TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TỚI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TỪ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO Ở VIỆT NAM Chuyên ngành: Quản lý
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TỚI
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TỪ NGÀNH CÔNG NGHIỆP
CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế (Phân bố lực lượng sản xuất và phân vùng kinh tế)
Mã số: 62340410
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS NGUYỄN THẾ CHINH
2 PGS.TS ĐINH ĐỨC TRƯỜNG
HÀ NỘI - 2018
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 3Tác giả luận án xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thế Chinh
& PGS.TS Đinh Đức Trường đã tận tâm hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận án
Tác giả luận án xin trân trọng cảm ơn, chuyên gia TS Phạm Thái Hưng đã có những phân tích sâu sắc, chia sẻ và góp ý quý báu cho tác giả hoàn thành luận án
Cuối cùng, tác giả luận án xin được gửi lời tri ân đến gia đình, người thân và bạn bè đã đồng hành, động viên, giúp đỡ và khích lệ tác giả trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận án
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TỚI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TỪ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 6
1.1.1 Các nghiên cứu về tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bằng phương pháp định tính 6
1.1.2 Các nghiên cứu về tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bằng phương pháp định lượng 9
1.1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu của luận án 14
1.2 Cơ sở lý luận về tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 16
1.2.1 Một số vấn đề lý luận về tự do hóa thương mại 16
1.2.2 Một số vấn đề lý luận về ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 23
1.2.3 Tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 26
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Khung phân tích và giả thuyết nghiên cứu 37
2.2 Phương pháp nghiên cứu 39
2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả 39
2.2.2 Phươg pháp nghiên cứu định lượng 39
2.2.3 Phương pháp phỏng vấn chuyên gia 51
Trang 5CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TỚI
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TỪ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ
TẠO Ở VIỆT NAM 52
3.1 Thực trạng tự do hóa thương mại ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam 52
3.1.1 Quá trình cải cách thương mại của Việt Nam 52
3.1.2 Những yêu cầu về môi trường của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong thương mại quốc tế và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 53
3.1.3 Tình hình tự do hóa thương mại ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam 55
3.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam 63
3.2.1 Thực trạng các chính sách môi trường tác động tới ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên thế giới và ở Việt Nam 63
3.2.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam 63
3.3 Đánh giá tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam 76
3.3.1 Mô tả thống kê và tương quan biến 76
3.3.2 Kết quả ước lượng và phân tích ảnh hưởng của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cấp độ doanh nghiệp ở Việt Nam 80
3.3.3 Kết quả ước lượng và phân tích về ảnh hưởng của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cấp độ ngành ở Việt Nam 106
3.4 Đánh giá kết quả nghiên cứu 121
3.4.1 Kết quả 121
3.4.2 Hạn chế 123
3.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 124
CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TỪ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, HẾ TẠO TRONG BỐI CẢNH TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 125
4.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế liên quan đến thương mại và môi trường 125
4.1.1 Bối cảnh quốc tế liên quan đến thương mại và môi trường 125
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 64.1.2 Bối cảnh trong nước liên quan đến thương mại và môi trường 130
4.2 Một số quan điểm phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam 132
4.2.1 Quan điểm phát triển bền vững 132
4.2.2 Lựa chọn mô hình phát triển bền vững 132
4.2.3 Đảm bảo sự tiến bộ xã hội 133
4.2.4 Gắn tăng trưởng với chống ô nhiễm môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu 134
4.3 Kiến nghị và gợi ý chính sách 134
4.4 Hạn chế và hướng nghiên cứu mới của đề tài 140
KẾT LUẬN 141
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 143
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
PHỤ LỤC 154
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Diễn giải
AFTA Khu vực Thương mại Tự do ASEAN
Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam Hoa Kỳ
Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung
Mô hình cân bằng tổng thể
Cổ phần hóa DEA
Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu
Đường cong Kuznets về môi trường
EU Liên minh châu Âu
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FE
FTA
GATT
Mô hình hiệu ứng cố định
Hiệp định thương mại tự do
Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GES Điều tra Doanh nghiệp
Dự án phân tích thương mại toàn cầu
Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 8Chữ viết tắt Diễn giải
Hệ thống ước tính ô nhiễm công nghiệp
Hệ thống phân loại công nghiệp quốc tế Khu công nghiệp
Dự án hỗ trợ Chính sách Thương mại đa biên
Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ NCS
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OLS Bình phương nhỏ nhất bình thường
POLS Mô hình hỗn hợp
QCMT Quy chuẩn môi trường
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
RE Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên
TBT
TDHTM
UNEP
USEPA
Hiệp định về Hàng rào Kỹ thuật trong Thương mại
Tự do hóa thương mại Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc
Cơ quan bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ
VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
WEF Diễn đàn kinh tế thế giới
WTO Tổ chức thương mại Thế giới
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Ký hiệu, giải thích và kỳ vọng chiều tác động của các biến số 48Bảng 2.2 Bảng tóm tắt phương pháp phỏng vấn 51Bảng 3.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt
Nam giai đoạn 2006-2014 58Bảng 3.2 Thực trạng thuế suất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo từ 2006 -
2015 ở Việt Nam 62Bảng 3.3 Mô tả thống kê các biến trong mô hình 76Bảng 3.4 Tỷ trọng tải lượng chất thải của các DN và ngành trong ngành chế biến, chế
tạo từ năm 2006 đến 2014 78Bảng 3.5 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 79Bảng 3.6 Kết quả ước lượng ảnh hưởng của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm chất
độc ở cấp độ doanh nghiệp 82Bảng 3.7 Kết quả ước lượng ảnh hưởng của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm chất
độc ở cấp độ doanh nghiệp so sánh giữa quy mô, loại hình DN 84Bảng 3.8 Kết quả ước lượng ảnh hưởng của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm kim
loại ở cấp độ doanh nghiệp 88Bảng 3.9 Kết quả ước lượng ảnh hưởng của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm kim
loại ở cấp độ doanh nghiệp so sánh giữa quy mô, loại hình DN 90Bảng 3.10 Kết quả ước lượng ảnh hưởng của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm nước
ở cấp độ doanh nghiệp 94Bảng 3.11 Kết quả ước lượng ảnh hưởng của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm nước
ở cấp độ doanh nghiệp so sánh giữa quy mô, loại hình DN 97Bảng 3.12 Kết quả ước lượng ảnh hưởng của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm không
khí ở cấp độ doanh nghiệp 101Bảng 3.13 Kết quả ước lượng ảnh hưởng của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm
không khí ở cấp độ doanh nghiệp so sánh giữa quy mô, loại hình DN 103Bảng 3.14 Kết quả ước lượng tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm chất độc
cấp độ ngành 109Bảng 3.15 Kết quả ước lượng tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm chất độc
cấp độ ngành so sánh giữa ngành sạch và ngành bẩn 110
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 10Bảng 3.16 Kết quả ước lượng tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm kim
loại cấp độ ngành 112Bảng 3.17 Kết quả ước lượng tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm kim loại
cấp độ ngành so sánh giữa ngành sạch và ngành bẩn 113Bảng 3.18 Kết quả ước lượng tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm nước
cấp độ ngành 116Bảng 3.19 Kết quả ước lượng tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm nước
cấp độ ngành so sánh giữa ngành sạch và ngành bẩn 117Bảng 3.20 Kết quả ước lượng tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm không
khí cấp độ ngành 119Bảng 3.21 Kết quả ước lượng tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm không
khí cấp độ ngành so sánh giữa ngành sạch và ngành bẩn 120
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1 Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP và
tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 2000-2015 56Hình 3.2 Tỷ trọng xuất - nhập khẩu hàng hóa của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Việt Nam giai đoạn 2000- 2014 57Hình 3.3 Giá trị xuất khẩu hàng hoá phân theo khối nước, theo nước và vùng lãnh thổ
giai đoạn 2000- 2014 58Hình 3.4 Giá trị xuất khẩu và bình quân giá trị xuất khẩu của các loại hình doanh
nghiệp từ năm 2006-2014 59Hình 3.5 Giá trị nhập khẩu và bình quân giá trị nhập khẩu của các loại hình doanh
nghiệp từ năm 2006-2014 60Hình 3.6 Giá trị xuất khẩu và bình quân giá trị xuất khẩu của quy mô Doanh nghiệp
từ năm 2006-2014 61Hình 3.7 Kim ngạch nhập khẩu và trung bình kim ngạch nhập khẩu của các quy mô
doanh nghiệp từ năm 2006-2014 61Hình 3.8 Tải lượng ô nhiễm chất độc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam
từ năm 2006-2014 64Hình 3.9 Tải lượng ô nhiễm chất độc và bình quân tải lượng ô nhiễm chất độc theo
loại hình DN từ năm 2006-2014 65Hình 3.10 Tải lượng ô nhiễm chất độc và bình quân tải lượng ô nhiễm chất độc theo
quy mô DN từ năm 2006-2014 66Hình 3.11 Tải lượng ô nhiễm kim loại và bình quân tải lượng ô nhiễm kim loại trong
ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam từ 2006 -2014 67Hình 3.12 Tải lượng ô nhiễm kim loại và bình quân tải lượng ô nhiễm kim loại theo
loại hình DN từ năm 2006-2014 68Hình 3.13 Tải lượng ô nhiễm kim loại và bình quân tải lượng ô nhiễm kim loại theo
quy mô DN từ năm 2006-2014 69Hình 3.14 Tải lượng ô nhiễm nước và bình quân tải lượng ô nhiễm nước trong ngành
công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam từ 2006 -2014 70Hình 3.15 Tải lượng ô nhiễm nước và bình quân tải lượng ô nhiễm nước theo loại
hình DN từ năm 2006 -2014 71Hình 3.16 Tải lượng ô nhiễm nước và bình quân tải lượng ô nhiễm nước theo quy mô
DN từ năm 2006-2014 72Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 12Hình 3.17 Tải lượng ô nhiễm không khí và bình quân tải lượng ô nhiễm không khí
trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam từ 2006-2014 73Hình 3.18 Tải lượng ô nhiễm không khí và bình quân tải lượng ô nhiễm không khí
