Tiều luận nhóm về rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
PHẦN I: LÝ LUẬN VỀ NHỮNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 2
1 RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 2
1.1 Khái niệm về rủi ro 2
1.2 Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng 2
1.3 Rủi ro tồn tại khách quan trong hoạt động ngân hàng 2
2 NHỮNG RỦI RO ĐẶC THÙ TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 3
2.1 Rủi ro tín dụng 3
2.2 Rủi ro lãi suất 4
2.3 Rủi ro hối đoái 4
2.4 Rủi ro thanh khoản 5
2.5 Một số rủi ro khác 5
PHẦN II : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG CỦA VIỆT NAM NĂM 2011 VÀ BIỆN PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 6
1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM NĂM 2011 6
1.1 Bức tranh hoạt động Ngân hàng năm 2011 6
1.2 Nhận dạng vấn đề rủi ro của ngân hàng 8
1.2.1 Rủi ro tín dụng 8
1.2.2 Rủi ro thanh khoản 9
1.2.3 Rủi ro chính sách 10
2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO 10
2.1 Biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng 10
2.2 Biện pháp làm giảm rủi ro lãi suất 11
2.3 Các biện pháp làm giảm rủi ro hối đoái 12
2.4 Các biện pháp làm giảm rủi ro thanh khoản 14
KẾT LUẬN 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Sự ra đời hoạt động ngân hàng đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử phát triển
và tiến bộ của con người Vai trò to lớn của hoạt động ngân hàng đối với sự phát triển nền kinh tế và xã hội được xuất phát từ chính những đặc trưng của nó Hoạt động kinh doanh ngân hàng là một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt bởi hàng hoá trong quá trình kinh doanh là tiền tệ, đây là loại hàng hoá đặc biệt và rất nhạy cảm Chính tính đặc biệt riêng
có này của tiền tệ mà hoạt động kinh doanh ngân hàng vừa là một loại hoạt động đem lại hiệu quả rất lớn đối với nền kinh tế, vừa là một lĩnh vực mà khả năng xảy ra rủi ro rất cao
Nghiên cứu về rủi ro trong hoạt động ngân hàng là một việc làm hết sức cần thiết đối với hệ thống ngân hàng thương mại của Việt Nam Việc nghiên cứu này sẽ cho ta thấy rõ được các loại rủi ro, nguyên nhân xuất hiện các rủi ro này, hậu quả của nó và từ
đó đề ra các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro, giảm thiểu tổn thất, nâng cao hiệu quả hoạt động cho hệ thống ngân hàng Xuất phát từ những vấn đề trong lý thuyết cũng như thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, nhóm chúng em mạnh
dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Rủi ro hoạt động trong kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam”
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do kiến thức còn hạn chế nên bài viết của nhóm sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót cần bổ sung Chúng em rất mong nhận được sự góp
ý của Thầy và các bạn để bài viết được hoàn chỉnh hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3PHẦN I:
LÝ LUẬN VỀ NHỮNG RỦI RO HOẠT ĐỘNG TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1 RỦI RO HOẠT ĐỘNG TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1.1 Khái niệm về rủi ro
Rủi ro trong kinh doanh được hiểu là những thiệt hại trong kinh doanh có thể nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị kinh doanh
Từ đó ta có nhận xét:
- Không được coi tất cả các thiệt hại trong kinh doanh là rủi ro trong kinh doanh
- Mức độ rủi ro phụ thuộc nhiều vào trình độ quản lý thực có của đơn vị
