Nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, ĐHQGHN đã ban hành cơ chế quản lý tài chính, trong đó đã mạnh dạn phân cấp một số lĩnh vực quản lý thu, chi cho các đơn vị dự toán cấp III trực thuộc đư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
MAI THẾ NHẬT QUỲNH
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRUNG TÂM
THÔNG TIN THƯ VIỆN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi Các
số liệu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác
Tác giả
Mai Thế Nhật Quỳnh
Trang 4Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Trung tâm Thông tin Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện về mặt thời gian, cho phép tôi sử dụng các số liệu tại cơ quan đang làm việc
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã tạo điều kiện, động viên tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn cao học tại trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG CÓ THU 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.1.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 4
1.1.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 9
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công có thu 10
1.2.1 Một số khái niệm có liên quan 10
1.2.2 Nội dung quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công có thu 13
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công có thu 20
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công có thu 22
1.3 Kinh nghiệm quản lý tài chính tại một số thư viện và bài học cho Trung tâm Thông tin Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội 28
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý tài chính tại Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 28
1.3.2 Kinh nghiệm quản lý tài chính tại Thư viện Trung tâm, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh 30
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Trung tâm Thông tin Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội 32
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Phương pháp thu thập tư liệu 34
2.1.1 Phương pháp nghiên cứu tư liệu 34
Trang 62.1.2 Phương pháp hội nghị 35
2.2 Phương pháp xử lý thông tin, dữ liệu 35
2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả 35
2.2.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp 35
2.2.3 Phương pháp kế thừa 36
2.2.4 Phương pháp so sánh 36
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 38
3.1 Tổng quan về Trung tâm Thông tin Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội 38
3.1.1 Khái quát về lịch sử hình thành, chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm Thông tin Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội 38
3.1.2 Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Thông tin Thư viện 40
3.1.3 Khái quát tình hình nhân lực của Trung tâm Thông tin Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội 41
3.1.4 Cơ sở pháp lý về quản lý tài chính tại Trung tâm thông tin thư viện 42
3.2 Phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Trung tâm Thông tin Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội giai đoạn 2014 - 2016 45
3.2.1 Thực trạng công tác lập kế hoạch tài chính 45
3.2.2 Thực trạng tổ chức chấp hành kế hoạch 51
3.2.3 Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán tài chính 81
3.3 Đánh giá chung về quản lý tài chính tại Trung tâm Thông tin Thư viện 82
3.3.1 Những kết quả đạt được 82
3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 83
CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 86
4.1 Tình hình mới và định hướng phát triển Trung tâm Thông tin Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội 86
4.1.1 Xu thế phát triển chung của giáo dục đại học trên thế giới 86
Trang 74.1.2 Định hướng phát triển của trung tâm Thông tin Thư viện, Đại học Quốc
gia Hà Nội 87
4.2 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Trung tâm Thông tin Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội 88
4.2.1 Giải pháp tăng nguồn thu cho trung tâm 89
4.2.2 Giải pháp quản lý sử dụng các nguồn thu của trung tâm 90
4.2.3 Giải pháp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tài chính của trung tâm 92
4.2.4 Giải pháp tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật và nguồn lực con người của trung tâm 93
4.3 Kiến nghị 96
4.3.1 Kiến nghị với Chính phủ, Bộ tài chính 96
4.3.2 Kiến nghị với Đại học Quốc gia Hà Nội 96
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 3.1 Đặc điểm nhân lực của Trung tâm Thông tin Thư viện 42
2 Bảng 3.2 Kế hoạch dự toán nguồn thu của Trung tâm TT-TV giai
5 Bảng 3.5 Cơ cấu nguồn thu từ NSNN cấp cho Trung tâm TT-TV 54
6 Bảng 3.6 Tổng hợp các nguồn thu sự nghiệp của trung tâm TT-TV
8 Bảng 3.8 Mức khoán về cước phí sử dụng điện thoại di động 64
10 Bảng 3.10 Cơ cấu các khoản chi ngân sách của trung tâm TT-TV 66
11 Bảng 3.11 Tỷ lệ thực hiện các khoản chi từ nguồn thu sự nghiệp và
thu khác của trung tâm TT-TV
69
12 Bảng 3.12 Cơ cấu các khoản chi từ nguồn thu sự nghiệp của trung
tâm TT-TV
70
13 Bảng 3.13 Tỷ lệ thanh toán, giải ngân các nguồn kinh phí thường
xuyên của Trung tâm TT-TV
71
14 Bảng 3.14 Cơ cấu các khoản chi của Trung tâm TT-TV giai đoạn
2014-2016
72
15 Bảng 3.15 Mức tăng thu nhập của cán bộ viên chức, người lao động
của Trung tâm TT-TV giai đoạn 2014-2016
75
17 Bảng 3.17 Tình hình trích lập các quỹ của trung tâm TT-TV 77
18 Bảng 3.18 Bảng số liệu đánh giá về các khoản tiền thưởng năm
2016
80
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
1 Hình 1.1 Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Học liệu - Đại học
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Là một đơn vị sự nghiệp công trực thuộc quản lý của Chính phủ, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) với sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và chuyển giao tri thức đa ngành, đa lĩnh vực; góp phần xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước; làm nòng cốt và đầu tàu trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam
Nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, ĐHQGHN đã ban hành cơ chế quản lý tài chính, trong đó đã mạnh dạn phân cấp một số lĩnh vực quản lý thu, chi cho các đơn
vị dự toán cấp III trực thuộc được thể hiện rõ trong hướng dẫn số 2100/KHTC ngày 29/11/2006 của ĐHQGHN về việc xây dựng qui chế chi tiêu nội bộ đối với đơn vị
sự nghiệp trực thuộc ĐHQGHN thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính Cho đến nay bước đầu phát huy tính chủ động sáng tạo và tinh thần trách nhiệm cao của các đơn vị dự toán trực thuộc
Và trung tâm Thông tin Thư viện là một đơn vị phục vụ hoạt động giáo dục đào tạo trực thuộc ĐHQGHN cũng không nằm ngoài xu thế trên Trung tâm có chức năng thông tin và thư viện phục vụ các công tác: đào tạo, nghiên cứu khoa học; có nhiệm vụ nghiên cứu, thu thập, xử lí, thông báo và cung cấp thông tin, tư liệu về khoa học, giáo dục, ngoại ngữ và công nghệ phục vụ cán bộ và sinh viên ĐHQGHN, tham mưu cho quyết định của lãnh đạo ĐHQGHN về phương hướng tổ chức và hoạt động thông tin, tư liệu, thư viện nhằm phục vụ nghiên cứu khoa học, giảng dạy và học tập tại ĐHQGHN
Để thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ được giao, Trung tâm đã tích cực đổi mới quản lý tài chính nói chung và công tác kế toán nói riêng, chủ động khai thác thêm các nguồn thu từ hoạt động dịch vụ cho xã hội, nâng cao hiệu quả các khoản chi, tích cực cân đối thu chi nhằm đảm bảo tài chính phục vụ tốt các hoạt động của Trung tâm Trong quá trình hoạt động, đơn vị đã chấp hành nghiêm chỉnh luật Ngân sách Nhà nước, các tiêu chuẩn định mức, các qui định về chế độ kế toán hành chính sự nghiệp do Nhà nước ban hành
Trang 12Trong những năm vừa qua, công tác quản tài chính luôn được Ban Giám đốc Trung tâm chú trọng và quan tâm Tuy nhiên thực tế hiện nay quản lý tài chính của trung tâm vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: tài sản chậm đổi mới theo nhu cầu của sinh viên; kế hoạch thu - chi chưa thật sự chủ động, chưa phát huy hết hiệu quả của quản lý tài chính đối với hoạt động của đơn vị, hiệu quả sử dụng nguồn tài chính vẫn chưa đạt được kết quả cao, chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng của ĐHQGHN trong giai đoạn mới Vậy thực trạng quản lý tài chính của Trung tâm Thông tin Thư viện như thế nào, đã đạt được những kết quả và còn tồn tại những hạn chế gì cần phải khắc phục, cần phải áp dụng những giải pháp gì để Trung tâm có thể hoàn thiện được quản lý tài chính của mình trong thời gian tới?
Xuất phát từ những lý do nêu trên, học viên đã lựa chọn vấn đề “Quản lý tài chính tại Trung tâm Thông tin Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình, với mong muốn vận dụng những kiến thức tiếp thu được trong quá trình học tập để nghiên cứu, phân tích và đưa ra được các giải pháp cần thiết và có tính khả thi, góp phần hoàn thiện quản lý tài chính tại Trung tâm Thông tin Thư viện, ĐHQGHN đáp ứng yêu cầu, nhiêm vụ đặt ra trong giai đoạn hiện nay
2 Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn tập trung trả lời câu hỏi quản lý tài chính tại Trung tâm Thông tin Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội từ năm 2014 - 2016 đang được thực hiện như thế nào, Trung tâm Thông tin Thư viện, ĐHQGHN cần phải làm gì để hoàn thiện quản lý tài chính trong thời gian tới?
