1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường tại bệnh viện đa khoa tỉnh ninh bình

77 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tổ chức Y tế thế giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn, 5% là chất thải độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào, các hóa chất độc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Vũ Trần Kiên

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA

TỈNH NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Vũ Trần Kiên

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này đã được hoàn thành với sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của TS Hoàng Anh Lê, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự quan tâm, động viên và hướng dẫn nhiệt tình của thầy trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành của mình đến quý thầy cô giáo trong Khoa Môi Trường, phòng Đào tạo sau đại học (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội) Cảm ơn thầy cô đã truyền cho tôi kiến thức và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại khoa Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc, các phòng, khoa thuộc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và hoàn thành luận văn

Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, anh, chị, em, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành khóa học

Hà Nội, ngày 18 tháng 10 năm 2017 Học viên

Vũ Trần Kiên

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN 3

1.1.Tổng quan về chất thải y tế 3

1.1.1.Định nghĩa chất thải y tế 3

1.1.2.Nguồn và phân loại chất thải y tế 4

1.1.3.Thành phần chất thải bệnh viện 5

1.1.4.Khuynh hướng phát thải chất thải y tế 6

1.1.5.Tác động của chất thải y tế tới môi trường và sức khoẻ 9

1.2 Các văn bản sử dụng trong quản lý môi trường bệnh viện 12

1.3 Công tác quản lý và xử lý chất thải y tế 14

1.3.1 Phát sinh chất thải y tế 15

1.3.2.Phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải y tế 19

1.3.3.Những tồn tại, khó khăn trong việc quản lý chất thải y tế 22

1.4.Tổng quan địa bàn nghiên cứu 24

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.1.2.Phạm vi nghiên cứu 26

2.2.Phương pháp nghiên cứu 26

2.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát bằng phiếu điều tra 26

2.2.2 Phương pháp quan sát trực quan và đánh giá bằng bảng thang điểm 27

2.2.3 Phương pháp phân tích mẫu và so sánh 28

Trang 5

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1.Thực trạng quản lý chất thải rắn, nước thải phát sinh tại Bệnh viện Đa khoa Ninh Bình 30

3.1.1 Hiện trạng quản lý chất thải rắn 30

3.1.2 Hiện trạng quản lý nước thải 38

3.2 Đánh giá hệ thống quản lý môi trường và công tác đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường tại Bệnh viện 45

3.2.1.Đánh giá hệ thống quản lý môi trường và đầu tư tại Bệnh viện Đa khoa Ninh Bình 45

3.2.2.Đánh giá hiểu biết và thái độ của cán bộ, vệ sinh viên và nhân viên y tế bệnh viện trong thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế tại bệnh viện Đa khoa Ninh Bình 48

3.2.3.Đánh giá chung sự hiểu biết và thái độ của cán bộ, nhân viên y tế và vệ sinh viên tại bệnh viện 56

3.3 Đề xuất và kiên nghị các giải pháp nhằm nâng cao chât lượng công tác quản lý môi trường tại bệnh viện 57

3.3.1 Giải pháp kỹ thuật 57

3.3.2 Giải pháp về nhân lực 58

3.3.3 Giải pháp tuyên truyền – truyển thông 58

3.3.4 Giải pháp tăng cường giám sát và báo cáo 58

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Lượng chất thải thay đổi theo từng nước 8

Bảng 1.2: Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện 8

Bảng 1.3: Lượng chất thải thay đổi theo các bộ phận khác nhau trong cùng bệnh viện 8

Bảng 1.4: Lượng chất thải phát sinh theo tuyến bệnh viện 9

Bảng 1.5: Tỷ lệ nguy cơ nhiễm bệnh từ vật sắc nhọn 10

Bảng 1.6: Một số loại bệnh có nguy cơ lây nhiễm từ chất thải y tế 10

Bảng 1.7 Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế 16

Bảng 1.8: Khối lượng chất thải y tế của một số địa phương năm 2011 17

Bảng 1.9: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện 18

Bảng 1.10: Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải y tế tại các Bệnh viện trên địa bàn Thành phố Hà Nội năm 2010 20

Bảng 1.11: Thực trạng các trang thiết bị thu gom lưu giữ CTR y tế tại một số thành phố 21

Bảng 3.1: Thống kê chất thải rắn, chất thải nguy hại tại Bệnh viện ĐK Ninh Bình năm 2016 31

Bảng 3.2: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện 31

Bảng 3.3: Thực trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế 35

Bảng 3.4: Thực trạng vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế 36

Bảng 3.5: Thực trạng xử lý chất thải rắn y tế 37

Bảng 3.6 Thực trạng chất lượng nước thải bệnh viện trước khi qua hệ thống xử lý nước thải CN2000 39

Bảng 3.7: Thực trạng chất lượng nước thải Bệnh viện sau khi qua hệ thống xử lý nước thải CN2000 40

Bảng 3.8: Thực trạng hệ thống thu gom, xử lý nước thải y tế tại bệnh viện 44

Trang 7

Bảng 3.9: Nhân lực trực tiếp thu gom, xử lý chất thải y tế tại BV ĐK 46 Bảng 3.10: Tỷ lệ cán bộ, nhân viên y tế và vệ sinh viên được tập huấn quy chế quản

lý chất thải y tế tại bệnh viện 48 Bảng 3.11: Hiểu biết của nhân viên y tế, vệ sinh viên và công chức bệnh viện về phân loại chất thải y tế theo nhóm chất thải 49 Hình 3.5: Biểu đồ hiểu biết về phân loại nhóm Chất thải y tế 49 Bảng 3.12: Hiểu biết của nhân viên y tế, vệ sinh viên và công chức bệnh viện về mã màu dụng cụ đựng chất thải y tế 50 Bảng 3.13: Hiểu biết về phân loại chất thải y tế của cán bộ, nhân viên y tế và vệ sinh viên BV theo nhóm chất thải và theo mã màu 52 Bảng 3.14: Hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế và vệ sinh viên bệnh viện về tác hại của chất thải y tế đối với người tiếp xúc 53 Bảng 3.15: Hiểu biết của CB, nhân viên y tế và vệ sinh viên bệnh viện về các đối tượng dễ bị tổn thương bởi chất thải y tế 54 Bảng 3.16: Tình hình thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế tại bệnh viện 55

