1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú Lương (Khóa luận tốt nghiệp)

80 231 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú LươngTìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú Lương

Trang 1

- -

MA THỊ CHINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

TÌM HIỂU MÔ HÌNH TRANG TRẠI CHĂN NUÔI GÀ TẠI XÃ SƠN CẨM, HUYỆN PHÚ LƯƠNG

Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng ứng dụng Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế & PTNT Khóa học : 2013 - 2017

Thái Nguyên – 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

MA THỊ CHINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

TÌM HIỂU MÔ HÌNH TRANG TRẠI CHĂN NUÔI GÀ TẠI XÃ SƠN CẨM, HUYỆN PHÚ LƯƠNG

Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng ứng dụng Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Lớp : K45 – PTNT - NO2 Khoa : Kinh tế & PTNT Giảng viên hướng dẫn : TS Bùi Đình Hòa Cán bộ cơ sở hướng dẫn : Đào Hải Nam

Thái Nguyên - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn " Tìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên " tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các tổ chức và các cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này

Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Phòng Đào tạo trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên cùng các thầy cô giáo, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập

Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn

thầy giáo Ts Bùi Đình Hòa, đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi

trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn UBND Xã Sơn Cẩm, các cô chú, anh chị trong trang trại và người dân trên địa bàn xóm Đồng Xe, xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương đã giúp đỡ, cung cấp thông tin, số liệu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn

Trong quá trình thực hiện khóa luận, mặc dù tôi đã cố gắng rất nhiều nhưng cũng không tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 01 tháng 05 năm 2017

Sinh viên

Ma Thị Chinh

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Chi phí xây dựng chuồng trại ban đầu của trang trại 47

Bảng 3.2: Chi phí đầu tư trang thiết bị ban đầu của trang trại 48

Bảng 3.3: Tình hình nguồn vốn của trang trại 49

Bảng 3.4: Chi phí con giống, cám và thuốc thú y 50

Bảng 3.5: chi phí hàng năm của trang trại 51

Bảng 3.6: Kết quả sản xuất của trang trại 52

Bảng 3.7: Hiệu quả kinh tế của trang trại 53

Bảng 3.8: Phân tích SWOT đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cũng như cơ hội và thách thức của trang trại về phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi trong thời gian tới 55

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Sơ đồ hệ thống tổ chức sản xuất của trang trại 41 Hình 3.2: Các kênh tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của trang trại 42

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

DANH MỤC BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Nội dung và phương pháp thực hiện 4

1.3.1 Nội dung thực tập 4

1.3.2 Phương pháp thực hiện 4

1.4 Thời gian và địa điểm thực tập 7

1.4.1 Thời gian thực tập 7

1.4.2 Địa điểm thực tập 7

Phần 2 TỔNG QUAN 8

2.1 Về cơ sở lý luận của đề tài 8

2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến nội dung thực tập 8

2.1.2 Các văn bản pháp lý liên quan đến nội dung thực tập 14

2.2 Cơ sở thực tiễn 19

2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới 19

2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam 21

2.2.3 Bài học kinh nghiệm từ các trang trại khác 26

Trang 8

Phần 3 KẾT QUẢ THỰC TẬP 30

3.1 Khái quát về cơ sở thực tập 30

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Sơn Cẩm 30

3.1.2 Sự hình thành và quy mô của trang trại Đào Kim Cương 38

3.1.3 Những thành tựu đạt được của trang trại 39

3.1.4 Thuận lợi và khó khăn liên quan đến quá trình sản xuất tại trang trại 40

3.2 Kết quả thực tập 41

3.2.1 Nội dung thực tập 41

3.2.2 Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế 56

3.2.3 Đề xuất một số giải pháp 57

Phần 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62

4.1 Kết luận 62

4.2 Kiến nghị 63

4.2.1 Đối với nhà nước 63

4.2.2 Đối với địa phương 63

4.2.3 Đối với chủ trang trại 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập

Nông nghiệp Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp cơ sở kinh tế ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Xong, quy mô nông nghiệp trong những năm qua còn nhỏ lẻ, manh mún, ước tính có khoảng 75-100 mảnh ruộng ở Việt Nam, tính trung bình mỗi hộ có từ 7-8 mảnh Khoảng 10% của tổng số mảnh này có diện tích rất nhỏ 100m2/mảnh hoặc nhỏ hơn, tính bình quân chỉ có khoảng 0,2ha/đầu người[4] Chất lượng nông sản chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường và chưa chú ý đến vệ sinh an toàn thực phẩm, sức cạnh tranh còn kém,

số nông dân tiếp cận và ứng dụng khoa học thành tựu kỹ thuật trong nông nghiệp còn ít, khả năng tiếp cận vốn và thông tin thị trường còn hạn chế Đặc biệt là trong lĩnh vực chăn nuôi Ngành chăn nuôi của nước ta đang phải đối đầu với rất nhiều khó khăn như dịch bệnh, giá cả thức ăn tăng cao, nhập khẩu thịt gia súc, gia cầm từ các nước phát triển Vì vậy phát triển chăn nuôi là vấn đề rất nóng bỏng và cần được quan tâm Đòi hỏi chính phủ và nông dân phải có những nhận thức đúng đắn, đánh giá, phát huy những mô hình kinh tế

có hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường

trong và ngoài nước

Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến, có hiệu quả cao đã được hình thành từ lâu ở nhiều Quốc gia trên Thế giới Kinh tế trang trại đã tạo ra cho xã hội phần lớn sản phẩm hàng hóa chứ không như các

hộ tiểu nông sản xuất tự cung tự cấp Loại hình này cũng đã và đang hình thành ở nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong những năm gần đây, là hình thức tổ chức kinh tế khơi dậy và phát huy những tiềm năng sẵn có, thích hợp

Trang 10

cho việc cơ giới hóa, công nghiệp hóa và áp dụng khoa học tiên tiến vào sản xuất.

Sơn Cẩm là xã nằm ở phía Nam của Huyện Phú Lương với đặc điểm đất đai đa dạng, xã có khả năng phát triển chăn nuôi gia cầm cũng như cây lương thực và các loại cây ăn quả, cây màu, cây công nghiệp có giá trị Thực hiện chương trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa, phát huy lợi thế vùng, hiện nay xã Sơn Cẩm đang tập trung phát triển chăn nuôi, đặc biệt là các mô hình trang trại chăn nuôi gà với quy mô lớn từ 5.000 - 20.000 con/lứa Là xã có nền kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội phát triển của huyện, có ưu thế về giao thông tạo ra thế mạnh trong việc giao lưu và phát triển mở rộng thị trường

Sự hình thành và phát triển trang trại chăn nuôi ở xã Sơn Cẩm chuyển

từ chăn nuôi phân tán nhỏ lẻ sang chăn nuôi công nghiệp tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, giúp nhiều hộ nông dân thoát nghèo, vươn lên làm giàu Để kinh tế trang trại thực sự trở thành thế mạnh của xã, góp phần phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn, vừa đạt hiệu quả kinh tế cao, vừa bảo

vệ sinh thái môi trường, nâng cao thu nhập cho người dân, giúp chính quyền

và người dân có cái nhìn đúng đắn nhất, hiệu quả nhất đối với việc khai thác tiềm năng và phát triển kinh tế của địa phương.Tuy nhiên kinh tế trang trại chăn nuôi của xã vẫn còn một số tồn tại chủ yếu đó là: Thiếu vốn nên đa số các trang trại xây dựng cơ bản không đồng bộ, quy mô trang trại chưa lớn đầu

tư cho trang trại cũng chưa thực sự xứng với tiềm năng phát triển của địa phương Bên cạnh đó, kinh nghiệm còn thiếu, kiến thức kinh doanh và khả năng tiếp cận thị trường còn nhiều hạn chế