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính tại Trung tâm Thông tin Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tài chính và quản lý tài chính tại
Trang 13đơn vị sự nghiệp công có thu
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Trung tâm Thông tin Thư viện, ĐHQGHN trong giai đoạn 2014 - 2016 nhằm chỉ ra những điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quản lý tài chính tại Trung tâm Thông tin Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện quản lý tài chính tại Trung tâm Thông tin Thư viện, ĐHQGHN đến năm 2020 và những năm tiếp theo
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Quản lý tài chính tại Trung tâm Thông tin Thư viện, ĐHQGHN
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung phân tích về hoạt động quản lý thu chi tài
chính tại Trung tâm Thông tin Thư viện, ĐHQGHN dưới góc độ quản lý kinh tế
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá về thực
trạng và kết quả quản lý tài chính tại Trung tâm Thông tin Thư viện, ĐHQGHN
- Về thời gian: Hoạt động quản lý tài chính tại Trung tâm Thông tin Thư
viện, ĐHQGHN trong giai đoạn 2014 - 2016
5 Kết cấu của Luận Văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm bốn chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về
quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công có thu
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý tài chính tại Trung tâm Thông tin Thư viện,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Trung
tâm Thông tin Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI
ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG CÓ THU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước về quản lý tài chính
Các công trình nghiên cứu nước ngoài về quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp công theo hai hướng là: học thuật và tác nghiệp Nghiên cứu theo hướng học thuật thì chủ yếu nghiên cứu tài chính công, các nghiên cứu theo hướng tác nghiệp thường nghiên cứu về quản lý tài chính trong lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu tài chính đối với một đơn vị
Những nghiên cứu về tài chính công được khởi nguồn từ nước ngoài và nó được nhiều học giả công bố Alan (1979), năm 1979 đã tái bản lần thứ sáu cuốn
sách của mình về tài chính công “Tài chính công – Lý thuyết và thực tiễn” Những
nội dung cơ bản nhất về tài chính công được tác giả nghiên cứu chi tiết Trong cuốn sách này tác giả cũng đã nêu một số vấn đề thực tiễn tài chính công ở nước Anh lồng ghép vào nội dung lý thuyết Cuốn sách của tác giả Holley (2007) cũng mang
tên “Tài chính công - Lý thuyết và thực tiễn” được tái bản lần thứ hai, tác giả đã đưa
ra những vấn đề thực tiễn mới về tài chính công ở Mỹ Trong những nghiên cứu về tài chính công, khi đưa ra vấn đề thực tiễn vào phân tích các tác giả cũng đưa vấn đề giáo dục công lập và tài chính cho giáo dục công lập Tuy nhiên việc phân tích như vậy chỉ mang tính chất minh họa cho lý thuyết về tài chính công
Hướng nghiên cứu tác nghiệp hơn - quản lý tài chính trong lĩnh vực giáo dục Các công trình nghiên cứu nước ngoài khá rộng và sâu theo hướng này, tác giả của những công trình nghiên cứu này bao gồm những tổ chức và cá nhân Đồng tác giả Marianne, C và Lesley, A (2000) tập trung phân tích một số nội dung chủ yếu sau: quan niệm về nguồn lực giáo dục, các phương thức quản lý nguồn lực Bài báo cũng
đi sâu phân tích thực trạng quản lý các nguồn lực giáo dục đại học, nhấn mạnh tầm
Trang 15quan trọng của nguồn lực tài chính, các loại hình hợp tác quốc tế về giáo dục đại học, những yếu tố cản trở việc mở các khu trường học (campus) nước ngoài tại nước sở tại, nghiên cứu so sánh các chính sách hiện hành và các chính sách khuyến nghị cũng như những điều cần làm để cải thiện tình hình quản lý tài chính trong giáo dục đại học
1.1.1.2 Các nghiên cứu trong nước về quản lý tài chính
Quản lý tài chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quản lý đơn vị sự nghiệp công có thu Thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh cho thấy, không có một đơn vị nào thành công nếu quản lý tài chính yếu kém, lỏng lẻo
Sự phối hợp nhịp nhàng, ăn ý, hiệu quả trong tất cả các khâu thuộc lĩnh vực quản lý tài chính như lập kế hoạch và sử dụng NSNN có hiệu quả; triển khai thực hiện tốt các dịch vụ khoa học công nghệ; luôn cập nhật kịp thời các Nghị định, thông tư về chính sách của nhà nước, theo dõi, đánh giá và điều chỉnh kịp thời kế hoạch tài chính; doanh thu, chi phí, công nợ khách hàng; thực hiện báo cáo cho các cấp lãnh đạo… là nhân tố quyết định đến thành công của đơn vị
Chính vì đó nên hoạt động quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công
có thu là một vấn đề nhận được sự quan tâm lớn từ phía các cơ quan nhà nước, các
tổ chức, các cá nhân Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến lĩnh vực quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công có thu Xét trên phương diện ngành là tài chính cho lĩnh vực giáo dục còn xét theo đơn
vị thụ hưởng ngân sách nhà nước là tài chính cho một đơn vị cụ thể Có thể nêu một
số nghiên cứu, bài phân tích, bình luận trên tạp chí, chẳng hạn như:
- TS.Nguyễn Phú Giang (2014) đã có bài viết: “Quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp và những vấn đề đặt ra hiện nay”, (http://www.sav.gov.vn) Bài viết của tác giả đã nêu ra tầm quan trọng của quản lý tài chính tại ĐVSN công Và để việc quản
lý tài chính có hiệu quả, công tác quản lý cần thực hiện ba khâu: thứ nhất, lập dự toán thu chi ngân sách nhà nước (NSNN) trong phạm vi được cấp thẩm quyền giao hàng năm; thứ hai, tổ chức chấp hành dự toán tài chính hàng năm theo chính sách của Nhà nước; thứ ba, quyết toán thu chi NSNN Qua đó, tác giả cũng đã nêu rõ
Trang 16những vấn đề đặt ra đối với quản lý tài chính ĐVSN công ở Việt Nam hiện nay góp phần vào công tác hoàn thiện quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công có thu
- ThS.Trần Mạnh Hà đã viết bài: “Quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp: Một số kiến nghị”, (Tạp chí Tài chính/ 2014, Số 10, Tr 66 – 67) Bài viết đề cập tới
một số nội dung: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm từng bước đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công có thu Tuy nhiên, cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công hiện vẫn còn nhiều bất cập, nhất là trong quản lý tài chính Trong bối cảnh đó, yêu cầu về hoàn thiện quản lý tài chính hiệu quả tại các ĐVSN công có thu
là rất cần thiết Bài viết giới thiệu về quản lý tài chính tại các ĐVSN công, giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính
- PGS TS Nguyễn Trường Giang đã viết bài: “Triển khai cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công theo quy định mới” đăng trên Tạp chí tài chính (Tạp chí Tài chính/ 2016, Số 646, tr.10 – 13) Bài viết giới thiệu những đổi mới cơ bản về cơ chế
tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công, tình hình triển khai Nghị định 16/2015/NĐ-CP
và Quyết định 695/2015/QĐ-TTg, các biện pháp để cơ chế mới phát huy hiệu quả
- TS Nguyễn Đức Thọ có bài viết: “Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng kinh phí tại cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp”, (Tạp chí Tài chính/2017, kỳ 1 số tháng
5, tr.58-60) Bài viết đã nêu ra những hạn chế phát sinh từ thực tế điều kiện tổ chức bộ
máy các bộ, ngành, địa phương có nhiều cơ quan hành chính sự nghiệp trực thuộc hoạt động chuyên môn trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội… từ đó dẫn đến một số bất cập trong công tác xét duyệt quyết toán hàng năm, công tác kiểm tra nội bộ về quản lý, sử dụng kinh phí tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp Từ thực tế đó, bài viết đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xét duyệt quyết toán và kiểm tra nội bộ về quản lý, sử dụng kinh phí tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công
- Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005) cũng đã soạn một đề án về đổi mới giáo dục đại học giai đoạn 2006-2020, trong đó có đổi mới về cơ chế quản lý tài chính Nhưng những đổi mới đó mới chỉ dừng lại ở tính chung chung cho các trường, không đi sâu cụ thể từng trường