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Thành phần chất thải rắn y tế dựa vào đặc tính lý hóa học 6

( nguồn: WHO’s report ) 6

Hình 3.1: Quy trình xử lý chất thải rắn bệnh viện 34

Hình 3.2: Mạng lưới thoát nước tại bệnh viện Đa khoa Ninh Bình 41

Hình 3.3: Sơ đồ hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện 42

Hình 3.4: Sơ đồ hệ thống nhân lực quản lý môi trường bệnh viện 45

Hình 3.6: Biểu đồ hiểu biết về mã màu dụng cụ y tế 51

Hình 3.7: Biểu đồ hiểu biết về phân loại CTYT theo nhóm chất thải và mã màu dụng cụ y tế 52

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TT-BTNMT Thông tư bộ tài nguyên môi trường

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, kinh tế cũng phát triển, dẫn đến nhu cầu khám và điều trị bệnh gia tăng, số bệnh viện gia tăng Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, hệ thống y tế đặc biệt là các bệnh viện đã thải ra môi trường một lượng lớn các chất thải nguy hại Hiện tại, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho môi trường dân cư xung quanh, gây dư luận trong cộng đồng

Theo tổ chức Y tế thế giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn, 5% là chất thải độc hại như chất phóng

xạ, chất gây độc tế bào, các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh, đó là những yếu tố nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, lan truyền mầm bệnh từ bệnh viện tới các vùng xung quanh, dẫn tới tăng nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện và tỷ lệ bệnh tật của cộng đồng dân cư sống trong vùng

tiếp giáp [11]

Ninh Bình là một tỉnh vệ tinh của thủ đô Hà Nội trung tâm của khu vực phía Bắc (chỉ cách Hà Nội 90 km) nên trong những năm qua không chỉ công tác nâng cao chất lượng khám chữa bệnh mà được sự quan tâm của Bộ Y tế, UBND tỉnh đã đầu tư nâng cấp chất lượng các hệ thống xử lý nước thải, rác thải đặc biệt là tại các bệnh viện có quy mô lớn với lượng bệnh nhân thường xuyên cao như Bệnh viện Đa khoa Ninh Bình và Bệnh viện sản nhi Ninh Bình Tuy nhiên nhằm nâng cao chất lượng môi trường tại các bệnh viện thì ngoài các hệ thống xử lý đạt tiêu chuẩn còn cần phải có hệ thống quản lý môi trường hiệu quả Xuất phát từ thực tiễn trên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo

TS.Hoàng Anh Lê, tôi tiến hành luận văn: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường tại bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình”

Mục tiêu chính của luận văn là đánh giá hiện trạng chất lượng và công tác quản lý môi trường từ đó đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý môi trường tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình

Trang 11

- Đánh giá được hiểu biết và thái độ của cán bộ, vệ sinh viên và nhân viên

y tế bệnh viện trong thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế tại bệnh viện

- Đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý môi trường tại bệnh viện

Đề tài là một bước tiếp theo cho việc nghiên cứu, điều tra các nguồn gây

ô nhiễm của chất thải y tế tác động ảnh hưởng đến chất lượng môi trường của tỉnh Ninh Bình Ngoài ra đề tài là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu khoa học, điều tra về công tác quản lý chất thải y tế bệnh viện và giúp cho các nhà quản lý về môi trường có những chính sách và công tác quản lý môi trường chặt chẽ hơn

Đề tài góp phần đánh giá được thực trạng chất lượng môi trường y tế của bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình

Tìm hiểu được mức độ ô nhiễm của ngành y tế, đưa ra những định hướng đúng đắn trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường

Trang 12

3

Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về chất thải y tế

1.1.1 Định nghĩa chất thải y tế

Chất thải y tế: là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, xét nghiệm, chuẩn đoán, các hoạt động trong công tác phòng bệnh, các hoạt động nghiên cứu và đào tạo về y sinh học Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng và khí Chất thải y

tế thường bao gồm cả các loại chất thải có đặc tính và tác động đối với môi trường sức khoẻ giống như các chất thải thông thường khác [4]

Để xác định nguồn phát thải, tải lượng của chất thải y tế nói chung và tỷ

lệ chất thải rắn nguy hại nói riêng có rất nhiều cách đánh giá khác nhau và chưa thực sự thống nhất

Một cách tiếp cận thuyết phục để có thể dự báo, ước lượng chất thải y tế nói chung và số lượng hay tỷ lệ chất thải y tế nguy hại nói riêng phải dựa vào các yếu tố như sau:

- Số lượng, đặc điểm, phạm vi cứu chữa, qui mô khám bệnh, điều trị của tất cả các cơ sở y tế

- Số lượng giường bệnh tại bệnh viện và các cơ sở y tế có giường bệnh từ tuyến huyện và tương đương trở lên bao gồm cả các bệnh viện do ngành

- Các cơ sở y tế trực thuộc Bộ Y Tế

- Các cơ sở y tế trực thuộc tỉnh

Trang 13

4

- Các cơ sở y tế tuyến huyện

- Các cơ sở y tế tuyến xã và tương đương

Trong đó, quy mô bệnh viện có từ tuyến huyện gọi là bệnh viện huyện, tuyến tỉnh gọi là bệnh viện tỉnh và tuyến sau cùng là các bệnh viện tuyến Trung Ương Đa số các bệnh viện của các tuyến là qui mô bệnh viện đa khoa, một số bệnh viện chuyên khoa Các bệnh viện nêu trên là các cơ sở y tế có giường bệnh, thường xuyên hoạt động khám chữa bệnh và cũng thường xuyên phát thải chất thải rắn y tế [4]