- Rủi ro được gây ra bởi nhiều nguyên nhân: khách quan, chủ quan, có rủi ro bất khả kháng và rủi ro tự nhiên, nhưng dù là loại rủi ro nào cũng đều có khả năng phòng ngừa với các biện pháp có thể khác nhau
1.2 Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Rủi ro là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định
Nhận xét:
- Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một khoảng giá trị nhất định
- Khi đề cập đến rủi ro người ta thường đề cập đến hai yếu tố mang tính đặc trưng:
+ Biên độ rủi ro: thể hiện mức độ thiệt hai do rủi ro gây ra
+ Tần suất xuất hiện rủi ro bằng KP/P KP: số trường hợp thuận lợi để rủi ro xuất hiện P: số trường hợp đồng khả năng
1.3 Rủi ro tồn tại khách quan trong hoạt động ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường với xu hướng hội nhập sâu rộng, kinh doanh và rủi ro
là hai phạm trù cặp đôi Môi trường kinh doanh hiện tại tạo điều kiện đa dạng hoá các thành phần kinh tế, tạo sự bình đẳng trong hoạt động của các thành phần này và thúc đẩy
sự cạnh tranh lẫn nhau một cách lành mạnh Rủi ro tuy là sự bất trắc gây thiệt hại không mong đợi song lại là hiện tượng đồng hành với các hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, trong quá trình cạnh tranh Rủi ro xuất hiện ở những điểm yếu, kém hiệu quả, mất cân đối trong phát triển kinh tế Rủi ro vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả của những hoạt động kinh tế không có hiệu quả Nó tạo tiền đề cho quá trình đào thải tự nhiên của các
Trang 4doanh nghiệp yếu kém, thúc đẩy sự chấn chỉnh, thích nghi của các doanh nghiệp, tạo xu hướng phát triển ổn định và có hiệu quả cho nền kinh tế
Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng Thương mại cũng không nằm ngoài sự tác động trên Thậm chí với hoạt động ngân hàng, hầu như không có loại nghiệp vụ nào, không có loại dịch vụ nào của ngân hàng là không
có rủi ro bởi một lẽ là hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế thị trường là một hoạt động rất nhạy cảm, mọi biến động trong nền kinh tế - xã hội đều nhanh chóng tác động đến hoạt động ngân hàng, có thể gây nên những xáo trộn bất ngờ và dẫn đến hiệu quả của ngân hàng bị giảm sút một cách nhanh chóng Do vậy, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại luôn chứa đựng những rủi ro “tiềm ẩn”, nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào
Hoạt động kinh doanh ngân hàng là một lĩnh vực đặc biệt do hàng hoá của nó là tiền tệ - loại hàng hoá có tính nhạy cảm và sức cuốn hút rất lớn; vì vậy mà rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng rất lớn và đa dạng Do vậy, nhận thức rõ từng loại rủi ro, đề ra những biện pháp ngă n chặn phòng chống hữu hiệu để hạn chế thấp nhất rủi ro luôn là vấn
đề cấp bách thường xuyên liên tục tồn tại song song với hoạt động của ngân hàng
2 NHỮNG RỦI RO CHỦ YẾU TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG
2.1 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.
Rủi ro tín dụng là loain rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Rủi ro tín dụng có muôn hình muôn vẻ, với nhiều hình thái, cung bậc khác nhau, chúng tiềm ẩn trong suốt quá trình trước, trong và sau khi cho vay và biểu hiện ra bên ngoài là món vay không thu hồi được, nợ quá hạn, nợ khó đòi, mất vốn
Nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng chủ yếu là nguyên nhân từ phía khách hàng vay, nguyên nhân từ phía ngân hàng và những nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân từ phía khách hàng vay đó là: khả năng tự chủ tài chính kém, năng lực điều hành yếu, hệ thống quản trị kinh doanh không hiệu quả, trình độ quản lý của khách hàng yếu kém dẫn đến việc sử dụng vốn vay kém hiệu quả hoặc thất thoát ảnh hưởng đến khả năng trả nợ
Nguyên nhân từ phía ngân hàng như: cán bộ ngân hàng không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và các điều kiện cho vay; Chính sách và qui trình cho vay chưa chặt chẽ, chưa có qui trình quản trị rủi ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng để tính toán điều kiện vay và khả năng trả nợ; Năng lực dự báo, phân tích và thẩm định tín dụng, phát hiện và xử lý khoản vay có vấn đề của cán bộ tín dụng còn rất yếu nhất là đối với ngành đòi hỏi hiểu biết chuyên môn cao dẫn đến sai lầm
Trang 5trong quyết định cho vay; Thiếu thông tin về khách hàng hay thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời chính xác để xem xét phân tích trước khi cấp tín dụng
Nguyên nhân khách quan như thiên tai, hỏa hoạn, do sự thay đổi của các chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh qui hoạch vùng, ngành, do hành lang pháp lý chưa phù hợp, do biến động thị trường trong và ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hóa thay đổi… khiến doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn tài chính không thể khắc phục được Từ đó doanh nghiệp dù có thiện chí nhưng vẫn không thể trả được nợ ngân hàng
2.2 Rủi ro về lãi suất
Rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất, đó là:
Thứ nhất, khi xuất hiện sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản và nợ Cụ thể, trường hợp ngân hàng huy động vốn ngắn hạn để cho vay, đầu tư dài hạn Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động trong những năm tiếp theo tăng lên trong khi lãi suất cho vay và đầu tư dài hạn không đổi Hay là trường hợp ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài để cho vay, đầu tư với kỳ hạn ngắn Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động trong những năm tiếp theo không đổi trong khi lãi suất cho vay và đầu tư giảm xuống
Thứ hai, do các ngân hàng áp dụng các loại lãi suất khác nhau trong quá trình huy động vốn và cho vay Nếu ngân hàng huy động vốn với lãi suất cố định để cho vay, đầu tư với lãi suất biến đổi Khi lãi suất giảm, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì chi phí lãi không đổi trong khi thu nhập lãi giảm dẫn đến lợi nhuận của ngân hàng giảm Hoặc là trong trường hợp ngân hàng huy động vốn với lãi suất biến đổi để cho vay, đầu tư với lãi suất cố định Khi lãi suất tăng, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì chi phí lãi tăng theo lãi suất thị trường, trong khi thu nhập lãi không đổi dẫn đến lợi nhuận của ngân hành giảm
Thứ ba, do tỷ lệ lạm phát dự kiến không phù hợp với tỷ lệ lạm phát thực tế do đó vốn của ngân hàng không được bảo toàn sau khi cho vay
2.3 Rủi ro tỷ giá hối đoái
Rủi ro tỷ giá hối đoái trong hoạt động ngân hàng là rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay ngoại tệ hoặc quá trình kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá biến động theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tỷ giá tại các ngân hàng bao gồm:
Nguyên nhân chủ quan: Do trạng thái ngoại hối của ngân hàng không tương xứng, tức là có sự chênh lệch giá trị tài sản Có và giá trị tài sản Nợ ngoại hối hoặc chênh lệch giữa doanh số mua vào và bán ra của đồng tiền nước ngoài Từ sự không cân xứng đó, khi ngân hàng thực hiện mua và bán ngoại tệ cho khách hàng hoặc cho chính ngân hàng nhằm
Trang 6mục đích đầu cơ kiếm lãi thì rủi ro sẽ xuất hiện khi tỷ giá biến động theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng
Nguyên nhân khách quan: Do sự biến động tỷ giá theo chiều hướng bất lợi đối với ngân hàng Nguyên nhân của sự biến động này là: mất cân đối giữa cung – cầu ngoại tệ trên thị trường, cán cân thanh toán quốc tế; chính sách thuế quan, năng suất lao động, tình hình kinh tế chính trị của mối nước, lãi suất giữa đồng nội tệ và ngoại tệ…
2.4 Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán
Tình trạng khó khăn về thanh khoản của ngân hàng xuất phát từ những nguyên nhân chính như sau:
Thứ nhất, ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và định chế tài chính khác, sau đó chuyển hóa chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn Do đó, đã xảy ra tình trạng mất cân xứng giữa ngày đáo hạn của các khoản sử dụng vốn và ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động, mà thường gặp nhất là dòng tiền thu hồi từ các tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền phải chi ra để chi trả tiền gửi đến hạn
Thứ hai, do tiền gửi ngân hàng rất nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất đầu tư Khi lãi suất đầu tư tăng, một số người gửi tiền rút vốn ra khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có
tỷ suất sinh lợi cao hơn, còn các khách hàng vay tiền sẽ tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì có lãi suất thấp hơn Như vậy sự thay đổi lãi suất ảnh hưởng đến cả khách hàng vây tiền và gửi tiền, kế đó cả hai tác động đến trạng thái thanh khoản của ngân hàng Hơn nữa, những xu hướng về sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngân hàng có thể đem bán để tăng thêm nguồn cung cấp thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ
Thứ ba, do ngân hàng có chiến lược quản trị thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả: Các chứng khoán ngân hàng đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngân hàng không đủ cho nhu cầu chi trả…
2.5 Một số rủi ro khác:
Hoạt động của ngân hàng cũng đối mặt với một số rủi ro khác làm ảnh hưởng đến hoạt động của mình như: rủi ro công nghệ, rủi ro đạo đức cán bộ, rủi ro quốc gia…
Trang 7PHẦN II:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG NĂM 2011VÀ BIỆN
PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG
1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM NĂM 2011
1.1 Bức tranh hoạt động Ngân hàng năm 2011:
Dù chịu ảnh hưởng chung của chính sách tiền tệ thắt chặt trong năm 2011 nhưng hoạt động kinh doanh của nhiều ngân hàng vẫn tiếp tục tăng trưởng Lợi nhuận của một số ngân hàng đã công bố tốt hơn so với năm 2010 như Vietinbank (tăng 77,62%), Eximbank (tăng 68,6%), SHB (tăng 50,82%), MBB (tăng 29,03%) Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn bắt đầu gia tăng có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động năm 2012 Habubank
là ngân hàng đầu tiên báo lỗ trong quý 4/2011 gần 42 tỉ đồng, mặc dù cả năm vẫn lãi, báo hiệu một năm kinh doanh khó khăn cho các ngân hàng trong năm 2012
Lợi nhuận vẫn tốt:
Hoạt động ngân hàng trong năm 2011 bắt đầu có sự tách tốp do ngân hàng Nhà nước (NHNN) nới lỏng hạn mức tăng trưởng tín dụng cho một số ngân hàng vào cuối năm Theo báo cáo tài chính riêng lẻ quý 4/2011 của một số ngân hàng đã công bố, CTG
và MBB có tốc độ tăng trưởng tín dụng khá cao với mức tăng lần lượt là 25,25% và 31,26% ACB, EIB, VCB có tốc độ tăng trưởng tín dụng từ 17 - 20% Riêng Habubank
có tốc độ tăng trưởng tín dụng -4,57% Đối với mảng huy động vốn, bốn ngân hàng là ACB, CTG, MBB, và SHB có tốc độ tăng trưởng huy động vốn trên 20%, trong khi đó, tăng trưởng huy động vốn của STB và EIB lại bị giảm lần lượt là -7,56% và -5,15%
Tốc độ tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng tuy khác nhau khá lớn nhưng kết quả hoạt động kinh doanh năm 2011 của những ngân hàng này đều tương đối tốt so với năm 2010 Lợi nhuận sau thuế cao nhất được công bố đến thời điểm này là của CTG với 5.784 tỉ đồng Tiếp đến lần lượt là lợi nhuận của VCB (4.527,8 tỉ), ACB (3.193,8 tỉ), EIB (3.051,3 tỉ), MB (2.129 tỉ), Sacombank (2.033,1 tỉ), SHB (735,8 tỉ) và Habubank (348,8 tỉ) Riêng Habubank, quý 4/2011, ngân hàng mẹ lỗ -41,7 tỉ đồng Các chỉ số ROE đa phần
ở mức trên 10% và ROA trên 1%
Rủi ro suy giảm chất lượng hoạt động:
Mặc dù các ngân hàng tiếp tục lãi lớn nhưng một số chỉ số về chất lượng hoạt động của ngân hàng bắt đầu có dấu hiệu xấu Yếu tố đầu tiên chính là thanh khoản của hệ thống ngân hàng Lần đầu tiên, các ngân hàng thương mại (NHTM) lớn khi cho các tổ chức tín dụng (TCTD) nhỏ khó khăn về thanh khoản vay đều yêu cầu phải có tài sản đảm bảo Một số khoản cho vay liên ngân hàng đã quá hạn khiến NHTM cho vay phải trích dự phòng Tuy giá trị trích dự phòng chưa lớn nhưng điều này cũng cho thấy: nếu tình trạng khó khăn về thanh khoản của hệ thống NHTM tiếp tục kéo dài thì con số trích dự phòng sẽ ngày càng gia tăng thêm Nguyên nhân là do quy mô các khoản cho vay liên ngân hàng thường lớn, nhiều ngân hàng có các khoản cho vay liên ngân
Trang 8hàng chiếm từ 10 - 20% tổng tài sản Tính đến hết quý 4/2011, dự phòng cho các TCTD vay của CTG là 26,1 tỉ (năm 2010 là 13,7 tỉ), VCB là 18,9 tỉ (năm 2010 là 9,8 tỉ)
Báo cáo tài chính riêng lẻ quý 4/2011 của các ngân hàng Không chỉ có vậy, tỷ lệ nợ xấu cũng như nợ nhóm 2 của các NHTM đã tăng mạnh
so với cùng kỳ năm trước Nợ xấu chung của hệ thống ngân hàng ở mức 3,3% tổng dư nợ, cao hơn so với mức 2,14% vào cuối năm 2010 Còn theo số liệu của tám NHTM đã công
bố báo cáo tài chính riêng lẻ quý 4/2011 thì chỉ có VCB có tỷ lệ nợ xấu giảm nhẹ, còn lại các NHTM khác đều có tỷ lệ nợ xấu tăng cao Riêng Habubank, tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh từ 2,39% năm 2010 lên 4,69% năm 2011 Nợ nhóm 2 của các ngân hàng đều có sự tăng nhanh cả về giá trị tuyệt đối và tỷ lệ tương đối Các NHTM có tỷ lệ này tăng nhanh nhất là HBB từ 9,86% năm 2010 lên 13,34%, VCB tăng từ 5,27 lên 8%, MBB tăng từ 0,6 lên 1,76%
Trong tình hình cả nền kinh tế tăng trưởng bị chậm lại, rủi ro cho vay tăng và đặc biệt là bị giới hạn về tăng trưởng tín dụng thì các NHTM đã có xu hướng gia tăng mức lãi suất cho vay đối với khách hàng để bù đắp các rủi ro Điều này khiến cho lợi nhuận biên
từ hoạt động tín dụng khi cho vay đối với khách hàng có xu hướng tăng cao Có thể nhận thấy rằng, "tỷ lệ thu nhập lãi thuần trên giá trị cho vay khách hàng" của năm 2011 đều cao hơn nhiều so với năm 2010 Đây cũng có thể là một trong những nguyên nhân lý giải cho việc lợi nhuận của hệ thống ngân hàng trong năm 2011 vẫn tiếp tục duy trì được đà tăng trưởng