Trang 17Như vậy, có thể thấy số lượng công trình nghiên cứu về tài chính cho đơn vị
sự nghiệp công có thu thuộc hoạt động giáo dục đào tạo khá đồ sộ, tuy nhiên phạm
vi nghiên cứu vẫn mang tính bao quát cho một cấp giáo dục nhất định, chưa đi sâu phân tích cụ thể từng đơn vị giáo dục Lí do những nghiên cứu tài chính cho một đơn vị giáo dục ít thu hút được sự quan tâm là bởi phạm vi nghiên cứu nhỏ, mang tính đặc thù, có tính chất tác nghiệp tài chính của một đơn vị và do đối tượng độc giả của các công trình nghiên cứu này ít nên không khuyến khích các tác giả tập trung nghiên cứu
Trong số ít các nghiên cứu về lĩnh vực này, có thể kể ra một số công trình nghiên cứu đã công bố về lĩnh vực này như sau:
- Nghiên cứu “Đổi mới cơ chế quản lý tài chính của Đại học Quốc gia Hà Nội đáp ứng yêu cầu phát triển đến năm 2015 và tầm nhìn 2025” của tác giả Phạm Văn
Ngọc Nghiên cứu trên đã chỉ ra những cơ hội và thách thức trong quá trình đổi mới
cơ chế quản lý tài chính của Đại học Quốc gia Hà Nội Song, cơ chế đó là của Đại học Quốc gia Hà Nội, cơ quan quản lý các đơn vị đào tạo thành viên và trực thuộc, còn các đơn vị trực thuộc vẫn cần phải có những nghiên cứu đặc thù của mình
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện cơ chế tài chính tại trường Đại học Công Đoàn” của tác giả Nguyễn Phương Anh, Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2008 Đề
tài nghiên cứu một số vấn đề lý luận về cơ chế quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu và của các trường đại học công lập Phản ánh thực trạng về cơ chế quản lý tài chính tại trường Đại học Công Đoàn, rút ra ưu, nhược điểm và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị này
- Luận văn thạc sĩ “Quản lý tài chính tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Xuân Trường, Học viện Chính trị -
Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh năm 2010 Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận
về các nguồn tài chính và quản lý tài chính ở các trường đại học, cao đẳng công lập trong điều kiện hiện nay, qua đó đã khẳng định vai trò của tài chính giáo dục, trong
đó nguồn NSNN giữ vai trò quan trọng và quyết định Thông qua phân tích, đánh giá thực trạng các nguồn tài chính và hoạt động quản lý tài chính của Học viện
Trang 18Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, một mặt luận văn đã chỉ ra được tài chính thực sự là công cụ hữu hiệu và là động lực kinh tế quan trọng để Học viện hoàn thành nhiệm vụ to lớn mà Đảng và Nhà nước giao phó, tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ giảng viên, qua đó tạo động lực để nâng cao hiệu quả giảng dạy và nghiên cứu Mặt khác qua những yêu cầu, đòi hỏi bức xúc từ thực tiễn đặt ra luận văn đã chỉ ra tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện đa dạng hóa các nguồn tài chính, quản lý và sử dụng tài chính có hiệu quả Bên cạnh đó, luận văn còn những tồn tại những hạn chế như số liệu chưa được cập nhật kịp thời
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường đại học công lập tự chủ tài chính trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Tấn
Lượng, Trường đại học Kinh tế TP.HCM năm 2011 Luận văn của tác giả trình bày
rõ ràng những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý tài chính tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP.HCM Những kết quả nghiên cứu của luận văn đã góp phần bổ sung và hệ thống hóa các vấn đề về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cơ chế quản lý tài chính tại các trường đại học công lập Luận văn đã đưa ra chi tiết các công cụ quản lý tài chính tại các trường đại học công lập Đánh giá những thuận lợi, khó khăn đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP HCM Bên cạnh đó, dù ở TP.HCM bao gồm rất nhiều trường đại học công lập nhưng tác giả mới chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu một số trường đại học công lập điển hình trên địa bàn TP.HCM thực hiện tự chủ tài chính một phần hay toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên
- Luận án tiến sĩ “Quản lý tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh đổi mới quản lý tài chính giáo dục đại học” của tác giả Nguyễn Thị Hương,
Học viện Khoa học xã hội năm 2015 Luận án cho thấy trong thời gian qua ĐHQGHN đã từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý, từ công tác lập kế hoạch đến phân bổ chỉ tiêu cho các hoạt động đào tạo và nghiên cứu, phân cấp quản lý… Tuy nhiên, việc quản lý tài chính vẫn còn bộc lộ một số điểm yếu kém, bất cập như nguồn thu hạn chế, phân bổ tài chính chưa khuyến khích nâng cao chất lượng đào
Trang 19tạo, cơ cấu chi chưa thật hợp lý, năng lực đội ngũ cán bộ và công tác kế hoạch tài chính hạch toán kế toán chưa đáp ứng yêu cầu… Những bất cập đó có nguyên nhân bên trong là do cơ chế quản lý tài chính của ĐHQGHN, còn nguyên nhân gián tiếp bên ngoài xuất phát từ những bất cập chung trong quản lý tài chính của các trường đại học công lập ở Việt Nam Từ việc phân tích những bất cập trên và nguyên nhân của chúng luận án đã đưa ra một số gợi ý về đổi mới cơ chế quản lý tài chính của ĐHQGHN, đề xuất những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của ĐHQGHN
Còn tại Trung tâm Thông tin Thư viện, ĐHQGHN quản lý tài chính chỉ được nêu ở một số báo cáo tại các hội nghị tổng kết, hội thảo về công tác quản lý cơ sở vật chất và đổi mới cơ chế tài chính thường niên của Đại học Quốc gia Hà Nội, nhưng vẫn chưa có những báo cáo mang tính chất của một đề tài nghiên cứu, hoặc đưa ra những giải pháp quản lý tài chính nhằm nâng cao chất lượng phục vụ của trung tâm
1.1.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Như vậy, cho đến nay đã có không ít công trình nghiên cứu tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau về quản lý tài chính nói chung hay quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công có thu nói riêng Ở các mức độ khác nhau, tất cả các giáo trình, các đề tài khoa học, các bài báo, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ trên đều đề cập đến vấn đề xây dựng phát triển và quản lý tài chính một cách chung chung tại các ĐVSN công có thu hay tại một số đơn vị cụ thể để từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện quá trình quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu Những kết quả nghiên cứu này đã có những giá trị nhất định làm cơ sở cho việc đổi mới và hoàn thiện quản lý tài chính tại ĐVSN công có thu
Tuy nhiên, trong số các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên còn ít tài liệu nghiên cứu một cách hệ thống về quản lý tài chính tại một ĐVSN công có thu thuộc lĩnh vưc giáo dục, cũng như chưa có những nghiên cứu chuyên biệt về quản lý tài chính trong công tác thông tin thư viện tại các trường đại học Đây là một vấn đề đặt
ra cần tiếp tục nghiên cứu Do đó, trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu, học viên
lựa chọn đề tài “Quản lý tài chính tại Trung tâm Thông tin Thư viện, Đại học Quốc
Trang 20gia Hà Nội” để nghiên cứu, tổng hợp, so sánh, phân tích, đánh giá kết quả thực hiện
hoạt động và thực trạng quản lý tài chính của Trung tâm Thông tin Thư viện, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính tại Trung tâm Thông tin Thư viện trong thời gian tới và qua đó góp phần thúc đẩy phát triển dịch vụ và đem lại lợi ích kinh tế, giá trị gia tăng cho đơn vị Vì vậy, có thể khẳng định rằng, đề tài luận văn
có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động của Đại học Quốc gia Hà Nội nói chung và Trung tâm Thông tin Thư viện, ĐHQGHN nói riêng trong thời gian tới
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công có thu
1.2.1 Một số khái niệm có liên quan
1.2.1.1 Đơn vị sự nghiệp công có thu
- Khái niệm đơn vị sự nghiệp công được quy định tại Điều 9 Luật Viên chức
2010 như sau:
“Đơn vị sự nghiệp công là những đơn vị được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập và được Nhà nước cho phép thu các loại phí như học phí, viện phí, phí cầu, phí đường, để bù đắp một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức và bổ sung tái tạo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị được gọi là đơn vị sự nghiệp công có thu.”