Bởi vậy tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tìm hiểu mô hình trang trại

chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, Huyện Phú Lương”

Trang 11

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở tìm hiểu mô hình trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương từ đó đề xuất được các giải pháp nhằm phát triển trang trại chăn nuôi, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

1.2.2.1 Về chuyên môn

- Đánh giá thực trạng mô hình trang trại chăn nuôi gà Đào Kim Cương

- Phân tích hệ thống sản xuất, tìm ra được những khó khăn, trở ngại

và những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi gà

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển trang trại chăn nuôi trên địa bàn xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

- Hoàn thành tốt các công việc được giao của trang trại

1.2.2.3 Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc

Trang 12

- Biết lắng nghe và học hỏi từ những lời phê bình của người khác

* Kỹ năng làm việc

- Học được cách sắp xếp, bố trí công việc trong học tập, nghiên cứu,

làm việc một cách khoa học

- Nâng cao kỹ năng làm việc trong tập thể

- Tuân thủ giờ giấc hoạt động của trang trại

- Làm việc nghiêm túc, làm việc theo kế hoạch đã được quy định

1.3 Nội dung và phương pháp thực hiện

1.3.1 Nội dung thực tập

- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên – kinh tế xẫ hội tại xã Sơn cẩm, huyện Phú Lương

- Tìm hiểu quá trình hình thành phát triển của trang trại

- Tham gia vào quá trình chăm sóc, chăn nuôi tại trang trại

- Phân tích thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển trang trại chăn nuôi gà trên địa bàn xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

1.3.2 Phương pháp thực hiện

1.3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

* Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp là phương pháp thu thập các thông tin, số liệu có sẵn thường có trong các báo cáo khuyến nông hoặc các tài liệu đã công bố Các thông tin này thường được thu thập từ các cơ quan, tổ

Trang 13

* Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

Số liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ trang trại gà Đào Kim Cương ,để thu thập số liệu sơ cấp, tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

- Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp:

Tiến hành phỏng vấn trực tiếp đối với chủ trang trại Đào Kim Cương

để tìm hiểu về quá trình hình thành, triển khai, thực hiện mô hình kinh tế trang trại, những thông tin về tình hình cơ bản của trang trại như: Họ tên, tuổi, dân tộc, giới tính, trình độ văn hoá, số lao động, diện tích đất đai, vốn sản xuất Những thông tin về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại như: tình hình các khoản chi phí, các khoản thu cả hiện vật và giá trị Các yếu tố sản xuất như: vốn, kỹ thuật, lao động, giá cả thị trường, cách thức tổ chức sản xuất, cách thức quản lý Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn và xu hướng thực hiện trong tương lai

- Phương pháp trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất

Trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất của trang trại như: dọn dẹp,

vệ sinh chuồng trại, chăm sóc vật nuôi, chuyển cám Từ đó đánh giá được những thuận lợi, khó khăn mà trang trại gặp phải trong quá trình phòng dịch cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại

- Phương pháp quan sát:

Tiến hành trực tiếp quan sát khi tham gia các hoạt động của trang trại, nhằm có cái nhìn tổng quát về trang trại, đồng thời cũng là những tư liệu để đánh giá độ chính xác các thông tin mà chủ trang trại cung cấp

- Phương pháp thảo luận:

Cùng với chủ trang trại, cô chú công nhân thảo luận về những vấn đề khó khăn, tồn tại trang trại đang gặp phải

1.3.2.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá

* Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất

Trang 14

Hệ thống chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại như: giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị gia tăng, cụ thể là

+ Giá trị sản xuất (Gross Output): là giá trị bằng tiền của các sản phẩm sản xuất ra ở trang trại bao gồm phần giá trị để lại để tiêu dùng và giá trị bán

ra thị trường sau một chu kỳ sản xuất thường là một năm Được tính bằng sản lượng của từng loại sản phẩm nhân với đơn giá sản phẩm được xác định chi tiết theo các chỉ tiêu giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác; GTSX trên 1 ngày công lao động; GTSX trên 1 đồng chi phí

Cách tính: GO = ∑ Pi.Qi

Trong đó: GO : giá trị sản xuất

Pi : giá trị sản phẩm hàng hóa thứ i

Qi : lượng sản phẩm thứ i + Chi phí trung gian (Intermediate Cost), là toàn bộ các khoản chi phí vật chất bao gồm các khoản chi phí nguyên vật liệu, giống, thức ăn, chi phí dịch vụ thuê ngoài

Cách tính: IC = ∑ Cij

Trong đó: IC : là chi phí trung gian

Cij : là chi phí nguyên vật liệu thứ i cho sản phẩm thứ j + Giá trị gia tăng (Value Added): là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cho các ngành sản xuất kinh doanh

Cách tính: VA = GO - IC

Trong đó: VA : giá trị gia tăng

GO : giá trị sản xuất

IC : chi phí trung gian

* Phương pháp trích khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng:

Trang 15

+ Công thức:

Nguyên giá tài sản cố định

Mức trích khấu hao hàng năm =

Thời gian trích khấu hao

1.4 Thời gian và địa điểm thực tập

1.4.1 Thời gian thực tập

- Thời gian: Từ ngày 13 tháng 02 năm 2017 đến ngày 30 tháng 04 năm 2017

1.4.2 Địa điểm thực tập

- Địa điểm: Trang trại chăn nuôi gà Đào Kim Cương tại xóm Đồng xe,

xã Sơn Cẩm, huyện Phú lương, tỉnh Thái Nguyên

Trang 16

Phần 2 TỔNG QUAN

2.1 Về cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến nội dung thực tập

2.1.1.1 Khái niệm về trang trại

- Trang trại nói chung là cơ sở sản xuất nông nghiệp, ở đây nói về trang trại trong nền kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hoá, với các khái niệm

+ Trang trại là tổ chức sản xuất nông nghiệp có vị trí trung tâm thu hút các hoạt động kinh tế của các tổ chức sản xuất tư liệu sản xuất, các hoạt động dịch vụ và các tổ chức chế biến tiêu thụ nông sản

+ Trang trại là loại hình sản xuất đa dạng và linh hoạt về tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp

- Trang trại có các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất và phương thức quản lý khác nhau

+ Trang trại gia đình là loại hình trang trại phổ biến nhất trong nông nghiệp ở tất cả các nước, thường do các chủ gia đình làm chủ và quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại, sử dụng lao động gia đình là chủ yếu và có thể

sử dụng lao động thuê ngoài, sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất

Trang 17

(ruộng đất, công cụ sản xuất, vốn …) cũng có thể đi thuê ngoài một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất trên

