1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều kiện bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp theo quy định của luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và kiến nghị

25 358 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 295,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp theo quy định của luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và kiến nghị Điều kiện bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp theo quy định của luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và kiến nghị Điều kiện bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp theo quy định của luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và kiến nghị Điều kiện bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp theo quy định của luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và kiến nghị Điều kiện bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp theo quy định của luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và kiến nghị

Trang 1

Điều 13 Điều kiện bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp theo quy định củaluật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và kiến nghị.

A MỞ ĐẦU

Khác với pháp luật sở hữu trí tuệ nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là cácnước phát triển có hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ hoàn thiện, các cơ quan thựcthì quyền sở hữu trí tuệ hoạt động rất hiệu quả, Việt Nam mới hình thành cơ chếthị trường, hệ thống pháp luật đang từng bước hoàn thiện, cho nên, sự phát triểncủa pháp luật sở hữu trí tuệ có nét đặc thù trong khung cảnh phát triển chung củapháp luật sở hữu trí tuệ thế giới Bên cạnh đó, hoàn cảnh lịch sứ, đặc điểm vănhoá truyền thống của dân tộc, của đất nước là nhân tố quan trọng tác động đếnquan điểm lập pháp về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam qua các giai đoạn phát triển.trong qua trình đổi mới xuất hiện nhiều hàng hóa nhiều mẫu mã khác nhau trênthị trường vậy để xác đinh được được mẫu mã hay kiểu dáng này là của ai và aiđược bảo hộ là rất khó vì vậy bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp ngày quan

trọng do đó hôm nay tôi xin chọn đề tài “Điều kiện bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp theo quy định của luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và kiến nghị”.

Trang 2

B NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT CHUNG

Khoa học, kĩ thuật, công nghệ không chỉ là sáng tạo đơn thuẫn của conngười mà đã trở thành bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất có tính chấtquyết định đến năng suất lao động Tuy nhiên, sản phẩm “khoa học, kĩ thuật” màcon người tạo ra lại có những nét đặc thù không giống như các Vật phẩm khác,

đó là những Vật phẩm vô hình mà bản thân người tạo ra nó không thể chiếmhữu cho riêng mình, chúng rất dễ bị tước đoạt, chiếm dụng Việc bảo vệ cácthành quả của hoạt động sáng tạo được thực hiện dưới nhiều hình thức khácnhau Trong thời đại ngày nay, các hoạt động sở hữu công nghiệp đa dạng,phong phủ không chỉ còn bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà mang tính toàncầu Việc Nhà nước quy định về sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu côngnghiệp nói riêng nhằm bảo vệ quyền của những người hoạt động trong lĩnh vựcđặc biệt có ý nghĩa xã hội và kinh tế quan trọng

1 Các khái niệm liên quan

a Quyền sở hữu công nghiệp là gì?

Quyền sở hữu công nghiệp được hiểu theo hai nghĩa:

Theo nghĩa khách quan: Quyền sở hữu công nghiệp là pháp Luật về sở hữucông nghiệp hay nói cách khác là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnhcác quan hệ xã hội phát sinh sau khi con người sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ vàđược pháp luật coi là đối tượng sở hữu công nghiệp Với nghĩa này, quyền sởhữu công nghiệp là quyền sở hữu đối với tài sản vô hình, mặt khác, quyển sởhữu công nghiệp còn bao gồm các quy định trong các điều ước quốc tế mà ViệtNam là thành viên

Theo nghĩa chủ quan: Quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu của cánhân, pháp nhân đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp

Trang 3

Theo khoản 4 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi năm 2009) thì

“Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu

và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”.

b Bảo hộ là gì?

Bảo hộ có thể được hiểu là sự bảo vệ về một lĩnh vực nào đó được phápluật bảo vệ và bị các quan hệ xã hội xâm hại.1

c Kiểu dáng công nghiệp là gì?