Một trong những chức năng quan trọng của Nhà nước khi chuyển dịch xây dựng và phát triển nền kinh tế theo định hướng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước là chức năng quản lý nhà nước Để làm tốt chức năng này, nhà nước
đã tự xây dựng cho mình một hệ thống các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp côngnhằm giúp nhà nước hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Trong đó, đơn vị sự nghiệp cônglà một mắt xích quan trọng thường xuyên được xem xét, củng cố và tạo điều kiện để phát triển kịp với đà phát triển chung của đất nước
Hiện nay, căn cứ vào Luật viên chức 2010 và Nghị định 16/2015/NĐ-CP, khái niệm về đơn vị sự nghiệp công có thu được hiểu như sau:
Đơn vị sự nghiệp công có thu là một loại đơn vị sự nghiệp công có nguồn thu
sự nghiệp, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế toán
Trang 211.2.1.2 Quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công có thu
Quản lý là yêu cầu tất yếu để đảm bảo sự hoạt động bình thường của mọi quá trình và hệ thống kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị có sự tham gia tự giác của nhiều người Thực chất của quản lý là lên kế hoạch thiết lập và thực hiện hệ thống các phương pháp và biện pháp khác nhau của chủ thể quản lý để tác động một cách có ý thức tới đối tượng quản lý nhằm đạt tới kết quả nhất định
Theo học thuyết quản lý tài chính của mình, Era Solomon cho rằng: “Quản lý tài chính là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình trạng tài chính của một đơn vị để phân tích điểm mạnh điểm yếu của nó và lập các kế hoạch hành động, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính, tài sản cố định và nhu cầu nhân công
trong tương lai nhằm đạt được mục tiêu cụ thể tăng giá trị cho đơn vị đó” [45]
Quản lý tài chính là một trong các chức năng cơ bản của quản lý đơn vị Chức năng quản lý tài chính có mối liên hệ mật thiết với các chức năng khác trong đơn vị như: chức năng quản lý nhân sự, chức năng quản lý marketing, chức năng quản lý nguồn nhân lực
Như vậy, khái niệm quản lý tài chính ĐVSN công có thu có thể được khái quát như sau:
Quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công có thu là hoạt động của chủ thể
quản lý trong lĩnh vực tài chính nhằm sử dụng nguồn tài sản dưới hình thái tiền, giấy
tờ có giá của một đơn vị, tổ chức vừa đảm bảo cho đơn vị, tổ chức hoạt động bình thường, vừa đảm bảo cho nguồn tài chính sử dụng tiết kiệm và sinh lợi nhiều nhất
Quản lý tài chính luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động quản lý của một ĐVSN công có thu, nó quyết định tính độc lập, sự hoàn thành và vượt mức nhiệm vụ được giao của một đơn vị sự nghiệp có thu Việc quản lý tài chính bao gồm việc lập dự toán các kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn, khai thác tối đa nguồn thu tài chính và quản lý các nguồn chi theo qui chế chi tiêu nội bộ Đây là công việc rất quan trọng đối với tất cả các đơn vị sự nghiệp có thu bởi vì nó ảnh hưởng đến cách thức và phương thức mà nhà quản lý thu hút nguồn thu, duy trì và
mở rộng hoạt động của ĐVSN công có thu
Trang 221.2.1.3 Vai trò của quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công có thu
Thứ nhất, quản lý tài chính góp phần quản lý chặt chẽ các nguồn thu từ ngân sách nhà nước, từ viện trợ hay từ sản xuất kinh doanh của đơn vị: trên cơ sở đó
đánh giá được hiệu quả hoạt động của đơn vị Bên cạnh đó, công tác này cũng góp phần tạo khuôn khổ chi tiêu phù hợp với tình hình tài chính, làm cơ sở cho việc hạch toán kế toán tại đơn vị; Đảm bảo được nguồn tài chính cho hoạt động của đơn
vị, từ đó đưa ra những kế hoạch, định hướng phát triển cho phù hợp với từng giai đoạn của sự phát triển
Thứ hai, quản lý tài chính giúp cho các khoản chi được thực hiện theo đúng
kế hoạch, đạt hiệu quả hoạt động cao đồng thời tiết kiệm chi phí: tạo điều kiện để
tăng thu nhập cho cán bộ nhân viên, phát huy tính chủ động, sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Trong hoạt động của các ĐVSN có thu, quản lý hiệu quả nguồn tài chính trở thành một nhiệm vụ trọng tâm và rất cần thiết, ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng cung cấp dịch vụ của đơn vị Đồng thời, tác động đến thu nhập của cán bộ, nhân viên trong đơn vị
Thứ ba, quản lý tài chính giúp kiểm soát được toàn bộ chu trình hoạt động của đơn vị: Thông qua quản lý tài chính, chủ thể quản lý không chỉ kiểm soát được toàn
bộ chu trình hoạt động của đơn vị mà còn đánh giá được chất lượng hoạt động của chúng Tài chính còn biểu hiện lợi ích của các chủ thể tham gia và liên quan đến đơn
vị Thông qua quản lý tài chính, chủ thể quản lý sử dụng được công cụ kích thích lợi ích một cách hữu hiệu.Ngoài ra, do hoạt động của các ĐVSN có thu rất đa dạng, tham gia trong nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ và theo đuổi không chỉ mục tiêu riêng, mà còn phục vụ mục tiêu chung của toàn xã hội nên quản
lý tài chính khá phức tạp, thường được quy định cụ thể cho từng ngành, lĩnh vực
Thứ tư, quản lý tốt tài chính của ĐVSN công có thu không những góp phần làm giảm bớt các khoản chi sự nghiệp của ngân sách nhà nước, mà còn khuyến khích cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho xã hội với chi phí tiết kiệm: Trong điều
kiện kinh tế thị trường, yêu cầu về chất lượng dịch vụ công và hiệu quả hoạt động của các ĐVSN có thu là những vấn đề còn mang tính phức tạp hơn nữa Bên cạnh
Trang 23các khoản chi của ngân sách nhà nước đối với các ĐVSN công có thu, các đơn vị này còn có nguồn thu nhập từ các hợp đồng kinh tế, dịch vụ
Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính ở các ĐVSN công có thu liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế - xã hội và chi tiêu đóng góp của nhân dân Do đó, nếu tài chính của các ĐVSN có thu được quản lý, giám sát, kiểm tra tốt, sẽ góp phần hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính công, đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài chính của đất nước
Thứ năm, quản lý tài chính các ĐVSN có thu còn cung cấp thông tin để tái
cơ cấu hoạt động cung cấp dịch vụ văn hóa, khoa học công nghệ, giáo dục, y tế, thể dục thể thao… trong tương quan với sự cạnh tranh của khu vực tư nhân: Đây là một
trong những vai trò to lớn của quản lý tài chính ĐVSN có thu vì thông qua quản lý tài chính sẽ biết được tình hình các đơn vị làm ăn có hiệu quả không? Sử dụng vốn ngân sách Nhà nước có đúng mục tiêu mục đích đề ra không? Với chức năng Nhà nước giao cho, ĐVSN có thu làm có hiệu quả không? Từ đó, có căn cứ để Nhà nước quyết định tái cơ cấu các hoạt động dịch vụ, cho các doanh nghiệp tư nhân cùng tham gia nếu họ làm tốt hơn
1.2.2 Nội dung quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công có thu
1.2.2.1 Lập kế hoạch dự toán tài chính
Công tác lập kế hoạch quản lý tài chính có vai trò rất quan trọng trong quản
lý tài chính, bảo đảm nguồn tài chính cần thiết phục vụ nhu cầu hoạt động của đơn
vị Tùy theo tình hình thực tế của đơn vị mà người làm công tác kế hoạch tài chính
và ban giám đốc sẽ xây dựng chiến lược phát triển ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho đươn vị Từ chiến lược này sẽ có lập kế hoạch dự toán các nguồn tài chính, phân bổ các nguồn tài chính, tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch và cuối cùng là tiến hành kiểm tra, kiểm soát quá trình thực hiện kế hoạch đã đề ra Vì vậy nên phải tiến hành lập kế hoạch dự toán tài chính cho đơn vị
* Lập kế hoạch dự toán các nguồn tài chính hàng năm
ĐVSN lập kế hoạch dự toán thu hàng năm Dự toán thu là căn cứ quan trọng
Trang 24để tổ chức thực hiện thu Trong quá trình thu, đơn vị phải thực hiện thu đúng đối tượng, thu đủ và phải tuân thủ các quy định của Nhà nước
- Lập dự toán khoản kinh phí do NSNN cấp: Thường thì đơn vị căn cứ vào phần kinh phí được duyệt của năm trước, kế hoạch tăng cường đổi mới trang thiết bị của đơn vị trong định hướng hoạt động đã được cấp trên phê duyệt để xác định phần kinh phí NSNN sẽ cấp để bảo đảm hoạt động thường xuyên; dự toán kinh phí NSNN cấp chi không thường xuyên của đơn vị
- Lập dự toán các khoản thu sự nghiệp: Căn cứ vào kế hoạch hoạt động cung cấp dịch vụ và mức thu do đơn vị quyết định hoặc theo hợp đồng kinh tế đã ký kết giữa đơn vị với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu cho phù hợp, bảo đảm đủ bù đắp chi phí, có lãi và thu hút được khách hàng Kế hoạch thu phí và lệ phí căn cứ vào đối tượng thu, mức thu và
tỷ lệ được để lại chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
