1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển bền vững tỉnh điện biên

101 155 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 2,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học viên xin gửi lời cảm ơn tới đề tài KHCN cấp nhà nước “Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển bền vững tích hợp 3E+1 kinh tế, môi trường, hệ sinh thái và an ninh phi truyền thống cho

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Nguyễn Tài Tuệ

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, học viên xin gửi lời cảm ơn đến Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện để học viên có thể thực hiện luận văn tốt nghiệp này

Học viên xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Tài Tuệ - giáo viên hướng dẫn của học viên, đã luôn tận tâm chỉ dạy và hướng dẫn tận tình trong suốt khoảng thời gian học viên thực hiện luận văn Học viên cũng xin gửi lời cảm ơn GS.TS Mai Trọng Nhuận, TS Trần Đăng Quy, TS Lưu Việt Dũng và các đồng nghiệp trong Trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã nhiệt tình giúp đỡ trong thời gian làm luận văn

Học viên xin gửi lời cảm ơn tới đề tài KHCN cấp nhà nước “Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển bền vững tích hợp 3E+1 (kinh tế, môi trường, hệ sinh thái và

an ninh phi truyền thống) cho các khu vực biên giới Việt - Lào vùng Tây Bắc” đã hỗ trợ

kinh phí, tạo điều kiện để học viên tham gia nghiên cứu thực địa, khảo sát và phỏng vấn tại tỉnh Điện Biên, và cho phép sử dụng thông tin, dữ liệu, kết quả từ đề tài để học viên

có thể hoàn thành được luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Học viên thực hiện

Lâm Tuấn Mạnh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

1.1 Các khái niệm 4

1.1.1 Khái niệm phát triển 4

1.1.2 Khái niệm phát triển bền vững 4

1.2 Tổng quan các nghiên cứu về chỉ số Phát triển bền vững 6

1.2.1 Trên Thế giới 6

1.2.2 Tại Việt Nam 10

1.3 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 13

1.3.1 Quan điểm tiếp cận 13

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 13

1.3.3 Phương pháp tính toán chỉ số PTBV 16

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH ĐIỆN BIÊN 19

2.1 Vị trí địa lý 19

2.2 Điều kiện tự nhiên 20

2.2.1 Địa hình, địa mạo 20

2.2.2 Thủy văn 20

2.2.3 Tài nguyên thiên thiên 21

2.3 Đặc điểm hiện trạng kinh tế - xã hội 24

2.3.1 Dân cư và lao động 24

2.3.2 Cơ cấu ngành kinh tế 24

2.3.3 Văn hóa, giáo dục, y tế 26

2.4 Đặc điểm môi trường và tai biến thiên nhiên 27

Trang 5

2.4.1 Đặc điểm môi trường 27

2.4.2 Đặc điểm một số tai biến chính xảy ra trên địa bàn tỉnh Điện Biên 28

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững 30

2.5.1 Phát triển kinh tế 30

2.5.2 Phát triển xã hội 30

2.5.3 Các yếu tố môi trường 31

2.5.4 Tính cấp thiết của việc xây dựng bộ chỉ tiêu, giám sát phát triển bền vững 32

CHƯƠNG 3 BỘ CHỈ SỐ VÀ KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TỈNH ĐIỆN BIÊN GIAI ĐOẠN 2010 - 2016 33

3.1 Cơ sở xác lập và bộ chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững tỉnh Điện Biên 33 3.1.1 Cơ sở xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững 33

3.1.2 Xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững tỉnh Điện Biên 35

3.2 Hiện trạng các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững giai đoạn 2010 - 2016 48

3.2.1 Hiện trạng các chỉ tiêu phát triển kinh tế của tỉnh Điện Biên 48

3.2.2 Hiện trạng các chỉ tiêu phát triển xã hội 50

3.2.3 Hiện trạng các chỉ tiêu phát triển môi trường 53

3.3 Đánh giá chỉ số PTBV tỉnh Điện Biện giai đoạn 2010 - 2016 60

3.3.1 Chỉ số PTBV kinh tế 60

3.3.2 Chỉ số PTBV xã hội 63

3.3.3 Chỉ số PTBV môi trường 65

3.3.4 Mức độ phát triển bền vững tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010-2016 68

3.3 Nhận định về mức độ hoàn thiện của bộ chỉ số đánh giá phát triển bền vững tỉnh Điện Biên 71

3.4 Đề xuất các giải pháp phát triển bền vững tỉnh Điện Biên 72

3.4.1 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng bộ chỉ số để giám sát mức độ phát triển bền vững 72

3.4.2 Các giải pháp phát triển bền vững kinh tế 73

3.4.3 Các giải pháp phát triển bền vững xã hội 74

3.4.4 Các giải pháp phát triển bền vững môi trường 75

Trang 6

KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 83

A Hậu quả do tai biến thiên nhiên giai đoạn 2011-2014 83

B Vị trí các điểm lấy mẫu nước mặt 86

C Vị trí các điểm lấy mẫu nước ngầm 86

D Vị trí các điểm lấy mẫu không khí xung quanh 87

E Phiếu tham vấn ý kiến chuyên gia/cán bộ địa phương về bộ chỉ số PTBV tỉnh Điện Biên 88

Trang 7

QCCP Quy chuẩn cho phép

QCKT Quy chuẩn kỹ thuật

QCVN Quy chuẩn Việt Nam

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 17 mục tiêu cụ thể hướng đến PTBV đến năm 2030 của Việt Nam 34

Bảng 2 Bộ chỉ số đánh giá phát triển kinh tế tỉnh Điện Biên 37

Bảng 3 Xác định cận trên (giá trị Max), cận dưới (giá trị Min) và công thức tính từng chỉ tiêu 42

Bảng 4 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tỉnh Điện Biên năm 2007 - 2016 49

Bảng 5 Bảng phân tích hàm lượng TSS trong nước mặt 54

Bảng 6 Bảng phân tích hàm lượng BOD5 trong nước mặt 55

Bảng 7 Bảng phân tích hàm lượng COD 56

Bảng 8 Hàm lượng SO2 trong môi trường không khí 57

Bảng 9 Hàm lượng CO trong môi trường không khí 58

Bảng 10 Giá trị các chỉ tiêu của hợp phần PTBV kinh tế 61

Bảng 11 Các chỉ tiêu hợp phần PTBV xã hội tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016 64

Bảng 12 Kết quả tính toán chỉ số chất lượng môi trường tỉnh Điện Biên giai đoạn 2011 - 2014 65

Bảng 13 Kết quả chỉ tiêu thuộc hợp phần PTBV môi trường tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016 66

Bảng 14 Tổng hợp chỉ số PTBV tỉnh Điện Biên theo 16 chủ đề 69

Bảng 15 Tổng hợp kết quả tính toán chỉ số PTBV tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016 70

Bảng 16 Chỉ số PTBV tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016 bao gồm chỉ số PTBV môi trường năm 2015 và năm 2016 71

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Mô hình ba trụ cột của phát triển bền vững 5

Hình 2 Mô hình phát triển bền vững theo Mohan Munasingle 7

Hình 3 17 mục tiêu toàn cầu về phát triển bền vững tới năm 2030 của LHQ 9

Hình 4 Khảo sát tai biến trượt lở (a) và phỏng vấn người dân (b) huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 15

Hình 5 Lấy ý kiến cán bộ xã Na Ư và huyện Điện Biên 16

Hình 6 Sơ đồ mô tả vị trí tỉnh Điện Biên 19

Hình 7 Hiện trạng sử dụng các nhóm đất tỉnh Điện Biên năm 2016 22

Hình 8 Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016 25

Hình 9 Cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Điện Biên năm 2010 và 2016 25

Hình 10 Số trường mầm non và phổ thông trên địa bàn Tỉnh 26

Hình 11 Một số điểm trượt lở (hình a và hình b) và một số điểm có nguy cơ bị trượt lở được gia cố bằng tường bê tông (hình c và hình d) dọc QL 279 tỉnh Điện Biên 28

Hình 12 Sơ đồ logic xây dựng và đánh giá chỉ số PTBV tỉnh Điện Biên 36

Hình 13 Tốc độ tăng trưởng GRDP và hệ số ICOR tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016 48

Hình 14.Tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo tỉnh Điện Biên 2010 - 2016 48 Hình 15 Thu nhập bình quân đầu người/tháng tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016 49 Hình 16 Năng suất lao động xã hội tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016 49

Hình 17 Tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa và tỷ lệ % xuất khẩu/nhập khẩu tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016 50

Hình 18 Dân số và tốc độ tăng dân số tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016 51

Hình 19 Hệ số GINI và tỷ lệ hộ nghèo tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016 51

Hình 20 Các chỉ tiêu tiếp cận các dịch vụ cơ bản tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016 52

Hình 21 Các chỉ tiêu trong lĩnh vực Giáo dục tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016 53 Hình 22 Tỷ lệ che phủ rừng và diện tích rừng bị cháy, bị chặt phá tỉnh Điện Biên năm 2011 - 2014 53

Hình 23 Chất thải rắn đô thị được thu gom, xử lý và tổng lượng chất thải rắn phát sinh hàng ngày tại Điện Biên giai đoạn 2011 - 2014 59

Hình 24 Tỷ lệ số dân được sử dụng nước hợp vệ sinh và tỷ lệ hộ sử dụng hố xí hợp vệ sinh tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016 60

Trang 10

Hình 25 So sánh các chỉ tiêu hợp phần PTBV kinh tế tỉnh Điện Biên năm 2010 và 2016

62

Hình 26 Chỉ số PTBV kinh tế tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016 62

Hình 27 So sánh các chỉ tiêu trong hợp phần PTBV xã hội tỉnh Điện Biên năm 2010 và 2016 63

Hình 28 Chỉ số PTBV xã hội tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016 65

Hình 29 Chỉ số PTBV môi trường tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2014 67

Hình 30 Chỉ số PTBV môi trường tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016 68

Hình 31 Tổng hợp trung bình chỉ số PTBV các hợp phần phụ 69

Hình 32 Giá trị trung bình 40 chỉ tiêu PTBV tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016 70