Được quy định tại Điều 4 luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung

năm 2009) thì “Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này”

II CƠ SỞ PHÁP LÝ, ĐẶC ĐIỂM CỦA QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ NGUYÊN TẮC BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

1 Cơ sở pháp lý

Điều 63 Luật hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định

về điêu kiện chung đối với kiểu dáng công nghiệp

Điều 64 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quyđịnh đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp

Điều 65 Luật hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định

về tính mới của kiểu dáng công nghiệp

Điều 66 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quyđịnh về tính sáng tạo của kiểu dáng công nghiệp

Trang 4

Điều 67 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quyđịnh về khả năng áp dụng công nghiệp của kiểu dáng công nghiệp

3 Nguyên tắc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

Thứ nhất, nguyên tắc nợp đơn đầu tiên

Thứ hai, nguyên tắc ưu tiên khi xét đơn yêu cầu bảo hộ

III KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP

1 Các điều kiện để bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

Khoản 13 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ quy định: “Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết họp các yêìt tố này”

Sản phẩm được hiểu là đồ Vật, dụng cụ, phương tiện được sản xuất bằngphương pháp công nghiệp hay thủ công nghiệp, có kết cấu và chức năng rõ ràng,được lưu thông độc lập ²

Điều 25 Hiệp định TRIPs quy định về các điều kiện bảo hộ đối với kiểudáng công nghiệp như sau: Các thành viên phải bảo hộ các kiểu dáng côngnghiệp mới hoặc nguyên gốc được tạo ra một cách độc lập Các thành viên cóthể quy định rằng kiểu dáng công nghiệp không được coi là mới hoặc nguyêngốc nếu không khác biệt cơ bản với những kiểu dáng đã biết hoặc với sự kết hợpcác đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng đã biết Các thành viên có thể quy định

Trang 5

rằng việc bảo hộ đó không áp dụng cho những kiểu dáng mà hình dáng chủ yếu

do các đặc tính kĩ thuật và chức năng quyết định Mỗi thành viên phải đảm bảorằng các tiêu chuẩn bảơ bộ đối với các kiểu dáng đặc biệt là yêu cầu về lệ phí,xét nghiệm hoặc công bố, không làm giảm một cách bất hợp lí tìm kiếm và đạtđược sự bảo họ đó Các thành viên được tự do chọn áp dụng Luật kiểu dángcông nghiệp hoặc Luật bản quyền để thực hiện nghĩa vụ này Ở Việt Nam, kiểudáng công nghiệp được bảo hộ theo các quy định pháp Luật sở hữu công nghiệp,còn về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp theo luật bản quyền hiện chưa có quy định

cụ thể

Về điều kiện bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp: Để được đăng kí bảo

hộ, kiểu dáng công nghiệp phải đáp ứng được các tiêu chí sau đây (Điều 63 Luật

Thứ hai, kiểu dáng công nghiệp không được coi là khác biệt cơ bản vớinhau nếu chỉ khác biệt bởi các đặc điểm tạo dáng không dễ dàng nhận biết vàghi nhớ được, các đặc điểm đó không thể dùng để phân biệt tổng thể hai kiểudáng công nghiệp với nhau

Thứ ba, kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ chưa bị bộc lộ công khai ởbất cứ đâu, dưới bất kì hình thức nào tính đến ngày nộp đơn Kiểu dáng côngnghiệp có thể bị bộc lộ thông qua các cách thức như: Sử dụng kiểu dáng côngnghiệp, mô tả bằng văn bản như phát hành các ấn phẩm; trưng bày trong cáccuộc triển lãm hay qua các bài giảng hoặc có thể được bộc lộ thông qua bất kì

Trang 6

hình thức nào khác trước ngày nộp đơn xin yêu cầu bảo hộ mà một chuyên giatrung bình trong lĩnh vực đó có thể nắm bắt được bản chất của kiểu dáng côngnghiệp đó Kiểu dáng công nghiệp được coi là chưa ai bộc lộ công khai nếu chỉ

có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về kiểu dáng côngnghiệp đó

Tính mới của kiểu dáng công nghiệp được đặt ra không những :trong phạm

vi quốc gia mà trên phạm vi toàn thế giới

Để tìm tính mới, Cục SHTT phải cân nhắc các đặc điểm tạo dáng cơ bảncủa KDCN Đó là yếu tố nhất định về hình khối, đường nét, màu sắc, tươngquan vị trí hoặc tương quan kích thước cùng với các yếu tố khác tạo thành mộttập hợp cần và đủ xác định bản chất của KDCN đó Các yếu tố sau đây khôngđược coi là đặc điểm tạo dáng cơ bản của KDCN:

- Hình khối, đường nét được quyết định bởi chính chức năng kỹ thuật hoặcchức năng sử dụng của sản phẩm; ví dụ: hình dạng dẹt, phẳng của đĩa ghi dữliệu được quyết định bởi chuyển động tương đối giữa đĩa và đầu đọc…;