+ Trang trại tư bản tư nhân là loại hình trang trai nông nghiệp ít phổ biến ở các nước, đến nay số lượng không nhiều thường là các trang trại tư bản

tư nhân, công ty cổ phần, sản xuất kinh doanh trên cơ sở sử dụng lao động làm thuê kể cả lao động sản xuất và lao động quản lý

- Trang trại thường có các quy mô khác nhau (nhỏ, vừa và lớn ) song song tồn tại lâu dài với sự thay đổi về cơ cấu tỷ lệ và qui mô trung bình… Trang trại thường có các cơ cấu sản xuất khác nhau với cơ cấu thu nhập khác nhau, trong và ngoài nông nghiệp, với phương thức quản lý kinh doanh khác nhau (chuyên môn hoá, đa dạng hoá sản phẩm) với trình độ năng lực sản xuất khác nhau

Tóm lại: Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập Sản xuất được tiến hành trên qui mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung tương đối lớn, với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao: Hoạt động

tự chủ và luôn gắn với thị trường [11]

2.1.1.2 Một số khái niệm về kinh tế trang trại

Trong những năm gần đây ở nước ta có rất nhiều cơ quan nghiên cứu như cơ quan quản lý nhag Nước và nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã quan

tâm nghiên cứu về kinh tế trang trại Một trong những vấn đề được đề cập

nhiều là khái niệm kinh tế trang trại Về thực chất trang trại và kinh tế trang trại là hai khái niệm khác nhau, không đồng nhất với nhau, có rất nhiều quan điểm khác nhau về kinh tế trang trại như :

Xuất phát từ quan điểm của LêNin “Ấp trại tuy vẫn là nhỏ nếu tính theo diện tích, nhưng lại hoá thành ấp trại lớn nếu xét về quy mô sản xuất” Ở đây

Trang 18

ta có thể hiểu khái niệm trang trại thể hiện quy mô tính theo diện tích nhưng cũng có thể đó là quy mô sản xuất thể hiện bằng thu nhập [1]

Theo Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trại của Chính phủ, “kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản” [5]

Theo GS.TS Nguyễn Đình Hương: “ Trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, thuỷ sản có mục đích chính là sản xuất hàng hoá, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ luôn gắn với thị trường”.[3]

Còn theo Th.s Nguyễn Phượng Vỹ ” Trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông, lâm, ngư nghiệp, phổ biến được hình thành trên cơ

sở kinh tế nông hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hoá” [3]

Theo Nghị Quyết TW số 06/NQ – TW ngày 10/11/1998, đã xác định:

“ trang trại gia đình thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hoá với quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất, kinh doanh có hiệu quả” [4]

Cũng như khái niệm về trang trại, trong thời gian qua cũng có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra khái niệm về kinh tế trang trại như: Theo PGS.TS Lê Trọng: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ

sở, là doanh nghiệp tổ chức sản xuất trực tiếp ra nông sản phẩm hàng hoá dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, được chủ trang trại đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang thiết bị tư liệu

Trang 19

sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của thị trường, được nhà nước bảo hộ theo luật định” [6]

Theo tác giả Trần Trác: “Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất và kinh doanh hàng hoá nông, lâm, thuỷ sản của một nông hộ theo cơ chế thị trường” [3]

Theo quan điểm của Nghị Quyết 03/2000 NQ – CP về việc “khuyến khích phát triển kinh tế trang trại” cho rằng “Bản chất của kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp nông thôn chủ yếu dựa vào kinh tế hộ gia đình” [5].Như vậy, nói kinh tế trang trại là nói mặt kinh tế của trang trại Bởi ngoài ra còn có thể nhìn nhận trang trại từ mặt xã hội và môi trường Điều này có nghĩa rằng khái niệm trang trại rộng hơn khái niệm kinh tế trang trại Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố sản xuất kinh doanh và các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình hoạt động của trang trại Còn trang trại là nơi diễn ra các hoạt động và mối quan hệ đó, nhìn chung trang trại gồm những đặc điểm cơ bản sau:

- Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất hàng hoá Đây là đặc điểm cơ bản của trang trại trong điều kiện kinh tế thị trường

- Là kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá

- Các yếu tố vật chất của sản xuất, trước hết là ruộng đất và tiền vốn trong trang trại được tập trung với quy mô nhất định theo yêu cầu của sản xuất hàng hoá

- Trang trại tự chủ hoàn toàn trong sản xuất kinh doanh

- Chủ trang trại là người có trình độ, năng lực tổ chức quản lí, có kinh nghiệm và kiến thức nhất định về sản xuất, kinh doanh

2.1.1.3 Vai trò của kinh tế trang trại

Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất quan trọng trong vấn đề nông nghiệp thế giới,ngày nay trang trại gia đình là hình thức trang trại chủ yếu

Trang 20

trong nền nông nghiệp các nước ở những nước đang phát triển, trang trại gia đình có vai trò to lớn quyết định trong sản xuất nông nghệp ở đây đại bộ phận nông sản phẩm cung cấp cho xã hội được sản xuất từ các trang trại gia đình

Ở nước ta mặc dù trang trại chỉ phát triển trong những năm gần đây Song vai trò tích cực của kinh tế trang trại đã thể hiện khá rõ nét cả về mặt kinh tế cũng như về mặt xã hội và môi trường

* Về mặt kinh tế: các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế,

phát triển các loại cây trồng vật nuôi, có giá trị hàng hóa góp phần làm phân tán, tạo nên những vùng chuyên môn hóa cao mặt khác qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy kinh tế công nghiệp đặc biệt công nghiệp chế biến và chuyển dịch sản xuất ở nông thôn.Thực tế cho thấy việc phát triển kinh tế trang trại ở những nơi có điểu kiện bao giờ cũng đi liền với việc khai thác và sử dụng một cách đầy đủ và hiệu quả các loại nguồn lực trong nông nghiệp nông thôn so với kinh tế nông hộ Do vậy phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn

* Về xã hội: Phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm tăng

số hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm tăng thêm thu nhập cho lao động Điều này rất có ý nghĩa trong việc giải quyết vấn đề lao động việc làm, một trong những vấn đề bức xúc của nông nghiệp nông thôn nước ta hiện nay Mặt khác phát triển kinh tế trang trại còn góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu

hạ tầng trong nông thôn và tạo tấm gương cho các hộ gia đình nông dân về cách tổ chức và sản xuất lao động trong kinh doanh… do đó phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội và đổi mới

bộ mặt xã hội nông thôn nước ta

Trang 21

* Về môi trường

Do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết thực, lâu dài của mình

mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ các yếu tố môi trường, trước hết là trong phạm vi không gian sinh thái trang trại

và sau nữa là trong phạm vi từng vùng

Các trang trại ở trung du, miền núi đã góp phần quan trọng vào việc trồng rừng, bảo vệ rừng, phủ xanh đồi trọc và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai, những việc này đã góp phần tích cực cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái trên các vùng của đất nước [10]

Nói chung, trong điều kiện kinh tế thị trường, với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì mô hình kinh tế trang trại là một hướng đi đầy triển vọng cho nông nghiệp Việt Nam Chắc chắn trong tương lai, sự phát triển của nông nghiệp huyện Phú Lương phải bao gồm cả sự phát triển của mô hình kinh tế tranng trại

2.1.1.4 Đặc trưng của kinh tế trang trại

Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông lâm, thủy sản hàng hóa với quy mô lớn