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển bền vững (PTBV) là một trong những mục tiêu quan trọng của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Trong thời gian gần đây, vấn đề PTBV được tiến hành nghiên cứu ở nhiều quốc gia và được đề cập ở nhiều hội nghị khoa học trên thế giới Từ khi thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện vào năm 1980, các nghiên cứu đã tập trung làm rõ mối quan hệ giữa con người, xã hội và tác động của chúng tới thiên nhiên, môi trường Vào năm 2015, Liên hợp quốc (LHQ) đã thông qua Chương trình Nghị sự toàn cầu PTBV đến năm 2030 gồm 17 mục tiêu chung và 169 chỉ tiêu cụ thể về PTBV như một lộ trình để chấm dứt đói nghèo, chống bất bình đẳng và chống biến đổi khí hậu (BĐKH) Theo đó, mỗi quốc gia cần phải đặt ra những mục tiêu phù hợp với hoàn cảnh của mình; quyết định cách thức thực hiện và lồng ghép PTBV vào quá trình lập kế hoạch cũng như xây dựng các chiến lược, chính sách của quốc gia

Việt Nam luôn chú trọng lồng ghép PTBV với phát triển kinh tế - xã hội thông qua các chiến lược phát trển kinh tế - xã hội Đồng thời, Việt Nam đã tích cực triển khai thực hiện Chương trình nghị sự 21 Việt Nam và Chiến lược PTBV Việt Nam giai đoạn 2011-2020, và đã ban hành bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá PTBV địa phương giai đoạn

2013 - 2020 thông qua quyết định số 2157 của Thủ tướng chính phủ Tuy nhiên, để đánh giá được mức độ PTBV của địa phương dựa vào bộ chỉ tiêu của QĐ 2157 có một số khó khăn, do nhiều chỉ tiêu rất khó thu thập số liệu, đo lường, làm ảnh hưởng đến kết quả chỉ số PTBV tổng hợp ở mỗi địa phương Một số chỉ tiêu PTBV cần được bổ sung để bám sát với Chương trình nghị sự 2030 của LHQ Vì vậy việc xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá PTBV là rất cần thiết để giám sát, xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ứng phó với BĐKH và bảo vệ môi trường cho các tỉnh ở các địa phương tại Việt Nam nói chung và các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng

Điện Biên là một trong những tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Tây Bắc Việt Nam, còn nhiều khó khăn về phát triển kinh tế - xã hội Cùng với sự hỗ trợ của Trung ương; các cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân các dân tộc trong tỉnh không ngừng nỗ lực phấn đấu, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo, thu hút mọi nguồn lực trong phát triển kinh tế - xã hội Nhiều chương trình, dự án đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, nước sạch, điện, viễn thông…; nhiều mô hình hiệu quả

về kinh tế hộ, kinh tế trang trại, mô hình giảm nghèo bền vững được triển khai, nhân rộng; các chương trình y tế, giáo dục - đào tạo, văn hóa - xã hội đã góp phần làm cho Điện Biên hôm nay phát triển toàn diện hơn, tạo thêm tiềm năng và những cơ hội mới cho hợp tác, đầu tư phát triển Tuy nhiên, những kết quả trong phát triển kinh tế của tỉnh

Trang 12

còn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và yêu cầu đặt ra Điện Biên vẫn còn là vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao, hầu hết các địa phương trong tỉnh chưa tự cân đối ngân sách;

cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, hiệu quả thấp, sức cạnh tranh còn hạn chế; các điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn

Từ những thực tiễn trên, việc xây dựng được bộ chỉ số đánh giá PTBV cấp tỉnh miền núi phía Bắc và đánh giá mức độ PTBV cho tỉnh Điện Biên cần phải thực hiện để

đề xuất các giải pháp, chính sách, định hướng PTBV Do vậy, đề tài luận văn “Nghiên

cứu cơ sở khoa học xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển bên vững tỉnh Điện Biên” được thực hiện để trả lời ba câu hỏi nghiên cứu sau:

1 Phương pháp và hệ thống chỉ tiêu nào có thể sử dụng để định lượng mức độ PTBV áp dụng cho cấp tỉnh, áp dụng bộ chỉ tiêu đánh giá mức độ PTBV tỉnh Điện Biên?

2 Hợp phần chính nào ảnh hưởng đến mức độ PTBV của tỉnh Điện Biên?

3 Các giải pháp gì cần thực hiện để cải thiện, nâng cao chỉ số các hợp phần và chỉ tiêu PTBV tổng hợp?

2 Mục tiêu và nhiệm vụ

a) Mục tiêu

- Xây dựng được bộ chỉ tiêu đánh giá PTBV tỉnh Điện Biên;

- Đánh giá được mức độ PTBV tổng hợp tỉnh Điện Biên trong giai đoạn 2010 -

2016 làm cơ sở kiến nghị các giải pháp phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường theo hướng bền vững

b) Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu kinh nghiệm trong và ngoài nước về xây dựng bộ chỉ số PTBV;

- Thu thập các tài liệu, dữ liệu liên quan đến hướng nghiên cứu của luận văn;

- Thực hiện nghiên cứu, khảo sát thực địa tại tỉnh Điện Biên để thu thập các dữ liệu cần thiết về kinh tế, xã hội, môi trường;

- Đánh giá mức độ PTBV tỉnh Điện Biên trong giai đoạn 2010 - 2016;

- Đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường của tỉnh Điện Biên theo hướng bền vững;

3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Làm rõ được các mục tiêu và chỉ tiêu PTBV cấp tỉnh;

- Phạm vi không gian: Toàn tỉnh Điện Biên;

- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2010 - 2016

Trang 13

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học: Các kết quả nghiên cứu (bộ chỉ số, quy trình, phương pháp

tính toán, phân tích, xử lý số liệu) có tính ứng dụng cao trong đánh giá, giám sát PTBV cho tỉnh Điện Biên và có thể mở rộng áp dụng cho các tỉnh miền núi phía Bắc để giám sát và xây dựng định hướng PTBV

Ý nghĩa thực tiễn: Các quy trình và phương pháp nghiên cứu đánh giá mức độ

PTBV cấp địa phương có thể được mở rộng áp dụng cho các địa phương khác của Việt Nam, tạo nên cái nhìn tổng quát nhất cho sự PTBV của các tỉnh/thành phố của Việt Nam

để từ đó có lộ trình hợp lý nhằm nâng cao chỉ số PTBV ở địa phương trong tương lai

5 Cơ sở tài liệu thực hiện luận văn

Cơ sở tài liệu chính để thực hiện luận văn đã được học viên trực tiếp thu thập từ nghiên cứu khảo sát thực địa, phỏng vấn người dân địa phương, xây dựng và xử lý dữ

liệu từ quá trình tham gia các đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình PTBV tích hợp 3E+1 (kinh tế, môi trường, hệ sinh thái và an ninh phi truyền thống) cho các khu vực biên giới Việt - Lào vùng Tây Bắc”, thực hiện từ 2016 - 2018 và “Nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu liên ngành phục vụ PTBV vùng Tây Bắc” mã số: KHCN-TB.01C/13-18 thực hiện

từ năm 2013 - 2015 thuộc chương trình KH&CN cấp Nhà nước phục vụ PTBV vùng Tây Bắc;

Ngoài ra, nguồn dữ liệu phục vụ cho việc tính toán các chỉ tiêu, hợp phần của bộ chỉ số PTBV áp dụng cho tỉnh Điện Biên được thu thập từ Niên giám thống kê của tỉnh Điện Biên trong các năm 2010 - 2016, số liệu từ cục thống kê tỉnh Điện Biên, từ trang web chính thức của cục, từ trang web của Tổng cục thống kê và từ các văn bản, tài liệu chính thống được cơ quan chức năng công bố như Báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của địa phương qua các năm từ 2010 - 2015, báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Điện Biên từ 2011 - 2015, Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh giai đoạn 2010 - 2015

Dữ liệu thu thập được là cơ sở dữ liệu đầu vào để tính chỉ số PTBV, và được xử

lý bằng các phần mềm Microsoft Excel, SPSS

6 Bố cục của luận văn

Luận văn được cấu trúc gồm 3 chương không kể phần mở đầu và kết luận, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan vấn đề và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên

Chương 3: Bộ chỉ số và kết quả đánh giá phát triển bền vững tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm phát triển

Một số nhà nghiên cứu khoa học xã hội phương Tây, đặc biệt là Pháp, đã nêu rõ khái niệm phát triển chỉ mới xuất hiện vào những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất Khái niệm phát triển lúc này gắn với khái niệm văn minh Sau những năm 30 của thế kỷ

XX, khái niệm phát triển gắn liền với lĩnh vực kinh tế và sử dụng gần như đồng nhất với khái niệm phát triển kinh tế [15]

“Phát triển kinh tế được xem là quá trình biến đổi cả về lượng và chất, nó là sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia Theo cách hiểu như vậy, phát triển là quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quy định.” [10]

Giáo sư Bùi Đình Thanh năm 2016 cũng đã nhắc đến khái niệm phát triển trong một bài viết của mình như sau: “Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ”

Khái niệm phát triển là một khái niệm trừu tượng mà có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên có thể tóm lược lại những điều cơ bản nhất về khái niệm này

là sự biến đổi tích cực trong mặt số lượng hoặc chất lượng của sự vật và là quy luật tiến hoá của loài người

1.1.2 Khái niệm phát triển bền vững

Khái niệm PTBV lần đầu tiên được công bố thế giới tại Hội nghị Liên hợp quốc

về Môi trường, Con người diễn ra ở Stockholm vào năm 1972 Lúc đó, khái niệm này không được đề cập một cách rõ ràng, tuy nhiên cộng đồng quốc tế đã đồng ý với tuyên bố: môi trường và phát triển, hai vấn đề từ trước đến nay được giải quyết độc lập, có thể cùng được quản lý một cách có lợi nhất

Sau đó, tại Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển tổ chức tại Rio de Janerio năm 1992, định nghĩa chính thức về PTBV đã được đưa ra là: “Sự phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai.”