Trong năm 2012, NHNN sẽ tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2012 dự kiến sẽ ở mức 15 - 17% nhưng sẽ được xác định phù hợp với trạng thái hoạt động của từng ngân hàng thay vì cào bằng như trước Điều này sẽ dẫn tới việc các nhóm ngân hàng tốt sẽ được phân bổ các chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức cao hơn Đây là cơ hội để nhóm này tiếp tục bứt phá mạnh để trở thành
Trang 9nhóm các ngân hàng dẫn đầu Còn các nhóm ngân hàng nhỏ khác sẽ có chỉ tiêu thấp hơn, thậm chí, có thể có các ngân hàng sẽ khó có cơ hội được tăng trưởng tín dụng để tập trung vào hoạt động tái cấu trúc ngân hàng
Tuy nhiên, các rủi ro về việc nợ xấu gia tăng cũng như thanh khoản tiếp tục là mối
đe doạ lớn với lợi nhuận của các ngân hàng Nợ nhóm 2 đang có xu hướng gia tăng, nếu các khách hàng tiếp tục chậm trả nợ đối với ngân hàng sẽ khiến cho ngân hàng buộc phải chuyển nhóm nợ Điều này đồng nghĩa với tỷ lệ trích dự phòng sẽ gia tăng và lợi nhuận ngân hàng sẽ giảm xuống Tỷ lệ trích dự phòng đối với nợ nhóm 2 là 5%, nợ nhóm 3 tăng lên là 20%, nhóm 4 là 50% và nhóm 5 là 100% Thanh khoản của nhiều TCTD yếu kém cũng khiến cho các khoản vay liên ngân hàng không thể trả được cũng làm cho nhiều TCTD tiếp tục tăng các khoản chi phí trích lập dự phòng lên
1.2 Nhận dạng vấn đề rủi ro của ngân hàng
Có quá nhiều rủi ro mà các ngân hàng đang phải đối mặt như rủi ro lạm phát, thị trường, lãi suất, hối đoái, tái đầu tư, tác nghiệp nhưng nổi bật trong năm 2011 cần phải
kể đến rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và đặc biệt là rủi ro chính sách
1.2.1 Rủi ro tín dụng
Thước đo lợi nhuận, ngay cả khi có bộ tiêu chuẩn kế toán tốt, vẫn không thể lượng hóa hết được hiệu quả hoạt động của ngân hàng Đặc biệt, nó không thể phản ánh hết được tất cả các loại rủi ro mà ngân hàng đang gặp phải Lợi nhuận mà ngân hàng công bố hiện nay có phần phản ánh rủi ro tín dụng thông qua các khoản trích lập dự phòng Tuy nhiên, ngay chính tiêu chuẩn và điều khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định hiện hành vẫn còn nhiều khiếm khuyết, không phản ánh được thực chất các nguy cơ rủi ro tín dụng mà ngân hàng đang gặp phải Chẳng hạn như các khoản cho vay khi được bảo đảm bằng 100% giá trị tài sản cũng không đồng nghĩa với việc là sẽ không có rủi ro tín dụng Tài sản đảm bảo được định giá vào thời điểm cấp tín dụng và để làm cơ sở quyết định mức cho vay thay vì là thời điểm trả nợ và để làm cơ sở hoàn trả được nợ vay
Hơn nữa, với các khoản nợ được bảo đảm 100% giá trị tài sản thì mức trích lập dự phòng rủi ro gần như bằng không, bất kể mức độ và xác suất xảy ra rủi ro tín dụng như thế nào Hơn nữa, trong điều kiện thị trường có nhiều biến động thì việc giá trị tài sản giảm sâu hoặc kém thanh khoản là hoàn toàn có thể xảy ra Đối với các ngân hàng Việt Nam, khi nhóm tài sản đảm bảo hiện nay chủ yếu là bất động sản thì việc thị trường bất động sản xấu đi vừa không chỉ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng là các nhà đầu tư bất động sản mà còn là các khoản nợ được thế chấp bởi bất động sản (bất động sản dân cư) Trong những trường hợp như vậy, việc đánh giá lại giá trị tài sản đảm bảo cũng như việc thực hiện bút toán điều chỉnh theo giá trị trường (marking-to-market) là rất cần thiết nhưng thực tế đã bị bỏ qua hoặc không được tiến hành một cách thực chất và đúng bản chất của rủi ro tín dụng
Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng ở các ngân hàng Việt Nam còn do sự gia tăng của hiện tượng bất cân xứng thông tin trong bối cảnh bất ổn vĩ mô mà biểu hiện là hành vi lựa chọn
Trang 10ngược (adverse selection) Trái với quan điểm thông thường cho rằng khi lãi suất cho vay cao sẽ giúp loại bỏ các dự án tồi có suất sinh lợi kém, đồng thời chọn lọc những dự án tốt với mức sinh lợi cao
Đáng tiếc, trong điều kiện Việt Nam, khi lãi suất cho vay quá cao thì chính những con nợ rủi ro mới là đối tượng sẵn sàng tiếp cận vốn vay chứ không phải là con nợ an toàn Nghĩa là, do ngân hàng không có thông tin đáng tin cậy về người đi vay và do đó không thể phân biệt được con nợ tốt với con nợ xấu nên khi lãi suất quá cao đã đặt ngân hàng vào thế lựa chọn bất lợi chứ không hoàn toàn là người đi vay mới bị bất lợi Như vậy, nếu nhìn
ở góc độ này thì việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không khống chế trần lãi suất cho vay không chỉ gây bất lợi cho người đi vay như một số phân tích mà ngay cả bản thân ngân hàng cũng sẽ gặp rủi ro do lựa chọn ngược Hiện, không có một đánh giá đáng tin cậy nào về tỷ lệ nợ xấu trong toàn hệ thống ngân hàng nhưng có điều chắc chắn con số đang tăng lên và tăng nhanh khi khả năng đảo nợ của doanh nghiệp đã đạt đến điểm giới hạn của nó
1.2.2 Rủi ro thanh khoản
Khác với rủi ro tín dụng thường diễn ra theo một tiến trình, từ những dấu hiệu khó khăn ban đầu như tỷ lệ nợ xấu tăng dần đến quá trình tái cơ cấu nợ Trong khi đó, rủi ro thanh khoản thường mang tính chất bất ngờ, không nhất thiết phải là những khó khăn trong bảng tổng kết tài sản, và đặc biệt nguy hiểm bởi khả năng lây lan có tính hệ thống trong một khoảng thời gian rất ngắn
Có một số công cụ hay phương thức mà các ngân hàng có thể sử dụng nhằm giảm rủi ro thanh khoản như vay liên ngân hàng, vay tái cấp vốn của NHNN, phát hành chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng (NCDs) hoặc bán các tài sản ngắn hạn Tuy nhiên, hoạt động vay mượn trên thị trường liên ngân hàng hiện đang bị tắc nghẽn Công cụ vay tái cấp vốn của NHNN cũng ít khi phát huy hiệu lực do những trở ngại hành chính từ quyết định cấp hạn mức tái cấp vốn và bản thân các ngân hàng cũng không có nhiều giấy
tờ có giá đủ tiêu chuẩn để tái chiết khấu Các tài sản ngắn hạn nhằm dự trữ thanh khoản như tín phiếu kho bạc cũng chỉ có quy mô nhỏ, lại được phân bổ không đều và không hợp
lý giữa các ngân hàng Thị trường mở không phải là sân chơi cho tất cả các ngân hàng, đặc biệt đối với những ngân hàng đang gặp nhiều áp lực thanh khoản nhất hiện nay
Hơn nữa, bản thân các ngân hàng, do áp lực cạnh tranh trong việc huy động vốn bởi rào cản trần lãi suất, cũng đã tự làm khó mình khi sáng tạo ra các tài khoản tiền gửi hết sức
đa dạng mà bản chất cũng là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn Chẳng hạn như các tài khoản có kỳ hạn vẫn dễ dàng rút trước hạn một cách linh hoạt mà không kèm ràng buộc nào hoặc tiền gửi kỳ hạn cực ngắn sẽ càng làm gia tăng tính chất bấp bênh của dòng vốn ngân hàng Cuối cùng, thị trường thứ cấp cho các giao dịch NCDs vẫn chưa hình thành, trong khi thị trường sơ cấp vẫn ở mức độ sơ khai
Ngoài ra, một phần của rủi ro thanh khoản hiện nay còn phản ánh rủi ro tín dụng
mà ngân hàng đang gặp phải như đã nói ở trên Một tỷ trọng không nhỏ các khoản nợ đang