Mức độ tập trung hóa và chuyên môn hóa các điều kiện và yếu tố đặc biệt cao hơn hẳn so với sản xuất nông hộ, thể hiện quy mô sản xuất như: đất đai, đầu con gia súc, lao động giá trị nông lâm thủy sản hàng hóa

Chủ trang trại có kiến thức kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất , biết áp dụng khoa học kỹ thuật, tiếp cận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất, sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ [10]

Trang 22

2.1.1.5 Các tiêu chí để phân biệt trang trại

Theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/4/2011 của Bộ NN - PTNT quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại thì:

Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:

* Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp:

a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:

- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và ĐBSCL

- 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại

b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm

* Đối với cơ sở chăn nuôi:

Giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên;

* Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp

Diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt

500 triệu đồng/năm trở lên

2.1.2 Các văn bản pháp lý liên quan đến nội dung thực tập

2.1.2.1 Chính sách đất đai

Hộ gia đình có nhu cầu và khả năng sử dụng đất để phát triển trang trại được nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất được áp dụng theo quy định tại nghị định số 85/1999/NĐ-CP, ngày 28 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài và nghị định số 163/1999/NĐ-CP, ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp

Trang 23

Hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản sống tại địa phương có nhu cầu và khả năng sử dụng đất để mở rộng sản xuất thì ngoài phần đất đã được giao trong hạng mức của địa phương còn được UBND xã xét cho thuê đất để phát tiển trang trại

Hộ gia đình phi nông nghiệp có nguyện vọng và khả năng tạo dựng cơ nghiệp lâu dài từ sản xuất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản được UBND xã cho thuê dất để làm kinh tế trang trại

Hộ gia đình, cá nhân địa phương khác có nguyện vọng lập nghiệp lâu

dì, có vốn dầu tư để phát triển trang trại được UBND xã cho thuê đất

Diện tích được giao, được thuê phụ thuộc vào quỹ đất của địa phương

và khả năng sản xuất kinh doanh của trang trại

Hộ gia đình, cá nhân được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuê lại quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác để phát triển trang trại theo quy định của pháp luật Người nhận chuyển nhượng hoặc thuê quyền sử dụng đất hợp pháp có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Hộ gia đình, cá nhân đã được giao hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất vượt quá hạn mức sử dụng đất trước ngày 01 tháng 01 năm 1999 để phát triển trang trại, thì được tiếp tục sử dụng và chuyển sang thuê phần diện tích đất vượt hạn mức, theo quy định của pháp luật vê đất đai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nhưng chưa được giao, chưa được thuê hoặc đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng cưa được cấp giấy chứng nhận trước ngày ban hành nghị quyết này, nếu không có tranh chấp, sử dụng đất đúng mục đích, thì được xem xét để giao hoặc cho thuê đất

và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW có trách nhiệm chỉ đạo cơ

Trang 24

quan địa chính khẩn trương cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, để các chủ trang trại yên tâm đầu tư phát triển sản xuất

2.1.2.2 Chính sách về thuế

Để khuyến khích và tạo điều kiện hộ gia đình, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế trang trại, nhất là ở những vùng đất trống đồi núi trọc, bãi bồi, đầm phá ven biển, thực hiện miễn thuế thu nhập cho trang trại với thời gian tối đa theo Nghị định số 51/1999/NĐ-CP, ngày 8 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ

về việc Quy định chi tiết thi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10

Theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì hộ gia đình và

cá nhân nông dân sản xuất hàng hóa lớn có thu nhập cao thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Giao Bộ Tài chính nghiên cứu trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 30/1998/NĐ-CP ngày 13 tháng 5 năm 1998 của Chính phủ về Quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng quy định đối tượng nộp thuế là những hộ làm kinh tế trang trại đã sản xuất kinh doanh ổn định, có giá trị hàng hóa và lãi lớn, giảm thấp nhất mức thuế suất, nhằm khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, được nhân dân đồng tình và có khả năng thực hiện

Các trang trại được miễn giảm tiền thuê đất theo quy định của pháp luật

về đất đai khi thuê đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá để trồng rừng sản xuất, trồng cây lâu năm và khi thuê diện tích ở các vùng nước tự nhiên chưa

có đầu tư cải tạo vào mục đích sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

2.1.2.3 Chính sách đầu tư tín dụng

Căn cứ vào quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp trên các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, Nhà nước có chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng về giao thông,

Trang 25

thuỷ lợi, điện, nước sinh hoạt, thông tin, cơ sở chế biến để khuyến khích các

hộ gia đình, cá nhân phát triển trang trại sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

Trang trại phát triển sản xuất, kinh doanh trong những lĩnh vực thuộc đối tượng quy định tại Điều 8 mục I Chương II của Nghị định số 43/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 6 năm 1999 của Chính phủ được vay vốn từ Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển của Nhà nước và việc vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước thực hiện theo các quy định của Nghị định này

Trang trại phát triển sản xuất, kinh doanh được vay vốn tín dụng thương mại của các ngân hàng thương mại quốc doanh Việc vay vốn được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 3 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về "Một số chính sách tín dụng ngân hàng phát triển nông nghiệp và nông thôn", chủ trang trại được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm tiền vay theo quy định tại Nghị định số 178/1999/NĐ-CP, ngày 29 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng

2.1.2.4 Chính sách lao động

Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tạo được nhiều việc làm cho lao động nông thôn, ưu tiên sử dụng lao động của hộ nông dân không đất, thiếu đất sản xuất nông nghiệp, hộ nghèo thiếu việc làm Chủ trang trại được thuê lao động không hạn chế về số lượng; trả công lao động trên cơ sở thoả thuận với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động Chủ trang trại phải trang bị

đồ dùng bảo hộ lao động theo từng loại nghề cho người lao động và có trách nhiệm với người lao động khi gặp rủi ro, tai nạn, ốm đau trong thời gian làm việc theo hợp đồng lao động

Đối với địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, chủ trang trại được ưu tiên vay vốn thuộc chương trình giải quyết việc làm, xoá đói

Trang 26

giảm nghèo để tạo việc làm cho lao động tại chỗ, thu hút lao động ở các vùng đông dân cư đến phát triển sản xuất

Nhà nước có kế hoạch hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp cho lao động làm trong trang trại bằng nhiều hình thức tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn

2.1.2.5 Chính sách khoa học, công nghệ, môi trường

BNN & PTNT cùng với các địa phương có quy hoạch, kế hoạch xây dựng các công trình thủy lợi để tạo nguồn vốn phát triển sản xuất Chủ trang trại tự bỏ vốn hoặc vay từ nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước để xây dựng

hệ thống dẫn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt trong trang trại Các chủ trang trại xây dựng các công trình thủy lợi, sử dụng nước mặt, nước ngầm trong phạm

vi trang trại theo quy hoạch không phải nộp thuế tài nguyên nước

BNN & PTNT cùng với các tỉnh, thành phố trực thuộc TW quy hoạch đầu tư phát triển các vườn ươm giống cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp và các

cơ sở sản xuất con giống ( chăn nuôi, thủy sản) hoặc hỗ trợ một số trang trại

có điều kiện sản xuất giống để đảm bảo đủ giống tốt, gióng có chất lượng cao cung cấp cho các trang trại và các hộ nông dân trong vùng

