1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đặc điểm dịch tễ học và sinh học bệnh sán lá gan lớn trên bò ở đồng bằng sông cửu long và thử hiệu quả của thuốc tẩy trừ (tt)

27 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 882,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2 Mục tiêu của đề tài - Xác định được loài, sự phân bố, đặc điểm sinh học và các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm SLGL trên bò tại các tỉnh ĐBSCL - Đề xuất được biện pháp tẩy trừ bệnh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Chuyên ngành: CHUYÊN NGÀNH BỆNH LÝ HỌC VÀ CHỮA

BỆNH VẬT NUÔI

Mã ngành: 62640102

HÀ HUỲNH HỒNG VŨ

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC VÀ SINH HỌC BỆNH SÁN LÁ GAN LỚN TRÊN BÕ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ THỬ HIỆU QUẢ

CỦA THUỐC TẨY TRỪ

Cần Thơ, 2018

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HỮU HƯNG

Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp trường Họp tại: ………, Trường Đại học Cần Thơ Vào lúc … giờ … ngày … tháng … năm …

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

1 Trung tâm Học liệu, Trường Đại học Cần Thơ

2 Thư viện Quốc gia Việt Nam

Trang 3

III

DANH MỤC LIỆT KÊ CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

1 Hà Huỳnh Hồng Vũ, Nguyễn Hồ Bảo Trân, Nguyễn Hữu Hưng, 2014

Thành phần các loài ốc nước ngọt - ký chủ chủ trung gian của các loài sán

lá ký sinh ở vật nuôi tại hai tỉnh Vinh Long và Đồng Tháp Tạp chí Khoa

học Trường Đại học Cần Thơ, số chuyên đề Nông nghiệp /2014, trang

8-12

2 Hà Huỳnh Hồng Vũ, Nguyễn Hồ Bảo Trân, Nguyễn Hữu Hưng, 2015

Đặc điểm hình thái và phân tử của sán lá gan lớn ký sinh ở bò tại tỉnh Đồng

Tháp Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, số 6/2015, trang 63-69

3 Hà Huỳnh Hồng Vũ, Nguyễn Hồ Bảo Trân, Phạm Đức Phúc, Nguyễn

Hữu Hưng, 2016 Ứng dụng chỉ thị gen phân tử ITS-1 và kỹ thuật

PCR-RFLP để xác định loài sán lá gan lớn (Fasciola sp.) trên bò tại Đồng bằng sông Cửu Long Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, số 2/2016, trang 85-92

4 Hà Huỳnh Hồng Vũ, Nguyễn Hồ Bảo Trân, Nguyễn Hữu Hưng, 2016

Tình trạng nhiễm sán lá gan lớn trên bò tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và thử hiệu quả tẩy trừ Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ /2016, trang 17-22

5 Hà Huỳnh Hồng Vũ, Nguyễn Hồ Bảo Trân, Nguyễn Hữu Hưng, 2018

Khảo sát một số đặc điểm bệnh lí của bệnh sán lá gan lớn trên bò tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, số chuyên đề Nông nghiệp /2018, trang 12-17

Trang 4

Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo Tổ chức y tế Thế giới (WHO) bệnh sán lá gan lớn (SLGL) là một trong những bệnh quan trọng được phát hiện ngày càng nhiều ở người và động vật, có hơn 2,4 triệu người tại hơn 70 quốc gia bị ảnh hưởng bởi bệnh

do SLGL (WHO, 2015; Amer, 1016) Tại Việt Nam, bệnh SLGL ở người

có xu hướng tăng dần, từ năm 2006 đến năm 2010 có số ca mắc bệnh là 15.764 và số ca đã tăng lên trên 20.000 người năm 2011 Bệnh phân bố ở

52 tỉnh thành từ Bắc đến Nam và loài gây bệnh được xác định chủ yếu là

Fasciola gigantica (Nguyễn Văn Đề và ctv.2012) Trong những năm qua

các nghiên cứu về bệnh SLGL đã cho biết bệnh này nằm trong danh sách bệnh truyền lây giữa vật nuôi và người

