
Ngoài ra còn có những yếu tố quan trọng khác như: tính chính xác, năng lựcđịnh giá, phán đoán, năng lực định nghĩa lại (Redefition)
Tính mềm dẻo
Tính mềm dẻo của tư duy là năng lực thay đổi dễ dàng, nhanh chóng trật tự của
hệ thống tri thức từ góc độ quan niệm này sang góc độ quan niệm khác, định nghĩa lại
sự vật hiện tượng, gạt bỏ sơ đồ tư duy có sẵn và xây dựng phương pháp tư duy mới,tạo ra sự vật mới trong những quan hệ mới, hoặc chuyển đổi quan hệ và nhận ra bản
Trang 37chất sự vật và phán đoán Tính mềm dẻo của tư duy còn làm thay đổi một cách dễdàng các thái độ cố hữu
Trang 38Tính nhuần nhuyễn
Tính nhuần nhuyễn của tư duy thể hiện ở năng lực tạo ra một cách nhanhchóng giữa sự tổ hợp giữa các yếu tố riêng lẻ của các tình huống, hoàn cảnh, đưa ragiả thuyết mới Các nhà tâm lí học coi yếu tố chất lượng của ý tưởng sinh ra làm tiêuchí để đánh giá sáng tạo
Tính nhuần nhuyễn được đặc trưng bởi khả năng tạo ra một số lượng nhất địnhcác ý tưởng Số ý tưởng nghĩ ra càng nhiều thì càng có nhiều khả năng xuất hiện ýtưởng độc đáo Trong trường hợp này số lượng làm nảy sinh chất lượng
Tính nhuần nhuyễn còn được thể hiện rõ nét ở hai đặc trưng sau:
Một là tính đa dạng của các cách xử lí khi giải toán, khả năng tìm được nhiềugiải pháp trên nhiều góc độ và tình huống khác nhau Đứng trước một vấn đề phảigiải quyết, người có tư duy nhuần nhuyễn thường nhanh chóng tìm và đề xuất đượcnhiều phương án khác nhau, từ đó tìm ra phương án tối ưu
Hai là khả năng xem xét đối tượng dưới nhiều khía cạnh khác nhau, có cái nhìnsinh động từ nhiều phía đối với sự vật và hiện tượng, tránh cái nhìn phiến diện, bấtbiến, cứng nhắc
Tính độc đáo
Tính độc đáo của tư duy được đặc trưng bởi các khả năng:
Khả năng tìm ra những hiện tượng và những kết hợp mới
Khả năng tìm ra những mối liên hệ trong những sự kiện mà bề ngoài tưởng nhưkhông có liên hệ với nhau
Trang 39Khả năng tìm ra những giải pháp lạ tuy đã biết những giải pháp khác
Trang 40Các yếu tố cơ bản trên không tách rời nhau mà trái lại chúng có quan hệ mậtthiết với nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau Khả năng dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệnày này sang hoạt động trí tuệ khác (tính mềm dẻo) tạo điều kiện cho việc tìm đượcnhiều giải pháp trên nhiều góc độ và tình huống khác nhau (tính nhuần nhuyễn) Nhờ
đó có thể đề xuất được nhiều phương án khác nhau và tìm được giải pháp lạ, đặc sắc(tính độc đáo) Các yếu tố này có quan hệ khăng khít với các yếu tố khác như: Tínhchính xác, tính hoàn thiện, tính nhạy cảm vấn đề Tất cả các yếu tố đặc trưng nói trêncùng góp phần tạo nên tư duy sáng tạo - đỉnh cao nhất trong các hoạt động trí tuệ củacon người
Tính hoàn thiện
Tính hoàn thiện là khả năng lập kế hoạch, phối hợp các ý nghĩ và hành động,phát triển ý tưởng, kiểm tra và kiểm chứng ý tưởng
Tính nhạy cảm vấn đề
Tính nhạy cảm vấn đề có các đặc trưng sau:
Khả năng nhanh chóng phát hiện ra vấn đề
Khả năng phát hiện ra mâu thuẫn, sai lầm, thiếu lôgíc, chưa tối ưu hoá từ đó cónhu cầu cấu trúc lại, tạo ra cái mới
1.2.2.6 Các biểu hiện về tư duy sáng tạo của học sinh qua việc giải BTVL
Trên cơ sở phân tích khái niệm tư duy sáng tạo cùng các đặc trưng cơ bản của
tư duy sáng tạo Theo chúng tôi các biểu hiện về tư duy sáng tạo của học sinh quaviệc giải bài tập vật lí là dựa vào quan điểm bồi dưỡng từng yếu tố cụ thể của tư duysáng tạo cho học sinh Các biểu hiện này được thể hiện qua:
- Tính mềm dẻo được thể hiện ở chỗ là HS biết linh hoạt vận dụng các côngthức, định nghĩa, định luật VL để áp dụng cho một tình huống cụ thể trong BTVL
- Tính nhuần nhuyễn được thể hiện ở chỗ là khả năng kết hợp các kiến thức VLnhư các công thức, định nghĩa, định luật VL để giải BTVL
- Tính độc đáo được thể hiện ở chỗ là từ các dạng toán và cách giải quen thuộc,
HS phát hiện ra những cách giải BTVL khác mới lạ
- Tính hoàn thiện được thể hiện ở chỗ là HS có khả năng kết hợp được mối liên
hệ giữa đại lượng đã biết với các đại lượng cần tìm từ đó lập được sơ đồ luận giảicũng như kiểm tra và biện luận kết quả của BTVL