Trong bối cảnh Hà Nội mở rộng địa giới hành chính và đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa .v.v..., lao động nhập cư vào Hà Nội sẽ ngày càng tăng, nảy sinh nhiều vấn đề về kinh tế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
ĐINH MẠNH HÀ
QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NHẬP CƯ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
ĐINH MẠNH HÀ
QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NHẬP CƯ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo hướng dẫn khoa học Các số liệu và trích dẫn được
sử dụng trong quá trình nghiên cứu luận văn là trung thực và đáng tin cậy Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn
gốc./
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sỹ Quản lý kinh tế tại trường Đại học kinh tế, được sự đồng ý của Khoa Kinh tế chính trị, Trường Đại học kinh tế và sự nhất trí của giảng viên hướng dẫn PGS TS Nguyễn Hữu Đạt, tôi đã tiến hành thực hiện luận văn thạc sỹ Quản lý kinh tế với đề tài: “Quản
lý lao động nhập cư tại thành phố Hà Nội”
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
PGS TS Nguyễn Hữu Đạt, người thầy đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn
và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này;
Xin gửi lời cảm ơn tới những ý kiến đóng góp và sự động viên của gia đình, bạn bè, các anh/chị trong lớp cao học QLKT3-K23 trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn thạc sỹ;
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn thiện bài luận văn này
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tất cả các tác giả của những cuốn sách, bài viết, công trình nghiên cứu và website hữu ích được đề cập trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn này
Hà Nội, tháng 12 năm 2017
Học viên
Đinh Mạnh Hà
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG/ HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Cấu trúc của đề tài 4
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NHẬP CƯ TẠI CÁC THÀNH PHỐ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.2 Một số vấn đề về lao động nhập cư vào thành phố 7
1.2.1 Khái niệm và phân loại lao động nhập cư vào thành phố 7
1.2.2 Tác động của lao động nhập cư đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố 10
1.3 Quản lý lao động nhập cư vào thành phố 15
1.3.1 Khái niệm về quản lý lao động nhập cư 15
1.3.2 Nội dung quản lý lao động nhập cư 17
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý lao động nhập cư 20
1.4 Kinh nghiệm quản lý lao động nhập cư của một số tỉnh, thành trong nước và một số bài học có giá trị tham khảo 24
1.4.1 Kinh nghiệm của một số tỉnh thành trong nước 24
1.4.1.3 Tỉnh Bình Dương 28
1.4.2 Một số bài học có giá trị tham khảo 32
Trang 6Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN 35
2.1 Phương pháp thu thập số liệu 35
2.2 Phương pháp luận 35
2.3 Các phương pháp nghiên cứu 36
2.3.1 Phương pháp trừu tượng hóa khoa học 36
2.3.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp 36
2.3.3 Phương pháp so sánh 37
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 38
Chương 3: THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG NHẬP CƯ VÀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NHẬP CƯ VÀO THÀNH PHỐ HÀ NỘI 39
3.1 Tổng quan đặc điểm kinh tế - xã hội Hà Nội 39
3.1.1 Kinh tế Thủ đô có bước phát triển nhanh, cơ cấu kinh tế ngày càng hiện đại và hiệu quả 39
3.1.2 Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, khoa học - công nghệ tiếp tục phát triển; các vấn đề xã hội bức xúc từng bước được giải quyết 46
3.2 Khái quát tình hình lao động nhập cư trên đại bàn thành phố Hà Nội 48
3.2.1 Cơ cấu độ tuổi và giới tính của lao động nhập cư vào Hà Nội 50
3.2.2 An sinh xã hội đối với lao động nhập cư vào Hà Nội 51
3.2.3 Đời sống, nhà ở của lao động nhập cư vào Hà Nội 52
3.2.4 Dịch vụ chăm sóc y tế và giáo dục cho lao động nhập cư 53
3.3 Thực trạng quản lý lao động nhập cư trên địa bàn Hà Nội 55
3.3.1 Các chủ trương, chính sách liên quan đến quản lý lao động nhập cư tại Hà Nội 55
3.3.2 Tổ chức, bộ máy quản lý lao động nhập cư tại Hà Nội 57
3.3.3 Triển khai thực hiện quản lý lao động nhập cư tại Hà Nội 58
3.3.4 Công tác kiểm tra, giám soát lao động nhập cư tại Hà Nội 60
Trang 73.4 Đánh giá chung và những vấn đề đặt ra trong quản lý lao động nhập cư đối với thành phố Hà Nội 61
3.4.1 Đánh giá chung về lao động nhập cư tại Hà Nội 61 3.4.2 Những vấn đề đặt ra trong quản lý lao động nhập nhập cư đối với thành phố Hà Nội 63
Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NHẬP CƯ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 68
4.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu lao động nhập cư của thành phố Hà Nội 68
4.1.1 Dự báo phát triển kinh tế, xã hội Hà Nội 68 4.1.2 Xu hướng và nhu cầu về lao động nhập cư vào Hà Nội 77 4.1.3 Định hướng quản lý lao động nhập cư trên địa bàn thành phố Hà Nội83
4.2 Một số giải pháp chủ yếu tăng cường quản lý lao động nhập cư trên địa bàn thành phố Hà Nội 84
4.2.1 Tăng cường và hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nhập cư, bộ máy quản lý đô thị, quản lý lao động nói chung và lao động nhập cư nói riêng
ở Hà Nội 84 4.2.2 Nâng cấp hệ thống thông tin phục vụ cho việc hoạch định chính sách quản lý và điều tiết lao động nhập cư vào Hà Nội 87 4.2.3 Lập và thực hiện quy hoạch, quy hoạch các khu công nghiệp tập trung,thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đồng bộ trong từng giai đoạn phát triển để điều tiết dòng lao động nhập cư 88 4.2.6 Xây dựng chính sách đối với lao động nhập cư hướng tới nâng cao mức sống và mở rộng cơ hội cho họ phát huy một cách hiệu quả năng lực của mình vì mục tiêu phát triển 91
KẾT LUẬN 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 86 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
7 GDP Tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product)
8 KCN Khu công nghiệp
10 LĐTBXH Lao động - Thương binh và xã hội
11 ODA Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development
Assistance)
12 PTCS Phổ thông cơ sở
13 PTTH Phổ thông trung học
14 UBND Ủy ban nhân dân
15 VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 93 Bảng 3.3: Một số chỉ tiêu hiện trạng về kinh tế của thành
phố Hà Nội
44
4 Bảng 3.4: Tỷ lệ và số lượng người di cư đến Hà Nội 49
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, di chuyển lao động vào các thành phố lớn
là xu hướng khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, cũng như ở Việt Nam Trong những năm gần đây dòng người di cư từ nông thôn ra các thành phố lớn ngày càng mạnh mẽ, với tốc độ tăng nhanh, quy mô ngày một lớn, nó
đã và đang tác động không nhỏ đến mỗi gia đình và cả quốc gia Dân số ở các thành phố lớn như Thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã có sự biến động mạnh Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự biến động này là người lao động từ các địa phương nhập cư vào thành phố để mưu sinh Theo thống kê của Viện khoa học Lao động – Xã hội thì người nhập cư chiếm
từ 25% đến 30% dân số của thành phố, trong đó 90% trong tuổi lao động (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2009)
Bên cạnh những người từ các địa phương nhập cư vào thành phố để mưu sinh, nước ta còn khoảng 75.000 lao động người nước ngoài, trong đó số người được cấp phép lao động chỉ chiếm khoảng 38% (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2009) Lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam chủ yếu là lao động phổ thông, họ vào Việt Nam qua đường tiểu ngạch hoặc con đường du lịch
Hà Nội là Thủ đô của đất nước, là trung tâm kinh tế, chính trị, khoa học