1.1.2 Nguồn và phân loại chất thải y tế

Việc phân loại và xác định chất thải y tế của đa số các nước trên thế giới,

kể cả các nước trong khu vực cũng như hướng dẫn của tổ chức y tế thế giới (WHO) khá nhất quán và nhìn chung đều bao gồm các loại chính như sau: 1.1.2.1 Nhóm chất thải lây nhiễm

Bao gồm 4 phân nhóm khác nhau

- Nhóm A: chất thải sắc nhọn: là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế

- Nhóm B: Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly

- Nhóm C: Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao : là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm

- Nhóm D: Chất thải giải phẫu : bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người: rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm

Trang 14

5

1.1.2.2 Nhóm chất thải hoá học nguy hại

Chất thải hoá học nguy hại bao gồm: dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng, chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế, chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu, chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị

vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm

gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị) [19]

1.1.2.3 Nhóm chất thải phóng xạ

Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất như ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm, gạc sát khuẩn có sử dụng hoặc bị nhiễm các đồng vị phóng xạ

1.1.2.4 Nhóm các bình chứa khí nén có áp suất

Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt

1.1.2.5 Nhóm chất thải thông thường

Nhóm chất thải này có đặc điểm chung như chất thải sinh hoạt thông thường phát sinh từ các buồng bệnh, các công việc hành chính, chất thải ngoại cảnh

Trang 15

6

lượng phát sinh chất thải rắn trong bệnh viện tăng lên, đặc điểm thành phần chất thải bệnh viện cũng thay đổi theo (có thể tăng tỉ lệ khối lượng chất thải rắn sinh hoạt) Kết quả này dẫn tới sự quá tải hệ thống thu gom và xử lý chất thải vốn được thiết kế theo số giường bệnh

Sự quá tải này cũng là nguyên nhân dẫn đến quản lý, thu gom và phân loại và xử lý thiếu nghiêm ngặt và không tuân thủ các qui định bắt buộc, do đó dẫn đến tình trạng là một tỷ lệ chất thải rắn y tế nguy hại có thể bị lẫn vô chất thải rắn chung và phát tán ra môi trường bên ngoài, trở thành nguồn gây ô nhiễm và có khả năng gây ra các rủi ro về môi trường và sức khoẻ

Hình 1.1: Thành phần chất thải rắn y tế dựa vào đặc tính lý hóa học

( nguồn: WHO’s report )

1.1.4 Khuynh hướng phát thải chất thải y tế

1.1.4.1 Đối với chất thải y tế chung

Tổng lượng chất thải y tế chung ít biến đổi do tổng số giường bệnh tương đối ổn định Mặc dù có sự gia tăng số giường bệnh của các bệnh viện tuyến huyện trở lên trong các giai đoạn từ 1995 tới nay nhưng số giường bệnh tại các

cơ sở y tế khác như trạm y tế cơ quan, điều dưỡng lại giảm [10]

Trang 16

7

1.1.4.2 Chất thải y tế nguy hại

Chất thải y tế nguy hại: Là chất thải có một trong các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan con người, động vật, bơm, kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hoá chất và các chất phóng xạ dùng trong y tế Nếu những chất này không được huỷ sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khoẻ con người

Tuy tổng thải chung chất thải y tế tăng ít hoặc chỉ tăng nhẹ, nhưng lượng chất thải y tế nguy hại phải xử lý đặc biệt lại gia tăng lên theo thời gian do 2 xu thế sau:

- Tăng tỷ lệ sử dụng các dụng cụ dùng một lần như kim bơm tiêm, đè lưỡi, găng tay phẫu thuật, ống thông, túi thu dịch dẫn lưu, bông băng, vải trải phẫu thuật, quần áo phẫu thuật…

- Tăng số lượng các giường bệnh ở cơ sở điều trị từ tuyến huyện và tương đương trở lên

- Ngày càng ứng dụng nhiều hơn các kỹ thuật cao trong tất cả các khâu từ khám bệnh, xét nghiệm, chuẩn đoán và điều trị [23]

1.1.4.3.Khối lượng chất thải phát sinh

Khối lượng chất thải y tế không chỉ thay đổi theo từng khu vực địa lý,

mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan khác như:

- Cơ cấu bệnh tật bình thường, dịch bệnh, thảm hoạ đột xuất

- Loại và qui mô bệnh viện, phạm vi cứu chữa

- Số lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội trú, ngoại trú

- Điều kiện kinh tế xã hội của khu vực

- Phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị

và chăm sóc

- Số lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân [20]

Trang 17

8

Tham khảo tài liệu nước ngoài cho thấy khối lượng chất thải rắn y tế cũng được ước lượng trên cơ sở số giường bệnh và hệ số phát thải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thay đổi theo mức thu nhập, thay đổi theo loại bệnh viện mức phát thải khác nhau theo các khoa phòng chuyên môn cụ thể như sau:

Bảng 1.1: Lượng chất thải thay đổi theo từng nước

Chất thải bệnh viện nói

(Nguồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn CT - 2015)

Bảng 1.2: Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện

Nguồn phát sinh Lượng chất thải theo từng bệnh viện

(kg/giường/ngày)

Bảng 1.3: Lượng chất thải thay đổi theo các bộ phận khác nhau

trong cùng bệnh viện Các bộ phận khác

(Nguồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn CT - 2015)

Trang 18

9

Ở một số nước trên thế giới có hệ thống y tế giống Việt Nam là có bệnh viện tuyến Trung Ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện thì hệ số phát thải chất thải rắn y tế cũng dao động khá lớn về tổng lượng thải cũng như tỷ lệ chất thải nguy hại [10]

Bảng 1.4: Lượng chất thải phát sinh theo tuyến bệnh viện

(Nguồn: Phạm Ngọc Châu Môi trường nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất

thải - Cục bảo vệ Môi trường)

1.1.5 Tác động của chất thải y tế tới môi trường và sức khoẻ

1.1.5.1 Tác hại của chất thải y tế đối với sức khoẻ

a) Ảnh hưởng của vật sắc nhọn

Các vật thể trong thành phần chất thải y tế nguy hại có thể chứa đựng một lượng rất lớn bất kỳ tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nào như tụ cầu, HIV, viêm gan B Các vật sắc nhọn có thể không chỉ là những nguyên nhân gây ra các vết cắt, vết đâm thủng mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu nó bị nhiễm các tác nhân gây bệnh Tỷ lệ nguy cơ nhiễm bệnh từ các vật sắc nhọn được tóm tắt trong bảng 1.5 [10]