* Lập kế hoạch phân bổ các nguồn tài chính
Do các nguồn lực luôn có giới hạn nhưng nhu cầu chi của đơn vị luôn gia tăng với tốc độ nhanh nên cần phải thực hiện chi tiết kiệm, hiệu quả và đặc biệt cần xác lập thứ tự ưu tiên cho các khoản chi để bố trí kinh phí cho phù hợp Trong quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực phải tính toán sao cho chi phí bỏ ra thấp nhất, hiệu quả đem lại cao nhất Để đạt được mục tiêu này, các ĐVSN cần phải quản lý chặt chẽ từ khâu xây dựng kế hoạch, dự toán, xây dựng định mức, thường xuyên phân tích, đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện chi
- Căn cứ vào dự toán chi NSNN đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt, thông qua, phân bổ dự toán chi NSNN cho đơn vị
- Căn cứ vào dự toán sơ bộ về thu, chi NSNN kỳ kế hoạch để xác định các mức chi tiêu tổng hợp dự kiến ngân sách sẽ phân bổ cho mỗi đối tượng Trên cơ sở
đó đơn vị tiến hành lập dự toán kinh phí căn cứ vào quy mô phục vụ, cơ sở vật chất, hoạt động nghiệp vụ chuyên môn và hoạt động khác của năm báo cáo để có cơ sở
dự kiến năm kế hoạch Dựa vào số liệu chi cho con người, chi quản lý hành chính, chi nghiệp vụ chuyên môn và chi mua sắm, sửa chữa, xây dựng cơ bản của năm báo
Trang 25cáo làm cơ sở dự kiến cho năm kế hoạch
- Lập chi tiết kế hoạch chi cho từng loại nhiệm vụ như: Chi thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhà nước giao; Chi phục vụ cho công tác thu phí và
lệ phí; Chi hoạt động dịch vụ; Chi công tác chuyên môn
- Kế hoạch chi không thường xuyên, đơn vị lập dự toán của từng nhiệm vụ chi
* Xét duyệt kinh phí hàng năm
Dự toán thu, chi của đơn vị phải có thuyết minh cơ sở tính toán, chi tiết theo từng nội dung thu, chi gửi lên cơ quan quản lý cấp trên xét duyệt
Cơ quan quản lý cấp trên sẽ tiến hành rà soát lại toàn bộ các nhiệm vụ chi của từng đơn vị để cân đối số kiểm tra được giao và trực tiếp làm việc với các đơn
vị để ưu tiên chi cho các nhiệm vụ đặc biệt Sau đó, đơn vị cấp trên sẽ tổng hợp dự toán của các đơn vị gửi Bộ Tài chính
Khi có quyết định chính thức về chỉ tiêu NSNN giao cho đơn vị cấp trên; đơn
vị trực tiếp quản lý này sẽ tiến hành giao dự toán các đơn vị cấp dưới theo các nội dung đã thể hiện trong quá trình làm việc và hướng dẫn lập kế hoạch chi tiêu để tránh tình trạng phải điều chỉnh hoặc chi không hết vào cuối năm ngân sách Công tác này kết thúc trước ngày 31/12 tài chính năm trước theo đúng quy định của luật NSNN
Khi kế hoạch dự toán của đơn vị cấp dưới đã được thẩm định và phê duyệt, đơn vị cấp trên trực tiếp quản lý ra quyết định chính thức giao cho đơn vị
1.2.2.2 Tổ chức chấp hành dự toán
a) Quản lý nguồn thu tài chính tại đơn vị sự nghiệp công có thu
* Các nguồn thu của ĐVSN công có thu:
ĐVSN có thu có các nguồn thu chủ yếu sau: Nguồn NSNN cấp, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp của đơn vị và nguồn thu khác Trong đó:
Thu từ nguồn NSNN cấp: Đây là nguồn thu dùng để đảm bảo chi hoạt động
sự nghiệp bao gồm thu ngân sách Trung ương và thu ngân sách địa phương NSNN cấp kinh phí gồm:
- Kinh phí thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ,
ngành, chương trình mục tiêu quốc gia và các nhiệm vụ đột xuất khác được cấp có
Trang 26thẩm quyền giao
- Kinh phí thanh toán cho đơn vị theo chế độ đặt hàng để thực hiện các
nhiệm vụ của Nhà nước đặt hàng như điều tra, quy hoạch, khảo sát… theo giá hoặc khung giá do Nhà nước quy định
- Kinh phí cấp để thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy
định đối với số lao động trong biên chế thuộc diện tinh giản
- Vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang, thiết bị phục vụ hoạt
động sự nghiệp theo dự án và kế hoạch hàng năm; vốn đối ứng cho các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Nguồn thu hoạt động sự nghiệp của đơn vị (còn gọi là nguồn tự thu của các
đơn vị) dưới hai hình thức:
- Thu phí và lệ phí thuộc NSNN (phần được để lại cho đơn vị theo quy định) mức thu phí, lệ phí, tỷ lệ nguồn thu được để lại cơ quan, đơn vị sử dụng và nội dung chi thực hiện theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với từng loại phí và lệ phí
- Thu từ hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ Hoạt động cung ứng dịch vụ
là sự thoả thuận giữa các chủ thể, theo đó bên nhận dịch vụ tiến hành những hoạt động nhất định nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của bên thuê dịch vụ và được nhận một khoản tiền công dịch vụ Bên thuê dịch vụ có trách nhiệm cung ứng những điều kiện vật chất cần thiết và các điều kiện để thực hiện các dịch vụ đó, đồng thời có nghĩa vụ tiếp nhận các kết quả dịch vụ và thanh toán tiền dịch vụ
Chế độ thu từ các hoạt động này áp dụng theo Nghị định 10/2002/NĐ - CP ngày 16/1/2002 của Chính Phủ Mức thu từ các hoạt động này do Thủ trưởng đơn vị quyết định, theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí, làm nghĩa vụ đối với Nhà nước (nếu có) và có tích luỹ
- Các khoản thu sự nghiệp khác theo quy định của pháp luật (nếu có) như thu
từ nhượng bán, thanh lý tài sản cố định…
Các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật: như viện trợ, vay tín dụng,
quà biếu tặng…
Trang 27* Quản lý thu tài chính:
Sau khi xây dựng kế hoạch dự toán thu, ĐVSN tiến hành thực hiện kế hoạch thu theo dự toán Dự toán thu là căn cứ quan trọng để đơn vị tổ chức thực hiện thu Trong quá trình quản lý thu, phải đảm bảo một số yêu cầu như:
- Quản lý toàn diện từ hình thức, quy mô đến các yếu tố quyết định số thu Bởi vì tất cả các hình thức, quy mô và các yếu tố ảnh hưởng đến số thu tài chính làm cơ sở cho mọi hoạt động của ĐVSN Nếu không quản lý toàn diện sẽ dẫn đến thất thoát khoản thu, làm ảnh hưởng không chỉ đến hiệu quả quản lý tài chính, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của ĐVSN
- Quản lý các nguồn thu theo kế hoạch, đảm bảo thu sát, thu đủ, thu đúng đối tượng và tuân thủ các quy định của Nhà nước
- Tổ chức tốt quá trình thu, đồng thời đề ra các biện pháp tổ chức thu thích hợp
- Đối với các đơn vị được sử dụng nhiều nguồn thu phải có biện pháp quản lý thu thống nhất nhằm thực hiện thu đúng mục đích, thu đủ và thu đúng kỳ hạn
b) Quản lý chi tài chính tại đơn vị sự nghiệp công có thu
Quản lý các khoản chi tiêu tại ĐVSN có thu theo định mức quy định trong Qui chế chi tiêu nội bộ và theo quy định hiện hành của Nhà nước Với ĐVSN có thu, các khoản chi hoạt động thường xuyên lấy kinh phí từ chính nguồn thu của đơn
vị để tự trang trải và có trách nhiệm nộp thuế vào NSNN Hàng năm, căn cứ vào nhu cầu và NSNN, có thể được cấp NSNN thực hiện các dự án, đề tài theo chuyên môn đảm nhận Cụ thể như sau:
* Các khoản chi của ĐVSN có thu:
ĐVSN có thu được phép chi các khoản sau:
- Chi hoạt động thường xuyên theo nhiệm vụ của Trung tâm được các cấp có
thẩm quyền giao:
+ Nhóm 1: Chi cho người lao động: Chi tiền lương, tiền công; các khoản phụ
cấp lương; các khoản trích bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn theo quy định,
+ Nhóm 2: Chi nghiệp vụ chuyên môn: Chi cho các hoạt động nghiệp vụ
Trang 28chuyên môn đặc thù của đơn vị
+ Nhóm 3: Chi mua sắm tài sản, sửa chữa thường xuyên tài sản; khoản kinh
phí này được sử dụng để mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi lại giá trị sử dụng cho những tài sản cố định đã bị xuống cấp
+ Nhóm 4: Chi quản lý hành chính và chi khác: Vật tư văn phòng, dịch vụ công cộng, thông tin liên lạc, công tác phí, hội nghị phí, thuê mướn…
- Chi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, ngành
theo dự toán được phê duyệt và quy định của Nhà nước
- Chi mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản, chi thực hiện các dự án
đầu tư theo quy định
* Quản lý chi tài chính:
Quản lý các khoản chi tài chính tại ĐVSN có thu phải đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả Tiết kiệm là một nguyên tắc hàng đầu của quản lý tài chính Nguồn lực luôn có giới hạn nhưng nhu cầu không có giới hạn Do vậy trong quá trình phân bổ và sử dụng nguồn lực khan hiếm phải tính toán sao cho chi phí thấp nhất, kết quả cao nhất
- Xây dựng kế hoạch ngân sách theo kế hoạch nhiệm vụ ưu tiên, trên cơ sở
đó đảm bảo cân đối và thực hiện chi tiêu đúng mục đích, đúng kế hoạch, kịp thời phục vụ các hoạt động của đơn vị
- Xây dựng qui chế chi tiêu nội bộ bao gồm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu áp dụng thống nhất cho toàn đơn vị, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ khoa học và công nghệ được giao Qui chế chi tiêu nội
