ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN XÂY DỰNG CHỈ TIÊU, PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KHI THỰC HIỆN THẨM TRA AN TOÀN GIAO THÔNG ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH NÚT GIAO THÔNG VÒN
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
XÂY DỰNG CHỈ TIÊU, PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KHI THỰC HIỆN THẨM TRA
AN TOÀN GIAO THÔNG ĐỐI VỚI
CÔNG TRÌNH NÚT GIAO THÔNG VÒNG ĐẢO Ở
ĐÔ THỊ VIỆT NAM
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
KỸ THUẬT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG
Đà Nẵng - Năm 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHAN CAO THỌ
Phản biện 1: ………
Phản biện 2: ………
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông họp tại Trường Đại
học Bách khoa vào ngày … tháng …… năm 2018
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Trung tâm Học liệu, Đại học Đà Nẵng tại Trường Đại học
Bách khoa
Thư viện Khoa Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông – Đại
học Bách khoa
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thẩm tra ATGT đường bộ là một giải pháp kỹ thuật, mang ý nghĩa nhân văn nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tai nạn giao thông Ở các nước phát triển như Anh, Úc, Nhật công tác thẩm tra ATGT đường bộ đã được thực hiện vài thập kỷ và đã đạt được những kết quả nhất định trong lĩnh vực này
Ở Việt Nam, công tác thẩm tra ATGT được đưa vào Luật giao thông đường bộ từ năm 2010 Tuy nhiên, hiện nay, công tác thẩm tra ATGT mới được triển khai thực hiện ở một số công trình đường Quốc lộ, công tác thẩm tra ATGT đối với các công trình giao thông
có quy mô lớn tại các đô thị chưa được quan tâm đúng mức Chính vì vậy, khi triển khai công tác thẩm tra ATGT thì bị vướng mắc như sau:
- Danh mục thẩm tra ATGT là thống nhất trên toàn quốc, không xem xét đến các điều kiện công trình giao thông có những đặc thù riêng như: nút giao thông vòng đảo quy mô lớn trong điều kiện
đô thị Việt Nam
- Thiếu công cụ kỹ thuật để phân tích tai nạn giao thông, ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thực hiện thẩm tra ATGT
- Đã có quy định về nội dung thẩm tra ATGT, tuy nhiên chưa
có quy định cụ thể đối với các công trình giao thông có quy mô lớn tại các đô thị và chưa có hướng dẫn cụ thể về phương pháp thực hiện
- Các cơ quan có liên quan chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích của công tác thẩm tra ATGT
- Các tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện nay đang bó buộc;…
Việc tồn tại nhiều hạn chế như trên gây khó khăn cho người thực hiện công tác thẩm tra ATGT, đặc biệt đối với các công trình nút giao thông có quy mô lớn trong đô thị Việt Nam, việc thẩm tra ATGT sẽ phức tạp hơn do nó có những đặc thù riêng như: Yếu tố xe hai bánh, quản lý ra vào nút giao, chuyển động của xe phức tạp, mật
độ xung đột lớn, góc xung đột đa dạng
Trang 4Vì vậy, cần có sự nghiên cứu để xây dựng các chỉ tiêu, hướng dẫn kỹ thuật, phương pháp đánh giá cụ thể cho công tác thẩm tra ATGT đối với từng loại công trình giao thông nói chung và công trình nút giao thông có quy mô lớn tại các đô thị nói riêng, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác thẩm tra ATGT Cụ
thể: “Xây dựng phương pháp, chỉ tiêu đánh giá khi thực hiện thẩm tra ATGT đối với công trình nút giao thông vòng đảo ở đô thị Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng công tác thẩm tra ATGT tại Việt Nam, đề xuất xây dựng các chỉ tiêu, phương pháp đánh giá cụ thể phục vụ công tác thẩm tra ATGT tại các nút giao thông vòng đảo ở đô thị Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu Công tác thẩm tra ATGT đối với công trình nút giao thông vòng ở đô thị Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp lý thuyết
Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp thống kê
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về công tác thẩm tra ATGT
Chương 2: Phân thích đặc điểm hoạt động của nút giao thông vòng đảo
Chương 3: Đề xuất phương pháp, các chỉ tiêu thẩm tra ATGT Chương 4: Áp dụng thực tế - áp dụng thực hiện thẩm tra ATGT cho nút giao Ngã Ba Huế - TP Đà Nẵng giai đoạn công trình đang khai thác
Trang 5CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC THẨM TRA
AN TOÀN GIAO THÔNG
1.1 Vị trí, vai trò của công tác thẩm tra ATGT
1.1.1 Khái niệm về thẩm tra ATGT đường bộ
Thẩm tra an toàn giao thông đường bộ là việc Tổ chức tư vấn tiến hành nghiên cứu, phân tích các tài liệu có liên quan (Báo cáo đầu tư xây dựng công trình, thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, Báo cáo Kinh tế - Kỹ thuật xây dựng công trình, hồ
sơ hoàn công công trình, hồ sơ quản lý tuyến đường, hồ sơ các vụ tai nạn giao thông) và tiến hành kiểm tra hiện trường để phát hiện các khả năng tiềm ẩn tai nạn giao thông hoặc đánh giá nguyên nhân gây tai nạn giao thông và đề xuất giải pháp khắc phục nhằm bảo đảm giao thông trên tuyến an toàn, thông suốt
1.1.2 Mục tiêu của Thẩm tra an toàn giao thông
Thẩm tra an toàn giao thông đường bộ nhằm mục tiêu đảm bảo cho công trình giao thông đường bộ có mức độ an toàn cao nhất trong quá trình sử dụng, cụ thể là:
- Xác định được các yếu tố tiềm ẩn có thể gây tai nạn giao thông hoặc có thể làm tăng mức độ nghiêm trọng của tai nạn (nếu xảy ra);
- Cân nhắc một cách toàn diện và đưa ra các giải pháp để loại
bỏ hoặc giảm thiểu tai nạn giao thông;
- Xác định các tiêu chuẩn kỹ thuật, kết cấu đã lạc hậu hoặc không còn phù hợp với thực tế về phương diện đảm bảo an toàn để nghiên cứu, kiến nghị, sửa đổi;
- Tăng cường nhận thức về ATGT cho những người làm công tác nghiên cứu, thiết kế cũng như xây dựng, bảo dưỡng công trình giao thông đường bộ và những người tham gia giao thông
Trang 61.1.3 Sự cần thiết phải thẩm tra ATGT đường bộ
Công tác thẩm tra ATGT mang tính độc lập với các ý tưởng thiết
kế, và mục tiêu chính là xem xét, đảm bảo, nâng cao vấn đề AN TOÀN cho người tham gia giao thông Nó mang tính nhân văn và thực sự cần thiết cho mỗi công trình giao thông đường bộ
1.2 Cơ sở lý thuyết và cơ sở pháp lý công tác thẩm tra ATGT
Bước 4: Khảo sát hiện trường của cơ quan thẩm định
Bước 5: Chuẩn bị báo cáo thẩm định ATGT Bước 6: Đánh giá báo cáo thẩm định Bước 7: Sửa đổi thiết kế hoặc điều chỉnh thi công
và xác nhận lần cuối cho những việc đã làm (đối với
dự án xây dựng mới, nâng cấp, cải tao) hoặc phân bổ ngân sách cho công tác sửa đổi, cải tạo (đố với cồn trình đã đưa vào khai thác)
Trang 7ATGT đường bộ tốt sẽ góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông, nâng cao khả năng khai thác an toàn của tuyến đường được thẩm tra
1.3 Đánh giá công tác thẩm tra ATGT đường bộ hiện nay
1.3.1 Phương pháp thực hiện công tác thẩm tra ATGT hiện nay tại Việt Nam
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá thẩm tra ATGT
1.3.3 Phân tích phương pháp thực hiện công tác thẩm tra ATGT hiện nay trên thế giới
1.3.4 Phương pháp thực hiện công tác thẩm tra ATGT hiện nay đối với công trình giao thông đô thị
a) Đối với các công trình nói chung
Hiện nay, ở nước ta chưa xây dựng các danh mục thẩm tra riêng đối với các công trình giao thông đô thị Mặc dù các công trình giao thông trong đô thị có những đặc thù riêng, nhưng về mảng thẩm tra ATGT hiện nay chưa hề đề cập đến các công trình giao thông đô thi, qua đó chưa đánh giá được tất cả các yếu tố cẩn xem xét, cần thẩm tra ATGT đối với các công trình giao thông đô thị Cần nghiên cứu bổ sung
b) Đối với các công trình nút giao vòng đảo trong đô thị Nút giao thông là nơi nguy hiểm nhất đối với người tham giao giao thông đường bộ vì tại đó tồn tại nhiều điểm xung đột Trong nút giao thông, xe có nhiều chuyển động khác với trên đường thường (nhập dòng, tách dòng, trộn dòng và cắt dòng) Trong nút giao thông (trong một không gian chật hẹp), người lái xe phải tiếp nhận và xử lý nhiều thông tin hơn so với trên đường thường: quan sát để hiểu tình hình thực tế trong nút, quan sát hiệu lệnh trong nút; phải thực hiện nhiều thao tác phức tạp .Vì vậy, đây là nơi dễ xảy ra tai nạn giao thông
Hiện nay, hướng dẫn duy nhất để tiến hành công tác thẩm tra ATGT là thực hiện theo Thông tư số 50/2015/TT-BGTVT ngày
Trang 823/9/2015 Theo Thông tư số 50/2015/TT-BGTVT ban hành danh mục các nội dung các nội dung cần xem xét trong quá trình thẩm tra ATGT, chỉ ban hành danh mục thẩm tra ATGT chung cho các nút giao đồng mức, và một số danh mục thẩm tra đối với nút giao hình xuyến Theo đó, các danh dục ban hành rất chung chung, chỉ mang tính chất định hướng, chưa đi sâu bám sát vào đặc điểm của nút giao vòng đảo Bên cạnh đó, các danh mục này thống nhất trên toàn quốc mà chưa phản ánh đặc trưng giao thông ở Việt Nam, đặc biệt là ở đô thị Việt Nam Vì vậy, người thực hiện thẩm tra ATGT gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện, và kết quả của cáo cáo thẩm tra ATGT cho mỗi công trình phụ thuộc rất lớn vào tư duy và trình độ của người thẩm tra viên
Chính vì lý do trên, cần có nghiên cứu đưa ra định hướng cho phương pháp thẩm tra ATGT, bổ sung các danh mục thẩm tra ATGT cho nút giao vòng đảo, để mang đến kết quả tốt nhất cho quá trình thẩm tra ATGT
CHƯƠNG 2: PHÂN THÍCH ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA
NÚT GIAO THÔNG VÒNG ĐẢO
2.1 Khái niệm và đặc điểm nút giao vòng đảo
2.1.2 Ưu điểm của nút giao thông vòng đảo
2.1.3 Nhược điểm của nút giao thông vòng đảo
2.2 Các bộ phận của nút giao vòng đảo
Trang 9nhánh dẫn
Bề rộng
Bề rộng cửa vào
Bán kính bó vỉa Vạch nhường đường
cửa ra
Bề rộng
Bề rộng nhánh
dẫn ra
2.2.1 Đảo trung tõm:
2.2.2 Chiều rộng phần xe chạy vũng đảo
2.2.3 Chiều rộng cửa vào và cửa ra
2.2.4 Độ cong
2.2.5 Đảo phõn cỏch
2.2.6 Đoạn trộn dũng
2.2.7 Dốc ngang và dốc dọc
Trang 102.3 Đánh giá mức độ an toàn giao thông trong nút giao vòng đảo
Tại các đô thị lớn ở Việt Nam, hình thức nút giao vòng đảo được
sử dụng rộng rãi và đa dạng về mặt hình học (về loại hình đảo trung tâm, kích thước đảo trung tâm, số làn xe chạy vòng quanh đảo)
2.5.2 Đặc điểm về lưu lượng
- Thế áp đảo của xe máy: Giao thông tại các đô thị Việt Nam hết sức đặc biệt vì tỷ lệ xe hai bánh (xe máy và xe đạp) chiếm tới
85 % (nguồn: điều tra giao thông của IMV, 03/2004) Số còn lại là xe
ô tô con, xe chở khách, xe buýt và xe tải (gọi chung là xe bốn bánh)
Có thể tham khảo tại số liệu khảo sát về thành phần dòng xe tại đô thị Việt Nam:
- Sự tăng nhanh các phương tiện giao thông: Tại các đô thị Việt Nam (đặc biệt là Hà Nội, TP Hồ Chí Minh), có sự gia tăng rất lớn các phương tiện tham gia giao thông Tại TP Hồ Chí Minh năm
2009 có trên 4 triệu xe mô tô, xe gắn máy, tăng 159% so với cuối năm 2000, trên 400 nghìn xe ô tô, tăng 211% so với cuối năm 2000 Tại Hà Nội, tốc độ tăng phương tiện cá nhân 12-15%/năm Có thể tham khảo bảng tăng trưởng và dự báo tăng trưởng phương tiện tham gia giao thông ở bảng sau:
2.5.3 Đặc điểm về tổ chức giao thông:
+ Nhường đường ở cửa vào: Các xe muốn vào nút, phải chờ ở vạch dừng xe để chờ cơ hội (quãng trống) trong dòng xe vòng quanh đảo
Trang 11+ Xe vào nút phải đi vòng về tay phải, trước khi vào nút Như vậy
xe không được chạy thẳng qua nút vòng đảo, mà phải giảm tốc độ
+ Đối với nút vòng đảo có nhiều làn xe Thông thường làn xe trong cùng (giáp đảo) dùng cho xe rẽ trái hoặc chạy thẳng Làn xe ngoài cùng dành cho xe rẽ phải, làn xe giữa đường dùng cho giao trộn giữa xe vào và ra nút
2.6 Phân tích các đặc điểm của nút giao thông vòng đảo trong điều kiện đô thị Việt Nam
Hiện nay, tại các đô thị Việt Nam sử dụng khá nhiều loại hình nút vòng đảo tại các nút giao thông Các nút vòng đảo được sử dụng đa dạng về hình dạng đảo, kích thước đảo, số làn xe Trong phạm vi luận văn, tác giả chon nghiên cứu 03 nút giao thông vòng đảo đặc trưng tại đô thị Đà Nẵng: Nút giao cầu Sông hàn, nút giao Ngã Ba Huế (tầng 2) và nút giao cầu Trần Thị Lý để đánh giá các chỉ tiêu khai thác tại nút giao thông vòng đảo
Trang 12d) Quãng cách giữa các xe t(s),s(m):
đ) Thành phần dòng xe:
2.6.3 Điều kiện về tổ chức giao thông:
Tại những nút giao thông trên, hệ thống vạch kẻ, biển báo được bố trí rất đầy đủ Tuy nhiên, có một vài vị trí, các vạch kẻ sơn đường đã bị mờ Bên cạnh đó một số biển báo đã bị cây xanh che khuất tầm nhìn đã không còn chức năng báo hiệu đối với người đi đường
Hình 2.2 Hệ thống biển báo trên các nút vòng đảo
Hình 2.3 Vạch sơn kẻ đường đã bị mờ trên các nút vòng 2.6.4 Điều kiện hình học:
a) Đảo trung tâm:
So sánh bán kính thực tế của các nút đang xét, với Rđảomin = 17,5m, là khá nhỏ so với tiêu chuẩn ở Việt Nam và các nước Thực
tế quan sát dòng xe tại các nút trên tuyến đường, với bán kính nhỏ
Trang 13Rđảo = 17,5 m, không bố trí đủ các đoạn trộn dòng, vì vậy, vẫn tồn tại nhiều xung đột giao cắt, gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông Thực tế, tại các nút vẫn thường xuyên xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông
b) Bề rộng phần đường xe chạy quanh đảo:
Bề rộng phần xe chạy của nút hình xuyến được xác định từ số làn xe và bề rộng mỗi làn xe Bên cạnh đó, bề rộng phần đường xe chạy quanh đảo phụ thuộc vào cách bố trí và bề rộng của cửa vào, cửa ra Bề rộng này thường không thay đổi và bằng 1-1.2 lần bề rộng cửa vào lớn nhất
2.6.5 Đánh giá mức độ phức tạp của nút giao thông qua các điểm xung đột
2.6.6 Đánh giá mức độ an toàn của nút giao thông:
2.6.7 Đánh giá mức độ nguy hiểm của nút thông qua hệ số tai nạn tương đối
2.6.8 Tính khả năng thông hành của nút giao thông:
2.6.9 Tình hình tai nạn giao thông:
Tóm lại: Tại các nút giao thông tại cá đô thị Việt Nam nói chung,
tại thành phố Đà Nẵng nói riên, những thiết kế hiện tại vẫn đảm bảo khả năng thông hành và một số chỉ tiêu khai thác như thời gian chậm
xe, mức độ phục vụ Vẫn chưa xảy ra tình trạng tắc ngẽn giao thông tại các nút Tuy nhiên, những thiết kế như hiện nay chưa đảm bảo được vấn đề an toàn giao thông và cảm giác thoải mái cho người tham gia giao thông Do nút quá rộng, với bề rộng các nhánh dẫn, cửa vào khá lớn, vì vậy, người điều khiển xe hai bánh thường không quan sát được mọi hướng, nên người tham gia giao thông khi vào nút thường không có cảm giác an toàn Trong một vài năm tới, khi lưu lượng xe ngày càng tăng cao, thì vấn đề này càng trở nên nghiêm trọng hơn Vì vậy, cần thiết phải có những nghiên cứu, thẩm tra
Trang 14ATGT để đề xuất những giải pháp điều chỉnh về tổ chức giao thông tại nút để cải thiện điều kiện giao thông hiện nay
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC CHỈ TIÊU, PHƯƠNG PHÁP
THẨM TRA ATGT
3.1 Đề xuất bổ sung các danh mục cần thẩm tra ATGT đối với công trình nút giao thông vòng đảo trong điều kiện đô thị Việt Nam
3.1.1 Đường kính đảo đảm bảo chiều dài trộn dòng (tránh giao cắt)
+ Đường kính đảo trung tâm phải đạt được các mục tiêu: kiểm soát tốc độ,(tốc độ chấp nhận được, phục vụ đầy đủ phương tiện thiết
kế, đảm bảo tầm nhìn
+ Đối với vòng đảo đơn làn, đường kính ngoài phải đủ lớn để chứa xe thiết kế trong khi vẫn đảm bảo duy trì độ lệch đường cong
để đảm bảo tốc độ an toàn cho các xe nhỏ hơn
+ Đối với vòng đaỏ nhiều làn xe, đường kính phải cân bằng nhu cầu đạt được độ lệch và cung cấp đầy đủ sự liên kết các nhánh dẫn
3.1.2 Hướng đường dẫn