Các bệnh do sán lá gan gây ra cần phải thông qua vật chủ trung gian là các loài ốc nước ngọt.Với đặc điểm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là trồng lúa và rau màu nên rất thích hợp cho ốc nước ngọt và thực vật thủy sinh phát triển ĐBSCL là khu vực ưu thế phát triển chăn nuôi

bò nhờ tận dụng thức ăn thô xanh từ nguồn phụ phẩm – phế phẩm nông nghiệp và công nghiệp chế biến Tuy nhiên, phần lớn chăn nuôi tập trung ở các nông hộ với quy mô nhỏ, thức ăn tận dụng là chính, trình độ người chăn nuôi còn thấp, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi còn hạn chế, hình thức chăn nuôi chủ yếu là bán chăn thả nên khả năng bò nhiễm giun sán rất cao

Để hạn chế thiệt hại do sán lá gan gây ra thì việc nghiên cứu bệnh sán lá gan và kiểm soát bệnh là rất cần thiết Tuy nhiên, cho tới nay hầu như chưa

có một công trình nghiên cứu nào có tính tổng hợp để xác định thành phần loài, đặc điểm sinh học và sự phân bố của sán lá gan ở khu vực ĐBSCL

Do đó nghiên cứu đề tài: “MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC VÀ SINH HỌC BỆNH SÁN LÁ GAN LỚN TRÊN BÒ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ THỬ HIỆU QUẢ CỦA THUỐC TẨY TRỪ” là rất cần thiết

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định được loài, sự phân bố, đặc điểm sinh học và các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm SLGL trên bò tại các tỉnh ĐBSCL

- Đề xuất được biện pháp tẩy trừ bệnh SLGL trên bò tại các tỉnh ĐBSCL

1.3 Ý nghĩa khoa học

- Là công trình nghiên cứu có hệ thống về sán lá gan lớn Fasciola gigantica

trên bò: xác định tình hình nhiễm bệnh và các yếu tố liên quan đến sự phân

bố của mầm bệnh Định loài bằng hình thái học và sinh học phân tử sử dụng kỹ thuật PCR-RFLP và giải trình tự gen ITS1

Trang 5

- Là công trình đầu tiên ở ĐBSCL nghiên cứu vòng đời SLGL trên bò, xác định thành phần ký chủ trung gian, nghiên cứu bệnh lý lâm sàng ở bò, điều trị thử nghiệm và đề ra biện pháp tẩy trừ

- Cung cấp thêm tư liệu khoa học về loài Fasciola sp ký sinh trên bò ở

(ĐBSCL), đồng thời bổ sung cho giáo trình ký sinh trùng thú y để phục vụ công tác giảng dạy

1.4 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người dân ở vùng (ĐBSCL)

áp dụng biện pháp phòng trị bệnh SLGL một cách hữu hiệu, nhằm giảm thiểu những tác động có hại, góp phần phát triển chăn nuôi bò theo hướng bền vững

1.5 Những đóng góp mới của luận án

- Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên xác định được loài Fasciola gigantica lưu hành trên bò nuôi tại ĐBSCL bằng kỹ thuật sinh học phân tử

- Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu thành công vòng đời của SLGL

(Fasciola gigantica) trên bò tại ĐBSCL

- Mô tả triệu chứng lâm sang, bệnh tích đại thể và vi thể bệnh sán lá gan

lớn do loài Fasciola gigantica gây ra, tạo cơ sở khoa học cho công tác chẩn

đoán phát hiện bệnh nhanh để kịp thời điều trị

Chương III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung nghiên cứu

3.1.1 Xác định tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn trên bò tại các tỉnh ĐBSCL

- Xác định tỷ lệ nhiễm SLGL ký sinh trên bò tại các tỉnh ĐBSCL qua phương pháp kiểm tra phân và phương pháp mổ khám