bộ vừa là cơ sở để chi, vừa là căn cứ để thực hiện kiểm soát chi của các ĐVSN có thu Qui chế chi tiêu nội bộ phải được xây dựng một cách khoa học, minh bạch, thảo luận dân chủ công khai và thông qua hội nghị cán bộ của đơn vị bằng phương thức bỏ phiếu kín 2/3 số đại biểu chính thức tán thành
- Đối với các khoản chi thuộc chi phí của dự án, đề tài, kinh phí mua sắm tài sản cố đinh, kinh phí xây dựng cơ bản… phải thực hiện theo Quy định của Nhà nước và hàng năm phải được cơ quan có thẩm quyền duyệt Những khoản chi phí
Trang 29không thực hiện đúng theo quy định của Nhà nước về quy chế đấu thầu, quy chế về chi phí sẽ bị loại khỏi kinh phí quyết toán
c) Quản lý trích lập và sử dụng các quỹ tại đơn vị sự nghiệp công có thu
Hàng năm, sau khi trang trải toàn bộ chi hoạt động và thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ với NSNN theo quy định của pháp luật, số chênh lệch (nếu có) giữa phần thu (sau khi loại trừ kinh phí nghiên cứu khoa học, chương trình, mục tiêu quốc gia, các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao, kinh phí thực hiện tinh giản biên chế, vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn đối ứng của NSNN, vốn vay, viện trợ) và phần chi tương ứng, giám đốc sau khi thống nhất với tổ chức công đoàn của đơn vị
sẽ quyết định việc trích lập các quỹ:
Chênh lệch thu, chi
(sau khi trừ thuế nếu
có)
=
Thu sự nghiệp và NSNN cấp chi thường xuyên và chi Nhà nước đặt hàng
-
Chi hoạt động thường xuyên và chi Nhà nước đặt hàng
- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: được trích tối thiểu 25% dùng để đầu
tư, phát triển nâng cao hoạt động sự nghiệp, bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm máy móc thiết bị, nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, trợ giúp thêm đào tạo, huấn luyện nâng cao tay nghề, năng lực công tác cho cán bộ, viên chức trong đơn vị
- Quỹ dự phòng ổn định thu nhập để đảm bảo thu nhập cho người lao động
trong trường hợp nguồn thu bị giảm sút
- Quỹ khen thưởng được dùng để khen thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể,
cá nhân theo kết quả công tác và thành tích đóng góp Thủ tướng đơn vị quyết định việc chi quỹ khen thưởng sau khi thống nhất với tổ chức Công đoàn đơn vị
- Quỹ phúc lợi dùng để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi, chi cho
các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị: trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động kể cả những trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức, chi thêm cho người lao động trong biên chế, khi thực hiện tinh giản biên chế
Trang 30Tuy nhiên có một mức ràng buộc là khi trích lập các quỹ theo trình tự, các ĐVSN có thu phải chú ý là tổng mức trích hai quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi tối
đa không được vượt quá 03 tháng lương thực tế bình quân trong năm của đơn vị
Như vậy, đơn vị tự chủ hoàn toàn được quyền chủ động về chi thu nhập tăng thêm cho cán bộ viên chức trong đơn vị
1.2.2.3 Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán tài chính
Công tác thanh tra, kiểm tra trong đơn vị cần được thực hiện thường xuyên nhằm kiểm tra các chứng từ hóa đơn, đảm bảo các khoản thu chi trong đơn vị được thực hiện đúng nguyên tắc, chủ trương, tuân theo pháp luật, đảm bảo tiết kiệm, chính xác, hiệu quả Công tác thanh tra, kiểm tra cho phép chủ động ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực về tài chính trong hoạt động thu chi tài chính của các đơn vị sự nghiệp đồng thời qua công tác này phát hiện những bất hợp lý trong chế độ, chính sách nhằm bổ sung hoàn thiện chúng Vì vậy cho nên để có thể phát hiện, ngăn chặn kịp thời những hành vi sai trái, tiêu cực trong quản lý tài chính cần thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra một cách thường xuyên nhằm giúp cho các các đơn vị sự nghiệp quản lý và sử dụng các nguồn tài chính một cách chặt chẽ, hiệu quả, đúng mục đích và tiết kiệm nhất
Hạch toán, quyết toán hàng năm là một phần không thể thiếu của quản lý tài chính Để ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các nhà quản lý, đòi hỏi công tác ghi chép, tính toán, phản ánh số hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sử dụng kinh phí của trung tâm phải kịp thời, chính xác
Ngoài ra, cuối mỗi năm tài chính còn cần thực hiện công tác kiểm toán trung tâm có thể kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu chi tài chính, kiểm tra việc giữ gìn và sử dụng tài sản, sử dụng kinh phí, phát hiện và ngăn ngừa kịp thời những hành động tham ô, lãng phí, xâm phạm tài sản, vi phạm các chế độ chính sách, kinh
tế của Nhà nước nói chung và của đơn vị nói riêng
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công có thu
Thứ nhất, mức độ hoàn thành kế hoạch tài chính của đơn vị
Tiêu chí này đánh giá về công tác lập kế hoạch nguồn thu – nguồn chi, triển
Trang 31khai thực hiện và kiểm tra, kiểm soát các kế hoạch có hoàn thành đúng tiến độ đã đề
ra trong năm tài chính, có phù hợp với chiến lược ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn của đơn vị không Đối với các ĐVSN làm tốt công tác lập kế hoạch thu chi trong năm tài chính thường đạt mức 98% - 99%, còn các đơn vị lập kế hoạch không tốt sẽ dẫn tới mất cân đối tài chính, các đơn vị lập kế hoạch kém chỉ đạt mức độ trên dưới 90% mức thực hiện
Thứ hai, tỷ lệ tăng trưởng doanh thu ngoài nguồn thu NSNN của đơn vị
Tỷ lệ này được xác định như sau:
Nguồn thu sự nghiệp năm N+1
Tổng nguồn thu năm N+1
Tiêu chí này đánh giá tính tự chủ của ĐVSN có thu, trong tổng nguồn thu có hai nguồn thu là thu từ kinh phí NSNN cấp hàng năm và nguồn thu sự nghiệp của đơn vị Tỷ lệ nguồn thu từ kinh phí NSNN cấp trên tổng nguồn thu lớn thì đơn vị đó
có tính tự chủ thấp và ngược lại Đa phần các ĐVSN có thu thuộc lĩnh vực giáo dục
ở nước ta hiện nay nguồn kinh phí từ NSNN cấp vẫn chiếm tỷ trọng lớn hơn
Thứ ba, mức tăng thu nhập của cán bộ viên chức, người lao động
Tỷ lệ này được xác định như sau:
Mức chi bình quân cho cá nhân năm N+1
Mức chi bình quân cá nhân năm N
Tiêu chí này đánh giá, nếu tốc độ tăng thu nhập cho cán bộ, người lao động đều qua các năm thì các ĐVSN có thu này bền vững về mặt tài chính Mức chi trả cho thanh toán cá nhân ổn định là một trong những điều kiện để tái sản xuất sức lao động của cán bộ, người lao động Khi được nhận mức thu nhập thỏa đáng thì họ chuyên tâm với nghề, tập trung cho nghiên cứu khoa học hơn
Thứ tư, tình hình tổ chức lập dự toán và chấp hành dự toán thu - chi tài chính hàng năm tuân theo chế độ, chính sách và pháp luật của Nhà nước
Lập báo cáo và thực hiện quyết toán thu, chi tài chính quý và năm về tình hình sử dụng các nguồn tài chính của cơ quan
ĐVSN có thu tự làm hoặc phối hợp với các ngành hữu quan xây dựng các
Tỷ lệ nguồn thu =
Tỷ lệ tăng chi cho
thanh toán cá nhân =
Trang 32chế độ chi tiêu đặc thù của ngành, lĩnh vực theo sự uỷ quyền của cơ quan có thẩm quyền Mỗi đơn vị đều có những đặc thù riêng có của mình, tuỳ vào chức năng, nhiệm vụ cụ thể được giao, các ĐVSN có thu hoạt động theo 43/2006/NĐ-CP tự xây dựng dựng chế độ chi tiêu nội bộ và trình cơ quan chủ quản phê duyệt Tổ chức chấp hành dự toán thu chi hàng năm phải tuân thủ qui chế chi tiêu nội bộ hoặc theo các chế độ chính sách của nhà nước và hàng năm các cơ quan chủ quản sẽ thực hiện duyệt quyết toán của các ĐVSN để xem xét tình hình chấp hành dự toán thu chi tại các đơn vị này Đây là cơ sở và bằng chứng để các cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát báo cáo về tình hình lập, tiếp nhận, sử dụng nguồn kinh phí tại đơn vị
Ngoài ra, khi có thay đổi về chế độ kế toán thống kê, các ĐVSN luôn phải cập nhật đầy đủ sự thay đổi và thực hiện áp dụng Khi các cơ quan chức năng thực hiện kiểm tra, phát hiện đơn vị không chấp hành chế độ kế toán thống kê theo pháp luật thì đơn vị phải thực hiện giải trình và chịu trách nhiệm về sai
phạm của mình trước pháp luật và trước các cơ quan chức năng
Ngoài bốn tiêu chí cơ bản trên trong nội bộ mỗi ĐVSN có thể xây thêm một
số tiêu chí để đánh giá công tác quản lý tài chính của mình Như tiêu chí: Tỷ lệ chi cho nghiên cứu khoa học; Tỷ trọng đầu tư trang thiết bị trong tổng chi; Tỷ lệ thất thoát tài chính hàng năm; Mức độ sai phạm trong quản lý tài chính hàng năm
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công có thu
1.2.4.1 Các nhân tố bên ngoài