theo loại hình DN từ năm 2006- 2014 74Hình 3.19 Tải lượng ô nhiễm không khí và bình quân tải lượng ô nhiễm không khí
theo quy mô DN từ 2006-2014 75
`
Trang 13LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của nghiên cứu
Lý thuyết và thực tiễn đã chứng minh rằng, tự do hóa thương mại có những tác động trực tiếp và gián tiếp tới ô nhiễm môi trường của một ngành và một quốc gia Nghiên cứu thực nghiệm ở nhiều nước trên thế giới như Hettige và cộng sự (1996), Edward (1993), Mani và Wheeler (1999), Dean (2002), Ederington (2004), Mani và Jha (2005), Guminlang (2011) đã cho thấy, không phải mọi tác động là như nhau mà
có sự khác nhau xuất phát từ đặc thù riêng của từng ngành và từng quốc gia Nhưng tổng hợp lại thì tác động tiềm tàng của tự do hóa thương mại đến môi trường gồm: (i) tự
do hóa thương mại tác động tới các quy định môi trường; (ii) tự do hóa thương mại tác động tới môi trường thông qua sự chuyên môn hóa, chuyển dịch cơ cấu trong ngành; (iii) tự do hóa thương mại tác động tới môi trường thông qua kênh đầu tư, chuyển giao công nghệ; (iv) tự do hóa thương mại tác động tới môi trường bằng hiệu ứng trực tiếp
Do vậy, cần có những công trình nghiên cứu tiếp theo ở mức độ chi tiết hơn những kênh nào cũng như những yếu tố nào diễn ra tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường và mức độ tác động của nó đến các ngành và các doanh nghiệp
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới - WTO (World Trade Organization) từ năm 2007 Cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hầu hết các nước trên thế giới Tự do hóa thương mại trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, có tác động trực tiếp và nhanh nhất đến thương mại quốc tế và đầu tư, từ đó lan tỏa đến sản xuất trong nước, tạo việc làm và giảm nghèo Ngoài ra, tự
do hóa thương mại còn có những tác động vô hình khác như làm gia tăng nhận thức của xã hội về nhu cầu hội nhập, đổi mới mạnh mẽ thể chế nhà nước, hệ thống văn bản pháp luật ngày càng đồng bộ Tuy nhiên, Việt Nam không thể né tránh những vấn đề thương mại và suy thoái môi trường trong hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và trong WTO nói riêng Vấn đề thương mại và môi trường trong các Hiệp định của WTO; hiệp định thương mại song phương, đa phương được thể hiện dưới dạng tiêu chuẩn về quy trình sản xuất và chế biến, các quy định về nhãn mác, các hệ thống phí, lệ phí liên quan đến môi trường đối với các sản phẩm xuất nhập khẩu (MUTRAP, 2015)
Công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành có ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng toàn nền kinh tế của Việt Nam vì đây là ngành lớn, đóng góp hơn 70% tỷ trọng giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa, đóng góp khoảng 18% vào GDP của cả nước Khu vực sản xuất công nghiệp từ giai đoạn năm 2007-2011 chịu ảnh hưởng lớn của sự tăng giá đầu vào, lạm phát, suy thoái kinh tế thế giới, khủng hoảng nợ công… khiến mức tăng trưởng
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 14chậm lại và hiệu quả thấp Giai đoạn 2011-2015, sản xuất công nghiệp từng bước phục hồi; chỉ số phát triển công nghiệp 2015 tăng khoảng 10%; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong cơ cấu công nghiệp tăng mạnh Cơ cấu trong nội bộ ngành công nghiệp đã dần chuyển dịch theo hướng tích cực Công nghiệp khai khoáng giảm từ 37,1% năm 2011 xuống khoảng 33,1% năm 2015; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng
từ 50,1% năm 2011 lên 51,5% năm 2015 Sau 10 năm gia nhập WTO, độ mở nền kinh
tế Việt Nam đã tăng từ 144% năm 2007 lên 173% năm 2016 (Bộ Công Thương, 2017)
Như vậy, tự do thương mại đã thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong những năm qua Nhưng sự phát triển đó có tác động đến chất lượng môi trường hay không? Đã có những nghiên cứu thực địa chứng minh rằng, có mối quan hệ giữa tự do hóa thương mại và ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (Hettige và cộng sự, 1996) hay (Dean, 2002; Edwards, 1993; Ederington và cộng sự, 2004; Nguyen Duy Loi, 2010) Ở Việt Nam, các nhà kinh tế cũng đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tự do hóa thương mại với ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và cho rằng đó là mối quan hệ thuận chiều (Mani
và Jha.S, 2005) (Pham Thai Hung và cộng sự, 2008) Tuy nhiên, nghiên cứu này thực hiện khi Việt Nam mới bắt đầu gia nhập WTO, vì vậy chưa có nhiều thời gian để kiểm định Ngân hàng thế giới cũng đã nghiên cứu mối quan hệ giữa thương mại và ô nhiễm môi trường trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam (WB, 2007), nhưng nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc xếp hạng các ngành gây ô nhiễm môi trường
Tóm lại, tự do thương mại có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam, nhưng đồng thời nó cũng có những tác động tới môi trường từ ngành này Tuy nhiên, tác động này chưa được xác định rõ
và đầy đủ trên cả phương diện định tính và định lượng Từ thực tế đó việc nghiên cứu
sinh (NCS) lựa chọn đề tài “Tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi
trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam” có ý nghĩa quan trọng
cả mặt lý luận và thực tiễn, đáp ứng đúng yêu cầu thực tiễn quản lý ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm giảm nhẹ tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành này
Trang 153 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nội dung: Luận án nghiên cứu tác động của tự do hóa thương mại tác động tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam thông qua doanh nghiệp trong ngành, các doanh nghiệp được sử dụng theo ngành cấp 4 và các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu
Ngoài ra, NCS còn nghiên cứu theo loại hình doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp và phân vùng kinh tế
+ Thời gian: từ năm 2006 đến năm 2014, các giải pháp, kiến nghị được đề xuất đến 2025, tầm nhìn 2035;
+ Không gian: Luận án nghiên cứu trên phạm vi cả nước Việt Nam, dựa trên 7 vùng kinh tế là Thành phố Trung Ương, Đồng bằng sông Hồng, Miền núi phía Bắc, Duyên Hải, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long
4 Đóng góp mới của luận án
Luận án này, nghiên cứu tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam Bên cạnh những kế thừa, luận án đã khắc phục được một số hạn chế của các nghiên cứu đi trước Sau đây là một
số đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn
Về mặt lý luận: Luận án khẳng định tự do hóa thương mại có tác động tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Trong cùng một môi trường
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 16tự do thương mại như nhau thì loại hình, quy mô, khu vực phân bố của doanh nghiệp
có tác động đến ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở những cấp độ khác nhau
Về mặt thực tiễn: Luận án có khung lý thuyết vững, sử dụng mô hình nghiên cứu của nhà kinh tế học Hettige và cộng sự cùng bộ dữ liệu mảng được ghép nối từ bộ
số liệu của GES và IPPS giai đoạn từ năm 2006 đến 2014 Ngoài các biến thể hiện đặc điểm doanh nghiệp như yếu tố đầu vào, tuổi, vùng phân bố thì luận án còn sử dụng thêm các biến kiểm soát như: i) loại hình, quy mô doanh nghiệp, ngành; ii) biến tương tác là tích số giữa tự do thương mại lần lượt với loại hình và quy mô doanh nghiệp, ngành Đặc biệt, luận án sử dụng tỷ lệ xuất khẩu, tỷ lệ nhập khẩu và tỷ lệ tổng kim ngạch để làm thước đo của tự do hóa thương mại, đây là thước đo được sử dụng rộng rãi ở trên thế giới, nhưng còn hạn chế ở Việt Nam
Bằng chứng thực nghiệm khẳng định tự do hóa thương mại có tác động đến ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam Cụ thể, tự do hóa thương mại và ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam biến thiên ngược chiều Điều này có nghĩa là tự do hóa thương mại không làm trầm trọng thêm vấn đề ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam Đây là kết quả khác biệt so với những kết quả nghiên cứu trước đây
Bên cạnh đó, chỉ có sự tương tác là tích số giữa tự do hóa thương mại và loại hình, quy mô doanh nghiệp, ngành có tác động đến ô nhiễm môi trường Đồng thời, trong cùng một môi trường tự do hóa thương mại, ô nhiễm môi trường do doanh nghiệp FDI gây ra lớn hơn DN ngoài NN Còn DN lớn gây ô nhiễm môi trường nhiều hơn DN nhỏ và DN siêu nhỏ Đặc biệt, tốc độ gây ô nhiễm môi trường của ngành bẩn lớn hơn nhiều lần ngành sạch Cuối cùng, khu vực Miền núi phía Bắc, Đông Nam Bộ
và Tây Nguyên là nơi tập trung nhiều DN gây ô nhiễm nhất Đồng bằng sông Cửu Long và Miền núi phía Bắc là hai khu vực được nhận thấy ô nhiễm nhiều nhất do ngành bẩn gây ra
Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận án đưa ra các kiến nghị nhằm giảm nhẹ tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam
Thiếu hụt dữ liệu về ô nhiễm môi trường là một cản trở trong nghiên cứu, nhưng trong luận án này, NCS đã nghiên cứu và xử lý để có bộ dữ liệu về cường độ ô nhiễm của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam Đây là một phần đóng góp của luận án về cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực công
Trang 17nghiệp chế biến, chế tạo Điểm mới này được các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý môi trường đánh giá cao Bên cạnh đó, tác giả đã phân loại ngành sạch và ngành bẩn
ở cấp độ chi tiết 4 chữ số bằng việc sử dụng bộ dữ liệu GES và IPPS Đây là cấp phân loại ngành sạch – bẩn nối giữa VSIC và ISIC chi tiết nhất hiện nay
5 Cấu trúc của luận án
Ngoài mục lục, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được cấu trúc thành 4 chương Cụ thể:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Đánh giá tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam
Chương 4 Định hướng và giải pháp để giảm thiểu ô nhiễm môi trường
từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong bối cảnh tự do hóa thương mại ở Việt Nam
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TỚI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TỪ
NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
1.1.1 Các nghiên cứu về tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bằng phương pháp định tính
Nghiên cứu tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường bằng phương pháp định tính thường được sử dụng để tổng kết tình hình kinh tế - xã hội sau một thời gian ký kết các hiệp định thương mại Đối với lĩnh vực nông - ngư nghiệp, theo chính sách thương mại đa phương, sản xuất lương thực và thực phẩm trên thế giới dịch chuyển từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển, để tăng cường sử dụng nguồn lao động thay thế chất hoá học sử dụng trong sản xuất Ảnh hưởng đến môi trường bởi tự do hóa thương mại nông- ngư nghiệp phụ thuộc vào việc sản xuất nông - ngư nghiệp được chuyển từ các nước sản xuất không có hiệu quả sang các nước có hiệu quả hơn (Department of Rural Economy, 2006) Cũng nghiên cứu tác động của tự do thương mại tới môi trường trong lĩnh vực thủy sản, UNEP (United Nations Environment Programme) có chuỗi báo cáo chỉ ra các thành phần môi trường bị ô nhiễm bởi quá trình mở rộng sản xuất và chế biến thủy sản Đây là lý thuyết thay đổi quy mô sản xuất Trong đó, nước và không khí là hai thành phần môi trường bị ô nhiễm nhiều nhất Vì vậy, trong luận án NCS lựa chọn thành phần môi trường là nước và không khí cùng với lý thuyết thay đổi quy mô sản xuất để nghiên cứu (UNEP, 1999b; UNEP, 1999a)