Trang 15

“Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về PTBV” họp tại Johannesburg, Nam Phi năm

2002 đã làm chi tiết hơn về định nghĩa PTBV Lúc này, PTBV được khái quát theo 3 trụ cột chính là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Trong đó, tiêu chí

để đánh giá sự PTBV là (1) sự tăng trưởng kinh tế ổn định; (2) thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội và phát triển con người; (3) khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống (Hình 1) Ba trụ cột này kết hợp hài hoà, chặt chẽ và bổ sung cho nhau trong quá trình phát triển

Hình 1 Mô hình ba trụ cột của phát triển bền vững

PTBV được biết đến ở Việt Nam vào cuối những thập niên 80 Trên cơ sở kế thừa những kiến thức từ thế giới và áp dụng vào điều kiện cụ thể của Nhà nước, Đảng

và Chính Phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp lý làm cơ sở nghiên cứu và thúc đẩy PTBV

Tại mục 4, điều 3 trong Luật bảo vệ môi trường năm 2014 số 55/2014/QH2013 được Quốc Hội ban hành vào ngày 23 tháng 06 năm 2014 đã chỉ rõ PTBV là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu

đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh

tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường [11]

Quan điểm đầu tiên trong Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện chương trình nghị sự 2030 vì sự PTBV được Thủ tướng chính phủ ban hành theo QĐ 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 đã khẳng định PTBV là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước, kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội

và bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động ứng phó với BĐKH, bảo đảm quốc phòng,

an ninh, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia [20]

Trang 16

Như vậy, để đạt được mục tiêu PTBV cần giải quyết hàng loạt các vấn đề thuộc

ba lĩnh vực là kinh tế, xã hội và môi trường Ở Việt Nam, PTBV là một trong những nội dung cơ bản để thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, đồng thời cũng là mục tiêu quan trọng hàng đầu mà nền kinh tế hướng tới

1.2 Tổng quan các nghiên cứu về chỉ số Phát triển bền vững

1.2.1 Trên Thế giới

Kể từ lần đầu xuất hiện, đến nay, PTBV là khái niệm được quan tâm hàng đầu tại các quốc gia trên Thế giới như ở Hoa Kỳ, Anh, Thái Lan, Indonesia, Philippin, Malaysia Rất nhiều bộ chỉ số PTBV đã được xây dựng ở các cấp khác nhau để phục vụ mục tiêu của PTBV [17] Website tổng quát các sáng kiến về chỉ thị PTBV đã liệt kê khoảng 900 công trình liên quan tới các chỉ thị PTBV Trong đó 94 công trình ở cấp toàn cầu, 262 ở cấp quốc gia và 170 ở cấp tỉnh/vùng lãnh thổ [29] Các bộ chỉ số PTBV

ở các nước đang phát triển thường quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề đói nghèo, thất nghiệp, các điều kiện tối thiểu để đảm bảo cuộc sống Các bộ chỉ số về PTBV ở các nước phát triển lại tập trung vào các vấn đề bình đẳng, chất lượng cuộc sống, các vấn đề

xã hội nảy sinh và vấn đề ô nhiễm môi trường

Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển (Rio de Janero 6/1992)

đã đề cập đến mối quan hệ giữa môi trường và phát triển, trong đó coi môi trường là yếu

tố ưu tiên hàng đầu và nội dung của PTBV được biểu hiện qua ba lĩnh vực: kinh tế và

xã hội, bảo tồn và quản lý môi trường cùng các nguồn tài nguyên và vai trò của các nhóm xã hội chính

Diễn đàn thanh niên ASEM đã chỉ rõ nội dung PTBV được biểu hiện qua bốn lĩnh vực: xã hội, kinh tế, môi trường và thể chế Lĩnh vực xã hội đề cập đến các vấn đề như nghèo đói, giáo dục, sức khỏe và sự gia tăng dân số Trong đó diễn đàn cho rằng xoá nghèo đói là chìa khoá của PTBV Bên cạnh đó, mặt giáo dục cũng cần được ưu tiên trong các hoạch định xã hội, sức khoẻ, y tế cần phải chăm lo chú ý, là một yêu cầu của các vấn đề xã hội và sự gia tăng dân số cao là dấu hiệu của phát triển không bền vững Trong khi đó lĩnh vực môi trường đề cập tới các vấn đề về nước, không khí, bảo vệ rừng

và quản lý chất thải

Sadler và Jacobs (1994) [45] đưa ra nội dung của PTBV gồm ba nhân tố, ba cực của một tam giác: môi trường, kinh tế và xã hội, trong đó, môi trường được đặt lên hàng đầu và nhân tố thể chế được gộp trong hợp phần xã hội Như vậy, nội dung PTBV chính

là sự phát triển cân đối, hài hoà giữa ba nhân tố tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội

và bảo vệ môi trường, không nhân tố nào được xem nhẹ

Trang 17

Mô hình ba cực của PTBV đã được Mohan Munasingle, chuyên gia của Ngân hàng thế giới (WB) phát triển, hệ thống hóa thành sơ đồ vào năm 1993 dưới đây [4]:

Hình 2 Mô hình phát triển bền vững theo Mohan Munasingle

Nguồn: [4]

Năm 1995, chương trình xây dựng các chỉ thị PTBV lần đầu tiên được thông qua sau phiên họp của Ủy ban PTBV LHQ Đến tháng 8 năm 2016, dự thảo 134 chỉ tiêu PTBV được ra đời và áp dụng thí điểm tại 22 quốc gia trên toàn thế giới theo mô hình nhân quả nhưng không thành công trong việc nghiên cứu các mối quan hệ phức tạp giữa các vấn đề PTBV [29]

Năm 2001, Ủy ban PTBV công bố bộ chỉ thị PTBV với 15 chủ đề và 58 chỉ thị cốt lõi PTBV nhằm hỗ trợ các nước trong việc đo lường bước tiến tới PTBV, song song với 8 mục tiêu thiên niên kỷ năm 2000

Năm 2007, Ủy ban PTBV ban hành sách Hướng dẫn và phương pháp tính chỉ số PTBV [50] Hướng dẫn và phương pháp tính chỉ số PTBV của Liên hợp quốc là tài liệu cung cấp hệ thống chỉ tiêu PTBV một cách chi tiết và cụ thể, bên cạnh đó là các đề xuất

để mỗi quốc gia thích ứng với những điều kiện của mình Từ các trụ cột chính của PTBV,

UN chia thành các hợp phần, các hợp phần phụ và hệ thống chỉ tiêu được hình thành tương ứng với các hợp phần đó Với mỗi chỉ tiêu có lý do hình thành (sự ảnh hưởng tới PTBV), phương pháp đánh giá, tình trạng và nguồn cung cấp dữ liệu tương ứng Hệ thống chỉ tiêu là tổng quát nên để không áp dụng máy móc vào một trường hợp cụ thể, tác giả có đưa ra một số đề xuất cho các quốc gia có thể vận dụng linh hoạt

Trang 18

Song song với hệ thống chỉ tiêu và phương pháp tính chỉ số PTBV do Ủy ban LHQ ban hành, nhận thấy được tầm quan trọng trong việc đo lường chỉ số PTBV ở từng quốc gia cho phù hợp với đặc trưng nổi bật của đất nước, một loạt quốc gia như Anh,

xứ Walse, Hongkong, Malaysia đã ban hành riêng bộ chỉ tiêu PTBV áp dụng cho quốc gia của mình Tuy các bộ chỉ tiêu ở mỗi quốc gia khác nhau là khác nhau, nhưng tựu chung lại đều đảm bảo các mục tiêu chung như: định hướng PTBV trên Thế giới và đảm bảo phát triển hài hòa các lĩnh vực kinh tế - xã hội - môi trường nội tại các quốc gia

Bộ chỉ số đánh giá tính bền vững đã được xây dựng cho Đài Loan vào năm 2006 [37] Trong nghiên cứu này các tác giả đã nhấn mạnh Đài Loan là một quốc đảo, có các

hệ sinh thái và môi trường nhạy cảm, có mức độ tổn thương cao với thiên tai và biến đổi môi trường toàn cầu Do vậy, yêu cầu cần phải có các công cụ để định lượng được tính bền vững của quốc đảo này Bộ chỉ số đánh giá tính bền vững của Đài Loan được xây dựng trên cơ sở các chiến lược, chính sách phát triển, công nghệ và quản trị Bộ chỉ số này bao gồm 51 chỉ tiêu, thuộc 4 lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế chính sách

Bộ chỉ số đánh giá PTBV được xây dựng và phát triển ở Hồng Kông thể hiện những thay đổi trong quan điểm của công chúng với sự PTBV Hàng năm giữa tháng 7

và tháng 9 trên 2.000 người dân từ 18 tuổi trở lên ở Hồng Kông được lựa chọn lấy mẫu ngẫu nhiên qua điện thoại Những người trả lời phỏng vấn tham gia vào các cuộc đối thoại chi tiết, thường kéo dài 20-30 phút, về những vấn đề quan trọng đối với sự bền vững của Hồng Kông Đối với mỗi lĩnh vực ưu tiên, người trả lời được yêu cầu chỉ ra xếp hạng của họ trên thang điểm 10 điểm Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, từ năm 2003 đến năm 2007, Hệ thống Giáo dục, Bảo vệ Môi trường, Y tế và vệ sinh là ba chủ đề quan trọng nhất góp phần vào sự PTBV ở Hồng Kông Ngược lại, Tự do dân sự và Nhân quyền, Chính sách và Dân số là những chủ đề xếp loại thấp nhất đóng góp vào sự bền vững của Hồng Kông [49]

Tại Anh quốc năm 2013 [32] và 2015 [41], báo cáo của cục thống kê tổng quan

về quá trình phát triển theo hướng bền vững thông qua 12 chỉ tiêu chính và 23 chỉ tiêu

bổ sung, được đánh giá cả trong ngắn hạn và dài hạn với hệ thống chỉ tiêu chi tiết ở cả

3 khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường với số liệu được thu thập qua các năm và được thể hiện qua các bảng biểu Tuy nhiên bộ chỉ tiêu này dùng phương pháp đèn giao thông (traffic lights) để nhận định những diễn biễn của sự phát triển, không có các chỉ tiêu tổng hợp và cách tính toán, định lượng giá trị cho từng chỉ tiêu và chỉ số tổng hợp

Để đánh giá tính bền vững vùng ven biển Ấn Độ, bộ tiêu chí gồm 19 chỉ tiêu thuộc 14 lĩnh vực của 3 trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường đã được xây dựng và đánh giá [36] Các chỉ tiêu được lựa chọn để đánh giá dựa trên tính đơn giản, tính sẵn có của

Trang 19

dữ liệu, các ưu tiên của quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường Sự biến động của các giá trị chỉ số/tiêu chí theo thời gian phản ảnh các xu thế bền vững hoặc không bền vững Kết quả chỉ ra rằng các khu vực có diện tích hành chính nhỏ và thu nhập cao có tính bền vững cao hơn Các kết quả đánh giá tính bền vững cho các bang ven biển Ấn Độ chỉ ra rằng, bộ tiêu chí cung cấp phương pháp định lượng, giúp các nhà lập chính sách xây dựng các chiến lược phát triển để cân bằng ba trụ cột kinh

tế, xã hội và môi trường Đồng thời, khi so sánh chỉ số tính bền vững của các bang khác nhau, giúp chính phủ nhận ra các vùng cần được đầu tư, phân bổ kinh phí để nâng cấp

cả ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường nhằm thực hiện PTBV

Ngày 25/9/2015, Chương trình nghị sự (CTNS) 2030 [43, 46] chính thức được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh Liên hợp quốc tại New York CTNS 2030 đưa ra 17 mục tiêu PTBV với 169 chỉ tiêu cụ thể có độ bao phủ chính sách phổ quát, rộng lớn, toàn diện, vì lợi ích của mọi người dân trên toàn thế giới, cho các thế hệ hôm nay và mai sau với mục tiêu hoàn tất công việc dang dở của Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và CTNS 21 không để ai bị bỏ lại phía sau