kỹ thuật, là đầu mối giao thông, trung tâm văn hóa, du lịch, thương mại, giáo dục và đào tạo của cả nước; cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa mạnh mẽ, trong những năm vừa qua việc di chuyển lao động, di cư từ ngoại vi vào trung tâm Hà Nội diễn ra ngày càng tăng Các số liệu từ nhiều nghiên cứu khác nhau đều cho thấy quy mô di cư vào Hà Nội trong những năm gần đây
có xu hướng tăng Nếu năm 1999, tỷ lệ nhập cư vào Hà Nội là 2,12% thì con
số này vào các năm 2004 là 2,96%, năm 2005 là 3,56%, năm 2010 tỷ lệ người
Trang 11nhập cư là 52.588 người; dự báo trong những năm tới số người di cư vào Hà Nội sẽ vẫn tiếp tục tăng lên Người lao động di cư vào Hà Nội tập trung chủ yếu trong độ tuổi lao động, trong đó nhóm tuổi từ 20 đến 29 chiếm hơn 50%,
30 đến 39 tuổi chiếm hơn 6%
Lao động di cư vào Hà Nội có những đóng góp tích cực không thể phủ nhận đối với sự phát triển của thành phố (cung ứng nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế - xã hội; thúc đẩy phát triển ngành dịch vụ; góp phần hình thành thị trường lao động phù hợp đối với một số ngành nghề đặc thù; đẩy mạnh sự trao đổi về kinh tế, văn hóa, kỹ thuật giữa vùng đô thị (nơi đến) và nông thôn (nơi đi); thúc đẩy việc hình thành các khu đô thị mới…), tuy nhiên cũng nảy sinh không ít những vấn đề phức tạp (về trật tự, an ninh xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục, đời sống của lao động nhập cư; năm 2007 có 2.159 vụ phạm pháp hình sự do người nhập cư gây ra chiếm 30,8% tổng số vụ phạm pháp hình sự trong toàn thành phố Hà Nội (Đinh Quang Hà, 2008)(4)) mà nếu không có giải pháp thỏa đáng để giải quyết sẽ cản trở sự phát triển, gây bất ổn chính trị,
xã hội cho thủ đô
Trong bối cảnh Hà Nội mở rộng địa giới hành chính và đẩy nhanh tốc
độ công nghiệp hóa, đô thị hóa v.v , lao động nhập cư vào Hà Nội sẽ ngày càng tăng, nảy sinh nhiều vấn đề về kinh tế, văn hóa, xã hội phức tạp - là thách thức lớn đối với Hà Nội nhất là công tác quản lý của Thành phố Lao
đô ̣ng nhâ ̣p cư k hông chỉ là vấn đề kinh tế mà nó còn là vấn đề chính sách xã
hô ̣i, vấn đề bình đẳng quyền lợi và nghĩa vu ̣ của người dân Đảm bảo quyền lợi của người lao đô ̣ng nhâ ̣p cư và khả năng đáp ứng nhu cầu của cơ sở ha ̣ tầng củ a thành phố có người nhâ ̣p cư sẽ ngày càng phức ta ̣p nếu không có chính sách phù hợp mang tính định hướng lâu dài từ sớm Do vậy để quản lý tốt lao động nhập cư vào thành phố Hà Nội đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị của thành phố Hà Nội, một thực tế hiện nay trong bộ máy tổ
Trang 12chức từ Trung ương đến địa phương chưa có một cơ quan quản lý nhà nước
về lao động nhập cư, chưa nghiên cứu, ban hành đầy đủ hệ thống chính sách
để quản lý thống nhất đối với lao động nhập cư, do vậy việc quản lý lao động nhập cư liên quan đến tất cả các cấp, các ngành gồm Công an, Tư pháp, Thống kê, Lao động - Thương binh và Xã hội, Y tế, Giáo dục, Văn hóa, Xây dựng, Giao thông…
Thực tiễn đòi hỏi phải nghiên cứu đầy đủ, thấu đáo, tìm ra những chính sách, giải pháp quản lý phù hợp nhằm phát huy mặt tích cực đồng thời hạn chế tối đa mặt tiêu cực để lao động nhập cư thực sự là nguồn lực quan trọng đóng góp hiệu quả vào công cuộc xây dựng phát triển Hà Nội - xứng tầm là thủ đô, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn của cả nước Chính vì vậy
đề tài “Quản lý lao động nhập cư tại thành phố Hà Nội” là rất cần thiết, đáp
ứng kịp thời nhu cầu hiện nay
Luận văn được thực hiện nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu: UBND
thành phố Hà Nội phải làm gì và làm như thế nào để quản lý tốt được lao động nhập cư
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu của luận văn là đánh giá thực trạng lao động nhập cư và quản
lý lao động nhập cư vào thành phố Hà Nội, đề xuất giải pháp tăng cường quản
lý lao động nhập cư đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thanh phố
và của lao động nhập cư
Để đạt mục tiêu trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý lao động
nhập cư vào thành phố trong nền kinh tế thị trường, rút ra một số bài học có giá trị tham khảo cho Hà Nội
- Đánh giá thực trạng lao động nhập cư và quản lý lao động nhập cư và làm rõ những vấn đề đặt ra trong quản lý lao động nhập cư đối với thành phố
Hà Nội
Trang 13- Dự báo xu hướng phát triển kinh tế - xã hội, xu hướng, nhu cầu lao động nhập cư vào thành phố Hà Nội và đề xuất phương hướng, giải pháp tăng cường quản lý lao động nhập cư để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội và của lao động nhập cư
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Người lao động nhập cư, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội có sử dụng lao động nhập cư; các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến chính sách lao động nhập cư; kinh nghiệm quản lý lao động nhập
cư của một số địa phương, thành phố lớn trong nước
4 Cấu trúc của đề tài
Đề tài được cấu tạo gồm làm 04 chương ngoài phần mở đầu, kết luận
và tài liệu tham khảo
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn
về quản lý lao động nhập cư vào thành phố trong nền kinh tế thị trường
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng lao động nhập cư và quản lý lao động nhập cư trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 4: Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý lao động nhập
cư trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NHẬP CƯ TẠI CÁC THÀNH
PHỐ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Liên quan đến chủ đề “Vấn đề lao động nhập cư vào các thành phố lớn” đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu và nhà quản lý trong và ngoài nước và đến nay đã có nhiều công trình, đề tài, bài báo đã được công
bố, tiêu biểu như sau:
Nguyễn Văn Chính (1996), “Vấn đề chợ lao động ở Hà Nội” đăng trên
Tạp chí Xã hội học đã hệ thống hóa một cách khái quát về lao động di cư,
những đặc điểm chủ yếu của lao động thời vụ ở Hà Nội Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò của việc hình thành một số "chợ lao động" đô thị
Công trình “Phân tích dòng di cư và tính chọn lọc của di cư vào thành phố lớn ở Việt Nam trong thập kỷ 90 (Thế kỉ XX) và thập kỉ đầu thế kỉ XXI”
của hai tác giả Đỗ Thị Minh Đức và Nguyễn Viết Thịnh (2008) đã phân tích
cụ thể về quy mô, những mô hình của dòng chuyển cư dưới tác động của quá trình đô thị hóa Với việc đề cập những nguyên nhân và biểu hiện cơ bản của tính chọn lọc trong các mô hình di cư nông thôn-thành thị và thành thị-thành thị, nghiên cứu đã cho thấy xu hướng gia tăng mạnh mẽ của dòng chuyển cư tập trung chủ yếu vào các thành phố lớn, cụ thể là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong hai thập niên giao thời
Bài viết của tác giả Đặng Nguyên Anh (1997) với chủ đề“Về vai trò di
cư nông thôn - đô thị trong sự nghiệp phát triển nông thôn hiện nay” trên Tạp chí Xã hội học đã nêu một số đặc điểm cơ bản của lao động di cư, vai trò của
lao động di cư đối với sự phát triển kinh tế-xã hội ở nông thôn và các đô thị
Trang 15Qua đó, tác giả đề xuất một số định hướng giải pháp về cơ chế chính sách đối với lao động di cư
Trong nghiên cứu của đề tài “Di dân ngoại thành vào thành phố Hà Nội: Vấn đề đặt ra và giải pháp”, tác giả Đinh Văn Thông chỉ ra rằng: Dòng
người di cư từ nông thôn ra các thành phố lớn ngày càng tăng Đây là một vấn
đề lớn mà chúng ta đang phải đối mặt, đặc biệt là thủ đô Hà Nội Một mặt, dòng người di cư vào Hà Nội có những mặt tác động tích cực như: góp phần đáp ứng nhu cầu về các loại lao động mà Hà Nội đang cần và qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Mặt khác, tình trạng di dân tự do cũng đang đặt ra những vấn đề cấp bách cần giải quyết như: vấn đề gia tăng sức ép về việc làm cho thành phố; quá tải về việc sử dụng các công trình cơ
sở hạ tầng Chính vì vậy, nghiên cứu đã đi sâu đề cập tới hai nhóm giải pháp
cơ bản: thứ nhất là nhóm giải pháp nhằm phát huy những tác động tích cực; thứ hai là nhóm giải pháp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của hiện tượng di dân vào Hà Nội
