Tính cấp thiết của đề tài CTCPPhát triểnNăng lượng Sơn Hà được thành lập từ năm 2005 hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, khai thác các thiết bị năng lượng mới, năng lư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
TRƯƠNG THỊ THANH HẰNG
QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN
NĂNG LƯỢNG SƠN HÀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
TRƯƠNG THỊ THANH HẰNG
QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN
Trang 3LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trên web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2017
Tác giả
Trương Thị Thanh Hằng
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các thầy, cô giáo
Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo Viện Quản trị kinh doanh
đã có những ý kiến đóng góp giúp tác giả hoàn thành khoá luận này, đặc biệt tác
giả xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tớiPGS.TS Nguyễn Trọng Thản, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong quá trình thực
hiện đề tài này
Do nhận thức và thời gian nghiên cứu có hạn chế nên trong khuôn khổ
đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tác giả rất mong nhận được sự góp ý chỉ bảo của các thầy cô giáo để đề tài nghiên cứu này được hoàn thiện hơn
Tác giả
Trương Thị Thanh Hằng
Trang 5MỤC LỤC
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH SÁCH BẢNG BIỂU ii
DANH SÁCH HÌNH VẼ iii
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU CỦA DOANH NGHIỆP 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp 4
1.2 Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động của doanh nghiệp 6
1.2.1 Khái niệm về Vốn lưu động 6
1.2.2 Đặc điểm của Vốn lưu động 8
1.2.3 Phân loại vốn lưu động của doanh nghiệp 9
1.2.4.Nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp 10
1.3 Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp 11
1.3.1 Khái niệm và sự cần thiết quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp 11 1.3.2.Nội dung quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp 13
1.3.3.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp 27
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp 30
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 33
2.1 Thiết kế nghiên cứu 33
2.2 Phương pháp nghiên cứu 34
2.2 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 35
2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 35
Trang 6CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG SƠN HÀ 36
3.1 Tổng quan về CTCP Phát triển Năng lượng Sơn Hà 36
3.1.1 Sơ lược về CTCP Phát triển Năng lượng Sơn Hà 36
3.1.2 Cơ cấu, bộ máy tổ chức, lĩnh vực hoạt động của Công ty 36
3.2 Thực trạng hiệu quản trị vốn lưu động ta ̣i CTCP Phát triển Năng lượng Sơn Hà 41
3.2.1 Thực trạng xác định nhu cầu vốn lưu động 41
3.2.2.Thực trạng nguồn tài trợ vốn lưu động 42
3.2.3 Thực trạng phân bổ vốn lưu động 46
3.2.4 Thực trạng quản trị vốn bằng tiền 50
3.2.5 Thực trạng quản trị hàng tồn kho 56
3.2.6 Thực trạng quản lý nợ phải thu 58
3.2.7 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động 62
3.3 Đánh giá chung về quản trị vốn lưu động của CTCP Phát triển Năng lượng Sơn Hà 64
3.3.1.Những thành quả đạt được 64
3.3.2.Những hạn chế còn tồn tại 65
CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG SƠN HÀ 68
4.1 Định hướng Phát triển của CTCP Phát triển Năng lượng Sơn Hà trong giai đoạn tới 68
4.1.1 Cơ hội và thách thức 68
4.1.2 Định hướng Phát triển của CTCP Phát triển Năng lượng Sơn Hà 69
4.2 Các giải pháp nhằm tăng cườngquản trị vốn lưu động tại CTCP Phát triển Năng lượng Sơn Hà 69
Trang 74.2.1.Chủ động thực hiện việc xây dựng kế hoạch xác định nhu cầu vốn lưu
động 69
4.2.2 Chủ động tìm kiếm, khai thác các nguồn bổ sung cho vốn lưu động, giảm chi phí sử dụng vốn 71
4.2.3 Giải quyết tình trạng vốn bị chiếm dụng, tăng cường công tác thu hồi nợ, áp dụng chính sách chiết khấu thanh toán trong quản trị khoản phải thu 74
4.2.4 Tăng cường quản trị hàng tồn kho 76
4.2.5 Các giải pháp khác 77
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC
Trang 8DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 937
2 Bảng 3.2 Quy mô, cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty 40
3 Bảng 3.3 Nguồn hình thành vốn lưu động của Công ty CP phát
6 Bảng 3.6 Diễn biến dòng tiền thuần của Công ty qua các năm 51
7 Bảng 3.7 Bảng phân tích khả năng thanh toán của công ty 54
10 Bảng 3.10 Tình hình quản lý các khoản nợ phải thu của công ty 58
12 Bảng 3.12 So sánh khoản phải thu ngắn hạn và nợ phải trả ngắn
hạn tại Công ty Cổ Phần phát triển năng lượng Sơn Hà 61
13 Bảng 3.13 Bảng phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động của
Công ty Cổ Phần Phát Triển Năng Lượng Sơn Hà 62
Trang 105 Hình 3.2 Cơ cấu nguồn hình thành vốn lưu động qua các năm 43
6 Hình 3.3 Biểu đồ tài trợ nguồn vốn kinh doanh của Công Ty Cổ
Phần phát triển năng lượng Sơn Hà cuối năm 2015 44
7 Hình 3.4 Biểu đồ tài trợ nguồn vốn kinh doanh của Công Ty Cổ
Phần phát triển năng lượng Sơn Hà cuối năm 2016 45
8 Hình 3.5 Tình hình phân bổ vốn lưu động của Công ty 48
Trang 11LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
CTCPPhát triểnNăng lượng Sơn Hà được thành lập từ năm 2005 hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, khai thác các thiết bị năng lượng mới, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.Ở CTCPPhát triểnNăng lượng Sơn Hà cũng như các các doanh nghiệp sản xuất nói chung, vấn đề quản trị nguồn vốn là một vấn đề vô cùng quan trọng và có liên quan mật thiết đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp, nếu vốn cố định được coi là xương cốt của một cơ thể sống thì vốn lưu động được coi là huyết mạch của cơ thể sống đó Bởi vì vốn lưu động
có đặc điểm vận động tuần hoàn liên tục gắn với chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó việc quản trị vốn lưu động luôn được xem là một trong những ưu tiên hàng đầu trong công tác quản trị tài chính doanh nghiệp Vậy, CTCPPhát triểnNăng lượng Sơn Hà phải làm gì với hoạt động quản trị vốn lưu động để nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh và đối mặt với một thị trường đang khó khăn cũng như sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt?