Hình 3 17 mục tiêu toàn cầu về phát triển bền vững tới năm 2030 của LHQ

Nguồn: [44]

Như vậy, các nghiên cứu trên thế giới đã tập trung xây dựng các bộ chỉ số khác nhau để đánh giá mức độ PTBV ở cấp địa phương, quốc gia và vùng lãnh thổ Các tiêu chí đánh giá PTBV là rất đa dạng và có nhiều ý nghĩa thực tiễn trong đề xuất các giải pháp về chính sách, quản trị, quy hoạch, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường

và ứng phó với BĐKH Tuy nhiên, danh sách chỉ tiêu còn quá dài gây khó khăn cho việc

áp dụng tất cả các chỉ thị cho các quốc gia/vùng lãnh thổ khác nhau

Trang 20

1.2.2 Tại Việt Nam

Tầm quan trọng của PTBV được Đảng và nhà nước nhận định từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam, trong Chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội 1991 - 2000 Cho tới nay, đã có nhiều chủ trương và chính sách được ban hành nhằm thực hiện các mục tiêu PTBV tuy nhiên thực tế khi đi vào thực hiện chưa đạt được kết quả đáng kể, bộc lộ nhiều yếu kém Theo nhận định của Ban kinh tế trung ương:

- Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu, chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, công nghệ thấp, tiêu hao vật chất cao và sử dụng nhiều vốn, tiêu hao năng lượng lớn

- Xóa đói, giảm nghèo chưa bền vững, tình trạng tái nghèo cao Khoảng cách chênh lệnh giàu - nghèo còn khá lớn và ngày càng giãn ra

- Chất lượng chăm sóc sức khỏe còn thấp, hệ thống y tế và chất lượng dịch vụ y

tế chưa đáp ứng được yêu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân Vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được kiểm soát chặt chẽ

- Chất lượng môi trường xuống cấp, gia tăng tình trạng ô nhiễm, tài nguyên thiên nhiên (TNTN) dần cạn kiệt và mất dần sự đa dạng sinh học Đặc biệt trong những năm gần đây, Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ những tác động tiêu cực của tình trạng BĐKH dẫn đến thiên tai, hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn ngày càng khốc liệt

Dù Chính phủ đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm định hướng, vận hành các chiến lược PTBV của Việt Nam từng giai đoạn như: các quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, số 1032/QĐ-TTg, số 432/QĐ-TTg [18], số 160/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong đó có đưa ra bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá PTBV cho từng địa phương tuy nhiên bộ chỉ tiêu còn khá hạn chế, chưa đề cập được nhiều khía cạnh PTBV Một số nghiên cứu có đề cập hay đưa ra cách tính chỉ số PTBV, tuy nhiên những chỉ số

về môi trường, công bằng xã hội chưa được xem xét hài hòa với các chỉ số về kinh tế, cách tính toán các chỉ tiêu cũng chưa thực sự phù hợp Một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do Việt Nam chưa có một công cụ hữu hiệu để đo lường, đánh giá PTBV

Hiện nay, nghiên cứu liên quan đến PTBV ở Việt Nam đã được triển khai ở cấp trung ương, cấp vùng đến cấp địa phương (cấp tỉnh và nhỏ hơn là cấp huyện, xã)

Ở cấp quốc gia, Nguyễn Thị Minh Thu (2013) đã trình bày phương pháp tính toán chỉ số PTBV Việt Nam thông qua việc lựa chọn hệ thống chỉ tiêu gồm 30 chỉ tiêu được Chính phủ ban hành ngày 12/4/2012 làm căn cứ xây dựng chỉ số tổng hợp Kết

Trang 21

quả đã thu thập, tính toán được 16 chỉ tiêu trên cơ sở dữ liệu hiện có của các chỉ tiêu trong giai đoạn 2001 - 2012 của Việt Nam thông qua việc sử dụng hai phương pháp bình quân cộng và bình quân nhân, với trường hợp có tính trọng số và không tính trọng số Kết quả nghiên cứu chỉ ra chỉ số PTBV môi trường của Việt Nam tăng trưởng tích cực

và đạt giá trị cao, trong khi đó chỉ số PTBV kinh tế phát triển không đồng đều, phụ thuộc nhiều vào bối cảnh nền kinh tế Việt Nam cũng như Kinh tế Thế giới, đặc biệt là tác động của khủng hoảng kinh tế giai đoạn 2008 - 2009 Trong khi đó, chỉ số xã hội và chỉ số PTBV chung có xu hướng tăng lên nhưng vẫn ở mức thấp

Nghiên cứu, đánh giá PTBV cấp vùng, cấp tỉnh và cấp huyện được thực hiện tại khu vực Tây Nguyên và khu vực Tây Bắc Trong khuôn khổ Chương trình Tây Nguyên

3, đề tài “Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường các tỉnh Tây Nguyên” Mã số TN3/T08 do PGS.TS Trần Văn Ý [29] làm chủ nhiệm đã xây dựng thành công bộ chỉ tiêu PTBV về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường các tỉnh Tây Nguyên Đây là sản phẩm khoa học công nghệ có tính ứng dụng cao trong đánh giá, giám sát, điều chỉnh các chính sách phát triển kinh tế xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường khu vực Tây Nguyên hướng đến PTBV Bộ chỉ tiêu gồm 77 chỉ tiêu cho cấp vùng, 70 chỉ tiêu cấp tỉnh và 49 chỉ tiêu cấp huyện [29] trợ giúp đo tổng thể quá trình PTBV Tây Nguyên một cách toàn diện gồm 13 chủ đề, phù hợp với thông lệ quốc tế, quốc gia và đặc thù của các tỉnh Tây Nguyên Lĩnh vực kinh

tế gồm 3 chủ đề: phát triển kinh tế, quan hệ kinh tế quốc tế, phương thức sản xuất và tiêu dùng Lĩnh vực xã hội gồm 5 chủ đề: mức sống, quản trị, sức khoẻ, giáo dục, dân

số Lĩnh vực môi trường gồm 5 chủ đề: thiên tai, khí quyển, đất đai, tài nguyên nước ngọt, đa dạng sinh học

Trong khuôn khổ Chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước “Khoa học

và công nghệ phục vụ PTBV vùng Tây Bắc” (chương trình Tây Bắc), mức độ PTBV của các tỉnh vùng Tây Bắc được đánh giá dựa trên hệ thống chỉ tiêu theo Quyết định 2157/QĐ-TTg ngày 11 tháng 11 năm 2013 [19] Đề tài đã tính toán được chỉ số PTBV

áp dụng cho các tỉnh Tây Bắc trong giai đoạn 2010 - 2014 Tuy nhiên, có tới 12/34 chỉ tiêu theo Bộ chỉ số của QĐ-2157 rất khó thu thập được dữ liệu (Chủ yếu là các chỉ tiêu trong lĩnh vực môi trường) hoặc chưa rõ ràng trong công thức tính (thuộc lĩnh vực kinh tế) Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến thực tế thiếu dữ liệu đầu vào như chỉ tiêu chưa được các Bộ, ban ngành triển khai nghiên cứu hoặc chưa đến kỳ hạn báo cáo, số liệu cấp huyện gần như không thể thu thập, một số chỉ số đánh giá PTBV không khả thi, đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả tính toán mức độ PTBV tại các địa phương

Trang 22

Ngoài ra, một số nghiên cứu PTBV được thực hiện ở các địa phương khác nhau

ở Việt Nam, bao gồm:

Hai và nnk (2009) đã nghiên cứu về thành lập mô hình, phần mềm tính toán tính

bền vững theo cách tiếp cận Delphi với 37 chỉ tiêu trên ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường (trong giai đoạn 2000-2005) đã được thực hiện tại Quảng Trị tại quy mô cấp huyện/thành thị Trong đó, các lĩnh vực quyết định PTBV của địa phương bao gồm: nhu cầu con người, quản lý công nghệ, duy trì phát triển kinh tế, mức độ bền vững dân số, giảm thiểu nghèo đói, bảo tồn tài nguyên Các cấp độ có thể được đánh giá gồm: các tổ chức chính phủ, NGO’s, cá nhân, cộng đồng

Bộ chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của khu vực tỉnh Thái Bình được xây dựng theo cách tiếp cận Delphi đã đưa ra bộ chỉ số gồm 69 chỉ tiêu trên các lĩnh vực kinh tế,

xã hội, phát triển con người, môi trường và BĐKH [34] Trong nghiên cứu này, 69 chỉ tiêu PTBV đã được lựa chọn bao gồm 15 chỉ tiêu về PTBV kinh tế, 5 chỉ tiêu về vùng biển và đới bờ, 1 chỉ tiêu về đối tác kinh tế toàn cầu, 4 chỉ tiêu về tiêu thụ và sản xuất,

7 chỉ tiêu nghèo, 3 chỉ tiêu về quản trị, 9 về sức khỏe, 4 chỉ tiêu về giáo dục, 3 chỉ tiêu

về dân số, 2 về tai biến thiên nhiên, 5 chỉ tiêu về khí quyển, 7 chỉ tiêu về đất và 3 chỉ tiêu về môi trường nước

Gần đây nhất, để thực hiện những cam kết khi tham gia vào chương trình nghị sự PTBV đến năm 2030 của bộ 17 lĩnh vực, 169 chỉ tiêu mà LHQ đã ban hành vào năm

2015, Thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số 622/QĐ-TTg [20] về việc ban hành kế hoạch hành động quốc gia thực hiện chương trình nghị sự 2030 vì sự PTBV Theo đó, tương ứng với 17 chủ đề của PTBV được LHQ thông qua, các mục tiêu PTBV của Việt

Nam cũng hướng tới 17 lĩnh vực này (được trình bày chi tiết tại mục 3.1.1) Tuy nhiên