3.1.2 Xác định loài sán lá gan lớn trên bò tại các tỉnh ĐBSCL

- Xác định loài sán lá gan lớn qua định danh phân loại bằng hình thái học, bằng kỹ thuật sinh học phân tử và giải trình tự gen

3.1.3 Nghiên cứu vòng đời của sán lá gan lớn

- Theo dõi quá trình phát triển của trứng SLGL bên ngoài cơ thể ký chủ

- Theo dõi quá trình phát triển của SLGL trong ký chủ trung gian (ốc

Lymnaea swinhoei và Lymnaea viridis) đến giai đoạn ấu trùng cảm nhiễm cercaria)

- Xác định vòng đời của SLGL trong vật chủ cuối cùng qua gây nhiễm ấu trùng gây bệnh cho bò

3.1.4 Nghiên cứu bệnh lý lâm sàng ở bò nhiễm sán lá gan lớn

- Xác định triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể và trên bò nhiễm SLGL

và khảo sát những biến đổi vi thể trên gan bò nhiễm SLGL

3.1.5 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh sán lá gan lớn trên bò

Trang 6

- Thử hiệu lực của thuốc tẩy trừ SLGL bằng albendazole, triclabendazole

và mebendazole; đề xuất biện pháp phòng bệnh sán lá gan cho trâu bò

3.2 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu: Bò nuôi tại 6 tỉnh: Đồng Tháp, An Giang,

Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre và Sóc Trăng; sán lá gan Fasciola sp.; ốc Lymnaea spp

3.2.2 Thời gian tiến hành: Tiến hành từ tháng 11/2013 đến 06/2017 3.2.3 Địa điểm tiến hành

- Các hộ chăn nuôi bò tại 6 tỉnh ĐBSCL, lò giết mổ tập trung tại các tỉnh khảo sát, phòng thí nghiệm Ký sinh trùng và phòng thí nghiệm Mô học thuộc Bộ môn Thú Y - Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng - Trường Đại học Cần Thơ, Bộ môn Thú y Lâm sàng – Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh, phòng thí nghiệm Giải phẩu bệnh học – Trường Đại học Y dược Cần Thơ

3.3 Dụng cụ và hoá chất: Một số dụng cụ, hóa chất cần thiết để nghiên

cứu ký sinh trùng và sinh học phân tử

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Xác định tình hình nhiễm SLGL trên bò tại ĐBSCL

- Đối tượng thí nghiệm: Bò địa phương, bò lai Sind, bò sữa Mỗi giống bò

theo dõi ở các lứa tuổi: < 1 năm tuổi, 1 - 2 năm tuổi và > 2 năm tuổi.Bò giết

mổ gia súc tập trung có nguồn gốc tại các tỉnh khảo sát

- Phương pháp kiểm tra phân: áp dụng phương pháp gạn rửa sa lắng của

Benedek (1943)

- Phương pháp mổ khám: Phương pháp mổ khám Skrjabine (1937)

- Chỉ tiêu theo dõi

Tỷ lệ nhiễm trứng sán lá gan chung trên bò; tỷ lệ nhiễm sán lá gan theo giống, theo lứa tuổi bò, theo phương thức nuôi, theo mùa, theo vùng sinh thái và theo địa bàn; cường độ nhiễm và số loài/cá thể

- Phân tích thống kê:Dùng trắc nghiệm Chi-Square trong chương trình

Minitab version 16 để so sánh tỷ lệ nhiễm

3.4.2 Phương pháp định danh phân loài

3.4.2.1 Phương pháp định danh phân loại sán lá gan bằng hình thái học

Định danh phân loài sán lá gan được dựa vào tài liệu theo David and Erasmus (1972), Soulsby (1980), Nguyễn Thị Lê (2000)