Là hệ thống các chủ trương, chính sách, pháp luật có tác động đến hoạt động kinh doanh của ĐVSN có thu Trên cơ sở pháp luật kinh tế và các biện pháp kinh tế, Nhà nước tạo môi trường điều hành cho các ĐVSN có thu phát triển sản xuất kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch vĩ mô Với bất kỳ sự thay đổi nào trong chế độ chính sách hiện hành đều có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các ĐVSN có thu Ta dễ nhận thấy rằng, nếu như các chính sách của Nhà nước hợp lý, mang tính tích cực cởi mở sẽ giúp cho các ĐVSN có thu thuận lợi hơn trong việc kinh doanh, nền kinh tế sẽ ổn định Ngược lại, khi đường lối chính sách của Nhà nước thay đổi không hợp lý hoặc có những sự mất ổn định trong đời sống chính trị,
Trang 33các đơn vị sự nghiệp có thu bị ảnh hưởng không nhỏ Cụ thể như sau:
Thứ nhất, cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước
Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước là toàn bộ các chính sách, chế độ chi tài chính thống nhất trong các cơ quan nhà nước mà các ĐVSN công có thu phải tuân thủ Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước được thực hiện thông qua các văn bản pháp lý, các nghị định, thông tư, quyết định của Chính phủ, các bộ, ngành, Trong
cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước, các công cụ về định mức chi tiêu, danh mục được phép chi tiêu, quy trình xét duyệt và cấp ngân sách, phân cấp quản lý chi tài chính công có vai trò quan trọng Thông qua cơ chế quản lý tài chính, Nhà nước kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng các nguồn lực tài chính công trong các ĐVSN công
có thu Chính vì thế, cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước là cơ sở, nền tảng của quản lý tài chính trong các ĐVSN công có thu Tính chất tiến bộ hay lạc hậu của cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý tài chính trong các ĐVSN công có thu
Một mặt, cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước tạo ra môi trường pháp lý cho việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động của đơn vị Nó được xây dựng dựa trên quan điểm định hướng về chính sách quản lý ĐVSN công có thu trong từng giai đoạn cụ thể của Nhà nước nhằm cụ thể hóa các chính sách đó Cơ chế này sẽ vạch ra các khung pháp lý về mô hình quản lý tài chính của ĐVSN công có thu, từ việc xây dựng các tiêu chuẩn, định mức, các quy định về lập dự toán, điều chỉnh dự toán, cấp phát kinh phí, kiểm tra, kiểm soát, đến quyết toán kinh phí, nhằm phát huy tối đa hiệu quả quản lý vĩ mô của Nhà nước
có tính đến quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị
Mặt khác, cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước vạch ra hành lang pháp lý cho ĐVSN công nhưng nếu các cơ chế này không phù hợp sẽ trở thành hàng rào trói buộc, cản trở đến quá trình tạo lập và sử dụng nguồn lực tài chính của ĐVSN công, ảnh hưởng xấu đến kết quả hoạt động chuyên môn của đơn vị Nếu cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước sơ hở, lỏng lẻo có thể làm hao tổn ngân sách nhà nước, thất thoát, lãng phí các nguồn lực tài chính khác mà không đạt được mục tiêu chính trị, xã hội đã định
Trang 34Do đó, nếu cơ chế tài chính phù hợp sẽ tạo điều kiện tăng cường và tập trung nguồn lực tài chính, đảm bảo sự linh hoạt, năng động và hữu hiệu của các nguồn lực tài chính, giúp cho ĐVSN công thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn được giao Ngược lại, nếu các định mức quá lạc hậu, quy trình cấp phát và kiểm tra quá rắc rối, phức tạp thì không chỉ chi phí quản lý tài chính tăng, mà còn gây tình trạng che dấu, biến báo các khoản chi cho hợp lệ, hoặc quản lý tài chính không theo kịp hoạt động chuyên môn trong các ĐVSN công
Thứ hai, luật Ngân sách nhà nước
Năm 1997, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước Sau đó, tại Khóa họp XI, Kỳ họp thứ hai năm 2002 Quốc hội đã bổ sung và tiếp tục hoàn thiện Luật Ngân sách nhà nước Đến ngày 25/6/2015, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước mới, sửa đổi, thay thế cho Luật NSNN năm 2002 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 Đây là đạo luật quan trọng tạo bước ngoặt mới trong quản lý ngân sách nhà nước theo hành lang pháp lý mới đầy
đủ và đồng bộ hơn, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, xu hướng hội nhập quốc
tế, góp phần quan trọng vào tiến trình cải cách tài chính công theo hướng hiện đại
Luật Ngân sách nhà nước quy định các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước phải lập, chấp hành, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, quyết toán ngân sách nhà nước theo các quy định thống nhất trong cả nước; Mọi khoản chi ngân sách nhà nước, trong đó có chi cho ĐVSN công, đều phải tuân theo Luật Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm, việc sử dụng ngân sách nhà nước phải đúng mục đích và theo mục lục mà Luật đã quy định
Luật Ngân sách nhà nước ra đời đã giúp cho việc quản lý tài chính trong các ĐVSN công có thu trở nên minh bạch hơn, đảo đảm toàn diện, đồng bộ và chặt chẽ trong quản lý ngân sách nhà nước, bảo đảm tính đồng bộ với các Luật có liên quan trong hệ thống các luật về tổ chức bộ máy nhà nước như Luật tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Đầu tư công, Luật Quản lý nợ công… Bên cạnh đó, theo Luật NSNN
Trang 35mới, thời kỳ ổn định ngân sách được quy định với thời gian 5 năm, trùng với kỳ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm đủ để các đơn vị thụ hưởng ngân sách có điều kiện tìm phương án sử dụng ngân sách hiệu quả, kích thích tính tự chủ của ĐVSN công có thu nhiều hơn trước trong tìm kiếm lợi ích từ tiết kiệm chi ngân sách nhà nước, tạo cơ chế kiểm tra, giám sát của Nhà nước và cơ quan ngôn luận đối với việc sử dụng ngân sách nhà nước Tuy nhiên, do luật Ngân sách nhà nước của ta còn chưa thực sự hoàn thiện, nhiều quy định còn cứng nhắc, ví dụ như quy định phải sử dụng ngân sách theo mục lục ngân sách, quy định ngân sách cấp dưới thuộc ngân sách cấp trên,… đã hạn chế quyền tự chủ của đơn vị cơ sở trong sử dụng ngân sách hiệu quả Ngoài ra, muốn cải tiến quản lý tài chính ở các ĐVSN công phải chờ sự thay đổi của Luật Ngân sách nhà nước nên thường chậm chạp
1.2.4.2 Các nhân tố bên trong
Thứ nhất, đặc điểm hoạt động của ngành:
Đặc điểm hoạt động của ngành là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến quản lý tài chính của ĐVSN công có thu Do đặc điểm hoạt động của các đơn vị khác nhau dẫn đến mô hình quản lý tài chính của các đơn vị cũng sẽ khác nhau Các ĐVSN công có thu nằm trong từng ngành sẽ được đơn vị chủ quản thiết lập cho những cơ chế quản lý tài chính nội bộ, nhất là hệ thống định mức chi tiêu, áp dụng riêng trong ngành Cơ chế quản lý này vừa phải cụ thể hóa các văn bản pháp quy của Nhà nước, vừa đáp ứng được những yêu cầu riêng của ngành, phù hợp với những yêu cầu quản lý cụ thể, đặc thù mà Nhà nước chưa quy định, sao cho quản lý tài chính thích hợp và chặt chẽ hơn
Nhìn chung, do chịu tác động của những cơ quan quản lý ngành, nên cơ chế quản lý theo ngành các ĐVSN công có thu thường chặt chẽ hơn quy định chung của Nhà nước Một số ngành có những chính sách quản lý tập trung, hạn chế phân cấp quản lý cho các đơn vị thành viên làm ảnh hưởng đến tính tự chủ về tài chính của ĐVSN công có thu trong ngành đó Một số ngành lại mở rộng cho đơn vị trực thuộc dẫn đến sự không công bằng giữa các ĐVSN công có thu thuộc các ngành khác nhau
Thứ hai, quy mô, tầm quan trọng của đơn vị sự nghiệp
Trang 36Quy mô, tính phức tạp và tầm quan trọng của từng ĐVSN công cũng ảnh hưởng đến quản lý tài chính nội bộ đơn vị Nếu ĐVSN công có quy mô lớn, các bộ phận phụ thuộc hoạt động phân tán thì chế độ quản lý tài chính nội bộ thiên về phân cấp rộng cho đơn vị cơ sở, cơ quan quản lý cao nhất của ĐVSN công chỉ tập trung đảm nhiệm những khâu quản lý trọng yếu, cần thống nhất trong đơn vị hoặc các khâu
mà cấp cao đảm nhiệm hiệu quả hơn Ở các ĐVSN công có quy mô nhỏ, kết cấu đơn giản thì bộ máy quản lý tài chính gọn nhẹ, thường chỉ bao gồm cán bộ phòng tài chính kế toán, phòng này trực tiếp quản lý tài chính ở các bộ phận của đơn vị
Thường các ĐVSN công có tầm quan trọng thì Nhà nước sẽ ưu tiên hơn trong cấp phát vốn đầu tư và cấp kinh phí thường xuyên, ngay cả trong các thời kỳ khó khăn Các ĐVSN công kém quan trọng hơn đôi khi phải thu hẹp quy mô hoạt động hoặc giảm bớt đầu mối khi tài chính nhà nước gặp khó khăn Hơn nữa, trong chế độ quản lý tài chính công thống nhất, các ĐVSN công quan trọng đôi khi được cho phép có những khoản chi ngoại lệ phục vụ các nhiệm vụ đặc biệt Những yếu tố này cũng ảnh hưởng nhất định đến quản lý tài chính tại ĐVSN công có thu
Thứ ba, trình độ năng lực của cán bộ quản lý tài chính