Khuyến khích các chủ trang trại góp vốn vào quỹ hỗ trợ phát triển khoa học, liên kết với cơ sở khoa học, đào tạo, chuyển giao tiến bộ khoa học, kyc thuật áp dụng vào trang trại và làm dịch vụ kỹ thuật cho nhân dân trong vùng

2.1.2.6 Chính sách về thị trường

Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức tốt việc cung cấp thông tin thị trường, khuyến cáo khoa học kỹ thuật, giúp trang trại định hướng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước

Nhà nước hỗ trợ việc đầu tư nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các cơ

sở công nghiệp chế biến ở các vùng tập trung, chuyên canh, hướng dẫn việc

ký kết hợp đồng cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản Khuyến khích các

Trang 27

thành phần kinh tế tham gia phát triển công nghiệp chế biến nông sản và tiêu thụ nông sản hàng hoá của trang trại và nông dân trên địa bàn

Nhà nước khuyến khích phát triển chợ nông thôn, các trung tâm giao dịch mua bán nông sản và vật tư nông nghiệp Tạo điều kiện cho các chủ trang trại được tiếp cận và tham gia các chương trình, dự án hợp tác, hội chợ triển lãm trong và ngoài nuớc

Đẩy mạnh sự liên kết giữa các cơ sở sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản thuộc các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa các doanh nghiệp Nhà nước với hợp tác xã, chủ trang trại, hộ nông dân

Nhà nước tạo điều kiện khuyến khích chủ trang trại xuất khẩu trực tiếp sản phẩm của mình và sản phẩm mua gon của trang trại khác, của các hộ nông dân và nhập khẩu vật tư nông nghiệp

2.1.2.7 Chính sách bảo hộ tài sản đã đầu tư của trang trại

Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của trang trại không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính Trong trường hợp hợp

vì lý do quốc phòng, an ninh, vì lợi ích quốc gia, Nhà nước cần thu hồi đất được giao, được thuê của trang trại thì chủ trang trại được thanh toán hoặc bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm công bố quyết định

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới

Theo các nhà nghiên cứu, kinh tế trang trại được hình thành từ rất sớm,

từ khi phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến,

từ khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ở châu Âu, nghĩa là kinh tế trang trại ra đời gắn liền với quá trình công nghiệp hóa Kinh tế trang trại được xem là xuất hiện sớm nhất ở Pháp Sau cuộc đại cách mạng tư sản Pháp năm 1789, ở Pháp xuất hiện những chủ trại (ferrmier) trong nông nghiệp Từ

đó kinh tế trang trại phát triển và lan rộng khắp thế giới

Trang 28

Có thể nói, đến nay trang trại trở thành mô hình phổ biến nhất của nông nghiệp thế giới, nó chiếm tỷ trọng lớn tuyệt đối về đất đai canh tác và số lượng nông sản làm ra Ví dụ hiện nay ở Mỹ với 2,2 triệu trang trại đã sản xuất ra hơn 50% sản lượng đậu tương và ngô của toàn thế giới.Ở Malayxia các trang trại đã xuất ra 40 nước trên 6 triệu tấn [10]

Quá trình phát triển kinh tế trang trại gia đình có sự biến đổi về số lượng cũng như quy mô Thực tiễn ở nhiều nước cho thấy trong thời kỳ đầu CNH do lao động nông nghiệp còn đông, khả năng phân công lao động xã hội còn hạn chế thì số lượng trang trại gia đình tăng lên Đến thời kỳ công nghiệp hoá phát triển, khả năng thu hút lao động của công nghiệp, dịch vụ tăng lên nhanh chóng thì số lượng trang trại nông nghiệp bắt đầu giảm đi Cuối thế kỷ

XX số lượng ở các trang trại gia đình ở các nước đang phát triển ở châu Á tăng 2,5% mỗi năm, trong khi đó ở các nước công nghiệp phát triển châu Âu giảm 2,35% mỗi năm

Ở hầu hết các nước, trang trại là hình thức sản xuất giữ vị trí xung kích trong quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn và trở thành lực lượng chủ lực khi nền kinh tế phát triển đến giai đoạn cao Thực tiễn đã chứng minh rằng kinh tế trang trại có vai trò quan trọng ở các nước đang phát triển (Hàn Quốc, Đài Loan,…) và đang tiếp tục phát huy tác dụng ở những nước có nền kinh tế phát triển cao (Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản,….) Kinh tế trang trại gia đình đã thể hiện rõ vai trò tích cực trong quá trình phát triển nông nghiệp thế giới, thúc đẩy ngành sản xuất nông sản hàng hoá và đưa nền nông nghiệp tiến lên hiện đại.[6]

Kinh tế trang trại phát triển mạnh ở thời kỳ các nước tiến hành công nghiệp hoá sau đó, khi công nghiệp phát triển thì số lượng trang trại có xu hướng giảm dần và quy mô trang trại có xu hướng tăng lên

Ở những vùng đất mới như châu Mỹ, châu Úc thì quy mô trang trại là

Trang 29

rất lớn Như ở Mỹ mỗi trang trại có diện tích bình quân từ 180-200 ha, ở Canađa là 400 - 450 ha, ở Úc là 500 ha, thậm chí hàng nghìn ha… Họ gọi là trang trại nhưng thực chất đó là những đồn điền được Nhà nước khuyến khích, bảo vệ bằng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh

Ở châu Á, chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm luôn là một cản trở đối với phát triển kinh tế hàng hoá và cơ chế thị trường Do vậy, kinh tế trang trại cũng xuất hiện muộn hơn và quy mô nhỏ hơn ở châu Âu, châu Mỹ, nhiều nghiên cứu cho thấy quy mô trang trại nhỏ ở châu Á chiếm từ 60-70% về số lượng, canh tác 30% diện tích và sản xuất 35% tổng sản phẩm nông nghiệp

2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam

Mặc dù đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng kinh tế trang trại của Việt Nam chỉ phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, có thể xem thực hiện chỉ thị 100 Ban bí thư TW khóa IV, NQ 10 của bộ chính trị về phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân và đặc biệt sau khi luật đất đai ra đời năm 1993 thì kinh tế trang trại thực sự đã có bước phát triển khá nhanh và đa dạng

* Kinh tế trang trại Việt Nam thời kỳ phong kiến

“Trong thời kỳ này đã có chính sách khai khẩn đất hoang bằng cách lập các đồn điền, doanh điền được biểu hiện dưới các hình thức khác nhau như: điền trang, điền doanh, thái ấp”

* Kinh tế trang trại Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc

“Mục đích chủ yếu của thực dân Pháp thời kỳ này là khai thác thuộc địa, cho nên thực dân Pháp đã ban hành một số chính sách như: Chính sách ruộng đất, chính sách thuế, nhằm thiết lập các đồn điền để tăng sức sản xuất ở khu vực thuộc địa Năm 1927 chỉ riêng ở Bắc Kỳ đã có tới 155 đồn điền rộng

từ 200 ha đến hơn 8.500 ha Nam kỳ và Cao Nguyên Trung Kỳ, nhiều tên thực dân đã có những đồn điền rộng hàng vạn ha Đến năm 1930, số ruộng đất