Một trong những nghiên cứu định tính tiêu biểu về tác động của tự do thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp là nghiên cứu của WB công bố năm
1999 Nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều nước đang phát triển đã thực sự bị dồn vào thế buộc phải đấu tranh chống lại nạn ô nhiễm công nghiệp Thực tế cho thấy, lợi ích của việc kiểm soát ô nhiễm lớn hơn nhiều so với các chi phí Nhận thức này đã thúc đẩy nhiều nước thông qua các chiến lược đổi mới lôi kéo sự tham gia của các cộng đồng địa phương, người tiêu dùng, các nhà đầu tư và các nhà cải cách chính sách kinh tế vào trận chiến chống lại nạn ô nhiễm môi trường Về phần mình, những cơ sở gây ô nhiễm nhận thấy không còn chỗ cho họ che đậy những gian lận về môi trường, và họ có thể
Trang 19giảm ô nhiễm mà vẫn đảm bảo lợi nhuận nếu các nhà quản lý môi trường đưa ra những khích lệ thích đáng Ô nhiễm công nghiệp vẫn tiếp tục là một cái giá quá đắt đối với các nước đang phát triển, nhưng không thể tiếp tục coi ô nhiễm công nghiệp như là giá phải trả cho sự phát triển, đây chính là thông điệp và luận điểm mà NCS hướng tới trong luận án của mình Bởi vì, trong giai đoạn đầu của phát triển, các nước đang phát triển thường tập trung vào các nguồn lực hạn hẹp của mình Các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm thường cố định, dễ xác định, dễ tuân thủ việc kiểm soát ô nhiễm hơn là các cơ sở gây ô nhiễm như hộ gia đình, các cơ sở sản xuất không chính thống và các phương tiện vận tải có động cơ (WB, 1999b)
Các loại phát thải từ công nghiệp cũng là kênh thú vị để tiến hành phân tích,
so sánh, bởi vì nó thay đổi nhiều hơn so với phát thải từ các nguồn khác Công nghiệp phát thải hàng trăm chất gây ô nhiễm ở dạng khí, lỏng và rắn, góp phần tạo
mù, gây ô nhiễm hữu cơ nguồn nước, chất thải rắn nguy hại và hủy hoại cộng đồng
và các hệ sinh thái Các nghiên cứu sẽ đưa ra một nguồn thông tin phong phú cho việc đưa ra các chính sách môi trường hợp lý về: nguồn gây ô nhiễm, ảnh hưởng của nó, đối với việc hủy hoại môi trường và những khác biệt về chi phí để kiểm soát ô nhiễm Thay cho việc đưa ra một biện pháp xử lý thấu đáo các vấn đề về kiểm soát ô nhiễm công nghiệp thì nghiên cứu của WB lại nhấn mạnh một số kinh nghiệm hiện có về cải tổ quản lý và các chính sách kinh tế đã được ghi nhận trên thế giới Từ những kinh nghiệm này là cơ sở để NCS đưa ra các giải pháp chính sách ở Việt Nam (WB, 1999a)
Năm 2000, Jonh R.Ubben nghiên cứu “Tự do hóa thương mại và chất lượng môi trường: quan điểm đối lập, vấn đề bổ sung, và sự can thiệp cần thiết” Trong nghiên cứu này, ông tập trung nghiên cứu các quan điểm và đề xuất những chính sách hạn chế tác động của thương mại tới môi trường Để nắm bắt được quan điểm của các nhà quản lý, ông đã tiến hành phương pháp phỏng vấn Đây cũng chính là phương pháp mà NCS sử dụng trong nghiên cứu của mình (Ubben, 2000)
Dựa vào sự hội nhập kinh tế của các nước Tây Bán Cầu, Gray, Krisoff và Tsigas nhận thấy rằng tự do hóa thương mại có thể làm giảm chất lượng môi trường
ở Mexico và Braxin nếu không có sự kết hợp các chính sách về môi trường nghiêm ngặt Những phân tích của họ nêu rõ lợi ích của hội nhập kinh tế, nhưng những lợi ích này chỉ tăng lên khi có sự kết hợp hài hoà với các chính sách môi trường của các nước Tây Bán Cầu Điều này còn được chứng minh bằng thực nghiệm ở các nước đang phát triển Đây chính là cơ sở để NCS nghiên cứu ở Việt Nam (Tsigas và cộng
sự, 2004)
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 20Năm 2005, Viện Nghiên cứu thương mại - Bộ Công thương có báo cáo ”Các quy định quốc tế về thương mại và môi trường liên quan đến cấm nhập khẩu, cấm lưu thông các hoàng hóa ảnh hưởng tới môi trường”, đăng ở Bắc Việt Luật, liệt kê và phân tích những quy định quốc tế về thương mại và môi trường đối với các hàng hóa cấm nhập khẩu, lưu thông ảnh hưởng tới môi trường Việt Nam Đây là kênh tiếp cận mới dựa trên những quy định và rào cản kỹ thuật để bảo vệ môi trường trong thời kỳ tự do thương mại (MOIT, 2005) Khi trở thành thành viên của WTO, môi trường của Việt Nam sẽ gặp phải những rủi ro nếu như chính sách, cơ chế về môi trường yếu kém, ngược lại đó cũng là cơ hội để cải thiện môi trường (Lan, 2006)
Một khía cạnh khác cần quan tâm là các vụ kiện thương mại liên quan đến môi trường Trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) có một ví dụ điển hình
về việc phá “hàng rào xanh” nhờ áp dụng quy tắc minh bạch và không phân biệt đối
xử của WTO Năm 2008, tạp chí hoạt động Khoa học văn phòng TBT Việt Nam đã tổng hợp và đăng bài: Bài học về thương mại và môi trường - Nhìn từ một vụ kiện trong WTO (Văn phòng TBT Việt Nam, 2010) Cùng thời gian đó, Nguyễn Thế Chinh dẫn đầu nhóm nghiên cứu đã thực hiện đề tài “Phân tích một số trường hợp tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường của Việt Nam và trên thế giới Đề xuất giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế các tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường của Việt Nam trong thời gian tới”, trong đó làm rõ những nguyên nhân xảy ra tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường Đồng thời có những giải pháp và định hướng cho thương mại Việt Nam tránh khỏi những tranh chấp (Nguyễn Thế Chinh, 2008)
Trong khuôn khổ Dự án Hỗ trợ Chính sách Thương mại và Đầu tư của châu
Âu, EU-MUTRAP (European Trade Policy anh Investment Support Project), bản tin MUTRAP có bài ”Đánh giá tác động kinh tế, xã hội và môi trường của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU” (MUTRAP, 2014a), trong đó, các nhà kinh
tế đã phân tích tác động của tự do thương mại tới môi trường ở Việt Nam, đặc biệt
là tình trạng ô nhiễm môi trường và khai thác tài nguyên gia tăng Cũng trong khuôn khổ Dự án, tháng 10 năm 2014, MUTRAP và Trường Đại học Ngoại thương
tổ chức hội thảo ”Những điều khoản môi trường trong các hiệp định FTA của EU” (MUTRAP, 2014b), hội thảo đã đánh giá tác động của tự do thương mại tới môi trường cả mặt tích cực và tiêu cực, trong đó tập trung vào vấn đề đa dạng sinh học Việt Nam là một trong những nước có đa dạng sinh học lớn trên thế giới, là một phần của điểm nóng Ấn- Miến, bao gồm các trung tâm đặc hữu về các loài sinh vật, đặc biệt là tại các khu rừng nguyên sinh ở các vùng núi, vùng trũng nằm biệt lập ở một số nơi và các lưu vực sông, như rừng ngập mặn Nhưng sự tăng trưởng kinh tế,
Trang 21đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh đã làm tăng áp lực đối với môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Nhìn chung, phương pháp định tính phân tích tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường dựa trên quan điểm, phương thức quản lý và các điều khoản môi trường của một quốc gia trong tiến trình ký kết, thực hiện các hiệp định thương mại Từ các nghiên cứu thực tiễn đều chỉ ra rằng: thương mại có ảnh hưởng lớn tới môi trường Thành phần môi trường được lựa chọn nghiên cứu phổ biến là nước, không khí Các quốc gia đang phát triển nếu không có các chính sách, quy định, rào cản để hạn chế những tác động của thương mại tới môi trường thì vấn đề môi trường sẽ trở nên trầm trọng hơn Việt Nam có nằm trong quy luật của các nước đang phát triển hay không? Đó chính là khoảng trống của mà luận án nghiên cứu
1.1.2 Các nghiên cứu về tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bằng phương pháp định lượng
Đánh giá tác động của tự do hóa thương mại tới môi trường bằng các phương pháp định lượng được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới Sự phát triển lý thuyết ban đầu của các cuộc tranh luận giữa thương mại - môi trường có thể được biết đến từ các nghiên cứu của (Pethig, 1976; Siebert, 1977), (McGuire, 1982) Pethig (1976), sử dụng
mô hình của Ricardo với lao động và lượng khí thải là yếu tố đầu vào, với lập luận rằng một quốc gia sẽ chuyên môn hóa về hàng hoá gây ô nhiễm môi trường nếu các quy định về môi trường của họ là ít hạn chế hơn so với các nước khác Siebert (1977),
mở rộng phân tích của Pethig và nhấn mạnh rằng chính sách môi trường có thể là thân thiện với môi trường nếu bỏ ra các chi phí giảm thải bằng cách sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên để sản xuất hàng hóa Một lập luận tương tự cũng được tìm thấy trong khung lý thuyết của Heckscher-Ohlin bởi McGuire (1982), người đã thêm yếu tố môi trường, với giả thiết để hạn chế số lượng, như là một yếu tố bổ sung của sản xuất Chichilnisky áp dụng mô hình Heckscher-Ohlin tân cổ điển, nghiên cứu mối quan hệ giữa thương mại và môi trường, trong đó nhấn mạnh vai trò quyền sở hữu tài sản Ông chỉ ra rằng, các nước đang phát triển, mà thường nằm ở miền Nam, bị thất bại nghiêm trọng về quyền sở hữu, vì các nước này thường khai thác nhiều từ môi trường hơn là dừng lại ở mức sản lượng tối ưu, đối với bất kỳ mức giá nào đó của hàng hóa môi trường, so với các nước phát triển ở miền Bắc Trong bối cảnh này, miền Nam
có lợi thế so sánh hơn về tài sản tiêu chuẩn so với hàng hóa môi trường chuyên biệt Tuy nhiên, vì nó không được nội hóa nên không phải là một lợi thế so sánh "thực sự"
Do đó, tự do hóa thương mại ở các nước đang phát triển sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề môi trường do ảnh hưởng môi trường vượt quá mức cho phép, trong khi các nước phát
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 22triển sẽ 'tăng' chất lượng môi trường từ tự do hóa thương mại trong sự vắng mặt của những thất bại quyền sở hữu tài sản (Chichilnisky, 1994 ) Brander và Taylor (Brander
và Taylor, 1997) mở rộng khung nghiên cứu ở miền Nam của Chichilnisky (1994) bằng cách giới thiệu các nguồn tài nguyên tái tạo vào mô hình Nguồn tài nguyên tái tạo được cho là có một năng lực tái sinh mà thường được minh họa bằng một đường chữ U ngược Khi các cổ phiếu của tài nguyên tái tạo cao, tự do hóa thương mại sẽ không đặt các nguồn trong mối nguy hiểm, và do đó miền Nam vẫn có thể hưởng lợi
từ việc tăng xuất khẩu hàng hóa sử dụng nhiều tài nguyên Tuy nhiên, nếu các cổ phiếu tài nguyên tái tạo giảm xuống dưới mức tối ưu, có nghĩa là một sự thất bại của quyền
sở hữu tài sản thì tự do hóa thương mại sẽ cho kết quả trong kịch bản tiêu cực tương tự cho các nước đang phát triển như dự đoán của Chichilnisky (1994) Sau đó, Brander
và Taylor nghiên cứu hai quốc gia khác nhau nhưng nguồn lực lao động và nguồn tài nguyên thiên nhiên gần tương đồng Kết quả cho thấy, quốc gia xuất khẩu hàng hóa thâm dụng tài nguyên hoặc lao động thì dẫn đến môi trường bị phá hủy Ngược lại, quốc gia nhập khẩu hàng hóa thì môi trường được cải thiện Như vậy, theo lý thuyết của các nghiên cứu trên, thì tự do thương mại sẽ tạo ra sự thâm dụng tài nguyên, điều
đó dẫn đến ô nhiễm môi trường Việt Nam cũng là quốc gia đang phát triển kinh tế trong tiến trình hội nhập nhờ vào tài nguyên nhưng có nằm trong quy luật của lý thuyết thâm dụng tài nguyên hay không? Và Việt Nam có nằm trong quy luật các quốc gia xuất khẩu thì môi trường bị phá hủy hay không?
Trong bối cảnh thương mại Bắc-Nam, Copeland và Taylor nhận thấy có sự di chuyển các ngành công nghiệp gây ô nhiễm sâu xuống phía Nam (Copeland và Taylor, 1994) Điều này thường được nhận thấy ở "ngành công nghiệp bay” hay “ngành công nghiệp di cư” tới cái gọi là "nơi trú ẩn ô nhiễm" ở miền Nam Bằng biến kiểm soát phân vùng kinh tế, NCS sẽ xem xét kết quả thực nghiệm ở Việt Nam
So sánh các dòng chảy thương mại từ các nước đang phát triển trong giai đoạn 1967-1968 và 1987-1988 và cho rằng, hàng hóa xuất khẩu ở các nước đang phát triển phần lớn từ các ngành công nghiệp “bẩn” Điều này được cho là bằng chứng của
"ngành công nghiệp bay” vào các nước đang phát triển, là nghiên cứu của (Low và Yeats, 1992) Trong một nghiên cứu tương tự, Mani và Wheeler (1999) cũng đã có bằng chứng hỗ trợ về tác động tiêu cực của tự do hóa thương mại đối với môi trường ở các nước thế giới thứ ba Ông và đồng nghiệp đã khẳng định: các nước đang phát triển
là điểm đến của các ngành công nghiệp bẩn, do đó các nước đang phát triển được gọi là
“nơi trú ẩn ô nhiễm” Bởi các ngành công nghiệp bẩn được đẩy ra khỏi các nước phát triển vì chi phí cao và các quy định môi trường nghiêm ngặt (Wheeler và Mani, 1999)
Trang 23Kế thừa dữ liệu IPPS của Wheeler để nghiên cứu cường độ ô nhiễm nước thải công nghiệp giữa thương mại Nhật Bản và Indonesia Kết qủa cho thấy, mức độ ô nhiễm nước thải ở Indonesia là tuyến tính với tự do thương mại, trong khi nó ngược lại cho Nhật Bản (Gumilang, 2011) Đây chính là một trong những giả thuyết mà nghiên NCS
sẽ tiến hành kiểm định bằng mô hình kinh tế lượng ở Việt Nam Để xét xem Việt Nam
có nằm trong quy luật là “nơi trú ẩn ô nhiễm” của các nước phát triển thông qua tự do thương mại bằng kênh đầu tư
Bàn về phương pháp luận, cuốn sách “Đánh giá ảnh hưởng môi trường của các thỏa thuận tự do hóa thương mại: Phương pháp luận” của Tổ chức Hợp tác và
Phát triển Kinh tế - OECD (Organization for Economic Co-operation and Development)
đã nêu ra các phương pháp cũng như đánh giá ưu điểm và nhược điểm của các phương pháp cùng với kết quả nghiên cứu thực nghiệm bằng các phương pháp đó ở Canada, US, Uganda (OECD, 2000)
Nhà kinh tế Nicola Borregaard đã công bố nghiên cứu ”Tự do hóa thương mại
ở Chile: Cái gì là bằng chứng của sự ảnh hưởng và làm thế nào để có thể phát triển bền vững” (Borregaard, 2004) Khoa kinh tế nông thôn thuộc trường Đại học Alberta, Canada, năm 2006, đã công bố nghiên cứu:”Ảnh hưởng của tự do hóa thương mại tới môi trường: bài học từ nghiên cứu thực tiễn” Trong nghiên cứu này, ba nhân tố được lựa chọn để thể hiện mối quan hệ này là: CO2, BOD, GDP Trong đó, nhân tố BOD được xác định thông qua lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và thủy sản Nghiên cứu sinh Nguyễn Duy Lợi thuộc trường Đại học Rouen, đã công bố luận án tiến sỹ với tiêu
đề “Ảnh hưởng của tự do thương mại đến môi trường ở một số nước Đông Á”, trong
đó sử dụng mô hình EKC với biến phụ thuộc là chất lượng môi trường, biến độc lập là thước đo về tự do thương mại (Nguyen Duy Loi, 2010) Nghiên cứu cho thấy, có mối quan hệ giữa thương mại và môi trường ở các nước đang phát triển
Một số nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (Cost Benefit Analysis- CBA) để đánh giá tác động của thương mại tới môi trường như: nghiên cứu của UNEP với tiêu đề “Ảnh hưởng của chính sách tự do hóa thương mại tới môi trường cho quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên: Nghiên cứu thí điểm cho ngành nuôi tôm ở Bangladesh và nghiên cứu thí điểm cho ngành nuôi cá ở Uganda”, năm 1999 Kết quả cho thấy, chính sách tự do hóa thương mại có tác động tới môi trường Đây là tài liệu để NCS đề ra giải pháp cho Việt Nam nhằm hạn chế những tác động trong quá trình tự do hóa thương mại lên môi trường (UNEP, 1999a)
Cục phát triển bền vững của tổ chức Mỹ trong kỳ hội nghị về Caribbean đã có nghiên cứu “Sự cân nhắc giữa tự do hóa thương mại và môi trường xem xét ở
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 24Caribbean”, năm 2007 Với các nhà kinh tế Mỹ thì tự do hóa thương mại sẽ gây ảnh hưởng đến chất lượng môi trường và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên Tự do hóa thương mại ảnh hưởng đến quy mô sản xuất, cấu thành sản phẩm Một số nghiên cứu của các nhà kinh tế Mỹ cho rằng, ba vấn đề tự do hóa thương mại ở Mỹ ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường là: thị trường, cạnh tranh xuất khẩu và hỗ trợ trong nước
Trong bối cảnh toàn cầu hóa các nhà kinh tế xây dựng và đánh giá tác động của
tự do hóa thương mại đến kinh tế - xã hội và môi trường bằng mô hình GTAP (mô hình
dự án phân tích thương mại toàn cầu - GTAP) Trong chuỗi các bài nghiên cứu, B.Eickhout cùng nhóm tác giả đã sử dụng mô hình trên để phân tích nhu cầu và thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp, đất, công nghiệp trong quá trình phát triển của nền kinh
tế để thấy sự tác động của tự do thương mại đến ô nhiễm môi trường Nghiên cứu thí điểm này đã lựa chọn các quốc gia phát triển, đang phát triển ở hầu hết các châu lục trên toàn thế giới Và kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa tự do thương mại và môi trường (B Eickhout, 2004)
Burniaux và Trường (2002) sử dụng một phiên bản mở rộng của mô hình GTAP gọi GTAP-E, trong đó bao gồm mô hình GTAP tiêu chuẩn và kết hợp lượng khí thải carbon Từ kết quả phân tích cho thấy, lượng khí thải carbon trên toàn cầu đã giảm thông qua thuế carbon Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: kết hợp thay thế năng lượng vào mô hình GTAP là cần thiết Đặc biệt, trong bối cảnh thế giới đang thực hiện các chiến dịch giảm phát thải khí nhà kính để thích ứng với biến đổi khí hậu thì mô hình GTAP-E được sử dụng rộng rãi
Kuik và Gerlag (2003) (Kuik và Gerlagh, 2003)kiểm tra tác động của tự do hóa thương mại và rò rỉ carbon sử dụng mô hình GTAP Họ ước tính phát thải carbon dưới Nghị định thư Kyoto và không có tự do thương mại bằng phương pháp giảm thuế nhập khẩu trong vòng đàm phán thương mại đa phương Uruguay Nghiên cứu thấy rằng, với một số giả định việc thực hiện các mức thuế nhập khẩu giảm làm tăng tốc độ phát thải carbon (Kuik và Gerlagh, 2003)
Các nghiên cứu về chuyển vốn quốc tế liên quan đến việc tái phân bổ đầu tư và các tác động dẫn đến tăng trưởng và phát thải đã được thực hiện bởi McKibbin, và các đồng nghiệp năm 1999 (McKibbin và cộng sự, 1999) Với mô hình khá phức tạp, mô
tả các thị trường vốn quốc tế, mô hình G-Cubed Các nghiên cứu này cho kết quả rằng: vốn phân bổ lại trong bối cảnh của Nghị định thư Kyoto ít tác động đến phát thải
Grossman and Krueger (1993) đã đưa ra mô hình nghiên cứu tác động của tự
do thương mại tới môi trường dưới ba góc độ, đó là: thành phần môi trường bị ảnh
Trang 25hưởng, thay đổi quy mô và thay đổi công nghệ (Grossman và Krueger, 1993) Quy
mô cũng là góc độ mà NCS sẽ xem xét bằng thực nghiệm ở Việt Nam trong luận án của mình Để đánh giá tác động của tự do thương mại tới môi trường trong một số lĩnh vực sản xuất ở Trung Quốc, Joseph C.H Chai đã sử dụng mô hình Grossman and Krueger (1993) Nghiên cứu của ông cho thấy, đã có sự dịch chuyển các ngành sản xuất, các thành phần môi trường bị ô nhiễm, đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) tăng sau khi nền kinh tế Trung quốc hội nhập Những ngành sản xuất mà ông nghiên cứu dựa theo phân loại ngành sạch, bẩn Các thành phần môi trường bị tác động mạnh nhất của quá trình tự do thương mại trong nghiên cứu của ông là nước, không khí, đất (Joseph, 2000) Sử dụng dữ liệu giữa các quốc gia khác từ 1960 đến 1995, Mani và Wheeler (1999) thấy rằng 'ô nhiễm bị ảnh hưởng' là không đáng kể ở các nước đang phát triển vì sản xuất chủ yếu cho tiêu dùng trong nước, không xuất khẩu Tobey (Tobey.J, 1990b) đã kiểm tra liệu các quy định về môi trường trong nước có tác động trên mô hình thương mại quốc tế trong năm ngành công nghiệp ô nhiễm sâu cho 23 quốc gia Ông thấy không có ý nghĩa thống kê của các biện pháp quy định về môi trường của mình về xuất khẩu ròng của các ngành công nghiệp Eskeland và Harrison (Eskeland và Harrison, 1997) đã kiểm tra FDI trong công nghiệp của 4 quốc gia đang phát triển (Mexico, Cote D'Ivoire, Venezuela và Morocco) và thấy không có tương quan tích cực giữa các ngành công nghiệp có FDI và các biện pháp phát thải không khí và nước Cũng sử dụng mô hình này, Sheryasi Jha & Shanti Gamper Rabindran xem xét tác động môi trường của tự do hóa thương mại đối với toàn bộ khu vực sản xuất trên khắp Ấn Độ Nghiên cứu đã cho thấy các ngành công nghiệp
có FDI tăng thì mức độ ô nhiễm nước thải và không khí cũng tăng lên (Jha và Rabindran, 2000) Một lần nữa lý thuyết của Jha và Rabindra khẳng định dòng vốn FDI là kênh di cư ô nhiễm từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển Thành phần môi trường nước và không khí là những thành phần dễ bị tác động nhất trong quá trình tự do thương mại Bởi hoạt động sản xuất đều thải ra môi trường dưới dạng lỏng và khí Đây cũng chính là thành phần môi trường được lựa chọn trong luận
án này
Như vậy, bằng chứng thực nghiệm về ô nhiễm công nghiệp và các tác động tiềm ẩn của tự do hóa thương mại đối với ô nhiễm ở Việt Nam khá hạn chế Các nghiên cứu trước đây không cho thấy mối quan hệ trực tiếp giữa tự do hóa thương mại
và môi trường ở Việt Nam (Le Quang Thong và Nguyen Anh Ngoc, 2004) Trong khi tình trạng thiếu dữ liệu thống kê về ô nhiễm công nghiệp ở Việt Nam là một phần nguyên nhân giải thích cho sự hạn chế này Tổng cục Thống kê (GSO) không có số
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 26liệu báo cáo về môi trường, trong khi đó cơ sở dữ liệu môi trường do Cơ quan môi trường quốc gia xây dựng và giám sát, là nguồn số liệu thống kê hữu ích về tài nguyên thiên nhiên, lại gần như không có các chỉ báo về ô nhiễm công nghiệp Vì thế sử dụng
bộ dữ liệu IPPS để nghiên cứu tác động trực tiếp của tự do hóa thương mại đối với ô nhiễm môi trường trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là cần thiết Một nghiên cứu quan trọng đánh giá tác động của tự do hóa thương mại đến ô nhiễm công nghiệp: Bằng chứng kinh nghiệm từ Việt Nam, được công bố năm 2008 bởi Thai Hưng và cộng sự (Pham Thai Hung, 2008) Nghiên cứu này sử dụng mô hình lý thuyết của Hettige và cộng sự năm 1996, cùng bộ dữ liệu điều tra doanh nghiệp và IPPS Nghiên cứu phát hiện thấy ô nhiễm công nghiệp tập trung nhiều ở vùng Đông nam bộ và Đồng bằng Sông Hồng ở Miền bắc Sản xuất giấy, hóa chất, phân bón, sắt thép, dệt may, thực phẩm và nước giải khát là những ngành gây ô nhiễm nhiều nhất Các doanh nghiệp nhà nước cấp trung ương được phát hiện là những nhân tố đóng góp chính cho
ô nhiễm công nghiệp Tự do hóa thương mại làm ô nhiễm công nghiệp thêm trầm trọng ở cả cấp độ doanh nghiệp và ngành Nghiên cứu này cũng cho thấy nhận thức công khai về sự đánh đổi giữa tự do hóa thương mại và ô nhiễm là sự cần thiết Việc tiếp tục cải cách thương mại nên được xem xét cẩn thận trong bối cảnh bao quát và cần giải quyết những ảnh hưởng tiêu cực tiềm ẩn đối với môi trường thông qua các biện pháp chính sách thích hợp Việc cưỡng chế thi hành các quy định môi trường và việc
sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin là đặc biệt quan trọng Tuy nhiên nghiên cứu này gặp phải một số hạn chế sau: i) Nghiên cứu thực hiện năm 2008, chưa đủ thời gian để kiểm định mức độ tự do hóa thương mại ở Việt Nam, ii) mã hiệu IPPS trong nghiên cứu này được phân loại dựa vào Hệ thống phân loại công nghiệp quốc tế (ISIC) bản sửa đổi lần 2 nên chưa chi tiết
Tiếp đó, WB cũng có nghiên cứu “Xem xét và phân tích ảnh hưởng của ô nhiễm từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam” năm 2008 sử dụng bộ dữ liệu từ IPPS Tuy nhiên trong nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc xếp hạng các ngành, vùng gây ô nhiễm nhiều nhất ở Việt Nam và không lý giải tại sao các ngành vùng lại gây ô nhiễm nhiều nhất
1.1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu của luận án
Mặc dù, đã có các nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu IPPS và GSO để đánh giá tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam và các kết quả nghiên cứu đều khẳng định rằng: quá trình hội nhập kinh tế thế giới, tự do thương mại đã tác động đến môi trường, Việt Nam không nằm ngoài quy luật đó.Tuy nhiên, đánh giá tác động của tự do hóa thương mại tác động tới
Trang 27ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam trong thời gian Việt Nam gia nhập WTO tới nay thì còn hạn chế Đặc biệt là sử dụng mô hình của Hettige và cộng sự để đánh giá tác động của tự do thương mại lên ô nhiễm môi trường trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam còn ít Vì vậy NCS lựa chọn mô hình lý thuyết của Hettige và cộng sự để phân tích tác động động của tự do thương mại tới ô nhiễm môi trường trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam dưới hai góc độ: Doanh nghiệp và ngành
Về mặt lý thuyết, từ các nghiên cứu trên thế giới cho thấy, tự do hóa thương mại tác động tới môi trường cả mặt tích cực lẫn tiêu cực và bằng cả phương pháp định lượng lẫn định tính Vì vậy trong nghiên cứu của mình, NCS sử dụng cả phương pháp định lượng và định tính để nghiên cứu tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thông qua các kênh: các quy định môi trường; thay đổi quy mô sản xuất và thay đổi cơ cấu nền kinh tế; di cư ô nhiễm
từ các nước phát triển qua các nước đang phát triển thông qua đầu tư Đây là nghiên cứu chi tiết hơn các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam Ngoài ra, xét dưới góc độ ngành, nghiên cứu của WB thực hiện ở Việt Nam năm 2008 chỉ dừng lại ở xếp loại ngành sạch, ngành bẩn theo mã ngành ISIC bản sửa đổi lần 3 Nhưng trong nghiên cứu này, ngoài xếp loại ngành sạch ngành bẩn chi tiết nhất ở cấp độ 4 chữ số theo VSIC bản sửa đổi lần 4 thì NCS còn so sánh tốc độ gia tăng ô nhiễm giữa hai ngành sạch và bẩn để từ đó thấy được sự thay đổi cơ cấu trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam
Về mặt thực tiễn, NCS tiến hành đo lường tình trạng ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dựa trên lượng thải Từ đó, NCS sử dụng phương pháp định lượng để nghiên cứu tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo qua thành phần ô nhiễm là nước, không khí, chất độc và kim loại ở cấp độ DN thuộc ngành Bởi hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp luôn thải ra chất thải ở thể lỏng và khí, các thành phần ô nhiễm: nước, không khí, chất độc, kim loại được nghiên cứu nhiều ở trên thế giới Tình trạng ô nhiễm nước, không khí, chất độc, kim loại đang là vấn đề môi trường trầm trọng ở Việt Nam Tác động này được kiểm định qua biến loại hình doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, phân loại ngành
Cuối cùng, NCS tiến hành phỏng vấn sâu để bổ sung vào kết quả định lượng và gợi ý chính sách để giảm nhẹ những tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở nước ta
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 281.2 Cơ sở lý luận về tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
1.2.1 Một số vấn đề lý luận về tự do hóa thương mại
1.2.1.1 Khái niệm về tự do hóa thương mại
Theo quan điểm kinh tế học, tự do hóa thương mại là sự nới lỏng can thiệp của nhà nước hay chính phủ vào lĩnh vực trao đổi, buôn bán quốc tế Tự do hóa thương mại vừa là nhu cầu hai chiều của hầu hết các nền kinh tế thị trường, bao gồm: nhu cầu bán hàng hóa, đầu tư ra nước ngoài và nhu cầu mua hàng hóa, nhận vốn đầu tư của nước ngoài
Tự do hóa thương mại là loại bỏ hoặc giảm các hạn chế hay những rào cản về
tự do trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia Điều này bao gồm việc loại bỏ hoặc giảm các trở ngại thuế, như thuế và phụ phí, và những trở ngại phi thuế quan, chẳng hạn như quy định cấp giấy phép, hạn ngạch và các yêu cầu khác (Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng, 2008)
1.2.1.2 Các chỉ tiêu đo lường tự do hóa thương mại
- Rào cản thương mại
Nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết để từng bước giảm thiểu hàng rào thế quan và phi thuế quan trong quan hệ thương mại với nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các hoạt động thương mại quốc tế cả về chiều rộng và chiều sâu Chỉ số tự do hóa thương mại thông qua rào cản thương mại thường được sử dụng là trung bình thuế quan, bảo hiểm trung bình, tỷ lệ thuế thu Một lợi thế của các chỉ số này
là dữ liệu đã được quan sát thích hợp với các tình huống trung gian, nghĩa là phù hợp cho cả quốc gia không hoàn toàn tự do thương mại hoặc không hoàn toàn khép kín Nghiên cứu của Pritchett và Sethi (1994) nhận thấy rằng "tỷ lệ thuế thu” đánh giá thấp
sự bảo hộ thực tế Nghiên cứu mẫu với hơn 3.000 quan sát ở Jamaica, Kenya và Pakistan, họ phát hiện ra rằng mối quan hệ giữa mức thuế suất chính thức và tỷ lệ thuế thu không phải là tuyến tính (Pritchett, 1994) Anderson và Neary (1994) đã lập luận rằng: nếu thuế quan là hình thức duy nhất của sự bảo hộ, thì một chỉ số cởi mở duy nhất
có thể được định nghĩa là các phúc lợi tương đương "thuế quan trung bình" Chỉ số này được dựa trên khái niệm về "Thuế quan trung bình" được phát triển bởi Corden (1966)
Sự thay đổi trong chỉ số này là kết quả từ một cuộc cải cách thương mại bằng bình quân gia quyền của sự thay đổi giá cả trong nước Anderson (1994) tính toán các chỉ số Anderson-Neary cho một nhóm 23 quốc gia và thấy rằng mức thuế bình quân có xu hướng đánh giá thấp thực tế mức độ hạn chế thương mại Mặc dù sự phát triển của chỉ
Trang 29số mới này là một bước quan trọng trong việc đánh giá chính sách thương mại, nhưng các yêu cầu dữ liệu cho tính toán của nó là rất khó khăn Một số tác giả đã phải đối mặt với vấn đề này bằng cách sử dụng phân tích hồi quy để xây dựng chỉ số mở cửa (Anderson, 1994) Chỉ số này cũng được sử dụng trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa
tự do thương mại và môi trường trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam của tác giả Phạm Thái Hưng và cộng sự năm 2008 (Pham Thai Hung và cộng sự, 2008)
Theo nghiên cứu của Edward (1997), đã phân tích sự khó khăn khi xây dựng các thước đo đáng tin cậy về sự mở cửa của thương mại (Sebastian, 1997) Chứng minh bằng thực tế rằng trong khi đối với Hàn Quốc đã trở thành một nền kinh tế mở
và hướng ngoại (Greenaway, 1998), nhưng một số quan điểm khác lại cho rằng đây
là một ví dụ điển hình của một nền kinh tế nửa kín với một mức độ cao sự can thiệp của chính phủ
Nhiều nghiên cứu sử dụng tỷ lệ phụ thuộc thương mại làm thước đo cho sự
mở cửa, điểm hình là nghiên cứu của Balassa (Balassa, 1982) Hạn chế chính của các chỉ số này là không liên quan đến chính sách thương mại như: một nước có thể bóp méo chính sách thương mại, nhưng lại phụ thuộc thương mại rất cao – và họ cho rằng phần lớn là do nội sinh Một số nhà nghiên cứu đã cố gắng để tránh những vấn
đề này bằng cách sử dụng thông tin về chính sách để phân loại các nước theo mức độ
mà thương mại bị bóp méo, trong đó phân loại các nước thành năm loại theo mức thuế quan và nhận thấy sự biến dạng khác (Johnson, 1996) Một nghiên cứu khác của Michaely và đồng nghiệp năm 1991 đã xây dựng một "chỉ số chủ quan" của tự do hóa thương mại đối với hàm hồi quy xuyên quốc gia (Michaely,1991) Một nghiên cứu điển hình của Sachs và Warner năm 1995 sử dụng một loạt các chỉ số thương mại liên quan đến thuế quan, bảo hiểm hạn ngạch, phí bảo hiểm thị trường chợ đen,
tổ chức xã hội và sự tồn tại của Ban tiếp thị xuất khẩu - để xây dựng một chỉ số tổng hợp cho độ mở của thương mại Mặc dù chỉ số này đã thể hiện sự nỗ lực cải tiến hơn những chỉ số trước đó nhưng nó chỉ cung cấp một phân loại nhị phân - một quốc gia hoặc là có tự do thương mại hoặc là không có tự do thương mại Kết quả là, các nước
có mức độ khác nhau của sự can thiệp thương mại được phân loại bằng nhau là mở cửa thương mại (Sachs, 1995)
Halit (2003) ước tính tác động của tự do hóa thương mại đối với tăng trưởng cho 120 quốc gia trong giai đoạn 1970-1997 Ông đã sử dụng hai phương pháp đo
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 30mức độ tự do thương mại Phương pháp đầu tiên được tính bằng cách sử dụng khối lượng thương mại, bao gồm các tỷ lệ khác nhau của biến thương mại là: xuất khẩu, nhập khẩu, tổng kim ngạch với GDP (Halit, 2003) Bên cạnh đó, Santos-Paulino (2002) đã kiểm tra tác động của tự do hoá thương mại đối với tăng trưởng với 22 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1972-1998 Ông đã sử dụng thước đo tăng trưởng xuất khẩu làm đại diện cho mức độ thương mại của nền kinh tế Kết quả ước lượng bằng phương pháp OLS cho thấy tăng trưởng xuất khẩu nhanh hơn ở các nền kinh tế mở (Paulino, 2002) Iscan Talan (1998) đã phân tích hiệu quả của sự mở cửa thương mại đối với tăng trưởng năng suất tổng sản phẩm cho các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Mexico trong giai đoạn 1970-1990 Để xác định hiệu quả năng suất của sự tự do hóa thương mại, thước đo đại diện cho mức độ thương mại chính là giá trị xuất khẩu Kết quả là tự do hoá thương mại có những tác động tích cực đến tăng trưởng năng suất (Talan, 1998)
Có nhiều chỉ tiêu đo lường mức độ tự do thương mại của một quốc gia Tuy nhiên, chỉ tiêu quan trọng và thường được sử dụng là FDI Thực vậy, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã đo lường tự do thương mại bằng FDI Như Dunning (1992), ông cho rằng FDI tác động làm tăng mức độ thương mại của nền kinh tế, bởi vì bản chất của FDI là một dạng quan hệ điển hình trong hợp tác kinh tế quốc tế Trong đó, FDI luôn kéo theo sự dịch chuyển, luân chuyển của nguồn lực sản xuất, hàng hóa, dịch
vụ từ thế giới vào quốc gia sở tại và ngược lại, FDI cũng thúc đẩy sự dịch chuyển, luân chuyển từ quốc gia sở tại ra thế giới Khá nhiều nghiên cứu thực nghiệm tại nhiều quốc gia đã khẳng khung lý thuyết này Nghiên cứu của Kahai (2002) thực hiện với số liệu của 55 quốc gia đang phát triển, kết quả đã phát hiện mối quan hệ dương giữa FDI và kim ngạch xuất khẩu Asiedu (2002) với mẫu nghiên cứu là 71 quốc gia đang phát triển, tác giả cũng tìm ra sự tác động thúc đẩy (quan hệ dương) của FDI đến mức độ tự do thương mại Tiếp theo, Yasmin & cộng sự (2003) nghiên cứu tại 15 quốc gia đang phát triển tại nhiều châu lục, kết quả tìm thấy FDI có quan hệ dương với độ tự do thương mại, trong đó mối quan hệ tương quan mạnh nhất
là ở các quốc gia đang phát triển thuộc nhóm thu nhập trung bình thấp Các tác giả Demirhan & Masca (2008) nghiên cứu tại 38 quốc gia đang phát triển, kết quả cũng khẳng định FDI có tác động làm tăng mức độ tự do thương mại Amal & cộng sự (2010) nghiên cứu tại 8 quốc gia Mỹ Latinh đã cho thấy FDI có quan hệ dương với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu (nghĩa là cũng có quan hệ dương với độ mở thương mại) Sichei & Kinyondo (2012) thực hiện nghiên cứu với số liệu của 45 quốc gia
Trang 31châu Phi, kết quả cũng chứng minh FDI tác động làm tăng độ tự do thương mại Hay như nghiên cứu của Antwi (2013) tại Ghana cũng tiếp tục khẳng định FDI có quan hệ dương với cán cân thương mại của nền kinh tế (Dunning, 1992) (Kahai, 2002) (Asiedu, 2002) (Yasmin, 2003) (Demirhan, 2008) (Sichei, 2012) (Antwi, 2013)
1.2.1.3 Các lý thuyết tự do hóa thương mại
• Lý thuyết tự do thương mại của Ricardo
Ricardo cho rằng tự do thương mại là một trong những động lực quan trọng dẫn đến tăng trưởng kinh tế, từ đó chỉ ra hai hướng đi cho tương lai nền kinh tế nước Anh
trường phái bảo hộ tức là tự cô lập mình, tách ra khỏi hàng hoá của thế giới Theo Ricardo, nếu nước Anh lựa chọn con đường này, thì nền kinh tế sẽ dẫn đến sụp đổ Với nhận định này ông đã so sánh với lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, khi hàng hoá của nước khác sản xuất ra rẻ hơn hàng hoá cùng loại của mình thì nên mua hàng hoá của họ và bản thân mình hãy dùng các nguồn lực để sản xuất ra các hàng hoá khác có lợi thế hơn Do đó, nước Anh cần phải chuyên môn hoá các hoạt động sản xuất để nâng cao năng lực cạnh tranh Chuyên môn hoá bất cứ cái gì nếu như phải đầu
tư các nguồn lực ít nhất, và nếu các nhà sản xuất phải từ bỏ một loại hàng hóa nào đó
do không có lợi thế cạnh tranh để sản xuất thì đó chính là chi phí cơ hội của họ Do vậy, chuyên môn hoá được quyết định bởi ai có được chi phí cơ hội thấp hơn Ricardo cũng đã hàm ý rằng, chủ nghĩa bảo hộ ở các quốc gia giàu có có thể làm cho các nước nghèo hơn đi vào con đường trì trệ Tự do hóa thương mại trong học thuyết của Ricardo còn đặt ra câu hỏi là liệu người giàu có bị tổn hại khi làm ăn với người nghèo không, nếu không thì tại sao Châu Âu, Mỹ lại bị tổn hại khi mua giầy của các nước đang phát triển? Đã có bằng chứng thực nghiệm nào cho thấy có quốc gia nào giàu lên nhờ tự cung, tự cấp? Liệu tất cả các quốc gia ở các khu vực trên thế giới đều dựng lên các hàng rào thương mại? Câu trả lời là không
Malthus, Ricardo nhận thấy rằng: dân số tăng làm tăng cầu về lương thực, dẫn đến việc mở rộng canh tác những vùng đất xấu với chi phí canh tác cao hơn Hậu quả của việc mở rộng canh tác là chi phí cao mà hiệu quả thấp Nếu cứ tiếp tục mở rộng canh tác ở những vùng đất xấu thì chủ đất được lợi từ thu địa tô còn nhà đầu tư sẽ bị thiệt hại Kết quả là đất đai được khai thác cạn kiệt nhưng người dân vẫn đói Ricardo vẫn tiếp tục đấu tranh cho thương mại tự do và không đồng tình với quan điểm hạn chế mức tăng dân số của Malthus Ông lập luận rằng: khi giá lương thực ở Anh tăng cao
do mức cầu cao thì nên nhập khẩu từ nước ngoài Thay vào việc cố sản xuất lương
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 32thực thì các nhà kinh tế, các nhà công nghiệp và kinh doanh ở Anh cần tập trung phát triển những lĩnh vực có lợi thế so sánh cao hơn và xuất khẩu các hàng hoá đó ra bên ngoài Dựa vào luận điểm này mà các lý thuyết cạnh tranh kinh tế được thiết lập, tiêu biểu hơn cả là lý thuyết cạnh tranh của Michael Porter
Lý thuyết của Ricardo được truyền bá khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng những quốc gia Châu Âu là nơi kiểm chứng tốt nhất lý thuyết của ông Họ đã cùng tham gia vào cam kết năm 1992 là bãi bỏ tất cả những rào cản thương mại còn lại Điều này đã mang lại thắng lợi cục bộ cho học thuyết Ricardo tại Châu Âu Mặc dù hiện nay nông dân Đức, Pháp vẫn còn được bảo hộ, Hà Lan vẫn chống nhập khẩu hoa từ Nam Phi nhưng đó chỉ là các trường hợp cá biệt
• Lợi thế cạnh tranh quốc gia của M.E.Porter
Dựa vào nghiên cứu thực nghiệm của nền kinh tế Mỹ, M.E.Porter đã xây dựng
lý thuyết hình kim cương dựa trên lợi thế cạnh tranh của các ngành công nghiệp, hay còn được biết đến với tên gọi là lý thuyết về lợi thế cạnh tranh Theo M.E Porter, môi trường cạnh tranh được sinh ra trong một khung cảnh nào đó, giống như hình kim cương bốn đỉnh Thông tin, nhân tố kích thích, sức ép cạnh tranh, doanh nghiệp chủ lực, thể chế, hạ tầng cơ sở, năng lực công nghệ đều có tác động tích cực tới việc nâng cao năng suất của nền kinh tế quốc gia Để nâng cao năng suất một cách bền vững đòi hỏi bản thân nền kinh tế của mỗi quốc gia phải được nâng cấp không ngừng Điều đó đồng nghĩa với các doanh nghiệp phải nỗ lực nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, cải tiến công nghệ và hạ giá thành sản phẩm Đó là cách duy nhất để các doanh nghiệp tham gia vào thị trường cạnh tranh Thị trường thương mại và đầu tư theo hướng tự do hoá đã tạo ra các cơ hội nâng cao năng suất của tất cả các quốc gia, đồng thời cũng gây sức ép buộc các công ty phải luôn duy trì năng suất cao Điều đó dẫn tới mỗi nước có thể tập trung vào một ngành nào đó mà doanh nghiệp của mình có lợi thế và nhập khẩu những hàng hoá và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh nước ngoài sản xuất nếu năng suất sản xuất trong nước thấp hơn Bốn nhân tố có vai trò chủ chốt, đầu tiên cho cạnh tranh thành công ở một ngành là kết hợp các yếu tố sản xuất, nhu cầu trong nước, cạnh tranh trong nước và công nghiệp hỗ trợ đã được Porter tổng hợp trong phương pháp nghiên cứu và xây dựng mô hình lý luận của mình Theo ông nếu cạnh tranh trong nước quyết liệt thì cạnh tranh quốc tế sẽ thành công
Lý luận của Porter cũng đã xét tới vai trò của chính phủ trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế Với ông thì chính phủ giữ vai trò quan trọng, nhất là tích cực tạo ra môi trường nâng cao năng suất, giảm bớt các can thiệp vào hoạt động sản
Trang 33xuất kinh doanh và loại bỏ các rào cản thương mại, bảo hộ
Porter cũng chú ý đặc biệt tới những điều kiện bất lợi như thiếu tài nguyên thiên nhiên, thị trường trong nước bão hoà đã kích thích hoạt động xuất khẩu Với sự trỗi dậy của Đông Á, dùng lý luận cạnh tranh của Porter để giải thích có sức thuyết phục hơn dựa vào lý thuyết thương mại truyền thống Câu hỏi đặt ra là tại sao Đông Á lại thực hiện chính sách kinh tế hướng về xuất khẩu? Porter cho rằng, cạnh tranh của công
ty trong nước được quyết định bởi mức độ dư thừa các yếu tố sản xuất tiên tiến, mức cầu trong nước, mức độ cạnh tranh trong ngành Nhật Bản là một thí dụ điển hình cho
lý thuyết này
Lý thuyết về năng lực cạnh tranh của Porter phù hợp với quan điểm của Diễn đàn kinh tế thế giới (World economic forum, WEF), đã được thảo luận và quyết định bởi tám yếu tố, bao gồm: mức độ mở cửa của nền kinh tế (bao gồm mức độ tự do hoá thương mại và đầu tư), vai trò chính phủ, năng lực tài chính, kết cấu hạ tầng, trình độ công nghệ, trình độ quản lý của doanh nghiệp, chất lượng lao động, thể chế kinh tế và chính trị Trong đó mức độ mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới rất quan trọng, được xác định bởi chính sách xuất nhập khẩu, thu hút FDI, dịch vụ tài chính bảo hiểm Theo Porter, mức độ mở cửa của nền kinh tế tỷ lệ thuận với năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, xóa bỏ các rào cản thương mại đối với một nền kinh tế và đối với một nhóm lợi ích nào đó là công việc rất khó khăn Bởi vì nó liên quan tới việc làm của người lao động như lý thuyết của Ricardo đã đưa ra Do đó, việc chuyển đổi một nền kinh tế thương lợi sang một nền kinh tế tự do cạnh tranh là một quá trình dài, có lộ trình và chính sách cụ thể Điều quan trọng nhất để một nền kinh tế trở thành tự do hóa thương mại là giành được sự đồng thuận của cả ba bên: nhà nước, doanh nghiệp và người lao động (Porter, 2002; Porter, 1990)
• Lý thuyết mới về thương mại của Paul Krugman
Kinh tế học đã thừa nhận vai trò của lý thuyết Krugman, với tư cách là người sáng lập ra lý thuyết mới về thương mại quốc tế hiện nay Lý thuyết của ông được xem như là một cuộc cách mạng trong tư duy thương mại quốc tế Bởi vì, trong suốt cả một thời kỳ dài, từ đầu thế kỷ 19 đến thập kỷ 70 của thế kỷ 20, lý thuyết thương mại quốc
tế được xây dựng dựa trên ý tưởng của Ricardo về lợi thế so sánh và sau đó được phát triển thông qua lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Porter (Krugman, 1994)
Solow là người thầy đã dạy cho Krugman hiểu được khái niệm cạnh tranh độc quyền vào năm 1976 (Solow, 1976) Theo học thuyết của Solow, độc quyền là sự cạnh tranh xảy ra khi những nhà sản xuất có được lợi thế cạnh tranh độc quyền và
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 34những nhãn hiệu, sản phẩm nhất định Từ học thuyết độc quyền của Solow, Krugman
đã nảy ra ý tưởng vận dụng khái niệm cạnh tranh độc quyền trong thương mại quốc tế
và ông đã trình bày các ý tưởng mới Năm 1979, trên tạp chí kinh tế quốc tế mới đăng tải bài báo của ông, gây được sự chú ý đặc biệt của giới học thuật trong ngành và Paul Krugman trở thành cha đẻ của lý thuyết thương mại mới Trong bài báo, Krugman (1979) đã đưa ra lý thuyết hoàn toàn mới về thương mại quốc tế nhấn mạnh vào hai
nhân tố Thứ nhất, quan hệ thương mại nội bộ ngành dựa trên giả định về lợi thế theo quy mô, theo đó việc sản xuất trên quy mô lớn đã làm cho chi phí sản xuất giảm Thứ
hai, người tiêu dùng cũng quan tâm tới tính đa dạng của sản phẩm Do hai đặc tính này, mà lợi thế theo quy mô của các nhà sản xuất và sự ưa thích về tính đa dạng của người tiêu dùng tạo điều kiện cho người sản xuất trở thành các nhà sản xuất độc quyền đối với các nhãn hiệu sản phẩm của mình, kể cả khi phải chịu áp lực cạnh tranh từ các nhãn hiệu hàng hoá khác
Lý thuyết của Krugman cũng giải thích tại sao thương mại quốc tế vẫn có thể diễn ra giữa những nước có lợi thế tương đối về công nghệ và các yếu tố sản xuất tương tự nhau Ví dụ, Mỹ và Châu Âu, cùng lợi thế tương đối về vốn và công nghệ nhưng Mỹ xuất khẩu xe ô tô Ford và nhập khẩu xe BMW của Châu Âu Điều đó giải thích cho sự ưa thích tính đa dạng nhãn hiệu của người tiêu dùng và đó là điều kiện dẫn đến thương mại quốc tế, cho phép cả hai cùng có lợi thế tương đương nhau, sản xuất những hàng hoá của riêng mình Ngoài ra Paul Krugman còn là người đi tiên phong trong lý thuyết địa kinh tế Luận điểm quan trọng của lý thuyết này là các hãng có xu hướng xác định vị trí sản xuất của mình tại những nơi trung tâm đông đúc dân cư và dồi dào vốn, tham gia sản xuất vừa là người tiêu dùng, hàng hoá sẽ đa dạng hơn và rẻ hơn Chi phí vận chuyển sẽ tăng cao nếu trung tâm sản xuất tập trung tại một khu vực nhất định nào đó Muốn giảm chi phí vận chuyển hàng hoá phải lập ra nhiều trung tâm sản xuất, đó là nguyên nhân đẩy nhanh quá trình đô thị hoá và tập trung hoá sản xuất
Bổ sung cho lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo và lý thuyết cạnh tranh của Porter, lý thuyết thương mại mới của Krugman đã trở thành một bộ phận chính trong các lý thuyết thương mại quốc tế
1.2.1.4 Tác động của tự do hóa thương mại tới ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
- Tự do hóa thương mại thường dẫn đến sự thay đổi trong cân bằng của nền kinh tế, trong đó một số ngành công nghiệp phát triển, ngược lại một số ngành suy giảm Do đó, tự do hóa thương mại có thể tạo ra thất nghiệp trong ngắn hạn nếu một số ngành, doanh nghiệp thiếu cạnh tranh;
Trang 35- Tự do thương mại có thể dẫn đến việc khai thác nhiều hơn về tài nguyên thiên nhiên do sức ép của gia tăng xuất khẩu Một số nước có các tiêu chuẩn môi trường thấp có thể là nơi chứa đựng các chất thải độc hại do nhập khẩu nhiên liệu đầu vào kém chất lượng;
- Tự do hóa thương mại có thể gây tổn hại cho các nền kinh tế đang phát triển bởi các chính sách bảo hộ Đối với các ngành công nghiệp non trẻ việc bảo hộ thương mại là hợp lý để giúp phát triển nền kinh tế đa dạng hóa và phát triển các ngành công nghiệp mới Hầu hết các nền kinh tế đều có một khoảng thời gian bảo hộ thương mại
Do đó, không công bằng khi các nền kinh tế đang phát triển không được sử dụng công
cụ bảo hộ thuế quan
- Một số quan niệm lại cho rằng tự do hóa thương mại thường mang lại lợi ích cho các quốc gia phát triển hơn so với các quốc gia đang phát triển, thông qua đầu tư Ngành công nghiệp ở các nước đang phát triển có nhiều cơ hội nhận được vốn đầu tư, đầu tư công nghệ hơn các nước đang phát triển
Tự do thương mại mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế; cho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Tuy nhiên, những lợi ích này có thể không được phân bố đều giữa các quốc gia, các ngành Ngoài ra, sự thành công của tự do hóa thương mại phụ thuộc vào tính linh hoạt của nền kinh tế, của ngành công nghiệp Ví dụ, nếu người lao động ở quốc gia có trình độ cao và thích ứng tốt với môi trường, thì quốc gia đó thuận lợi hơn trong việc chuyển đổi bản chất của sản xuất, nhưng nếu không có sự thích ứng thì tình trạng thất nghiệp cơ cấu có thể kéo dài trong ngắn hạn Điều này sẽ gây ra sự phá sản hoặc rời bỏ thị trường của các DN yếu kém
1.2.2 Một số vấn đề lý luận về ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
1.2.2.1 Khái niệm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Theo hệ thống phân loại công nghiệp quốc tế thì công nghiệp chế biến, chế tạo
là việc sản xuất hàng hóa để sử dụng hoặc bán bằng lao động và máy móc, công cụ, chế biến hóa học và chế biến sinh học hoặc chế tạo
Theo Quyết định số 337/QĐ-BKH ngày 10/4/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
về việc ban hành Quy định nội dung Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam thì ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là: chế biến, chế tạo gồm các hoạt động làm biến đổi về mặt vật lý, hoá học của vật liệu, chất liệu hoặc làm biến đổi các thành phần cấu thành của nó, để tạo ra sản phẩm mới, mặc dù nó không được sử dụng như tiêu chí hoàn toàn
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 36duy nhất để định nghĩa chế biến Vật liệu, chất liệu, hoặc các thành phần biến đổi là nguyên liệu thô từ các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, khai thác mỏ hoặc quặng cũng như các sản phẩm khác của hoạt động chế biến Những thay đổi, đổi mới hoặc khôi phục lại hàng hoá thường được xem xét là hoạt động chế biến (Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, 2007)
Đầu ra của quá trình sản xuất có thể được coi là hoàn thiện dưới dạng là sản phẩm cho tiêu dùng cuối cùng hoặc là bán thành phẩm và trở thành đầu vào của hoạt động chế biến tiếp theo
Theo đó ngành nghề kinh tế ở Việt Nam hiện nay được tổ chức theo 5 cấp, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là một trong 21 ngành cấp 1 của hệ thống ngành kinh tế ở Việt Nam, gồm 24 nhóm ngành cấp 2 (có mã số từ C10 - C33 theo phụ lục 3) Ngành có nhiệm vụ sản suất các lĩnh vực từ sản xuất, chế biến thực phẩm, sản xuất đồ uống, sản xuất sản phẩm thuốc lá, dệt…cho tới sản xuất than cốc, sản xuất hóa chất, sản xuất thuốc, hóa dược, các sản phẩm điện tử, máy vi tính, sản phẩm quang học…Với sự phong phú, đa dạng của những lĩnh vực tham gia của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, cho thấy đây là ngành có quy mô lớn và có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường trong ngành có sự khác biệt
do đặc thù tải lượng chất thải Trong đó, tải lượng ô nhiễm chất độc tập trung vào ngành: Sản xuất hóa chất cơ bản; sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế; sản xuất sợi nhân tạo; sản xuất plastic và cao su tổng hợp dạng nguyên sinh… Tải lượng ô nhiễm kim loại tập trung vào ngành: Sản xuất đầu máy xe lửa, xe điện và toa xe; sửa chữa máy móc, thiết bị; sản xuất máy bay, tàu vũ trụ và máy móc liên quan… Tải lượng ô nhiễm nước tập trung vào ngành: sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế, sản xuất sợi nhân tạo, sản xuất plastic và cao su tổng hợp dạng nguyên sinh; sản xuất kim loại màu
và kim loại quý… Tải lượng ô nhiễm không khí tập trung vào ngành: sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế; sản xuất hóa chất cơ bản; đúc kim loại màu … Đặc biệt, bảng xếp hạng theo phụ lục 3 của luận án phù hợp với bảng xếp hạng trong nghiên cứu của Wheeler (1999)
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có quy mô lớn trong nền kinh tế với sự tham gia vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Do vậy ngành tập trung số lượng vốn lớn, tạo ra nhiều việc làm và thu hút được nhiều lao động Bên cạnh đó, sản phẩm đầu ra của ngành có số lượng lớn, phong phú về chủng loại Đồng thời, đây là một ngành đòi hỏi phải nhận được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của tiến bộ về công nghệ, khoa học, kỹ thuật
Trang 371.2.2.2 Khái niệm môi trường
Môi trường là tổng hợp - ở một thời điểm nhất định - các trạng thái vật lý, hóa học, sinh học và các yếu tố xã hội có khả năng gây ra một tác động trực tiếp hay gián tiếp, tức thời hay theo kỳ hạn, đối với các sinh vật hay đối với các hoạt động của con người (Magnard, 1980)
R.G.Sharme đưa ra một định nghĩa ngắn gọn hơn về môi trường như sau:” Môi trường là tất cả những gì bao quanh con người”
Theo tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (United
là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật (Điều 3, Chương 1, Luật bảo vệ môi trường Việt Nam, 2005)
1.2.2.3 Khái niệm ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến
sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường
Theo kinh tế môi trường thì ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường
Theo Điều 3, Chương 1, Luật bảo vệ môi trường Việt Nam: Ô nhiễm môi
môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật
Như vậy, sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật do chất thải từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo gọi là ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
1.2.2.4 Các chỉ tiêu đo lường ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (USEPA) có chứa thông tin phát thải cho một
số chất gây ô nhiễm và các chất hóa học được biết đến có hại cho sức khỏe con người và môi trường Hệ thống ước tính ô nhiễm công nghiệp (IPPS) đã đưa ra danh sách sau đây của các chất gây ô nhiễm:
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 38Các chất ô nhiễm không khí bao gồm:
- Sulfur dioxide (SO2);
- Nitơ dioxide (NO2);
- Các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC); và
- Hạt vật chất: tổng cả hai các hạt bụi lơ lửng (TSP) và các hạt có kích thước nhỏ hơn 10 micron (PM10)
Các chất ô nhiễm nước bao gồm:
- Nhu cầu oxy sinh học (BOD); và COD nhu cầu oxy hóa học;
- Tổng chất rắn lơ lửng (TSS)
IPPS liệt kê hơn 240 hóa chất ưu tiên và kim loại thoát ra không khí, nước, và đất được niêm yết dưới đây là một số các hóa chất gọi là độc hại đối với con người và các kim loại được biết đến là tích tụ sinh học:
- Hóa chất: Benzen, etyl clorua, clorua metyl, toluen và zylene;…
- Kim loại: Antimon, asen, amiăng, berili, cadmium, crom, đồng, cyanide, chì, thủy ngân, niken, tali và kẽm…
1.2.3 Tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
1.2.3.1 Khái niệm về tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường
từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Từ những khái niệm về tự do thương mại, ô nhiễm môi trường, sau đây NCS xin đưa ra khái niệm về tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Tự do hóa thương mại tác động tích cực, tiêu cực đến các khía cạnh môi trường xuất phát từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo gọi là tác động của tự do hóa thương mại tới ô nhiễm môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Thực tiễn cho thấy, ảnh hưởng của thương mại tới môi trường từ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thông qua các kênh sau
1.2.3.2 Tự do hóa thương mại tác động tới các quy định môi trường trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Theo quan điểm và nghiên cứu của Ulph.M (1999), Đại học Southampton, thì
có ba nhân tố chính của thương mại quốc tế tác động đến chính sách môi trường Thứ
Trang 39nhất, thương mại quốc tế ảnh hưởng cả về quy mô và mẫu mã của hàng hóa sản xuất
và tiêu dùng ở các quốc gia khác nhau Do vậy, nếu các hoạt động tạo ra sự bất lợi cho môi trường của các quốc gia tạo ra khu vực sản xuất hoặc tiêu dùng thì sau đó, thương mại sẽ ảnh hưởng đến môi trường ở các khu vực nhập khẩu hoặc tiêu dùng Như vậy, thiết kế các chính sách để cải thiện sự bất lợi ảnh hưởng đến môi trường của sản xuất
và tiêu dùng hàng hóa sẽ ảnh hưởng đến quy mô của thương mại quốc tế Thứ hai, các
hoạt động sản xuất và tiêu dùng của một quốc gia có thể ảnh hưởng đến môi trường của các quốc gia khác.Do đó, các quốc gia có thể sử dụng các chính sách thương mại
như là một vũ khí để giảm sự tiếp xúc của họ với ô nhiễm xuyên biên giới Thứ ba, các
chính sách thương mại quốc tế thường phải tuân thủ các thỏa thuận môi trường quốc
tế, không cần thiết đối với cách nhìn trực diện ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường được tạo ra nhưng thường là một phần của một hợp phần phê chuẩn để khi gia nhập hoặc tuân theo các thỏa thuận môi trường quốc tế
Sự tương tác lẫn nhau giữa chính sách môi trường và chính sách thươnng mại
đã xuất hiện và được tập trung nghiên cứu trong những năm cuối của thế kỷ XX Điển hình là nghiên cứu về các điều khoản thương mại - môi trường trong khuôn khổ WTO của Klaus Liebig (1999) Klaus cho rằng, một vài chính sách môi trường có trở ngại với tự do thương mại sẽ làm cho nền kinh tế phát triển bền vững hơn là giải quyết các thiệt hại môi trường do thương mại gây ra Mặc khác, quy mô của tự do thương mại sẽ thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng tăng lên dẫn đến tăng các thiệt hại môi trường do ô nhiễm và thiếu hụt tài nguyên Phát triển bền vững đã được quan tâm bởi sự thiếu vắng các công cụ chính sách thương mại truyền thống để thay cho chính sách thương mại kết hợp môi trường Trong các nghiên cứu thực nghiệm về thiệt hại môi trường liên quan đến “phương pháp sản xuất và chế biến” (production and process methods- PPM), chính phủ phải quan tâm, duy trì các chính sách môi trường mặc dù những chính sách này có thể gây ra thiệt hại cho công nghiệp trong nước, thậm chí mất cả thị phần hoặc mất nguồn vốn viện trợ Những mối quan ngại này có thể dẫn đến phá hủy
hệ sinh thái khu vực mà các chính sách môi trường của chính phủ thường nới lỏng trong tiến trình cạnh tranh đúng pháp luật
Ngược lại, theo quan điểm kinh tế của Savas cho rằng (Savas, 2002), khi có các ngoại ứng, thì rõ ràng là chính sách tự do kinh doanh không còn hấp dẫn, trong trường hợp này thì mở rộng xuất khẩu do tự do thương mại có thể là nguyên nhân gây ra thiệt hại môi trường điều đó sẽ ảnh hưởng nhiều hơn việc chống lại mở rộng thương mại Nhưng học thuyết của các mục tiêu chính sách cho chúng ta biết rằng, khi môi trường
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 40bị phá hủy là do mất kiểm soát các ngoại ứng, chứ không phải do thương mại, và chính sách đầu tiên - tốt nhất là giải quyết môi trường thông qua chính sách môi trường đúng đắn chứ không phải chính sách thương mại Để hài hòa các tiêu chuẩn môi trường có thể trì hoãn các quốc gia khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong việc khai thác và
sử dụng tài nguyên thiên nhiên, kết quả là nền kinh tế không hiệu quả cũng như không cải thiện được chất lượng môi trường tốt hơn Đối với các vấn đề ô nhiễm xuyên quốc gia thì phải được giải quyết bằng các chính sách môi trường quốc tế
Ở quốc gia có hoạt động sản xuất và tiêu dùng cạnh tranh nhau, Chính phủ không có khả năng ảnh hưởng đến giá của thế giới thì các chính sách môi trường ở đây không được quan tâm Như vậy, các nhà sản xuất phải tự khai thác lợi thế cạnh tranh của mình còn Chính phủ đưa ra những chính sách môi trường hướng tới “chiến lược hành vi” của DN Trong thập niên 90 của thế kỷ 20, lý thuyết này gọi là học thuyết thương mại chiến lược Điển hình là nghiên cứu của Helpman và Krugman năm 1989 (Krugman, 1989) Theo Krugman, Chính phủ có thể áp dụng những chính sách môi trường lỏng lẻo nhưng lại áp dụng những chính sách khuyến khích kinh tế có lợi cho môi trường Ví dụ, Chính phủ khuyến khích các DN sản xuất trong nước đổi mới
“công nghệ xanh” để cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu Phương thức này sẽ tạo lợi thế cho DN trong cân bằng dài hạn
Tóm lại, có 03 nhóm các quy định thương mại để xử lý các vấn đề môi trường:
- Để xử lý các vấn đề môi trường bên ngoài lãnh thổ thông qua các công cụ thương mại như: cấm, hạn ngạch…;
- Để bù đắp đối với các quốc gia nới lỏng các quy định/ tiêu chuẩn về môi trường thông qua đánh thuế hoặc biện pháp về hải quan;
- Các biện pháp phía sau biên giới: các biện pháp môi trường nội địa không trực tiếp vào các quốc gia khác Đây là nhóm công cụ không rõ ràng và dễ bị cho là có nhiều nguy cơ gây ra các tranh chấp thương mại và tạo ra các rào cản thương mại, như: thuế và các quy định nội địa của quốc gia nhập khẩu được áp dụng không phân biệt đối xử với các sản phẩm được sản xuất trong nước và nhập khẩu có thể tạo ra rào cản thương mại cho quốc gia xuất khẩu nếu các quy định môi trường ở quốc gia nhập khẩu cao hơn so với quốc gia xuất khẩu Các trợ cấp cho hàng hóa xuất khẩu gây ra sự gia tăng các vấn đề môi trường
Mối quan hệ giữa thương mại với môi trường được thể hiện thông qua các tá động ảnh hưởng qua lại của thương mại đến môi trường và việc giải quyết hài hòa giữa nhu cầu