- Yếu tố mà sự có mặt của nó trong tập hợp các dấu hiệu không đủ gây ấntượng thẩm mỹ (ấn tượng về hình dáng của sản phẩm không thay đổi khi có mặt

và không có mặt yếu tố đó); ví dụ: sự thay đổi một hình khối, đường nét quenthuộc nhưng sự thay đổi đó không đủ để nhận biết, vì vậy hình khối/đường nét

đã thay đổi vẫn chỉ được nhận biết là hình khối/đường nét cũ;

- Các từ ngữ, hình ảnh được gắn/dán…lên sản phẩm chỉ để thực hiện chứcnăng của nhãn hiệu hàng hóa hoặc/và thực hiện chức năng thông tin, hướng dẫn

về nguồn gốc, đặc điểm, cấu tạo, công dụng, cách sử dụng… sản phẩm đó; vídụ: các từ ngữ trên nhãn hàng hóa Để có cơ sở kết luận KDCN nêu trong Đơn

có tính mới hay không, phải tiến hành so sánh tập hợp các đặc điểm tạo dáng cơbản của KDCN đó với tập hợp các đặc điểm tạo dáng cơ bản của KDCN đốichứng KDCN nêu trong Đơn được coi là mới nếu không tìm thấy KDCN đốichứng trong nguồn thông tin tối 96 Mặc dầu vậy trên thực tế nhiều cơ sở đã

Trang 7

đăng ký, được cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp cho các bao bì sảnphẩm đơn giản của mình 149 thiểu; hoặc mặc dù có tìm thấy KDCN đối chứngtrong nguồn thông tin tối thiểu nhưng KDCN nêu trong Đơn có ít nhất một đặcđiểm tạo dáng cơ bản không có mặt trong tập hợp các đặc điểm tạo dáng cơ bảncủa KDCN đối chứng Ngoài ra, KDCN phải không là hình dáng bên ngoài củasản phẩm đã được biết đến một cách rộng rãi (không phải là sự thay đổi vị tríhoặc lắp ghép, kết hợp các đặc điểm của các KDCN đã biết hoặc mang hìnhdáng tự nhiên vốn có của cây cối, hoa quả, các loài động vật…, hình dáng cáchình hình học đã được biết rộng rãi (ví dụ: hình tròn, hình elip, hình tam giác,hình vuông, chữ nhật, hình đa giác đều, các hình lăng trụ có mặt cắt là các hình

kể trên…), hình dáng các sản phẩm, công trình đã nổi tiếng ở Việt Nam hoặctrên thế giới (ví dụ: tháp Rùa, tượng ông Phúc-Lộc-Thọ, tháp Ep-phen…), kiểudáng chỉ có giá trị thẩm mỹ như các tác phẩm điêu khắc, các loại tranh,tượng…)

Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định trường họp nhằm loại trừ việc làmmất tính mới của kiểu dáng công nghiệp (khoản4 Điều 65 Luật sở hữu trí tuệ)

b Tính sáng tạo: Tính sáng tạo của kiểu dáng công nghiệp được thể hiện thông qua 2 yếu tố cơ bản (Điều 66 Luật sở hữu trí tuệ)

Kiểu dáng công nghiệp phải là thành quả sáng tạo của tác giả, nó khôngđược tạo ra một cách dễ dàng đối với người có trình độ trung bình trong lĩnh vựctương ứng Kiểu dáng công nghiệp được mô tả trong đơn yêu cầu phải tạo rabước tiến rõ rệt về mặt kĩ thuật so với kiểu dáng của các sản phẩm cùng loạitrước đó Như vậy, tiêu chí về tính thẩm mĩ của kiểu dáng công nghiệp phải hội

tụ cả yêu cầu về tính thẩm mĩ và yêu cầu về tính kĩ thuật của sản phẩm

c Có khả năng áp dụng công nghiệp (được quy định tại điều 67 Luật

sở hữu trí tuệ)

Kiểu dáng công nghiệp được công nhận là có khả năng áp dụng côngnghiệp nếu có thể dùng làm mẫu để chế tạo hàng loạt bằng phương pháp công

Trang 8

nghiệp hoặc thủ công nghiệp sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dángcông nghiệp đó Đặc điểm này nhấn mạnh tính khả thi của kiểu dáng côngnghiệp, chứng tỏ kiểu dáng công nghiệp theo sự mô tả trong đơn đăng kí phảiđược triển khai thực hiện trong điều kiện thực tế và có thể cho ra các thànhphẩm cụ thể như kết quả đã nêu ra trong đơn yêu cầu

Tóm lại, kiểu dáng công nghiệp được cấp văn hàng bảo hộ nếu về mặt nộidung thoả mãn được cả 3 tiêu chí cơ bản nêu trên

2 Về phạm vi bảo hộ:

Điều 64 Luật sở hữu trí tuệ cũng quy định cụ thể những đối tượng không cókhả năng được bảo hộ dưới danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp, bao gồm:

Hình dáng bên ngoài của sản phẩm không nhìn thấy được trong quá trình

sử dụng Như Vậy, đối với các loại sản phẩm mà khi đưa vào sử dụng thì khôngcòn giữ được hay bị mất đi hình dáng bên ngoài như lúc ban đầu thì cũng sẽkhông đáp ứng được yêu cầu bảo hộ Chủ yếu các sản phẩm mang đặc tính củavật không tiêu hao thì mới có thể được yêu cầu bảo hộ hình dáng bên ngoài củasản phẩm

Hình dáng bên ngoài của các công trình xây dụng dân dụng hoặc côngnghiệp Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ thì chỉ những bản vẽ, thiết kế sơ

đồ của các công trình xây dựng mới được bảo hộ dưới góc độ của Luật quyềntác giả còn hình dáng bên ngoài của chúng thì không được bảo hộ

Hình dáng bên ngoài của sản phẩm do đặc tính kĩ thuật của sản phẩm bắtbuộc phải có hoặc chỉ mang đặc tính kĩ thuật; hình dáng bên ngoài của sản phẩmchỉ thuần tuý có giá trị thẩm mĩ Như vậy, nếu hình dáng bên ngoài của sảnphẩm chỉ thiếu một trong hai yếu tố là tính thẩm mĩ hay tính kĩ thuật thì đềukhông được bảo hộ Theo yêu cầu về tính độc đáo thẩm mĩ như đã phân tích ởtrên thì kiểu dáng công nghiệp phải đồng thời gây được ấn tưọng thẩm mĩ nhưngcũng phải thể hiện được nó là kết quả của sự sáng tạo trong lĩnh vực kỉ thuật

Trang 9

3 Vi phạm về kiểu dáng công nghiệp:

Theo quy định tại Điều 126 Luật Sở hữu trí tuệ có quy định về hành vi xâmphạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp như sau:

“Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí:

1 Sử dụng sáng chế được bảo hộ, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ hoặc kiểu dáng công nghiệp không khác biệt đáng kể với kiểu dáng đó, thiết kế

bố trí được bảo hộ hoặc bất kỳ phần nào có tính nguyên gốc của thiết kế bố trí

đó trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ mà không được phép của chủ

sở hữu;

2 Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mà không trả tiền đền bù theo quy định về quyền tạm thời quy định tại Điều 131 của Luật này.”

Như vậy, một hành vi được coi là hành vi xâm phạm đối với kiểu dángcông nghiệp là hành vi sử dụng kiểu dáng công nghiệp không khác biệt đáng kểđối với kiểu dáng công nghiệp đã được bảo hộ trong thời hạn hiệu lực của vănbằng bảo hộ không được phép của chủ sở hữu Để xác định được một hành viđược coi là hành vi xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp thì phải đápứng được các điều kiện quy định tại Điều 5 Nghị định 105/2006/NĐ-CP:

“1 Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

2 Có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét.

3 Người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định tại các Điều 25, 26, 32, 33, khoản 2 và khoản 3 Điều 125, Điều 133, Điều 134, khoản 2 Điều 137, các Điều 145, 190 và 195 của Luật Sở hữu trí tuệ.

Trang 10

4 Hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam.”

Theo điều 10 nghị định 105/2006/NĐ-CP về quy định chi tiết và hướng dẫnthi hành một số điều của luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ vàquản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ thì và theo quy định tại nghị định 105 vàthông tư 11 thì hành vi xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp đượcquy định như sau:

“1 Yếu tố xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp là sản phẩm hoặc phần của sản phẩm mà hình dáng bên ngoài không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ.

2 Căn cứ để xác định yếu tố xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp là phạm vi bảo hộ kiểu dáng công nghiệp được xác định theo Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp.