Con người là nhân tố trung tâm của bộ máy quản lý, là khâu trọng yếu trong việc xử lý các thông tin để đề ra các quyết định quản lý Trình độ năng lực của cán
bộ quản lý có ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý tài chính của ĐVSN công có thu Ảnh hưởng đến tính chính xác, kịp thời của các quyết định quản lý, do đó nó có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của bộ máy quản lý, quyết định sự thành bại của công tác quản lý nói chung cũng như quản lý tài chính nói riêng
Đối với các cơ quan quản lý cấp trên, nếu cán bộ quản lý tài chính có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sẽ đưa ra được những biện pháp quản lý phù hợp, xử lý thông tin quản lý kịp thời, chính xác làm cho hoạt động quản lý ngày càng đạt hiệu quả cao Ngược lại, nếu cán bộ cấp trên yếu kém, không dám chịu trách nhiệm thì cơ chế quản lý tài chính sẽ trì trệ, lạc hậu, kém hiệu quả
Đối với đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác tài chính kế toán, nếu có năng lực, trình độ chuyên môn tốt, có kinh nghiệm công tác sẽ đưa quản lý tài chính kế
Trang 37toán đi vào nề nếp, tuân thủ các chế độ quy định về tài chính kế toán của Nhà nước, góp phần vào hiệu quả của quản lý tài chính ĐVSN công có thu nếu không có cán
bộ quản lý tài chính chuyên nghiệp và thành thạo thì nguy cơ thất thoát, sai chế độ chính sách và chậm trễ là rất lớn
Thứ tư, khả năng ứng dụng khoa học - công nghệ
Cán bộ quản lý cần phải nắm được tác dụng, xu hướng phát triển của khoa học - công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin trong quản lý tài chính Nhận thức đúng về tác dụng của công nghệ thông tin sẽ có những tác động thúc đẩy vượt bậc
về quản lý tài chính của đơn vị Đồng thời, cũng làm cho nhận thức của cán bộ làm quản lý tài chính nâng cao về trình độ công nghệ thông tin và sử dụng các phần mềm kế toán Vì vậy, phần mềm kế toán là hệ thống các chương trình máy tính dùng để tự động xử lý các thông tin kế toán trên máy vi tính, là một công cụ ghi chép, lưu trữ, tính toán, tổng hợp trên cơ sở các dữ liệu đầu vào là các chứng từ gốc.Ứng dụng phần mềm kế toán sẽ làm cho công việc quản lý tài chính tiết kiệm được nhân sự và thời gian, chính điều này đã góp phần tiết kiệm chi phí cho đơn vị
Thứ năm, hệ thống kiểm soát nội bộ của ĐVSN công có thu
Hệ thống kiểm soát nội bộ là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định,
để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót, nhằm bảo vệ, quản
lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị Hệ thống kiểm soát nội bộ là chìa khóa
để quản lý tài chính ở ĐVSN công có thu thực hiện hiệu quả, đúng chế độ, chính sách của Nhà nước Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị bao gồm: môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát Trong đó:
Môi trường kiểm soát là những nhận thức, quan điểm, sự quan tâm và hoạt động lãnh đạo đơn vị đối với hệ thống kiểm soát nội bộ và vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị Môi trường kiểm soát được đề cao sẽ giúp ĐVSN công có thu giảm thiểu nguy cơ sai lầm
Hệ thống kế toán là các quy định về kế toán và các thủ tục kế toán mà đơn vị
áp dụng để thực hiện ghi chép kế toán và lập báo cáo tài chính Hệ thống kế toán là
Trang 38công nghệ mà quản lý tài chính ĐVSN công có thu phải tuân thủ Công nghệ này có tính pháp lý quốc gia
Thủ tục kiểm soát là các quy chế và thủ tục do Ban lãnh đạo đơn vị thiết lập
và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị nhằm đạt được mục tiêu quản lý cụ thể Thủ tục kiểm soát được tuân thủ sẽ giúp cán bộ quản lý tài chính phát hiện kịp thời sai lầm
để sửa chữa
Nếu ĐVSN công có thu có hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ, hữu hiệu, thì quản lý tài chính sẽ được tạo điều kiện thuận lợi rất nhiều Hệ thống kiểm soát nội bộ bảo đảm cho công tác tài chính được đặt đúng vị trí, được quan tâm đúng mức; hệ thống kế toán được vận hành có hiệu quả, đúng chế độ quy định; các thủ tục kiểm tra, kiểm soát được thiết lập đầy đủ, đồng bộ, chặt chẽ; giúp đơn vị phát hiện kịp thời mọi sai sót; ngăn chặn hữu hiệu các hành vi gian lận trong công tác tài chính của đơn vị
1.3 Kinh nghiệm quản lý tài chính tại một số thƣ viện và bài học cho Trung tâm Thông tin Thƣ viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý tài chính tại Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên (ĐHTN) là đơn vị thuộc khối phục vụ đào tạo với tiền thân là Trung tâm Thông tin Thư viện được đổi tên thành Trung tâm Học liệu (TTHL) theo Quyết định số 64/QĐ-TCCB ngày 25/02/2005 của Giám đốc ĐHTN Ngày 21/11/2007 Trung tâm Học liệu chính thức mở cửa phục vụ bạn đọc đánh dấu sự ra đời, hoạt động của một đơn vị phục vụ đào tạo có chất lượng, phục vụ tốt nhu cầu học tập, nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho học sinh, sinh viên, cán bộ, giảng viên của ĐHTN và dân cư trong vùng
Về cơ cấu tổ chức, Trung tâm Học liệu gồm có Ban Giám đốc và 05 đơn vị phòng chức năng với 57 cán bộ, viên chức, người lao động đang làm việc
Trang 39Hình 1.1: Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Nguồn: website Trung tâm Học liệu, ĐHTN
Năm 2016 tổng thu của trung tâm là 16.840 triệu đồng trong đó NSNN là 13.672 triệu đồng chiếm khoảng 81% tổng thu, còn lại thu từ sự nghiệp là 3.168
triệu đồng chiếm 19% tổng thu (Báo cáo quyết toán ngân sách Trung tâm học liệu năm 2016)
Chi của trung tâm gồm chi theo mục lục ngân sách và chi từ nguồn thu sự nghiệp của trung tâm Chi từ nguồn thu sự nghiệp trung bình hàng năm theo tỉ lệ là: Chi cho con người chiếm 46%; Chi cho hoạt động chuyên môn chiếm 24%; Chi tăng cường cơ sở vật chất chiếm 17%; Chi cho quản lý và hoạt động chung của trung tâm chiếm 13%
Quản lý tài chính của Trung tâm đã thực hiện và phát huy hiệu quả nguồn vốn ngân sách Nhà nước cũng như các nguồn thu của Trung tâm Hàng năm phòng
Kế hoạch - Tài chính cân đối thu - chi nhằm đáp ứng kịp thời, đảm bảo cho mọi hoạt động tài chính của trung tâm được thông suốt Lập dự toán, quyết toán với Bộ Tài chính đúng quy định; đối chiếu số liệu với kho bạc Nhà nước, ngân hàng; kê khai các khoản thuế và nộp thuế theo đúng quy định
Trung tâm đã áp dụng công nghệ tin học vào việc quản lý tài chính - tài sản đạt được hiệu quả cao và việc thu - chi được cập nhật kịp thời đáp ứng yêu cầu hoạt
Trang 40động tài chính thường xuyên của Trung tâm
Bộ phận làm công tác tài chính của Trung tâm tham gia biên soạn và sửa đổi qui chế chi tiêu nội bộ, đảm bảo quản lý chi tiêu công khai, thống nhất, tiết kiệm có hiệu quả Phối hợp với các phòng, ban liên quan xây dựng, sửa đổi mẫu biểu thanh toán cho thuận tiện, đồng bộ trong toàn trường
Sử dụng nguồn tài chính hợp lý hơn theo tăng cường đầu tư trang thiết bị, cơ
sở vật chất Nhờ đó, quy mô và chất lượng phục vụ của Trung tâm ngày càng được nâng cao, đáp ứng được nhu cầu sử dụng thư viện, tra tìm tài liệu của sinh viên cũng như của cán bộ nghiên cứu khoa học
Trung tâm thực hiện công tác kiểm tra tài chính nội bộ hàng năm, giúp phát hiện, ngăn chặn kịp thời những thiếu sót trong hoạt động tài chính của Trung tâm
1.3.2 Kinh nghiệm quản lý tài chính tại Thư viện Trung tâm, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Ngay từ khi thành lập Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh HCM) vào năm 1995, thư viện đã là một trong những đơn vị được thành lập đầu tiên Liên tục cùng sự phát triển của ĐHQG-HCM, hiện nay hệ thống thư viện ĐHQG-HCM đã phát triển thành một mạng lưới các thư viện của các đơn vị thành viên trong ĐHQG-HCM với Thư viện Trung tâm là đầu mối tổ chức liên kết, cùng phối hợp cung cấp các nguồn tài nguyên thông tin và các dịch vụ thông tin cho tất cả bạn đọc là giảng viên, nhà nghiên cứu, sinh viên và cán bộ viên chức của ĐHQG-HCM Thư viện Trung tâm có hàng trăm ngàn đầu sách cả Việt văn và ngoại văn, có hệ thống máy tính dành cho quản lý, xử lý nghiệp vụ và tra cứu tìm tin Thư viện Trung tâm hiện đang áp dụng quản trị Thư viện bằng phần mềm tích hợp hiện đại, xử lý hoàn toàn trên nền Web Mục tiêu hướng tới của Trung tâm là đẩy mạnh xây dựng những cơ sở dữ liệu số, tiến tới xây dựng Thư viện số nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của trường là trường định hướng nghiên cứu, đồng thời cũng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cán bộ, sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh và bạn đọc
(ĐHQG-Hiện nay, Thư viện Trung tâm là một đơn vị hành chính sự nghiệp độc lập trực thuộc Ban Giám đốc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh có tư cách pháp