để phù hợp với điều kiện thực tế của quốc gia, 115 chỉ tiêu cụ thể được áp dụng tại Việt Nam tương ứng với các mục tiêu PTBV toàn cầu của Đại hội đồng LHQ Mặc dù có giản lược bớt so với 169 chỉ tiêu của LHQ, nhưng hệ thống chỉ tiêu này còn quá nhiều chỉ tiêu, sẽ gây khó khăn cho việc thu thập và xử lý dữ liệu ở các cấp nhỏ hơn như cấp địa phương Ngoài ra, đây còn là một chiến lược rất dài hơi, chưa thể áp dụng để đo lường ngay mức độ PTBV của các tỉnh trong cả nước cũng như của Việt Nam

Như vậy, giám sát, đánh giá PTBV ngày càng được quan tâm thực hiện từ cấp Trung ương đến cấp địa phương Khung bộ chỉ tiêu và cơ sở, công thức, phương pháp tính toán PTBV đã từng bước được đề xuất và đánh giá cho một số vùng ở Việt Nam Tuy nhiên, việc thực hiện trong thực tế còn rất nhiều bất cập, khó khăn, đòi hỏi phải có thêm những nghiên cứu cụ thể, có tính ứng dụng, áp dụng cao để góp phần đánh giá hiện trạng mức độ PTBV ở cấp trung ương, địa phương để từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm hướng đến các mục tiêu, định hướng PTBV

Trang 23

1.3 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Quan điểm tiếp cận

1.3.1.1 Tiếp cận hệ thống

Đánh giá PTBV là một quá trình phức tạp, liên quan đến đánh giá nhiều hợp phần

khác nhau gồm: kinh tế, môi trường và xã hội Các hợp phần này vừa có tính độc lập

tương đối, vừa tác động lẫn nhau, liên quan đến nhau Do vậy, phương pháp tiếp cận hệ thống được sử dụng để đánh giá được sự tương tác giữa các nhóm hợp phần: hợp phần

tự nhiên - môi trường (chất lượng môi trường đất, nước, không khí,…); Hệ sinh thái (đa dạng sinh học ), Kinh tế (phát triển kinh tế, đầu tư,…); Xã hội (phúc lợi xã hội, hoạt động văn hóa, y tế, giáo dục, mức sống dân cư)

và môi trường

1.3.1.3 Tiếp cận phát triển bền vững

Tiếp cận PTBV coi một hệ thống bền vững cần đảm bảo không bị suy kiệt về các vốn tự nhiên hoặc bị phá hủy về các dịch vụ hệ sinh thái Nghĩa là xây dựng một hệ thống bền vững và đáng sống về nhiều mặt gồm các vốn tự nhiên, xã hội, con người [33] Các tiêu chí và chỉ tiêu về PTBV cần đảm bảo tuân thủ được các định hướng, tiêu chí của PTBV của nhà nước và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Điện Biên

Do vậy, phương pháp tiếp cận PTBV cần được quán triệt và sử dụng trong việc thực hiện toàn bộ các nội dung và giai đoạn thực hiện của luận văn

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu

1.3.2.1 Phương pháp thu thập, hệ thống hóa số liệu

Để có đủ những dữ liệu, bộ chỉ tiêu, số liệu cần thiết phục vụ cho việc tính toán, đánh giá mức độ phát triển và PTBV về kinh tế, xã hội, môi trường, tổng hợp cho tỉnh Điện Biên, cơ sở tài liệu của luận văn dựa trên một số nguồn tài liệu, dữ liệu chính như sau:

- Nghị quyết số 77/2014/QH2013 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015;

Trang 24

- Quyết định 1064/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng trung du và miền núi phía Bắc đến năm 2020 ngày 08 tháng 07 năm 2013;

- Chỉ thị số 14/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015;

- Quyết định số 432/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược PTBV Việt Nam giai đoạn

2011 - 2020;

- Quyết định số 2157/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 về việc ban hành bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá PTBV địa phương giai đoạn 2013 - 2020;

- Kết quả báo cáo phát triển kinh tế của tỉnh Điện Biên qua các năm;

- Văn kiện chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2010 - 2015;

- Niên giám thống kê kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên qua các năm;

- Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2015;

- Kết quả nghiên cứu từ đề tài “Nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu liên ngành phục vụ PTBV vùng Tây Bắc” mã số: KHCN-TB.01C/13-18; do PGT.TS Nguyễn Văn Vượng làm chủ nhiệm đề tài;

- Kết quả nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình PTBV tích hợp 3E+1 (kinh tế, môi trường, hệ sinh thái và an ninh phi truyền thống) cho các khu vực biên giới Việt - Lào vùng Tây Bắc” do TS Trần Đăng Quy làm chủ nhiệm, thực hiện từ 2016-2018 Học viên đã tham gia vào công tác điều tra kinh tế, xã hội, tài nguyên và môi trường tại tỉnh Điện Biên vào tháng 10-11/2017;

- Dữ liệu của tổng cục thống kê: http://gso.gov.vn

- Các thông tin, số liệu, dữ liệu từ các trang web chính thức của các Bộ, Ban ngành, địa phương

Học viên đã tổng hợp và kế thừa các kết quả nghiên cứu về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Điện Biên qua các giai đoạn, các báo cáo về môi trường, điều kiện tự nhiên, yếu tố xã hội,… các tài liệu này sẽ được phân loại, sắp xếp có trình tự và được định hướng vào nghiên cứu để đánh giá đặc điểm điều kiện tự nhiên và tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, phát triển kinh tế bền vững tại khu vực nghiên cứu

1.3.2.2 Phương pháp điều tra thực địa

Khảo sát thực địa trên địa bàn tỉnh Điện Biên nhằm làm rõ các đặc điểm tự nhiên, hiện trạng CSHT, thu thập và làm rõ đặc trưng về điều kiện tự nhiên, đặc biệt là tài nguyên, sinh thái, môi trường của khu vực nghiên cứu (đất đai, địa hình, mạng lưới thuỷ văn, sự phân bố cây trồng/vật nuôi, khó khăn, thuận lợi, ) Xác định các biểu hiện thiên

Trang 25

tai và địa điểm thường bị ảnh hưởng từ những rủi ro thiên tai (hạn hán, lũ quét, trượt đất, cháy rừng…),… làm cơ sở cho việc đánh giá chính xác mức độ PTBV kinh tế - xã hội - môi trường tỉnh Điện Biên Các hoạt động thực địa đã được học viên tham gia thực hiện vào tháng 10-11 năm 2017

Hình 4 Khảo sát tai biến trượt lở (a) và phỏng vấn người dân (b) huyện Điện Biên,

tỉnh Điện Biên

1.3.2.3 Phương pháp chuyên gia

Để thực hiện luận văn, học viên tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn và các chuyên gia trong lĩnh vực đánh giá PTBV - người có nhiều kiến thức trong vấn đề này và những người có am hiểu về vấn đề nghiên cứu để hoàn thiện đề tài Ngoài ra, các chuyên gia tư vấn còn là những cán bộ hiện đang làm việc tại các cơ quan quản lý của tỉnh Điện Biên nắm được chính xác nhất tình hình, mức độ phát triển của địa phương

Do vậy, các kết quả tham vấn thu được sẽ góp phần hoàn thiện bộ chỉ số một cách tốt nhất, phương pháp tính toán, lựa chọn trọng số một cách tối ưu và phản ánh chính xác nhất kết quả tính toán PTBV tại địa phương [40]

Học viên đã trực tiếp dùng bảng hỏi đã được định sẵn để lấy ý kiến các chuyên gia, các cán bộ địa phương ở tất cả các cấp xã, cấp huyện và sở ban ngành cấp tỉnh từ ngày 10/10/2017 đến ngày 19/10/2017 Nội dung phiếu tham vấn ý kiến bao gồm 55 chỉ tiêu có tính khả thi trong việc đánh giá PTBV được tổng hợp trên cơ sở khoa học và trong điều kiện thu thập được Các chuyên gia và cán bộ địa phương cho điểm một cách độc lập từ 1 - 5 điểm tương ứng với mức độ phù hợp, cần thiết của từng chỉ tiêu, hợp phần đó trong bộ chỉ tiêu đánh giá PTBV tỉnh Điện Biên Kết quả thu thập được sẽ là một trong những cơ sở quan trọng để xác lập bộ chỉ số tổng hợp cuối cùng

Trang 26

Hình 5 Lấy ý kiến cán bộ xã Na Ư và huyện Điện Biên

Kết quả tham vấn ý kiến 25 chuyên gia và các cán bộ địa phương ở các cấp (trong

đó 2 chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực PTBV, 11 cán bộ tại ủy ban và các sở ban ngành cấp tỉnh, 6 cán bộ cấp huyện và 6 cán bộ cấp xã)

Trang 27

Khi xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá mức độ PTBV của địa phương, có những chỉ tiêu thuận (giá trị chỉ tiêu tác động cùng chiều với chỉ số tổng hợp, tức giá trị chỉ tiêu tăng tác động tích cực tới PTBV), và ngược lại có những chỉ tiêu nghịch (giá trị chỉ tiêu tăng tác động tiêu cực tới PTBV) [31] Với mỗi chỉ tiêu được phân loại khác nhau sẽ áp dụng cách tính khác nhau:

Đối với chỉ tiêu quan hệ tỷ lệ thuận, áp dụng công thức:

𝐼𝑡ℎ𝑢ậ𝑛 = 𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị−𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị𝑀𝑖𝑛

𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑀𝑎𝑥 −𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑀𝑖𝑛 (1) Đối với chỉ tiêu quan hệ tỷ lệ nghịch, áp dụng công thức:

𝐼𝑛𝑔ℎị𝑐ℎ = 𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị𝑀𝑎𝑥 −𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị

𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑀𝑎𝑥 −𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑀𝑖𝑛 (2) Trong đó, giá trị Max, giá trị Min của từng chỉ tiêu được xác định căn cứ vào tập

số liệu thống kê trong một giai đoạn của vùng nghiên cứu hoặc là giá trị kì vọng mà chúng ta đạt được (Bảng 3) Khi lựa chọn công thức tính qua phương pháp này, rõ ràng kết quả cuối cùng sẽ phụ thuộc nhiều vào việc nhận định giá trị Max và giá trị Min, bên cạnh giá trị thực của chỉ tiêu

Sau khi các chỉ thị được chuẩn hóa về miền [0-1], các giá trị sau chuẩn hóa của từng chỉ thị sẽ được so sánh với 0,5 (là giá trị đã được xác định làm quy chuẩn đánh giá) Các chỉ thị có giá trị chuẩn hóa trung bình giai đoạn đạt trên 0,5 được coi là “phát triển”; dưới 0,5 và mức độ thay đổi không ổn định tích cực thì được gọi là “kém phát triển” Các chỉ thị có giá trị trung bình giai đoạn dưới 0,5 có thể được xem là “có xu hướng phát triển” nếu có giá trị xu thế tăng theo thời gian vào các năm cuối giai đoạn