Báo cáo “Quản lý nhà nước đối với lao động di cư trong quá trình công nghiê ̣p hóa, đô thị hóa ở Thủ đô Hà Nội ” của tác giả Phạm Thị Hồng Điê ̣p
(2010) đã cho thấy cái nhìn tổng quan về dòng di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị dưới tác động ngày càng mạnh mẽ của công nghiệp hóa và
đô thị hóa ở Việt Nam Tác giả chỉ ra thực trạng lao động ở các vùng ngoại vi
và các tỉnh lân cận ồ ạt di cư vào thành phố Hà Nội do sức hút về nhiều mặt của thủ đô Trên cơ sở một số lý thuyết kinh tế học phát triển về tính quy luật của di chuyển lao động trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và ảnh hưởng của các lý thuyết đó đối với việc quản lý và hoạch định chính sách cho lao động nhập cư, báo cáo đã phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với lao động nhập cư ở Hà Nội, chỉ ra những giới hạn của phương pháp quản lý hành chính hiện tại và kiến nghị các biên pháp tăng cường điều tiết, quản lý
Trang 16lao động di chuyển vào Hà Nội bằng phương pháp kinh tế, phù hợp với kinh
tế thị trường, đáp ứng mục tiêu phát triển thủ đô bền vững
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trên đã đề cập đến lao động nhập
cư vào thành phố lớn trong đó có thành phố Hà Nội, đã làm sáng tỏ một số đặc điểm cụ thể của lao động nhập cư: đánh giá những tác động, ảnh hưởng của lao động nhập cư đến đời sống kinh tế xã hội; tình hình quản lý lao động nhập cư, đảm bảo công tác an ninh trật tự và phòng chống các tệ nạn xã hội; tác động của lao động nhập cư đến môi trường, đến vấn đề nhà ở Tuy nhiên đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về quản lý lao động nhập cư tại thành phố Hà Nội, làm rõ những vấn đề bức xúc đặt ra, nhất
là công tác quản lý đối với lao động nhập cư Đây là khoảng trống cần nghiên cứu và là vấn đề mà tác giả lựa chọn làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ
1.2 Một số vấn đề về lao động nhập cư vào thành phố
1.2.1 Khái niệm và phân loại lao động nhập cư vào thành phố
1.2.1.1 Khái niệm về di cư
Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu về di cư, song mỗi định nghĩa về di cư được xuất phát từ những khía cạnh khác nhau
- Hiểu theo nghĩa rộng: di cư là hiện tượng di chuyển nơi ở của bầy
đàn khi chuyển mùa; đây là hiện tượng tự nhiên thể hiện bản năng sinh tồn của động vật
- Hiểu theo nghĩa hẹp: di cư là hiện tượng di chuyển của dân cư ra khỏi
lãnh thổ hành chính mà họ đang cư trú gắn với việc thay đổi chỗ ở của họ Đây là một hiện tượng xã hội gắn liền với những thay đổi của tự nhiên và sự phát triển không đồng đều chủ yếu về kinh tế giữa các vùng, các quốc gia, các dân tộc
- Dưới góc độ dân số học: di cư là một trong ba bộ phận cấu thành dân
số của mỗi đơn vị hành chính và được phân biệt với quá trình sinh, tử bởi:
Trang 17+ Di cư không bị giới hạn về giới tính hay tuổi tác, chỉ bị giới hạn về mặt xã hội
+ Di cư không có hạn định tối đa; sự di chuyển của dân cư giữa các vùng, các khu vực chỉ ảnh hưởng về mặt xã hội hay ảnh hưởng đến sự phát triển từ trong vùng, trong khu vực
+ Di cư là quá trình không đồng nhất mà có sự khác biệt giữa các loại
và đặc điểm của các loại về mặt xã hội
- Dưới góc độ quản lý:di cư là sự dịch chuyển dân cư theo không gian
và thời gian từ nơi này đến nơi khác, trong đó:
+ Về không gian, đây là sự dịch chuyển địa điểm từ đơn vị hành chính này đến đơn vị hành chính khác vì mục đích kinh tế - xã hội, gắn với sự phát triến của đời sống
+ Về thời gian, đến nơi ở mới phải lâu dài
Xét cả về không gian và thời gian, di cư và nhập cư không tách khỏi nhau
Di cư ở không gian này, thời gian này sẽ dẫn đến nhập cư ở không gian khác, thời gian khác
1.2.1.2 Lao động nhập cư
Di cư của người lao động tất yếu dẫn đến nhập cư của người lao động
Nhập cư của người lao động được gọi là “lao động nhập cư” Lao động nhập
cư là hiện tượng người lao động đã từ bỏ đơn vị hành chính cũ, đến đơn vị hành chính mới để sống một thời gian lâu dài vì mục đích kinh tế - xã hội
Lao động nhập cư là lực lượng lao động phổ biến tại các thành phố lớn Thống kê của Viện Khoa học Lao động - Xã hội một cách tổng quát cho thấy lực lượng này:
- Chiếm từ 25% đến 1/3 dân số ở các đô thị lớn
- Tập trung nhiều ở các địa bàn vùng ven giữa nội thành và ngoại thành (khoảng 80%); một số lượng nhỏ hơn sống ở các địa bàn ngoại thành (khoảng
Trang 1815-20%) , chủ yếu tập trung vào khu vực có nhiều khu công nghiệp
- Đa phần dân nhập cư là những người trong tuổi lao động (khoảng 90%); tập trung nhiều hơn cả là số lao động trẻ độ tuổi dưới 30 (xấp xỉ 70%)
- Lao động nhập cư làm việc nhiều nhất trong các ngành, nghề không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao như giày da, may mặc, xây dựng, chế biến thực phẩm, thương mại dịch vụ Có khoảng 1/3 lượng lao động nhập cư sinh sống bằng nghề tự do như buôn bán nhỏ, bán hàng rong, chạy xe ôm
Bên cạnh lao động nhập cư từ các địa phương cả nước, Việt Nam hiện
có khoảng 75.000 lao động nước ngoài, trong đó, số người được cấp phép lao động chỉ chiếm 37,9% (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2009) Một phần lớn trong số lao động nước ngoài tại Việt Nam là lao động phổ thông, vào Việt Nam qua con đường “tiểu ngạch”, hoặc qua đường du lịch và “làm chui”
1.2.1.3 Phân loại lao động nhập cư
Phân loại lao động nhập cư theo hình thức tổ chức là sự phân loại dựa
trên kế hoạch nhập cư lao động của các cấp chính quyền Cách phân loại này
bao gồm: lao động nhập cư có tổ chức và lao động nhập cư không có tổ chức
- Lao động nhập cư có tổ chức:
Lao động nhập cư có tổ chức là người lao động nhập cư theo kế hoạch của các cấp chính quyền Sự nhập cư này được thực hiện theo các chương trình, mục tiêu của Nhà nước; được Nhà nước trực tiếp chỉ đạo, tố chức thực hiện Lao động nhập cư có tổ chức thường được sự hỗ trợ và giúp đỡ cần thiết
từ Nhà nước để người lao động ổn định đời sống, kinh tế - xã hội
- Lao động nhập cư không cổ tổ chức:
Lao động nhập cư không có tổ chức được phân chia thành hai loại: lao động nhập cư tự do và lao động nhập cư bất hợp pháp:
+ Lao động nhập cư tự do:
Trang 19Lao động nhập cư tự do là sự nhập cư tự do của người lao động, sự nhập cư không chịu sự tác động từ phía Nhà nước hoặc bên ngoài Có thể hiểu lao động nhập cư tự do là sự di chuyển đến nơi ở mới hoàn toàn do người lao động tự quyết định, bao gồm việc tự lựa chọn nơi đến, tự tổ chức di chuyển,
tự lo các khoản kinh phí, tự tạo cuộc sống mới tại nơi nhập cư trên cơ sở thực hiện một số các thủ tục đối với chính quyền sở tại nơi họ chuyển đến
+ Lao động nhập cư bất hợp pháp:
Lao động nhập cư bất hợp pháp là sự nhập cư của người lao động bỏ qua sự kiểm soát và không trình diện với chính quyền địa phương nơi đến Hình thức này thường gây ra những tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế -
xã hội, an ninh quốc phòng và môi trường nơi đến
1.2.2 Tác động của lao động nhập cư đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
1.2.2.1 Tác động tích cực từ lao động nhập cư vào thành phố
Dân nhập cư thường tạo sức ép rất lớn về dân số, ảnh hưởng đến cuộc sống và các điều kiện sinh hoạt ở thành phố, gây khó khăn cho việc quản lý nhân khẩu và phòng chống các tệ nạn xã hội .Tuy nhiên, vai trò tích cực của lao động nhập cư là không thể phủ nhận Nông thôn nước ta không đủ đất canh tác so với mức tăng trưởng dân số và lao động trong khi các ngành nghề phi nông nghiệp lại chưa phát triển Thông qua khối lượng hàng tiền mà người lao động mang, chuyển, gửi về cho gia đình, lao động nhập cư góp phần điều chỉnh lại sự chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị, góp phần thực hiện công bằng xã hội Lao động nhập cư không thể coi là mối
đe dọa thất nghiệp của người dân thành phố; trái lại, họ đã trở thành nguồn nhân lực không thể thiếu trong thị trường dịch vụ đa dạng ở đô thị, góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng của các trung tâm đô thị và công nghiệp Sự chuyển dịch lao động thông qua di cư là một tiềm năng quan trọng góp phần