Trang 19

10

Bảng 1.5: Tỷ lệ nguy cơ nhiễm bệnh từ vật sắc nhọn

(Nguồn: Phạm Ngọc Châu Môi trường nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất

thải- Cục bảo vệ Môi trường)

b)Ảnh hưởng của chất thải nhiễm khuẩn

Rác thải y tế với những thành phần phức tạp có nguy cơ gây ra những loại bệnh tật nguy hiểm Quá trình lây nhiễm từ rác thải y tế có thể lây qua nhiều con đường như đường tiêu hóa ăn uống, đường hô hấp, đường máu ngay cả khi chúng ta không trực tiếp tiếp xúc với chúng [10]

Các ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với chất thải y tế được liệt kê trong bảng 1.6

Bảng 1.6: Một số loại bệnh có nguy cơ lây nhiễm từ chất thải y tế Các dạng nhiễm khuẩn Ví dụ về tác nhân gây bệnh Chất truyền

Nhiễm khuẩn đường tiêu

hoá

Vi khuẩn đường tiêu hoá:

Salmonella, shigella, trứng giun

Phân và chất nôn

sinh dục

Viêm gan B và C Virus viêm gan B và C Máu và dịch thể

(Nguồn: Phạm Ngọc Châu Môi trường nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất

thải - Cục bảo vệ Môi trường)

Trang 20

11

c) Ảnh hưởng của hoá chất thải và dược phẩm

Rất nhiều hoá chất và dược phẩm trong các cơ sở y tế là chất thải nguy hại (gây độc, ăn mòn, dễ cháy, dễ nổ, gây sốc, độc tính di truyền) Ví dụ các bác sĩ hay dược sĩ gây mê có thể bị mắc các bệnh đường hô hấp hoặc viêm da khi pha chế dược liệu để gây mê cho bệnh nhân Chúng có thể gây độc cho những người tiếp xúc lần đầu tiên hoặc thường xuyên tiếp xúc với chúng như tổn thương qua da hoặc bị bỏng [14]

d) Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ

Những bệnh do các chất phóng xạ gây nên được xác định bởi liều lượng

và kiểu tiếp xúc với chất phóng xạ Nó có thể gây ra hàng loạt các dấu hiệu như: đau đầu, buồn ngủ, nôn, thậm chí ảnh hưởng đến di truyền

Những người làm công tác xử lý các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao cũng

có thể bị nhiều tổn thương nghiêm trọng (có thể bị cắt cụt một phần cơ thể) do bất cẩn hoặc sơ ý trong các thao tác bảo quản, dùng chất phóng xạ Vì vậy những chất phóng xạ này phải được xử lý nghiêm ngặt theo đúng quy định [20]

e) Tính nhạy cảm của cộng đồng đối với chất thải

Bên cạnh việc gây ra nguy hại cho sức khoẻ, cộng đồng rất nhạy cảm đối với các chất thải từ hoạt động phẫu thuật nếu họ nhìn thấy các bộ phận hoặc cơ quan của cơ thể hoặc bào thai được để lẫn với rác thải công cộng Do vậy không được để lẫn các chất thải phẫu thuật (các bộ phận thừa, cắt bỏ từ cơ thể người ) với các loại rác thải công cộng [18]

1.1.5.2 Sự tồn lưu tác nhân gây bệnh trong môi trường

Các vi khuẩn có trong chất thải y tế, được phát thải ra trong môi trường,

có thời gian tồn lưu ngoài môi trường trong điều kiện tự nhiên Thời gian tồn lưu tác nhân gây bệnh ngoài môi trường có giới hạn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ yếu là yếu tố lý học, hoá học môi trường như nhiệt độ môi trường, hoạt độ nước, tia cực tím, pH của môi trường, oxi tự do [17]

Trang 21

12

1.2 Các văn bản sử dụng trong quản lý môi trường bệnh viện

 Luật bảo vệ môi trường 2014 số 55/2014/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 thay thế Luật bảo vệ môi trường 2005

 Thông tư liên tịch 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT - Quy định về quản lý chất thải y tế

 18/2015/NĐ-CP Quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường có hiệu lực từ ngày 01/04/2015

 Nghị định số 19/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực từ ngày 01/04/2015

 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thay thế Nghị định 179/2013/NĐ-CP (Phần phụ lục) & 81/2006/NĐ-CP với mức phạt tăng lên nhiều lần có hiệu lực từ ngày 01/02/2017

 21/2008/NĐ-CP Nghị định sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định

số 80/2006/NĐ-CP

 80/2006/NĐ-CP Nghị định qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một

số điều của Luật bảo vệ môi trường

 27/2015/TT-BTNMT Thông tư hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường có hiệu lực từ ngày 15/07/2015 thay thế thông tư số 26/2011/TT-BTNMT

 26/2015/TT-BTNMT Thông tư quy định về lập, thẩm định, phê duyệt

và kiểm tra, xác nhận việc thực hiện đề án bảo vệ môi trường chi tiết; lập và đăng ký đề án bảo vệ môi trường đơn giản có hiệu lực từ ngày 15/07/2015 thay thế thông tư số 01/2012/TT-BTNMT

Trang 22

13

 Các tiêu chuẩn và quy chuẩn Việt Nam về môi trường:

- Quy chuẩn quốc gia về môi trường kèm theo thông tư số 39/2010 / TT- BTNMT ngày 16/12/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và môi trường gồm:

+ QCVN 26: 2010/BTNMT - Quy chuẩn quốc gia về tiếng ồn

+ QCVN 17: 2010 /BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về độ rung + QCVN 28: 2010/ BTNMT- Quy chuẩn quốc gia về nước thải y tế

- Các quy chuẩn quốc gia về môi trường ban hành theo Quyết định số 16/2008/ QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ tài nguyên và môi trường, gồm:

+ QCVN 28:2010/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế + QCVN 14:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt + QCVN 02:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế

+ QCVN 02:2012/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn y tế (thay thế QCVN 02:2010)

+ Các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường ban hành theo Quyết định số 04/2008/QĐ- BTNMT ngày 18 tháng 07 năm 2008 của bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, gồm:

- Các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường ban hành theo thông tư

số 16/2009/TT-BTNMT ngày 07 tháng 10 năm 2009 của bộ tài nguyên và môi trường, gồm:

+ QCVN 05:2009/BTNMT - Quy chuẩn quốc gia về chất lượng không khí xung quanh;

+ QCVN 06:2009/BTNMT - Quy chuẩn quốc gia về một số chất độc hại xung quanh;

- Các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường ban hành theo thông tư

Trang 23

+ Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT Quyết định của Bộ Y tế về việc ban hành

21 Tiêu chuẩn vệ sinh lao động, 05 nguyên tắc và 07 thông số vệ sinh lao động

+ QCVN 03-MT:2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của một số kim loại nặng trong đất

+ QCVN 50:2013/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng nguy hại đối với bùn thải từ quá trình xử lý nước

+ 23/2006/QĐ-BTNMT Quyết định ban hành danh mục chất thải nguy hại

1.3 Công tác quản lý chất thải y tế

Hiện nay, nước ta có 13.640 cơ sở khám chữa bệnh các loại bao gồm: 1.263 cơ sở khám chữa bệnh thuộc tuyến trung ương, tỉnh, huyện, bệnh viện ngành và bệnh viện tư nhân; 1.016 cơ sở y tế dự phòng từ TW-DP; 77 cơ sở đào tạo y dược tuyến TW-tỉnh; 180 cơ sở sản xuất thuốc và 11.104 trạm y tế xã; với tổng số hon 219.800 giường bệnh [10] Tuy số lượng cơ sở khám chữa bệnh và lượng giường bệnh là khá lớn nhưng tính bình quân, số giường bệnh trên 1 vạn dân đã giảm đi theo thời gian Nếu năm 1995, tỷ lệ này là 26,7 giường/1 vạn dân, giảm xuống còn 25,6 giường/1 vạn dân (năm 1999) và năm

2008, tỷ lệ này chỉ còn là 25,5 giường/1 vạn dân Điều này cho thấy tốc độ tăng trưởng và đầu tư của ngành y tế không theo kịp sự phát triển chung của toàn xã hội [12]

Trang 24

15

Với số lượng bệnh viện và số giường bệnh khá lớn, thống kê đã cho thấy, tổng lượng CTR phát sinh từ các cơ sở y tế năm 2005 vào khoảng 300 tấn/ngày, trong đó có 40 - 50 tấn/ngày là CTR y tế nguy hại phải xử lý Đến năm 2008, tổng lượng CTR y tế phát sinh là hon 490 tấn/ngày, trong đó có khoảng 60 - 70 tấn/ngày là CTR y tế nguy hại phải xử lý [9]

Trong số hơn 13.640 cơ sở khám chữa bệnh có 41 cơ sở khám chữa bệnh (bao gồm 36 bệnh viện, 2 phòng khám đa khoa khu vực, 1 bệnh viện điều dưỡng và 2 cơ sở khác) thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ Y tế với 15.340 giường bệnh Các cơ sở khám chữa bệnh này phần lớn đã được đầu tư, áp dụng công nghệ thiêu đốt chất thải tập trung hoặc lò đốt,

Nếu chỉ tính riêng cho 19 bệnh viện tuyến Trung ương, khối lượng chất thải y tế phát sinh vào khoảng 19,8 tấn/ngày, trong đó, khoảng 80,7% là CTR y

tế thông thường, 19,3% còn lại là chất thải y tế nguy hại (chất thải lây nhiễm

và chất thải hóa học và phóng xạ)

Thống kê của Cục Quản lý Môi trường Y tế (năm 2014) cho thấy, đối với 79 bệnh viện trên toàn quốc nằm trong Quyết định 64/2003/QĐ-TTg thì tính trung bình, các cơ sở này phát sinh lượng chất thải y tế nguy hại lên đến 7,7 tấn/ngày (con số này chưa tính đến lượng chất thải y tế thông thường)

Tuy nhiên, còn trên 13.400 cơ sở khám chữa bệnh do địa phương (cụ thể

là sở Y tế) và các ngành khác quản lý, là nguồn phát sinh CTR y tế rất lớn Với

373 cơ sở y tế ở tuyến tỉnh, lượng chất thải y tế phát sinh vào khoảng 24 tấn/ngày; tuyến y tế cấp huyện với 686 cơ sở, lượng chất thải y tế phát sinh

khoảng 16,3 tấn/ngày Lượng chất thải này được phân tán tại nhiều điểm nên

còn có sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư hiệu quả để quản lý chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm này [9]

1.3.1 Phát sinh chất thải y tế

1.3.1.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế

Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện; các cơ sở y tế khác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh,

Trang 25

16

phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu ; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học; ngân hàng máu Hầu hết các CTR y tế đều có tính chất độc hại và tính đặc thù khác với các loại CTR khác Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược (Bảng 1.7) [2]

Bảng 1.7 Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế Loại chất thải rắn Nguồn tạo thành

Chất thải sinh hoạt Các chất thải ra từ khu bếp, khu nhà hành chính, các

loại bao gói

Chất thải chứa các vi trùng

gây bệnh

Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của người sau khi mổ xẻ và của các động vật sau quá trình xét nghiệm, các gạc bông lẫn máu mủ của bệnh nhân

Chất thải bị nhiễm bẩn Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân,

các chất thải ra từ quá trình lau cọ rửa sàn nhà

Chất thải đặc biệt

Các chất thải độc hại hơn các loại trên, các chất phóng xạ, hóa chất dược từ các khoa khám, chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa dược

(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2015) 1.3.1.2 Lượng phát sinh chất thải rắn y tế

