LỜI MỞ ĐẦU Trong nền kinh tế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước, các doanh nghiệp với tư cách là một chủ thể kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm để có thể tăng sức cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận. Muốn như vậy doanh nghiệp phải có thông tin đầy đủ về sản xuất kinh doanh, đặc biệt là thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt của qúa trình sản xuất, có mối quan hệ khăng khít với nhau, việc hạch toán và phân tích chi phí cho phép doanh nghiệp biết chắc mình phải sản xuất và phải bán với mức giá là bao nhiêu mới đảm bảo bù đắp được chi phí và có lãi. Để quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cần tổ chức tốt công tác kế toán chí phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có ý nghiã hết sức quan trọng và có ý nghĩa thiết thực đối với việc tăng cường công tác quản lý chi phí sản xuất giá thành nói riêng và công tác quản lý doanh nghiệp nói chung. Tại công ty Rau Quả Hà Tĩnh trong những năm qua, công tác kế toán nói chung, kế toán chi phí sản xuất và giá thành nói riêng được đổi mới thích ứng và phát huy đầy đủ tác dụng trong cơ chế thị trường. Trong thời gian tìm hiểu thực tế tại Công ty Rau Quả Hà Tĩnh. Nhận thức được vai trò của công tác kế toán đối với việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, được sự hướng dẫn của thầy giáo Phạm Quang, tôi đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu và chọn đề tài" Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm rau quả đóng hộp tại Công ty Rau Quả Hà Tĩnh" làm đề tài tốt nghiệp. Nội dung của đề tài tốt nghiệp gồm 3 phần: Phần I: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất. Phần II: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Rau Quả Hà Tĩnh. Phần III: Một số ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Rau Quả Hà Tĩnh
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước, các doanhnghiệp với tư cách là một chủ thể kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh,các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sảnphẩm để có thể tăng sức cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận
Muốn như vậy doanh nghiệp phải có thông tin đầy đủ về sản xuất kinhdoanh, đặc biệt là thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt của qúa trình sản xuất,
có mối quan hệ khăng khít với nhau, việc hạch toán và phân tích chi phí cho phépdoanh nghiệp biết chắc mình phải sản xuất và phải bán với mức giá là bao nhiêumới đảm bảo bù đắp được chi phí và có lãi Để quản lý chặt chẽ chi phí sảnxuất và giá thành sản phẩm cần tổ chức tốt công tác kế toán chí phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm có ý nghiã hết sức quan trọng và có ý nghĩa thiết thựcđối với việc tăng cường công tác quản lý chi phí sản xuất giá thành nói riêng vàcông tác quản lý doanh nghiệp nói chung
Tại công ty Rau Quả Hà Tĩnh trong những năm qua, công tác kế toán nóichung, kế toán chi phí sản xuất và giá thành nói riêng được đổi mới thích ứng vàphát huy đầy đủ tác dụng trong cơ chế thị trường
Trong thời gian tìm hiểu thực tế tại Công ty Rau Quả Hà Tĩnh Nhận thứcđược vai trò của công tác kế toán đối với việc hạch toán chi phí sản xuất và tínhgiá thành sản phẩm, được sự hướng dẫn của thầy giáo Phạm Quang, tôi đã mạnh
dạn đi sâu nghiên cứu và chọn đề tài" Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm rau quả đóng hộp tại Công ty Rau Quả Hà Tĩnh" làm
đề tài tốt nghiệp
Nội dung của đề tài tốt nghiệp gồm 3 phần :
Phần I: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong doanh nghiệp sản xuất
Phần II: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
Công ty Rau Quả Hà Tĩnh
Trang 2Phần III: Một số ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Rau Quả Hà Tĩnh
Trang 3PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT I- CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT.
1- Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất:
Quá trình hoat động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp là quá trìnhbiến đổi một cách có ý thức, có mục đích, các yếu tố đầu vào sản xuất tạo thànhmột sản phẩm nhất định, hay nói cách khác là quá trình doanh nghiệp phải bỏ racác chi phí để doanh nghiệp tiến hành sản xuất nhất thiết doanh nghiệp phải có
đủ ba yếu tố cơ bản đó là:
- Tư liệu lao động
- Đối tượng lao động
- Sức lao động
Quá trình sử dụng các yếu tố cơ bản trong sản xuất cũng đồng thời là quátrình doanh nghiệp chi ra những chi phí sản xuất tương ứng Sự tham gia của 3yếu tố này vào quá trình sản xuất đã hình thành nên các yếu tố chi phí cấu thànhgiá trị của sản phẩm sáng tạo ra
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá và cơ chế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước, vấn đề hạch toán kinh doanh toàn bộ chi phí được biểu hiện bằngtiền, được xác định là chi phí sản xuất mà doanh nghiệp phải chi ra để sản xuấtsản phẩm
Vậy trong các doanh nghiệp, chi phí sản xuất là toàn bộ hao phí về laođộng sống và lao động vật hoá và các chi phí khác đã chi ra để tiến hành các họatđộng sản xuất trong một thời kỳ nhất định được biểu hiện bằng tiền
Trong doanh nghiệp, chi phí sản xuất bao gồm rất nhiều loại, mỗi loại cónội dung kinh tế cũng như công dụng trong quá trình sản xuất khác nhau Do đó,
để quản lý chặt chẽ; với giám đốc việc thực hiện tiết kiệm và sử dụng hợp lý chi
Trang 4phí cũng như để tổ chức tốt công tác kế toán thì phải tiến hành phân loại chi phísản xuất theo những tiêu thức nhất định Việc phân loại chi phí một cách khoahọc và hợp lý không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với hạch toán mà còn là tiền
đề quan trọng của kế hoạch hoá, kiểm tra và phân tích chi phí sản xuất của toàndoanh nghiệp cũng như các bộ phận cấu thành giá thành sản phẩm trong doanhnghiệp Hiện nay có các cách phân loại như sau:
a- Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí (phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố).
Theo cách phân loại này, căn cứ vào tính chất, nội dung kinh tế của các chiphí giống nhau xếp vào một yếu tố, không phân biệt chi phí đó phát sinh tronglĩnh vực hoạt động nào, ở đâu và mục đích hoặc tác dụng của chi phí như thếnào
Toàn bộ Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành các yếu tố sau:
- Chi phí Nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ chi phí về các loại đối tượnglao động là nguyên vật liệu, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, vật liệu xây dung cơbản mà doanh nghiệp đã sử dụng cho các hoạt động sản xuất
- Chi phí nhân công là toàn bộ số tiền công và các khoản khác phải trả chongười lao động trong doanh nghiệp
- Chi phí khấu hao Tài sản cố định: Là toàn bộ số phải trích khấu hao trongtháng (trong kỳ) đối với tất cả các loại tài sản cố định trong doanh nghiệp
- Chi phí dịch vụ mua ngoài là số tiền trả về các loại dịch vụ mua ngoài phục
vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trong doanh nghiệp: Tiền điện, tiến nước.tiền bưu phí
- Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ số chi phí bằng tiền phát sinh trong quátrình hoạt động sản xuất, kinh doanh, ngoài 4 chi phí trên
Phân loại Chi phí sản xuất theo nội dung tính chất kinh tế của chúng có tácdụng cho biết kết cấu, tỷ trọng từng loại chi phí mà doanh nghệp đã chi ra tronghoạt động sản xuất, kinh doanh để lập bảng thuyết minh, báo cáo Tài chính phục
Trang 5vụ cho yêu cầu thông tin và quản lý doanh nghiệp để phân tích tình hình thựchiện đự toán, chi phí lập dự toán Chi phí sản xuất kinh doanh cho kỳ sau.
b- Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí (theo khoản mục):
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích và công dụng của chi phítrong sabr xuất đề ra các khoản mục chi phí khác nhau, mỗi khoản mục chi phíchỉ bao gồm những chi phí có cùng mục đích và công dụng, không phân biệt chiphí có nội dung kinh tế như thế nào Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh cho kỳđược chia ra làm các khoản mục chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về Nguyên vật liệuchính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng vào mục đích trực tiếp sản xuất sản phẩmkhông tính vào khoản mục này những chi phí nguyên vật liệu sử dụng vào mụcđích sản xuất chung và những hoạt động ngoài sản xuất
- Chi phí nhân công trực tiếp:
Bao gồm chi phí về tiền công, tiền trích BHXH, BHYT và Kinh phí côngđoàn của công nhân trực tiếp sản xuất, không tính vào khoản mục này, số tiềncông và trích BHXH, BHYT và Kinh phí công đoàn của nhân viên sản xuấtchung, nhân viên quản lý và nhân viên bán hàng
- Chi phí sán xuất chung:
Là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất chung ở các phân xưởng, độisản xuất ngoài 2 khoản mục chi phí trực tiếp đã nêu trên bao gồm các tiểu khoản:+ Chi phí nhân viên ( phân xưởng, đội, trại sản xuất):
Phản ánh các chi phí liên quan và phải trả cho nhân viên phân xưởng (đội,trại) như: Tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp trả bảo hiểm cho nhânviên quản lý, thống kê, thủ kho, tiếp liệu công nhân phân xưởng sửa chữa ở
(xưởng, đội, trại sản xuất đội)
+ Chi phí vật liệu: Phản ánh chi phí, vật liệu sử dụng chung như chi phíNVL dùng để bảo dưỡng, sửa chữa tài sản cố định, những vật liệu dùng cho nhucầu quản lý chung ở phân xưởng, đội sản xuất
Trang 6+ Chi phí khấu hao tài sản cố định:
Phản ánh toàn bộ số tiền trích khấu hao tài sản cố định hữu hình, tài sản cốđịnh vô hình, tài sản cố định thuê ngoài ở các phân xưởng, đội sản xuất như khấuhao máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải truyền dẫn, nhà xưởng, vườncây lâu năm, súc vật sinh sản, súc vật làm việc
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài:
Phản ánh về những chi phí về lao vụ, dịch vụ mua từ bên ngoài để phục vụcho hoạt động sản xuất chung ở phân xưởng đội sản xuất như chi phí về điệnnước, khí nén hơi, chi phí điện thoại, fax, chi phí sửa chữa tài sản cố định muangoài
c- Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với số lượng sản phẩm công việc, lao vụ sản xuất trong kỳ:
Chi phí sản xuất được chia thành hai loại:
- Chi phí khả biến (biến phí):
Là những chi phí có sự thay đổi về lượng tương quan tỷ lệ thuận với sựthay đổi của khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ Thuộc loại chi phí này là chiphí vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí cố định (định phí):
Là chi phí không thay đổi về tổng số dù có sự thay đổi trong mức độ hoạtđộng của sản xuất hoặc khối lượng sản phẩm, công việc lao vụ sản xuất trong kỳ
Trang 7Phân loại chi phí sản xuất thành chi phí khả biến và chi phí cố định có tácdụng lớn đối với việc quản trị kinh doanh, phân tích điểm hoà vốn và phục vụcho việc ra quyết định quản lý cần thiết để hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quảkinh doanh.
d- Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và mối quan hệ với đối tượng chi phí:
Theo cách này, chi phí sản xuất được chia làm hai loại:
- Chi phí trực tiếp:
Là những chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp với việc sản xuất ra một loạisản phẩm, một công việc nhất định, những chi phí này kế toán có thể căn cứ vào
số liệu chứng từ kế toán để ghi
- Chi phí gián tiếp:
Là những chi phí do nhiều yếu tố khác nhau tập hợp lại theo cùng mộtcông dụng như chi phí sản xuất chung
Cách phân loại chi phí theo nội dung cấu thành của chi phí giúp cho việcnhận thức vị trí của từng loại chi phí trong việc hình thành giá thành sản phẩm để
tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất thích hợp với từng loại
Mỗi cách phân loại chi phí sản xuất có ý nghĩa đối với công tác quản lý chiphí sản xuất và giá thành sản phẩm ở những góc độ khác nhau và giữa chúng cómối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau và nhằm một mục đích chung
là quản lý tốt chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, do đó với việc phân loại chiphí sản xuất cần phải phân loại giá thành
2 Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm :
a- Giá thành sản phẩm:
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ những hao phí vềlao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đếnkhối lượng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, để tồn tại vàphát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên cải tiến mặt hàng, nâng
Trang 8cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động và hạ được giá thành Như ta
đã biết, đối với các doanh nghiệp việc hạ giá thành sản phẩm là con đường chủyếu để tăng lợi nhuận, nó cũng là tiêu đề để hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh trênthị trường kể cả trong và ngoài nước
Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, việc hạ giá thành sản phẩm của cácdoanh nghiệp sẽ mang lại sự tiết kiệm lao động xã hội, tăng tích luỹ cho nền kinh
tế nói chung Đặc biệt khi chính sách thuế của nhà nước thay đổi, thuế là nguồnthu chủ yếu của ngân sách Nhà nước Việc hạ giá thành sản phẩm sẽ làm tăng lợinhuận, do đó làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Như vậy vấn đề hạgiá thành sản phẩm không chỉ là vấn đề quan tâm của từng người sản xuất, từngdoanh nghiệp mà còn là vấn đề quan tâm của từng ngành, toàn xã hội
Giá thành cao hay thấp, tăng hay giảm đồng nghĩa với việc lãng phí hay
tiết kiệm lao động xã hội (bao gồm cả lao động sống và lao động vật hoá) trong