Trang 20làm giảm sức ép lao động việc làm ở nông thôn, tạo nguồn thu nhập, góp phần ổn định xã hội
Nhìn nhận một cách khách quan, lao động nhập cư vào các thành phố lớn có những mặt tích cực không thể phủ nhận, biểu hiện cụ thể như sau:
Một là, lao động nhập cư là nguồn nhân lực quan trọng bổ sung cho thị
trường lao động của các thành phố lớn
Lao động nhập cư sau một thời gian sống và làm việc ở các thành phố lớn, nhất là trong các khu công nghiệp, được tiếp xúc và rèn luyện trong môi trường mới, trong những điều kiện làm việc mới, kỹ năng sống và kỹ năng lao động của họ dần được nâng cao Nhờ vậy, không ít người sau một thời gian lao động ở thành phố, khi về địa phương, họ trở nên năng động, sáng tạo hơn trong việc tổ chức cuộc sống gia đình cũng như tổ chức sản xuất tại quê hương, từ đó thoát nghèo, thậm chí không ít trường hợp vươn lên làm giàu ngay chính tại quê hương Điều này cũng góp phần quan trọng vào xóa bỏ dần
sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị
Hai là, giảm áp lực dư thừa lao động ở nông thôn
Hiện nay ở nước ta, tình trạng thiếu việc làm, dư thừa lao động đang diễn ra phổ biến, thậm chí nhiều nơi rất gay gắt - nhất là khu vực nông thôn Tình trạng dư thừa lao động có nhiều nguyên nhân như diện tích đất nông nghiệp ngày bị thu hẹp; gia tăng dân số nhanh (trung bình mỗi năm ở nước ta
có khoảng 1,2 triệu người bước vào độ tuổi lao động) trong khi đó các ngành nghề phi nông nghiệp lại chưa phát triển mạnh Mặt khác, do bị tác động bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên hiện nay nhiều cơ sở sản xuất, nhất là các doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn của nhiều tỉnh bị phá sản v.v Điều này tạo áp lực việc làm rất lớn cho khu vực nông thôn Do vậy, sự chuyển dịch lao động thông qua di cư là một tiềm năng quan trọng góp phần làm giảm sức ép lao động việc làm ở nông thôn, tạo nguồn thu nhập, góp phần ổn định xã hội
Trang 21Ba là, điều chỉnh lại sự chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và
thành thị, góp phần thu hẹp dần khoảng cách giàu - nghèo và từng bước thực hiện công bằng xã hội
Phần lớn lao động nhập cư có mục đích ra thành phố kiếm sống để cải thiện cuộc sống gia đình (chiếm tỉ lệ 89% tổng số người tham gia điều tra)
Do vậy, hầu hết trong số họ đều cho rằng: họ được hưởng lợi từ việc di chuyển từ nông thôn vào thành phố Tình trạng việc làm cũng như thu nhập của họ sau khi đến làm việc tại các thành phố lớn đều được cải thiện tốt hơn
so với trước khi di chuyển Theo điều tra, đại đa số người lao động di cư đã gửi tiền về cho gia đình ở nơi ở cũ Khoảng 2/3 số gia đình nhận được tiền gửi của lao động di cư và đã sử dụng khoản tiền đó cho chi tiêu hàng ngày, chi phí cho sức khỏe và giáo dục của con cái (Tổng cục Thống kê, 2007)
Nhờ có khoản tiền này, điều kiện sống và sinh hoạt của gia đình người lao động nhập cư phần nào đã được cải thiện Rõ ràng là lượng tiền gửi về cho gia đình của họ đang góp phần quan trọng vào việc điều chỉnh lại sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa nông thôn và thành thị, góp phần vào xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn; đồng thời góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn
Do được tiếp cận với nếp văn minh mới và lối sống của thành phố, nhiều lao động nhập cư đã và đang từng bước nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển cá nhân, nên đây là một trong những động lực thôi thúc họ rời chốn làng quê yên bình để ra thành phố kiếm việc làm gửi tiền về cho con ăn học
1.2.2.2 Những hạn chế từ lao động nhập cư vào thành phố
Bên cạnh những đóng góp nhất định đối với quá trình phát triển của các thành phố lớn, sự tồn tại một lực lượng lớn lao động nhập cư đã vượt quá khả năng quản lý và sức “cung” dịch vụ, “cầu” lao động của thành phố làm nảy
Trang 22sinh những vấn đề xã hội bức xúc, cũng như những tác động không tích cực
về một số mặt, đối với đời sống xã hội cho cả chính gia đình người lao động chuyển cư cũng như tới sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của các tỉnh, thành phố tập trung các khu công nghiệp nơi người lao động chuyển đến, cụ thể:
Một là, đối với gia đình người lao động
Mặt hạn chế của nó đã bộc lộ rõ nét: nhiều gia đình, khi người mẹ, người cha vắng nhà, thậm chí với nhiều gia đình nông dân hiện nay, cả cha và
mẹ cùng đến các thành phố kiếm sống, để lại con trẻ cho ông bà, họ hàng chăm sóc, hoặc chúng tự chăm sóc lẫn nhau Do không được chăm sóc, dạy
dỗ chu đáo cả về vật chất và tinh thần nên tỉ lệ trẻ ốm yếu, thất học, trẻ em hư đang có dấu hiệu ngày càng tăng trong các làng quê
Hai là, gia tăng sức ép về việc làm và nhà ở cho các thành phố lớn
Nhà ở cho những lao động nhập cư vào các thành phố lớn cũng là vấn
đề bức xúc hiện nay cần phải được quan tâm giải quyết; những ảnh hưởng của
di dân tự do đối với môi trường, kiến trúc đô thị: Khi chuyển đến nơi cư trú mới, người di cư có một số nhu cầu cần được đáp ứng, trước hết là nhà ở Tuy nhiên, do diện tích nhà ở của người dân thành phố thấp, việc tìm một nơi trú ngụ đối với người nhập cư là hết sức khó khăn Phần lớn dân di cư tự do tự tìm cho mình chỗ ở tại các “xóm liều” với những mái nhà được dựng lên tạm
bợ bằng những vật liệu rẻ tiền như giấy dầu, cót ép, tranh tre, nứa lá Các khu
cư trú này thường ở các vùng giáp ranh, gần ngoại thành, không có cơ sở hạ tầng kỹ thuật hoặc có song rất yếu kém Phần lớn là gần các sông hồ, các bãi rác, nghĩa địa, gầm cầu Đây cũng là khu vực ít bị kiểm soát, có sức thu hút đối với người nghèo đô thị cũng như người di dân tự do tìm việc kiếm sống Chính những điểm này đã gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý nhân khẩu, hộ khẩu
Trang 23Trên thực tế, hiện nay cơ sở hạ tầng của hầu hết các thành phố lớn chưa thật sự phát triển, nhiều nơi thậm chí xuống cấp nghiêm trọng; đặc biệt là các khu nhà chung cư được xây dựng từ hàng chục năm qua song không được đầu
tư sửa chữa, nâng cấp nên ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân đô thị Rõ ràng là nhu cầu về nhà ở của những người dân cư trú chính thức tại các thành phố lớn vẫn chưa được thoả mãn, lại cộng thêm lực lượng lao động nhập cư ngày càng đông đúc Vì vậy, sức ép về nhà ở đang ngày càng gia tăng đối với các thành phố lớn
Ba là, tệ nạn xã hội gia tăng ở nơi nhận lao động
Một bộ phận người di cư tự do vì những lý do khác nhau, kể cả những người vướng mắc đến pháp luật, có tiền án, tiền sự, lệnh truy nã … đã làm mất trật tự an ninh, nhất là ở nơi công cộng, giao thông đường phố làm nảy sinh thêm nhiều vấn đề phức tạp cho dân cư đô thị Do tình trạng cư trú chật chội, khó khăn, nhất là việc hình thành tự nhiên những xóm liều, xóm nhảy
dù, nên dẫn đến tình trạng một số lao động nhập cư bị xâm hại, quấy rối tình dục, nhất là lao động nữ, hoặc sa vào các tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc, rượu chè, trộm cắp, cướp của v.v tạo sự phức tạp, nhức nhối về an ninh trật tự Dân di cư tự do tới thành phố mưu sinh bằng nhiều loại hình công việc, trong đó có những công việc ở ngoài đường như bán hàng rong, bán vé
số, vận chuyển nguyên vật liệu, xe ôm Để cạnh tranh và muốn có thu nhập,
họ sẵn sàng lấn chiếm lòng đường vỉa hè Trong quá trình tham gia giao thông, nhiều người không hiểu biết luật lệ giao thông, không biết những quy định về giao thông như các khu vực cấm một số phương tiện lưu thông, hay thời gian cấm một số phương tiện lưu thông Họ bất chấp nguy hiểm, vận chuyển hàng hóa cồng kềnh, chở quá số người quy định, không thực hiện đúng các quy định về đảm bảo trật tự an toàn giao thông Tất cả những yếu
tố này là những nguyên nhân không nhỏ gây ra hiện tượng tắc nghẽn và tai
