Một đề tài fulltext về kiến thức thái độ thực hành phòng chống tay chân miệng của giáo viên trường mầm non tại Bình Chánh. Kết quả cho thấy một số kiến thức về phòng chống TCM có tỷ lệ nhân viên có kiến thức đúng vẫn chưa cao. Cụ thể kiến thức về nguyên nhân bệnh chỉ đạt 56%, kiến thức về đường lây truyền chỉ đạt 54,7%, kiến thức về triệu chứng ban đầu là 46,2%. Đây là các kiến thức đòi hỏi nền tảng về y học do đó nhân viên tại nhà trẻmẫu giáo có thể chưa nắm vững được. Về thực hành đúng phòng chống TCM, hầu hết các thực hành của cán bộ quản lý cũng như của giáo viên đều có tỷ lệ đạt rất cao. Tuy nhiên thực hành về sử dụng dung dịch khử khuẩn môi trường mặc dù cho tỷ lệ đạt cao nhưng trong thực tế tỷ lệ đạt có thể không cao vì nhân viên của nhà trẻmẫu giáo vẫn thực hành chưa thường xuyên và mang tính chất đối phó là chính. Thực hành rửa tay cho trẻ và bản thân giáo viênbảo mẫu có tỷ lệ đạt cao nhưng trong thực tế cũng cho thấy việc tuân thủ rửa tay của giáo viênbảo mẫu vẫn chưa được thường xuyên. Đối với hai loại thực hành này để biết được tỷ lệ thực hành đúng một cách chính xác cần tiến hành một nghiên cứu khác với cách thức đo đạc thực hành cụ thể hơn, chi tiết hơn Đề tài có trích dẫn Endnote đầy đủ, thích hợp làm tài liệu tham khảo cho sinh viên y dược
Trang 1Trang
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại Việt Nam, tình hình dịch tay chân miệng (TCM) hiện nay vẫn tiếp tục diễnbiến hết sức phức tạp trên phạm vi cả nước Theo báo cáo của Bộ Y Tế, tính từ ngày1/1/2012 đến ngày 15/3/2012 đã ghi nhận được 12.442 trường hợp mắc tại 60/63tỉnh/thành phố, trong đó có 11 trường hợp tử vong Số mắc này cao gấp 7 lần so vớicùng kỳ năm 2011[26]
Bệnh TCM có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặcbiệt là nhóm trẻ dưới 3 tuổi Ở nhóm tuổi này, trẻ thường được gửi đi nhà trẻ/mẫu giáo.Chính vì vậy, nhà trẻ/mẫu giáo trở thành một môi trường lây truyền quan trọng, nhất làtrong các đợt bùng phát dịch TCM Theo thống kê của Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội,tính đến ngày 30/3/2012 Hà Nội có 1.367 trường hợp mắc TCM thì có đến 594 trẻ(chiếm tỷ lệ 43,5%) có đi nhà trẻ/mẫu giáo[1] Còn theo điều tra của Viện Pasteur Thànhphố Hồ Chí Minh tại 5 tỉnh thành khu vực phía Nam bao gồm thành phố Hồ Chí Minh,Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương và Bến Tre cho thấy tỷ lệ ca mắc là trẻ ở nhà
là 76,92%, và tỷ lệ nhóm trẻ đi nhà trẻ là 22,56%.[27] Riêng tại Thành phố Hồ ChíMinh, tính đến ngày 2/4/2012, toàn thành phố có 1.942 trường hợp mắc TCM nhập viện.Dịch bệnh đang có chiều hướng gia tăng tại khu vực trường học Trong tháng 1 chỉ có 3trường có học sinh mắc bệnh, mỗi trường chỉ có 1 ca thì tháng 2 đã tăng lên 13 trường,trong đó có 10 trường có 1 ca/trường và 3 trường có từ 2 ca/trường trở lên Còn tháng 3,
số trường có từ 2 ca bệnh trở lên đã tăng lên 7 trường, ngoài ra còn 3 trường có 1ca/trường
Từ thực tế trên cho thấy, một trong những biện pháp phòng chống dịch TCMbùng phát trong cộng đồng chính là phòng chống dịch TCM trong các nhà trẻ/mẫu giáo
Để thực hiện điều này, ngành y tế tại các tỉnh/thành phố trong cả nước cần tăng cườnggiám sát chặt chẽ các nhà trẻ/mẫu giáo trên địa bàn nhằm phát hiện sớm các ca bệnh,
Trang 3đồng thời dập tắt nhanh chóng không cho dịch lan rộng Bên cạnh đó, điều quan trọngnhất là phải tăng cường tập huấn kiến thức về phòng chống TCM cho nhân viên thuộccác nhà trẻ/mẫu giáo Đây là đối tượng đóng vai trò quan trọng trong công tác phòngchống dịch TCM vì họ là người trực tiếp chăm sóc trẻ, có thể giúp trẻ giảm nguy cơ mắcbệnh TCM, một bệnh lây truyền chủ yếu do tiếp xúc trực tiếp với virus tiết ra từ dịchmũi, họng, nước bọt, dịch tiết từ các nốt phòng, và phân bệnh nhân.
Huyện Bình Chánh là một trong những quận đông dân và có mật độ nhà trẻ/mẫugiáo cao so với các quận/huyện khác của thành Phố Hồ Chí Minh Hiện nay số dân tạihuyện là 430.272 người trong đó có đến 113 nhà trẻ/mẫu giáo công lập và tư thục Theochỉ thị của Sở Y tế thành phố về phòng chống TCM, Trung tâm Y tế dự phòng huyệnBình Chánh hằng năm đều tổ chức truyền thông và tập huấn cho giáo viên, nhân viên tạicác trường mẫu giáo/nhà trẻ trên địa bàn huyện Tuy nhiên công tác truyền thông, tậphuấn kiến thức phòng chống TCM còn gặp nhiều khó khăn Hằng năm, đều có trườngmẫu giáo/nhà trẻ mới được cấp phép hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu gửi trẻ ngày càngcao của công nhân tại các khu công nghiệp Ngoài ra, do nhiều khó khăn khách quan,công tác tập huấn hằng năm đôi khi không thể thực hiện được Điều này dẫn đến việcmột số lượng không nhỏ các nhân viên, đặc biệt là bảo mẫu, cấp dưỡng không được tậphuấn kiến thức về phòng chống TCM Đây là một trong nhiều yếu tố nguy cơ có thể dẫnđến dịch TCM bùng phát trong nhà trẻ/mẫu giáo do nhân viên chưa được trang bị đầy đủkiến thức về phòng chống TCM
Nghiên cứu này được tiến hành trên đối tượng là nhân viên của các nhà trẻ/mẫugiáo trên toàn bộ địa bàn huyện Bình Chánh Mục đích chính của nghiên cứu này lànhằm xác định kiến thức, thực hành của giáo viên sau khi đã được tập huấn như thế nào
từ đó sẽ đề xuất một số biện pháp thích hợp hơn cho ngành y tế cũng như ngành giáodục của huyện nhằm tăng cường hiệu quả của công tác truyền thông, tập huấn về phòngchống TCM tại huyện Bình Chánh
Trang 4Câu hỏi nghiên cứu
Tỷ lệ kiến thức đúng và thực hành đúng của nhân viên các nhà trẻ/mẫu giáo vềphòng chống TCM là bao nhiêu? Kiến thức và thực hành của nhân viên các nhà trẻ/mẫugiáo trên địa bàn huyện có liên hệ như thế nào với các yếu tố liên quan bao loại trườngcông tác, trình độ học vấn, thâm niên công tác, vị trí công tác của nhân viên?
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Xác định tỷ lệ nhân viên có kiến thức đúng và thực hành đúng về phòng chốngTCM và mối liên quan giữa các tỷ lệ này với các đặc điểm dân số, xã hội của nhân viêncác nhà trẻ/mẫu giáo tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh năm 2012
4. Xác định mối liên quan giữa kiến thức đúng về phòng chống TCM với loạitrường công tác, trình độ học vấn, thâm niên công tác, vị trí công tác, tuổi vàgiới của nhân viên các nhà trẻ/mẫu giáo tại huyện Bình Chánh
Trang 5DÀN Ý NGHIÊN CỨU
Kiến thức về phòng chống TCM của nhân viên nhà trẻ/mẫu giáo
Kiến thức về nguyên nhân của bệnh TCM
Kiến thức về đối tượng dễ mắc bệnh TCM
Kiến thức về môi trường dễ lây truyền bệnh TCMKiến thức về đường lây truyền bệnh TCM
Kiến thức về triệu chứng ban đầu của bệnh TCMKiến thức về triệu chứng đặc trưng của bệnh TCMKiến thức về các biện pháp phòng chống bệnh TCMKiến thức về vaccin phòng chống bệnh TCM
Trang 6Thực hành về phòng chống TCM của nhân viên nhà trẻ/mẫu giáo
Rửa tay trước và sau khi vệ sinh cho trẻRửa tay cá nhân của người chăm sóc trẻCách xử trí trẻ khi trẻ bị mắc TCM
Sử dụng Cloramin B để khử khuẩn môi trườngThực hành chung của nhà trẻ/mẫu giáo
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN
1.1 Đặc điểm bệnh học của TCM
1.1.1 Tác nhân gây bệnh
Bệnh TCM là một bệnh do các Enterovirus thuộc loại RNA virus gây nên Các Enterovirus có thể gây ra bệnh bao gồm Coxsackie virus A5, A9, A10, A16, B1, B3,
Trang 7Human Enterovirus 71 (HEV71) và kể cả Herpes Simplex Virus (HSV) cũng có thể gây bệnh Tuy nhiên tại Việt Nam tác nhân gây bệnh TCM chủ yếu là Coxsackie virus A16 (CA16) và Human Enterovirus 71 (EV71)[4].
1.1.2 Nguồn lây bệnh
Nguồn lây bệnh chính là người mắc bệnh, và cả những người mang virus nhưng không có triệu chứng
1.1.3 Đường lây truyền
Bệnh TCM lây truyền qua 3 đường chính:
− Đường tiêu hoá: nước uống, bàn tay của trẻ hoặc của người chăm sóc trẻ, các đồdùng, đặc biệt là đồ chơi và vật dụng sinh hoạt hàng ngày như chén, bát, đĩa, thìa,cốc bị nhiễm vi rút từ phân của bệnh nhân TCM
− Dịch nốt phỏng, vết loét từ bệnh nhân lây sang cho người lành
− Dịch tiết đường hô hấp, nước bọt của bệnh nhân tiếp xúc với người lành
1.1.4 Chẩn đoán bệnh TCM
Triệu chứng lâm sàng của bệnh
Trong giai đoạn khởi phát, triệu chứng ban đầu có thể là sốt nhẹ, mệt mỏi, chán
ăn, đau họng, tiêu chảy vài lần trong ngày
Trong giai đoạn toàn phát, bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng điển hình củabệnh bao gồm:
− Loét miệng: Xuất hiện các vết loét hay phỏng nước có đường kính 2-3 mm Vết loétmàu vàng có quầng đỏ xung quanh và gây đau đớn cho bệnh nhân Vị trí loét thường gặp
là ở môi, niêm mạc miệng, lưỡi, vòm hầu, lưỡi gà[9, 32]
− Phát ban dạng phỏng nước: Các ngoại ban ở bàn tay, bàn chân với vị trí thường thấy
là ở mặt lòng bàn tay, bàn chân, và kẽ ngón Ngoại ban có thể gây ngứa hoặc không kèmtriệu chứng gì khác Khởi đầu là các chấm đỏ sau đó nhanh chóng tiến triển thành cácbóng nước có vách dày màu xám trên nền một quầng đỏ ở xung quanh Ở trẻ nhỏ, tổnthương có thể lan trên vùng đùi, mông và thân mình
Trang 8Các xét nghiệm theo dõi phát hiện biến chứng:
- Khí máu khi có suy hô hấp
- Troponin I, siêu âm tim khi nhịp tim nhanh ≥ 150 lần/phút, nghi ngờ viêm cơ timhoặc sốc
Chụp cộng hưởng từ não: Chỉ thực hiện khi có điều kiện và khi cần chẩn đoán phân biệtvới các bệnh lý ngoại thần kinh
Chẩn đoán ca lâm sàng:
Dựa vào triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học
Trang 9- Yếu tố dịch tễ: Căn cứ vào tuổi, mùa, vùng lưu hành bệnh, số trẻ mắc bệnh trongcùng một thời gian.
- Lâm sàng: Phỏng nước điển hình ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông,kèm sốt hoặc không
Chẩn đoán xác định
Xét nghiệm RT-PCR hoặc phân lập có vi rút gây bệnh Tại Việt Nam mẫu bệnhphẩm tiêu chuẩn để xác định virus gây bệnh bao gồm mẫu phân, dịch ngoáy họng, dịchnốt phỏng, máu,…Các mẫu bệnh phẩm này phải trả kết quả dương tính với các 3 chủngvirus quan trọng sau đây: Coxsackievirus A ( từ 2-8, 10, 12, 14, 16), Coxsackievirus B( 1, 2, 3, 5) và Enterovirus 71[13]
1.1.5 Điều trị bệnh TCM
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ điều trị hỗ trợ (không dùng khángsinh khi không có bội nhiễm) Phải theo dõi sát, phát hiện sớm và điều trị biến chứng.Ngoài ra cần bảo đảm dinh dưỡng đầy đủ, nâng cao thể trạng cho bệnh nhân
1.1.6 Dự phòng bệnh TCM[4]
Nguyên tắc phòng bệnh:
Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh đặc hiệu vì vậy cần áp dụng các biện phápphòng ngừa chuẩn dùng trong phòng ngừa các bệnh lây qua đường tiêu hoá, đường hôhấp thông qua tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây
Trang 10− Đối với vật dụng bệnh nhân sử dụng tại cơ sở y tế: xử lý quần áo, khăn trảigiường của bệnh nhân và dụng cụ chăm sóc sử dụng lại theo quy trình phòngbệnh lây qua đường tiêu hoá.
Khi có ổ dịch, phải tiến hành ngay các biện pháp sau:
− Cách ly ca bệnh;
− Dự phòng lây lan trong cộng đồng bằng cách vệ sinh, khử khuẩn môi trường, dụng
cụ của ca bệnh như dụng cụ vệ sinh, đồ chơi, quần áo v.v…
Hóa chất Cloramin B với nồng độ 2% chính thức được quy định theo quyết định
số 2554/QĐ-BYT ngày 19/7/2011 của Bộ Y tế là hóa chất khử trùng được sử dụng trongcông tác vệ sinh, khử trùng phòng chống bệnh TCM.[4]
Cloramin B được Cục Y tế dự phòng khuyến cáo sử dụng để khử khuẩn, diệtkhuẩn nước dùng trong sinh hoạt Ngoài ra Cloramin B còn được Bộ Y Tế chứng nhận
có khả năng diệt khuẩn dùng trong gia dụng và y tế Cloramin B có thành phần chính làSodium benzensulfo Cloramin, với hàm lượng Clorine hoạt tính là 25%-27% Hóa chấtnày hòa tan tốt trong nước ở nhiệt độ môi trường nhưng lại không làm thay đổi thànhphần nước sinh hoạt so với các hóa chất khác.[9]
Trang 11Cloramin B được lưu hành trên thị trường có hai dạng: dạng viên hoặc dạng bột.Dạng viên hàm lượng 0,25g hoặc 1g, rất tiện lợi cho khử khuẩn các thể tích nước nhỏnhư chum vại, lu, xô hoặc bể chứa nước nhỏ Dạng bột Cloramin B có thể khử khuẩnnguồn nước dùng cho gia đình hoặc tập thể đông người, các nguồn nước giếng, nước ănuống sinh hoạt khi xảy ra lũ lụt Cloramin B đạng bột được sử dụng hiện nay có nguồngốc từ nhà sản xuất Biochemie, Cộng hòa Séc
Cách thức sử dụng Cloramin B: Cloramin B phải được hòa tan với nước ở nhiệt
độ 30-350C theo thành phần quy định Để có được dung dịch 1% ta cần hòa tan 100grCloramin B vào 10 lít nước.[6] Các bề mặt nhiễm bẩn nặng hoặc các vật dụng cần tẩytrùng cần làm sạch trước khi sử dụng Cloramin B Với bề mặt sau khi đã được tẩy trùngbằng Cloramin B có tiếp xúc với thực phẩm cần phải được rửa sạch lại bằng nước uống
Bên cạnh khả năng khử khuẩn có hiệu quả cao, Cloramin B có thể gây ra nhữngtác dụng phụ có hại cho người sử dụng Cloramin B dạng bột rất nhạy cảm với mắt, cơquan hô hấp và da Cloramin B dạng viên sau khi hòa tan thành dung dịch cũng có ảnhhưởng tương tự, đặc biệt đối với niêm mạc Do đó, khi sử dụng Cloramin B cần phải có
đủ các phương tiện bảo vệ như quạt thông gió, hút gió v.v Để đảm bảo tỷ lệ hỗn hợp tối
đa của các tác nhân trong không khí phải ở mức hợp lý ( tỷ lệ trung bình NPK-P/Clo là3ng/m3).[6] Phải tuyệt đối ngăn cách sự tiếp xúc các chất tẩy rửa với da và niêm mạcbằng cách sử dụng các trang bị bảo hộ như găng tay, kính, khẩu trang và các thiết bị lọc.Chú ý không ăn uống hoặc hút thuốc trong khi làm việc với Cloramin B Khi hoàn thànhcông việc, phải vệ sinh da bằng nước ấm Không sử dụng chung Cloramin B với các hóachất khác vì có thể sinh ra các chất khí gây độc[6]
Bảng 1.1: Phạm vi sử dụng và tác dụng của Cloramin BPhạm vi sử dụng Phạm vi tác dụng Nồng độ Thời gian tác dụng
Trang 12Nấm, virus 5% 60 phút
( Nguồn: Công ty CP Trang Thiết bị Kỹ Thuật Y Tế TP Hồ Chí Minh )
Một nghiên cứu về mối liên quan giữa tiếp xúc thường xuyên với chất Cloramin
B, được dùng để khử trùng dụng cụ và nhà xưởng với bệnh viêm xoang mũi được thựchiện trên các công nhân chế biến thủy sản tại Cần Thơ từ năm 2000-2007 do Phạm VănChính và Nguyễn Văn Lơ thực hiện[5] Kết luận cho thấy có mối liên quan giữa việctiếp xúc thường xuyên Cloramin B với bệnh viêm mũi xoang ở những đối tượng nghiêncứu, những đối tượng tiếp xúc thường xuyên có nguy cơ mắc bệnh viêm mũi xoang caogấp 3,24 lần so với các đối tượng không tiếp xúc Cloramin B
Nói chung, dù có thể có một số trở ngại khi đưa vào sử dụng, Cloramin B vẫnđược thừa nhận là có hiệu quả trong công tác vệ sinh, tẩy trùng phòng chống dịch bệnhnhiễm trùng nói chung và bệnh TCM nói riêng và được quy định là loại hóa chất khửtrùng chính thức tại Việt Nam.[3, 25]
Xử lý ổ dịch tại nhà trẻ/mẫu giáo
Khi nhà trẻ/mẫu giáo có trẻ mắc bệnh TCM, nhà trẻ/mẫu giáo đó phải thực hiệncác biện pháp phòng lây lan bệnh như sau:
− Cách ly trẻ bệnh: Trẻ mắc bệnh không được đến lớp ít nhất là 10 ngày kể từ khi khởibệnh và chỉ đến lớp khi hết loét miệng và các bóng nước Khi có từ 2 trẻ trở lên trongmột lớp bị mắc bệnh trong vòng 7 ngày thì cho lớp học nghỉ 10 ngày từ ngày khởibệnh của trường hợp cuối cùng để cắt đứt đường lây truyền
− Theo dõi hằng ngày phát hiện trẻ bệnh, thông báo cho phụ huynh và y tế để xử lý kịpthời
− Đảm bảo tốt vệ sinh cá nhân: tất cả trẻ em và nhân viên nhà trẻ/mẫu giáo phải thựchiện tốt vệ sinh cá nhân bao gồm: vệ sinh răng miệng, rửa tay sạch và thường xuyêntrước khi nấu ăn, sau khi đi vệ sinh, và đặc biệt mỗi lần thay tã cho trẻ
− Thực hiện một số biện pháp phòng ngừa lây truyền qua đường phân miệng như ănchín, uống sôi
Trang 13− Đối với dụng cụ, đồ chơi, vật dụng của trẻ: phải rửa sạch bằng nước và xà phòng, sau
đó rửa lại bằng dung dịch Cloramin B 2% hằng ngày
− Làm sạch các dụng cụ học tập và các dụng cụ khác bị nhiễm dịch tiết từ mũi, hầuhọng, nước bọt, dịch tiết từ các nốt phỏng của trẻ bệnh và lau bằng Cloramin B 2%
− Dụng cụ ăn uống như chén bát, đũa, ly phải được ngâm, tráng nước sôi trước khi sửdụng
− Các lớp học phải luôn giữ thông thoáng[13]
Đến cuối thập niên 90 xảy ra hai vụ dịch lớn tại Malaysia và Đài Loan Ngày14/4/1997, một bé trai 19 tháng tuổi được đưa vào bệnh viện thuộc bang Sarawak,Malaysia với triệu chứng sốt cao và xuất hiện nhiều vết loét trên da đã được 3 ngày Cậu
bé chết vào ngày hôm sau do suy tim Một thời gian sau, có thêm 26 trẻ tại các huyệncủa bang Sarawak bị chết do đột quỵ Theo thống kê, độ tuổi trung bình của những trẻ
đó là 1,6 tuổi (từ 7 tháng tuổi đến 6 tuổi); 23 trong số 29 trẻ (79%) là dưới 2 tuổi Tất cả
29 trẻ được kết luận là tử vong do cùng một nguyên nhân Hầu hết đều có những triệuchứng điển hình của bệnh TCM như xuất hiện nhiều bóng nước ở lòng bàn tay, bàn
Trang 14chân, kèm theo những vất loét bên trong miệng Một số trẻ có biểu hiện của nhiễm trùng
hệ thần kinh trung ương Đến đầu tháng 6/1997, thống kê từ cả các phòng khám của nhànước lẫn tư nhân tại tỉnh Sarawak đã ghi nhận có 2.113 trẻ em mắc bệnh TCM và đếncuối tháng 6/1997, con số bệnh đã đạt đến 2.140 trên tổng số 1,9 triệu dân của tỉnh này.Nhiều cuộc điều tra dịch tễ học đã được tiến hành ngay sau đó Qua xét nghiệm bệnh
phẩm, các nhà khoa học đã xác định tác nhân gây ra vụ dịch này là Enterovirus, trong đó
EV71 đã được phân lập[29]
Vụ dịch TCM lớn kế tiếp được ghi nhận xảy ra tại Đài Loan vào ngày 3/7/1998,khiến 55 trẻ bị thiệt mạng trên tổng số 271 trẻ phải nhập viện với các biến chứng nặngnhư viêm não, viêm màng não dịch trong Các báo cáo sau đó cho thấy số trẻ nhập viện
vì bệnh TCM đã bắt đầu tăng nhanh ngay từ tháng 4/1998, số mắc nhiều nhất tập trung
ở vùng phía Bắc Đài Loan Ước tính có khoảng 60.000 đến 300.000 trẻ bị mắc bệnh
TCM tại Đài Loan vào năm 1998 Trong vụ dịch này, Enterovirus, đặc biệt là EV71, đã
được phân lập từ các chất tiết họng, phân và dịch não tủy của những trẻ bị mắc bệnhTCM Từ đó các giới chức y tế Đài Loan đã tin rằng EV71 chính là thủ phạm gây ra vụdịch Ngành y tế Đài Loan khi đó đã thành lập một nhóm các chuyên gia dịch tễ học đểtheo dõi sát sao diễn tiến dịch, giám sát sự lây lan và ra khuyến cáo các bậc phụ huynhkhông nên đưa trẻ em lui tới những nơi vui chơi công cộng, đồng thời thường xuyên rửatay cho trẻ[33]
Đến thế kỷ 21, các vụ dịch TCM do virus EV71 tiếp tục diễn ra trên phạm vi toànthế giới Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới khu vực Châu Á Thái Bình Dương (WPRO)nhiều quốc gia trong khu vực dựa trên hệ thống giám sát trọng điểm đã báo cáo nhiều vụdịch TCM xảy ra
Tại Úc, vào năm 1999, một vụ dịch liên quan đến EV71 xảy ra tại Perth, miềnTây nước Úc với 14 ca bệnh trong đó 12 ca là trẻ dưới 4 tuổi Vào mùa hè 2000-2001một trận dịch TCM do EV71 gây ra lại xảy ra làm 200 trẻ phải nhập viện trong đó có 9trẻ bị tổn thương não và 5 trẻ bị phù phổi[36]
Trang 15Tại Brunei, người ta ghi nhận trận dịch đầu tiên liên quan đến EV71 vào tháng 8năm 2006 Hơn 1681 ca bệnh được ghi nhận trong đó có 3 ca tử vong do tổn thương nãonghiêm trọng 34 trong tổng số 100 bệnh nhân được chẩn đoán bị TCM được lấy mẫu làlàm xét nghiệm phân lập được EV71[28].
Từ ngày 29/4/1998 đến 1/5/1998, tại thành phố Phụ Dương, tỉnh An Huy, TrungQuốc, đã có 20 trường hợp tử vong trên tổng số 1.884 trẻ bị bệnh TCM vì các biếnchứng nặng nề liên quan đến Enterovirus 71 Đến tháng 5 năm 2007, một trận dịchTCM lớn xảy ra tại thành phố Lâm Nghi, tỉnh Sơn Đông với 1.149 ca mắc trong đó trên84,4% các ca mắc đều nhỏ hơn 5 tuổi Xét nghiệm 233 mẫu của các bệnh nhân này thì
có đến 52,4% các mẫu dương tính với virus EV71[41] Tháng 5 năm 2008, một trậndịch TCM khác xảy ra với 61.459 ca mắc và 36 ca tử vong Năm 2009, tổng số ca mắcTCM tại đại lục Trung Quốc lên đến 1.155.525 ca trong đó có 13.810 ca ở thể nặng và
353 ca tử vong Trong các ca mắc, 93% có độ tuổi từ 5 trở xuống và 75% có độ tuổi từ 3tuổi trở xuống
1.3 Tình hình dịch TCM tại Việt Nam
Vào năm 2003, tại thành phố Hồ Chí Minh đã xảy ra một vụ dịch viêm màng nãocấp kèm theo bệnh TCM đầu tiên Năm 2005, qua một cuộc khảo sát tại Bệnh Viện NhiĐồng Tp Hồ Chí Minh, có khoảng 764 trẻ em đã được chuẩn đoán là mắc bệnh TCM.Hầu hết các trường hợp đều dưới 5 tuổi Trong số đó, có 173 trường hợp ( khoảng 42%)
do EV71 và 214 trường hợp ( 52%) là do CA16 Trong số những bệnh nhân bị nhiễmEV71, có 51 trường hợp ( chiếm khoảng 29%) bị biến chứng thần kinh cấp tính và 3trường hợp ( chiếm 2%) tử vong[38]
Từ năm 2006 - 2007, một nghiên cứu cũng của bệnh viện này ghi nhận 305trường hợp được chuẩn đoán là bệnh lý thần kinh, trong số đó có khoảng 36 trường hợp(chiếm 11%) bệnh là có liên quan đến EV71 và có 3 trường hợp trong số đó ( chiếm0,01%) tử vong Trong các năm 2007, 2008, 2009, số trường hợp mắc - tử vong lần lượt
là 5719- 23, 10.958 – 25, 10.632 - 23 Phần lớn các trường hợp xảy ra ở các tỉnh phíaNam
Trang 16Ở miền Bắc Việt Nam, EV71/C4 chỉ được phát hiện ở 1 bệnh nhân mắc bệnhviêm não cấp năm 2003 Từ năm 2005 đến 2007, EV71/C5 được tìm thấy trên 7 bệnhnhân bị liệt mềm cấp Tất cả các trường hợp mắc đều dưới 5 tuổi Trong năm 2008, 88trường hợp mắc bệnh TCM đã được báo cáo ở 13 tỉnh thành Kết quả phân lập virus ở
88 trường hợp này cho thấy 33 trường hợp ( chiếm khoảng 37,5%) dương tính với
Enterovirus; bao gồm 9 trường hợp ( chiếm 27%) nhiễm EV71; 23 trường hợp ( chiếm
70%) với CA16 và 1 trường hợp với CA10 Không có ca bệnh nặng hoặc tử vong Phầnlớn trường hợp cũng đều dưới 5 tuổi [39]
Bệnh TCM thường xuất hiện rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương trong cảnước Ở các tỉnh phía Nam, số trường hợp mắc bệnh thường tập trung vào thời gian từtháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hằng năm.[13] Theo báo cáo Trung tâm
Y tế dự phòng thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009 có 5 trường hợp tử vong, 2010 có 01trường hợp, 2011 có 30 trường hợp tử vong tại TP Hồ Chí Minh
Đường lây chủ yếu là theo cách tiếp xúc phân-miệng hoặc miệng-miệng Sự lâytruyền qua đường hô hấp cũng có thể nhưng ít khả năng hơn Virus vào cơ thể qua các vịtrí điển hình là niêm mạc miệng hoạc niêm mặc hồi tràng Trong vòng 72 giờ kể từ thờiđiểm thâm nhập, virus thông qua các hạch bạch huyết sẽ lan ra khắp cơ thể và gây ratình trạng nhiễm siêu vi huyết Thời kỳ ủ bệnh trung bình 4-6 ngày.[31]
Về cơ bản, bệnh có thể bình phục hoàn toàn Tuy nhiên, gần đây người ta ghinhận chủng HEV71 có liên quan đến những đợt bùng phát dịch rộng lớn với nhiều biếnchứng nghiêm trọng và tử vong Các biến chứng hiếm gặp, nhưng có thể xảy ra tìnhtrạng mẫn ngứa da và bội nhiễm thứ phát Cũng có thể gặp các biến chứng nghiêm trọng
ở hệ tuần hoàn - hô hấp và hệ thần kinh trung ương Hậu quả có thể dẫn đến tình trạngkhó nuốt, yếu liệt chi, suy tuần hoàn – hô hấp và thậm chí tử vong Tử vong dù hiếm gặp
nhưng nguyên nhân thường thấy là do xuất huyết phổi hoặc phù phổi Các Enterovirus
cũng là nhóm virus có thể gây ra viêm não và viêm màng não dịch trong[31] Tuy nhiên,trong bệnh TCM hiếm thấy có kèm theo viêm màng não Biến chứng viêm màng não
Trang 17thường nhẹ và có thể tự khỏi Viêm não tuy ít gặp nhưng là tình trạng nghiêm trọng cóthể đe dọa tính mạng của trẻ.
Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi, rất ít gặp ở trẻ trên 5 tuổi Tuy nhiên, hiện naylứa tuổi mắc TCM có khuynh hướng ngày càng cao hơn Một điểm cần lưu ý là trongmột đợt dịch bệnh, trẻ có thể mắc bệnh tái đi tái lại nhiều lần cho đến khi được 5 tuổimới miễn dịch hoàn toàn với bệnh[13]
1.4 Thực trạng nhà trẻ/mẫu giáo và tình hình dịch TCM tại huyện Bình Chánh
1.4.1 Thực trạng nhà trẻ/mẫu giáo trên địa bàn huyện Bình Chánh
Bình Chánh là huyện ngoại thành nằm phía Nam TP Hồ Chí Minh, trong đó phíabắc giáp Hóc Môn, phía tây và nam giáp Long An, phía đông giáp quận 8, Q Bình Tân.Tổng diện tích của huyện là 252,69 km2 với dân số là 430.272 người Huyện có 15 xã và
01 thị trấn, với tổng số 99 ấp
Hiện nay, tổng số trẻ dưới 5 tuổi của huyện là 23.013 trẻ Số nhà trẻ/mẫu giáo doPhòng Giáo dục và Đào tạo huyện quản lí là 113 cơ sở, trong đó trường công lập là 19trường (trường có số trẻ đông nhất là 573 trẻ và thấp nhất là 197 trẻ), trường ngoài cônglập là 94 cơ sở (bao gồm 14 trường mầm non với 48 lớp và 32 nhóm trẻ dân lập) Tổng
số cán bộ, nhân viên trong tất cả các nhà trẻ/mẫu giáo này là 1.442 người trong đó giáoviên là 680 người (47,2%), cán bộ quản lý là 169 người (11,7%) và công nhân viên (bảomẫu, hộ lý, cấp dưỡng) là 593 người (41,1%)[15, 16]
1.4.2 Tình hình bệnh TCM ở huyện Bình Chánh
Theo số liệu của Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh tính đến ngày 31/5/2012 toànthành phố đã ghi nhận hơn 3.512 ca mắc TCM Tổng số ca tử vong là 5 ca trong đó BìnhChánh có 01 ca tử vong Hiện dịch đã xuất hiện gần 70% các phường xã, và tập trungchủ yếu tại các quận 12, Bình Thạnh, Thủ Đức và huyện Bình Chánh[10, 22]
Theo báo cáo của Khoa kiểm soát dịch bệnh – HIV/AIDS của Trung tâm Y tế dựphòng huyện Bình Chánh thì số ca mắc TCM trong vòng 3 năm từ năm 2009 đến 2011như sau[20]:
Trang 18Bảng 1.2 Bảng thống kê số ca TCM từ 2009- 2011 tại huyện Bình Chánh Tháng
130
106
117 134
92 1.005Theo số liệu thống kê mới nhất của Khoa kiểm soát dịch bệnh- HIV/AIDS của Trung tâm Y tế dự phòng huyện Bình Chánh thì vào tháng 5/2012 tổng số ca mắc trên địa bàn huyện là 91 cao hơn so với số mắc cùng kỳ năm 2011 là 86 ca [22] Các số liệu này cho thấy dịch TCM tại huyện Bình Chánh không giảm đi mỗi năm mà còn có xu hướng gia tăng trong năm 2012
Bảng 1.3 Phân bố số ca TCM tại 16 xã/thị trấn tại huyện Bình Chánh
Trang 19Số liệu bảng 1.3 cho thấy số ca mắc TCM phân bố theo 16 xã/thị trấn tại huyệnBình Chánh Nhìn vào bảng ta có thể thấy xã Vĩnh Lộc A, Bình Hưng, Bình Chánh có sốmắc khá cao so với các xã thị trấn khác Tại xã Bình Hưng tỷ lệ mắc TCM theo các năm
2010, 2011 và vào tháng 5/2012 là 7,3%, 12,2%, 19,8%, còn tại xã Vĩnh Lộc A là 9,7%,7,8% và 14,3% Trong năm 2011, huyện Bình Chánh có 2 trường hợp tử vong: 1 ca ở xãVĩnh Lộc A, 1 ca ở xã Bình Hưng, cả 2 trường hợp này đều là tạm trú Đến tháng 5/2012thì xã An Phú Tây xảy ra một trường hợp tử vong cũng là tạm trú
Với các số liệu trên cho thấy, huyện Bình Chánh là một trong những huyện có sốmắc TCM cao so với các quận/huyện khác của thành phố Hồ Chí Minh Bên cạnh đó,huyện cũng là nơi có nhiều nhà trẻ/mẫu giáo với số lượng trẻ cũng như giáo viên, nhânviên khá cao Chính vì vậy, việc phòng ngừa dịch TCM lây lan trong các nhà trẻ/mẫugiáo là một công tác dự phòng hết sức quan trọng Vào tháng 11/2011, Phòng Giáo dục
& Đào tạo huyện đã phối hợp với Trung tâm Y tế dự phòng huyện tổ chức lớp tập huấn
về phòng chống bệnh TCM cho tất cả giáo viên, bảo mẫu ở các trường mầm non, mẫugiáo, các nhóm giữ trẻ trên toàn huyện với số lượng khoảng 650 người tham gia Tronglớp tập huấn này, tất cả giáo viên, bảo mẫu được nhận tài liệu tuyên truyền, được hướngdẫn các biện pháp phòng chống bệnh TCM Ngoài ra các nhà trẻ/mẫu giáo còn đượcTrung tâm Y tế dự phòng huyện phát tài liệu hướng dẫn 6 bước rửa tay để giáo viên in
và dán tại những nơi cần thiết Giáo viên, bảo mẫu còn được kiểm tra thực hành và lýthuyết nhằm đánh giá kết quả đạt được sau tập huấn Trước đó, Phòng Giáo dục & Đàotạo huyện cũng đã phối hợp với Trung tâm Y tế dự phòng Huyện tổ chức tập huấn vềphòng chống bệnh TCM cho hiệu trưởng và cán bộ y tế của các trường[12]
Từ tháng 3 đến tháng 4/2012, Trung tâm Y tế dự phòng huyện Bình Chánh tiếnhành cuộc giám sát công tác phòng ngừa TCM tại các trường học và hộ dân tại 11 xãtrên địa bàn huyện Các nội dung giám sát bao gồm công tác vệ sinh hằng ngày của giáoviên và trẻ em tại trường học, công tác khử khuẩn trong khuôn viên trường, kiến thứcnhận biết về TCM, cách phòng chống bệnh TCM, cách pha hóa chất Cloramin B Kết
Trang 20quả cho thấy 100% các trường học tại 11 xã đều đạt so với yêu cầu của đoàn giám sát.Tuy nhiên đối với hộ dân tại các xã này, các nội dung giám sát vẫn không đạt như yêucầu Cách pha chế hóa chất Cloramin B của các hộ dân có tỷ lệ đạt không cao chỉkhoảng 50%, có xã như Lê Minh Xuân chỉ đạt 20% Về kiến thức nhận biết bệnh TCM
và cách phòng chống bệnh thì có đến 8/11 (73,7%) xã có tỷ lệ hộ dân đạt 100%[21]
Mặc dù công tác phòng chống TCM tại nhà trẻ/mẫu giáo thu được thành côngnhất định, nhưng vẫn gặp phải nhiều khó khăn sau đây:
− Do tỷ lệ trẻ mắc bệnh chủ yếu là tại cộng đồng, nhưng do cha mẹ trẻ không để ý hoặc
cố ý che dấu nên vẫn cho trẻ đến nhà trẻ/mẫu giáo Do đó, dù giáo viên/bảo mẫuđược trang bị kiến thức về phòng chống TCM nhưng vẫn khó có thể phát hiện sớm,dẫn đến bệnh có thể lây lan sang các trẻ khác cùng học trong trường
− Bên cạnh công tác hằng ngày phải chăm sóc trẻ, do yêu cầu của Phòng Giáo dục &Đào tạo cũng như của Trung tâm Y tế dự phòng huyện, các giáo viên/bảo mẫu phảikiêm nhiệm thêm công tác phòng ngừa dịch TCM Chính áp lực này cộng với không
có kinh phí bồi dưỡng nên nhiều giáo viên đã xin nghỉ việc
− Do yêu cầu của Phòng Giáo dục & Đào tạo, các nhà trẻ/mẫu giáo phải hằng ngày vệsinh, khử khuẩn, rửa tay cho trẻ thường xuyên nhưng chỉ được thu thêm phí vệ sinh5.000 đồng/tháng do đó nhà trẻ/mẫu giáo không đủ kinh phí để mua thêm xà phòng,hóa chất tẩy rửa Ngoài ra một khó khăn nữa là các giáo viên/bảo mẫu tại nhàtrẻ/mẫu giáo đối với việc giám sát phát hiện ca bệnh TCM vẫn chưa có nắm vữngnên nhiều trường hợp phát hiện sai ca bệnh[18]
− Công tác khử khuẩn môi trường tại các nhà trẻ/mẫu giáo thường không được thựchiện một cách triệt để Các nhà trẻ/mẫu giáo thay vì sử dụng Cloramin B 2% thì lại
sử dụng nước Javel vì nếu sử dụng dung dịch Cloramin B có mùi rất nặng, phải lau
đi lau lại nhiều lần do đó tốn nhiều thời gian và công sức của nhân viên
− Tại nhiều trường có bồn rửa tay riêng cho trẻ để rửa tay sau khi ăn và sau khi chơi.Tuy nhiên trong thực tế trẻ ít khi sử dụng bồn rửa tay này vì sau khi ăn xong các emthường được bảo mẫu yêu cầu ngủ trưa Khi đó bồn rửa tay dành riêng cho các em
Trang 21được bảo mẫu hoặc nhân viên dùng làm nơi rửa tay sau khi vệ sinh phòng học cũngnhư làm vệ sinh cá nhân.
− Đa số các trường học đều thiếu cán bộ chuyên trách về y tế học đường Chính sựthiếu sót này dẫn đến việc giáo viên/bảo mẫu khó có thể chẩn đoán một ca bệnhTCM ngay trong nhà trẻ/mẫu giáo hoặc nhận biết quá trễ khi trẻ bệnh đã lây bệnhcho các trẻ khác trong trường
− Quy trình sát khuẩn bằng Cloramin B, cách pha Cloramin B để khử khuẩn đối vớinhiều bảo mẫu, lao công trong nhà trẻ/mẫu giáo vẫn chưa được thực hiện đầy đủ mặc
dù đã được tập huấn nhiều lần về các quy trình này[17]
1.5 Các nghiên cứu liên quan đến TCM
1.5.1 Nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Tiến, Đỗ Kiến Quốc, Nguyễn Thị Thanh Thảokhảo sát đặc điểm dịch tễ học – vi sinh học bệnh TCM tại khu vực phía Nam từ năm
2008 – 2010 Kết quả cho thấy số ca mắc bệnh TCM trung bình tại khu vực phía Nam là10.000 ca/năm với tỷ suất chết/mắc là 0,2% Bệnh tăng cao vào các tháng cuối năm (từtháng 9 đến tháng 11) và lưu hành phổ biến tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ Bệnh xuấthiện nhiều ở trẻ dưới 2 tuổi (78,29%) và nam có tỉ lệ mắc bệnh nhiều hơn nữ (61,43%)[19]
Trung tâm Y tế dự phòng huyện Bình Chánh giám sát công tác phòng chống dịchTCM trên địa bàn huyện từ tháng 1-5/2012 Tổng số ca mắc TCM là 282 ca trong đó số
ca mắc có độ tuổi từ 0-2 tuổi chiếm tỷ lệ nhiều nhất lên đến 71%, kế đến là 70 ca có độtuổi từ 3-5 tuổi chiếm tỷ lệ 25% và số ca có độ tuổi từ 5-10 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất chỉ
có 4% Trong tổng số các ca mắc thì số trẻ có đi học chỉ chiếm 9% trong khi số trẻkhông đi học chiếm đến 91% Trong 91% các ca không đi học thì có đến 74% là trẻ sốngtại các hộ thường trú, còn lại 14% là trẻ sống tại các hộ tạm trú[22]
Nghiên cứu của Chế Thanh Đoan và cộng sự tiến hành vào năm 2008 khảo sátđặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của các TCM nặng tại bệnh viện Nhi Đồng 2 Kết quảcho thấy từ tháng 10/2007 đến tháng 06/2008 có 27 trẻ TCM nặng được điều trị tại bệnh
Trang 22viện Nhi Đồng II trong đó đa số là trẻ < 3 tuổi (85,2%) Các triệu chứng ban đầu củabệnh bao gồm sốt (88,9%); giật mình (96,2%), rung giật cơ (76,9%), sang thương dadạng hồng ban (88,9%) là những dấu hiệu gặp nhiều nhất[8].
Nghiên cứu của Phan Văn Tú và cộng sự được tiến hành vào năm 2005 khảo sát
nhiễm Enterovirus 71 ở bệnh nhân có hội chứng TCM ở Thành phố Hồ Chí Minh Trong
năm 2005 có tổng cộng 764 bệnh nhi nhập viện Nhi Đồng 1 tại thành phố Hồ Chí Minh
do bệnh TCM Đa số các bệnh nhi nhập viện vào khoảng thời gian từ tháng 3-tháng 5 và
từ tháng 9 đến tháng 12 Kết quả phân lập EV71 cho thấy EV71 hiện diện quanh nămnhưng tăng cao từ tháng 6 (26,3%) đến tháng 12 (22,7%) với đỉnh ở tháng 7 (44,4%).Trẻ nam (56,6%) nhiễm EV71 cao hơn trẻ nữ (43,4%), tỉ số nam/nữ là 1/1,3 NhiễmEV71 xảy ra chủ yếu ở trẻ dưới 5 tuổi, thường xuyên hơn ở nhóm trẻ 1 – 2 tuổi (71,5%),nhiều nhất ở trẻ 1 tuổi (40,6%)[24]
Nghiên cứu của Trương Xuân Lộc được tiến hành vào năm 2011 khảo sát kiếnthức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xãĐông Thạnh, huyện Hóc Môn Tổng cộng có 401 phụ nữ có con dưới 5 tuổi được khảosát trong nghiên cứu này Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ các loại kiến thức của bà mẹnhư sau: kiến thức về nguyên nhân bệnh TCM (63%), kiến thức về triệu chứng ban đầucủa bệnh TCM (56%), kiến thức về triệu chứng đặc trưng (33%), kiến thức về đường lây(73%), kiến thức về biện pháp phòng bệnh (86%), kiến thức về vaccine phòng bệnh(67%) Tỷ lệ thực hành rửa tay của bà mẹ, rửa tay cho trẻ cũng rất cao, lần lượt là 97%
và 94% Tỷ lệ ngâm rửa đồ chơi rất thấp chỉ đạt 46% Giữa kiến thức đúng chung vềbệnh TCM và trình độ học vấn cũng như kinh tế gia đình có mối liên quan có ý nghĩathống kê (p < 0,05)[14]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Cúc được tiến hành vào năm 2011 khảo sát cácyếu tố liên quan đến việc sử dụng Cloramin B đúng trong phòng chống dịch bệnh tại cácnhà trẻ, mẫu giáo quận Phú Nhuận năm 2011 Đối tượng nghiên cứu là 275 nhân viêncủa các nhà trẻ/mẫu giáo trên địa bàn quận Phú Nhuận Tỷ lệ giáo viên có trình độ cao
Trang 23đẳng trở lên là trên 84% và 92,7% có thời gian làm việc trên 2 năm Kết quả cho thấy cóđến 90% đối tượng biết được đường lây truyền của bệnh Tỷ lệ đối tượng có kiến thứcđúng và đầy đủ về Cloramin B chỉ đạt 17,5%[7].
Nghiên cứu của Trần Minh Hòa, Cao Trọng Ngưỡng vào năm 2011 khảo sát đặcđiểm bệnh TCM tại tỉnh Đồng Nai năm 2011 Đây là một nghiên cứu cắt ngang hồi cứu1.025 hồ sơ bệnh án tại bệnh viện Nhi Đồng Đồng Nai Kết quả cho thấy có đến 99%bệnh nhân TCM ở nhóm tuổi ≤ 6 và tỷ lệ mắc cao nhất là ở nhóm 2 tuổi Số trẻ nam bịmắc TCM nhiều hơn số trẻ nữ Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến các ca mắc TCM,nhận thấy bố mẹ làm công nhân có con mắc TCM chiếm tỷ lệ cao nhất Các triệu chứnglâm sàng chính của bệnh TCM là phát ban dạng phỏng nước, sốt, giật mình lúc ngủ[11]
1.5.2 Các nghiên cứu trên thế giới
Một nghiên cứu của Yang S.C và cộng sự vào năm 2008 khảo sát kiến thức vàthái độ của cha mẹ và giáo viên mẫu giáo về nhiễm EV71 tại Đài Loan Tổng cộng có tất
cả 690 cha mẹ và 104 giáo viên mẫu giáo tham gia nghiên cứu Kết quả cho thấy tỷ lệ cókiến thức đúng rất cao (trên 80%) về triệu chứng đặc trưng của bệnh, nhóm tuổi dễ mắcbệnh, và thời điểm đỉnh dịch Cha mẹ và giáo viên của trẻ đều cảm thấy lo lắng và thậmchí lo sợ về căn bệnh TCM[40]
Nghiên cứu của Mei-Ling Lou và Deng-Jiun Lin vào năm 2006 tại Đài Loannhằm tìm hiểu hành vi sức khỏe phòng ngừa TCM ở người chăm sóc trẻ mẫu giáo.Nghiên cứu khảo sát 675 người chăm sóc trẻ tại các hộ gia đình Kết quả cho thấy kiếnthức của người chăm sóc trẻ có liên quan thuận với hành vi phòng ngừa EV Các yếu tốảnh hưởng đến hành vi của người chăm sóc bao gồm: tình trạng sức khỏe của trẻ, nghềnghiệp, khả năng tìm kiếm thông tin, giới tính, mối quan hệ giữa trẻ và người chămsóc[35]
Nghiên cứu của Luan-Yin Chang và cộng sự được tiến hành vào năm 2002 nhằmkhảo sát các yếu tố nguy cơ của nhiễm EV71 và bệnh TCM ở trẻ em trong một trận dịchtại Đài Loan Nghiên cứu nhận thấy giữa mắc TCM do EV71 và các yếu tố sau có mối
Trang 24liên quan có ý nghĩa thống kê: tuổi, có đi học tại nhà trẻ/mẫu giáo hay không, tiếp xúcvới ca bệnh TCM, gia đình có đông con, sống tại khu vực nông thôn[30].
Nghiên cứu của Liang Y.K vào năm 2012 khảo sát các đặc điểm dịch tễ học củacác ca bệnh TCM tại tỉnh Quế Dương, Trung Quốc từ năm 2008-2010 Kết quả là cótổng cộng 27.383 ca TCM được ghi nhận tại Quế Dương từ năm 2008 – 2010 BệnhTCM thường xuất hiện theo mùa và đạt đỉnh dịch vào giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6.Bệnh TCM phổ biến ở trẻ < 5 tuổi và đặc biệt là trẻ < 3 tuổi Tác nhân gây TCM cho các
vụ dịch năm 2009 là EV71 trong khi năm 2010 là CA16[34]
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế cắt ngang mô tả
Địa điểm, thời gian: huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 2-6/2011
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Dân số mục tiêu
Nhân viên đang làm việc tại tất cả các nhà trẻ/mẫu giáo trên địa bàn huyện BìnhChánh Nhân viên được khảo sát trong nghiên cứu này bao gồm 2 nhóm đối tượng: 1)giáo viên bao gồm thầy/cô giáo/bảo mẫu,; 2) cán bộ quản lý bao gồm hiệu trưởng/phóhiệu trưởng/người quản lý nhà trẻ Trong nghiên cứu này chúng tôi khảo sát cả cán bộquản lý vì họ là những người có vai trò quyết định rất quan trọng đến kiến thức của cácthầy/cô giáo/bảo mẫu tại nhà trẻ/mẫu giáo Khi có tập huấn kiến thức về phòng chốngTCM, họ là người chỉ định nhân viên nào được tham gia tập huấn Ngoài ra, có nhiềuthực hành của giáo viên phải được sự đồng thuận của các cán bộ quản lý mới được phéptriển khai tại nhà trẻ/mẫu giáo
2
) 1
Trang 26Tăng 5% cỡ mẫu trù liệu cho những số liệu bị sai sót
n = 384 x 1,2 x 105% = 484 nhân viên
2.4 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu theo phương pháp lấy mẫu theo tỷ lệ dân số (PPS) gồm các bước sau đây:
− Bước 1: Lập danh sách cán bộ nhân viên tại các nhà trẻ/mẫu giáo trên địa bàn 16 xãcủa huyện Bình Chánh Tổng số nhân viên (bao gồm cán bộ quản lý, giáo viên, bảomẫu) tại các nhà trẻ/mẫu giáo này là 1.442 người Chọn 30 trường để khảo sát.Khoảng cách mẫu được tính bằng cách lấy 1.442/30 trường được 48
− Bước 2: Chọn ngẫu nhiên hệ thống 30 trường từ danh sách nhân viên Cụ thể, dựatrên danh sách nhân viên đã lập ở bước 1, cứ cách 48 người chọn 1 người trong danhsách, nhà trẻ/mẫu giáo nơi người đó đang làm việc chính là nhà trẻ/mẫu giáo đượcchọn Chọn liên tiếp như vậy được 30 nhà trẻ/mẫu giáo thì dừng Với cỡ mẫu là 484chia cho 30 trường được 16 Như vậy mỗi nhà trẻ/mẫu giáo sẽ điều tra khoảng 16nhân viên trong đó có 14 giáo viên/bảo mẫu và có từ 1-2 cán bộ quản lý Trongtrường hợp, nhà trẻ/mẫu giáo được chọn không đủ số nhân viên sẽ điều tra nhàtrẻ/mẫu giáo kế tiếp trong danh sách
2.5 Tiêu chí chọn mẫu
Tiêu chí đưa vào:
− Nhân viên đồng ý tham gia phỏng vấn
− Nhân viên hiện đang làm việc tại nhà trẻ/mẫu giáo, bao gồm cả biên chế và hợpđồng
− Phải thuộc các đối tượng sau: cán bộ quản lý hoặc giáo viên hoặc bảo mẫu
Tiêu chí loại ra:
− Nhân viên gặp khó khăn về khả năng giao tiếp khi phỏng vấn (câm điếc, nói ngọng,không hiểu tiếng Việt)
− Nhân viên vắng mặt sau hai lần đến phỏng vấn
Phương pháp kiểm soát sai lệch chọn mẫu:
Trang 27− Trong trường hợp người được phỏng vấn đi vắng thì phải quay lại điều tra một lầnnữa Trong trường hợp tiếp tục vắng mặt thì bỏ qua.
2.6 Thu thập dữ kiện
Kỹ thuật thu thập:
− Tập huấn cho nhân viên điều tra về cách tiếp cận và điều tra
− Điều tra viên sẽ đến nhà trẻ/mẫu giáo được lựa chọn và điều tra theo danh sách nhânviên đã được chọn Điều tra viên đọc câu hỏi trực tiếp để đối tượng trả lời và giảithích cho đối tượng trong trường hợp đối tượng không hiểu hoặc hiểu lầm câu hỏi
Công cụ: Bộ câu hỏi soạn sẵn bao gồm phần thông tin chung, kiến thức về phòngchống TCM, và phần bảng kiểm thực hành phòng chống TCM gồm phần thựchành dành cho cán bộ quản lý, giáo viên/bảo mẫu và thực hành của đơn vị nhàtrẻ/mẫu giáo (Xem phụ lục 1)
Người thu thập: các điều tra viên đã được tập huấn trước khi đi điều tra Các điềutra viên là cán bộ trực thuộc Khoa kiểm soát dịch bệnh thuộc Trung tâm Y tế dựphòng huyện Bình Chánh và một số cán bộ hỗ trợ của Phòng Giáo dục và Đào tạohuyện Bình Chánh
− Quản lí dữ liệu: Các phiếu điều tra đều ghi ngày điều tra và mã số phiếu để tiện chocông tác quản lý phiếu điều tra Các phiếu điều tra thu được sau buổi điều tra đềuđược kiểm tra lại toàn bộ xem có phù hợp với các tiêu chí chọn mẫu hay không Nếuphiếu không thỏa tiêu chí chọn mẫu sẽ được loại ra
Phương pháp kiểm soát sai lệch thông tin:
− Tổ chức điều tra thử trên 20 đối tượng tại các trường trong danh sách được để làmsáng tỏ bộ câu hỏi và phát hiện những vấn đề cần sửa chữa
− Giải thích các vấn đề đối tượng không rõ để tránh sai lệch thông tin
− Tiến hành điều tra ở nơi có không gian yên tĩnh, ít người để tránh gây phiền chongười đối tượng và tránh gây nhiễu thông tin Từng đối tượng điều tra sẽ được mờivào phòng riêng để phỏng vấn trực tiếp mặt đối mặt với điều tra viên
− Khi quan sát phần thực hành của nhân viên, điều tra viên yêu cầu đối tượng dẫn đếnđịa điểm cần quan sát vì vậy hạn chế được sai lệch thông tin đối với các câu hỏi cầnquan sát trực tiếp
Trang 282.7 Định nghĩa các biến số
2.7.1 Biến số liên quan đến đặc điểm dân số học
Tuổi: Là biến định tính, được chia thành 5 nhóm giá trị sau:
Loại trường công tác: nhân viên có thể làm việc tại các nhà trẻ/mẫu giáo công lập
và tư thục Đây là biến định tính gồm 3 giá trị:
+ Nhà trẻ/mẫu giáo công lập
+ Nhà trẻ/mẫu giáo tư thục
+ Nhóm trẻ dân lập
Vị trí công tác: Là biến định tính bao gồm các giá trị:
+ Cán bộ quản lý
+ Giáo viên/bảo mẫu
Nguồn thông tin về TCM: Là biến định tính bao gồm các giá trị:
Kiến thức về nguyên nhân của bệnh TCM: Là biến định tính gồm 2 giá trị:
+ Có kiến thức đúng: khi nhân viên biết virus là nguyên nhân gây bệnh
+ Không có kiến thức: khi nhân viên trả lời bệnh TCM do các nguyên nhân khácgây ra
Trang 29 Kiến thức về đối tượng dễ mắc bệnh TCM: Là biến định tính gồm 2 giá trị:
+ Có kiến thức đúng: Khi nhân viên trả lời trẻ dưới 5 tuổi hoặc trẻ < 1 tuổi dễ bịmắc bệnh TCM
+ Không kiến thức: Khi nhân viên trả lời các nhóm tuổi khác
Kiến thức về môi trường dễ lây truyền bệnh TCM: Là biến định tính, gồm 2 giá
trị:
+ Có kiến thức đúng: khi nhân viên biết môi trường dễ lây truyền bệnh chính là nhàtrẻ, mẫu giáo
+ Không có kiến thức: khi nhân viên trả lời không biết, hoặc trả lời các ý khác
Kiến thức về đường lây truyền bệnh TCM: Bệnh TCM lây truyền qua ba đường là
nước bọt, phỏng nước và phân-miệng Đây là biến định tính gồm 2 giá trị:
+ Có kiến thức đúng: khi nhân viên trả lời đúng cả ba đường lây truyền này
+ Không có kiến thức: khi nhân viên không biết đủ cả ba đường lây truyền này
Kiến thức về triệu chứng ban đầu của bệnh TCM: trẻ mắc bệnh TCM có những
triệu chứng ban đầu bao gồm sốt, loét họng, mệt mỏi, chán ăn Đây Là biến định tínhgồm 2 giá trị:
+ Có kiến thức đúng: Khi nhân viên chọn tất cả 4 triệu chứng này
+ Không có kiến thức: Khi nhân viên chọn thiếu một trong bốn triệu chứng trên
Kiến thức về triệu chứng đặc trưng của bệnh TCM: trẻ mắc bệnh tay chân miệng
có những triệu chứng đặc trưng bao gồm nổi bóng nước ở miệng, ở lòng bàn tay, bànchân, vùng mông và đôi khi ở cả vùng gối Đây là biến định tính gồm 2 giá trị:
+ Có kiến thức đúng: khi nhân viên chọn cả 4 triệu chứng là nổi bóng nước ởmiệng, ở lòng bàn tay, lòng bàn chân và vùng mông
+ Không có kiến thức: khi nhân viên trả lời thiếu một trong bốn triệu chứng trên
Kiến thức về các biện pháp phòng chống bệnh TCM: Các biện phòng chống TCM
trong nhà trẻ/mẫu giáo là 1) Thường xuyên rửa tay cho trẻ; 2) Người chăm sóc trẻthường xuyên rửa tay; 3) Cho trẻ ăn chín uống sôi, sử dụng thực phẩm hợp vệ sinh;4) Sử dụng dung dịch Cloramin B 2% để ngâm rửa đồ chơi của trẻ; 5) Lau chùi sànnhà, bàn ghế hàng tuần bằng dung dịch Cloramin B 2%; 6) Cách ly không cho trẻđến trường khi trẻ bị bệnh Đây là biến định tính, gồm 2 giá trị:
Trang 30+ Có kiến thức đúng: khi nhân viên chọn tất cả 6 biện pháp phòng chống nêu trên.+ Không có kiến thức: khi nhân viên chọn thiếu một trong 6 biện pháp nêu trên
Kiến thức về vaccin phòng chống bệnh TCM: Hiện nay chưa có vaccin phòng
ngừa bệnh TCM Đây là biến định tính, gồm 2 giá trị:
+ Có kiến thức đúng: khi nhân viên biết rằng chưa có vaccin phòng ngừa bệnhTCM
+ Không có kiến thức: khi nhân viên cho rằng có vaccine hoặc không biết có haykhông có vaccine phòng ngừa bệnh TCM
Kiến thức chung về phòng chống bệnh TCM: Đây là biến định tính, gồm 2 giá trị:
+ Có kiến thức đúng: khi nhân viên có kiến thức đúng 8 nội dung kiến thức nêutrên
+ Không có kiến thức: khi nhân viên không có kiến thức đúng đủ 8 nội dung kiếnthức nêu trên
2.7.3 Biến số về thực hành phòng chống TCM
Đối với cán bộ quản lý:
Xử trí khi có trẻ bệnh TCM: Đây là biến định tính, gồm 2 giá trị:
+ Thực hành đúng: khi cán bộ quản lý cho trẻ nghỉ học ở nhà, đồng thời báo cho cơquan y tế biết để tiến hành các biện pháp phòng chống dịch TCM lây lan
+ Thực hành không đúng: khi trả lời các cách xử trí khác
Sử dụng dung dịch khử khuẩn môi trường: Đây là biến định tính, gồm 2 giá trị:
+ Thực hành đúng: khi cán bộ quản lý sử dụng Cloramin B 2% làm dung dịch khửkhuẩn môi trường để phòng chống TCM
+ Thực hành không đúng: khi cán bộ quản lý sử dụng các dung dịch khác để khửkhuẩn môi trường
Đối với giáo viên
Rửa tay phòng chống TCM: giáo viên phải thực hành đầy đủ việc rửa tay trong các
trường hợp sau: 1) Phải rửa tay bản thân trước và sau khi làm vệ sinh cho trẻ; 2) Phảirửa tay trong bồn rửa tay riêng và đi vệ sinh tại nhà vệ sinh riêng; 3) Rửa tay cho trẻtrước và sau khi đi vệ sinh; 4) Phải cho trẻ rửa tay tại bồn rửa tay riêng và cho trẻ đi
vệ sinh tại nhà vệ sinh riêng Đây là biến định tính, gồm 2 giá trị:
+ Thực hành đúng: khi giáo viên thực hành đầy đủ 4 nội dung trên
Trang 31+ Thực hành không đúng: khi giáo viên thực hành thiếu một trong bốn nội dungtrên
2.7.4 Thực hành phòng chống TCM chung của nhà trẻ/mẫu giáo
Nhà trẻ/mẫu giáo có thực hành chung đúng về phòng chống TCM khi nhà trẻ/mẫu giáothực hành đầy đủ các nội dung sau:
+ Có hóa chất rửa tay (xà phòng, dung dịch sát trùng)
+ Có nơi để dụng cụ vệ sinh riêng cho trẻ (bàn chải, khăn mặt)
+ Có dụng cụ và nơi tẩy rửa đồ chơi cho trẻ
+ Có dụng cụ lau chùi sàn nhà, bàn ghế
+ Có dung dịch khử khuẩn (Cloramin B, Javel)
+ Có nhiệt kế đo khi trẻ bị sốt
+ Ngâm rửa đồ chơi trẻ hàng tuần
2.8 Xử lý và phân tích dữ liệu
− Dùng phần mềm Epidata để nhập liệu
− Dùng phần mềm thống kê Stata 10.0 để phân tích số liệu
− Đối với thống kê mô tả: Dùng bảng phân phối tần suất của các biến
− Đối với thống kê phân tích: Sử dụng các phép kiểm định chi bình phương,Fisher’s exact với khoảng tin cậy 95%, tính PR cho mối liên quan giữa kiến thức
và thực hành cũng như mối quan hệ giữa kiến thức và các yếu tố liên quan
2.9 Vấn đề y đức
Nghiên cứu này không vi phạm đạo đức vì:
− Công tác thu thập số liệu được thông qua bởi ban lãnh đạo của Phòng Giáo dục
và Đào tạo cũng như Trung tâm Y tế dự phòng huyện Bình Chánh Các nhàtrẻ/mẫu giáo đều được gửi công văn thông báo về công tác điều tra thu thập sốliệu phục vụ cho nghiên cứu khoa học
− Các cuộc phỏng vấn đều được tiến hành chỉ khi nào nhận được sự chấp nhận củađối tượng Các thông tin đối tượng cung cấp đều được giữa bí mật, chỉ phục vụcho mục đích nghiên cứu khoa học
− Nghiên cứu không sử dụng bất cứ hình thức xâm hại nào đến thể chất cũng nhưtinh thần của đối tượng
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ
Dựa trên danh sách các trường đã được chọn lựa theo phương pháp lấy mẫu, điềutra viên khảo sát được tổng cộng 468 giáo viên thuộc các nhà trẻ/mẫu giáo khác nhautrên địa bàn huyện Số mẫu không đạt so với tổng số mẫu tính được trong công thứcmẫu là 484 là do các trường đang trong giai đoạn nghỉ hè nên một số lượng lớn giáoviên được nghỉ phép do đó khi điều tra viên đến khảo sát tại trường không gặp được cácđối tượng này Tuy nhiên tỷ lệ mất mẫu không đáng kể do đó vẫn đảm bảo được tính giátrị của đề tài
3.1Đặc tính của mẫu nghiên cứu
Bảng 3.4 Đặc tính của mẫu nghiên cứu (n= 468)
7,556,221,810,73,9
Giới tính
NamNữ
14454
397Thâm niên công tác
< 1 năm
1 – 5 năm
> 5 năm
111233124
23,749,826,5
Trang 33Đặc tính Tần số Tỷ lệ (%)Trình độ học vấn
≤ Cấp ICấp II
≥ Cấp III
682380
1,317,581,2 Loại trường công tác
Nhà trẻ/mẫu giáo công lậpNhà trẻ/mẫu giáo tư thụcNhóm trẻ dân lập
14628339
31,260,58,3
Vị trí công tác
Cán bộ quản lýThầy/cô giáo/bảo mẫu
86382
18,481,6
Hầu hết các đối tượng đều ở độ tuổi từ 20 đến 40 tuổi, chiếm đến 78% Phân bố
về giới tính cho thấy tỉ lệ nữ chiếm đa số (lên đến 97%), trong khi nam chỉ có 3% Vềthâm niên công tác thì 49,8% đối tượng có thời gian làm việc từ 1-5 năm, 26,5% làmviệc > 5 năm Trình độ học vấn của các đối tượng khá cao trong đó có đến 81,2% cótrình độ từ cấp III trở lên Tỷ lệ đối tượng làm việc tại các nhà trẻ/mẫu giáo tư thục làcao nhất lên đến 60,5%, trong khi tỷ lệ đối tượng làm việc tại nhóm trẻ dân lập là thấpnhất chỉ có 8,3% Về vị trí công tác thì số đối tượng là cán bộ quản lý chỉ có 86 ngườichiếm 18,4% so với số giáo viên/bảo mẫu là 382, chiếm đến 81,6% còn lại trên tổng sốmẫu
3.2Nguồn thông tin về TCM
Bảng 3.5 Nguồn thông tin về TCM (n = 468)
Trang 343.3Kiến thức về phòng chống TCM
3.3.1 Kiến thức về nguyên nhân gây ra bệnh TCM
Bảng 3.6 Kiến thức về nguyên nhân gây ra bệnh ( n = 468)
33562,19Kiến thức đúng về nguyên nhân gây bệnh 262 56
Trong 468 nhân viên được hỏi về nguyên nhân gây bệnh, tỷ lệ nhận biết bệnh dovirus gây ra đạt cao nhất (56%), tiếp theo là vi khuẩn 33% Như vậy, tỷ lệ giáo viên cókiến thức đúng về nguyên nhân gây bệnh là 56%
Trang 353.3.2 Kiến thức về độ tuổi dễ mắc bệnh TCM
Bảng 3.7 Kiến thức về độ tuổi dễ mắc bệnh TCM ( n = 468)
Tần số Tỷ lệ (%) Trẻ < 1 tuổi
Trẻ 1 – 5 tuổi
Trẻ 6 - 10 tuổi
Trẻ ≥ 10 tuổi
22428513
4,79112,8Kiến thức đúng về độ tuổi dễ mắc bệnh 450 96
Trong 468 đối tượng được hỏi về độ tuổi dễ bị mắc bệnh TCM, có 91% đối tượngtrả lời là nhóm tuổi trẻ từ 1 đến 5 tuổi là dễ mắc bệnh Ngoài ra tỷ lệ trả lời trẻ < 1 tuổi
dễ mắc bệnh cũng chiếm 4,7% Dựa vào định nghĩa kiến thức đúng về độ tuổi dễ mắcbệnh TCM là khi đối tượng biết đó là nhóm trẻ < 1 tuổi và trẻ từ 1 -5 tuổi, kết quả chothấy có đến 96% có kiến thức đúng
3.3.3 Kiến thức về môi trường dễ lây truyền bệnh TCM
Bảng 3.8 Kiến thức về môi trường dễ lây truyền bệnh TCM ( n = 468)
Tần số Tỷ lệ (%)Nhà máy
Trường học cấp II
Trường học cấp III
Nhà trẻ/mẫu giáo công lập
Nhà trẻ/mẫu giáo tư thục
Nhóm trẻ dân lập
274429421427427
5,89,46,29091,291,2Kiến thức đúng về môi trường dễ lây
Trang 36Khi được hỏi về môi trường dễ lây truyền bệnh, hầu hết các đối tượng (> 90%)đều biết nhà trẻ/mẫu giáo là môi trường dễ lây truyền bệnh Tuy nhiên số đối tượng biết
cả ba môi trường là nhà trẻ/mẫu giáo công lập, tư thục và nhóm trẻ dân lập là các môitrường dễ lây truyền bệnh TCM chỉ có 398, do đó tỷ lệ đối tượng có kiến thức đúng vềmôi trường dễ lây truyền bệnh giảm xuống còn 85%
3.3.4 Kiến thức về đường lây truyền bệnh TCM
Bảng 3.9 Kiến thức về đường lây truyền bệnh TCM ( n = 468 )
Tần số Tỷ lệ (%)Nước bọt
81,886,170,136,17,5Kiến thức đúng về đường lây truyền bệnh TCM 256 54,7
Trong 468 đối tượng được hỏi về đường lây truyền bệnh TCM, đa số đối tượngđều trả lời đúng từng đường lây truyền riêng biệt (nước bọt: 81,8%, mụn nước: 86,1%,phân-miệng: 70,1%) Tuy nhiên, theo định nghĩa nhân viên có kiến thức đúng khi phảibiết cả ba đường lây truyền trên, do đó tỷ lệ có kiến thức đúng giảm xuống chỉ còn54,7%
3.3.5 Kiến thức về triệu chứng ban đầu của bệnh TCM
Bảng 3.10 Kiến thức về triệu chứng ban đầu của bệnh TCM (n = 468)
Tần số Tỷ lệ (%)
Trang 377265,689,525Kiến thức đúng về triệu chứng ban đầu 216 46,2
Tỷ lệ biết từng triệu chứng ban đầu của bệnh TCM khá cao Tuy nhiên tỷ lệ giáoviên có kiến thức đúng về triệu chứng ban đầu của bệnh bao gồm sốt, loét họng, mệtmỏi, chán ăn lại thấp chỉ đạt 46,2%
3.3.6 Kiến thức về các triệu chứng đặc trưng của bệnh TCM
Bảng 3.11 Kiến thức về các triệu chứng đặc trưng của bệnh TCM (n = 468)
Triệu chứng đặc trưng của bệnh TCM Tần số Có Tỷ lệ (%)
Nổi bóng nước ở lòng bàn chân
Nổi bóng nước ở vùng mông
Nổi bóng nước ở đầu gối
446288237
95,361,550,6Kiến thức đúng về triệu chứng đặc trưng của bệnh 281 60
Hầu hết các đối tượng đều biết được 3 triệu chứng đặc trưng của bệnh là nổibóng nước ở miệng, tay và chân Riêng triệu chứng nổi bóng nước ở vùng mông và đầugối ít được các đối tượng biết đến (lần lượt chiếm tỷ lệ 61,5% và 50,6%) Do đó, tỷ lệgiáo viên có kiến thức đúng về triệu chứng đặc trưng của bệnh chỉ đạt 60%
3.3.7 Kiến thức về biện pháp phòng chống bệnh TCM
Bảng 3.12 Kiến thức về biện pháp phòng chống bệnh TCM (n = 468)
Tần số Tỷ lệ (%)
Người chăm sóc trẻ rửa tay thường xuyên 466 99,6
Cho trẻ sử dụng thực phẩm hợp vệ sinh 455 97,2
Ngâm đồ chơi trẻ bằng Cloramin
Lau chùi sàn nhà, bàn ghế bằng dung dịch khử khuẩn 437440 93,494
Trang 38Không cho trẻ mắc bệnh đến trường học 388 82,9
Kiến thức đúng về biện pháp phòng chống TCM 351 75
Tỷ lệ giáo viên biết các biện pháp phòng chống bệnh TCM rất cao đều trên 80%.Tuy nhiên tỷ lệ giáo viên biết được tất cả các biện pháp này, tức là có kiến thức đúng lạichỉ đạt 75%
9,674,615,8Kiến thức đúng về vaccine phòng bệnh TCM 349 74,6
Tỷ lệ giáo viên cho rằng có vaccine và không biết có vaccine phòng ngừa bệnhTCM đều thấp, lần lượt là 9,6% và 15,8% Như vậy, tỷ lệ giáo viên có kiến thức đúng vềvaccine phòng bệnh TCM là 74,6% tương ứng với tỷ lệ giáo viên cho rằng không cóvaccine phòng bệnh TCM
Trang 39Tỷ lệ giáo viên có kiến thức chung đúng về phòng chống bệnh TCM rất thấp chỉđạt 11,5%
Báo cho cơ quan y tế
Báo cho cha mẹ trẻ
Tuyên truyền kiến thức phòng bệnh TCM
Khác
797783506
91,989,596,558,17Thực hành đúng về xử trí khi có trẻ bị bệnh TCM 73 84,9
Thời gian cho trẻ nghỉ học ở nhà khi trẻ mắc TCM
< 1 tuần
1 tuần
> 1 tuần
31370
3,515,181,4
* : n = 86: số đối tượng là cán bộ quản lý
Trong tổng số 86 đối tượng là cán bộ quản lý được phỏng vấn về cách xử trí khi có trẻ bịbệnh TCM, thì tỷ lệ giáo viên chọn báo cho cha mẹ trẻ là cao nhất chiếm đến 96,5% tiếp đến làcho trẻ nghỉ học ở nhà là 91,9% Cán bộ quản lý thực hành đúng về xử trí khi có trẻ bị bệnhTCM là khi cho trẻ nghỉ học ở nhà và báo cho cơ quan y tế Do đó tỷ lệ thực hành đúng về xửtrí khi có trẻ bị bệnh TCM là 84,9% Trong trường hợp cán bộ quản lý xử trí bằng cách cho trẻnghỉ học ở nhà thì có đến 81,4% chọn thời gian cho nghỉ ở nhà là > 1 tuần hoặc cho nghỉ đếnkhi trẻ hết bệnh
3.4.2 Thực hành sử dụng dung dịch khử khuẩn môi trường phòng chống TCM
của cán bộ quản lý
Bảng 3.16 Thực hành sử dụng dung dịch khử khuẩn môi trường (n = 86)*
Sử dụng dung dịch khử khuẩn môi trường Tần số Tỷ lệ (%)