quá trình sản xuất sản phẩm Hay nói cách khác, giá thành sản phẩm có thể phảnánh trình độ sử dụng nguyên- nhiên vật liệu, năng lượng, khả năng tận dụng máymóc thiết bị sản xuất, mức độ trang bị và áp dụng kỹ thuật tiên tiến, trình độ tổchức, quản lý lao động, trình độ quản lý kinh tế, tài chính của doanh nghiệp
+ Giá thành định mức:
Trang 9Việc tính giá thành định mức cũng có thể thực hiện trước khi sản xuất chếtạo sản phẩm đựa vào các định mức, đự toán chi phí hiện hành Giá thành địnhmức là thước đo chính xác các chi phí cần thiết sản xuất ra sản phẩm tại nhữngthời điểm nhất định, gia thành định mức cũng được coi là gốc để so sánh với thực
tế Qua đó cho biết những chênh lệch tiết kiệm hay lãng phí, từ đó doanh nghiệp
có những biện pháp phát triển đẩy mạnh sản xuất, triệt để tiết kiệm chi phí và cónhững biện pháp khắcphục tồn tại một cách kịp thời
+ Giá thành thực tế:
- Nếu giá thành kế hoạch và ghía thành định mức chỉ bao gồm các chi phícần thiết để sản xuất sản phẩm trong phạm vi kế hoạch và định mức giá thànhthực tế bao gồm tất cả các chi phí thực tế phát sinh trong đó có cả chi phí vượtđịnh mức ngoài kế hoạch dự kiến như: Thiệt hại trong sản xuất, giá trị vật tưthiếu hụt vv như vậy giá thành thực tế là gia thành được xác định sau khi đãhoàn thành việc sản xuất sản phẩm Giá thành thực tế trước hết là cơ sở xác địnhgiá trị sản phẩm, giá bán Mặt khác giá thành thực tế còn phản ánh tổng hợp kếtquả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giáthành sản phẩm là chỉ tiêu để phân tích đánhh giá kết quả hoạt động sản xuấtkinmh doanh cuả doanh nghiệp, ngoài ra còn là căn cứ cho việc xây dựng giáthành kế hoạch cho kỳ sau và đảm bảo cho giá thành kế hoạch càng có tính sátthực
- Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán:
Theo cách này giá thành sản phẩm được chia làm 2 loại:
+ Giá thành sản xuất:
Giá thành sản phẩm của sản phẩm bao gồm các chi phí sản xuất: Chi phínguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chungtính cho những sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành Giá thành sản xuấtcủa sản phẩm được sử dụng ghi sổ cho sản phẩm đã hoàn thành nhập kho hoặcgiao cho khách hàng Giá thành sản xuất sản phẩm cũng là căn cứ để tính toángiá vốn hàng bán và lãi gộp của doanh nghiệp sản xuất
Trang 10+ Giá thành toàn bộ:
Giá thành toàn bộ của sản phẩm bao gồm giá thành sản xuất của sản phẩmtiêu thụ cộng với chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sảnphẩm đó Giá thành toàn bộ của sản phẩm chỉ được tính toán và xác định khi cósản phẩm, công việc lao vụ được tiêu thụ Giá thành toàn bộ của sản phẩm là căn
cứ để tính toán, xác định lợi nhuận
3- Đối tượng kế toán Chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành.
Trong công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, cóthể nói xác định đúng đắn đối tượng kế toán chi phí sản xuất vừa là công việcđầu tiên, vừa là công việc có tính chất định lượng cho toàn bộ khâu kế toán này.Bởi vì căn cứ vào đối tượng kế toán chi phí sản xuất đã xác định, kế toán tiếnhành tập hợp chi phí sản xuất cho các đối tượng liên quan, xác định phương pháptập hợp chi phí sản xuất một cách hợp lý, đồng thời cung cấp số liệu qua tính giáthành sản phẩm chính xác, kịp thời
a - Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất:
Việc tập hợp chi phí sản xuất, phân loại chi phí sản xuất, không chỉ đơnthuần là phương tiện để đi đến mục đích cuối cùng là tính giá thành Ngoài ra nócòn đáp ứng yêu cầu kiểm tra, phân tích chi phí nhằm sử dụng chi phí có hiệuquả nhất
Xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là một trong nhữngvấn đề then chốt đảm bảo tính giá thành chính xác
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn và chi phí sản xuấtcần phải tập hợp nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm tra giám sát chi phí và yêu cầu tínhgiá thành sản phẩm
Phạm vi giới hạn để tập hợp chi phí trong doanh nghiệp sản xuất:
- Nơi phát sinh chi phí như: Phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất, giaiđoạn công nghệ
- Nơi chịu chi phí như: Sản phẩm, nhóm sản phẩm, chi tiết sản phẩm, đơnđặt hàng
Trang 11Để xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong các doanhnghiệp sản xuất cần phải căn cứ trên những đặc điểm cơ bản sau:
- Đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp
- Quy trình công nghệ kỷ thuật sản xuất sản phẩm
- Địa điểm phát sinh chi phí, mục đích công dụng của chi phí
- Yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp
Dựa vào những đặc điểm trên, đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất có thểlà:
- Từng phân xưởng, từng bộ phận, tổ đội sản xuất hoặc toàn doanh nghiệp
- Từng giai đoạn (bước) công nghệ hoặc toàn bộ quy trình công nghệ
- Từng sản phẩm, từng đơn đặt hàng, từng hạng mục công trình
- Từng nhóm sản phẩm
- Từng bộ phận chi tiết sản phẩm
Sau khi đã xác định được đối tượng tập hơp chi phí sản xuất nhiệm vụ của
kế toán là phải tổ chức tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp, theo đúng đốitượng chi phí sản xuất đã xác định, nhằm cung cấp số liệu cho việc tính giá thànhtheo đối tượng tính giá thành
b- Đối tượng tính giá thành sản phẩm:
Đối tượng tính giá thành là loại sản phẩm, dịch vụ, lao vụ, nhất định đòihỏi phải tính được giá thành đơn vị
Việc xác định đúng đắn đối tượng tính giá thành là công việc thiết yếunhằm phát huy tốt vai trò của việc quản lý chỉ tiêu giá thành Để xác định đượcđối tượng tính giá thành cần xuất phát từ những căn cứ cụ thể
Người ta có thể sử dụng các căn cứ sau đây:
- Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất:
Nếu doanh ngiệp sản xuất sản phẩm có tính chất đơn chiếc như: Đóng tàu,sửa chữa ô tô thì đối tượng tính giá thành là từng sản phẩm, từng công việc,từng đơn đặt hàng
Trang 12Nếu sản xuất, chế tạo hàng loạt: Từng loạt máy công cụ trong doanhnghiệp cơ khí công cụ vận tải hàng hoá, vận tải hành khách, kinh doanh buồngngủ, hàng ăn uống, trong hoạt động dịch vụ du lịch thì đối tượng tính giá thành làtừng sản phẩm hoặc hoạt động dịch vụ đã hoàn thành.