Trang 24nạn giao thông
Công tác quản lý lỏng lẻo cộng với thủ tục hợp đồng lao động của các doanh nghiệp đơn giản, thậm chí là người lao động dùng hồ sơ giả vẫn được nhận vào làm việc do doanh nghiệp quá thiếu nguồn lao động, nên các khu công nghiệp (KCN) là địa chỉ “tin cậy” của các đối tượng vi phạm pháp luật tìm đến
Bốn là, gia tăng tình trạng ô nhiễm môi trường
Một vấn đề thường nảy sinh cùng với dòng lao động nhập cư đang làm đau đầu các nhà quản lý - đó là vấn đề ô nhiễm môi trường trên địa bàn các thành phố lớn hiện đã vô cùng bức xúc
Dân số tăng nhanh đương nhiên kéo theo nhiều hệ lụy về bảo vệ môi trường Một khi cơ sở hạ tầng còn hạn chế, việc xử lý ô nhiễm môi trường còn kém thì lao động nhập cư sẽ góp phần đáng kể cho việc làm môi trường thêm
ô nhiễm: rác thải, nước thải, khói bụi do tăng lượng người tham gia giao thông; có thể nói rằng, ý thức của lao động nhập cư trong việc bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế Lao động nhập cư đã góp phần rất quan trọng cho
sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, nhưng chính họ cũng mang đến cho thành phố nhiều vấn đề bức xúc đặt ra cho công tác quản lý, đòi hỏi phải
có những giải pháp thích hợp
1.3 Quản lý lao động nhập cư vào thành phố
1.3.1 Khái niệm về quản lý lao động nhập cư
Lao động nhập cư là hiện tượng người lao động đã từ bỏ đơn vị hành
chính cũ, đến đơn vị hành chính mới để sống một thời gian lâu dài vì mục
đích kinh tế - xã hội Như vậy có thể hiểu “Quản lý lao động nhập cư là quá trình hoạch định chính sách, luật pháp, quy chế, kế hoạch và tổ chức bộ máy, triển khai thực hiện, kiểm tra giám sát các hoạt động di cư, nhập cư của người lao động, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội nhằm đạt mục
Trang 25tiêu quản lý nhà nước”
Cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đang diễn ra mạnh
mẽ ở Việt Nam, áp lực việc làm với khu vực nông thôn ngày càng gia tăng
làm cho dòng lao động di chuyển từ nông thôn ra thành thị cũng diễn ra mạnh
mẽ Với sức hấp dẫn về nhiều mặt, các thành phố lớn trong cả nước đã tạo ra
sự thu hút rất lớn đối với lực lượng lao động các vùng ngoại thành và các tỉnh lân cận đến tìm cơ hội việc làm và cải thiện cuộc sống Thực trạng này đã đặt
ra vấn đề cấp thiết trong quản lý nhà nước đối với lao động di cư, nhằm quản
lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực quan trọng này cho sự phát triển của thành phố
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành vốn rất cần thiết cho tăng trưởng kinh tế đã đưa đến những thay đổi trong công việc và tổ chức, từ nền kinh tế thuần nông trở thành nền kinh tế công nghiệp hóa và định hướng dịch
vụ Khi các nền kinh tế tăng trưởng từ mức thu nhập thấp đến mức thu nhập cao, sản xuất sẽ tập trung cao hơn theo không gian Cũng trong quá trình này,
sự chuyển đổi theo không gian của lực lượng lao động diễn ra theo hướng làm cho mật độ cao hơn, khoảng cách ngắn hơn và ít sự chia cắt hơn, vì vậy đô thị hóa diễn ra cũng là một tất yếu kinh tế
Công nghiệp hóa và đô thị hóa đóng vai trò thiết yếu trong tiến trình thúc đẩy phát triển kinh tế vững mạnh của tất cả các quốc gia Cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam, khu vực thành thị sẽ tiếp tục được mở rộng và vùng nông thôn ngày càng thu hẹp lại Áp lực việc làm với khu vực nông thôn ngày càng gia tăng làm cho dòng lao động di chuyển từ nông thôn ra thành thị cũng diễn ra mạnh mẽ Các thành phố thường là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, với nhiều cơ sở y tế, văn hóa, giáo dục hàng đầu, mạng lưới dịch vụ thuận tiện, hiện đại Với sức hấp dẫn về nhiều mặt, các thành phố đã tạo ra thu hút rất lớn đối với lực
Trang 26lượng lao động các vùng ngoại thành và các tỉnh lân cận đến tìm cơ hội việc làm và cải thiện cuộc sống
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa, vấn đề quản lý nhà nước đối với lực lượng lao động di chuyển
về thành phố được đặt ra cấp thiết nhằm quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực quan trọng này cho sự phát triển bền vững của các thành phố lớn, các trung tâm kinh tế - xã hội góp phần quan trọng trong sự phát triển chung của đất nước
1.3.2 Nội dung quản lý lao động nhập cư
1.3.2.1 Ban hành các chính sách liên quan đến quản lý lao động nhập cư
Trước hết, chính quyền các tỉnh, thành phố trong cả nước, cần triển khai và cụ thể hóa Luật Cư trú, phân công cụ thể một cơ quan quản lý nhà nước về vấn đề này vì hiện tại chưa có Bộ, ngành nào chịu trách nhiệm quản
lý Nhà nước về vấn đề lao động nhập cư vào thành phố và các khu công nghiệp
Điều chỉnh và hoàn thiện các văn bản chính sách đã ban hành và đang thực hiện nhưng có bất cập để quản lý dòng lao động nhập cư vào thành phố một cách có hiệu quả Hoạch định chính sách vĩ mô cũng như những biện pháp hữu hiệu dựa trên quy luật của lao động di cư là mưu sinh
Quản lý hành chính đối với dân cư và lao động di chuyển vào các tỉnh, thành phố trong cả nước nói chung được thực hiện thông qua hệ thống đăng
ký hộ khẩu Hệ thống đăng ký hộ khẩu đã có từ lâu ở Việt Nam, được chia thành 4 loại chính: KT1, KT2, KT3, KT4 Khác với người dân có hộ khẩu thường trú (KT1, KT2), người di cư được phân loại theo hai diện KT3 và KT4 Trường hợp đến thành phố từ một năm trở lên và có ý định cư trú dài hạn, có nhà ở hợp pháp (hoặc nhà thuê do chủ nhà hợp pháp bảo lãnh) sẽ được đăng ký KT3 và hàng năm cần phải đăng ký tạm trú lại Còn diện KT4
Trang 27là những người tạm trú với thời gian từ 6 tháng trở lên, phải ở nhà thuê hay nhà trọ, hiện có việc làm ở thành phố, nhóm này phải đăng ký lại 6 tháng/lần
Đa số nhân khẩu KT4 là công nhân khu công nghiệp và lao động ngoại tỉnh, thường tập trung ở các nhà trọ, nhà tạm
Lao động di cư là một xu thế tất yếu Chính sách quản lý lao động di cư tốt tạo điều kiện cho người lao động di cư có được sự thích ứng tốt nhất, để
họ có điều kiện sống và làm việc tốt hơn, đóng góp tích cực hơn vào quá trình phát triển của thành phố
1.3.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý lao động nhập cư
Trong tiến trình công nghiệp hóa mạnh mẽ như hiện nay, việc thành lập một cơ quan quản lý nhà nước về lao động di cư tự do là cần thiết nếu so sánh với vài chục nghìn lao động xuất khẩu mỗi năm đã cần phải có Cục Quản lý lao động ngoài nước Hiện nay, với hàng triệu lao động di cư tự do nội địa lại không có một đơn vị nào quản lý riêng về lĩnh vực này Do không
có một cơ quan nào tham mưu cho chính quyền các cấp trong việc xây dựng chính sách, quản lý người di cư nên các cách làm, các quyết định riêng rẽ của các tỉnh, thành phố tỏ ra manh mún và kém hiệu quả Gần đây nhất, việc Đà Nẵng tạm dừng nhập hộ khẩu cho lao động nhập cư để rà soát lại chất lượng dân nhập cư nhằm đề ra những quyết sách trong tương lai đã gây ra những luồng ý kiến khác nhau là một ví dụ Vì vậy, việc có một cơ quan quản lý thống nhất từ trung ương sẽ dễ dàng hơn cho việc giải quyết các vấn đề phát sinh của lao động di cư ở cả nơi họ ra đi và nơi họ đến
1.3.3.3 Triển khai thực hiện quản lý lao động nhập cư
Để giải quyết có hiệu quả áp lực ngày càng gia tăng về vấn đề lao động nhập cư tự phát vào đô thị, đến các địa phương có điều kiện sống tốt hơn cần
có sự chỉ đạo thống nhất ở cấp vĩ mô, sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp, các địa phương liên quan và bằng các biện pháp tổng hợp: giáo dục,