Trang 30

do thực dân Pháp chiếm để lập đồn điền đã lên tới 1,2 triệu ha tương đương với khoảng ¼ diện tích đất canh tác của ta lúc bấy giờ”

* Kinh tế trang trại Việt Nam thời kỳ 1950 đến nay

Thời kỳ 1954-1975, ở miền Bắc nền nông nghiệp mang nặng tính kế hoạch hoá tập trung, ở đó có các hình thức tổ chức sản xuất như: Nông – Lâm trường Quốc doanh, hợp tác xã Nông Nghiệp… Mọi tư liệu sản xuất chủ yếu

là ruộng đất được tập trung một cách triệt để, kinh tế tư nhân không được coi

là một thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân Còn ở Miền Nam thời kỳ này các hình thức tổ chức sản xuất ở vùng tạm chiếm chủ yếu là các đồn điền, dinh điền, các hợp tác xã sản xuất hàng hoá Thời kỳ 1975 cho tới nay Từ cuối những năm 1975 hiệu quả sản xuất trong nền kinh tế nói chung và trong ngành nông nghiệp nói riêng là thấp kém Trong các hợp tác xã ở Miền Bắc dẫn tới khủng hoảng của mô hình tập thể hoá nông nghiệp

Trước tình hình đó Đảng đã có Đại Hội lần thứ VI (tháng 12/1986) đề

ra được các chủ trương chính sách mới đặc biệt là cơ chế khoán gọn tới từng

hộ gia đình, tiếp đến là Nghị Quyết 10 của bộ chính trị và cùng nhiều văn bản khác của Chính phủ, đã giải phóng sức lao động và các tư liệu sản xuất khác đặc biệt là đất đai Việc đổi mới cơ chế chính sách này đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế trang trại

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, kinh tế hộ nông dân đã phát huy tác dụng to lớn, tạo sức mạnh mới trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn Trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ nông dân đã hình thành các trang trại được đầu tư vốn, lao động với trình độ công nghệ và quản lý cao hơn, nhằm mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa và năng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường

Theo Thông tư 27/2011/TT- BNNPTNT ngày 13/4/2011 của Bộ NN và PTNT quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại

Trang 31

Tính đến cuối năm 2016, cả nước có khoảng 33.488 trang trại, tăng 13.460 trang trại (67,2%) so với năm 2011 Số liệu điều tra do Tổng cục Thống kê thực hiện năm 2016 công bố kết quả sơ bộ cho thấy, từ năm 2011-2016, bình quân mỗi năm số trang trại của cả nước tăng trên 13% Trong đó, vùng đồng bằng sông Hồng trang trại phát triển mạnh nhất (tăng 6.435 trang trại), chiếm gần một nửa số trang trại tăng thêm trong vòng 5 năm qua của cả nước

Số lượng trang trại tăng tập trung chủ yếu ở loại hình trang trại chăn nuôi, tăng 14.521 trang trại (gấp 3,3 lần) so với cùng kỳ năm 2011 Trong vòng 5 năm qua, bình quân mỗi năm trang trại chăn nuôi tăng hơn 45% Số lượng trang trại thủy sản giảm mạnh, giảm 2.172 trang trại (giảm 48%) so với năm 2011, giảm trung bình gần 10% mỗi năm

Đến ngày 01/7/2016, cả nước có 9.216 trang trại trồng trọt, chiếm 27,5% trong tổng số trang trại của cả nước; 20.869 trang trại chăn nuôi, chiếm 62,4%; 112 trang trại lâm nghiệp, chiếm 0,3%; 2.350 trang trại nuôi trồng thủy sản, chiếm 7% và 941 trang trại tổng hợp, chiếm 2,8%

Đến thời điểm 01/7/2016, các trang trại sử dụng 187 nghìn ha diện tích đất sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 35,9 nghìn ha so năm 2011 Trong đó, có 60 nghìn ha đất trồng cây hàng năm; 79,5 nghìn ha đất trồng cây lâu năm; 17,6 nghìn ha đất lâm nghiệp và 29,8 nghìn ha đất nuôi trồng thủy sản Bình quân 1 trang trại sử dụng 5,6 ha đất sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Các trang trại đã sử dụng 134,7 nghìn lao động làm việc thường xuyên, tăng 40.000 lao động (tăng 42,4%) so với năm 2011 Trong đó, lao động của

hộ chủ trang trại là 75,800 người, chiếm 56,3% tổng số lao động, còn lại là lao động thuê mướn thường xuyên Bình quân 1 trang trại sử dụng 4,0 lao động thường xuyên Số lượng lao động bình quân 1 trang trại giảm so với năm 2011 (năm 2011 là 4,7 lao động) do các trang trại đã áp dụng khoa học

Trang 32

kỹ thuật, đưa máy móc thiết bị vào phục vụ các khâu trong sản xuất, bên cạnh

đó việc gia tăng số lượng trang trại chăn nuôi, loại hình trang trại sử dụng ít lao động hơn các loại hình trang trại khác (trồng trọt, nuôi trồng thủy sản…nên mức bình quân sử dụng lao động của một trang trại giảm

Loại hình kinh tế trang trại phát triển nhanh đã góp phần tạo ra nhiều giá trị sản phẩm hàng hóa nông, lâm nghiệp và thủy sản Tổng cục Thống kê cho biết, tổng thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của các trang trại trong năm 2016 ước đạt 93.098 tỷ đồng, tăng 54.007 tỷ đồng (138,2%) so với giá trị đạt được cách đây 5 năm (2011) Tính bình quân 1 trang trại có thu nhập đạt 2.780 triệu đồng, tăng 828 triệu đồng (tăng 42,4%) so với cách đây 5 năm

Tổng thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của các trang trại năm 2016 đạt 93.098 tỷ đồng, tăng 54.007 tỷ đồng (tăng 138,2%) so với năm

2011 Bình quân 1 trang trại đạt 2.780 triệu đồng, tăng 828 triệu đồng (tăng 42,4%).[9]

* Kinh tế trang trại ở Thái Nguyên

Đặc trưng nói chung về kinh tế trang trại ở tỉnh Thái Nguyên, là đều được hình thành do tính tất yếu khách quan, do xu thế của của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, cùng với chủ trương đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp, chủ trương phát triển kinh tế đa thành phần và đặc biệt coi trọng kinh tế hộ nông dân, là thành phần kinh tế chủ yếu trong nông nghiệp

Kinh tế trang trại Thái Nguyên chia làm 3 vùng:

- Vùng cao:

Kinh tế trang trại vùng núi cao phát triển kém nhất trong ba vùng, chủ yếu là tự phát, các loại hình trang trại thiên về xu hướng lâm nghiệp, và trồng cây lâu năm, trang trại lâm nghiệp chiếm 33,7%, trồng cây lâu năm 10,4%, chăn nuôi chiếm 39%, có ba loại hình trang trại chiếm tỷ lệ ít nhất chưa đến 3% đó là trang trại nuôi trồng thủy sản và trang trại trồng cây ăn quả và cây

Trang 33

hàng năm Chủ trang trại chủ yếu là nông dân, trình độ về mọi mặt đều thấp, không mạnh dạn đầu tư, cụ thể bình quân mỗi trang trại chỉ có chi phí là 78.172.000 đồng thấp hơn hẳn so với các vùng khác Chính những yếu tố trên