đã vượt ngưỡng 0,5 [23]

Sau khi chuẩn hóa được các chỉ tiêu, học viên tiến hành tính chỉ số PTBV của các hợp phần Qua tổng quan các công thức tính chỉ số tổng hợp, nhận thấy phương pháp tính số bình quân là phù hợp để tính chỉ số thành phần và chỉ số tổng hợp PTBV Cách tính này sẽ san bằng, bù trừ các chênh lệch về trị số của các chỉ tiêu, từ đó đưa ra một trị số mang tính đại diện nhất cho vấn đề nghiên cứu [17]

Công thức tính số bình quân có nhiều loại khác nhau: Bình quân cộng giản đơn (không trọng số), bình quân cộng gia quyền (có trọng số), bình quân nhân giản đơn và bình quân nhân gia quyền Trong luận văn này, học viên nhận thấy phương pháp bình quân nhân giản đơn (không trọng số) là phù hợp nhất để tính toán Có 3 nguyên nhân để

lựa chọn công thức bình quân nhân giản đơn để tính toán chỉ số PTBV vì thứ nhất, nội

hàm của PTBV hướng tới sự phát triển cân đối, hài hòa giữa tất cả các chỉ tiêu, tiêu chí xuyên suốt 3 yếu tố kinh tế - xã hội - môi trường Vì vậy rất khó để có thể áp dụng một

Trang 28

mức trọng số nhất định cho từng chỉ tiêu, hợp phần [23] Thứ hai, nếu tính toán chỉ số

PTBV trên cơ sở áp dụng trọng số cho các chỉ tiêu, hợp phần sẽ rất khó để có thể thực

hiện việc so sánh, giám sát giữa các địa phương Thứ ba, ưu điểm sử dụng phương pháp

trung bình nhân so với trung bình cộng để tính toán chỉ số PTBV tổng hợp khi phương pháp trung bình nhân đề cao giá trị đồng đều, cân bằng của các yếu tố thành phần Nó không cho phép sự bù trừ của các hợp phần trong kết quả trung bình như phương pháp trung bình cộng mà coi trọng sự phát triển cân bằng của các hợp phần [38]

Sau khi các chỉ tiêu được chuẩn hóa về giá trị 0 - 1, chỉ số PTBV của các hợp phần tương ứng được tính theo công thức sau:

- Chỉ số PTBV Kinh tế

𝐾𝑇 = √∏ 𝐸 𝑖

𝑛 𝑖=1

𝑛

- Chỉ số PTBV Xã hội

𝑋𝐻 = √∏ 𝑆 𝑖

𝑛 𝑖=1

𝑛

- Chỉ số PTBV Môi trường

𝑀𝑇 = √∏ 𝐸𝑁 𝑖

𝑛 𝑖=1

𝑛

Trong đó: KT, XH, MT lần lượt là chỉ số PTBV kinh tế, xã hội và môi trường

E i , S i , EN i lần lượt là các chỉ tiêu thứ i trong hợp phần kinh tế, xã

hội, môi trường

Sau khi đã xác định được chỉ số của 3 hợp phần kinh tế, xã hội, môi trường cũng như các chỉ tiêu tương ứng của từng hợp phần, chỉ số PTBV của địa phương được tính theo công thức:

Trong đó Y là chỉ số PTBV tổng hợp;

Chỉ số đánh giá (Y) càng gần 1 thì tỉnh càng PTBV và ngược lại [30]

Trang 29

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

TỈNH ĐIỆN BIÊN 2.1 Vị trí địa lý

Điện Biên là một tỉnh biên giới miền núi vùng Tây Bắc được giới hạn bởi các toạ

độ địa lý: từ 20o54’-22o33’ vĩ độ Bắc và 102o10’-103o36’ kinh độ Đông Địa giới hành chính của tỉnh tiếp giáp với:

+ Phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu;

+ Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La;

+ Phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc);

+ Phía Tây và Tây Nam giáp với hai tỉnh Luông Pha Băng và Phong Sa Lỳ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Hình 6 Sơ đồ mô tả vị trí tỉnh Điện Biên

Nguồn: [14]

Tỉnh Điện Biên có chung đường biên giới với Trung Quốc và Lào, trong đó đường biên giới với Lào dài 360 km được thông thương qua hai cửa khẩu chính Huổi Puốc và Tây Trang (huyện Điện Biên) Đường biên giới với Trung Quốc có chiều dài 38,5 km được thông thương qua cửa khẩu A Pa Chải (huyện Mường Nhé) Ngoài ra còn

có nhiều cặp cửa khẩu buôn bán tiểu ngạch dọc theo biên giới với hai nước bạn [5]

Trang 30

Toàn tỉnh có 10 đơn vị hành chính là: Thành phố Điện Biên Phủ (Trung tâm tỉnh lỵ), thị xã Mường lay, các huyện: Mường Nhé, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo, Mường Ảng, Điện Biên, Điện Biên Đông và Nậm Pồ Với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 956.290,37 ha (chiếm khoảng 2,8% diện tích tự nhiên của cả nước) Thành phố Điện Biên Phủ là trung tâm kinh tế - văn hoá - chính trị của tỉnh Điện Biên, cách thủ đô

Hà Nội khoảng 502 km về phía đông

2.2 Điều kiện tự nhiên

2.2.1 Địa hình, địa mạo

Điện Biên có những đặc điểm địa hình rất riêng biệt, có sự kết hợp của nhiều kiểu địa hình khác nhau, phổ biến là địa hình núi cao do được tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, độ cao biến đổi từ 200 m đến trên 1.800 m

Địa hình có xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng dần từ Tây sang Đông Ở phía Bắc có đỉnh núi cao trên 2.000 m nằm trong dãy núi Pu Tu Lum (thuộc Mường Nhé) phân chia biên giới Việt Nam - Trung Quốc Ở phía Tây có điểm cao 1.860

m và dãy điểm cao từ Mường Phăng kéo xuống Tuần Giáo Xen lẫn các dãy núi cao là các thung lũng, sông suối nhỏ hẹp và dốc phân bố khắp nơi trên địa bàn tỉnh, trong đó đáng kể có thung lũng Mường Thanh rộng hơn 15.000 ha, là cánh đồng lớn và nổi tiếng nhất của tỉnh và toàn vùng Tây Bắc

Nhìn chung địa hình ở Điện Biên khá hiểm trở, ngoài lòng chảo Điện Biên và một số khu vực thuộc huyện Mường Ảng, Tuần Giáo, cao nguyên ở Mường Nhé, Tủa Chùa địa hình tương đối bằng phẳng, còn hầu hết là địa hình đồi núi dốc, hiểm trở và chia cắt mạnh nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, nhất là mạng giao thông kết nối và tổ chức các điểm dân

Trang 31

Hệ thống sông của tỉnh Điện Biên có tổng lượng dòng chảy năm khoảng 9,7 tỷ

m3 Nguồn nước mặt trong tỉnh Điện Biên khá dồi dào với 56% được cung cấp từ hệ thống sông Đà, 26% từ thượng nguồn sông Mã và 18% từ sông Mê Kông, có xu hướng tăng dần từ Nam lên Bắc Tuy nhiên lưu lượng dòng chảy trong năm thay đổi rõ rệt theo mùa Khu vực phía Nam tỉnh, phần thuộc lưu vực sông Mê Kông và sông Mã có nguồn nước kém hơn do lượng mưa thấp hơn các khu vực khác trong tỉnh [14]

2.2.2.2 Hệ thống hồ

Bên cạnh hệ thống sông suối, trên địa bàn tỉnh còn có một hệ thống hồ chứa với quy mô và chức năng khác nhau Trong đó phải kể đến 5 hồ lớn bao gồm: Hồ Pa Khoang (Mường Phăng, huyện Điên Biên), Hồ Huổi Phạ (phường Him Lam, thành phố Điện Biên Phủ), Hồ Hồng Sạ (xã Sa Mứn, huyện Điên Biên); Hồ Pe Luông (xã Thanh Luông, huyện Điên Biên); Hồ Hồng Khếnh (xã Thanh Hưng, huyện Điên Biên)

Trong giai đoạn 2011 - 2015 tỉnh đã đầu tư xây dựng mới 96 công trình thủy lợi

và nâng cấp sửa chữa 66 công trình Đến nay, toàn tỉnh hiện có 793 công trình thuỷ lợi, trong có 522 công trình kiên cố, 271 công trình tạm và 1.370 km kênh mương các loại trong đó có 949,7 km kênh đã được kiên cố hóa còn lại 420,4 km là kênh đất Hệ thống

hồ, đập, kênh dẫn nước tưới được đầu tư đã tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân khai hoang, tăng diện tích gieo trồng, thâm canh, tăng vụ, nâng cao năng suất và sản lượng các loại cây trồng, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, chuyển đổi cơ cấu cây trồng

2.2.3 Tài nguyên thiên thiên

2016 tăng lên 25.020,75 ha và được tăng từ đất chưa sử dụng

b Đất phi nông nghiệp

Diện tích đất phi nông nghiệp năm 2011 là 23.669,30 ha chiếm 2,47% đến năm

2016 là 25.542,73 chiếm 2,68% tổng diện tích đất tự nhiên Thực tăng trong giai đoạn

2011 - 2016 là 1.873,43 ha chủ yếu là từ đất chưa sử dụng

Trang 32

c Đất chưa sử dụng

Diện tích đất chưa sử dụng năm 2016 là 199.617,46 ha chiếm 20,92% tổng diện tích đất tự nhiên trong toàn tỉnh Trong cả giai đoạn 2011 - 2016 diện tích đất chưa sử dụng giảm 26.546,44 ha và giảm chủ yếu là diện tích đất đồi núi chưa sử dụng do được khai thác, cải tạo đưa vào sử dụng cho các mục đích phát triển nông, lâm nghiệp cũng như đáp ứng nhu cầu đất phi nông nghiệp

Hình 7 Hiện trạng sử dụng các nhóm đất tỉnh Điện Biên năm 2016

Nguồn: [9] 2.2.3.2 Tài nguyên khoáng sản

Điện Biên có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng về chủng loại, gồm các loại chính như: nước khoáng, than mỡ, đá vôi, đá đen, đá granit, quặng sắt và kim loại màu, nhưng trữ lượng thấp và nằm rải rác trong tỉnh và chưa được thăm dò đánh giá kỹ

Đến nay trên địa bàn tỉnh đã xác định được 32 điểm quặng sắt và kim loại, 14 điểm mỏ than, trong đó có 2 điểm được đánh giá trữ lượng cấp C1 và nhiều điểm khoáng sản VLXD, nước khoáng nhưng chưa được thăm dò đánh giá sâu về trữ lượng và chất lượng