- Căn cứ vào quy trình sản xuất sản phẩm
Nếu quy trình sản xuất đơn giản thì đối tượng tính giá thành chỉ có thể làsản phẩm ở cuối quy trình sản xuất
Nếu quy trình công nghệ phức tạp kiểu liên tục thì đối tượng tính giá thành
là sản phẩm ở giai đoạn cuối và cũng có thể là nửa thành phẩm ở từng công đoạnchế biến
Nếu quy trình sản xuất phức tạp kiểu song song (lắp ráp) thì đối tượng tínhgiá thành có thể là từng chi tiết, bộ phận sản phẩm hoàn thành và thành phẩmcuối cùng đã hoàn thành
- Căn cứ vào đặc điểm sử dụng thành phẩm và nửa thành phẩm Khi nửathành phẩm có tính chất hàng hoá thì bắt buộc tính giá thành của nửa thànhphẩm
- Căn cứ vào yêu cầu quản lý, khả năng và trình độ quản lý của doanhnghiệp nhất là trình độ kế toán
Đơn vị tính giá thành phải là đơn vị tính được thừa nhận phổ biến trongnền kinh tế quốc dân, phù hợp với tính chất lý hoá của sản phẩm
Từ những căn cứ trên, nhiệm vụ của kế toán là xác định đối tượng tính giáthành một cách phù hợp, đúng đắn
c- Mối quan hệ giữa đối tượng chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành.
Tuy là 2 khái niệm khác nhau song chúng có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau và trong một số trường hợp thì chúng trùng nhau
- Về sự giống nhau: Ta thấy rằng cả hai đều phạm vi giới hạn để tập hợpchi phí và cùng phục vụ cho công tác quản lý, phân tích và kiểm tra chi phí giáthành do đó trong nhiều trường hợp hai đối tượng này trùng nhau: Đối với quychế tạo ra một sản phẩm như ở máy điện, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là
Trang 13quy trình sản xuất điện, còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm điện do quátrình đó sản xuất ra.
- Về sự khác nhau:
+ Xác định đối tượng tập hợp chi phí là xác định phạm vi, (nơi) phát sinhchi phí tập hợp, chi phí phát sinh trong kỳ
Xác định đối tượng tính giá thành có liên quan đến kết quả của quá trình
sản xuất ( thành phẩm hoặc dịch vụ hoàn thành).
Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là căn cứ để mở tài khoản các
sổ chi tiết, tổ chức công tác ghi chép ban đầu, tập hợp số liệu chi phí sản xuất chỉgiúp cho tăng cường công tác qản lý chi phí sản xuất và thực hiện chế độ hạchtoán kinh tế trong doanh nghiệp Còn việc xác định đối tượng tính giá thành làcăn cứ để kế toán mở các phiếu tính gia thành sản phẩm Tổ chức công tác tínhgiá thành theo từng đối tượng phục vụ cho việc kiểm tra tình hình thực hiện kếhoạch gia thành sản phẩm, tính toán hiệu quả, xác định chính xác thu nhập, pháthiện khả năng tiềm tàng để có biện pháp không ngừng hạ thấp giá thành sảnphẩm phục vụ cho yêu cầu quản lý giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
d - Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất, quản lý giá thành sản phẩm và nhiệm vụ kế toán:
Để đáp ứng yêu cầu quản lý và tính giá thành sản phẩm, kế toán tập hợpchi phí sản xuất nên thực hiện các nhiệm vụ sau: Trong công tác quản lý doanhnghiệp, chi phí sản xuất và giá thành sản phảm là những chỉ tiêu quan trọng luônđược các nhà doanh nghiệp quan tâm vì chung gắn liền với kết quả hoạt độngsản xuất kinh doanh Việc biết được chi phí của từng loại sản phẩm và giá thànhcác loại sản phẩm đó cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh để qua đó phântích đánh giá việc thực hiện các định mức, dự toán chi phí, tình hình sử dụngnhân công, vật tư, tình hình thực hiện giá thành sản phẩm, để từ đó đề ra các biệnpháp kịp thời nhằm hạ thấp giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất, đề ra cácquyết định phù hợp cho sự phát triển sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lýdoanh nghiệp
Trang 14Việc phân tích đánh giá đúng đắn, chính xác hoạt động sản xuất kinhdoanh chỉ đựa trên giá thành sản phẩm và giá thành sản phẩm chịu ảnh hưởngcủa kết quả tập hợp chi phí sản xuất Để đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm, kế toán phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Xác định đúng đối tượng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm
- Tổ chức kế toán các chi phí sản xuất theo đúng đối tượng xác định vàphương pháp tập hợp chi phí xác định
- Thực hiện tính giá thành kịp thời, xác định đúng đối tượng tính giá thành
và phân tích giá thành hợp lý
- Thực hiện phân tích tình hình định mức, dự toán chi phí sản xuất, tìnhhình thực hiện giá thành sản phẩm để có những kiến nghị đề xuất cho lãnh đạodoanh nghiệp và các quyết định trước mắt cũng như lâu dài đối với sự phát triểnkinh doanh của doanh nghiệp
- Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất ở từng bộ phận trongdoanh nghiệp
- Căn cứ vào đặc điểm tình hình sản xuất của doanh nghiệp, đặc điểm sảnphẩm, công nghệ để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất của doanhnghiệp và đối tượng tính giá thành sản phẩm thích hợp Đồng thời xác định quytắc tính giá thành trong doanh nghiệp cho phù hợp
-Tổ chức tập hợp và phân bổ từng loại chi phí sản xuất theo đúng đốitượng đã xác định bằng phương pháp thích hợp để trên cơ sở đó tính giá thànhsản phẩm thực tế cho từng đối tượng, từng đơn vị theo các khoản mục gia thành
quy định đúng thời hạn ( đúng phương pháp, đảm bảo chính xác).
- Kiểm tra thực hiện các định mức tiêu hao vật tư, kỹ thuật, dự toán chiphí phục vụ quản lý sản phẩm nhằm thúc đẩy việc sử dụng tiết kiệm, hợp lý mọichi phí trong quá trình sản xuất phục vụ yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ và hạchtoán kinh tế toàn doanh nghiệp
Trang 15- Định kỳ kiểm tra việc thực hiện giá thành sản phẩm và nhiêm vụ hạ giáthành, tìm ra nguyên nhân làm cho hoàn thành hoặc chưa hoàn thành kế hoạchgiá thành, những khả năng tiềm tàng có thể khai thác và phương hướng cần phấnđấu để không ngừng hạ thấp giá thành sản phẩm thực tế từ đó nâng cao tính cạnhtranh trên thị trường
-Xác định kết quả hạch toán kinh tế ở từng bộ phận và ở toàn doanhnghiệp
II- KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT :
Kế toán chi phí sản xuất là công việc của kế toán nhằm tập hợp, hệ thốnghoá CPSX phát sinh trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp ở từng thời kỳnhất định theo đúng đối tượng hạch toán chi phí
1- Phương pháp kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp.
1.1- Phương pháp kế toán chi phí trực tiếp (CPTT):
a-Phương pháp kế toán chi phí nguyên vật liệu (CPNVL):
Chi phí nguyên vật liệu bao gồm chi phí về các loại nguyên vật liệu chính,vật liệu phụ, công cụ dụng cụ dùng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sảnphẩm
Trường hợp doanh nghiệp mua nửa thành phẩm để lắp ráp, gia công thànhsản phẩm thì nửa thành phẩm mua ngoài cũng được hạch toán vào chi phí chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp
Nguyên vật liệu trực tiếp được căn cứ vào chứng từ xuất kho để tính ra giátrị thực tế vật liệu trực tiếp xuất dùng và căn cứ vào các đối tượng tập hợp chi phísản xuất đã xác định để tập hợp
Tài khoản sử dụng: TK: 621 " Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ".