Chất thải rắn y tế phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và tăng số giường bệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân

số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế

Theo số liệu thống kê tại Báo cáo môi trường quốc gia 2015 về chất thải

y tế đã khảo sát khối lượng chất thải y tế tại một số tỉnh thành trên cả nước; khối lượng chất thải y tế có xu hướng tăng cao tại các đô thị đặc biệt như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các đô thị loại I như Khánh Hòa, Nghệ An

Trang 26

(Nguồn: Báo cáo môi trường Quốc gia 2015)

Theo nghiên cứu điều tra của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm 2014-2015, tổng lượng chất thải rắn y tế trong toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày, trong

đó có 1630 tấn/ngày là CTR y tế nguy hại Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ ngày, trong đó CTR y tế nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày.(Bảng 1.9) [2]

Trang 27

BV huyện

Trung bình

BV

TW

BV tỉnh

BV huyện

Trung bình

Xét về các thành phần chất thải dựa trên đặc tính lý hóa thì tỷ lệ các thành phần có thể tái chế là khá cao, chiếm trên 25% tổng lượng CTR y tế, chưa kể 52% CTR y tế là các chất hữu cơ [23]

Trong thành phần CTR y tế có lượng lớn chất hữu cơ và thường có độ

ẩm tương đối cao, ngoài ra còn có thành phần chất nhựa chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công nghệ thiêu đốt cần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khí độc hại

Trang 28

19

Có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải trong đó 91,1% đã

sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh và nhận xét của đoàn kiểm tra liên Bộ, còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường được đưa vào chất thải y tế" nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý

Có 63,6% sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa PE, PP Chỉ có 29,3% sử dụng túi có thành dày theo đúng quy chế [11]

Chất thải y tế "đã được chứa trong các thùng đựng chất thải Tuy nhiên, các bệnh viện có các mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau, chỉ có một số ít bệnh viện có thùng đựng chất thải theo đúng quy chế" (bệnh viện trung ương và bệnh viện tỉnh)

Hầu hết ở các bệnh viện (90,9%) CTR được thu gom hàng ngày, một số bệnh viện có diện tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong việc thiết kế "lối đi riêng để vận chuyển chất thải Chỉ có 53% số bệnh viện chất thải được vận chuyển trong xe

có nắp đậy Có 53,4% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải có mái che, trong đó có 45,3% đạt yêu cầu theo quy chế" quản lý chất thải y tế [11]

1.3.2 Phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải y tế

Công tác thu gom, lưu trữ CTR y tế nói chung đã được quan tâm bởi các cấp từ Trung ương đến địa phương, thể hiện ở mức độ thực hiện quy định ở các bệnh viện khá cao

Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự quản

lý của Bộ Y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã được cấp phép tại địa bàn cơ sở khám chữa bệnh đó [2]

Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y tế quản lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc biệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (chất thải y tế thông thường, chất thải y tế nguy hại )

Trang 29

20

Trong vận chuyển CTR y tế, chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy để vận chuyển chất thải y tế nguy hại; 53,4% bệnh viện có mái che để lưu giữ CTR đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường [2]

Bảng 1.10: Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải y tế tại các Bệnh viện

trên địa bàn Thành phố Hà Nội năm 2010 Các yêu câu theo quy chế quản lý CTYT Tỷ lệ tuân thủ (%)

Túi đựng chất thải y tế đúng quy cách về bề

dày và dung tích

66,67

Túi đựng chất thải đúng quy cách về màu sắc 30,67

Túi đựng chất thải đúng quy cách về buộc

Trang 30

21

Nhìn chung các phương tiện vận chuyển chất thải y tế "còn thiếu, đặc biệt là các xe chuyên dụng Hoạt động vận chuyển chất thải y tế" nguy hại từ bệnh viện, cơ sở y tế" đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường

đô thị đảm nhiệm, không có các trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn [2]

Bảng 1.11: Thực trạng các trang thiết bị thu gom lưu giữ CTR y tế

tại một số thành phố

Loại đô thị Đô thị đặc biệt Đô thị loại I

Tổng Thành phố Nội Hà TP

HCM

Đà Nẵng

Hải Phòng Huế

Không có điều hòa và thông gió 13 11 13 3 5 45

Phòng chung 15 1 2 8 5 31 Không có

khu lưu trữ 9 1 3 5 12 30

(Nguồn: Báo cáo môi trường Quốc gia 2015)

Trang 31

22

Chất thải rắn y tế được thu gom phân loại và vận chuyển về khu trung chuyển tại bệnh viện Thực tế trong quy hoạch xây dựng cũng chưa có những hướng dẫn cho việc xây dựng, các khu vực trung chuyển chất thải rắn bện viện Hầu hết các điểm tập trung chất thải rắn y tế được bố trí trên một khu đất bên trong khuôn viên bệnh viện thành một khu trung chuyển Các khu trung chuyển

có điều kiện vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi vãi, côn trùng dễ dàng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện Một số điểm tập trung rác không có mái che, không có rào bảo vệ, vị trí lại gần nơi đi lại, những người không có nhiệm vụ dễ xâm nhập Chỉ có một số

ít bệnh viện có nơi lưu trữ chất thải đạt tiêu chuẩn qui định [2]

Chất thải rắn y tế được nhân viên của Công Ty Môi Trường Đô Thị đến thu gom các túi chất thải tại khu vực trung chuyển của bệnh viện, các nhân viên bệnh viện lẫn nhân viên của Công Ty Môi Trường Đô Thị đều chưa được đào tạo, hướng dẫn về những nguy cơ có liên quan đến việc thu gom, vận chuyển

và tiêu huỷ chất thải rắn y tế nguy hại

1.3.3 Những tồn tại, khó khăn trong việc quản lý chất thải y tế

Hiện nay, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách của nước ta Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn bệnh viện kém hiệu quả đang gây dư luận trong cộng đồng và đặt ra nhiều thách thức đối với nhiều cấp, ngành, đặt biệt là ngành y tế Tuy nhiên giải quyết vấn đề này không phải một sớm một chiều, vì chúng ta đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, bất cập và nhất là thiếu đồng bộ

Những khó khăn chủ yếu là:

- Nguồn kinh phí đầu tư cho chất thải y tế lớn Theo ước tính sơ bộ, tổng kinh phí đầu tư cho toàn bộ chương trình đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải rắn, lỏng và khí vào khoảng 1,6 tỷ đồng chưa kể chi phí cho sử dụng đất, phương tiện thu gom, vận chuyển, kinh phí vận hành và bảo trì Vốn đầu tư cần được huy động từ các nguồn ngân sách nhà nước, hỗ trợ của các tổ chức quốc

tế, nguồn giúp đỡ của các chính phủ và tổ chức phi chính phủ

Trang 32

23

Hiện nay các bệnh viện có lò đốt nhưng kinh phí để chi trả cho năng lượng để vận hành, xử lý tro, để trả lương cho nhân công còn chưa được quy định sẽ lấy từ đâu Các bệnh viện không thể tự tiện nâng giá khám bệnh để bù vào chi phí xử lý chất thải của mình Vì vậy có bệnh viện tuy đã trang bị lò đốt rác y tế nhưng vẫn không vận hành vì không có đủ kinh phí

- Nhận thức về thực hành xử lý chất thải rắn y tế trong cán bộ y tế, nhân viên trực tiếp làm công tác xử lý chất thải bệnh viện vẫn còn chưa cao, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả phân loại, thu gom và vận chuyển, tiêu huỷ chất thải Một số lãnh đạo bệnh viện chưa thực sự quan tâm đến việc xử lý chất thải Việc tuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng vẫn chưa sâu rộng, đôi khi dư luận qua báo chí còn làm dân hoang mang, gây tâm lý quá

lo sợ đối với chất thải bệnh viện từ đó gây sức ép không đáng có đối với các cơ quan quản lý chuyên ngành [3]

- Môi trường thực hiện pháp chế chưa thuận lợi mặc dù đã có luật bảo vệ môi trường, qui chế quản lý chất thải nguy hại do thủ tướng chính phủ ban hành và qui chế quản lý chất thải y tế do bộ trưởng bộ y tế ban hành nhưng các văn bản pháp quy này chưa thực sự thấm sâu vào đời sống Việc thực hiện đúng quy chế quản lý chất thải y tế mới chỉ có ở một số ít bệnh viện Nhiều nơi chính quyền, lãnh đạo chỉ đạo bệnh viện vẫn chưa quan tâm đầu tư kinh phí và phương tiện để thực hiện quy chế

- Các giải pháp về xử lý chất thải chưa đồng bộ, sự phối hợp liên ngành còn kém hiệu quả trong mọi công đoạn xử lý chất thải Nhiều nơi bệnh viện đã phân loại chất thải y tế và chất thải sinh hoạt nhưng do công ty công trình đô thị chưa có lò đốt nên đã từ chối vận chuyển và xử lý chất thải y tế Hiện nay vẫn chưa có qui định cụ thể trách nhiệm của từng bộ, ngành phối hợp hoạt động trong từng công đoạn quản lý chất thải y tế [3]

Trang 33

24

1.4 Tổng quan địa bàn nghiên cứu

Thông tin chung về bệnh viện Đa khoa Ninh Bình

Vị trí địa lý

Bệnh viện Đa khoa Ninh Bình được xây dựng tại địa chỉ Đường Tuệ Tĩnh Phường Nam Thành - Thành Phố Ninh Bình, nằm cạnh đường Quốc lộ 1A

- Phía Đông giáp đường Bạch Đằng, gần QL1A

- Phía Tây giáp đường Lê Thái Tổ

- Phía Bắc giáp đường Tuệ Tĩnh

- Phía Nam giáp đường Phan Chu Trinh và kênh Đô Thiên

Hình 1.2: Vị trí của bệnh viện Đa khoa Ninh Bình

Trường mầm non nam thành

Trang 34

25

Hình 1.3: Sơ đồ mặt bằng của bệnh viện Đa khoa Ninh Bình

Quy mô bệnh viện

Với quy mô 700 giường trên diện tích 24 hecta gồm nhà khám bệnh 2 tầng, khối nhà nghiệp vụ 11 tầng, 2 nhà 5 tầng hệ nội, hệ ngoại, 10 khối nhà chức năng 2 tầng, tất cả các khu được nối với nhau bởi hệ thống hàng lang có mái che, các phòng bệnh được lắp đạt điều hoà nhiệt độ và các thiết bị hiện đại như:

hệ thống thông khí, máy báo gọi điều dưỡng, hệ thống oxy trung tâm phục vụ tốt cho công tác chuyên môn và sinh hoạt của người bệnh

Trong những năm qua bệnh viện ĐK Ninh Bình đã tiếp nhận một lượng người bệnh khá lớn: trên 275.697 người khám bệnh/năm; 36.558 người bệnh điều trị nội trú/năm với rất nhiều chứng bệnh nguy hiểm khác nhau

Trang 35

26

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Công tác quản lý môi trường tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào công tác quản lý chất thải rắn và nước thải y tế do hiện tại bệnh viện Đa khoa Ninh Bình không sử dụng phương pháp chôn lấp, lò đốt của bệnh viện cũng đã ngưng hoạt động Tuy có chủ trương đầu tư công nghệ xử lý CTR nguy hại bằng lò vi sóng nhưng chưa thể lắp đặt và triển khai vì vậy bệnh viện thuê công ty môi trường

đô thị Ninh Bình thu gom, xử lý chất thải rắn phát sinh Vì lý do trên tác giả không đề cập tới môi trường đất và không khí trong luận văn

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát bằng phiếu điều tra

a Chọn mẫu phỏng vấn

Dựa vào quy mô bệnh viện tiến hành chọn số người phỏng vấn:

- Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình có 25 khoa lâm sàng và 6 khoa cận lâm sàng Chọn ngẫu nhiên trung bình mỗi khoa 2 người gồm 1 bác sĩ và 1 y tá Nhóm 1 nhân viên y tế bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình có 62 người

- Nhóm 2: Chọn ngẫu nhiên trung bình mỗi khoa 1 người là hộ lý; chọn chủ đích toàn bộ nhân viên xử lý nước thải và nhân viên công ty môi trường Nhóm 2 bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình có 40 người

- Nhóm 3: Đây là nhóm cán bộ, công chức bệnh viện Tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình chọn 48 người

Trang 36

27

b Mẫu phiếu điều tra, bảng hỏi gồm 01 mẫu:

- Phiếu phỏng vấn cán bộ, nhân viên y tế và nhân viên trực tiếp làm công tác môi trường (hộ lý, nhân viên công ty môi trường )

2.2.2 Phương pháp quan sát trực quan và đánh giá bằng bảng thang điểm

Quan sát trực tiếp quá trình xử lý chất thải y tế

- Chất thải lây nhiễm: gồm chất thải sắc nhọn, chất thải lây nhiễm không sắc, chất thải lây nhiễm nguy cơ cao, chất thải giải phẫu

- Chất thải hóa học nguy hại: gồm dược phẩm quá hạn, các hóa chất trong y tế, chất gây độc tế bào, chất thải chứa kim loại nặng (từ nhiệt kế, huyết

áp kế )

- Chất thải thông thường: gồm chất thải sinh hoạt, các chất thải từ hoạt động khám chữa bệnh không dính máu và dịch sinh học và hóa chất độc hại, chất thải sinh hoạt từ khu vực hành chính, lá cây

a) Dùng bảng kiểm, đánh giá thực trạng quản lý chất thải (thu gom, phân loại, vận chuyển, lưu giữ và xử lý)

- Cơ sở pháp lý để xây dựng bảng kiểm căn cứ vào quyết định số 43/2007/QĐ-BYT, ngày 30-11-2007 của bộ Y tế và thông tư liên tịch 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT - Quy định về quản lý chất thải y tế, quy chế quản lý chất thải y tế của bệnh viện ; các văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ phận chuyên trách về quản lý chất thải trong bệnh viện đa khoa Ninh Bình được sở y tế Ninh Bình phê duyệt

- Cách xây dựng bảng kiểm xác định các tiêu chí chính và phụ để đưa ra thang điểm Tiêu chí chính là những tiêu chí quan trọng, bắt buộc phải có hoặc cần được ưu tiên so với những tiêu chí khác ví dụ bệnh viện phải có xe chở chất thải riêng biệt, chất thải lây nhiễm phải được xử lý sơ bộ tại nơi phát sinh… Tiêu chí chính cho thang điểm tối đa là 5, tiêu chí phụ cho thang điểm tối đa là 3

Trang 37

28

- Cách chấm điểm do tác giả đề xuất: Chấm điểm từ 1 đến mức tối đa mỗi tiêu chí theo mức độ đạt được; 0 điểm cho tiêu chí không thực hiện được hoặc không có

- Mức điểm đánh giá như sau:

+ Đạt >90% số điểm tổng được đánh giá là tốt

+ Đạt từ 70 đến <90% số điểm tổng được đánh giá là đạt mức khá

+ Đạt từ 60 đến <70% số điểm tổng được đánh giá là đạt mức trung bình + Đạt <50% số điểm tổng được đánh giá là thực hiện chưa tốt

b) Căn cứ vào quy định phân loại chất thải y tế và mã màu đối với dụng

cụ chứa CTYT để xây dựng thang điểm đánh giá mức độ hiểu biết của nhân viên y tế về phân loại CTYT

Quy cách chấm điểm: Mỗi nhóm CTYT là một tiêu chí, theo quy định có

5 nhóm nên có 5 tiêu chí; mỗi một mã màu của dụng cụ đựng CTYT là 1 tiêu chí, có 4 mã màu là 4 tiêu chí Tất cả có 9 tiêu chí tương ứng với điểm tối đa là

9 điểm cho cả 9 tiêu chí đúng, 1 điểm cho mỗi một tiêu chí được xác định đúng Mức điểm như sau:

+ Chấm đạt điểm 9: Hiểu biết tốt

+ Chấm đạt từ 7 - 8 điểm: Hiểu biết khá

+ Chấm điểm từ 5 – 6: Hiểu biết trung bình

+ Đạt < 5 điểm : Hiểu biết kém

2.2.3 Phương pháp phân tích mẫu và so sánh

a) Phân tích mẫu rác thải: cân định lượng mẫu rác thải y tế theo kế hoạch

- Tiến hành cân và theo dõi diễn biến rác thải y tế phát sinh tại bệnh viện

Nội dung công việc:

+ Công việc xác định được tiến hành tại bộ phận thu gom rác thải tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình

Trang 38

29

+ Nguồn rác thải tại bệnh viện sẽ được thu gom và phân loại vào các ngày thứ 3, thứ 5 hàng tuần Sau đó được phân loại và tiến hành cân các loại rác để tiến hành cân các loại rác để tính ra khối lượng rác thải trung bình trong

1 ngày, trong tháng và trong năm Số tuần quan sát và lấy mẫu là 5 tuần

+ Dụng cụ: Cân định lượng 5 kg

b) Phân tích mẫu nước thải:

- Lựa chọn vị trí lấy mẫu:

Miệng cống xả ra nguồn tiếp nhận của công trình xử lý nước thải phía bên ngoài hàng rào bệnh viện

Kết quả phân tích do trung tâm quan trắc và phân tích môi trường Ninh Bình thực hiện

- Cách lấy mẫu:

Mẫu nước được lấy trong điều kiện thời tiết tốt: trời nắng, nhiệt độ tại thời điểm lấy mẫu 23oC Mẫu được lấy 2 lần mỗi lần 250 ml bằng ca định lượng sau đó bảo quản trong chai dung tích 500ml

Nước thải sau khi lấy về được bảo quản và phân tích các chỉ tiêu: BOD5,COD, H2S, tổng phốt pho, tổng nitơ, Amoni và Coliform, pH, TSS, nitrat theo yêu cầu tại Trung tâm quan trắc và môi trường tỉnh Ninh Bình

Ngày đăng: 12/10/2018, 23:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w