3.4.2.2 Phương pháp định danh sán lá gan lớn bằng kỹ thuật sinh học phân tử (PCR-RFLP) và giải trình tự gen

Thu và trữ mẫu ly trích DNA

Chọn ngẫu nhiên 180 mẫu SLGL được thu thập từ gan và ống dẫn mật ở bò tại lò giết mổ đại diện cho 6 tỉnh ĐBSCL Mẫu được trữ trong dung dịch nước muối sinh lý và đem ngay về phòng thí nghiệm để ly trích DNA

Trang 7

Tách chiết DNA từ mẫu sán lá gan lớn

Kiểm tra nồng độ DNA

Nhiệt

độ -Tm ( o C)

Tham khảo

ITS1

F/ITS1-

ITS1-R

ITS1-F: TTG CGC TGA TTA CGT CCC

TG ITS1-R: TTG GCT GCG CTC TTC ATC

56 Itagaki T (2005)

Thực hiện phản ứng PCR-RFLP

Sản phẩm phản ứng PCR được ủ với enzyme cắt giới hạn RsaI (5 IU) ủ qua

đêm ở nhiệt độ 37oC sản phẩm thu được được điện di trên agarose 1.5% có

bổ sung Ethidium bromide ở điện thế 80 volt trong 30 phút Sản phẩm điện

di được ghi lại bằng máy chụp hình gel

Bảng 3.2 Dự đoán kiểu cắt hạn chế (restriction patterns) của các enzyme

cắt giới hạn Enzyme RsaI ở vùng ITS1 của sán lá gan lớn

Tên loài Enzyme

sử dụng

Nhiệt độ, thời gian

ủ mồi Vị trí cắt

Dự đoán chiều dài đoạn cắt (bp)

Tài liệu tham khảo

Fasciola

hepatica

0C, ủ qua đêm

5’ GT↓AC 3' 3' CA↑TG 5'

367, 104 (68, 59,

28) Giải trình tự chuỗi nucleotide khuếch đại chứa đa hình

Chọn 12 mẫu SLGL đại diện cho 6 tỉnh thuộc vùng ĐBSCL cụ thể là mỗi tinh chọn 2 mẫu, các sản phẩm PCR của các mẫu này được tinh sạch tách dòng Mẫu được gửi lên công ty Marcogen (Hàn Quốc) để giải trình tự (sử dụng phương pháp giải trình tự trực tiếp của Sanger)

* Chỉ tiêu theo dõi

- Kết quả xác định loài SLGL bằng kỹ thuật PCR-RFLP và phương pháp xác định hình thái

- Kết quả so sánh trình tự nucleotide đoạn gen ITS1 của SLGL giữa các địa phương với nhau và với ngân hàng gen thế giới

Trang 8

* Phân tích và xử lý số liệu :Trình tự đoạn gen ITS-1 của 12 mẫu SLGL

được sử dụng truy cập Ngân hàng gen dùng chương trình BLASTN trên NCBI để so sánh với trình tự trong Genbank; Clustal Omega để so sánh sự khác biệt giữa các trình tự, và so sánh mức tương đồng bằng phương pháp Pairwise alignment/Calculate identity/Similarity for sequences (Bioedit)

3.4.3 Nghiên cứu vòng đời của Fasciola sp

3.4.3.1 Phương pháp định danh phân loại ốc nước ngọt

Dựa vào hệ thống phân loại ốc nước ngọt của John (1982), Đặng Ngọc

Thanh và ctv (1980) Dựa trên cơ sở định danh phân loại ta chọn những ốc Lymnaea để nuôi trong phòng thí nghiệm cho sinh sản ra thế hệ ốc sạch để gây nhiễm ấu trùng SLGL cho ốc Lymnaea sp

3.4.3.2 Theo dõi quá trình phát triển của trứng sán lá gan Fasciola sp

ở ngoài môi trường trong điều kiện thí nghiệm

a Đối tượng nghiên cứu

Trứng SLGL, ốc Lymnaea swinhoei và Lymnaea viridis là ”ốc sạch”

b Bố trí thí nghiệm

Bảng 3.3 Bố trí thí nghiệm quá trình phát triển của trứng SLG lớn

Nghiệm thức 1: Trứng SLGL cho vào đĩa petri với mực nước 0,5cm, không chiếu sáng, pH từ 6-8, nhiệt độ từ 26 - 29 0 C.Nghiệm thức 2: Trứng SLGL cho vào đĩa petri với mực nước 0,5cm, có chiếu sáng 4 giờ/ngày, pH từ 6-8, nhiệt độ từ 26 -