Trang 28thuyết phục, hành chính, kinh tế Chính quyền các tỉnh, thành phố cần có sự phối hợp với Bộ LĐTBXH, các Bộ ngành có liên quan… đề xuất giao Bộ LĐTBXH quản lý lao động nhập cư thống nhất từ Trung ương đến địa phương, tại các địa phương cơ quan quản lý đặt tại Sở LĐTBXH thì vấn đề lao động nhập cư mới được quan tâm đúng mức và có cách nhìn cân bằng, thỏa đáng cho cả công tác quản lý, phát triển đô thị lẫn người di cư, tăng cường được khả năng kiểm tra, giám sát…, qua đó có những thống kê, đánh giá, dự báo chính xác về lao động nhập cư để tham mưu cho chính quyền thành phố Hà Nội nói riêng và các thành phố trên cả nước đưa ra giải pháp quản lý hiệu quả Tuy nhiên, đây là vấn đề lớn phải có chủ trương chung của toàn quốc, trước mắt để đảm bảo trật tự, an toàn xã hội và không ngừng phát huy công sức đóng góp của mỗi người lao động, ngành LĐTBXH, Công an Thành phố, Cục Thống kê… các tỉnh, thành phố phải thường xuyên phối hợp, hướng dẫn và tăng cường kiểm tra các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố, thực hiện việc quản lý, đăng ký tuyển dụng lao động, thực hiện hợp đồng lao động và chính sách trả lương, trả công cho lao động nhập cư vào thành phố đang làm việc theo đúng quy định của Bộ Luật lao động
1.3.3.4 Kiểm tra, giám sát việc thực hiện quản lý lao động nhập cư
Nhà nước quản lý bằng công cụ kiểm tra, giám sát để thực hiện quản lý nhà nước về lao động nhập cư Kiểm tra, giám sát có vai trò quan trọng nhằm hướng hoạt động quản lý đi đúng quỹ đạo của nó, tạo điều kiện cho các cơ quan, đơn vị nắm vững chế độ, chính sách tránh những sai sót, khuyết điểm Với việc kiểm tra, giám sát theo định kỳ hoặc đột xuất giúp cho các cơ quan, đơn vị được giao quản lý lao động nhập cư lúc nào cũng thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được giao, hạn chế những vi phạm, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật
Trang 29Các cấp quản lý, cơ quan có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực của mình bằng công cụ kiểm tra, sử dụng công cụ này đạt hiệu quả Phải tránh tình trạng kiểm tra mang tính hình thức, chiếu lệ hoặc không có chính kiến rõ ràng trước những sai sót, khiếm khuyết và nhất là phải cương quyết với các vi phạm pháp luật, công cụ kiểm tra nếu sử dụng không đúng bản chất của nó thì sẽ có tác dụng làm sai lệch kết quả, làm ảnh hưởng đến hoạt động quản lý
Nhà nước quản lý lao động nhập cư thông qua các báo cáo, hội nghị sơ kết, tổng kết Các hình thức này cũng giúp cho việc đánh giá được hiệu quả của chính sách quản lý lao động nhập cư vào thành phố trong một thời gian nhất định, nhận diện được mặt mạnh, thiếu sót chung tại các cơ quan, đơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lao động nhập cư Qua sơ kết, tổng kết cho thấy kết quả việc thực hiện từ chủ trương, chính sách của nhà nước đưa vào thực tiễn cuộc sống, qua đó có những đánh giá, điều chỉnh cơ sở lý luận cho phù hợp với thực tiễn hoạt động quản lý lao động nhập cư vào thành phố
Quá trình hội nhập kinh tế, chính trị, văn hóa với các nước có tác động không nhỏ đến sự vận động bên trong của cơ cấu kinh tế và chiến lược phân
bố lao động, đòi hỏi nâng cao vai trò, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát của nhà nước Hơn nữa bằng công cụ kiểm tra, nhà nước định hướng, hoàn thiện các chính sách, hành lang pháp luật về quản lý lao động nhập cư đáp ứng yêu cầu về thực hiện thành công mục tiêu phát triển kinh tế-
xã hội đất nước nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý lao động nhập cư
Quản lý lao động nhập cư hay chính xác là quản lý Nhà nước về lao động nhập cư là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý mà cụ thể
là Nhà nước lên đối tượng quản lý ở đây là các dòng di cư và nhập cư của lực
Trang 30lượng lao động từ vùng này sang vùng khác nhằm đạt được mục tiêu quản lý trong từng giai đoạn phát triển kinh tế và ổn định chính trị xã hội Cũng như các hoạt động quản lý Nhà nước nói chung, công tác quản lý lao động nhập
cư vào các đô thị chịu tác động của các yếu tố cơ bản như thể chế, chính sách của Nhà nước liên quan đến lao động, di cư, nhập cư; Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý lao động nhập cư; Tốc độ đô thị hóa và quá trình quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội giữa các vùng miền… Cụ thể:
Thứ nhất, thể chế, chính sách là yếu tố tác động trực tiếp lên quá trình quản lý lao động nhập cư Theo Điều 20 (Luật cư trú), điều kiện đăng ký
thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương được quy định như sau:
Công dân thuộc một trong những trường hợp sau đây thì được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương:
- Có chỗ ở hợp pháp, trường hợp đăng ký thường trú vào huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố đó từ một năm trở lên, trường hợp đăng ký thường trú vào quận thuộc thành phố trực thuộc Trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố
đó từ hai năm trở lên;
- Được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình nếu thuộc một trong các trường hợp:
a) Vợ về ở với chồng; chồng về ở với vợ; con về ở với cha, mẹ; cha, mẹ
ở với anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ;
d) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc còn cha, mẹ nhưng
Trang 31cha, mẹ không có khả năng nuôi dưỡng về ở với ông, bà nội, ngoại, anh, chị,
em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ;
đ) Người thành niên độc thân về ở với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột;
e) Ông, bà nội, ngoại về ở với cháu ruột;
- Được điều động, tuyển dụng đến làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc theo chế độ hợp đồng không xác định thời hạn và có chỗ ở hợp pháp;
Bên cạnh đó, theo quy định tại Luật thủ đô năm 2012 Điều 19 thì phải tạm trú 3 năm mới được đăng kí thường trú tại Hà Nội Công dân thuộc một trong các trường hợp sau đây thì được đăng ký thường trú ở nội thành:
a) Các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 20 của Luật cư trú;
b) Các trường hợp không thuộc điểm a khoản này đã tạm trú liên tục tại nội thành từ 3 năm trở lên, có nhà ở thuộc sở hữu của mình hoặc nhà thuê ở nội thành của tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh nhà ở; đối với nhà thuê phải bảo đảm điều kiện về diện tích bình quân theo quy định của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội và được sự đồng ý bằng văn bản của tổ chức, cá nhân có nhà cho thuê cho đăng ký thường trú vào nhà thuê
Thứ hai, bộ máy quản lý, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về lao động nhập cư từ Trung ương đến địa phương Việc tổ chức tốt
một bộ máy triển khai có tính quyết định đến việc thực thi và hoàn thành các nhiệm vụ được giao Việc tổ chức bộ máy chuyên trách trong công tác quản lý nhà nước về lao động nhập cư là thực sự cần thiết, đây là cơ quan đảm nhận chức năng nghiên cứu, tham mưu cho Nhà nước các cơ chế, chính sách về lao động nhập cư, kiến nghị cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan và xây dựng quy định về kiểm tra, giám sát, tổ chức hướng dẫn thực hiện cho các địa
Trang 32phương
Đội ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý nhà nước về lao động nhập cư là những người trực tiếp tham gia xây dựng các văn bản pháp luật về lao động nhập cư Năng lực, trình độ của các cán bộ là một trong những yếu
tố ảnh hưởng quan trọng Do đó, độ ngũ cán bộ công chức làm công tác quản
lý đòi hỏi phải có tư duy khoa học, khả năng nghiên cứu và am hiểu các văn bản chính sách pháp luật của nhà nước, có kinh nghiệm thực tế Bên cạnh đó, ngoài việc tự nghiên cứu, học tập, bổ sung kiến thức thì trong quá trình công tác, đội ngũ cán bộ công chức nhà nước phải thường xuyên được kiểm tra, đánh giá lại năng lực và trình độ chuyên môn Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý
cử các cán bộ, công chức tham gia các khóa đào tạo, tập huấn để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ và tổ chức các chương trình tọa đàm, trao đổi nhằm chia sẻ kinh nghiệm thực tế Cùng với việc tự nghiên cứu, bổ sung kiến thức thì đội ngũ cán bộ, công chức cũng phải tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân, nâng cao bản lĩnh chính trị để không thể hiện ý chí chủ quan, không cửa quyền, tham ô, tham nhũng trong công việc Đồng thời, có thể nói hoạt động quản lý lao động nói chung và lao động nhập cư nói riêng là thể hiện mỗi quan hệ giữa con người với con người Nắm bắt tâm lý hành vi và lắng nghe những đòi hỏi, ý kiến phản hồi từ người lao động đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền và thực thi có hiệu quả các chính sách của Nhà nước về quản lý lao động nhập cư
