Sản phẩm chưa tạo ra sản phẩm hàng hoá có giá trị kinh tế cao. Thực trạng phát triển cây ăn quả nói chung và cây cam nói riêng trên địa bàn xã Phù Lưu Hàm Yên Tuyên Quang cũng như các xã trong huyện còn manh mún, chưa hình thành các vùng sản xuất tập trung thành hàng hoá với qui mô lớn, chưa được sự quan tâm đầu tư đúng mức, hiệu quả kinh tế chưa cao. Cây Cam phát triển theo phong trào không có sự quy hoạch gây những tác động tiêu cực kinh tế, xã hội và môi trường. Sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật không đúng kỹ thuật nguy cơ suy thoái môi trường. Thị trường đầu ra cho sản phẩm còn nhiều bấp bênh, giả cả không ổn định. Vì thế cần có sự nghiên cứu đánh giá và giải pháp để phát triển bền vững mô hình trồng cây cam sành trên địa bàn xã phù lưu hàm yên tuyên quang
Trang 1Sản phẩm hoa quả là một trong những loại sản phẩm có ý nghĩa quan trọng
và không thể thiếu trong tiêu dùng hàng ngày của con người Khi xã hội càng pháttriển thì nhu cầu đó ngày càng tăng Trong các loại sản phẩm về hoa quả thì sảnphẩm cây ăn quả có múi luôn có vị trí quan trọng và chiếm tỉ trọng lớn nhất
Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, khí hậu có nhiều nétđộc đáo và đa dạng, tài nguyên đất phong phú… Điều kiện tự nhiên đó đã ưuđãi cho đất nước ta nhiều loại cây trái đặc trưng, đặc biệt là cây cam
Cây cam là cây ăn quả nhiệt đới được dùng rất phổ biến ở nhiều vùngtrên cả nước Ở Việt Nam đã hình thành nên nhiều vùng trồng cam Hàm Yên(Tuyên Quang), cam Hà Giang, cam sành Bố Hạ (Yên Thế, Bắc Giang) Tạimiền Nam Việt Nam, cam sành cũng được trồng ở Tam Bình, Trà Ôn (VĩnhLong); Cái Bè, Châu Thành, Chợ Gạo (Tiền Giang); Mỹ Khánh, Ô Môn (CầnThơ) Cam không những có giá trị về mặt kinh tế mà còn là đặc sản quý cógiá trị dinh dưỡng cao, có nhiều ứng dụng trong y học cổ truyền của dân tộc
Vì vậy, cây Cam ngày càng xuất hiện nhiều trên thị trường và đượcnhiều người tiêu dùng ưa chuộng Những năm gần đây, trên địa bàn xã Phù
Trang 2Lưu - Hàm Yên - Tuyên Quang xuất hiện cây cam sành đã góp phần đem lạihiệu quả kinh tế cao, đồng thời mở ra một tiềm năng mới, một hướng đi mớicho người dân nơi đây Tuy nhiên, hiện nay quy mô các trang trại trồng camcòn nhỏ lẻ, phát triển chưa có chiến lược rõ ràng người dân vẫn tự tìm đầu rasản phẩm của mình là chính, công tác quản lý giống còn nhiều bất cập, chưa
áp dụng khoa học kỹ thuật và chăm sóc chưa đúng quy trình kỹ thuật nên câytàn cỗi nhanh, sâu bệnh nhiều Chưa tạo ra sản phẩm hàng hoá có giá trị kinh
tế cao Thực trạng phát triển cây ăn quả nói chung và cây cam nói riêng trênđịa bàn xã Phù Lưu - Hàm Yên - Tuyên Quang cũng như các xã trong huyệncòn manh mún, chưa hình thành các vùng sản xuất tập trung thành hàng hoávới qui mô lớn, chưa được sự quan tâm đầu tư đúng mức, hiệu quả kinh tếchưa cao
Phát triển theo phong trào không có sự quy hoạch gây những tác độngtiêu cực kinh tế, xã hội và môi trường Sử dụng phân bón và thuốc bảo vệthực vật không đúng kỹ thuật nguy cơ suy thoái môi trường Thị trường đầu racho sản phẩm còn nhiều bấp bênh, giả cả không ổn định
Người dân xã Phù Lưu hoạt động nông nghiệp là chủ yếu, cây cam cóvai trò quan trọng đặc biệt đến sự phát triển kinh tế xã hội của vùng Xuất
phát từ thực tế trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu thực trạng và
đề xuất giải pháp để phát triển bền vững mô hình trồng cây cam sành trên địa bàn xã Phù Lưu - Hàm Yên - Tuyên Quang”
1.2 Mục tiêu của đề tài
Trang 3- Đề xuất các giải pháp phát triển sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ cam sành tại xã Phù Lưu.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Khái quát về điều tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Phù Lưu
- Tìm hiểu về tình hình sản xuất cam sành tại dịa bàn nghiên cứu
- Tìm hiểu về thị trường tiêu thụ cam sành tại xã Phù Lưu
- Đánh giá những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong sảnxuất và tiêu thụ cam sành của xã Phù Lưu
- Đề xuất các giải pháp phát triển sản xuất và mở rộng thị trường tiêuthụ cam sành tại địa bàn nghiên cứu
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa học tập
- Củng cố các môn học từ cơ sở đến chuyên ngành và gắn các môn họcvào thực tế Ngoài ra còn biết thêm được nhiều kiến thức thực tế, các phươngpháp học tập, làm việc và nghiên cứu khoa học
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho các nhà quản lý, lãnh đạo cácban ngành tham khảo để đưa ra phương hướng để phát triển tiềm năng và thếmạnh, giải quyết những khó khăn trở ngại nhằm phát triển cây ăn quả nóichung và cây cam sành nói riêng nhằm phát triển kinh tế ngày càng hiệu quả
Trang 4PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận
2.1.1.1 Lý luận về phát triển sản xuất
Cam, quýt là cây ăn quả lâu năm chịu ảnh hưởng rất rõ của điều kiệnngoại cảnh, biểu hiện qua sinh trưởng, phát triển, khả năng cho năng suất vàphẩm chất quả Những đặc trưng, đặc tính của cây được biểu hiện qua mộtvòng đời hay trong một năm, đều là kết quả phản ánh tổng hợp giữa đặc điểmcác loài với ngoại cảnh
Trong quá trình phát triển, mỗi quốc gia đều có chiến lược phát triểnkinh tế khác nhau phù hợp với điều kiện, tận dụng hiệu quả lợi thế so sánh vềvùng, lựa chọn cây trồng vật nuôi có lợi thế để tạo ra nhiều của cải vật chất,đất nước phồn vinh, mức thu nhập của người dân tăng cao
Trong điều kiện nước ta hiện nay ở khu vực nông thôn tỷ lệ thất nghiệpngày càng tăng, sức ép về việc làm lớn, do đó trong tương lai phát triển sảnxuất theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu với các ngành nghề trong đó
có nghề trồng cây ăn quả ở nông thôn là hướng đi đúng đắn và cần thiết
2.1.1.2 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài
* Khái niệm đánh giá
- Đánh giá (Assessment): là một quá trình (có thể là hệ thống hoặckhông hệ thống) thu thập thông tin, phân tích thông tin, sau đó thiết lập mộtđiều chỉnh dựa trên cơ sở các thông tin thu thập
- Đánh giá (Evaluation): là một sự xem xét, sự kiểm tra có tính chất hệthống một dự án đã được lập, một dự án đang thực hiện hoặc đã kết thúc.Đánh giá nhằm trả lời các câu hỏi quản lý đặc biệt và để đánh giá toàn bộ giátrị của một nỗ lực và cung cấp bài học kinh nghiệm để cải tiến các hoạt động
Trang 5tương lai, lập kế hoạch và ra quyết định Đánh giá nói chung là tìm kiếm xácđịnh hiệu quả, hiệu lực, tác động, bền vững và thích hợp của dự án hoặc mụctiêu của tổ chức Một đánh giá có thể cung cấp thông tin hữu ích và tin cậy,đưa ra bài học kinh nghiệm cụ thể để giúp cho các đối tác và các tổ chứcchuyên môn thực hiện các quyết định một cách đúng đắn.
- Đánh giá (Appraisal): đánh giá có liên quan đến chỉ tiêu quyết định đã đượcthiết lập, gồm tính khả thi và tính có thể chấp nhận được của một dự án hoặcchương trình ưu tiên với các thỏa thuận về ngân sách Các chỉ tiêu hay tiêu chíthông thường bao gồm tính thích ứng và tính bền vững Một đánh giá có thể quan
hệ với sự xem xét các lựa chọn như một phần của tiến trình chọn lọc
- Đánh giá dự án là nhìn nhận và phân tích toàn bộ quá trình triển khaithực hiện dự án, các kết quả thực hiện cũng như hiệu quả thực tế đạt được của
dự án trong mối quan hệ với nhiều yếu tố, so sánh với mục tiêu ban đầu
- Đánh giá là so sánh những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của thônbản và những hỗ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được
- Đánh giá để khẳng định sự thành công hay thất bại của các hoạt độngkhuyến nông so với kế hoạch ban đầu
* Khái niệm thị trường
- Thị trường là nơi người mua và người bán mua và bán hàng hóa vàdịch vụ Theo định nghĩa này chợ là thị trường
- Chợ là nơi công cộng, hợp pháp để người mua và người bán tụ họp tạimột địa điểm có ranh giới, trong một thời gian nhất định Theo định nghĩa này
sẽ có một địa điểm họp chợ Người có hàng mang ra chợ bán, người muahàng đến chợ để mua Chợ họp trong một thời gian nhất định Chợ có thểchuyên bán một hàng hóa nào đó, có thể chỉ họp chợ vào một dịp nào đó (chợphiên) Chợ có thể là nơi người bán người mua gặp nhau ở chợ để giới thiệu,
Trang 6tìm hiểu hàng hóa, đàm phán mua bán Thông thường chợ thường phân loạithành: chợ đầu mối, chợ bán buôn, chợ bán lẻ.
- Thị trường là tập hợp người mua
- Thị trường là một cơ chế phân bố nguồn lực, quy định sản xuất vàphân phối sản phẩm, dịch vụ thông qua hệ thống giá cạnh tranh Đây là cáchhiểu thị trường mà các nhà kinh tế tân cổ điển thường nói đến và thị trườngđược coi là kinh tế đối ngược lại với cơ chế điều tiết bằng mệnh lệnh, hay
kế hoạch hóa tập trung Lý thuyết kinh tế tân cổ điển chứng minh rằng nếucác điều kiện cho cạnh tranh hoàn hảo được thỏa mãn, từng thị trường riêng lẻ
sẽ đạt trạng thái cân bằng, tức trạng thái tối ưu về kinh tế Khái niệm cơ chếthị trường lúc này có thể coi là đồng nghĩa với khái niệm thị trường trên đây
- Thị trường là một thể chế kinh tế (economic institution) để thực hiệncác giao dịch kinh tế Đây là cách tiếp cận của kinh tế học về chi phí giao dịch(transaction cost economics), hay đôi khi còn gọi là kinh tế học thể chế mới(new institutional economics), theo đó thị trường và doanh nghiệp được coi làcác thể chế thay thế nhau để thực hiện các giao dịch Một giao dịch kinh tế cóthể được tổ chức thực hiện trong nội bộ doanh nghiệp (tự làm), hoặc có thểthực hiện thông qua thị trường (thuê/mua ngoài) Chi phí để thực hiện giaodịch thông qua thị trường (chi phí giao dịch) càng lớn thì giao dịch càng có xuhướng được thực hiện trong nội bộ doanh nghiệp
- Thị trường chứa tổng số cung, tổng số cầu và cơ cấu của tổng số cung
và cầu về một loại hàng, nhóm hàng nào đó Thị trường bao gồm cả yếu tốkhông gian và thời gian Trên thị trường luôn diễn ra các hoạt động mua bán
và quan hệ tiền tệ
- Thị trường là nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ Nói cách khác, thịtrường là một nhóm người có nhu cầu cụ thể và sẵn sàng trả tiền nhằm thỏamãn các nhu cầu đó
Trang 7* Khái niệm sản xuất
- Liên hiệp quốc khi xây dựng phương pháp thống kê tài khoản quốc gia
đã đưa ra định nghĩa sau về sản xuất: Sản xuất là quá trình sử dụng lao động vàmáy móc thiết bị của các đơn vị thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữutích sản, phát sinh tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế vớinhững thực thể kinh tế khác) để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụthành sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác Tất cả những hàng hóa và dịch vụđược sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năngcung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền
- Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong cáchoạt động kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sửdụng, hay để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuất dựa vào nhữngvấn đề chính sau: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? giáthành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác cácnguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm
- Sản xuất là quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào biến chúng thànhcác các sản phẩm hoặc dịch vụ ở đầu ra Theo nghĩa rộng sản xuất bao hàmbất kỳ hoạt động nào nhằm thỏa mãn nhu cầu con người Nó phân thành:
+ Sản xuất bậc 1 (sản xuất sơ chế): là hình thức sản xuất dựa vào khaithác tài nguyên thiên nhiên hoặc là những hoạt động sử dụng những nguồn tàinguyên có sẵn, còn ở dạng tự nhiên như: khai thác khoáng sản, khai thác lâmsản, khai thác thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi,…
+ Sản xuất bậc 2 (công nghiệp chế biến) là hình thức sản xuất chế tạo,chế biến các loại nguyên liệu thô hay tài nguyên thiên nhiên biến thành hànghóa như: chế biến thực phẩm, rau quả,…
+ Sản xuất bậc 3 (công nghiệp dịch vụ): Cung cấp hệ thống các dịch vụnhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của con người
Trang 82.1.2 Cơ sở thực tiễn
2.1.2.1 Giá trị kinh tế của cây cam sành
Những năm gần đây, trong công cuộc đổi mới, Đảng rất chú trọng pháttriển nông nghiệp, khuyến khích phát triển kinh tế nông thôn, ưu tiên pháttriển những ngành nghề như chăn nuôi, trồng trọt tạo nên sự cân đối hài hòagiữa ngành nông, lâm, ngư nghiệp
Trong giai đoạn hiện nay nghề trồng cây ăn quả được xác định là mộtngành kinh tế quan trọng trong ngành kinh tế nông nghiệp nước ta đặc biệt làtrong nông thôn, nó đã góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn, tăng thunhập cho hộ, tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động dư thừa
Phát triển sản xuất cam thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hóa trong nôngnghiệp nông thôn, góp phần chuyển nền sản xuất tự cung tự cấp sang nền kinh tếsản xuất hàng hóa, góp phần xóa đói giảm nghèo trong nông thôn hiện nay, từngbước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân ở nông thôn
Phát triển sản xuất cam là một khâu quan trọng thúc đẩy quá trình côngnghiệp hóa - hiện đại hóa nền sản xuất nông nghiệp Sản phẩm sản xuất có giátrị và nhu cầu tiêu thụ cao và có thể xuất khẩu để thu ngoại tệ về cho nước ta
Qua đây có thể nhìn thấy phát triển sản xuất cam, quýt ở khu vực nôngthôn đã và đang được Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương,tạo điều kiện phát triển nhằm thúc đẩy kinh tế ở địa phương, giúp người dân
có công ăn việc làm, tăng thu nhập cho hộ, xóa đói giảm nghèo
2.1.2.2 Đặc điểm chung của cây cam sành
* Đặc điểm sinh học
Theo Vũ Công Hậu (1996) cho rằng: tuổi thọ cây có múi thường cao,đặc biệt là nơi có khí hậu ôn hòa, đất tốt nhưng có độ dốc thoát nước tốt Ởcác vườn cam á nhiệt đới hoặc nhiệt đới nếu trồng đúng kỹ thuật, chọn địađiểm thích hợp, tuổi thọ vườn cam là 30 - 40 năm
Trang 9+ Rễ: Sự phân bố của rễ cam phụ thuộc vào đặc tính của giống, mựcnước ngầm và chế độ canh tác, chăm bón nhưng nhìn chung rễ cam ăn nông
từ 0 - 30cm Sự hoạt động của rễ cam hoạt động theo chu kỳ nhất định, có 3thời kỳ rễ hoạt động mạnh: Trước khi ra cành mùa xuân (khoảng tháng 2, đầutháng 3); Sau khi rụng quả sinh lý đợt đầu đến lúc cành hè xuất hiện (tháng 6
- đầu tháng 9); Sau khi cành mùa thu đã sung sức (khoảng tháng 10)
+ Thân, cành: Cam có đặc điểm tự rụng ngọn, nó liên tục xảy ra đối vớicác đợt lộc khiến cho cam không có thân chính rõ rệt, cành lá rậm rạp Trongmột năm, cam ra nhiều đợt cành: Cành xuân nẩy vào tháng 2, 3, 4; cành hènẩy vào tháng 6, 7, 8; cành thu nẩy vào tháng 9, 10; cành đông nẩy vào tháng
11, 12 và tháng 1 năm sau Tùy từng giống, tùy từng tuổi cây, tùy điều kiệnkhí hậu và chăm sóc mà lượng cành và thời gian ra các đợt cành này có sựthay đổi: cành non có thể quang hợp được; cành xuân ra đều và tập trung,cành ngắn; cành hè thường khỏe, lá to, dài nhưng ra rải rác hơn; cành thu yếuhơn cành hè và cành đông thì yếu ớt nhất
+ Lá: Cam có lá kép, cành lá là một đặc điểm để phân biệt giữa cácgiống Trung bình từ 15 - 24 tháng, hết thời kỳ sinh trưởng thì lá rụng rải rác
Lá quan hệ chặt chẽ với sản lượng quả, vậy cần phải giữ bộ lá xanh tốt
+ Hoa: Hoa có 2 loại:
Hoa đủ: là hoa có cánh dài, màu trắng mọc thành chùm hoặc đơn độc sốnhị gấp 4 lần số cánh hoa, xếp 2 vòng, nhị cái có vòi nhị Bầu có 10 - 14 ômúi tùy thuộc từng loại
Hoa dị hình: Là hoa phát triển không đầy đủ, cuống hoa và cánh ngắn hoangắn hoặc vẹo vọ không đồng đều, số này chiếm 10 - 20 % hầu hết không kết quả
+ Quả: Khi còn xanh chứa nhiều axit khi chín thì lượng axit giảm, hàmlượng đường và chất tan tăng lên Cấu tạo quả gồm có 3 phần:
- Vỏ quả: Có các tế bào sừng và các túi tinh dầu có tác dụng bảo vệ quả
Trang 10- Thịt quả: màu sắc thịt quả và số ô múi khác nhau tùy vào giống.
- Hạt: Tùy theo giống mà có sự khác nhau về kích thước, số lượng, màusắc và phôi hạt
* Yêu cầu ngoại cảnh
+ Nhiệt độ: Phần lớn cam không chịu được nhiệt độ thấp, cây sinhtrưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ từ 130C - 300 C, phù hợp nhất từ 230C -
290C Nếu nhỏ hơn 100C và lớn hơn 350C thì cây sinh trưởng chậm Nếunhiệt độ cao đồng thời khô hạn và có sương muối kéo dài sẽ gây ảnh hưởngđến sinh trưởng của cam và gây dụng quả
+ Mưa và độ ẩm: Nước cần cho suốt quá trình sinh trưởng của camnhưng cần nhất vào lúc nảy mầm Ở nước ta có lượng mưa phù hợp cho sinhtrưởng và phát triển của cây cam Tuy nhiên, phân bố không đồng đều trongnăm, mùa khô phải tưới ẩm cho cây, mức nước ngầm cao hoặc ngập úng sẽlàm rễ thối, lá rụng
+ Ánh sáng: Cam là cây ưa sáng, nếu đủ ánh sáng thì mã quả đẹp, chấtlượng tốt, nếu cường độ ánh sáng quá mạnh mẽ làm xám quả
+ Đất đai: Các giống cam có yêu cầu khác nhau về đất, nhưng đất trồngcam tốt nhất là phù sa cổ, đất thịt nhẹ tầng đất dầy, nhiều mùn, có độ pH từ5,5 - 6,5 Mực nước ngầm thấp, độ dốc vừa phải không quá 150 tránh trồngtrên đất sét hoặc đất có mực nước ngầm cao
+ Dinh dưỡng: Cam là cây cho sản lượng cao nên yêu cầu nhiều dinhdưỡng để cây sinh trưởng và phát triển và bù lại lượng dinh dưỡng đã bị mất
Trang 11đi theo sản phẩm thu hoạch Cam cần đầy đủ và cân đối các nguyên tố đalượng như N, P, K, Ca và các nguyên tố vi lượng như Fe, Cu, Bo, Mo
2.1.2.3 Nguồn gốc giống cam sành.
+ Nguồn gốc:
Cam sành là một giống cây ăn quả thuộc chi cam chanh có quả gần nhưquả cam, có nguồn gốc từ Việt Nam Quả cam sành rất dễ nhận ra nhờ lớp vỏdày, sần sùi giống bề mặt mảnh sành, và thường có màu lục nhạt (khi chín cósắc cam) các múi thịt có màu cam
+ Cơ cấu giống cây trồng
Phương pháp nhân giống chủ yếu của bà con nông dân là nhân giống
vô tính mà chủ yếu là chiết cành theo kinh nghiệm của bà con, sử dụngphương pháp nhân giống này có ưu điểm là cam sinh trưởng và phát triểnnhanh giai đoạn đầu của chu kỳ sản xuất nhưng tuổi thọ ngắn chính vì điềunày mà sâu bệnh lây lan, nhanh người dân không có thuốc đặc trị (do sâubệnh nhờn thuốc) dẫn đến cam chết hàng loạt gây thiệt hại nghiêm trọng chongười dân trồng cam
2.1.2.4 Kỹ thuật trồng và chăm sóc cam sành
* Kỹ thuật trồng
Đào hố trồng: Do cây cam sành tán nhỏ nên không nên đào hố quá rộng
và thưa để tiết kiệm đất trồng Theo tiêu chuẩn đào hố trồng phân lô thẳnghàng ngang, so le hàng dọc, với khoảng cách là 4m x 6m tùy theo độ dốc củađịa hình vườn trồng cam, mật độ trung bình là 400 cây/ha
Cách trồng: Bón lót: 0,3 0,5 kg lân + 0,10,2 kg Kali + Vôi bột 0,5
-1 kg; thuốc sâu bột (Basudin -10H ) 0,-1kg) Trộn đều lượng phân trên (không
có vôi và thuốc) với lớp đất mặt và lớp đất giữa (khi đào hố để riêng) Trả lớpđất dưới xuống hố, tiếp đó lấp phân và đất đã trộn xuống hố, dùng cuốc pháthành hố sau đó rải vôi lên mặt hố và lấp đất mỏng 2 - 3cm Tiếp đó bơm
Trang 12nước vào đầy hố, khoảng 10 - 15 ngày sau bón thuốc sâu bột trên mặt hố,dùng cuốc đảo trộn đều khoảng 15 ngày sau là trồng được Đặt bầu cây thẳngđứng, lấp đất sao cho bầu cây nổi so với mặt đất, đóng cọc ghim tránh cho cây
bị long gốc Sau một thời gian đất lún là vừa
Thời vụ trồng: Nên trồng cây vào đầu mùa mưa tháng 6 - 8 dương lịch.
* Kỹ thuật chăm sóc
Làm cỏ và vun xới: Trong quá trình điều tra chúng tôi thấy việc làm cỏ
của các hộ nông dân trồng cam là tuỳ theo sinh trưởng, phát triển của cỏ dại
Đa số các hộ sử dụng phương pháp thủ công hoặc sử dụng thuốc trừ cỏ đểdiệt Thông thường vào mùa đông cỏ sinh trưởng chậm, khoảng 30 - 40 ngày
hộ tiến hành làm cỏ 1 lần bằng phương pháp nhổ, hoặc cào Vào mùa hè cỏsinh trưởng, phát triển nhanh chỉ sau khoảng 10 ngày họ phải tiến hành làm
cỏ hoặc phun thuốc trừ cỏ hoặc phát
Quá trình điều tra cho biết hầu hết các hộ trồng cam sành hàng năm chỉvun xới 1 lần Họ thường kết hợp bón phân với việc vun xới
Nước là một nhân tố sinh thái rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng
và phát triển của cây Tuy nhiên, cũng mới chỉ có 30% số hộ trồng cam làtưới nước cho cam Hầu như các hộ trồng cam chỉ sử dụng vòi phun hoặcdùng vòi dẫn nước từ các khe, nguồn ở trên cao về tưới, chưa có hệ thống tướinhỏ giọt, còn lại là phụ thuộc vào nước trời
Bón phân cho cây cam.
Bón phân cho cây cam sành có ý nghĩa rất quan trọng Cây cam sành cócho năng suất, chất lượng cao hay không phụ thuộc vào việc bón phân như thếnào, với liều lượng bao nhiêu… Qua điều tra cho thấy mỗi hộ bón phân cho câycam sành khác nhau, sử dụng loại phân khác nhau, với liều lượng khác nhau
Trong giai đoạn này toàn bộ chi phí được tính bình quân chia đều theolứa tuổi của cây Đây là giai đoạn khó khăn nhất với bà con nông dân, đầu tư
Trang 13chăm sóc với nguồn vốn lớn mà không cho bất kỳ khoản thu nhập nào từ câycam, khi cam bước vào độ tuổi từ 3 - 4 đã bắt đầu cho bói quả nhưng vớilượng không đáng kể chưa cho giá trị kinh tế.
- Cành đã mang trái (thường rất ngắn khoảng 10 - 15cm)
- Cành bị sâu bệnh, cành ốm yếu, cành nằm bên trong tán không có khảnăng cho trái
- Cành đan chéo nhau, những cành vượt (cành có thân hình tam giác)trong thời kỳ cây đang mang trái nhằm hạn chế việc cạnh tranh dinh dưỡngvới trái
- Loại bỏ các cành già cỗi để trẻ hoá, góp phần cây được sung mãn và dễcho trái hơn
* Kỹ thuật thu hái:
Cam được thu hoạch mỗi năm một lần, tuy nhiên có thể rải vụ trongnhiều tháng, thu hoạch chủ yếu bằng phương pháp thủ công, cam trồng trênđồi cao, xa đường giao thông do vận chuyển quá xa, vào mỗi vụ thu hoạchcam phải huy động một số lượng lao động lớn ở trong toàn huyện để cắt, gánhcam từ các núi, đồi xuống các điểm xe tải, ngoài ra còn huy động ngựa thồ vàmột số hệ thống cáp treo vận chuyện cam từ vườn xuống nơi xe có thể vàođược, nhưng vấn sử dụng sức người là chính, việc thu hoạch cam một cáchthủ công như vậy làm cho cam dễ bị giập nát, ảnh hưởng đến chất lượng cam
và giá thành sản phẩm, chi phí vận chuyển cao vì thế chi phí cho khâu thuhoạch lớn ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ trồng cam
Trang 14Khâu thu hái cũng chưa được bà con thật sự coi trọng về kỹ thuật cũngnhư thời điểm thu hái, các biện pháp thu hái chủ yếu là thủ công truyền thốngcác phượng tiện chứa đựng thô sơ không đảm bảo an toàn, hơn nữa có nông
hộ thu hoạch quá sớm hoặc quá muộn nên có ảnh hưởng không nhỏ chấtlượng quả và sinh trưởng của cây
+ Thu hoạch không đúng và đảm bảo khoa học, các vật dụng chứađựng không đủ tiêu chuẩn làm cho thời gian bảo quản bị rút ngắn, hơn nữaphương tiện vận chuyển giao thông không thuận lợi làm cho Cam Sành hay bịdầm bì mau thối, khó khăn cho bảo quản
+ Thu hoạch quá sớm có lợi về khối lượng nhưng cam chưa đảm bảo vềchất giá thành thấp giá bán thấp dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp
+ Thu hoạch quá muộn cam ngon nhưng số lượng suy giảm mặc dù giáthành cao tuy vậy hiệu quả kinh tế cũng không được cao
Những năm gần đây, với sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chứcchính quyền địa phương, người dân cũng đã được tham gia vào các lớp tậphuấn kỹ thuật trong các biện pháp canh tác mới do các cán bộ khuyến nôngphòng NN & PTNT tổ chức nhờ đó hiệu quả của cây Cam Sành đang dầnđược tăng lên
2.1.2.5 Các loại sâu bệnh hại cam sành
• Sâu vẽ bùa.
+ Đặc điểm hình thái:
Thành trùng là một loại bướm rất nhỏ, thân hình mỏng mảnh, dàikhoảng 2 mm, sải cánh rộng khoảng 4 - 5 mm Toàn thân có màu vàng nhạt,hơi có ánh bạc Cánh sau rất hẹp so với cánh trước, cả hai cánh đều có rìalông dài Cánh trước có hai gân dọc màu đen kéo dài đến giữa cánh, khoảng1/3 về phía đầu cánh có một vân xiên giống hình chữ Y Chiều dài râu đầukhoảng 3/4 chiều dài của cánh Do kích thước nhỏ và hoạt động về đêm nên
Trang 15trong điều kiện tự nhiên rất khó phát hiện được thành trùng Sâu mới nở cómàu xanh nhạt trong suốt, dài khoảng 0,4mm Sâu mới nở có màu xanh giốngmàu xanh của lá non, lớn lên sâu có màu vàng xanh dài khoảng 4mm, mìnhsâu hơi dẹp Có thể quan sát dễ dàng sự hiện diện của sâu trong đường đục.Sau khi nở, sâu non đục vào lá và ăn phần thịt lá dưới lớp biểu bì của mặt látạo thành các đường hầm ngoằn ngoèo Lá non bị hại kém phát triển, congqueo nên khả năng quang hợp kém Kết quả làm cây sinh trưởng chậm, đặcbiệt khi vườn cây ở thời kì mới trồng và trong giai đoạn kiến thiết cơ bản thìmức độ tác hại lớn hơn vì làm cho cây còi cọc chậm lớn Sâu vẽ bùa có thờigian vòng đời ngắn, khoảng 2 - 3 tuần.
+ Thời điểm gây hại:
Sâu vẽ bùa bắt đầu gây hại từ giai đoạn sâu còn rất nhỏ (0,5mm) Sựgây hại xảy ra rất sớm, trên những lá non 4 - 5 ngày tuổi, sâu vẽ bùa tấn côngchủ yếu những lá có kích thước biến động từ 1 - 8cm x 1 - 4cm, khi lá lớn hơnkích thước này thì tỷ lệ lá bị sâu tấn công giảm rõ rệt và gần như không đáng
kể Theo các hộ nghiên cứu thì cây còn non bị nhiều sâu vẽ bùa còn khi câylớn và già thì sâu vẽ bùa không đáng kể dường như không có
+ Mức độ gây hại:
Sâu vẽ bùa lây lan nhanh Nếu sâu tấn công sớm, lá hoàn toàn bị biếndạng, khô và rụng đi sau đó Nếu mật độ sâu cao và sâu tấn công vào giaiđoạn lá còn non thì có thể ảnh hưởng đến năng suất Lá non bị tấn công sẽkhông phát triển và co rúm lại, giảm khả năng quang hợp, do đó cây sinhtrưởng và phát triển kém, hoa trái dễ bị rụng, nhất là cây con mới trồng
• Sâu đục thân:
+ Đặc điểm hình thái: Sâu đục thân hay còn gọi là xén tóc sao hay xéntóc hoa vì trên toàn thân màu đen của con bọ trưởng thành cánh cứng này cóđiểm khoảng 30 chấm trắng
Trang 16+ Thời điểm gây hại:
Sâu trưởng thành thường ăn bổ sung bằng các phần non của cây đặc biệt là
rễ non trước khi đẻ trứng vào tháng 5 tháng 6, vũ hóa vào tháng 5 - 6 Trước khi
đẻ xén tóc sao cắn vào gốc cây 1 vết hình chữ T ngược rồi đẻ trứng vào đó Sau 6đến 12 ngày thì trứng nở, sâu non di chuyển xuống phía dưới gốc, phá hại phầngốc, rễ cây tiếp giáp với thân Đầu tiên sâu hại vỏ, sau đó đục vào bên trong phần
gỗ Nhiều khi sâu đục cả những rễ to làm cho cây héo toàn bộ, rụng lá và chết.Sâu non phá hại trong 2 - 3 tháng thì nghỉ đông ở gốc cây Đến tháng 3, tháng 4năm sau thì hoá nhộng, tháng 5 - 6 vũ hoá Vòng đời của xén tóc sao là một năm
+ Mức độ gây hại:
Sâu đục thân thường thường đục cành nhỏ trên tán lá, rồi đục dần vàocành lớn, đến thân và có loại đục vòng quanh gốc ăn lớp vỏ, ngăn cản quátrình vận chuyển và lưu thông chất dinh dưỡng và chất hữu cơ, làm cây bị rốiloạn trao đổi chất, tán lá héo xanh, héo vàng và có thể làm cho cây bị chết Dosâu gây hại bên trong thân cây nên biện pháp phun thuốc hoá học thườngkhông đem lại hiệu quả
+ Thời điểm gây hại:
Nhện đỏ xuất hiện nhiều trong giai đoạn vườn ươm và giai đoạn câynon mới trồng Vào các đợt lộc, giai đoạn quả non hàng năm
Trang 17+ Mức độ gây hại:
Nhện trưởng thành và nhện non sống ở mặt trên của lá, dùng miệngchích hút dịch lá, tạo nên các chấm nhỏ li ti màu trắng vàng Khi mật độ caochúng có mặt cả trên quả, cành bánh tẻ Khi bị nặng toàn bộ lá và quả có màutrắng hơi vàng, lá bị rụng, sự phát triển của cây bị đình trệ
* Nhện trắng
Đặc điểm sinh học của nhện trắng
Nhện trắng (white mite) - Polyphagotarsonemus latus (Banks) (HọTarsonemidae, Bộ Acari) còn có tên là nhện ớt (chili mite), nhện bạc lá cam(citrus silver mite), nhện trà vàng (yellow tea mite) và nhện rộng (broad mite),
là một loài gây hại chính và phổ biến trên nhiều loại cây trồng Việc kiểm soátloài này đòi hỏi một hay nhiều lần xử lý thuốc trừ nhện mỗi năm
Đặc điểm hình thái:
Nhện trưởng thành: Nhện cái có dạng hình bầu dục dài khoảng 0,2 mm.
Cơ thể phồng lên theo hướng nghiêng và có màu từ vàng sáng đến hổ pháchhay xanh lá cây với một đường sọc không rõ, màu sáng, nằm giữa và phânnhánh ở cuối lưng Các con đực có màu sắc tương tự con cái nhưng không cósọc này Hai chân sau của con cái trưởng thành thoái hoá thành phần phụ Conđực thường nhỏ hơn (0,11mm) và di chuyển nhanh hơn con cái Các chân sau
to lớn của con đực thường được sử dụng để nâng các con nhộng cái lên và đặtvuông góc với cơ thể con đực khi giao phối
Trứng:
Trứng không màu sắc, có hình bầu dục Mỗi trứng dài khoảng 0,08mm
và được bao phủ bởi 29 đến 37 chùm lông trên bề mặt
Ấu trùng:
Nhện trắng con chỉ có 3 cặp chân Chúng thường di chuyển rất chậm và
có màu hơi trắng được tạo thành từ những điểm nhỏ trên da Khi ấu trùng phát
Trang 18triển, chúng sẽ tăng chiều dài từ 0,1 lên 0,2mm Giai đoạn không hoạt độngxuất hiện như một ấu trùng bất động.
Nhộng:
Sau một ngày, ấu trùng biến thành nhộng bất động có hai đầu trongsuốt và nhọn Giai đoạn nhộng kéo dài khoảng một ngày Các con nhộngthường được tìm thấy trong các lổ lõm trên trái, mặc dù nhộng cái thườngđược mang bởi các con đực
Điểm sinh học
Vòng đời của nhện trắng gồm bốn giai đoạn: trứng, ấu trùng, nhộng vàtrưởng thành Con cái trưởng thành đẻ từ 30 đến 76 trứng (trung bình 5 trứngmỗi ngày) ở mặt dưới của lá và trong những lổ lõm của trái trong thời gian từ
8 đến 13 ngày và chết ngay sau đó, trong khi con đực trưởng thành có thểsống từ 5 đến 9 ngày Con cái không được giao phối đẻ trứng đực, và ngượclại, con cái được giao phối thường đẻ 4 trứng cái trên mỗi trứng đực
Trứng nở trong khoảng 2 đến 3 ngày và ấu trùng sinh ra từ vỏ trứng đểgây hại Ấu trùng thường di chuyển chậm và không phân tán xa Sau 2 hoặc 3ngày, ấu trùng phát triển sang giai đoạn ấu trùng bất động (nhộng) Ấu trùngcái bất động trở nên hấp dẫn với con đực, con đực sẽ nâng con cái lên vàmang chúng đến bộ lá mới Con đực và cái đều rất hoạt động nhưng con đực
rõ ràng đóng góp nhiều vào sự phân tán của quần thể nhện trắng do có khảnăng mang ấu trùng cái đến vị trí mới Khi con cái thoát khỏi giai đoạn bấtđộng, con đực ngay lập tức sẽ giao phối với nó Cũng có báo cáo cho rằng nhệntrắng sử dụng các côn trùng, đặc biệt là một số loài ruồi trắng (whiteflies) để dichuyển từ cây này đến cây khác
• Rệp sáp
+ Đặc điểm hình thái:
Rệp sáp là loại côn trùng chích hút, kích thước cơ thể nhỏ, dài khoảng 2 4mm, bề ngang khoảng 1,5 - 3mm, sống tập trung thành bầy ở rễ gốc cây, gốc lá
Trang 19-và quả để gây hại Trứng hình bầu dục nhỏ màu trắng trong, trứng được đẻ thànhbọc, các trứng xếp chồng lên nhau, phía ngoài có lớp sáp bông trắng bao phủ.+ Thời điểm gây hại:
Rệp sáp xuất hiện gây hại quanh năm
+ Mức độ gây hại:
Rệp sống và hút nhựa trên chồi non, lá và trái làm lá héo vàng, chồi vàtrái chậm phát triển Cả trưởng thành và rệp non đều gây hại Nếu bị nhiễmnặng, lá bị vàng, rụng, cành bị khô và chết, trái cũng có thể bị biến mầu, pháttriển kém và bị rụng Bên cạnh đó mật ngọt do rầy tiết ra sẽ giúp nấm bồ hóngphát triển, làm vỏ trái bị đen, ảnh hưởng đến vẻ đẹp bên ngoài của trái Nguyhiểm nhất là rệp sáp gây hại trên rễ cam Vào mùa khô rệp sáp chuyển xuốngđất quanh gốc cây để sinh sống, hút nhựa, phá hoại gốc và rễ, mật độ rệp cao
có thể làm cho cây bị héo vàng và chết
• Bệnh ghẻ (Citrus scab)
Bệnh ghẻ do một loài nấm (Elsinoe fawcetti - thể không hoàn chỉnh củaSphacema fawcetti) gây ra Nấm bệnh gây hại ở cành lá non, trái non kể cả khivừa mới đậu Biểu hiện là những mụn giống như mụn ghẻ nhưng hình thù khôngđều đặn Giống như những cụm nhỏ li-e (nút chai) đôi khi dính vào nhau, màuvàng nâu, một đôi chỗ màu đen do các bào tử thoát ra Điểm khác biệt với bệnhloét là mụn chỉ bám ở một mặt lá trong khi nếu là bênh loét thì vết loét xuyênqua bề dày phiến lá, biểu hiện ở cả hai mặt lá Lá bị hại bị xoăn lại
Bảo tử nấm do gió, sâu bọ mang tới bám vào mặt búp, lá, trái non v.v
Độ nhiệt dưới 360C, độ ẩm cao giúp cho bảo tử nảy mầm phát sinh bệnh.Chanh, quýt (tắc), cam bị bệnh này khá nặng
• Bệnh vàng lá (Bệnh Greening)
Triệu trứng: Lá vẫn xanh nhưng có đốm vàng, trong khi ở một số láphiến lá bị vàng, gân lá vẫn còn xanh, lá nhỏ và hẹp dài như tai thỏ, rụng sớm.Trên cây bị bệnh trái nhỏ, méo mó, hạt bị thui đen, ra bông nhiều đợt trêncùng một cây
Trang 20• Bệnh gỉ sắt
Triệu trứng: Đầu tiên trên mặt dưới của lá xuất hiện những chấm nhỏ màuvàng nhạt như những giọt dầu Sau đó các chấm này lớn dần và từ giữa xuất hiệnbột màu vàng cam, đó là bào tử của nấm gỉ sắt Bào tử chuyển dần sang màutrắng từ trung tâm ra ngoài và cuối cùng vết bệnh có màu nâu như vết cháy Cácvết cháy có thể liên kết với nhau thành vết cháy lớn, dẫn đến cháy toàn bộ lá vàrụng Khi bệnh nặng, cây rụng hết lá và chết Xuất hiện và gây hại trong mùamưa khi ẩm độ không khí cao Có thể gây hại trên diện rộng, gây hại trên lá, ảnhhưởng đến quang hợp của cây trồng, giảm sản lượng cây ăn quả
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Nguồn gốc và lịch sử nghề trồng cam quýt trên thế giới
Trong các loại cây ăn quả, cùng với nho, cam, quýt có lịch sử trồng trọtlâu đời nhất Có nhiều báo cáo nói về nguồn gốc của cam, quýt, phần lớn đềunhất trí rằng cam, quýt có nguồn gốc ở miền nam châu Á, trải dài từ Ấn Độqua Himalaya, Trung Quốc xuống vùng quần đảo Philippin, Malaysia, miềnnam Indonecia hoặc kéo đến lục địa Úc Những báo cáo gần đây nhận địnhrằng, tỉnh Vân Nam - Trung Quốc có thể là nơi khởi nguyên của nhiều loàicam quýt quan trọng, tại đây còn tìm thấy rất nhiều loài cam quýt hoang dại
Cam ngọt (Citrus Sinensis L) được xác định có nguồn gốc ở miền namTrung Quốc, Ấn Độ và miền nam Indonesia, sau đó cũng giống như loài Citrusmedica được các thuỷ thủ và những người lính viễn chinh mang về trồng ởchâu Âu, Địa Trung Hải, châu Phi từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 17
Tóm lại, cam quýt có nguồn gốc ở miền nam châu Á, sự lan trải củacam quýt trên thế giới gắn liền với lịch sử buôn bán đường biển và các cuộcchiến tranh trước đây Cam quýt được di chuyển đến châu Phi từ Ấn Độ bởicác đoàn thuyền buồm, di chuyển đến châu Mỹ bởi các nhà thám hiểm vàthuyền buôn người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha
Trang 212.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam sành trên thế giới
2.2.2.1 Tình hình sản xuất và các vùng trồng cam quýt chủ yếu trên thế giới
Trong suốt nhiều thập kỷ qua, năng suất, diện tích và sản lượng củacam quýt không ngừng tăng nhanh Vành đai trồng trọt cam quýt trải dài từ
400 vĩ bắc xuống 400 vĩ nam, có nghĩa là cam quýt chỉ được trồng trọt ở vùngnhiệt đới và á nhiệt đới Hiện nay vùng cây ăn quả nhiệt đới như Việt Nam,Cuba, Thái Lan, Malaysia và miền nam Trung Quốc đang gặp những khókhăn lớn về phát triển cam quýt do một số bệnh hại cam quýt điển hình củavùng nhiệt đới như bệnh Greening gây nên Khiến cho diện tích cam quýt củamột số nước nằm trong vùng nhiệt đới bị thu hẹp hoặc không tăng lên được.Trái lại, khí hậu vùng á nhiệt đới không cho phép các loại bệnh hại cam quýtđiển hình là bệnh Greening phát triển mạnh, chính vì thế vùng cam quýt ánhiệt đới có xu hướng ngày càng phát triển mạnh về diện tích, năng suất, sảnlượng, chất lượng quả cũng như biện pháp kỹ thuật về giống, canh tác,…
Các vùng trồng cam quýt nổi tiếng thế giới hiện nay chủ yếu nằm ởnhững vùng khí hậu khá ôn hoà thuộc vùng á nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ônhoà ven biển chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu đại dương
2.2.2.2 Tình hình tiêu thụ cam quýt của một số nước trên thế giới
Thị trường tiêu thụ hoa quả lớn nhất hiện nay chính là Liên minh châu
Âu (EU) EU là một khu vực nhập khẩu ròng cam, với khối lượng nhập khẩuthường vượt xa xuất khẩu Giai đoạn 2008 -2009, Nhập khẩu cam vào EU trịgiá khoảng 634 triệu USD, xuất khẩu đạt 181 triệu USD Thương mại nộikhối EU có vai trò rất quan trọng, xét về khối lượng cam được sản xuất tại cácnước EU Các khách hàng chính của các nước sản xuất cam lớn trong EUchính là các nước thành viên EU khác
Nhà cung cấp lớn các sản phẩm cam cho thị trường EU là Nam Phi,cung cấp cho thị trường châu Âu trong giai đoạn từ tháng 6 cho đến tháng 10
Trang 22hàng năm, tiếp theo Nam Phi là Ma-rốc, Ai Cập và Argentina Các nhà nhậpkhẩu cam lớn tại châu Âu là Đức, Pháp, Hà Lan và Vương quốc Anh.
Tại Tây Ban Nha, mức tiêu thụ bình quân đầu người trong năm 2008đạt gần 20 kg, chiếm khoảng 20% mức tiêu thụ trái cây tươi Tuy nhiên, hiệntại, mức độ tiêu dùng cam tươi suy giảm do các sản phẩm quả có múi đượcchế biến như nước ép trái cây đang dần trở nên quan trọng hơn và thuận tiện
Tại Hy Lạp, nhu cầu về cam tươi giảm so với 2009, do tác động củacuộc khủng hoảng tài chính chung của EU Tuy nhiên, xuất khẩu cam sangcác thị trường truyền thống như Đức, Croatia, Ba Lan, Cộng hòa Séc,Moldavia, Romania, Hungary, Slovenia và nhiều nước khác vẫn duy trì hoặctăng lên Xuất khẩu cam của Hy Lạp đã tăng lên 25% trong năm 2009 Hàngnăm, Hy Lạp tiêu thụ cam tươi dao động từ 250.000 - 300.000 tấn
Tại châu Á, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu tiềm năng của nhiềunước trên thế giới Năm 2009, Trung Quốc nhập 79.000 tấn cam, chiếm hơn70% lượng cam quýt nhập khẩu, tăng 20% so với năm 2008 Chủ yếu là CamNavel, Valencia của Mĩ Cam Nam Phi nhập vào Trung Quốc đứng thứ 2 sau
Mĩ Quảng Đông là tỉnh nhập cam Mỹ hàng đầu (chiếm 90% cam nhập vàoTrung Quốc), ngoài ra có: Thượng Hải, Thâm Trấn, Thiên Tân, Thanh Đảo.Cũng năm 2009, Trung Quốc nhập 10.000 tấn quít Cam nhập vào TrungQuốc từ Mỹ, Thái Lan và Đài Loan ổn định ở mức 6.000 tấn Ngoài ra Nhậtbản cũng là nước nhập khẩu cam quýt lớn của châu Á
2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam sành tại Việt Nam
2.2.3.1 Tình hình sản xuất và các vùng trồng cam quýt ở Việt Nam
* Tình hình sản xuất
Cam quýt nước ta trồng khắp từ Bắc vào Nam và được trồng từ rất lâuđời nhưng trước đây cam quýt vẫn là thứ quả quý hiếm ít người biết đến LêQuý Đôn, đã mô tả: Việt Nam có rất nhiều thứ cam: Cam Sen (gọi là Liên
Trang 23Cam), Cam Vú (Nhũ Cam) da sần vị rất ngon; Cam Chanh da mỏng và mỡ,vừa ngọt thanh vừa có vị chua dịu; Cam Sành (Sinh Cam) vỏ dày, vị chuanhẹ, cam mật vỏ mỏng vị ngọt; Cam Giấy tức Kim Quất da rất mỏng, màuhồng trông đẹp mắt, vị chua; Cam Động Đình quả to, vỏ dày, vị chua.
Đến những năm 60 của thế kỷ XX, diện tích cam quýt được tăng lênmột cách nhanh chóng và có nhiều nông trường trồng cam ra đời như: Sông
Lô, Sông Bôi, Thanh Hà, Vân Du, Sông Lam, Đông Hiếu với diện tíchkhoảng 3000 ha Ở miền Bắc trong những năm 1975 thì diện tích cam, quýt
có xu thế giảm đi, do một số diện tích trồng cam đã già cỗi, sâu bệnh nặng
Từ năm 2007 - 2010 Diện tích cây ăn quả của nước ta giảm từ 778,5nghìn ha năm 2007 xuống 776 nghìn ha năm 2010 Ngoại trừ cây xoài có diệntích và sản lượng tăng lên, các loại cây ăn quả khác đều có xu hướng giảm vềdiện tích nhưng tăng về sản lượng
Trong những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp nước ta bị thu hẹpbởi sự chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất xây dựng, nhưng qua trên ta thấydiện tích, Diện tích cam quýt tuy có giảm nhưng sản lượng lại tăng lên Điều đócho thấy mặc dù có một số hạn chế về sinh thái, nhưng yếu tố chăm sóc đã đượcchú trọng phát triển nhiều hơn, cam quýt vẫn giữ một vị trí quan trọng trong cơcấu kinh tế nước nhà Tuy nhiên, theo thống kê của FAO năng suất cam quýt cònrất thấp, bình quân vào khoảng 11,86 tấn/ha So với những nước có nền nôngnghiệp tiên tiến có năng suất cam quýt trung bình đạt từ 20- 50 tấn/ha
Diện tích cây có múi ở miền Nam lớn hơn so với miền Bắc, các giống chủlực ở miền Nam là cam Sành và bưởi Miền Bắc có hai vùng trồng cây ăn quả cómúi lớn, vùng Đông Bắc đóng vai trò chủ lực, giống quan trọng nhất là camSành; vùng Bắc Trung Bộ (Nghệ An chủ yếu là trồng cam ngọt lớn và tập trungnhất trong nước Từ 1975, sau khi miền nam hoàn toàn được giải phóng, đấtnước thống nhất, vành đai trồng cam quýt trải dài từ bắc đến nam Sự phân bố
Trang 24vùng trồng cam quýt ở nước ta tập trung ở cả Bắc, Trung, Nam với tổng diệntích tính đến năm 2008 là 61.100 ha trong đó được chia làm 8 vùng sản xuất
* Các vùng trồng cam quýt chủ yếu ở Việt Nam
+ Vùng cam quýt miền núi và trung du phía bắc
Bao gồm các tỉnh như: Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, BắcCạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Sơn La, Lai Châu Khu vực này chủ yếu làvùng núi cao, khí hậu phân mùa rõ rệt Đất đai khá đa dạng như: đất feralit đỏvàng trên phiến thạch là loại đất điển hình của vùng trung du đông bắc, đấtmùn đá vôi, gơnai, phiến thạch sét, phiến thạch mica, đất phù sa cổ, phù sakhông được bồi ven sông, suối, phù hợp để trồng nhiều loài cây ăn quả
Theo tổng cục thống kê năm 2007, toàn miền bắc có khoảng 314,6nghìn ha (chiếm 40,6%) và sản lượng đạt khoảng 3 triệu tấn (chiếm 37,5%)phân bố ở các vùng chính sau: vùng Đồng bằng sông Hồng; vùng Đông Bắc,vùng Tây Bắc và vùng Bắc Trung Bộ trong đó Đông Bắc là vùng sản xuất câycam quýt chủ lực
Tuy nhiên vùng còn gặp khó khăn như: Địa hình dốc, lượng mưa phân
bố không đều, đất nghèo kiệt dinh dưỡng do rửa trôi, xói mòn Việc áp dụng
kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, chủ yếu vẫn là độc canh một giống, chưaquan tâm chọn giống, địa bàn rất phân tán, giao thông đi lại khó khăn, hạ tầng
cơ sở nghèo nàn, rất khó khăn trong việc vận chuyển và tìm kiếm thị trường
+ Vùng sản xuất cam quýt ven biển miền trung
Bao gồm các tỉnh như: Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình trải dài từ18- 20030’ vĩ độ bắc Năm 2007 diện tích cam quýt là 8,29 nghìn ha (chiếm10,7%) và sản lượng đạt 0,57 triệu tấn (chiếm 7,1%), đứng thứ 3 sau khu vựcđồng bằng sông Cửu Long và miền núi phía bắc Trọng điểm trồng cam quýtvùng này phải kể đến là vùng Phủ Quỳ Nghệ An, với một cụm các nôngtrường chuyên cam quýt có diện tích hàng nghìn ha, với nhiều giống nhập nội
Trang 25từ nước ngoài được trồng với mục đích xuất khẩu Tuy nhiên, thời tiết khí hậutương đối khắc nghiệt, mưa về mùa nóng, khô về mùa đông phần nào hạn chế
sự sinh trưởng của cam quýt
+ Vùng cam quýt đồng bằng sông Cửu Long
Bao gồm các tỉnh như Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long, TràVinh,… Cam quýt được trồng nhiều ở các vùng phù sa ven sông Tiền, sông Hậu,nông dân ở đây có trình độ trồng cam quýt khá cao Vùng có một số loại cam,quýt nổi tiếng như: cam giấy, cam Navel, cam sành, quýt đường, Vùng pháttriển mạnh nhờ khí hậu, đất đai khá phù hợp và có thị trường tiêu thụ rộng lớn làthành phố Hồ Chí Minh và khu vực lân cận Tuy nhiên, vùng cam quýt này cònmột số mặt khó khăn như: nhiệt độ chênh lệch ngày và đêm không cao, thời tiếtnóng quanh năm, lũ lụt và sâu bệnh nhiều
2.2.3.2 Tình hình tiêu thụ cam, quýt tại Việt Nam
Tính đến hết tháng 10/2011, kim ngạch xuất khẩu rau quả của cả nướcđạt 515 triệu USD, tăng 40,6% so với cùng kỳ và đạt 109,5% kế hoạch năm(470 triệu USD)
Đại bộ phận sản lượng cam quýt sản xuất trong nước có mùa vụ thuhoạch chủ yếu từ tháng 9 -12, đây là thời gian sản lượng cam quýt cung cấpcho thị trường đạt rất lớn so với thời gian khác trong năm, không chỉ từ sảnxuất trong nước mà còn cộng thêm một lượng cam quýt nhập khẩu từ nướcngoài Trong số đó, cam quýt nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam chủ yếutrong các tháng 10 đến tháng 1 năm sau, sản lượng có xu hướng gia tăng qua
3 năm gần đây và bán hầu khắp các tỉnh thành ở nước ta trong thời gian này
Trên thị trường, cam sành và các loại cam quýt khác là những mặt hàng
có thể thay thế cho nhau Vì vậy khi thị trường có nhiều cam quýt cung cấpvới giá rẻ, người tiêu dùng chuyển qua mua cam quýt các loại thay vì phảimua cam sành và ngược lại Sự cạnh tranh này là nguyên nhân chính đẩy giá
Trang 26cam Sành Đồng bằng sông Cửu Long trong các tháng 9 -12/2011 xuống chỉcòn 4.500 - 6.500 đồng/kg đối với loại quả to đẹp mã Ngược lại, tháng 1- 8 làthời gian sản lượng cam Sành Đồng bằng sông Cửu Long giảm sút đáng kể,nhất là trong các tháng 4- 7, trong thời gian này nhiều loại cam quýt sản xuấttrong nước và nhập khẩu từ nước ngoài cũng giảm mạnh khiến giá cam sànhtăng cao, đối với cam Sành loại 1 (quả có trọng lượng từ 250g trở lên, ngoạihình đẹp) có giá bán 14.000-18.000 đ/kg; tại thị trường Hà Nội, Đà Nẵng giábán lẻ từng đạt 25.000-35.000 đ/kg
Cạnh tranh giữa cam, quýt sản xuất trong nước và nhập khẩu từ nướcngoài như Trung Quốc, Thái Lan, Mĩ,… khá gay gắt về mẫu mã, chất lượng
và giá cả, nhất là sau khi nước ta gia nhập WTO Hơn nữa, sự già cỗi của cácvườn cam đã một phần bị thoái hoá làm cho quả chua hơn và nhiều hạt Bêncạnh đó kèm theo dịch bệnh phá hoại… khiến việc tìm kiếm thị trường tiêuthụ trở nên khó khăn
Hiện nay nước ta có rất nhiều sản phẩm cam, quýt đã có thương hiệunhư cam Vinh, cam sành Tuyên Quang, Cam sành Hà Giang, cam sành MỹLợi, cam sành Tam bình… đây là một lợi thế để cạnh tranh với các sản phẩmcam quýt nhập ngoại Tuy nhiên, trừ cam Vinh thì rất ít người sản xuất sửdụng các thương hiệu này do chi phí bao bì đóng gói sản phẩm cao, dẫn tới rất
ít người tiêu dùng trong nước và thế giới biết tới các thương hiệu cam này
2.2.3.3 Những khó khăn trong việc trồng cam quýt ở nước ta
Vùng sản xuất cây ăn quả tập trung chuyên canh, hàng hoá còn ít, quy
mô nhỏ, manh mún chưa tương xứng với tiềm năng Ngoài một số vùngchuyên canh quy mô lớn như cam quýt ở Hà Giang, Hoà Bình, Nghệ An;nhiều vùng sản xuất cây ăn quả còn manh mún, đa số là các vườn tạp, chưađược đầu tư về quy hoạch, cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ Giá trị sảnphẩm thấp, không ổn định
Trang 27Sản xuất cây ăn quả những năm qua chủ yếu là sử dụng các giống trongnước, giống bản địa, năng suất, chất lượng thấp, chưa đáp ứng được yêu cầucủa thị trường trong và ngoài nước Việc một số cơ quan nghiên cứu khoa học
và địa phương mấy năm gần đây đã chú ý đến bình tuyển cây đầu dòng phục
vụ sản xuất nhưng số lượng rất nhỏ so với yêu cầu của sản xuất Đa số bà connông dân nhân giống tự phát không thông qua các trung tâm giống
Việc đầu tư nghiên cứu chọn tạo những giống cây ăn quả có năng suấtcao, chất lượng tốt phù hợp với thị hiếu của khách hàng chưa thoả đáng Đây
là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc chậm thay đổi các giốngcây ăn quả có chất lượng thấp thời gian qua
Công tác bảo quản sau thu hoạch của cam, quýt Việt Nam gặp rất nhiềukhó khăn Các sản phẩm của nước ta thường chỉ bảo quản được khoảng 1- 2tuần, nếu để lâu hơn sẽ sảy ra tình trạng héo hoặc thối làm mất giá trị thươngphẩm và giá trị cạnh tranh của sản phẩm Trong khi cam quýt nhập từ TrungQuốc, Mĩ, Thái Lan có thể bảo quản lên thới 3 - 4 tháng
Thị trường cam quýt trong nước và xuất khẩu không ổn định, giá cả bấpbênh, nhất là sau sự sụp đổ của các nước đông Âu, thị trường xuất khẩu camquýt của Việt Nam bị thay đổi theo hướng bất lợi Do sự nhập khẩu bất hợp phápcam quýt từ Trung Quốc với giá rẻ đã làm giá cam quýt nội địa giảm đi nhiều
Thiếu một kế hoạch đầu tư, quy hoạch phát triển vùng trồng camquýt một cách thống nhất, đồng bộ, đôi khi các vùng cam quýt được hìnhthành tự phát trong sản xuất Những yếu tố trên đã ảnh hưởng không ítnghề trồng cam quýt ở nước ta
Trang 28PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng: Là các hộ nông dân sản xuất cam sành trên địa bàn xã PhùLưu - Hàm Yên - Tuyên Quang
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Tháng 1 năm 2013 đến tháng 5 năm 2013
- Không gian: 6 thôn thuộc xã Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnhTuyên Quang
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Khái quát về điều tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Phù Lưu.
3.3.2 Tìm hiểu về tình hình sản xuất cam sành tại dịa bàn nghiên cứu.
3.3.3 Tìm hiểu về thị trường tiêu thụ cam sành tại xã Phù Lưu.
3.3.4 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong sản xuất và tiêu thụ cam sành của xã Phù Lưu.
3.3.5 Đề xuất các giải pháp phát triển sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ cam sành tại địa bàn nghiên cứu.
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp là phương pháp thu thập cácthông tin, số liệu có sẵn đã được công bố, đảm bảo tính đại diện và kháchquan của đề tài nghiên cứu Những số liệu này mang tính tổng quát, giúp chongười nghiên cứu có bước đầu hình dung tình hình sản xuất, những vấn đềthuận lợi khó khăn mà người dân gặp phải Các thông tin này thường đượcthu thập từ các cơ quan, tổ chức, văn phòng dự án,…
Trang 29Trong phạm vi đề tài này, phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
sử dụng để có được các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của
xã Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang từ UBND xã, cán bộkhuyến nông, cán bộ nông nghiệp, hiệp hội cam sành Hàm Yên, Trung tâmcây ăn quả huyện Hàm Yên, Trạm khí tượng thủy văn huyện Hàm Yên,
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp là phương pháp thu thập cácthông tin, số liệu chưa từng được công bố ở bất kỳ tài liệu nào, người thu thập
có được thông qua tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu bằng nhữngphương pháp khác nhau như: Tìm hiểu, quan sát thực tế, đánh giá nông thôn…
Để có số liệu phục vụ cho nội dung nghiên cứu và nhằm thu được kết quảkhách quan, có tính đại diện cao, tôi tiến hành điều tra 60 hộ nông dân sản xuấtcam sành tại 6 thôn Mường, Pác Cáp, Nà Có, Nà Luộc, Pá Han, Bản Ban
Ngoài ra, cần sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp trong quá trìnhđiều tra bằng bảng hỏi để có được có thể đối chiếu với những thông tin thuthập được trong bảng hỏi Từ đó đưa ra những đánh giá về quá trình sản xuất
và tiêu thụ cam sành của bà con nhân dân trong xã Phù Lưu
* Cách chọn mẫu điều tra
Mẫu được chọn để tiến hành điều tra là 60 hộ gia đình chia đều cho 6thôn điển hình trong sản xuất cam của xã Phù Lưu Các hộ này được chọn hoàntoàn ngẫu nhiên theo hình thức lập danh sách và rút thăm danh sách các hộtrồng cam của 6 thôn Từ kết quả thu thập được có thể đưa ra đánh giá chung
và khách quan hơn cho đề tài nghiên cứu Cách chọn nông dân được điều tra,phỏng vấn tại 6 thôn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản
Số lượng mẫu điều tra được phân chia như sau
Để lựa chọn mẫu chúng tôi dựa vào đặc tính hay tập quán canh tác để đisâu hơn vào nghiên cứu phân tích mẫu
Trang 30Bảng 3.1 Phân loại số lượng mẫu chọn điều tra
Tên thôn
điều tra
Tổng số (hộ)
Phân theo tập quán canh tác của hộ Chuyên sản
Bảng 3.2 Phân chia hộ theo diện tích ta phân chia các hộ theo bảng sau
* Phương pháp phân tích SWOT
Đây là phương pháp nhằm giúp cộng đồng có thể tự tìm ta các điểmmạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của địa phương nơi họ đang sinh sống
Trang 31PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lí
Phù Lưu là xã nằm phía Bắc huyện Hàm Yên, cách trung tâm huyệnHàm Yên 15km, tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 8.863,81 ha, có vị trítương đối thuận lợi, có sông Lô, tỉnh lộ 189 và nhiều tuyến đường trục chínhchạy qua đó là điều kiện thuận lợi cho xã phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa
và tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật Xã có vị trí tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp xã Trung Hà, Hà Lang, huyện Chiêm Hóa;
- Phía Nam giáp xã Tân Thành, huyện Hàm Yên;
- Phía Đông giáp xã Minh Hương, huyện Hàm Yên;
- Phía Tây giáp xã Minh Dân, huyện Hàm Yên
4.1.1.2 Địa hình
Xã có địa hình khá đa dạng, bao quanh là đồi núi cao, xen kẽ là cáccánh đồng thấp dễ bị ngập úng khi có lượng mưa lớn Độ cao trung bình nơitương đối bằng phẳng từ 45 - 60m, độ cao trung bình tại khu vực đồi núi là
450 - 500m Xã có hướng dốc từ Bắc xuống nam và từ Đông Bắc sang TâyNam Nhìn chung địa hình của xã khó khăn trong việc xây dựng cơ sở hạtầng, phát triển khu dân cư
4.1.1.3 Khí hậu, thuỷ văn.
Chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu đông bắc nhiệt đới gió mùa tạo ra haimùa rõ rệt mùa hè nóng ẩm mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 9; mùa đônglạnh, khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau
Trang 32- Nhiệt độ trung bình năm là 230C, nhiệt độ trung bình các tháng vềmùa đông là 160C, nhiệt độ trung bình các tháng mùa hè là 280C.
- Độ ẩm trong năm giao động trong khoảng 85 - 87%
- Lượng mưa trung bình năm là 1.500 - 1800 mm; mùa mưa từ tháng 9; tháng 10 đến tháng 4 năm sau ít mưa (chiếm khoảng 15 - 20% tổng lượngmưa trong năm)
5 Tổng tích ôn trung bình năm khoảng 8.0000 C
- Ngoài ra xã còn chịu ảnh hưởng của một số kiểu thời tiết cực đoankhác như sương mù, sương muối…
Nhìn chung, xã Phù Lưu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa,lượng mưa trung bình khá lớn, có nền nhiệt độ trung bình khá cao, giàu ánhsáng Đây là những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, đặc biệt là trongphát triển nông - lâm - nghiệp
Chế độ thủy văn của xã Phù Lưu chịu ảnh hưởng của nhiều loại địahình, điển hình cho hệ thống sông, suối chi phối nhiều đến chế độ thủy văntrong xã là sông Lô và sông Thụt đây là hai con sông chính và lớn nhất chảyqua địa bàn Ngoài ra xã còn chịu ảnh hưởng của các con suối như suối Thọ,suối Nậm Lương, suối Khiêng… Nhìn chung, các con suối này có độ dốc khálớn lòng hẹp, thường bị khô cạn về mùa khô
4.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
4.1.2.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã
Với tổng diện tích tương đối lớn 8863,81 ha, trong đó chủ yếu là đấtlâm nghiệp, giai đoạn từ 2010 đến 2012 tình hình biến động đất đai của xãkhông có nhiều thay đổi Số liệu được cụ thể hóa qua bảng 4.1
Qua bảng 4.1 cho thấy đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổngdiện tích đất tự nhiên, năm 2010 có diện tích là 8197,36 ha chiếm 92,48%,năm 2011 có diện tích là 6197,29 ha chiếm 92,47, năm 2012 có diện tích là
Trang 338196,14 chiếm 92,46% Diện tích đất nông nghiệp qua các năm giảm dần tuynhiên giảm với tỷ lệ ít không đáng kể Trong đó, đất nuôi trồng thủy sảnchiếm tỷ lệ rất ít chiếm 0,29%, trong 3 năm đất nuôi trồng thủy sản khôngthay đổi vẫn giữ nguyên diện tích là 25,78 ha Diện tích đất lâm nghiệp chiếm
tỷ lệ cao nhất chiếm 67,93%, so với đất nuôi trồng thủy sản thì đất lâm nghiệpchiếm tỷ lệ rất lớn
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất của xã Phù Lưu giai đoạn (2010 - 2012)
Năm Loại đất
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
24,26
(Nguồn: UBND xã Phù Lưu, năm 2010, 2011, 2012)
Đất phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ ít nhất trong tổng diện tích đất tựnhiên, năm 2010 có diện tích là 226,78ha chiếm 2,55%, năm 2011 có diệntích là 226,86 ha chiếm 2,56%, năm 2012 có diện tích là 228 ha chiếm 2,57%,diện tích đất phi nông nghiệp qua 3 năm có sự thay đổi theo chiều hướng tăngqua các năm, tuy nhiên sự thay đổi đó không đáng kể
Trang 34Đất chưa sử dụng chiếm tỷ lệ không đáng kể, qua 3 năm diện tích đấtchưa sử dụng không có gì thay đổi.
4.1.2.2 Tình hình dân số, lao động
Phù Lưu là một xã nghèo, dân cư thưa thớt với 24 xóm và 5 dân tộcanh em cùng sinh sống và lao động là dân tộc Tày, Kinh, Dao, Cao Lan, Hoa.Trong đó người Tày chiếm tỷ lệ cao nhất với khoảng 65,1% dân số, tiếp sau
đó là người Kinh với khoảng 14,3% dân số, người, còn lại là người Dao, CaoLan, Hoa Các dân tộc cùng sinh sống với những bản sắc riêng tạo ra sự đadạng và phong phú về phong tục, tập quán, lối sống Tình hình dân số và laođộng được thể hiện qua bảng 4.2
Bảng 4.2 Nhân khẩu và lao động xã Phù Lưu giai đoạn (2010 - 2012)
Số lượn g
Cơ cấu (%)
Số lượn g
Cơ cấu (%)
Số lượn g
Cơ cấu (%)
Trang 35-Tổng diện tích km2 8,86 - 8,86 - 8,86
-3 Mật độ dân số Người/km2 96,14 - 97,37 - 99,09
-(Nguồn: UBND xã Phù Lưu năm năm 2010, 2011, 2012)
Qua bảng 4.2 chúng ta thấy, tổng số nhân khẩu tăng khoảng 2,7% (từ
8546 người lên 8783 người), tăng thêm 237 nhân khẩu, trong đó số nhân khẩutăng lên chủ yếu trong lĩnh vực phi nông nghiệp với 459 người, còn trong lĩnhvực nông nghiệp số nhân khẩu lại giảm xuống khoảng 222 người
Số lao động có mức độ tăng tương đối chậm do số nhân khẩu sắp đến
độ tuổi lao động, trong đó lĩnh vực phi nông nghiệp có độ tăng cao
Tổng số hộ cũng có mức tăng là 2019 hộ năm 2010 tăng lên 2031 hộnăm 2012 tăng thêm 12 hộ, trong đó hộ phi nông nghiệp tăng thêm 9 hộ
4.1.2.3 Cơ cấu kinh tế của xã giai đoạn 2010 - 2012
Xã Phù Lưu, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá, nhưng chưa vữngchắc và phát triển bền vững Cơ cấu kinh tế giữa các ngành có sự chênh lệchkhá lớn, cơ cấu các ngành kinh tế được thể hiện rõ qua bảng dưới đây:
Bảng 4.3 Cơ cấu kinh tế xã Phù Lưu giai đoạn (2010 - 2012)
(Nguồn: UBND xã Phù Lưu năm năm 2010, 2011, 2012)
Hình 4.1: Cơ cấu kinh tế xã Phù Lưu năm 2010, 2011, 2012
Qua biểu đồ cho thấy:
Trang 36Trong 3 năm ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất, năm 2010chiếm 74,5%, năm 201 chiếm trên 72,4%, năm 2012 chiếm 70,8%, qua cácnăm tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm dần, tuy nhiên giảm không đáng kể.
Ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là chiếm tỷ trọng nhỏ nhất,năm 2010 chiếm 5,5%, năm 2011 chiếm 5,9%, năm 2012 chiếm 6,1%, qua cácnăm tỷ trọng ngành của ngành có xu hướng tăng, tuy nhiên tăng không đáng kể
Ngành thương mại - dịch vụ cũng chiếm tỷ lệ ít tuy nhiên cao hơnngành CN - TTCN, tỷ trọng chiếm không đáng kể, qua các năm ngành TM -
DV có xu hướng tăng Như vậy, cho kinh tế xã Phù Lưu đang chuyển dịch cơcấu theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng ngành CN
- TTCN, TM - DV, theo đúng xu hướng mà Nhà nước ta đã và đang tích cựcchuyển dịch Đồng thời cho thấy được ngành nông nghiệp là ngành mang lạithu nhập chính cho người dân nơi đây
4.1.2.4 Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất sản xuất, kinh doanh
Bảng 4.4 Hiện trạng cơ sở hạ tầng tính đến năm 2012
I Công trình thủy lợi
II Công trình giao thông
III Công trình điện
IV Công trình cơ sở hạ tầng
Trang 37(Nguồn: UBND xã Phù Lưu năm năm 2010, 2011, 2012)
+ Thủy lợi: Toàn xã có 51,29 km kênh mương nội đồng, 24,60 km kênhmương được kiên cố hóa Hệ thống công trình thủy lợi của xã cơ bản đáp ứngtưới tiêu cho số ruộng hiện có
+ Trường học, y tế: Cả xã có 105 phòng học, cơ sở vật chất tương đốiđầy đủ cho công tác dạy và học của các học sinh vào giáo viên trên toàn xã.Thực hiện tốt công tác giáo dục ở địa phương, phối hợp với các nhà trườngsửa chữa và xây dựng đảm bảo cơ sở vật chất cho công tác dạy và học; duy trì
và giữ vững thành quả phổ cập giáo dục Tiểu học chống mù chữ, Tiểu họcđúng độ tuổi và phổ cập giáo dục Trung học cơ sở; đang thực hiện phổ cập
+ Cấp thoát nước
Trên địa bàn xã có 5 công trình cấp nước sạch tập trung đã bị hỏngkhông còn sử dụng được Nhưng hiện nay đã được dự án di dân tái định cưđầu tư nâng cấp 4 công trình tại các thôn Mường, thôn Nà Có, thôn Pá Han,thôn Táu; Xây dựng mới 01 công trình tại thôn Bản Ban (Cốc La) Đảm bảocung cấp nước cho 630 hộ gia đình trong thời gian tới
4.1.2.5 Tình hình văn hóa, xã hội
Trên địa bàn xã hiện nay có 5 dân tộc anh em cùng sống với những bảnsắc văn hóa và phong tục tập quán riêng biệt Tuy nhiên, do điều kiện là vùngcao, miền núi cho nên trình độ văn hóa còn thấp
Trong những năm gần đây, về cơ bản xã đã được công nhận phổ cậpgiáo dục tiểu học, tỷ lệ mù chữ đã giảm rất đáng kể, chỉ còn 4% dân số mù
Trang 38chữ (chủ yếu là người già và người tàn tật), tỷ lệ tăng dân số cũng giảmkhoảng 1,34% so với 2,0% những năm trước đó, tỷ lệ khám chữa bệnh cũngđược nâng cao, năm 2012 đã có 12.250 lượt người khám chữa bệnh ở trạm y
tế xã, đặc biệt là sự hoạt động của trung tâm y tế dự phòng
Trang 394.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp xã Phù Lưu
4.2.1 Cơ cấu sản xuất nông nghiệp của xã giai đoạn 2010 - 2012
Bảng 4.5 Cơ cấu ngành nông nghiệp xã phù lưu giai đoạn (2010-2012) ST
(Nguồn: UBND xã Phù Lưu năm năm 2010, 2011, 2012)
Qua bảng 4.5 cơ cấu ngành nông nghiệp của xã Phù Lưu ta thấy tỉ trọngngành trồng trọt chiếm tỉ trọng cao nhất, đứng thứ hai là ngành chăn nuôi vàchiếm tỉ trọng thấp nhất là ngành dịch vụ nông nghiệp
Ngành trồng trọt và ngành nuôi trồng thủy sản từ năm 2010-2012 có
xu hướng giảm Các ngành chăn nuôi, lâm nghiệp và dịch vụ nông nghiệp
có xu hướng tăng
Trong đó ngành dịch vụ nông nghiệp tăng nhiều nhất từ 3,7% năm
2010 tăng 4,4% năm 2011 và 5,6% năm 2012
Ngành giảm nhiều nhất ngành trồng trọt năm 2010 51,4 % giảm xuống50,8% năm 2011 và 47,5 năm 2012
4.2.2 Cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt của xã giai đoạn 2010 - 2012
Phù Lưu là một địa phương ngành trồng trọt chiếm tỉ trọng cao đem lạigiá trị kinh tế chủ yếu của địa phương, qua đó thấy vai trò của ngành trồngtrọt trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu diện tích của nhóm cây ăn quả lớn nhất, đứng thứ hai là nhómcây lương thực, nhóm cây có cơ cấu diện tích ít nhất là cây công nghiệp
Trang 40Bảng 4.6 Diện tích cây nông nghiệp xã phù lưu giai đoạn (2010-2012)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
1017, 6 50,01
Cây an quả Cam
(Nguồn: UBND xã Phù Lưu năm năm 2010, 2011, 2012)
Qua bảng 4.6 ta thấy trong ba năm từ 2010-2012 nhóm cây lương thựcgiảm cơ cấu diện tích, cơ cấu diện tích nhóm cây ăn quả và cây công nghiệp
có xu hướng tăng