3 Sản phẩm, phần sản phẩm bị coi là yếu tố xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Trên sản phẩm hoặc phần sản phẩm bị xem xét, kể cả trường hợp đã được cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, có tập hợp các đặc điểm tạo dáng hợp thành một tổng thể là bản sao hoặc về bản chất là bản sao (gần như không thể phân biệt được sự khác biệt) của kiểu dáng công nghiệp của chủ sở hữu khác đã được bảo hộ mà không được sự đồng ý của người đó;

b) Trên sản phẩm hoặc phần sản phẩm bị xem xét có tập hợp các đặc điểm tạo dáng hợp thành một tổng thể là bản sao hoặc về bản chất là bản sao của kiểu dáng công nghiệp của ít nhất một sản phẩm trong bộ sản phẩm được bảo

hộ của người khác.

4 Kiểu dáng công nghiệp của một sản phẩm (phần sản phẩm) chỉ bị coi là không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này khi kiểu dáng công nghiệp đó là bản sao hoặc về bản chất

là bản sao của kiểu dáng công nghiệp đã được bảo hộ”.

Trang 11

IV QUY TRÌNH ĐĂNG KÝ BẢO HỘ KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP

Căn cứ pháp lý của thủ tục đăng ký kiểu dáng công nghiệp

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009);

Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướngdẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp;

Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 của Bộ Khoa học vàCông nghệ hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP;

Thông tư số 22/2009/TT-BTC ngày 04/02/2009 của Bộ Tài chính quy địnhmức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí sở hữu công nghiệp

Thứ nhất, Điều kiện thực hiện thủ tục hành chính:

Tổ chức, cá nhân cần đáp ứng những điều kiện sau để có quyền đăng kýkiểu dáng công nghiệp:

Tác giả tạo ra kiểu dáng công nghiệp bằng công sức và chi phí của mình;

Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dướihình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác vàthỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luật;

Trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng nhau tạo ra hoặc đầu từ để tạo rathiết kế bố trí thì các tổ chức, cá nhân đó đều có quyền đăng ký và quyền đăng

ký đó chỉ được thực hiện nếu tất cả các tổ chức, cá nhân đó đồng ý;

Trường hợp kiểu dáng công nghiệp được tạo ra do sử dụng cơ sở vật chất –

kỹ thuật, kinh phí từ ngân sách nhà nước:

Đối với những kiểu dáng công nghiệp được tạo ra trên cơ sở Nhà nước đầu

tư toàn bộ kinh phí, phương tiện, vật chất – kỹ thuật, quyền đăng ký kiểu dángcông nghiệp thuộc về Nhà nước, Tổ chức, cơ quan được giao quyền chủ đầu tư

có trách nhiệm đại diện Nhà nước thực hiện quyền đăng ký kiểu dáng côngnghiệp;

Trang 12

Đối với kiểu dáng công nghiệp được tạo ra trên cơ sở Nhà nước góp vốn(kinh phí, phương tiện vật chất – kỹ thuật) thì quyền đăng ký kiểu dáng côngnghiệp sẽ thuộc một phần về Nhà nước tương ứng với tỷ lệ phần góp vốn thuộc

về Nhà nước Tổ chức, cơ quan Nhà nước là chủ phần vốn đầu tư của Nhà nước

sẽ đại diện Nhà nước thực hiện phần quyền đăng ký kiểu dáng công nghiệp;Riêng đối với kiểu dáng công nghiệp được tạo ra trên cơ sở hợp tác nghiêncứu – phát triển giữa tổ chức, cơ quan Nhà nước với tổ chức, cá nhân khác nếukhông có thỏa thuận thì một phần quyền đăng ký kiểu dáng công nghiệp tươngứng với tỷ lệ đóng của tổ chức, cơ quan Nhà nước trong việc hợp tác này, thuộc

về Nhà nước Tổ chức, cơ quan Nhà nước tham gia hợp tác nghiên cứu – pháttriển có trách nhiệm đại diện Nhà nước thực hiện quyền đăng ký kiểu dáng côngnghiệp

Kiểu dáng công nghiệp để được cấp bằng độc quyền cần đáp ứng các điềukiện sau:

Có tính mới;

Có tính sáng tạo;

Có khả năng áp dụng công nghiệp

Thứ hai, Thành phần hồ sơ:

Để được cấp bằng độc quyền cho kiểu dáng công nghiệp, tổ chức, cá nhân

có nhu cầu cấp bằng chuẩn bị hồ sơ có các văn bản, giấy tờ sau:

Ngày đăng: 11/10/2018, 22:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w