đã ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại, thu nhập bình quân trên trang trại là 33.485.000 đồng

- Vùng thấp:

Kinh tế trang trại vùng thấp phát triển mạnh mẽ nhất, tuy rằng diện tích đất các loại giảm, bình quân chỉ có 2,07 ha trên một trang trại chỉ bằng 17,7% diện tích của vùng cao nhưng giá trị sản xuất kinh doanh bình quân của 1 trang trại là 285.557.000 đồng tăng 255,7%, thu nhập bình quân trên một trang trại là 67.405.000 đồng tăng 201% so với vùng cao Loại hình trang trại chủ yếu vẫn là chăn nuôi chiếm 71,2% Tóm lại vùng này sản xuất kinh doanh

có hiệu quả cao hơn nhiều so với vùng núi cao, các yếu tố chủ yếu vẫn là do điều kiện tự nhiên và nhận thức và trình độ của chủ trang trại Chính những điều đó có tác động lớn đến hiệu quả kinh tế của trang trại ví dụ GO/LĐ là 88.68 triệu đồng, điều này có nghĩa giá trị sản lượng sản xuất ra tính trên một lao động là rất cao bởi vậy cần nhân rộng mô hình kinh tế trang trại; VA/LĐ

là 20.93 triệu đồng, đồng nghĩa với giá trị tăng thêm một lao động trên tháng

là 1.744.166 đồng; GO/IC là 1.23 lần điều này chứng tỏ tỷ xuất hàng hóa bán

ra so với một đồng chi phí trong một năm là rất cao đồng nghĩa với số tăng 23%, điều này rất khả thi khi có thể mạnh dạn bằng mọi nguồn lực nhằm nâng cao vốn đầu tư cho kinh tế trang trại nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất

- Vùng giữa:

Vùng này phát triển chủ yếu loại hình trang trại chăn nuôi chiếm tới 76,5% trên tổng số trang trại của vùng Thu nhập bình quân trong vùng đạt 41.176.000 đồng có giá trị sản xuất kinh doanh bình quân 225.534.000 đồng, mặc dù diện tích đất bình quân trên 1 trang trại chỉ chiếm 0,96 ha Giá trị

Trang 34

hàng hóa bán ra trên lao động là rất cao chiếm 70,67 triệu đồng và cao nhất vẫn là trang trại chăn nuôi đạt 82,53 triệu đồng Hiện vùng này diện tích đất bình quân trên trang trại rất thấp nên chỉ nên đầu tư vào việc chuyên chăn nuôi gia súc và gia cầm, tiện cho việc cung cấp sản phẩm cho vùng Thành phố, vùng này chiếm rất nhiều ưu thế như: cơ sở hạ tầng thuận lợi, tiếp cận với khoa học kỹ thuật, điều kiện tiêu thụ sản phẩm dễ dàng, việc huy động lao động nhàn dỗi rất đơn giản chứ không như vùng núi cao

Như vậy, kinh tế trang trại đang ngày càng trở nên phổ biến rộng khắp mọi vùng kinh tế của đất nước từ đồng bằng, trung du, miền núi đến ven biển

và ngày càng chứng tỏ là loại hình tổ chức kinh tế có hiệu quả trong nông nghiệp, nông thôn Kinh tế trang trại khá đa dạng về quy mô, loại hình sản hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái rõ rệt nhờ phát huy tốt nội lực, khai thác mọi nguồn tiềm năng và cơ hội để phát triển Kinh tế trang trại đã biến những vùng đất hoang, khô cằn hoặc ngập úng quanh năm thành những vùng kinh tế trù phú, đầu tư cao, tạo việc làm, tăng của cải vật chất cho mình, cộng đồng và cho xã hội

Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, thực tế phát triển kinh

tế trang trại ở Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi Nhà nước, các cấp, các ngành và các chủ trang trại phải quan tâm giải quyết như những mặt yếu kém của quá trình này Đó là vấn đề việc làm ở nông thôn do tích tụ ruộng đất, tranh chấp đất đai, phá rừng nguyên sinh, rừng ngập mặn làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái bền vững và lợi ích của các đối tượng trong xã hội trước mắt và tương lai

2.2.3 Bài học kinh nghiệm từ các trang trại khác

* Kinh nghiệm từ mô hình trang trại thứ nhất

Mô hình sản xuất của gia đình ông Phùng Viết Thủy (thôn Ngọc Nhị,

xã Cẩm Lĩnh huyện Ba Vì) còn gọi là Ông Thủy “gà thả vườn”, ông Thủy

Trang 35

chuyên “gà Mía lai” Ông được mọi người đặt cái tên như vậy bởi nghiệp nuôi gà gắn bó với ông gần 14 năm nay và đã mang lại cho ông một cuộc sống khá giả ở một vùng quê yên ả Khởi nghiệp ông nuôi gà từ năm 2002 mới đầu cũng chỉ là nuôi “cho vui” với 300 con chứ chưa nghĩ nhiều đến làm kinh tế vì cũng chưa có kinh nghiệm gì nhưng dần dần thấy hiệu quả và trở thành người đam mê với con gà Hàng năm ông nâng dần số gà, mở rộng diện tích xây dựng chuồng trại để đến nay ông luôn có số lượng gà nuôi khoảng gần 10 nghìn con trong đó gà thịt trên 2.000 con, gà giống 7.000, gà mái đẻ

500 con trên diện tích nuôi khoảng 10 nghìn m2 trên tổng diện tích khoảng 20 nghìn m2 hiện có Về hiệu quả kinh tế hiện tại ông nuôi gần 10 nghìn gà nhưng hoàn toàn sử dụng lao động tại chỗ (gồm vợ chồng ông và 2 cháu), chỉ khi thật cần thiết mới phải thuê nhân công bà con hàng xóm sang trợ giúp vài buổi như dọn dẹp chuồng trại, xử lý môi trường, sân chơi Với nguồn lao động sẵn có nên thu nhập của gia đình bình quân cũng được trên 20 triêu/tháng; Hàng năm ông có thu nhập trên 200 triệu đồng để đảm bảo cuộc sống gia đình và tăng thêm nguồn vốn cho chăn nuôi

Định hướng những năm tới ông tiếp tục mở rộng quy mô, tăng số lượng đàn gà khoảng 13 - 15 nghìn con, trong đó gà sinh sản lên khoảng 10 nghìn con vì đã có nhiều kinh nghiệm, hơn nữa diện tích đất đai của ông vẫn còn rộng chưa khai thác hết (còn khoảng 10 nghìn m2 nữa) Ông cũng sẽ liên kết với các hộ xung quanh nâng cao hiệu quả hoạt động của chi hội bởi ông luôn nghĩ làm gì cũng phải có tính cộng đồng mới thành công và sự bền vững trong sản xuất.[13]

* Kinh nghiệm từ mô hình trang trại thứ hai

Mô hình chăn nuôi gà đẻ và gà thịt anh Bùi Minh Đức ( thôn Xuân Dương, xã Thanh Lương, huyện Lương Sơn - Hòa Bình) Tận dụng diện tích vườn đồi rộng 1,2ha, anh kết hợp trồng keo, xoan làm bóng mát và nuôi gà