29 0 C.Nghiệm thức 3: Trứng SLGL cho vào đĩa petri không chứa nước

c Chỉ tiêu theo dõi

- Thời gian trứng bắt đầu nở thành miracidium thoát ra khỏi trứng

- Thời gian trứng bắt đầu nở thành miracidium cho đến khi 50% số trứng đã hình thành miracidium thoát ra khỏi trứng

3.4.3.3 Theo dõi thời gian sống của miracidium trong nước

a Đối tượng nghiên cứu

Các miracidium mới thoát nắp vỏ trứng thu nhận từ các nghiệm thức trên

(Thí nghiệm quá trình phát triển của trứng SLG) để bố trí thí nghiệm xác

định thời gian sống của chúng trong nước

b Bố trí thí nghiệm

Sau khi gây nhiễm, ốc được mổ khảo sát ở các thời điểm như sau: 6 ngày,

10 ngày, 14 ngày, 18 ngày, 22 ngày, 26 ngày, 30 ngày, 34 ngày, 38 ngày và

42 ngày cho đến khi phát hiện cercaria bơi lội trong nước và thành Adolescaria; mỗi đợt mổ 10 con ốc Lymnaea swinhoei và 10 con ốc

Nghiệm thức Số trứng/đĩa Số đĩa / nghiệm thức

Trang 9

Lymnaea viridis để xác định thời gian các giai đoạn phát triển của ấu trùng (sporocyst, redia và cercaria) trong 2 loài ốc Lymnaea

Bảng 3.4 Bố trí thí nghiệm thời gian sống của miracidium trong nước

3.4.3.4 Theo dõi quá trình phát triển của ấu trùng sán lá gan trong ký

chủ trung gian ốc Lymnaea spp

960 ấu trùng miracidium, 240 ốc Lymnaea swinhoei và 240 Lymnaea viridis là ”ốc sạch” được sử dụng trong thí nghiệm, miracidium được lấy từ

thí nghiệm trên

Bảng 3.5 Bố trí gây nhiễm ấu trùng sán lá gan cho ốc Lymnaea

3.4.3.5 Gây nhiễm ấu trùng sán lá gan lớn cho bò

a Đối tượng nghiên cứu

Bố trí 8 con bò có độ tuổi từ 7 tháng đến 12 tháng tuổi được mua từ các nông dân địa phương trong tỉnh khảo sát, khi mua về được tẩy sạch giun sán bằng thuốc albendazole và được kiểm tra phân là không có nhiễm SLGL và các loài giun sán khác

b Bố trí thí nghiệm gây nhiễm cercaria cho bò thí nghiệm

Sáu con bò được gây cảm nhiễm bằng đường miệng với 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức tiến hành 2 bò với liều gây nhiễm cho mỗi nghiệm thức

lần lượt là 100, 150, 200 cercaria di động của SLGL cho mỗi bò bằng một

ống bơm tiêm qua đường miệng.Nghiệm thức đối chứng không gây nhiễm

Theo dõi sự xuất hiện trứng sán lá gan lớn trong phân bò gây nhiễm: Bắt

đầu kiểm tra phân sau 11 tuần gây nhiễm ấu trùng SLGL cho bò và sau đó

kiểm tra phân hàng ngày cho đến khi phát hiện trứng Fasciola sp trong

phân bằng phương pháp gạn rửa sa lắng

- Mổ khám bò gây nhiễm: khi phát hiện trứng SLGL trong phân bò

Lô thí nghiệm Số miracidium /đĩa Số đĩa / nghiệm thức

Trang 10

- Chỉ tiêu theo dõi

+ Xác định thời điểm xuất hiện trứng SLGL trong phân trên bò thí nghiệm + Số lượng SLGL thu được trên mỗi bò thí nghiệm và xác định loài SLGL bằng phương pháp truyền thống và sinh học phân tử