Việc tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào các đối tượng có thể tiến hành theo phương pháp trực tiếp được áp dụng cho các Chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp chỉ liên quan đến một đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất chi phísản xuất (từng phân xưởng, bộ phận, từng sản phẩm, chi tiết, sản phẩm ) Trong
Trang 16trường hợp liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau phải tiến hành phân bổ theomột tiêu chuẩn hợp lý theo công thức sau:
Trong đó: Σc : Là tổng chi phí NVLTT đã tập hợp cần phân bổ
Ti : Là tiêu chuẩn dùng để phận bổ của đối tượng i
Ci : Là chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng thứ i
ΣTi: Là tổng đại lượng của tiêu chuẩn dùng để phân bổ
Phương pháp kế toán chi phí NVLTT theo phương pháp kê khai thườngxuyên được phản ánh trên sơ đồ sau:
TK: 152 TK: 621 TK: 154
Chi phí NVL trực tiếp Kết chuyển
được khấu trừ
∑
−
= n i
Ti
1
Trang 17b - Phương pháp kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp:
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm: Tiền lương chính, lương phụ, cáckhoản phụ cấp theo lương, BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sảnxuất sản phẩm, thực hiện về lao vụ, dịch vụ Nguyên tắc về chi phí nhân côngtrực tiếp cũng được tập hợp giống như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, trườnghợp cần phân bổ gián tiếp thì tiêu thức phân bổ có thể là tiền công hay giờ côngđịnh mức hoặc có thể là giờ công thực tế
Sơ đồ hạch toán như sau
TK : 334 TK : 622 TK :154 (631)
Tiền lương, công phải trả
công nhân TT sản xuất Cuối kỳ tính toán phân bổ và K/C
1.2- Phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất là chi phí liên quan đến phục vụ, quản lý sản xuất trongphạm vi phân xưởng, bộ phận, tổ đội sản xuất, chi phí này gồm chi phí nhân viên
Trang 18phân xưởng phí vật liêu, công cụ dụng cụ, khấu hao tài sản cố định, chi phídịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác.
Các chi phí sản xuất chung thường được hạch toán chi tiết riêng theo từngđịa điểm phát sinh chi phí phân xưởng, bộ phận tổ đội sản xuất sau đó mới tiếnhành phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí liên quan Việc phân bổ cũng đượctiến hành dựa trên tiêu thức phân bổ hợp lý như định mức chi phí sản xuấtchung
Tài khoản sử dụng: TK:627 " chi phí sản xuất chung" Tài khoản này phảnánh những chi phí phục vụ sản xuất kinh doanh phát sinh trong quá trình chế tạosản phẩm, thực hiện các lao vụ, dịch vụ
TK: 627 được mở thành 6 tài khoản cấp 2 để theo dõi phản ánh riêng từngnội dung chi phí
Phương pháp kế toán chi phí sản xuất chung theo phương pháp kê khaithường xuyên được phản ánh trên sơ đồ sau:
TK 334,338 TK 627 TK 114, 152 Chi phí nhân công
Trang 191.3- Kế toán tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp:
Tất cả các khoản mục chi phí sản xuất kinh doanh kể trên đã được tập hợp
ở cuối kỳ toàn doanh nghiệp Kế toán tập hợp chio phí sản xuất theo phươngpháp kê khai thường xuyên
Sơ đồ kế toán tập hợp sản xuất và tính giá thàng sản phẩm theo phươngpháp kê khai thường xuyên như sau:
Kết chuyển chi phí NVL TT Nhập kho vật liệu
Trang 202- Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ:
Kế toán tập hợp chi phí theo phương pháp kiểm kê định kỳ áp dụng trongcác doanh nghiệp sản xuất có quy mô nhỏ, chỉ tiến hành một loại hoạt động
Tài khoản sử dụng: TK: 631 " Giá thành sản xuất"
TK 154: “Chi phí SXKD”
TK 621: “Chi phí NVL trực tiếp”
TK 622: “Chi phí nhân công trực tiếp”
TK 627: “Chi phí sản xuất chung”
Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính Giá thành sản phẩm theophương pháp kiểm kê định kỳ được thể hiện như sau:
Kết chuyển chi phí
nguyên vật liệu
Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp Giá thành sản xuất của sản
phẩm hoàn thành nhập kho
Tính, phân bổ, K/C chi phí
Trang 21a- Đánh giá sản phẩm làm dở cuối kỳ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hoặc chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp.
Theo phương pháp này chỉ tính cho sản phẩm làm dở cuối kỳ phần Chi phínguyên vật liệu trực tiếp hoặc Chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp, còn các chiphí khác tính cho cả sản phẩm hoàn thành
Phương pháp này áp dụng thích hợp trong các doanh nghiệp sản xuất cóCPNVLTT hoặc Chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn, vìkhối lượng tính toán ít mà vẫn đảm bảo mức độ chính xác khá cao
Trường hợp doanh nghiệp chỉ tính cho sản phảm làm dở cuối kỳ phần chiphí nguyên vật liệu chính cần tổ chức hạch toán chi tiết khoản mục chi phínguyên vật liệu trực tiếp thành chi phí nguyên vật liệu chính và các chi phínguyên vật liệu trực tiếp khác
Công thức tính toán như sau:
Trong đó: Dck và Ddk: Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ, đầu kỳ
Cvl: Chi phí vật liệu trực tiếp hoặc chi phí nguyên vật liệu trực tiếpphát sinh trong kỳ
Stp: Sản lượng thành phẩm
Sd: Sản lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ
) 1 ( Sd
Stp
Cvl Ddk
xSd Dck
+ +
=
Trang 22Đối với các doanh nghiệp sản xuất có quy trình công nghệ kỹ thuật sảnxuất sản phẩm kiểu phức tạp liên tục, sản phẩm phải qua nhiều phân xưởng, giaiđoạn chế biến kế tiếp nhau thì sản phẩm làm dở cuối các giai đoạn, phân xưởngsau được đánh giá theo nửa thành phẩm của giai đoạn phân xưởng trước.