Nhận thức được vai trò quan trọng của việc quản trị vốn lưu động đối với sự phát triển doanh nghiệp, học viên mong muốn được nghiên cứu về vấn đề này tại CTCPPhát triểnNăng lượng Sơn Hàđể có thể góp một phần nhỏ vào việc giải quyết những khó khăn của Công ty Từ những lý do trên, học viên đã lựa chọn
đề tài “Quản trị vốn lưu độngtại CTCPPhát triểnNăng lượng Sơn Hà” là đề
tài luận văn tốt nghiệp cao học ngành Thạc sỹ quản trị kinh doanh của mình
Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng và giải pháp hoàn thiện quản trị vốn lưu động tại công ty CTCPPhát triểnNăng lượng Sơn Hà?
Trang 122 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a, Mục đích nghiên cứu
Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản trị vốn lưu động tại CTCPPhát triểnNăng lượng Sơn Hà, từ đó đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao hiê ̣u quả quản trị vốn lưu động tại CTCPPhát triểnNăng lượng Sơn
Hà
b, Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận chung về vốn lưu động và quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản trị vốn lưu động tại CTCPPhát triểnNăng lượng Sơn Hà
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản trị vốn lưu động tại CTCPPhát triểnNăng lượng Sơn Hà
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a, Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu về quản trị vốn lưu động doanh nghiệp
4 Những đóng góp của luận văn
- Khái quát những vấn đề cơ bản về vốn lưu động và quản trị vốn lưu động
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản trị vốn lưu động tại Công ty cổ phần Năng lượng Sơn Hà
Trang 13- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản trị vốn lưu động tại Công ty cổ phần Năng lượng Sơn Hà
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung được chia thành 4 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
Chương 2 Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng quản trị vốn lưu động tại CTCPPháttriểnNăng lượng Sơn Hà
Chương4.Các giải pháp hoàn thiện quản trị vốn lưu động tại CTCPPhát triểnNăng lượng Sơn Hà
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀQUẢN TRỊ VỐN LƯU CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
Từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), các doanh nghiệp đã rất quan tâm đến việc quản trị nguồn vốn nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Đã có một số cuộc hội thảo, công trình nghiên cứu và các bài viết trên các tạp chí đề cập về vấn đề này Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ cũng nghiên cứu về việc quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của các đơn
vị như: Luận văn thạc sỹ của tác giả Phan Văn Năng với đề tài “Hoàn thiện quản trị vốn lưu động tại Công ty cổ phần may Sông Hồng” (2013) - Đại học Bách khoa Hà Nội, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Tuấn Anh với đề tài
“Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty in thương mại dịch vụ ngân hàng ” (2005)- Đại học Công Đoàn, Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Trinh Hiếu với đề tài “ Quản trị vốn lưu động trong nghiệp vừa
và nhỏ tại TP Hồ Chí Minh” (2010) - Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ của tác giả Dương Đình Mai Long với đề tài
“Ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp – Nghiên cứu trường hợp cac doanh nghiệp thép đang niêm yết trên TTCK Việt Nam” (2014)- Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Luận văn thạc sỹ của tác giả Phan Văn Năng với đề tài “Hoàn thiện quản trị vốn lưu động tại Công ty cổ phần may Sông Hồng” (2013)- Đại học Bách Khoa Hà Nộiđã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về vốn lưu động và quản lý vốn lưu động, chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu trong quản lý
Trang 15vốn lưu động tại công ty Cổ phần may Sông Hồng, từ đó chỉ ra định hướng các giải pháp phù hợp giúp doanh nghiệp nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý vốn lưu động, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị vốn lưu động tại doanh nghiệp
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Tuấn Anh với đề tài “Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty in thương mại dịch vụ ngân hàng” (2005)- Đại học công đoàn Luận văn đã có một số đóng góp như: Làm rõ các lý luận cơ bản về VLĐ, phân tích thực trạng quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty in thương mại dịch vụ ngân hàng, đề xuất một số giải pháp giúp công ty trong hoạt động của mình
Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Trinh Hiếu với đề tài “ Quản trị vốn lưu động trong nghiệp vừa và nhỏ tại TP Hồ Chí Minh” (2010) - Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã khái quát được lý luận cơ bản về vốn lưu động, qua phân tích thực tiễn đưa ra được những giải pháp góp phần ứng dụng quản trị vốn lưu động hiện đại phù hợp với điều kiện của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TP Hồ Chí Minh nhằm giúp các doanh nghiệp tăng hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Luận văn thạc sỹ của tác giả Dương Đình Mai Long với đề tài “Ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp – Nghiên cứu trường hợp cac doanh nghiệp thép đang niêm yết trên TTCK Việt Nam” (2014)- Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Đề tài bên cạnh việc
hệ thống lại cơ sở lý luận về vốn lưu động đã đưa ra được nhận xét về ảnh hưởng của công tác quản trị vốn lưu động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thép đang niêm yết trên TTCK Việt Nam đồng thời đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả quản trị vốn lưu đông nhằm giúp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Các nghiên cứu trên đã hệ thống được cơ sở lý luận về vốn lưu động, quản trị vốn lưu đông và những kinh nghiệm thực tế quý báu Tuy nhiên, chưa
Trang 16có đề tài nào nghiên cứu về “Quản trị vốn lưu động tại CTCP Phát triển
Năng lượng Sơn Hà”
Đề tài “Quản trị vốn lưu động tại CTCP Phát triển Năng lượng Sơn
Hà”sẽ hệ thống lại cơ sở lý luận về vốn lưu động và quản trị vốn lưu động
của doanh nghiệp Điểm mới của đề tài là nghiên cứu về phạm vi không gian mới; có sử dụng mô hình Dupont trong việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn
lưu động
1.2 Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm về Vốn lưu động
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp đều phải
có các yếu tố cơ bản là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, để có được các yếu tố đó các doanh nghiệp phải bỏ ra một số vốn tiền tệ nhất định, phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp Số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư mua sắm, hình thành tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được gọi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Như vậy, có thể nói vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nói cách khác, đó là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản mà doanh nghiệp đã đầu tư và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận.Theo đặc điểm luân chuyển của vốn kinh doanh, vốn kinh doanh mà doanh nghiệp được chia thành vốn cố định và vốn lưu động Mỗi loại vốn có vai trò riêng trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp
Nếu như vốn cố định của doanh nghiệp là số vốn đầu tư để xây dựng hoặc mua sắm các TSCĐ sử dụng trong kinh doanh, là số vốn tiền tệ ứng trước để xây dựng mua sắm TSCĐ, thì vốn lưu động của doanh nghiệp lại là
số vốn tiền tệ ứng trước để mua sắm, hình thành các TSLĐ dùng trong sản
Trang 17xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tài sản lưu động của doanh nghiệp căn cứ
theo phạm vi sử dụng thường được chia thành 2 bộ phận:
- TSLĐ sản xuất: bao gồm các loại như nguyên liệu chính, vật liệu phụ,
các nhiên liệu, phụ tùng thay thế đang trong quá trình dự trữ sản xuất và các
loại sản phẩm dở dang, bán thành phẩm đang trong quá trình sản xuất
- TSLĐ lưu thông: bao gồm các loại tài sản đang nằm trong quá trình lưu
thông như thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, các khoản phải thu, vốn bằng tiền
Trong quá trình kinh doanh, TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn
vận động, chuyển hóa, thay thế đổi chỗ cho nhau, đảm bảo cho quá trình sản
xuất kinh doanh được diễn ra nhịp nhàng, liên tục Để hình thành các TSLĐ,
doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định để mua sắm các tài sản
đó, số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp
Như vậy, ta đưa ra định nghĩa vốn lưu động như sau:
“Vốn lưu động là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra
để đầu tư hình thành nên các Tài sản lưu đông thường xuyên cần thiết cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”
(Nguyễn Đình Kiê ̣m và Bạch Đức Hiển , 2008 Giáo trình Tài chính
doanh nghiê ̣p Hà Nội: NXB Tài Chính)
Nói cách khác, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của các TSLĐ trong
doanh nghiệp
Sự vận động của vốn lưu động qua các giai đoạn được mô tả theo sơ đồ sau:
T – H SX H’ – T’
Sự vận động của vốn lưu động chuyển từ hình thái ban đầu là tiền sang
hình thái vật tư hàng hóa và cuối cùng lại chuyển về hình thái tiền tệ ban đầu
(T’> T)
Sự vận động của tiền tệ được chia thành các giai đoạn như sau:
Trang 18- Giai đoạn 1 (T – H): Vốn lưu động dưới hình thái tiền tệ ứng trước dùng để mua sắm các tư liệu sản xuất và các tư liệu lao động để dự trữ cho quá sản xuất Như vậy vốn lưu động từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vật tư, hàng hóa
- Giai đoạn 2 (H - SX – H’): Vật tư hàng hóa đã mua sắm được doanh nghiệp đưa vào sản xuất tạo ra sản phẩm Tức là vốn lưu động chuyển từ hình thái vật
tư hàng hóa sang hình thái vốn sản phẩm dở dang và sau đó chuyển thành vốn thành phẩm
- Giai đoạn 3 (H’- T’): Doanh nghiệp tiến hành tiêu thụ sản phẩm và thu được tiền về Vốn lưu động chuyển từ hình thái vốn thành phẩm quay trở lại hình thái ban đầu là tiền Kết thúc một vòng tuần hoàn vốn, Nếu T’ > T điều đó có nghĩa là doanh nghiệp làm ăn có lãi
1.2.2 Đặc điểm của Vốn lưu động
Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, do bị chi phối bởi các đặc điểm của tài sản lưu động nên vốn lưu động của doanh nghiệp có các đặc điểm sau:
VLĐ luân chuyển nhanh: Do quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách thường xuyên liên tục nên VLĐ tuần hoàn không ngừng, được lặp đi lặp lại có tính chất chu kì và được gọi là sự chu chuyển của VLĐ
VLĐ trong quá trình chu chuyển qua các giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh luôn thay đổi hình thái biểu hiện: qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, VLĐ tồn tại ở các hình thái biểu hiện khác nhau
VLĐ chuyển dịch toàn bộ, một lần giá trị vào giá trị của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra và được bù đắp lại khi doanh nghiệp thu được tiền bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kì kinh doanh: Trong quá trình tham gia vào sản xuất kinh doanh, VLĐ chuyển hết giá trị ngay
Trang 19trong một lần và được hoàn lại toàn bộ khi doanh nghiệp thực hiện xong việc tiêu thụ và xác định có doanh thu Do đó VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh
1.2.3 Phân loại vốn lưu động của doanh nghiệp
Để quản lý và sử dụng hiệu quả vốn lưu động cần phải tiến hành phân loại vốn lưu động theo những tiêu thức nhất định Thông thường có các cách phân loại sau:
1.2.3.1 Phân loại theo hình thái biểu hiện của vốn lưu động
Theo tiêu thức này thì vốn lưu động được chia thành:
Vốn vật tư hàng hóa: bao gồm vốn tồn kho nguyên vật liệu, sản phẩm
dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm
Vốn bằng tiền và các khoản phải thu:
Vốn bằng tiền gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển Tiền là một loại tài sản có tính linh hoạt cao, doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển đối thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ Do vậy, trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền cần thiết nhất định
Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng thể hiện ở số tiền mà các khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng, cung ứng dịch vụ dưới hình thái bán trước trả sau Ngoài ra doanh nghiệp còn có thể phải ứng trước tiền mua hàng cho người cung cấp
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp đánh giá được mức độ dự trữ tồn kho, khả năng thanh toán, tính thanh khoản của các tài sản đầu tư trong doanh nghiệp
1.2.3.2.Phân loại theo vai trò
Theo tiêu thức này vốn lưu động được chia thành:
Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm vốn nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ nhỏ dự trữ sản xuất
Trang 20 Vốn lưu động trong khâu sản xuất: bao gồm vốn bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, vốn chi phí trả trước
Gồm vốn thành phẩm, vốn trong thanh toán, vốn đầu tư ngắn hạn và vốn bằng tiền
Phương pháp này cho phép biết được kết cấu vốn lưu động theo vai trò Từ đó, giúp cho việc đánh giá tình hình phân bổ vốn lưu động trong các khâu của quá trình luân chuyển vốn, thấy được vai trò của từng thành phần vốn đối với quá trình kinh doanh Từ đó lựa chọn bố trí cơ cấu vốn đầu tư hợp lý, đảm bảo sự cân đối về năng lực sản xuất giữa các giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.4.Nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp
Nguồn vốn lưu động thường xuyên: là nguồn vốn có tính chất ổn định dài hạn mà doanh nghiệp có thế sử dụng Nguồn vốn này có thể huy động từ nguồn vốn chủ sở hữu, phát hành trái phiếu dài hạn hoặc có thể vay dài hạn từ các ngân hàng thương mại hay các tổ chức tín dụng
Nguồn vốn lưu động tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác…
Mỗi doanh nghiệp có cách thức phối hợp khác nhau giữa nguồn vốn lưu động thường xuyên và nguồn vốn lưu động tạm thời trong công việc đảm bảo nhu cầu chung về vốn lưu động của doanh nghiệp
Nghiên cứu nguồn hình thành vốn lưu động và cách phân loại phân loại vốn lưu động giúp cho nhà quản trị xem xét, huy động các nguồn phù hợp với thực tế của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và tổ chức nguồn vốn Mặt khác đây cũng là cơ sở để lập kế hoạch quản lý và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả lớn nhất với chi phí nhỏ nhất
Trang 211.3Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
1.3.1 Khái niệm và sự cần thiết quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
1.3.1.1 Khái niệm
Quản trị là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được những kết quả cao nhất với mục tiêu đã định trước
Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn, đưa ra quyết định và
tổ chức thực hiện các quyết định tài chính nhằm đạt được các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Do các quyết định tài chính của doanh nghiệp đều gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, vì vậy quản trị tài chính doanh nghiệp còn được nhìn nhận là quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và kiểm soát quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ đáp ứng nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt, để có thể tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ quản trị tài chính của mình
Vốn lưu động là một bộ phận của nguồn vốn trong doanh nghiệp, vì thế quản trị vốn lưu động cũng là một bộ phận của quản trị tài chính doanh nghiệp Từ khái niệm quản trị tài chính, chúng ta có thể đưa ra khái niệm
quản trị vốn lưu động là quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và kiểm soát quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn lưu động đáp ứng nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp ( PGS.TS Phạm Quan
Trung, Giáo trình Quản trị tài chính doanh nghiệp, Hà Nội: NXB Đại học
kinh tế Quốc Dân)
1.3.1.2 Sự cần thiết phải tăng cường quản trị vốn lưu động
Thứ nhất,xuất phát từ vai trò, vị trí của vốn lưu động đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
- VLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất VLĐ đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được tiến
Trang 22hành thường xuyên liên tục Do vậy nếu thiếu VLĐ thì quá trình tái sản xuất
sẽ gặp khó khăn có thể bị gián đoạn gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
- VLĐ còn là căn cứ phản ánh, đánh giá quá trình vận động của vật tư, hàng hóa trong doanh nghiệp VLĐ nhiều hay ít phản ánh số lượng vật tư hàng hóa ở các khâu nhiều hay ít VLĐ luân chuyển nhanh hay chậm phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay lãng phí
- Sử dụng VLĐ hợp lý cho phép khai thác tối đa năng lực làm việc của các TSCĐ, làm tăng lợi nhuận, góp phần làm tốt công tác bảo toàn và phát triển kinh doanh Vì vậy, việc quản trị vốn lưu động là vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp
Thứ hai,xuất phát từ mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp
Mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng nói lên kết quả hoạt động của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là nguồn tích lũy của doanh nghiệp
để tái sản xuất, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Đạt được lợi nhuận là mục tiêu hướng tới của tất cả các doanh nghiệp, để đạt được điều đó, các doanh nghiệp phải tăng cường công tác quản trị tài chính nói chung và quản trị vốn lưu động nói riêng
Thứ ba, xuất phát từ thực tế quản trị VLĐ trong các doanh nghiệp hiện nay:
Tình trạng phổ biến ở các doanh nghiệp hiện nay là lượng vật tư tồn đọng, hàng hóa kém chất lượng, chậm luân chuyển, công nợ khó đòi tài sản tổn thất còn chiếm tỷ trọng lớn Do đó tình trạng thiếu VLĐ của các doanh nghiệp hiện nay là rất phổ biến, điều này phản ánh công tác quản trị vốn chưa đạt hiệu quả
Tóm lại, quản trị VLĐ là khâu quan trọng trong công tác quản trị Tài chính doanh nghiệp, là vấn đề quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi
doanh nghiệp Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp đều phải đặc biệt quan tâm
Trang 231.3.2.Nội dung quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
Như đã nói ở trên, quản trị tốt vốn lưu động sẽ tạo tiền đề cho việc sử dụng VLĐ hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tăng lợi nhuận Nội dung quản trị vốn lưu động bao gồm:
1.3.2.1.Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp – Quá trình hoạch định
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra thường xuyên, liên tục Trong quá trình đó luôn đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn lưu động cần thiết để đáp ứng các yêu cầu như mua sắm vật tư dự trữ, bù đắp chênh lệch các khoản phải thu, phải trả giữa doanh nghiệp với khách hàng, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường và liên tục Đó chính là nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết của doanh nghiệp
Như vậy, nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết là số vốn lưu động tối thiểu cần thiết phải có để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra bình thường và liên tục Dưới mức này sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn, thậm chí bị đình trệ, gián đoạn Tuy nhiên nếu trên mức cần thiết lại gây ra tình trạng ứ đọng vốn,
sử dụng vốn lãng phí, kém hiệu quả
Chính vì vậy trong quản trị vốn lưu động, các doanh nghiệp cần chú trọng xác định đúng đắn nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết, phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp Với quan niệm nhu cầu vốn lưu động là số vốn tối thiểu, thường xuyên cần thiết nên nhu cầu VLĐ được xác định theo công thức:
NCVLĐ = Vốn hàng tồn kho + Nợ phải thu – Nợ phải trả nhà cung cấp Trong đó nhu cầu vốn tồn kho là số vốn tối thiểu dùng để dự trữ nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm của doanh nghiệp
Trang 24Nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: Qui mô kinh doanh của doanh nghiệp; đặc điểm, tính thời vụ của ngành nghề kinh doanh (chu kỳ sản xuất, tính chất thời vụ); sự biến động của giá cả vật tư, hàng hóa trên thị trường; trình độ tổ chức, quản lý và sử dụng VLĐ của doanh nghiệp; trình độ kĩ thuật – công nghệ sản xuất; các chính sách của doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ… Việc xác định đúng đắn các nhân tố ảnh hưởng sẽ giúp doanh nghiệp xác định đúng nhu cầu VLĐ và có biện pháp quản lý, sử dụng VLĐ một cách tiết kiệm, hiệu quả
Để xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp có thể sử dụng 2 phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp
a) Phương pháp trực tiếp
Nội dung của phương pháp này là xác định trực tiếp nhu cầu VLĐ cho hàng tồn kho, các khoản phải thu, khoản phải trả nhà cung cấp rồi tập hợp lại thành tổng nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp
Trình tự của phương pháp này như sau:
- Xác định nhu cầu vốn hàng tồn kho: Bao gồm vốn hàng tồn kho trong các khâu dự trữ sản xuất, khâu sản xuất và lưu thông Gồm nhu cầu vốn dự trữ NVL chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, nhu cầu vốn để hình thành sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí trả trước, vốn dữ trữ thành phẩm, vốn phải thu, phải trả
- Xác định nhu cầu vốn nợ phải thu: Nợ phải thu là khoản vốn bị khách hàng chiếm dụng hoặc do doanh nghiệp chủ động bán chịu hàng hóa cho khách hàng
- Xác định nhu cầu vốn nợ phải trả nhà cung cấp: Nợ phải trả nhà cung cấp là khoản vốn doanh nghiệp mua chịu hàng hóa hay chiếm dụng của khách hàng Các khoản nợ phải được coi như khoản tín dụng bổ sung từ khách hàng nên doanh nghiệp có thể rút bớt ra khỏi kinh doanh một phần VLĐ của mình
để dùng vào việc khác
Trang 25Cộng nhu cầu VLĐ trong các khâu dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông (vốn hàng tồn kho) với khoản chênh lệch giữa các khoản phải thu, phải trả nhà cung cấp sẽ có tổng nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp Phương pháp này có ưu điểm là phản ánh rõ nhu cầu VLĐ cho từng loại vật tư, hàng hóa và trong từng khâu kinh doanh, do vậy tương đối sát với nhu cầu vốn của doanh nghiệp Tuy nhiên phương pháp này tính toán phức tạp, mất nhiều thời gian trong xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp
b) Phương pháp gián tiếp
Phương pháp gián tiếp dựa vào phân tích tình hình thực tế sử dụng VLĐ của doanh nghiệp năm báo cáo, sự thay đổi về qui mô kinh doanh và tốc
độ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch, hoặc sự biến động nhu cầu VLĐ theo doanh thu thực hiện năm báo cáo để xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp năm kế hoạch
Các phương pháp gián tiếp cụ thể như sau:
- Phương pháp điều chỉnh theo tỷ lệ phần trăm nhu cầu VLĐ so với năm báo cáo Thực chất phương pháp này là dựa vào thực tế nhu cầu VLĐ năm báo cáo và điều chỉnh nhu cầu theo quy mô kinh doanh và tốc độ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch
- Phương pháp dựa vào tổng mức luân chuyển vốn và tốc độ luân chuyển vốn năm kế hoạch: theo phương pháp này, nhu cầu VLĐ được xác định căn
cứ vào tổng mức luân chuyển VLĐ hay doanh thu thuần, và tốc độ luân chuyển VLĐ dự tính của năm kế hoạch
- Phương pháp dựa vào tỉ lệ phần trăm trên doanh thu: nội dung của phương pháp này dựa vào sự biến động theo tỷ lệ trên doanh thu của các yếu
tố cấu thành VLĐ của doanh nghiệp năm báo cáo để xác định nhu cầu VLĐ theo doanh thu năm kế hoạch
-
Trang 261.3.2.2 Lựa chọn mô hình tài trợ vốn lưu động của doanh nghiệp– Quá trình thực hiện, điều chỉnh
a) Nguồn vốn lưu động thường xuyên
Để đảm bảo quá trình sản xuất – kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục thì tương ứng với một quy mô kinh doanh nhất định, thường xuyên phải có một lượng TSLĐ nhất định nằm trong các giai đoạn luân chuyển như các tài sản dự trữ về nguyên vật liệu, sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm và nợ phải thu khách hàng Những tài sản lưu động này gọi là tài sản lưu động thường xuyên, nó là một bộ phận của tài sản thường xuyên
Tài sản thường xuyên gồm tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên.Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, không phải lúc nào cũng được tiến hành một cách bình thường mà có những lúc xuất hiện những biến cố thay đổi làm nảy sinh thêm nhu cầu vốn lưu động để trang trải
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hình thành bộ phận TSLĐ có tính chất tạm thời, các nguyên nhân có thể kể đến là:
- Dự kiến giá cả vật tư, nguyên liệu tăng, hoặc có những chuyến hàng chở vật tư chưa về đến doanh nghiệp ngoài kế hoạch, làm vật tư dự trữ tăng đột biến, nên cần có nguồn vốn lưu động tạm thời để trang trải
- Sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp tăng đột biến, do có nhiều thuận lợi trong việc bán hàng, làm hàng tồn kho tăng lên, do đó nhu cầu vốn lưu động cũng tăng theo
- Trong trường hợp nhận được đơn hàng ngoài kế hoạch, cũng làm cho nhu cầu vốn lưu động tăng lên đột biến
Nguồn VLĐ thường xuyên tạo ra mức độ an toàn cho doanh nghiệp trong kinh doanh, về cơ bản, nguồn VLĐ thường xuyên đảm bảo cho VLĐ thường xuyên còn nguồn VLĐ tạm thời sẽ đảm bảo cho nhu cầu VLĐ tạm thời, song không nhất thiết phải hoàn toàn như vậy, để tạo điều kiện cho việc sử dụng linh hoạt nguồn tài chính
Trang 27Nguồn VLĐ thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm có thể xác định theo công thức sau:
NVLĐTX = Tổng nguồn vốn thường xuyên – Tài sản dài hạn
Hoặc có thể xác định theo công thức:
NVLĐTX = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
Nguồn VLĐ thường xuyên
NVLĐTX = Tổng nguồn vốn thường xuyên – Tài sản dài hạn
Hoặc có thể xác định theo công thức:
NVLĐTX = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn Nguồn VLĐ thường xuyên tạo ra một mức độ an toàn cho doanh nghiệp trong kinh doanh, làm cho tình trạng tài chính của doanh nghiệp được đảm bảo vữn chắc Nguồn VLĐ thường xuyên >0 chứng tỏ một phần tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp, đảm bảo nguyên tắc cân bằng tài chính, ngược lại NVLĐTX<0 một phần tài sản dài hạn được tài trợ bởi nguồn vốn ngắn hạn của doanh nghiệp, không an toàn cho khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp
b) Các mô hình tài trợ vốn cho doanh nghiệp
- Mô hình tài trợ thứ nhất
TSLĐ
NVTT NVLĐTX
Trang 28Khi tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ phải trả ngắn hạn Nghĩa là nguồn vốn lưu động thường xuyên có giá trị dương Khi đó, sẽ có một sự ổn định trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vì có một bộ phận nguồn vốn lưu động thường xuyên tài trợ cho TSLĐ để sử dụng cho hoạt động kinh doanh
- Mô hình tài trợ thứ hai
TSLĐ
NVTT TSCĐ
Trang 29ra được tính ổn định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt đối với những ngành có tốc độ vòng quay vốn chậm
1.3.2.3 Phân bổ vốn lưu động– Quá trình thực hiện, điều chỉnh
Phân bổ vốn lưu động hay là việc xác định kết cấu vốn lưu động là một công việc quan trọng trong quản trị vốn lưu động Kết cấu vốn lưu động là tỷ trọng thành phần vốn lưu động trong tổng số vốn lưu động tại 1 thời điểm nhất định.Ở mỗi doanh nghiệp khác nhau kết cấu VLĐ cũng khác nhau Việc phân bổ kết cấu VLĐ hợp lý là một trong các công việc của quản trị VLĐ Việc nghiên cứu kết cấu VLĐ sẽ giúp cho doanh nghiệp thấy được tình hình phân bổ VLĐ và tỷ trọng mỗi khoản vốn chiếm tại các thời điểm như thế nào
là hợp lý, để từ đó lập kế hoạch, chính sách quản lý VLĐ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ trong từng điều kiện cụ thể Tỷ lệ giữa giá trị mỗi loại và
Trang 30nhóm trong toàn bộ VLĐ hợp lý thì chỉ hợp lý tại một thời điểm nào đó và tính hợp lý chỉ mang tính nhất thời
Kết cấu vốn lưu động trong từng khâu
VLĐ trong khâu lưu thông Tổng vốn lưu động
- Kết cấu vốn lưu động theo hình thái biểu hiện và khả năng chuyển đổi thành tiền của VLĐ
Tỷ trọng các khoản phải
Các khoản phải thu Tổng vốn lưu động
1.3.2.4 Quản trị vốn bằng tiền- Quá trình thực hiện, điều chỉnh
Vốn bằng tiền (gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển) là một bộ phận cấu thành tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Đây là loại tài sản
có tính thanh khoản cao nhất và quyết định khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp.Tuy nhiên vốn bằng tiền bản thân nó không tự sinh lời, nó chỉ
Trang 31sinh lời khi được đầu tư sử dụng vào mục đích nhất định.Hơn nữa với đặc điểm
là tài sản có tính thanh khoản cao nên vốn bằng tiền cũng dễ bị thất thoát
Quản trị vốn bằng tiền của doanh nghiệp có yêu cầu cơ bản là vừa phải đảm bảo sự an toàn tuyệt đối, đem lại khả năng sinh lời cao nhưng đồng thời cũng phải đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán bằng tiền mặt của doanh nghiệp Như vậy khi có tiền mặt nhàn rỗi, doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn, cho vay hay gửi tiền vào ngân hàng để thu lợi nhuận Ngược lại khi cần tiền mặt, doanh nghiệp có thể rút tiền gửi ngân hàng, bán chứng khoán hoặc đi vay ngắn hạn ngân hàng để có tiền mặt sử dụng
Quản trị vốn bằng tiền bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
Xác định đúng đắn mức dự trữ tiền mặt hợp lý, tối thiểu nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu bằng tiền mặt của doanh nghiệp trong kỳ
Có nhiều phương pháp xác định mức dự trữ tiền mặt hợp lý của doanh nghiệp Cách đơn giản nhất là căn cứ vào số liệu thống kê nhu cầu chi dùng tiền mặt bình quân một ngày và số ngày dự trữ tiền mặt hợp lý Quyết định tồn quỹ tiền mặt mục tiêu của doanh nghiệp được dựa trên cơ sở xem xét sự đánh đổi giữa chi phí cơ hội của việc giữ quá nhiều tiền mặt với chi phí giao dịch do giữ quá ít tiền mặt
Quản lý chặt chẽ các khoản thu chi tiền mặt: Doanh nghiệp cần quản
lý chặt chẽ các khoản phải thu chi tiền mặt để tránh bị mất mát, lợi dụng Thực hiện nguyên tắc mọi khoản thu chi tiền mặt đều phải qua quỹ, không được thu chi ngoài quỹ Phân định rõ ràng trách nhiệm trong quản lý vốn bằng tiền giữa kế toán và thủ quỹ Việc nhập xuất quỹ tiền mặt hàng ngày phải do thủ quỹ thực hiện trên cơ sở chứng từ hợp thức và hợp pháp Phải thực hiện đối chiếu, kiểm tra tồn quỹ tiền mặt với sổ quỹ hàng ngày Theo dõi quản lý chặt chẽ các khoản tiền tạm ứng, tiền đang trong quá trình thanh toán ( tiền đang chuyển), phát sinh do thời gian chờ đợi thanh toán ở ngân hàng
Trang 32 Chủ động lập và thực hiện kế hoạch lưu chuyển tiền tệ hàng năm, có biện pháp phù hợp đảm bảo cân đối thu chi tiền mặt và sử dụng có hiệu quả nguồn tiền mặt tạm thời nhàn rỗi (đầu tư tài chính ngắn hạn) Thực hiện dự báo và quản lý có hiệu quả các dòng tiền nhập, xuất quỹ trong từng thời kỳ để chủ động đáp ứng yêu cầu thanh toán nợ của doanh nghiệp khi đáo hạn
Các chỉ tiêu tính toán:
o Cơ cấu và sự biến động vốn bằng tiền
o Diễn biến dòng tiền thuần
o Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
- Hệ số phản ánh khả năng thanh toán nhanh, thể hiện năng lực huy động tài sản có thể quy đổi thành tiền để trả nợ ngay khi dến hạn
Hệ số khả năng
thanh toán nhanh =
Tiền và các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
- Hệ số phản ánh khả năng thanh hiện thời, thể hiện năng lực thanh toán
nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
Hệ số khả năng
thanh toán lãi vay =
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Số tiền lãi vay phải trả trong kì
- Hệ số tạo tiền từ HĐKD, thể hiện khả năng thanh toán lãi tiền vay của doanh nghiệp và cũng phản ánh mức độ rủi ro có thể gặp phải đối với các chủ nợ
Hệ số tạo tiền từ HĐKD = Dòng tiền vào từ HĐKD
Doanh thu bán hàng Chỉ tiêu này thường được xem xét theo thời gian hàng quý, hàng 6 tháng
Trang 33hoặc hàng năm nhằm giúp nhà quản trị đánh giá được khả năng tạo tiền từ hoạt động kinh doanh so với doanh thu đạt được
1.3.2.5 Quản trị vốn tồn kho – Quá trình thực hiện, điều chỉnh
Tồn kho dự trữ là những loại tài sản mà doanh nghiệp dự trữ để đưa vào sản xuất hoặc bán ra sau này Căn cứ vào vài trò của chúng tồn kho dự trữ của doanh nghiệp được chia thành 3 loại: Tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, tồn kho thành phẩm Mỗi loại tồn kho dự trữ trên có vai trò khác nhau trong quá trình sản xuất, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành liên tục.Nếu căn cứ vào mức độ đầu tư vốn, tồn kho dự trữ của doanh nghiệp được chia thành tồn kho
có suất đầu tư cao, thấp hoặc trung bình
Việc hình thành lượng hàng tồn kho đòi hỏi phải ứng trước một lượng tiền nhất định gọi là vốn tồn kho dự trữ Việc quản lý vốn tồn kho dự trữ là rất quan trọng, không phải vì nó thường chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng số VLĐ của doanh nghiệp mà quan trọng hơn là giúp doanh nghiệp tránh được tình trạng vật tư hàng hóa ứ đọng, chậm luân chuyển, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doah của doanh nghiệp diễn ra bình thường, góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển VLĐ
Chỉ tiêu đánh giá
Giá trị HTK bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này phản ánh số lần mà hàng tồn kho luân chuyển trong kỳ Số vòng hàng tồn kho càng cao chứng tỏ việc tổ chức và quản lý dự trữ của doanh nghiệp là tốt, doanh nghiệp có thể rút ngắn được chu kì kinh doanh và giảm được lượng vốn bỏ vào hàng tồn kho
Số vòng quay HTK
Trang 34Chỉ tiêu này phản ánh số ngày trung bình một vòng quay hàng tồn kho
Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến mức dự trữ hàng tồn kho
- Đối với mức tồn kho dự trữ nguyên vật liệu, công cụ phụ thuộc vào: quy
mô sản xuất, khả năng sẵn sàng cung ứng của thị trường; giá cả các loại vật tư được cung ứng; khoảng cách giữa DN và nhà cung ứng; hình thái xuất nhập…
- Đối với mức tồn kho sản phẩm dở dang, các yếu tố ảnh hưởng là: đặc điểm và các yêu cầu kỹ thuật, công nghệ trong quá trình chế tạo sản phẩm; thời gian hoàn thành sản phẩm; trình độ tổ chức quá trình sản xuât; sự lâu bền hay dễ hư hao của sản phẩm…
- Đối với mức tồn kho thành phẩm, hàng hoá chịu ảnh hưởng bởi: khối lượng sản phẩm tiêu thụ; sự phối hợp giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; khả năng xâm nhập hay mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của DN
Các biê ̣n pháp quản trị vốn dự trữ hàng tồn kho
- Xác định đúng đắn lượng nguyên vật liệu, hàng hoá cần mua trong kì
và lượng tồn kho dự trữ hợp lý
- Xác định và lựa chọn nguồn cung ứng, người cung ứng thích hợp để đạt được các mục tiêu: giá cả mua vào thấp, các điều khoản thương lượng có lợi cho DN và tất cả gắn líền với chất lượng vật tư hàng hoá phải đảm bảo
- Lựa chọn các phương tiện vận chuyển phù hợp để tối thiểu hoá chi phí vận chuyển, xếp dỡ
- Thường xuyên theo dõi sự biến động của thị trường vật tư, hàng hoá Dự đoán xu thế biến động trong kì tới để có quyết định điều chỉnh kịp thời việc mua sắm, dự trữ vật tư, hàng hoá có lợi cho DN trước sự biến động của thị trường
- Tổ chức tốt việc dự trữ, bảo quản vật tư, hàng hoá
- Thường xuyên kiểm tra, nắm vững tình hình dự trữ, phát hiện kịp thời tình trạng ứ đọng vật tư, không phù hợp để có biện pháp giải phóng nhanh số vật tư đó, thu hồi vốn
Trang 35- Thực hiện tốt việc mua bảo hiểm đối với vật tư hàng hóa, lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho Biện pháp này giúp DN chủ động trong thực hiện bảo toàn VLĐ
1.3.2.6 Quản trị các khoản phải thu – Quá trình thực hiện, điều chỉnh
Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa hoặc dịch vụ Trong kinh doanh hầu hết các doanh nghiệp đều có khoản nợ phải thu nhưng với quy mô, mức độ khác nhau Nếu các khoản phải thu quá lớn, tức số vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng cao, hoặc không kiểm soát nổi sẽ ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì thế quản trị khoản phải thu là một nội dung quan trọng trong quản trị tài chính của doanh nghiệp
Quản trị khoản phải thu cũng liên quan đến sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro trong bán chịu hàng hóa, dịch vụ Nếu không bán chịu hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp sẽ mất đi cơ hội tiêu thụ sản phẩm, do đó cũng mất đi cơ hội thu lợi nhuận Song nếu bán chịu hay bán chịu quá mức sẽ dẫn tới làm tăng chi phí quản trị khoản phải thu, làm tăng chi phí quản trị khoản phải thu, làm tăng nguy cơ nợ phải thu khó đòi hoặc rủi ro không thu hồi được nợ Do đó doanh nghiệp cần đặc biệt coi trọng các biện pháp quản trị khoản phải thu từ bán chịu hàng hóa, dịch vụ Nếu khả năng sinh lời lớn hơn rủi ro thì doanh nghiệp có thể
mở rộng (nới lỏng) bán chịu, còn nếu khả năng sinh lời nhỏ hơn rủi ro doanh nghiệp phải thu hẹp (thắt chặt) việc bán chịu hàng hóa, dịch vụ
Để quản trị các khoản phải thu, các doanh nghiệp cần chú trọng thực hiện các biện pháp sau đây:
- Xác định chính sách bán chịu hợp lý đối với từng khách hàng:
Nội dung chính sách bán chịu trước hết là xác định đúng đắn các tiêu chuẩn hay giới hạn tối thiểu về mặt uy tín của khách hàng để doanh nghiệp có thể chấp nhận bán chịu Về nguyên tắc doanh nghiệp chỉ có thể nới lỏng thời hạn bán chịu khi lợi nhuận tăng thêm nhờ tăng doanh thu tiêu thụ lớn hơn chi
Trang 36phí tăng thêm cho quản trị khoản phải thu của doanh nghiệp
- Phân tích uy tín tài chính của khách hàng mua chịu
Để tránh các tổn thất do các khoản nợ không có khả năng thu hồi doanh nghiệp cần chú ý đến phân tích uy tín tài chính của khách hàng mua chịu Nội dung chủ yếu là đánh giá khả năng tài chính và mức độ đáp ứng yêu cầu thanh toán của khách hàng khi khoản nợ đến hạn thanh toán
Việc đánh giá uy tín tài chính của khách hàng mua chịu thường phải thực hiện qua các bước: Thu thập thông tin về khách hàng, đánh giá uy tín khách hàng theo các thông tin thu nhận được, lựa chọn quyết định nới lỏng hay thắt chặt bán chịu, thậm chí từ chối bán chịu
- Áp dụng các biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả thu hồi nợ:
Tùy theo điều kiện cụ thể có áp dụng các biện pháp phù hợp như:
Sử dụng kế toán thu hồi nợ chuyên nghiệp
Xác định trọng tâm quản lý và thu hồi nợ trong từng thời kỳ để có chính sách thu hồi nợ thích hợp
Thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro bán chịu như trích trước
dự phòng nợ phải thu khó đòi, trích lập quỹ dự phòng tài chính
Vòng quay nợ phải thu
Kỳ thu tiền trung bình phản ánh trung bình độ dài thời gian thu tiền bán hàng của doanh nghiệp kể từ lúc xuất giao hàng cho đến khi thu được tiền bán
Trang 37hàng Kỳ thu tiền trung bình phụ thuộc vào chính sách bán chịu và tổ chức thanh toán của doan nghiệp
Tỷ lệ các khoản phải thu so với
Các khoản phải thu Các khoản phải trả Chỉ tiêu trên phản ánh mối quan hệ giữa nguồn vốn bị chiếm dụng với nguồn vốn đi chiếm dụng của doanh nghiệp, từ đó phản ánh hiệu quả
lý TCDN đánh giá được tình hình sử dụng VLĐ của những năm trước, rút ra bài học kinh nghiệm để đề ra những biện pháp nhằm tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ ở những kỳ tiếp theo
Tốc độ luân chuyển VLĐ được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu:
Trang 38thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thì tổng mức luân chuyển được xác định bằng doanh thu theo giá tính theo giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng đầu ra của doanh nghiệp Để đơn giản, ta xác định tổng mức luân chuyển VLĐ trong kỳ chính là doanh thu thuần của doanh nghiệp trong kỳ VLĐ bình quân trong kỳ được xác định theo công thức sau:
1.3.3.2.Kỳ luân chuyển vốn lưu động
Chỉ tiêu này cho biết thời gian cần thiết để hoàn thành một vòng luân chuyển VLĐ Kỳ luân chuyển càng ngắn thì VLĐ luân chuyển càng nhanh và ngược lại Công thức tính như sau:
Số lần luân chuyển VLĐ
1.3.3.3 Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VLĐ bỏ ra có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế.Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụng VLĐ càng tốt và ngược lại
2 1
2
Vcq Vcq
Trang 39Hàm lượng VLĐ =
Số VLĐ bình quân trong kỳ
Doanh thu thuần trong kỳ
1.3.3.5 Mức tiết kiệm vốn lưu động
Mức tiết kiệm là lượng vốn lưu động tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ Nhờ tăng tốc độ luân chuyển VLĐ nên doanh nghiệp có thể rút
ra khỏi một số VLĐ để dùng cho các hoạt động khác
Công thức xác định:
Mức tiết kiệm
Mức luân chuyển vốn bình quân 1 ngày trong kỳ KH X
Số ngày rút ngắn kỳ luân chuyển VLĐ
Mức tiết kiệm tuyệt đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp có thể tiết kiệm được một số vốn lưu động có thể sử dụng vào công việc khác Nói một cách khác với mức luân chuyển vốn không thay đổi (hoặc lớn hơn báo cáo) song do tăng tốc độ luân chuyển nên doanh nghiệp cần số vốn ít hơn Công thức xác đinh số VLĐ tiết kiệm tuyệt đối như sau:
Vtktđ =(
M1
x K1) – VLĐ0 = VLĐ1 – VLĐ0
360 Trong đó
Vtktđ: Vốn lưu động tiết kiệm tuyệt đối
VLĐ0, VLĐ1: Vốn lưu động bình quân năm báo cáo và năm kế hoạch
M1: Mức luân chuyển năm kế hoạch
K1: Kỳ luân chuyển năm kế hoạch
Điều kiện để có VLĐtiết kiệm tuyệt đối là tổng mức luân chuyển vốn kỳ
kế hoạch phải không nhỏ hơn tổng mức luân chuyển vốn kỳ báo cáo và vốn lưu động kỳ kế hoạch phải nhỏ hơn vốn lưu động kỳ báo cáo
Mức tiết kiệm tương đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp có thể tăng them tổng mức luân chuyển vốn song không cần tăng them
Trang 40hoặc tăng không đáng kể quy mô VLĐ Công thức xác định số VLĐ tiết kiệm tương đối như sau:
Vtktgđ = Tài sản ngắn
hạn bình quân -
Thời gian 1 vòng quay TSNH x Doanh thu thuần
360 Điều kiện để có VLĐ tiết kiệm tương đối là tổng mức luân chuyển vốn
kỳ kế hoạch phải lớn hơn kỳ báo cáo và VLĐ kỳ kế hoạch và phải lớn VLĐ
Lựa chọn phương án kinh doanh, phương án sản phẩm
Quản trị VLĐ để tạo được hiệu quả trong sử dụng VLĐ của doanh nghiệp trước hết được quyết định bởi khả năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Do vậy các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến việc sản xuất sản phẩm gì, số lượng bao nhiêu, tiêu thụ ở đâu và với mức giá nào để còn có phương án huy động các nguồn lực hợp lý, nhằm đạt được mức lợi nhuận tối đa Trong nền kinh tế thị trường, quy mô và tính chất sản xuất kinh doanh đều do thị trường quyết định Việc dự đoán, nắm bắt thời cơ là yếu tố quyết định sự thành bại trong kinh doanh Vì vậy việc lựa chọn phương án kinh doanh, phương án sản phẩm có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Từ những quyết định lựa chọn dự án đầu tư, phương án kinh doanh, nhà quản trị đưa ra các cách thức phương pháp huy động, đầu tư và sử dụng vốn nói chung cũng như VLĐ nói riêng, có biện pháp quản trị riêng