3.4.4 Nghiên cứu triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể và những biến đổi vi thể trên bò nhiễm sán lá gan lớn

3.4.4.1 Nghiên cứu triệu chứng của bò nhiễm SLGL

Quan sát về thể trạng và biểu hiện lâm sàng của 60 con bò nhiễm SLGL trong tự nhiên và 6 con bò trong gây nhiễm thực nghiệm

3.4.4.2 Nghiên cứu bệnh tích đại thể và mô bệnh học gan nhiễm sán lá gan lớn

- Đối tượng: Gan bò nhiễm SLGL trong gây nhiễm thực nghiệm và 45 gan

bò nhiễm SLGL trong tự nhiên thu thập từ các cơ sở giết mổ tại các tỉnh ĐBSCL

3.4.5 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ sán lá gan lớn bò

105 bò lai Sind nhiễm SLGL được phát hiện trong phương pháp kiểm tra

phân có cường độ nhiễm từ 2+ đến 3+ được bố trí thử nghiệm với các thuôc albendazole, triclabendazole, mebendazole với 2 nghiệm thức (mỗi nghiệm thức15 con) và 5 bò được chọn ngẫu nhiên để làm đối chứng

Nghiệm thức 1: dùng liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.Nghiệm thức 2: dùng liều lượng cao hơn liều hướng dẫn của nhà sản xuất Nghiệm

thức đối chứng: không dùng thuốc

Bảng 3.7 Bố trí thử nghiệm albendazole, triclabendazole và mebendazole tẩy trừ sán lá gan bò

Nghiệm thức

Liều dùng (mg/kg thể trọng)

Số bò thử nghiệm

Đường cấp thuốc

1

albendazole: 10mg/KgP 15 Uống triclabendazole:

20mg/KgP

mebendazole:15mg/KgP 15 Uống

c Chỉ tiêu theo dõi

- Hiệu lực tẩy trừ của thuốc sau 5, 10, 15 ngày điều trị, liều lượng thuốc tẩy trừ hiệu quả và theo dõi phản ứng phụ của thuốc trên bò điều trị

Trang 11

CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Kết quả tình hình nhiễm sán lá gan trên bò tại ĐBSCL

4.1.1 Kết quả kiểm tra phân

Bảng 4.1 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan trên bò tại ĐBSCL

bò nuôi ở tỉnh Vĩnh Long có tỷ lệ nhiễm (24,57%) Bò nuôi có tỷ lệ nhiễm SLGL thấp thuộc các tỉnh như tỉnh Bến Tre có tỷ lệ nhiễm (15,97%), kế đến là bò nuôi ở tỉnh Trà Vinh (15,78%) và nhiễm thấp nhất là ở tỉnh Sóc Trăng (14,33%) Cường độ nhiễm chủ yếu tập trung ở mức độ thấp (+) 75,80%, cường độ ++ chiếm tỷ lệ 17,62%, cường độ +++ chiếm tỷ lệ 8,68% Tỷ lệ nhiễm SLGL của bò nuôi ở các tinh như An Giang, Đồng Tháp và Vĩnh Long cao hơn ở các tinh Trà Vinh, Bến Tre và Sóc Trăng sự sai khác này rất có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Kết quả trên được giải thích như sau: tỉnh An Giang và Đồng Tháp nằm ở thựợng nguồn sông Tiền và sông Hậu, tỉnh Vĩnh Long nằm cặp theo sông Tiền và sông Hậu, lượng nước lên xuống theo thủy triều, 3 tỉnh này đều có hệ thống kênh rạch chằng chịch là nơi thích hợp cho các loài ốc ký chủ trung gian của các loài sán lá trong đó có sán lá gan ký sinh ở bò có thể phát triển quanh năm Vì vậy tỷ