Theo phương pháp này tính toán nhanh chóng, đơn giản nhưng vì phươngpháp này bỏ qua các chi phí khác nên tính chính xác không cao Nên áp dụng đốivới doanh nghiệp có chi phí nguyên vật liệu chính chiếm tỷ trọng lớn, khối lượngsản phẩm làm dở ít và tương đối đồng đều giữa các kỳ
b- Đánh giá sản phảm làm dở cuối kỳ theo phương pháp sản lượng sản phẩm hoàn thành tương đương:
Theo phương pháp này, sản phẩm làm dở cuối kỳ phải chịu toàn bộ chi phísản xuất trong kỳ theo mức độ hoàn thành Do vậy khi kiểm kê phải xác địnhkhông chỉ khối lượng mà cả mức độ hoàn thành của chúng Trên cơ sở đó, quyđối sản phẩm làm dở cuối kỳ ra số sản phẩm hoàn thành tương đương để tínhtoán xác định chi phí sản phẩm làm dở
Cách tính như sau:
Đối với những chi phí bỏ vào một lần từ đầu (chi phí nguyên vật liệu trựctiếp hoặc chi phí nguyên vật liệu chính) thì tính cho sản phẩm hoàn thành và sảnphẩm làm dở theo công thức (1)
Còn các chi phí bỏ dần theo mức độ chế biến, sản xuất sảnphẩm( CPNCTT và chi phí sản xuất chung chung) sẽ tính cho sản phẩm làm dởcuối kỳ theo mức độ hoàn thành:
Trong đó: C được tính theo từng khoản mục chí phí tương ứng phát sinhtrong kỳ
Sd: là khối lượng sản phẩm dở dang đã tính đổi ra khối lượng sản phẩmhoàn thành tương đương theo tỷ lệ chế biến hoàn thành (% HT)
) 2 (
' ' Sd Stp
C Ddk
Sd Dck
+ +
=
Trang 23Sd' =Sd x % HTĐánh giá sản phẩm cuối kỳ theo phương pháp này có ưu điểm là kết quảtính toán có mức độ chính xác cao hơn vì chung được tính toán đầy đủ các khoảnmục chi phí nhưng khối lượng tính toán mất nhiều thời gian Khi kiểm kê sảnphẩm dở dang cần phải xác định ở mức độ chế biến hoàn thành của sản phẩm dởdang ở từng bước công nghệ Công việc này khá phức tạp, các doanh nghiệp ápdụng phương này phải lập các bảng tính sẵn để cho tính toán được nhanh, nhưvậy thích hợp với những doanh nghiệp mà chi phí về nguyên vật liệu trực tiếpchiếm tỷ trọng không lớn lắm trong toàn bộ chi phí sản xuất.
Do việc xác định mức độ hoàn thành của sản phẩm làm dở cuối kỳ đòi hỏitốn nhiều thời gian, chi phí cho nên đối với những doanh nghiệp sản xuất có khốilượng sản phẩm làm dở và mức độ hoàn thành tương đối đồng đều giữa các kỳ,các công đoạn sản xuất, có thể quy định mức độ hoàn thành chung của sản phẩmlàm dở cuối kỳ là 50% để đơn giản cho công tác kế toán mà vẫn đảm bảo mức
độ chính xác cần thiết
c-Đánh giá sản phẩm làm dở (SPLD) cuối kỳ theo chi phí định mức.
Phương pháp này áp dụng thích hợp với các doanh nghiệp sản xuất thựchiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo phương phápđịnh mức Theo phương pháp này, căn cứ vào khối lượng sản phẩm làm dở và chiphí sản xuất định mức cho một đơn vị sản phẩm ở từng phân xưởng, giai đoạn đểtính giá trị sản phẩm làm dở cuối kỳ, sau đó tập hợp lại cho từng loại sản phẩm
Chi phí SXDD Khối lượng SPLD Định mức cuối kỳ = cuối kỳ x chi phí từng loại
Để đảm bảo mức độ chính xác cao hơn thì cần phải định mức độ hoànthành của SPLD cuối kỳ theo chi phí sản xuất định mức nhưng có tính đến mức
độ hoàn thành
Tuỳ từng đối tượng cụ thể có thể xác định tỷ lệ % hoàn thành của từngkhối lượng sản phẩm dịch vụ, để xác định CPSPLD theo định mức, bởi vì địnhmức chi phí khác nhau theo từng khối lượng sản phẩm, dịch vụ
Trang 24III- KẾ TOÁN TÍNH GIÁ THÀNH:
-Tính giá thành theo chu kỳ sản xuất: Giá thành được tính khi chu kỳ sảnxuất đã kết thúc, tức là sản phẩm đã hoàn thành Trong trường hợp này thì kỳ tínhgiá thành không phù hợp với kỳ báo cáo Cách này phù hợp với loại tổ chức sảnxuất đơn chiếc, hàng loạt, mặt hàng thường xuyên thay đổi, chu kỳ sản xuất dài
và riêng lẻ
2-Các phương pháp tính giá thành sản phẩm:
Phương pháp tính giá thành sản phẩm là phương pháp sử dụng số liệu chiphí sản xuất đã tập hợp được của kế toán để tính giá thành thực tế của sản phẩm,công việc, lao phụ, dịch vụ đã hoàn thành theo khoản mục chi phí quy định vàđúng kỳ tính giá thành
Tuỳ theo đặc điểm của đối tượng tính giá thành với quan hệ giữa đốitượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành mà kế toán vận dụngphương pháp tính giá thành sao cho hợp lý, phù hợp với đặc điểm, tính chất sảnxuất, kinh doanh với đặc điểm tính chất sản phẩm với yều cầu quản lý doanhnghiệp và những quy định thống nhất của Nhà nước
Trang 25Hiện nay, để tính được giá thành sản phẩm, các doanh nghiệp sản xuất cóthể áp dụng một trong các phương pháp sau:
a- Phương pháp tính giá thành giản đơn.
Theo phương pháp này, giá thành sản phẩm được tính bằng cách căn cứ
trực tiếp vào chi phí ssản xuất đã tập hợp được ( theo từng đối tượng tập hợp chi phí) trong kỳ và giá trị sản phẩm làm dở đầu kỳ, cuối kỳ để tính ra giá trị sản
b- Phương pháp tính giá thành phân bước:
Phương pháp tính giá thành phân bước được áp dụng trong các doanhnghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu liên tục, sản phẩm phải quanhiều giai đoạn (phân xưởng) chế biến liên tục kế tiếp nhau Nửa thành phẩmgiai đoạn trước là đối tượng tiếp tục chế biến ở giai đoạn sau
Tuỳ thuộc vào đặc điểm tình hình cụ thể mà đối tượng tính giá thành trongcác doanh nghiệp loại hình này có thể là thành phẩm ở giai đoạn công nghệ cuốicùng hoặc là nửa thành phẩm (NTP) ở từng giai đoạn và thành phẩm ở giai đoạncuối
Để nhận biết về sự khác nhau giưã đối tượng tính giá thành nên phươngpháp tính giá thành phân bước chia thành hai phương án tương ứng
b1- Phương pháp phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm.
Theo phương pháp này, để tính được giá thành của thành phẩm hoàn thành
ở giai đoạn công nghệ cuối cùng cần phải xác định nửa thành phẩm giai đoạntrước và chi phí của nửa thành phẩm giai đoạn trước chuyển sang giai đoạn saucùng với các chi phí của giai đoạn sau để tính ra giá thành của nửa thành phẩm
Trang 26giai đoạn sau nữa; cứ như vậy tuần tự cho đến giai đoan cuối cùng thì tính đượcgia thành thành phẩm.
Có thể khái quát tình tự tính giá thành phân bước có tính giá thành nửathành phẩm
b2 Phương pháp tính giá thành phân bước không tính giá thành nửa thành phẩm:
Trong trường hợp này, đối tượng tính giá thành chỉ là thành phẩm ở bướccông nghệ cuối cùng Do vậy chỉ cần tính toán xác định phần chi phí sản xuấtcủa từng giai đoạn trong thành phẩm Sau đó tổng cộng chi phí sản xuất của cácgiai đoạn trong thành phẩm ta được giá thành thành phẩm Cụ thể các bước tínhtoán như sau:
- Tính chi phí sản xuất từng giai đoạn trong thành phẩm (theo từng khoản
CPNVLTT ( NVL chính)
Giá thành NTP1
Chi phí NTP1
Chi phí NTP n-1
C phí chế biến giai đoạn n
Giá thành thành phẩm
Chi phí chế biến giai đoạn2
Giá thành NTP 2
Chi phí chế biến giai đoạn 1
Trang 27CPSX giai đoạn i = x Thành phẩm
SPHT giai đoạn i + SPLD giai đoạn iTuỳ theo phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở của kỳ áp dụng trongdoanh nghiệp mà sản phẩm làm dở phải quy đổi theo mức độ hoàn thành haykhông Sau đó tổng cộng chi phí sản xuất của từng giai đoạn ta được giá thànhphành phẩm
Giá thành thành phẩm = CPSX giai đoạn i
Có thể khái quát tình tự giá thành phân bước không tính giá thành nửathành phẩm như sau:
I- ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ-KỸ THUẬT CỦA CÔNG TY RAU QUẢ HÀ TĨNH :
1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Rau Quả Hà Tĩnh.
Từ một đội trồng rừng chống cát bay ven biển, được thành lập ở nhữngnăm đầu của thập niên 60 thế kỷ trước Trực thuộc Ty lâm nghiệp Hà Tĩnh vớinhiệm vụ trồng phi lao chống cát bay ở các xã Kỳ Phương, Kỳ Lợi huyện KỳAnh - dọc bờ biển Đèo Ngang Năm 1967- Đội trồng rừng chống cát bay đượcgiao thêm nhiệm vụ trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc vùng trung du huyện
Kỳ Anh
CPSX giai đoạn 1 theo khoản mục
CPSX giai đoạn 2 theo khoản mục
CPSX giai đoạn
2 trong thành phẩm
CPSX giai đoạn
1 theo thành phẩm
CPSX giai đoạn n theo khoản mục
CPSXgiai đoạn
n trong thành phẩm
Giá thàn h thàn h
Trang 28Ngày 20 tháng 2 năm 1970, Đội trồng rừng được đổi tên thành Lâmtrường Kỳ Anh Nhiệm vụ chủ yếu là trồng, bảo vệ rừng và khai thác lâmsản.
Năm 1992 theo Quyết định số 26, Lâm trường đươc chuyển thànhdoanh nghiệp Nhà nước theo Quyết định số 388/ HĐBT, Thông báo số
1905 ngày 20/10/1992 của Bộ N0&PTNT, Quyết định số 1114 của UBNDtỉnh Hà Tĩnh ngày 20/10/1992
Đến năm 1999 căn cứ vào xét duyệt đề nghị của Hội đồng quản trị.Tổng công ty Rau Quả Việt Nam, Tờ trình số 05/ RQ/TCCB-CV ngày 04tháng 01 năm 1999 và đề nghị của Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bộ Quyếtđịnh thành lập số 09/1999/QĐ/BNN-TCCB ngày 13 tháng 01 năm 1999 của
Bộ NN & PTNT về việc tiếp nhận Lâm trường Kỳ Anh là một thành viêncủa Tổng công ty Rau Quả Việt Nam với tên gọi là Công ty Rau Quả HàTĩnh, tên giao dịch quốc tế VEGETEXCO HA TINH
a Nhiệm vụ chủ yếu của Công ty:
Trồng cây ăn quả, bảo vệ rừng, sản xuất kinh doanh nông lâm kết hợp
- Công nghiệp chế biến: chế biến rau quả và các sản phẩm nônglâm nghiệp
- Kinh doanh nhà hành, khách sạn và du lịch sinh thái
- Nhập khẩu giống rau quả, giống cây lâm nghiệp, thiết bị vật
tư nguyên liệu, hoá chất phục vụ cho sản xuất của Công ty
Công ty đặt trụ sở tại Khu công nghiệp Vũng áng - Cách trung tâm Thịtrấn Kỳ anh khoảng 10 Km về phía Nam Nằm sát đường quốc lộ 1A Đây
là vị trí thuận lợi về giao thông và là nơi Trung tâm của nguồn nguyên liệurộng lớn, với bán kính trên 60 Km; Tổng điện tích đất sử dụng là: 10.000
m2, cơ sở vật chất bao gồm: Hệ thống nhà làm việc khoảng 1.200 m2, 01
Trang 29nhà kho 100 m , nhà máy chế biến Rau Quả vừa xây dựng xong với diệntích 2000m2, 01 vườn ươm giống dứa 10.000 m2, một khách sạn tại ĐèoNgang với diện tích kinh doanh 3.000 m2, 01 cửa hàng xăng đầu tại ngã bacảng Vũng Áng Tổng số lao động của Công ty đến thời điểm ngày 31tháng 03/2005: 373 người, trong đó bộ phận quản lý hành chính: 20 người,
số lao đồng dài hạn 132 người, còn lại do đặc thù của Công ty nên hợpđồng lao động theo thời vụ Trong tổng số lao động thì lực lượng lao độngtrẻ chiếm đại bộ phận
Tổng số vốn sản xuất kinh doanh năm 2003 là 20.600 triệu đồng; năm2004: 21.000 triệu đồng (tăng 1,019%) Nguồn vốn cố định qua các nămđều tăng (tốc độ phát triển bình quân 113%), số vốn cố định đảm bảo choquá trình sản xuất kinh doanh Đó là nhu cầu tất yếu cho sự phát triển lâudài của Công ty Vốn lưu động của Công ty được phát triển và bảo toàn cóhiệu quả Vốn xây dựng cơ bản hàng năm được dùng xây dựng cơ sở vậtchất như: Xây dựng nhà máy, tu sửa nhà cửa, xây dựng các công trình nhưvườn ươm giống
Đặc biệt năm 2004 do mở rộng quy mô sản xuất: mở rộng dự án vùngdứa hàng hoá nên cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng một số công trìnhnhư: Xây dựng đường điện hạ thế vào Trung tâm vùng sản xuất dứanguyên liệu, một vườn ươm giống dứa 10.000 m2
b Tình hình tài chính của Công ty:
* Nguyên giá tài sản cố định của Công ty ngày 31 tháng 12 năm 2004là: 7.196.788.204 đồng
Trong đó:
Vật kiến trúc: 6.060.653.807
Máy móc thiết bị:1.136.134.397
Biểu1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
trong 3 năm gần đây:
Trang 30Qua quá trình hoạt động, tuy có nhiều khó khăn và hạn chế như:Nguồn vốn eo hẹp; hầu hết vốn kinh doanh đều phải vay Ngân hàng với lãisuất tương đối cao, công suất máy móc thiết bị thấp, chưa đồng bộ, sảnphẩm mang tính thời vụ; mặt khác đứng trong thời kỳ chuyển đổi cơ chế: từquản lý hành chính quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước Thế nhưng, Công ty đã đi vào ổn định, doanh thu ngàycàng cao, trả được lãi và một phần nợ gốc cho Ngân hàng, đóng góp nghĩa
Trang 31vụ ngân sách cho Nhà nước đầy đủ, đảm bảo mức lương bình quân chongười lao động đạt 840.000 đồng/ người/ tháng trở lên.
2- Đặc điểm tổ chức sản xuất và quản lý của Công ty:
a- Đặc điểm tổ chức sản xuất:
Công ty Rau Quả Hà Tĩnh là một doanh nghiệp hạch toán độc lập, cócon dấu riêng, tài khoản riêng, có đầy đủ tư cách Pháp nhân Nhiệm vụchính là trồng, bảo vệ và khai thác rừng, trồng dứa nguyên liệu và sản xuấtdứa hộp, rau quả xuất khẩu Ngoài ra Công ty còn mở rộng các dịch vụ nhưkinh doanh khách sạn nhà hàng, du lịch sinh thái, kinh doanh xăng đầu Sảnphẩm chủ yếu của Công ty là: Rừng trồng, ươm cây giống, khai thác gỗthông, nhựa thông, gỗ tròn các loại, chế biến dứa đóng hộp Quá trình sảnxuất mang tính thời vụ rõ rệt Có những thời điểm sản lượng thu mua vượtquá khả năng sản xuất của Công ty nên Công ty phải thuê thêm lực lượnglao động hợp đồng theo thời vụ
Thị trường tiêu thụ chủ yếu là trong tỉnh và các tỉnh bạn, chưa có thịtrường truyền thống Sản xuất hàng xuất khẩu chủ yếu dựa vào chỉ tiêu doTổng công ty phân cấp và xuất ra nước ngoài cũng thông qua Tổng Công ty.Xuất phát từ những đặc điểm, tình hình của quá trình sản xuất, để đảm bảoquá trình sản xuất kinh doanh được thường xuyên liên tục, Công ty đã phải
bố trí cơ cấu sản xuất hợp lý Cụ thể:
Tổ khai thác thu mua đặt dưới sự chỉ đạo của phòng Kế hoạch vớinhiệm vụ khai thác, tìm kiếm nguồn hàng cung cấp cho quá trình sản xuất;
tổ thu mua khai thác này được đặt rải rác tại các vùng nguyên liệu và đượchưởng lương sản phẩm trên số nguyên liệu khai thác thu mua được trongtháng
Đội bảo vệ rừng đặt dưới sự chỉ đạo của Phòng kế hoạch SXKD (bộphận Lâm nghiệp) Tăng cường công tác bảo vệ rừng thông qua việc xây
Trang 32dựng các tiểu khu Mỗi tiểu khu biên chế từ 1-3 người có trách nhiệm bảo
vệ rừng trong phạm vi địa bàn được giao quản lý
Tổ vận chuyển làm nhiệm vụ vận chuyển nguyên liệu từ vùng nguyênliệu về Công ty, về nhà máy và vận chuyển thành phẩm của Công ty đi giaocho khách hàng.v.v
Công ty có 4 phòng ban bao gồm: Phòng tổ chức hành chính, Phòng kếhoạch SXKD Lâm nghiệp, Phòng kế hoạch SXKD Nông nghiệp, Phòng Tàichính kế toán Mỗi phòng có nhiệm vụ riêng và hoạt động dưới sự chỉ đạocủa Ban Giám đốc công ty
b Đặc điểm quy trình công nghệ:
Do tính chất đặc thù: Công ty Rau quả Hà Tĩnh là một doanh nghiệpsản xuất kinh doanh mang tính tổng hợp nên mỗi loại hình sản phẩm có mộtquy trình công nghệ riêng biệt
Ví dụ:
* Trồng rừng: Nhân giống => ươm cây con => trồng rừng => chămsóc, bảo vệ
* Trồng dứa nguyên liệu:
Làm đất => Mua giống => trồng => chăm sóc bảo vệ => Thu hoạch
* Khai thác gỗ tròn và nhựa thông:
Đây là loại sản phẩm chủ yếu có giá trị tổng sản lượng chiếm tỉ trọnglớn Gỗ tròn và nhựa thông là loại sản phẩm có khối lượng và kích cỡ lớn,cồng kềnh; việc bảo quản và bốc xếp khó khăn, chủ yếu là để ngoài trời nênthời gian để ở kho kéo dài dễ bị mất phẩm cấp Có thể khái quát quy trìnhcông nghệ về sản xuất gỗ và nhựa thông như sau:
Nguyên
liệu
Phân loạinguyên liệu
Nhập khobảo quản Tiêu thụ
Trang 33Nguyên liệu và phân loại nguyên liệu dùng cho sản xuất chủ yếu là gỗ,nhựa thông được khai thác, thu mua vận chuyển về nhập kho công ty Căn
cứ hoá đơn mua hàng của khách hàng và phiếu nhập kho của tổ khai thác đểnhập theo chủng loại, tuỳ tính chất từng loại nguyên liệu mà phân loại bảoquản cho phù hợp
* Quy trình chế biến dứa hộp xuất khẩu:
Dứa quả sau khi thu hoạch => Cho vào máy đục lõi, gọt vỏ =>Gọt bỏ đầu và đuôi => Nhổ mắt dứa => Cắt khoanh theo yêucầu => Phân loại theo độ chín => Xử lý chần qua nước nóng
=> Đóng hộp = Nấu dung dịch đổ vào hộp => Đóng hộp (ghépmí) => Bỏ vào sọt xử lý thanh trùng từ 20 đến 30 phút ở nhiệt
độ 100oC => Dán nhãn, hoàn chỉnh sản phẩm
Nguyên liệu dùng chủ yếu trong chế biến dứa đóng hộp là dứa chín và cácloại dung dịch bảo quản
c Đặc điểm tổ chức quản lý và phân cấp quản lý:
Công ty rau quả Hà Tĩnh là một đơn vị hạch toán độc lập, có đầy đủ tưcách pháp nhân, là doanh nghiệp sản xuất nông -lâm kết hợp, chế biến rauqủa xuất khẩu Bộ máy quản lý của công ty đơn giản, gọn nhẹ chủ yếu tậptrung đầu tư cho khâu sản xuất kinh doanh trực tiếp Số lượng cán bộ côngnhân viên chức quản lý hành chính bao gồm 18 người: Trong đó bộ phậnchỉ đạo sản xuất kinh doanh chiếm 6 người, số còn lại là Ban Giám đốc, cácphòng ban liên quan Cụ thể bộ máy quản lý của công ty được thể hiện nhưsau:
Đứng đầu Công ty là Giám đốc, chịu trách nhiệm phụ trách chung, chỉđạo toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, là người đại diện ký kết hợpđồng kinh tế và là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt độngsản xuất kinh doanh của công ty