Như vậy, năng lực, trình độ của các cán bộ công chức là yếu tố quan trọng góp phần thành công vào công tác quản lý nhà nước về lao động nhập
cư, do vậy, việc đào tạo con người nói chung hay đội ngũ cán bộ công chức nói riêng cần được quan tâm, chú trọng
Ngoài hai yếu tố cơ bản nêu trên, tốc độ và sự phát triển của các đô thị cũng có ảnh hưởng đến quá trình quản lý lao động nhập cư theo cả hướng tích
Trang 33cực và tiêu cực Ngoài đóng vai trò là nhân tố hút lao động nhập cư thì nó cũng đặt ra những vấn đề cần giải quyết hết sức cấp bách cho công tác quản lý lao động nhập cư
1.4 Kinh nghiệm quản lý lao động nhập cư của một số tỉnh, thành trong nước và một số bài học có giá trị tham khảo
1.4.1 Kinh nghiệm của một số tỉnh thành trong nước
1.4.1.1 Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị loại một, có số lượng dân số đông nhất cả nước, cũng là thành phố có số lượng lao động nhập cư nhiều nhất và phức tạp nhất hiện nay Để quản lý được dòng người nhập cư tự do vào kiếm việc làm và sinh sống, chính quyền Thành phố đã triển khai nhiều giải pháp
để tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực này như:
* Quy hoạch các khu công nghiệp tập trung
Quy hoạch các khu công nghiệp tập trung để tạo việc làm, thu hút lao động có chuyên môn, kỹ thuật Những năm gần đây Thành phố đã: Xây dựng hơn 17 khu công nghiệp tập trung; xây dựng các khu vực xây dựng nhà ở, kết hợp nhà ở và công nghiệp riêng lẻ không gây ô nhiễm; qua xây dựng khu công nghiệp, di dời các cơ sở sản xuất, đổi mới thiết bị phát triển sản xuất, vừa giải quyết tình trạng các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất gây ô nhiễm, vừa thu hút dân cư giãn ra ngoại thành
* Xây dựng và thực hiện giải tỏa công trình, di dời tái định cư số hộ
dân sống trên kênh rạch, vừa giải quyết tình trạng cư dân sống trong các nhà rách nát, lụp xụp tối tăm mất vệ sinh ở trên các kênh rạch, vừa thực hiện chỉnh trang đô thị, vừa di dân, giãn được mật độ dân cơ trong khu vực nội thành
* Tập trung đầu tư cải thiện về cơ sở hạ tầng phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của thành phố
Trang 34Thành phố tập trung đầu tư một số chương trình, dự án lớn: chương trình cấp nước, chương trình thoát nước, chương trình cải tạo vệ sinh môi trường, chương trình xây dựng nhà ở cho người lao động có thu nhập thấp và dân nghèo; đầu tư phát triển vận tải hành khách công cộng, tuyên truyền, vận động nhân dân đi lại bằng xe buýt; triển khai chính sách khuyến khích xã hội hóa trong việc đầu tư vào lĩnh vực y tế, giáo dục, dạy nghề, văn hóa…; tiếp tục chương trình cải tạo lưới điện cho các xã nông thôn…
* Hoàn thiện quy định, thể chế về nhập cư
Thành phố Hồ Chí Minh đã giao Sở LĐTBXH dự thảo “Quy định của
Ủy ban nhân dân thành phố về việc tuyển dụng quản lý lao động nhập cư vào thành phố”, xin ý kiến Bộ LĐTBXH, tổ chức nhiều cuộc hội thảo với các sở, ban, ngành, quận, huyện và lấy ý kiến rộng rãi nhân dân Tuy nhiên, đây là vấn đề lớn phải có chủ trương chung của toàn quốc Trước mắt để đảm bảo trật tự, an toàn xã hội và không ngừng phát huy công sức đóng góp của mỗi người lao động, ngành LĐTBXH thành phố, Công an Thành phố, Cục Thống
kê thành phố đã thường xuyên phối hợp, hướng dẫn và tăng cường kiểm tra các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố, thực hiện việc quản lý, đăng ký tuyển dụng lao động, thực hiện hợp đồng lao động
và chính sách trả lương, trả công cho lao động nhập cư vào thành phố đang làm việc theo đúng quy định của Bộ Luật lao động
* Quan tâm đến dân nhập cư tự phát vào thành phố
Dân cư tự phát vào Thành phố vừa là lực cản, đồng thời có lực đẩy là thực tiễn đã diễn ra Thực trạng của thành phố phải quan tâm, xử lý theo hướng tích cực và phát triển có lợi cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố và cả nước Dù ở biện pháp nào thì chúng ta cũng phải xem xét
cả mặt tích cự và tiêu cực, không chỉ quan tâm nhiều và chỉ thấy khía cạnh tiêu cực của dân, lao động nhập cư tự phát trong vấn đề quản lý đô thị: nạn
Trang 35thất nghiệp tăng, cơ sở hạ tầng quá tải, các vấn đề vệ sinh an ninh trật tự, an toàn xã hội
1.4.1.1 Tỉnh Đồng Nai
Đồng Nai là m ột tỉnh lớn của miền Đông N am Bộ, có vị trí khá quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế ở khu vực phía Nam Thành phố Biên Hòa thuộc tỉnh Đồng Nai là thành phố có nhiều khu công ng hiê ̣p, cụm công nghiê ̣p lớn Với tốc đô ̣ phát triển của nền kinh tế thi ̣ trường và của quá trính công nghiê ̣p hóa nên trong những năm gần đây , mă ̣c dù văn phòng, trụ sở của nhiều doanh nghiê ̣p , nhiều khu công nghiê ̣p nằm ta ̣i thàn h phố Biên Hòa nhưng cơ sở làm viê ̣c đã lan tỏa nhiều huyê ̣n của tỉnh Chính tại các cơ sở làm viê ̣c này, thực tra ̣ng viê ̣c làm , đời sống của người lao đô ̣ng nhâ ̣p cư được thể hiê ̣n khá rõ nét
Theo điều tra mới nhất năm 2011, cả tỉnh Đồng Nai có 13.256 doanh nghiê ̣p, trong đó doanh nghiê ̣p nhà nước 132, doanh nghiê ̣p tư nhân và công
ty TNHH là 12.147 cơ sở ; doanh nghiê ̣p có vốn đầu tư nước ngoài là 977 Chính vì lẽ đó mà nơi đây đã thu hút số lượng lao độ ng nhâ ̣p cư cao nhất phía nam Do vậy để quản lý tốt lao động nhập cư, quản lý và sử dụng hiệu quả lao động nhập cư, bảo đảm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn, UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành Chỉ thị số 12/2007/CT-UBND ngày 23/02/2007 về công tác quản lý lao động nhập cư trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, cụ thể như sau:
1) Khi có lao động nhập cư chuyển đến cư trú, công an tỉnh có trách nhiệm chủ động tổ chức đăng ký quản lý theo quy định của Nghị định 51/CP
và Nghị định 108/2005/NĐ-CP Thống kê đầy đủ, chính xác số nhân hộ khẩu được đăng ký thường trú, tạm trú theo từng địa bàn: thời gian chuyển đến; nơi
cư trú trước khi chuyển đến, độ tuổi, giới tính của nhân khẩu chuyển đến giải quyết những vấn đề về ANTT liên quan đến lao động nhập cư
Trang 362) Sở Lao động- Thương binh và Xã hội có trách nhiệm thường xuyên
tổ chức điều tra, thống kê đầy đủ, chính xác nghề nghiệp, việc làm, thu nhập, đời sống của lao động nhập cư, các đối tượng chính sách xã hội trong lao động nhập cư theo từng khu vực, địa bàn, đối tượng, tình trạng chuyển dịch lao động giữa các khu vực, nhóm ngành nghề…
3) Ban Quản lý các khu công nghiệp chịu trách nhiệm quản lý và thống kê đầy đủ chính xác về lao động nhập cư làm việc trong các khu công nghiệp, số tuyển vào, nghỉ việc; nghề nghiệp, nơi làm việc, tình hình thực hiện chế độ chính sách của các doanh nghiệp đối với lao động nhập cư, những vấn đề về ANTT; định kỳ 6 tháng, 1 năm thông báo đến các Sở, ban, ngành
có liên quan, các địa phương về tình hình liên quan đến lao động nhập cư trong các khu công nghiệp
4) Sở Tư pháp chịu trách nhiệm chủ trì triển khai tuyên truyền, phổ biến pháp luật đối với lao động nhập cư trước hết là lao động trong các khu công nghiệp tập trung và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn tỉnh nhằm nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật, phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, tệ nạn xã hội và xây dựng nếp sống văn minh công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường sống và làm việc Giải quyết các vướng mắc vấn đề hộ tịch đối với lao động nhập cư theo quy định của pháp luật hiện hành
5) UBND các huyện, thị xã Long Khánh, thành phố Biên Hòa theo thẩm quyền chịu trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng quản lý Nhà nước đối với lao động nhập cư cư trú, làm việc, sinh sống trên địa bàn Tổ chức kiểm tra nắm chắc số liệu về lao động nhập cư sinh sống, làm ăn, những vấn
đề xã hội và an ninh trật tự phát sinh có liên quan đến lao động nhập cư Định
kỳ sơ kết đánh giá tình hình tác động ảnh hưởng của lao động nhập cư đối với việc phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo ANTT trên địa bàn
Trang 376) Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Quản lý các khu công nghiệp, các Sở, ngành liên quan, UBND các huyện, thị xã Long Khánh, thành phố Biên Hòa trong công tác quản lý lao động nhập cư theo quy định của Nghị định số 51/CP, Nghị định sô 108/2005/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký, quản lý hộ khẩu và Chỉ thị này
7) Định kỳ cuối quý II và quý IV hàng năm, Sở Tư pháp, Sở Lao động
- Thương binh và Xã hội, Ban Quản lý các khu công nghiệp, các Sở, ngành liên quan, UBND các huyện, thị xã Long Khánh, thành phố Biên Hòa báo cáo tình hình, kết quả công tác quản lý lao động nhập cư theo quy định tại Chỉ thị này cho Công an tỉnh để tổng hợp báo cáo về UBND tỉnh Cuối tháng 12 hàng năm, Công an tỉnh chủ trì họp với lãnh đạo các Sở Tư pháp, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Ban Quản lý các khu công nghiệp, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã Long Khánh, thành phố Biên Hòa để kiểm điểm rút kinh nghiệm, đề xuất khen thưởng và đề ra các giải pháp tăng cường công tác phối hợp quản lý lao động nhập cư nhằm đảm ANTT và phát triển kinh tế xã hội trên phạm vi toàn tỉnh
1.4.1.3 Tỉnh Bình Dương
Cũng như thành phố Biên Hòa của Đồng Nai, thành phố Thủ Dầu Một thuộc tỉnh Bình Dương là thành phố có năng lực thu hút vốn đầu tư của nước ngoài để hình thành nên các khu công nghiệp lớn Các khu công nghiệp này hoạt động ở các huyện ven thành, là nơi làm việc chủ yếu của nguồn nhân lực với danh nghĩa là nhập cư vào thành phố
Đối với nguồn lao động của tỉnh Bình Dương, lao động nhập cư chiếm một tỷ lệ lớn, đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế của tỉnh này Lao động ngoại tỉnh đến Bình Dương chủ yếu là lao động nông thôn đi kiếm việc làm nên tập trung hầu hết ở các khu công nghiệp của tỉnh, số lượng lao động tự do, tham gia vào các ngành kinh tế khác không nhiều
Trang 38Bình Dương hiện có 28 khu công nghiệp với tổng diện tích 8.877 ha, phân bổ ở địa bàn 4 huyện: Bến Cát, Dĩ An, Thuận An, Tân Uyên Tính đến tháng 9/2009 toàn tỉnh đã có 24 khu công nghiệp đi vào hoạt động, trong đó chỉ có 7 khu công nghiệp đưa vào hoạt động trên 100% diện tích, còn lại hầu hết các khu công nghiệp còn lại đều là các phần đất cho thuê, tỷ lệ cho thuê bình quân 49.3% Đặc biệt có khu công nghiệp cho thuê lấp kin 90% diện tích đất như KCN Sóng Thần 1 và 2 Đồng An, Bình An, Bình Đường, Việt Hương …
Các khu công nghiệp đã thu hút 941 dự án FDI với số vốn 5.947 tỷ USD (chiếm 53% tổng số dự án và 59% tổng vốn FDI của tỉnh) và 297 doanh nghiệp trong nước với vốn đăng ký 6.509 tỷ đồng, trong số dự án đi vào hoạt động có 592 dự án FDI và 194 dự án trong nước; giải quyết việc làm cho trên 222.000 lao động
Như vậy về tiềm năng phát triển công nghiệp của tỉnh hết sức lớn Để đáp ứng được nhu cầu phát triển công nghiệp nói riêng, phát triển kinh tế nói chung, tỉnh Bình Dương cần một nguồn lực lao động lớn Hiện tại nguồn lực lao động công nghiệp ở Bình Dương dựa chủ yếu vào lao động ngoại tỉnh Trong tổng số 220.000 lao động ở các khu công nghiệp, lao động nhập cư chiếm 200.000 người (90%)
Có thể thấy, lao động nhập cư là nguồn lao động quan trọng đối với tỉnh Bình Dương Nhìn chung toàn tỉnh, số lượng lao động nhập cư tham gia vào các ngành kinh tế của tỉnh chiếm tỉ lệ khoảng trên 50% (kể cả số người ngoài độ tuổi lao động chuyển đến), riêng trong các KCN số lượng lao động nhập cư càng cao, chiếm tỷ lệ gần như tuyệt đối là 90% Với một tỉnh có số lượng lao động nhập cư đông như vậy, bên cạnh thuận lợi, tạo điều kiện cho tỉnh trong việc phát triển kinh tế, cũng đặt ra cho tỉnh những yêu cầu phải giải quyết để đảm bảo cho lao động nhập cư có điều kiện sống, làm việc ổn định
Trang 39lâu dài trên địa bàn của tỉnh Giải quyết tốt các yêu cầu này sẽ đảm bảo cho sự phát triển bền vững của tỉnh trong nhiều năm tới, khi lực lượng lao động nhập
cư có xu hướng tăng và trở thành lực lượng chiếm tỷ lệ cao trong nguồn lực lao động của tỉnh
Với lực lượng lao động nhập cư đông đảo, là nguồn lực lao động quan trọng của tỉnh để lực lượng lao động này ổn định lâu dài, tỉnh không chỉ lo cho lao động mà còn phải đảm bảo cả những điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần để họ có thể yên tâm làm việc Để quản lý, sử dụng lao động nhập
cư, trong những năm qua chính quyền tỉnh Bình Dương đã chỉ đạo, hỗ trợ trên nhiều mặt
Một là, bồi dưỡng đào tạo nghề
Bên cạnh việc một số doanh nghiệp FDI, do thiếu lao động đã tự mở các lớp bồi dưỡng dạy nghề và tuyển lao động vào làm việc, tỉnh Bình Dương
đã chủ động mở ra hệ thống dạy nghề trên địa bàn tỉnh Trong những năm gần đây, công tác này đã có sự phát triển: từ 18 cơ sở đào tạo nghề được mở ra từ năm 2001, đã tăng lên 40 cơ sở vào năm 2008 và 42 cơ sở vào năm 2010 Các
cơ sở dạy nghề được mở ra chủ yếu ở gần các khu công nghiệp, các khu kinh
tế nằm trong quy hoạch các dự án, các trục giao thông lớn, ở các trung tâm thành phố Thủ Dầu 1, Dĩ An, Thuận An Các ngành nghề đào tạo đa ngành, nhưng tập trung chủ yếu vào một số ngành có nhu cầu lao động cao như: Tin học viễn thông: 21,34%, Chế tạo vận hành máy móc thiết bị 18,54%, Y dược 11,68%, Kinh tế 10% Theo đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của tỉnh tăng dần qua từng năm: năm 2005 đạt 38%, năm 2009 đạt 55% và năm 2010 đạt 60% Kết quả đào tạo nghề đã bổ sung được nguồn lực lao động lớn cho tỉnh, trong đó đặc biệt phục vụ cho sự phát triển các KCN, khu chế xuất
Hai là, nhà ở cho người lao động
Trang 40Đối với lao động nhập cư, nhà ở cho người lao động được coi là vấn đề bức xúc nhất, đặc biệt đối với lao động ở các khu công nghiệp Ở tất cả các khu công nghiệp trong tỉnh Bình Dương, vấn đề nhà ở cho người lao động luôn được đặt lên hàng đầu và là một trong những địa phương thực sự chú trọng đến vần đề này Tỉnh đã dành những diện tích lớn xây dựng các khu nhà cho công nhân lao đô ̣ng; có KCN đã tự xây dựng nhà ở phục vụ cho lao đô ̣ng của các doanh nghiê ̣p, song giải quyết nhà ở cho người lao đô ̣ng vẫn là viê ̣c khó khăn của tỉnh Bình Dương
Lao đô ̣ng nhâ ̣p cư hầu hết không có nhà ở, phải thuê phòng trọ Các khu phòng tro ̣ xung quanh các KCN đều đông người, châ ̣t chô ̣i, không đủ tiê ̣n nghi sinh hoa ̣t song cũng không đáp ứng được đủ nhu cầu của người lao đô ̣ng nhâ ̣p cư Đối tượng trọ không chỉ có lao động ở các KCN mà còn bao gồm công nhân, lao đô ̣ng ở các ngành kinh tế khác , học sinh, sinh viên các trường
đa ̣i ho ̣c, cao đẳng trên đi ̣a bàn Vì vậy giá nhà trọ tăng , nhưng điều kiê ̣n sinh hoạt, an ninh trâ ̣t tự không đảm bảo
Theo thống kê của ngành chức năng , toàn tỉnh Bình Dương đã có 184 doanh nghiê ̣p xây nhà cho công nhân lao đô ̣ng, song trên thực tế chỉ mới phu ̣c
vụ được cho chuyên gia và cán bộ quản lý Trong số đó có trên 80 doanh nghiê ̣p xây nhà tro ̣ hoă ̣c hỗ trợ tiền thuê nhà tro ̣ cho công nhân lao đô ̣ng
Đối với các doanh nghiệp trú đóng ngoài KCN, cụm công nghiệp , có hơn 60 doanh nghiê ̣p xây nhà cho công nhân lao đô ̣ng , giải quyết nhà cho hàng ngàn lao động Với những doanh nghiê ̣p không xây dựng được nhà ở đã thuê phòng tro ̣ bên ngoài cho công nhân, lao đô ̣ng
Với người nhâ ̣p cư có điều kiê ̣n mua đất xây nhà , mua nhà ở trên đi ̣a bàn tỉnh, các cơ quan chức năng của tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi , đảm bảo đúng quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t giúp người lao đô ̣ng an cư lập nghiê ̣p
Ba là, viê ̣c làm và thu nhâ ̣p