Về khoáng sản kim loại: có sắt, chì, chì - kẽm, nhôm, đồng, thủy ngân Sắt phân

bố rải rác ở các huyện Điện Biên, Tuần Giáo và Mường Chà với quy mô nhỏ, chỉ ở mức điểm quặng và chưa xác định được trữ lượng Chì - kẽm phân bố tập trung quanh huyện Điện Biên, Điện Biên Đông, Tủa Chùa và thành phố Điện Biên Phủ Hiện nay có điểm quặng chì kẽm ở khu vực Tuần Giáo đang hoạt động Đồng qua khảo sát sơ bộ phát hiện

mỏ đồng ở khu vực Chà Tở huyện Mường Chà với trữ lượng khá lớn Nhôm và nhôm - sắt có triển vọng ở xã Phình Sáng huyện Tuần Giáo với trữ lượng cấp P khoảng 40 - 50 triệu tấn [14]

Trang 33

2.2.3.3 Tài nguyên nước

Với lượng mưa hàng năm khá lớn, hệ thống ao hồ và sông suối nhiều (toàn tỉnh

có hơn 10 hồ lớn và hơn 1.000 sông suối lớn nhỏ phân bố tương đối đồng đều trong tỉnh) nên nguồn nước mặt ở Điện Biên rất phong phú theo 3 hệ thống sông chính là sông Đà, sông Mó và sông Mê Kông Sông Đà ở phía Bắc tỉnh (giáp với tỉnh Lai Châu mới) bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) qua Mường Tè (tỉnh Lai Châu) - Mường Lay - Tuần Giáo rồi chảy về tỉnh Sơn La Sông Đà (trên địa bàn Điện Biên có các phụ lưu chính là Nậm Ma, Nậm Bum, Nậm Pụ, Nậm Mức với tổng diện tích lưu vực khoảng 5.300

km2, chiếm 55% diện tích tự nhiên của tỉnh

Về tiềm năng thủy điện: Do nằm ở vùng núi cao, nhiều sông suối, lắm thác ghềnh, lưu lượng dòng chảy mạnh nên tỉnh Điện Biên có tiềm năng thuỷ điện rất phong phú

và đa dạng về quy mô Theo khảo sát sơ bộ, tại Điện Biên có nhiều điểm có khả năng xây dựng nhà máy thuỷ điện, trong đó đáng chú ý là các điểm: Thuỷ điện Mùn Chung trên suối Nậm Pay, thuỷ điện Mường Pồn trên suối Nậm Ty, thuỷ điện Nậm Mức trên sông Nậm Mức, thuỷ điện Nậm He trên suối Nậm He, thuỷ điện Nậm Pồ, trên suối Nậm

Pồ, hệ thống thuỷ điện trên sông Nậm Rốm, Nậm Khẩu Hu

2.2.3.4 Tài nguyên rừng

Điện Biên có tiềm năng phát triển rừng và đất rừng rất lớn Toàn tỉnh có 358.105,15 ha đất lâm nghiệp có rừng, chiếm 37,53% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Trong đó đất rừng phòng hộ là 202.706,10 ha, chiếm 56,61% diện tích đất lâm nghiệp, đất rừng đặc dụng 48.222,0 ha, chiếm 13,47% diện tích đất lâm nghiệp, đất rừng sản xuất 107.177,05 ha, chiếm 29,92% diện tích đất lâm nghiệp Độ che phủ rừng toàn tỉnh là 41,55%

Tài nguyên rừng của tỉnh Điện Biên đang giảm dần về tính đa dạng phong phú vốn có về thành phần loài cũng như số lượng cá thể Các nguồn gen đặc hữu và quý hiếm ngày càng mất đi, nhiều loài có nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc bị đe doạ tuyệt chủng

Vì vậy cần có biện pháp nhằm khoanh giữ và phát triển nguồn tài nguyên này

Nhìn chung, rừng Điện Biên chứa đựng nguồn tài nguyên động, thực vật phong phú, song những năm gần đây, do vấn đề bùng nổ dân số, nạn du canh du cư tự do, người dân thiếu ý thức bảo vệ môi trường đã khiến diện tích rừng và chất lượng rừng bị suy giảm đáng kể Chất lượng môi trường sinh thái vẫn tiếp tục bị suy giảm, gây nên thiên tai, lũ lụt lớn, sản xuất nông lâm nghiệp mất ổn định

Trang 34

Tuy nhiên cũng cần phải nhận định rằng: đa dạng về thành phần loài sinh vật ở Điện Biên còn khá phong phú Vì vậy, việc bảo vệ nghiêm ngặt các loài thực vật, động vật đang tồn tại là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ đa dạng tài nguyên sinh vật để PTBV ở Điện Biên

2.3 Đặc điểm hiện trạng kinh tế - xã hội

2.3.1 Dân cư và lao động

Dân số: trong giai đoạn từ 2011 - 2016 tỉnh Điện Biên có tốc độ tăng dân số hàng

năm 1,59%, tỷ lệ sinh giảm 0,18% Tỷ suất sinh giảm từ 2,61 con năm 2011 xuống 2,1 con năm 2015 [8] Đến năm 2016, dân số trung bình trên toàn tỉnh là 557.411 người Tỷ

lệ tăng dân số tự nhiên cao hơn so với mục tiêu, năm 2010 là 1,68% cao hơn so với quy hoạch 1,65%, năm 2013 tăng tự nhiên là 1,69% và năm 2016 là 1,76% [6, 7, 8, 9]

Tỉnh Điện Biên có 21 dân tộc cùng chung sống (Thái, Mông, Kinh, Dao, Khơ

Mú, Hà Nhì, La Hủ, Giấy, Lào, Phù Lá, Cống, Si La, Kháng, Lô Lô, Hoa, Lự, Tày, Nùng, Mường, Xinh Mun, Mảng) Trong đó dân tộc Thái chiếm tỷ lệ cao nhất (40,43%), tiếp đến là dân tộc Mông (30,86%), dân tộc Kinh (19,11%), còn lại là các dân tộc khác chiếm 9,6% dân số [14]

Sự phân bố dân cư ở Điện Biên mang đậm nét đặc thù của một tỉnh miền núi với nhiều dân tộc sinh sống và phân bố rất không đều giữa các vùng, các khu vực Hầu hết dân cư sinh sống ở địa bàn nông thôn, chiếm trên 83%; dân cư thành thị chỉ chiếm gần 17% dân số cả tỉnh, thấp hơn nhiều so với trung bình của cả nước (trung bình cả nước

là 25,8%) Điều đó cho thấy mức độ đô thị hoá, phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Điện Biên trong những năm qua còn rất thấp

Phân bố dân cư giữa các huyện và các vùng trong tỉnh cũng không đều Huyện

có số dân đông nhất là Điện Biên (114.161 người) và huyện Tuần Giáo (81.171 người); nơi có số dân ít nhất là Thị xã Mường Lay (11.249 người) và huyện Mường Nhé (40.147 người) Mật độ dân số thường tập trung cao ở vùng thấp, cao nhất là ở thành phố Điện Biên Phủ (tới 870 người/km2), ngược lại ở các vùng cao dân cư rất thưa thớt, thấp nhất

là huyện Mường Nhé mật độ dân số chỉ có 25 người/km2 [9]

2.3.2 Cơ cấu ngành kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn GRDP (theo giá hiện hành) tăng dần qua các năm từ 5.237,653 tỷ đồng năm 2010 lên 12.217,998 tỷ đồng năm 2016 (Hình 8)

Trang 35

Hình 8 Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2016

cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Điện Biên trong năm 2016 (Hình 9)

và thủy sản 30%

Công nghiệp

và xây dựng 30%

Dịch vụ

40%

Năm 2010

Nông, lâm nghiệp và thủy sản 24%

Công nghiệp và xây dựng 25%

Dịch vụ 51%

Năm 2016

Trang 36

2.3.3 Văn hóa, giáo dục, y tế

Năm 2014 tỉnh có 482 trường mầm non và trường trung học tăng thêm 25 trường

so với năm 2010, trong đó số trường mầm non tăng lên 21 trường, trường trung học phổ thông tăng 4 trường [25] Tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi nhà trẻ ra lớp đạt 14,7%; trẻ mẫu giáo đạt 95,1%; riêng trẻ 5 tuổi đạt 99,6%, 100% trẻ mầm non được học 2 buổi/ngày Công tác phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ được duy trì và nâng cao, phổ cập giáo dục THCS, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; tỷ lệ học sinh các cấp lên lớp đạt 99%; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt 97,5% Bên cạnh đó ngành GD&ĐT tỉnh Điện Biên đã triển khai tăng cường dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số

ở những nơi có điều kiện khó khăn và trẻ học lớp ghép các độ tuổi 100% trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số đến trường được tăng cường học tiếng Việt Số học sinh hoàn thành chương trình lớp học năm 2014 - 2015 đạt 98,4% (tăng 1,6% so với năm học trước) [24]

Hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học tiếp tục được đầu tư, nâng cấp,

cơ bản đáp ứng yêu cầu giáo dục Toàn ngành hiện có gần 7.200 phòng học, trong đó 58,44% là phòng học kiên cố Tuy nhiên tại những khu vực kinh tế - xã hội khó khăn, vùng biên giới, chất lượng giáo dục chưa cao; tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi nhà trẻ và học sinh trong độ tuổi ra lớp ở cấp THPT còn thấp; số phòng học tạm còn nhiều; phòng công vụ giáo viên và nội trú học sinh còn thiếu, đặc biệt là cơ sở vật chất của trường mầm non

Hình 10 Số trường mầm non và phổ thông trên địa bàn Tỉnh

Nguồn: [7]

0 50 100 150 200 250 300 350

Trang 37

Y tế: Điện Biên là một trong những tỉnh khó khăn của vùng Tây Bắc, kinh tế phát

triển chưa đồng đều, lại thường xuyên phải hứng chịu thiên tai, lũ quét, ngập lụt Đời sống của người dân tại một số huyện vùng sâu, vùng xa còn nhiều thiếu thốn, đặc biệt

là cơ sở vật chất và nguồn nhân lực y tế, trang thiết bị phục vụ cho công tác khám và điều trị chưa đồng bộ, nhất là các tuyến y tế cơ sở

Chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em luôn được xác định là một trong những ưu tiên hàng đầu trong công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân Vấn đề về dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe, bảo vệ trẻ em ở Điện Biên có bước phát triển khá trong những năm qua Trong đó tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng năm 2016 là 18,22% giảm 4,75% so với năm 2010 Tuy nhiên tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm đầy đủ vắc xin hàng năm không ổn định, giảm mạnh vào năm 2014 với chỉ 89,41% và tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi lại tăng lên

2.4 Đặc điểm môi trường và tai biến thiên nhiên

2.4.1 Đặc điểm môi trường

- Môi trường nước: chất lượng nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh tương đối tốt;

có một vài chỉ tiêu vượt quá tiêu chuẩn cho phép (QCVN 08:2015/BTNMT cột B2); đặc biệt, mẫu nước lấy tại ao tiếp nhận nguồn nước thải của khu luyện cốc Pú Tửu, huyện Điện Biên, nhiều chỉ tiêu có giá trị rất cao và vượt quá tiêu chuẩn (pH, TDS, NH4+, NO3-,

Fe, COD, Pb, coliform)

- Môi trường không khí: chất lượng môi trường không khí tại các điểm lấy mẫu

tương đối tốt, không có sự biến động lớn trong những năm gần đây và hầu hết các chỉ tiêu đều đạt tiêu chuẩn cho phép; tại một số điểm có mật độ phương tiện giao thông cao

và tại khu vực có nhà máy sản xuất xi măng có hàm lượng bụi tương đối cao

- Môi trường chất thải rắn: lượng rác thải sinh hoạt trung bình của người dân tại

khu vực nông thôn là 0,3 - 0,5 kg/người/ngày; khu vực đô thị 0,6 - 0,8 kg/người/ngày Đối với chất thải bệnh viện, tổng lượng rác thải y tế là 264 kg/ngày, trong đó chất thải nguy hại 42 kg/ngày

Việc thống kê và phân loại chất thải rắn nguy hại đòi hỏi phải thực hiện chương trình điều tra tổng thể trong các ngành, các khu dân cư ở đô thị và nông thôn Do điều kiện kinh phí khó khăn, Sở Tài nguyên và Môi trường Điện Biên vẫn chưa triển khai được việc điều tra này

Trang 38

2.4.2 Đặc điểm một số tai biến chính xảy ra trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Trượt lở đất đá xảy ra chủ yếu tập trung vào mùa mưa bão, do đó làm cho mức

độ nguy hiểm càng cao đối với các khu vực có các hoạt động đầu tư xây dựng và phát triển, đặc biệt là các dự án phát triển đường giao thông Trong những năm gần đây trượt

lở dọc các tuyến đường giao thông trên địa bàn tỉnh xảy ra rất trầm trọng và gây ra thiệt hại lớn Một số điểm trượt lở chính chủ yếu dọc các tuyến đường giao thông: như dọc tuyến đường Điện Biên - Tuần Giáo (QL279, tại khu vực Thác Bay, đèo Tằng Quái (Km35-40); tại dọc tuyến đường QL6 Trên đoạn Tuần Giáo - Sơn La, trong những năm gần đây được đầu tư nâng cấp, nhưng trượt lở vẫn xảy ra trên nhiều điểm Trong phạm

vi tỉnh Điện Biên, ghi nhận điểm trượt tại Km 392+800 (đèo Pha Đin)

Hình 11 Một số điểm trượt lở (hình a và hình b) và một số điểm có nguy cơ bị trượt lở được gia cố bằng tường bê tông (hình c và hình d) dọc QL 279 tỉnh Điện Biên

Lũ bùn đá: Lũ bùn đá đã xảy ra nhiều ở các tỉnh miền Tây Bắc Lũ đặc trưng có

lượng bùn đá lớn chiếm 60% khối lượng dòng lũ, có động năng lớn và sức phá hủy vô cùng mạnh Lũ bùn đá cực kỳ nguy hiểm và thường xảy ra trong điều kiện mưa đạt tới 235,3mm/ngày Năm 2014, trên địa bàn huyện Tuần Giáo lũ xảy ra tại bản Ta Lếch, xã Quài Nưa, khiến cho lượng đất đá lớn từ phía khe suối đùn xuống, gây ách tắc tuyến giao thông Quốc lộ 6 đoạn từ xã Quài Nưa, huyện Tuần Giáo đi Tủa Chùa

Trang 39

Gió lốc, mưa đá tập trung nhiều trong những tháng đầu năm (từ tháng 2 - tháng

5) gây hậu quả lớn Một số trận lốc xoáy và mưa đá điển hình như: Ngày 28/04/2012 trận lốc xoáy, mưa đá bất ngờ làm cho nhiều trường học, trạm xá, nhà dân bị tốc mái và

bị sập tại Mường Toong và Mường Nhé Ngày 08/05/2013 tại huyện Mường Ảng xảy

ra trận lốc kèm theo mưa đá trên 5 xã và 1 thị trấn làm cho 10 nhà đổ, 304 nhà bị tốc mái, 55,6 ha lúa bị thiệt hại, 1,6 ha thủy sản bị mất trắng Ngày 21/3/2014 xảy ra mưa

đá tại huyện Tủa Chùa làm thiệt hại lớn đến hoa màu, cây ăn quả của người dân Ngày 30/3/2014 xảy ra lốc xoáy tại xã Xá Nhè, Huổi Só, huyện Tủa Chùa làm sập hoàn toàn

1 ngôi nhà, 54 nhà bị tốc mái ước tính thiệt hại khoảng 50 triệu đồng [14]

Động đất: Động đất là tai biến địa chất nguy hiểm, không chỉ phá hủy hệ thống

cơ sở hạ tầng, cướp đi sinh mạng mà còn phá hủy môi trường, tác động đến tâm lý theo chiều hướng xấu làm giảm khả năng sản xuất của cộng đồng Điện Biên là tỉnh nằm trong khu vực Tây Bắc, khu vực có hoạt động địa chấn mạnh nhất trong cả nước Một

số trận động đất tiêu biểu xảy ra trên địa bàn tỉnh Điện Biên:

- Ngày 21/9/2011, một trận động đất có cường độ 3 độ richter xảy ra tại huyện Tuần Giáo;

- Ngày 26/11/2013: động đất 2,1 độ richter xảy ra tại thị xã Mường Lay;

- Ngày 4/12/2013: động đất có cường độ trên 3,8 độ richter đèo Tây Trang, huyện Điện Biên;

- Ngày 26/6/2014: động đất có cường độ 4,3 độ richter tại xã Thanh Luông và Thanh Nưa, huyện Điện Biên có cường độ rung cấp 5, kéo dài từ 2 - 3 giây [14]

Nguyên nhân xảy ra các trận động đất là do Điện Biên có nhiều đứt gãy sâu phân đới: Đứt gãy sông Đà, đứt gãy Điện Biên - Lai Châu, đứt gãy sông Mã, Sơn La Trong

đó đứt gãy Lai Châu - Điện Biên hoạt động tách giãn mạnh, tạo ra sụt lún dạng địa hào

và nâng mạnh ở hai bờ đông tây, mật độ dập vỡ vỏ trái đất cũng tăng cực đại Đồng thời các đứt gãy này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phân bố khoáng sản, động đất cũng như phân bố các vùng trượt lở trên địa bàn tỉnh

Tai biến thiên nhiên gây thiệt hại lớn về kinh tế: Phá hủy nhà cửa, gây thiệt hại đến hoa màu, ngưng trệ giao thông vận tải, ngưng trệ sản xuất, thăm quan du lịch, tới việc phải xây dựng hệ thống các công trình bảo vệ (kè, mỏ hàn, tường chắn ), mất đất đai sinh sống và canh tác, và việc di chuyển các cụm dân cư, thị tứ tới các địa điểm mới Thiệt hại về kinh tế do tai biến thiên nhiên gây ra trong giai đoạn 2011 - 2015 tăng 140.122,535 triệu so với giai đoạn 2006 - 2010 từ đó thấy được thiệt hại do tai biến thiên nhiên ngày càng nhiều và có xu hướng gia tăng trong những năm trở lại đây gây

ra nhiều hậu quả nghiêm trọng và là gánh nặng cho ngân sách tỉnh Điện Biên

Trang 40

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững

2.5.1 Phát triển kinh tế

Sự tăng trưởng kinh tế có vai trò quan trọng trong việc cải thiện đời sống và dịch

vụ xã hội cho người dân [47] Tuy nhiên, nếu sự tăng trưởng kinh tế không bền vững sẽ gây ra nhiều áp lực lên môi trường và xã hội, để lại những hậu quả tiêu cực mà phải mất nhiều năm mới có thể khắc phục được Có thể thấy rất rõ tác động của tăng trưởng kinh

tế đến môi trường và xã hội ở Việt Nam nói chung và tỉnh Điện Biên nói riêng trong những năm qua

- Tác động tích cực đối với đời sống xã hội khi tăng trưởng kinh tế: Sự tăng trưởng kinh tế có vai trò quan trọng trong việc cải thiện đời sống người dân thông qua việc đầu tư, nâng cấp hệ thống hạ tầng cơ sở, phát triển các công trình phúc lợi, nâng cao chất lượng các dịch vụ công ích,… Đồng thời tăng trưởng kinh tế còn có một vai trò rất quan trọng đó là tạo ra sự ổn định trong xã hội, đây là yếu tố hết sức quan trọng Có

ổn định xã hội thì mới có thể phát triển tốt kinh tế, đây là hai yếu tố gắn bó hữu cơ với nhau

- Tác động tiêu cực và các vấn đề môi trường trong tăng trưởng kinh tế không bền vững: Thực tế cho thấy, trong những năm qua nền kinh tế Việt Nam nói chung và tỉnh Điện Biên nói riêng liên tục có mức tăng trưởng rất khả quan Tuy nhiên, sự tăng trưởng này đã bộc lộ sự không bền vững Điện Biên là tỉnh đầu nguồn, có ngành công nghiệp khai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng chiếm tỷ trọng chính trong ngành công nghiệp của tỉnh Tuy đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh, song những ngành công nghiệp này cũng đang ngày một gây ô nhiễm và suy thoái môi trường cho một số khu vực khai thác trên địa bàn tỉnh Các tác động môi trường đó sẽ làm gia tăng các nguy cơ lũ quét, trượt lở đất, bồi lắng dòng chảy, các thảm họa thiên nhiên, suy thoái

đa dạng sinh học Nếu không có các giải pháp quản lý và xử lý tốt về môi trường trong quá trình khai thác, thì hậu quả môi trường sẽ khó có thể khắc phục

sẽ bị ảnh hưởng ô nhiễm do sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, các chất kích thích tăng trưởng quá mức, sử dụng không đúng quy cách

Ngày đăng: 12/10/2018, 23:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w