Trang 36

thả vườn phía dưới Ban đầu vốn ít anh Đức chỉ nuôi khoảng 500 con Giống

gà gia đình anh nuôi chủ yếu là gà ta lai mía và được bắt ở những cơ sở có uy tín Chỉ sau vài tháng nuôi đàn gà cho hiệu quả và xuất bán ra thị trường đem lại lợi nhuận cao Nhận thấy nuôi gà thả vườn là một hướng đi đúng đối với bản thân và gia đình nên anh quyết định mở rộng đầu tư chăn nuôi lên 2.000 con mỗi lứa

Cho đến nay gia đình anh Đức đã nuôi được 5- 6 năm Trung bình một năm gia đình anh nuôi khoảng 5.000 – 6.000 con gà, trong đó nuôi gà đẻ trứng chiếm khoảng ¾ tổng số đàn gà, còn lại là nuôi thịt để bán thương phẩm Năm 2010, gia đình anh đã đầu tư hệ thống lò ấp trứng nhằm tự chủ được con giống và sản xuất giống theo một khâu khép kín từ việc chăm sóc nuôi dưỡng và tiêm phòng đầy đủ khi gà con nở 1 ngày tuổi Nhờ vậy mà mỗi

1 lần ra lò gà giống đã có các hộ gia đình và cơ sở đặt mua hết Trung bình một năm gia đình anh xuất bán ra thị trường khoảng 3 vạn giống gà con cho người chăn nuôi trong toàn tỉnh Nhờ vậy mà mỗi năm gia đình anh thu nhập trên 100 triệu đồng.[12]

* Kinh nghiệm từ mô hình trang trại thứ ba

Mô hình nuôi gà thịt anh Hoàng Huy Tuấn ở thôn 3, thị trấn Cổ Phúc (huyện Trấn Yên)

Đầu năm 2010, anh quyết định đầu tư chuồng trại, phát triển nuôi gà thương phẩm Nhờ chịu khó mày mò học hỏi và áp dụng đúng kỹ thuật chăn nuôi nên mô hình chăn nuôi gà của gia đình anh phát triển rất hiệu quả

Từ buổi đầu chỉ dám chăn nuôi quy mô 150 con/lứa, đến nay, gia đình anh đã mở rộng quy mô lên 5.000 con Năm 2014, bán hết 5.000 con gà thịt, trừ chi phí, gia đình anh cũng lãi trên 300 triệu đồng Không chỉ cung cấp cho thị thường trong tỉnh, sản phẩm chăn nuôi của gia đình anh còn xuất bán đi các chợ đầu mối như: Thổ Tang (Vĩnh Phúc), Hà Vĩ, Thường Tín (Hà Nội)

Trang 37

Bên cạnh đó, anh còn giúp gần 20 bạn đoàn viên thanh niên trên địa bàn thị trấn và các xã lân cận về con giống, kỹ thuật chăn nuôi gà thương phẩm, đồng thời đứng ra giúp các bạn tiêu thụ sản phẩm gà thịt thương phẩm chăn nuôi được.[14]

Trang 38

Phần 3 KẾT QUẢ THỰC TẬP

3.1 Khái quát về cơ sở thực tập

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Sơn Cẩm

3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Phía Nam giáp với Phường Tân Long – Thành Phố Thái Nguyên

- Phía Tây giáp với xã Cổ Lũng - huyện Phú Lương

- Phía Bắc giáp với xã Vô Tranh – huyện Phú lương và xã Minh Lộc - huyện Đồng Hỷ

Xã có 19 xóm; nằm ở vùng Nam của huyện Phú Lương giáp ranh với Phường Tân Long - Thành phố Thái Nguyên, có tuyến quốc lộ 3 chạy qua, đường quốc lộ 3 nối 1B Phú Lương đi Đồng Hỷ và tuyến đường liên xã Sơn Cẩm đi Vô Tranh là nơi tập trung nhiều đầu mối giao thông liên tỉnh, liên huyện, liên xã Là xã được xác định là vùng động lực trung tâm có tiềm năng thế mạnh để phát triển kinh tế.[8]

Xã Sơn Cẩm có địa hình bán sơn địa, đồi núi và đồng xen kẽ, địa hình trong xã có đặc điểm cao dần về phía Tây thấp dần về phía Đông mang đặc

thù của xã trung du miền núi Bắc Bộ

- Phía Tây có địa hình cao và chủ yếu là đồi núi thuận lợi cho phát triển trồng rừng sản xuất

Trang 39

- Phía Đông có địa hình tương đối bằng phẳng tạo nên những cánh đồng rộng, hệ thống kênh mương hàng năm được nạo vét và tu bổ tương đối hoàn chỉnh thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp

- Phía Bắc có địa hình đồi núi xen kẽ những cánh đồng, có sông Cầu chảy qua, hệ thống mương được tu bổ thường xuyên và đang dần được cứng hóa, tạo nen vùng trồng lúa, trông màu, vùng trồng cây lâm nghiệp và chăn nuôi phát triển

- Phía Nam có địa hình đồi núi xen kẽ, có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú tạo điều kiên cho phát triển nghành công nghiệp khai thác khoáng sản

c. Khí hậu, thời tiết

Theo số liệu quan trắc của trạm khí tượng thủy văn Thái Nguyên qua một số năm gần đây cho thấy xã Sơn Cẩm nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa, song chủ yếu là 2 mùa chính: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Chế độ nhiệt:

Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 23,3oC, tất cả các tháng trong năm nhiệt độ bình quân đều trên 15oC, chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm tương đối cao (tháng có nhiệt độ cao nhất so với tháng có nhiệt độ thấp nhất chênh nhau 14o

Trang 40

+ Từ tháng 5 đến tháng 11 là mùa mưa, lượng mưa lớn, chiếm tới 85% tổng lượng mưa cả năm

+ Tháng 7 và tháng 8 có lượng mưa lớn nhất (chiếm gần 40% lượng mưa cả năm) lại trùng với mùa mưa bão nên thường xảy ra lũ lụt, ngập úng

Lượng mưa trung bình đạt 2.020 mm/năm Tuy nhiên lượng mưa phân

bố không đều trong năm

Chế độ thủy văn của xã chịu ảnh hưởng chính của Sông Đu và sông Cầu Sông Cầu chảy qua xung quanh phía Đông xã và Sông Đu chảy ngang qua giữa xã tách xã làm hai phần và nối sông Giang Tiên với sông Cầu Đây

là hai tuyến đường thủy quan trọng để vận chuyển hàng hóa, vật liệu xây dựng, lưu thương với các vùng phụ cận…

Ngoài ra xã còn có hệ thống kênh cấp 1 và một số khe suối, hồ đập nằm rải rác trong xã để cung cấp nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt

Tài nguyên đất

Theo số liệu thồng kê của cán bộ địa chính xã cung cấp

- Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 1684,51 ha Trong đó

- Đất sản xuất nông nghiệp là 813,3 ha

- Đất lâm nghiệp là 236,05 ha

- Đất nuôi trồng thủy sản là 20,86 ha

- Đất phi nông nghiệp là 589,6 ha

- Đất chưa sử dụng 24,7 ha [8]

Tài nguyên nước

Trên địa bàn xã có 2 nguồn nước chủ yếu phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân là nguồn nước mặt và ngồn nước ngầm

Nguồn nước mặt tương đối dồi dào,nguồn nước trong các hệ thống

Ngày đăng: 10/10/2018, 21:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w