lệ nhiễm và cường độ nhiễm của bò nuôi ở 3 tinh này cao hơn bò nuôi ở tỉnhTrà Vinh, Bến Tre và Sóc Trăng, do 3 tỉnh này có vị trí nằm tiếp giáp biển hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển, có nhiều vùng sinh thái nước mặn và nước lợ, vào mùa khô nước biển xâm lấn vào đất liền làm nhiều vùng bị ngập mặn và ngập lợ đó là nơi không thuận lợi cho các loài

Trang 12

ốc nước ngọt ký chủ trung gian của các loài sán lá gan phát triển Kết quả này một lần nữa cho thấy điều kiện địa lý, khí hậu và vùng sinh thái là điều kiện để cho mầm bệnh là các vật chủ trung gian có điều kiện tiếp cận và cảm nhiễm gây bệnh cho bò.Kết quả này phù hợp với nhận xét của Phạm

Văn Khuê và Phan Lục (1996); Phan Địch Lân và ctv (2002); Nguyễn Thị Kim Lan và ctv (2008)

Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn theo giống bò tại các tỉnh ĐBSCL

Chú thích: các giá trị trên cùng 1 hàng có các chữ cái khác nhau thì khác nhau có

ý nghĩa thống kê P< 0,05; SMKT: AG: An Giang; ĐT:Đồng Tháp; VL:Vĩnh Long; BT: Bến Tre; TV: Trà Vinh; ST: Sóc Trăng

Bảng 4.2 cho thấy tỷ lệ nhiễm SLGL ở bò địa phương (21,55%) cao hơn bò lai Sind (20,86%) và tỷ lệ nhiễm thấp nhất ở bò sữa (9,15%) Qua phân tích thống kê cho thấy: tỷ lệ nhiễm giữa bò sữa với bò lai Sind cũng như bò địa phương có sự sai khác có ý nghĩa thống kê Trong khi đó bò lai Sind và bò địa phương không có sự sai khác Tỷ lệ nhiễm SLGL theo giống bò giữa các tỉnh cũng cho kết quả tương tự như trên

Bảng 4.3 cho thấy tỷ lệ nhiễm SLGL ở bò tại các điểm tăng dần theo lứa tuổi, thấp nhất là bò <1 năm (8,24%); kế đến là bò 1-2 năm (19,06%); và cao nhất là bò >2 năm (31,38%) Qua phân tích thống kê cho thấy có sự sai khác rất có ý nghĩa giữa các lứa tuổi bò trong từng tỉnh khảo sát Bò >2 năm tuổi có tỷ lệ nhiễm SLGL cao hơn các lứa tuổi khác là do tiếp xúc với môi trường lâu dài và do tuổi càng cao thì sức đề kháng càng giảm nên khả năng cảm nhiễm càng cao, đôi khi tái nhiễm nhiều lần Còn bò <1 năm tuổi phần lớn là bú sữa mẹ nên tiếp xúc với môi trường sống có ấu trùng sán lá gan so với bò 1-2 năm và >2 năm tuổi thì thấp hơn Kết quả trên hoàn toàn phù hợp với kết quả của Đỗ Dương Thái (1978), Hồ Thị Thuận (1986),

Phan Địch Lân (2000), Lê Hữu Khương và ctv (2001), Nguyễn Đức Tân

Trang 13

và ctv (2010), Nguyễn Khắc Lực và ctv (2010), Võ Thị Hải Lê và ctv (2010), Nguyễn Hữu Hưng (2011), Nguyễn Thu Hương và ctv (2012), Nguyen Thi Sam et al (2012), các tác giả trên cho rằng tỷ lệ nhiễm sán lá

gan phụ thuộc vào nhóm tuổi

Bảng 4.3 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn theo lứa tuổi bò tại các tỉnh ĐBSCL

Ngày đăng: 10/10/2018, 12:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm